Tuy nhiên, giống như các công trình nghiên cứu về quan niệm, tư tưởng Hồ Chí Minh, các công trình trên lại chỉ đi sâu vào những khía cạnh chuyên biệt như quan niệm liêm, quan niệm chính
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ THANH HƯƠNG
TƯ TƯởNG Hồ CHÍ MINH Về CHÍNH PHủ LIÊM CHÍNH VÀ
Ý NGHĨA ĐốI VớI VIệC XÂY DựNG CHÍNH PHủ
VIệT NAM HIệN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRị HọC
HÀ NỘI – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ THANH HƯƠNG
TƯ TƯởNG Hồ CHÍ MINH Về CHÍNH PHủ LIÊM CHÍNH VÀ
Ý NGHĨA ĐốI VớI VIệC XÂY DựNG CHÍNH PHủ
VIệT NAM HIệN NAY
Trang 3Luận văn đã được sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan dưới đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung và các trích dẫn trong luận văn có xuất xứ rõ ràng và trung thực Luận văn có kế thừa chọn lọc những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài Các số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, sách báo theo danh mục tài liệu của luận văn Các kết luận trong luận văn chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
VŨ THANH HƯƠNG
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy PGS,TS Lưu Văn Quảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tác giả thực hiện luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo trong Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói chung
và Khoa Chính trị học nói riêng
Và cuối cùng, tác giả cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu, chia sẻ kinh nghiệm, cảm ơn sự quan tâm của gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Trang 6MụC LụC
Mở ĐầU 1
Chương 1:CƠ SỞ HÌNH THÀNH, NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH PHỦ LIÊM CHÍNH 9
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chính phủ liêm chính 9
1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về liêm chính và chính phủ liêm chính 19
Chương 2:Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ LIÊM CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 50
2.1 Thực trạng xây dựng chính phủ liêm chính ở Việt Nam hiện nay 50
2.2.Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính phủ liêm chính đối với việc xây dựng Chính phủ Việt Nam hiện nay 84
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
TÓM TẮT LUẬN VĂN 110
Trang 7Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, trong đạo đức, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính Nếu như cần và kiệm là phẩm chất cần có trong đời sống, công tác của mọi người lao động thì liêm và chính là những phẩm chất nhất thiết phải có của người cán bộ khi thi hành công vụ, trong đó, liêm là phẩm chất đầu tiên Người khẳng định: “Những người trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu” [23, 15] Phải đặt liêm lên hàng đầu mới kiến tạo được một chính phủ liêm chính Bởi “thượng bất chính, hạ tắc loạn” - người đứng đầu không chính thì dưới sẽ “quân hồi vô phèng” Hơn nữa, văn hóa phương Đông luôn đề cao tư tưởng “vua sáng, tôi hiền”, niềm tin của nhân dân vào chính thể gắn với niềm tin vào nhà cầm quyền nên kỷ cương phép nước phụ thuộc nhiều vào sự liêm chính của những người đứng đầu Xuất phát từ tầm quan trọng của tứ đức đối với mỗi con người nói chung, cán bộ nói riêng và
từ yêu cầu thực tiễn của đất nước ta, mỗi cán bộ đảng viên khắc sâu lời dạy của Hồ Chí Minh, đặt lên hàng đầu tứ đức tu chỉnh bản thân, trong đó, đề cao đức liêm và chính, chung sức đồng lòng phấn đấu xây dựng Chính phủ trở thành Chính phủ liêm chính
Từ yêu cầu thực tiễn khách quan, từ ý thức vận dụng sáng tạo tư tưởng
Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã khẳng định quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm, chính Trong lễ nhậm chức, lễ ra mắt Chính phủ cũng như trong các cuộc họp Chính phủ thường kỳ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhiều lần nhắc tới liêm, chính và hai đức tính này đã trở thành tiêu chí hành động của Chính phủ
Trải qua hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, cải cách Chính phủ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên, thực tế tổ chức và hoạt động chính phủ nước ta trong những năm qua cho thấy
Trang 8bên cạnh những thành tựu rất đáng khích lệ, còn tồn tại nhiều yếu kém Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh; chức năng, quyền hạn của các cơ quan còn bị chồng chéo; trách nhiệm của tập thể chính phủ, của các cá nhân các thành viên trong chính phủ không thật rõ ràng, tình trạng trì trệ, quan liêu vẫn còn là trở ngại rất lớn khó có thể khắc phục trong một sớm một chiều Điều này không những gây ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà còn tác động tiêu cực đến nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của chúng ta hiện nay
Chính vì vậy, trước yêu cầu đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế cần những động thái quyết liệt
từ chính phủ nhằm loại bỏ những thói quen, cách hành xử cũ dễ làm phát sinh tiêu cực Để thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi cần phải đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản và có tính hệ thống những vấn đề lý luận về xây dựng chính phủ liêm chính đáp ứng yêu cầu của đất nước dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh
về chính phủ liêm chính
Với những lí do trên, em quyết định chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về chính phủ liêm chính và ý nghĩa đối với việc xây dựng chính phủ Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị phát triển
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính phủ liêm chính đã và đang thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà khoa học, những người làm công tác lý luận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến những vấn đề này của cá nhân, tập thể được công bố Có thể phân thành các nhóm công trình sau:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh:
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới- sự hình thành và phát triển” của tác giả Hoàng Văn Hảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
Trang 91995 Tác phẩm gồm ba phần: Phần một phân tích các yếu tố góp phần dẫn đến sự lựa chọn nhà nước kiểu mới trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam Phần hai và phần ba lần lượt trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thời kỳ cách mạng
- "Về phòng, chống tham nhũng" của tác giả Bùi Mạnh Cường và
Nguyễn Thị Tố Quyên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016 Đây là tuyển tập các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng trên cơ sở bộ sách Hồ Chí Minh: Toàn tập do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản năm 2011 Nội dung cuốn sách được chia thành ba phần: Giai đoạn trước 2-9-1945; Giai đoạn từ ngày 2-9-1945 đến tháng 9 năm 1954; Giai đoạn từ tháng 10 năm 1954 đến tháng 7 năm 1969;
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước” của tác
giả Nguyễn Vĩnh Thắng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004 Tác phẩm đã đưa ra nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước, đó là: truyền thống dân tộc, lý luận Mác – Lênin và phẩm chất cá nhân của Người Ngoài ra, trong nội dung của tư tưởng này, tác giả đã chú trọng phân tích các quan điểm: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng chính quyền đi đôi với bảo vệ chính quyền, kháng chiến đi đôi với kiến quốc và xây
Trang 10dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa đi đôi với đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước;
- “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính trong công tác xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Vương Thị Hằng,
2005, luận văn thạc sĩ Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn đã nêu ra
vị trí, vai trò của Cần, Kiệm, Liêm, Chính, nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về các chuẩn mực đạo đức này Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã khái quát một vài nét về huyện Tràng Định và thực trạng đội ngũ cán bộ, đảng viên của huyện, thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên huyện này hiện nay Sau cùng là đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ huyện theo tinh thần “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” của tư tưởng Hồ Chí Minh;
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật và hành chính nhà nước” của tác giả Trần Đình Huỳnh và Lê Thị Thanh, Nxb Hà Nội, Hà Nội,
2017 Cuốn sách đã làm rõ cơ sở lý luận của việc cải cách thể chế, cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân theo tinh thần Nghị quyết XII của Đảng Cộng sản Việt Nam
Các công trình trên đây đã có những đóng góp quan trọng vào việc làm sáng tỏ nhiều phương diện cụ thể khác nhau của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về Chính phủ nói riêng Tuy nhiên, hầu hết các công trình ấy chỉ mới chú trọng đến sự kết hợp đạo đức và pháp luật mà chưa có công trình nào đề cập đến phạm trù chính phủ liêm chính một cách toàn diện và sâu sắc
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về chính phủ liêm chính:
- Luận văn thạc sĩ Chính trị học – Học viện Báo chí và Tuyên truyền:
“Xây dựng nhà nước liêm khiết ở Singapore và những gợi mở cho Việt Nam”
Trang 11(2016) của tác giả Ngô Văn Trưởng Luận văn đã nêu ra được một số vấn đề
lý luận về nhà nước liêm khiết, quan điểm và giải pháp về xây dựng nhà nước liêm khiết của Singapore Trên cơ sở đó, tác giả cũng phân tích được thực trạng xây dựng nhà nước liêm khiết ở Việt Nam và sự cần thiết tham khảo kinh nghiệm của quốc gia này, từ đó đưa ra những gợi mở để xây dựng nhà nước liêm khiết ở nước ta qua nghiên cứu trường hợp Singagpore;
- “Chính phủ liêm chính - một khái niệm mới mẻ”, PGS.TS Bùi Hiền,
Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội, số 5/2016 Bài viết đã nêu lên thực trạng tiêu cực của một bộ phận cán bộ, công chức hiện nay, chỉ ra được nguyên nhân của tình trạng đó Từ đó cho thấy tầm
quan trọng của Chính phủ nói riêng và tổ chức quản lý nhà nước nói chung;
là di sản quý giá'”, Báo Tiền phong, Tạp chí Nông thôn Việt, Hà Nội, số
8/2016.Bài viết được chia làm hai phần: Có liêm có chính mới được lòng dân
và tăng trưởng niềm tin khó hơn tăng trưởng kinh tế Trong phần thứ nhất, tác giả phân tích ý nghĩa của liêm và chính thông qua tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là chính sách dùng người của Người Trong phần hai, thông qua ví dụ từ
vụ việc của ông Bùi Xuân Thanh, giáo sư đã đưa ra quan điểm cá nhân của mình về thực trạng bổ nhiệm cán bộ đi ngược lại với tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Bài viết: “Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về Liêm, Chính đến việc
xây dựng chính phủ liêm chính” của tác giả Trần Thị Minh Tuyết đăng trên
Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/ 2017 Bài viết chia làm ba phần: Phần một trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về Liêm; Phần hai trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về Chính; Phần ba khái quát thực trạng xây dựng Chính phủ liêm chính ở Việt Nam hiện nay và đưa ra một số giải pháp để xây dựng Chính phủ trong thời gian tới;
Trang 12“Chính phủ kiến tạo” ở nước ta hiện nay”, ThS Đỗ Văn Thắng, Tạp chí
Cộng sản, Hà Nội, số 7/2017 Trong bài viết này, tác giả đưa ra hai khái niệm khác với đề tài nhưng có nhiều liên quan, đó là “chính phủ phục vụ” và
“chính phủ kiến tạo” Theo tác giả, để xây dựng một chính phủ liêm chính thì chính phủ đó phải biết tôn trọng, lắng nghe và học hỏi dân, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, ý chí của dân, tìm cách khơi nguồn, bồi dưỡng và nâng cao sức dân;
Tạp chí Tuyên giáo, số 5/2019 Là một chủ thể khác Chính phủ song qua bài viết này, tác giả đã cho người đọc thấy được tầm quan trọng của hai đức Liêm
và Chính đối với hoạt động công vụ của bất kỳ chủ thể nào Ngoài ra, tác giả cũng đã phần nào phân tích được thực trạng của công tác xây dựng Đảng hiện nay Qua đó, đưa ra một số giải pháp thiết thực để xây dựng được một Đảng trong sạch và vững mạnh
Những công trình trên đã có nhiều đóng góp sâu sắc trong việc làm sáng tỏ các phương diện cụ thể khác nhau của khái niệm chính phủ liêm và việc chúng ta vận dụng lý thuyết đó vào thực tiễn xây dựng chính phủ liêm chính ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, giống như các công trình nghiên cứu về quan niệm, tư tưởng Hồ Chí Minh, các công trình trên lại chỉ đi sâu vào những khía cạnh chuyên biệt như quan niệm liêm, quan niệm chính hay đơn thuần là chính phủ phục vụ…
Có thể thấy, “Chính phủ liêm chính” là một khái niệm không mới nhưng hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này cũng như ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng chính phủ liêm chính ở Việt Nam Luận văn thạc sĩ của học viên sẽ tập trung vào vấn đề này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Khái quát, hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về chính phủ liêm
Trang 13chính, từ đó chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng chính phủ liêm chính
ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Một là, khái quát, hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về chính phủ liêm chính;
+ Hai là, chỉ ra một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính phủ Việt Nam hiện nay theo các đặc trưng của chính phủ liêm chính;
+ Ba là, phân tích ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng chính phủ liêm chính ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính phủ liêm chính
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về chính phủ Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa thông qua một số tác phẩm của Hồ Chí Minh; những vấn đề trong xây dựng chính phủ liêm chính ở Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin;
tư tưởng Hồ Chí Minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng kết hợp với phương pháp: logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu tài liệu…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Về mặt lý luận
Luận văn đã góp phần làm rõ thêm một số phương diện của chính phủ
Trang 14liêm chính theo tư tưởng Hồ Chí Minh
6.2 Về mặt thực tiễn
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu
về tư tưởng Hồ Chí Minh và về chính phủ
- Luận văn cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạt động thực tiễn trong việc xây dựng chính phủ liêm chính ở Việt Nam
7 Kết cấu nội dung cần triển khai
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,
đề tài gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 15- Truyền thống văn hóa dân tộc
Hơn hai mươi năm sống, học tập trong môi trường văn hóa gia đình, quê hương, dân tộc, Hồ Chí Minh được tiếp xúc, học tập với các thầy giáo và những sĩ phu yêu nước đầy nhiệt huyết, mà trước hết là người cha thân yêu, rồi Phan Bội Châu, Vương thúc Quý, Hoàng Phan Quỳnh… Ngoài những trang sách Nho giáo như Tam Thiên Tự, Tam Tự Kinh, Ngũ Tự Kinh, Kinh thư,… Hồ Chí Minh còn đọc nhiều sách về lịch sử Việt Nam Nguồn tri thức phong phú trong các trang sách lịch sử đã giúp Người hiểu biết về truyền thống đoàn kết chống địch họa, thiên tai trong quá trình đấu tranh dựng nước
và giữ nước lâu dài, gian khổ của dân tộc Những kiến thức lịch sử và truyền thống dựng nước của dân tộc đã in đậm trong các trang sách của Hồ Chí Minh Người thường nhắc nhở “dân ta phải biết sử ta” Sử ta dạy cho ta am tường gốc tích nước nhà Việt Nam; hiểu biết về nòi giống “con Rồng cháu Tiên” Người coi đó là nền tảng tinh thần vững chắc để “khôi phục nước nhà
tổ tông, giành lấy chủ quyền” nhằm mục đích “vì nước vì nhà; vì tên Nam Việt rạng danh Lạc Hồng” (Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca – Hồ Chí Minh)
Rõ ràng là dân tộc ta có một truyền thống vẻ vang về dựng nước và tổ chức nhà nước Truyền thống đó có sự tác động theo nhiều hướng khác nhau tới tuổi trẻ Hồ Chí Minh, mà ảnh hưởng sâu sắc nhất, in đậm trong suy tư của
Trang 16Người là tinh thần hòa thuận, tạo công sức dựng nước cùng ý thức, ý chí quật cường khôi phục và giữ vững chính quyền của thế hệ đi trước Tinh thần dựng nước và giữ nước của người xưa truyền cho Hồ Chí Minh niềm tin, sức mạnh
và quyết tâm giành độc lập, tự do
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tích lũy được biết bao kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước, được phản ánh trong các bộ sử lớn của dân tộc như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí… Kinh nghiệm làm luật, trị nước cũng được ghi lại trong các bộ luật nổi tiếng như Hình thư (đời Lý), Quốc triều hình luật (đời Trần), bộ luật Hồng Đức (đời Lê)… mà giá trị của nó có thể sánh ngang với các bộ luật nổi tiếng ở phương Đông, trong đó có những tư tưởng còn được đề cập đến sớm hơn cả phương Tây, như vấn đề bình đẳng với phụ nữ: cho phép
ly hôn, có quyền thừa kế tài sản, công nhận công lao chung của vợ chồng trong vấn đề tài sản, cho phép nhận con nuôi…
Những yếu tố tích cực của nhà nước thân dân thời kỳ phong kiến hưng thịnh trong lịch sử dân tộc cùng với hình ảnh lý tưởng về nhà nước “vua Nghiêu, Thuấn, dân Nghiêu, Thuấn”… là những hành trang đầu tiên Hồ Chí Minh mang theo trên con đường cứu nước và tìm kiếm một mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành được độc lập
- Tinh hoa văn hóa nhân loại
Cùng với tinh hoa văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh còn tiếp thu có chọn lọc, kế thừa và phê phán tinh hoa văn hóa nhân loại đó là phương Đông, phương Tây để làm giàu trí tuệ, hình thành nhân cách, tư tưởng của mình
Văn hóa phương Đông, tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo đã ảnh
hưởng lớn tới Hồ Chí Minh
Với Nho giáo, khi tiếp thu tư tưởng chính danh, Hồ chí Minh đã loại bỏ tính chất duy tâm thiên mệnh, khôi phục lại quan hệ bình đẳng hai chiều tự nhiên trong quan hệ người với người Người dạy rằng, dù là Chủ tịch nước, Bộ
Trang 17trưởng, công nhân, nông dân, bộ đội hay người phục vụ nấu ăn, quét rác… đều
là người tồi nếu không hoàn thành được nhiệm vụ của mình, còn nếu làm tốt hơn người khác thì đều là anh hùng, chiến sĩ thi đua, là những “thánh nhân”
Tư tưởng thân dân trong học thuyết chính trị của Nho giáo cũng được Người vận dụng nhuần nhuyễn Khổng Tử đã nhìn nhận thấy “dân là gốc của nước” Mạnh Tử cho rằng trong nước, dân là quý nhất, tiếp theo là xã tắc, vua
là nhẹ, nên ai được lòng dân chúng thì được làm thiên tử Việc đề cao dân trong tư tưởng của Nho gia không chỉ nói lên mục đích vì dân của hoạt động nhà nước mà còn nói lên vai trò to lớn của dân chúng, sức mạnh của dân chúng trong việc thực hiện các chính sách quản lý của nhà nước Điều này được Hồ Chí Minh tiếp thu trong việc xây dựng một chính phủ liêm chính:
“Gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (23)
Tư tưởng của Nho giáo về đạo của người quân tử với tư cách là người cầm quyền cũng được Hồ Chí Minh nhận thức và phát triển với những nội dung mới Các giá trị của người quân tử mà Nho giáo đề ra như nhân, nghĩa,
lễ, trí, tín, dũng, liêm, trung… được Hồ Chí Minh vận dụng trong quá trình rèn luyện đạo đức cách mạng của người cầm quyền, thậm chí là phát triển thêm cho phù hợp với yêu cầu của cách mạng Chẳng hạn, chữ “trung” trong Nho giáo chỉ có nghĩa là cá nhân trung với cá nhân, trung với vua Chủ tịch
Hồ Chí Minh dùng chữ “trung” với nghĩa mới hơn là trung với nước, trung với Đảng, tức là trung với cả tập thể
Tư tưởng chính trị của Mặc gia chủ trương chính sách kiêm ái trong công cuộc cai trị, tức nhà cầm quyền phải yêu thương nhân dân, tận tụy vì những lợi ích của nhân dân Thuyết kiêm ái hạn chế ở tính duy tâm và tính phi giai cấp Hồ Chí minh đã loại bỏ những hạn chế đó, tiếp thu tinh thần “làm đầy tớ” cho nhân dân của Mặc Tử
Về Phật giáo, mặc dù còn những yếu tố duy tâm, huyền bí song Phật
Trang 18giáp có nhiều mặt tích cực ảnh hưởng sâu sắc tới hình thành nhân cách, tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là tư tưởng vị tha từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản
dị, chăm lo làm việc thiện, là tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp, đề cao lao động, chống lười biếng, là chủ trương sống không xa lánh việc đời mà gắn bó với dân, với ước, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù của dân tộc…
Văn hóa phương Tây
Các lý thuyết về tổ chức Chính phủ và thực tiễn tổ chức Chính phủ ở các quốc gia phương Tây như: Mỹ, Pháp có ảnh hưởng nhất định đến quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm kiếm một mô hình tổ chức Chính phủ phù hợp cho Việt Nam Về cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh đã học Môngtexkiơ, Vônte (1794-1778), Rutxô (1712-1778), những người tuyên truyền chủ nghĩa
tự do bình đẳng của giai cấp tư sản, một tư tưởng tiến bộ lúc bấy giờ Tiếp thu
có chọn lọc tư tưởng của các nhà khai sáng, trong quan điểm của mình, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tới vai trò, vị trí của pháp luật trong xây dựng và vận hành bộ máy Chính phủ Về cách mạng Mỹ, Người cho rằng, mặc dù trong Tuyên ngôn của mình họ khẳng định dân chúng có quyền đạp đổ chính phủ nào có hại cho dân và gây lên chính phủ khác, tuy nhiên thực tế lại không cho
ai đụng đến chính phủ Có thể thấy, cách mạng Pháp cũng như cách mạng
Mỹ, nghĩa là cách mạng tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hòa
và dân chủ nhưng kỳ thực ngoài thì tước lực công nông, ngoài thì áp bức thuộc địa Chính phủ mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng sẽ không có bản chất giống như Chính phủ Mỹ trước đó Điều mà Hồ Chí Minh học hỏi được ở Mỹ
đó là chế định Tổng thống trong Hiến pháp Mỹ - một chế định có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam
Tìm hiểu cách mạng Tân Hợi và tư tưởng của Tôn Trung Sơn, Nguyễn
Ái Quốc đã thấy Chủ nghĩa Tam dân mới và chính sách “thân Nga, liên Cộng,
Trang 19phù trợ công nông” có những tư tưởng tiến bộ, có thể vận dụng vào cách mạng Việt Nam Khẩu hiệu “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” mà Người đề ra năm 1945 có phần vận dụng từ chủ nghĩa tam dân, kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc và tư tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” của cách mạng tư sản Pháp, nhưng đã được người phát triển lên một trình độ mới mang tính giai cấp, tính dân tộc và cách mạng triệt để của một cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
Hồ Chí Minh, để trên cơ sở đó Người đánh giá, phân tích các học thuyết đương thời và tổng kết thực tiễn, đúc rút lý luận và hình thành nên một hệ thống những quan điểm cơ bản về cách mạng Việt Nam, hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin chính là một nguồn gốc lý luận, là cơ
sở lý luận chủ yếu nhất hình thành và phát triển cùng tư tưởng Hồ Chí Minh, chính là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại mới
Trên cơ sở năng lực và trí tuệ cao, từ những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh đã tiến dần tới những nhận thức “lý tính”, trở lại nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin sâu sắc hơn, để rồi tiếp thu học thuyết Mác – Lênin một cách có chọn lọc, không rập khuôn máy móc, không sao chép giáo điều Người tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin theo phương pháp mácxít, cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất Người vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết
Trang 20những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi theo những kết luận sẵn có trong sách vở Chủ nghĩa Mác – Lênin được Hồ Chí Minh coi
đó “là cái cẩm nang thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là ánh sáng mặt trời soi đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”, và “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (28)
Mô hình Chính phủ xô viết mà V.I Lênin tổng kết là một mô hình Chính phủ mà Hồ Chí Minh mong muốn thiết lập ở Việt Nam Chính phủ công - nông - binh mà Người đặt vấn đề phải xây dựng ở Việt Nam trong Chánh cương vắn tắt là biểu hiện của mô hình nhà nước xô viết V.I Lênin đã khái quát chỉ ra một số nguyên tắc xây dựng nhà nước mới Một là, bảo đảm nguyên tắc toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia; ba là, Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước xã hội chủ nghĩa; bốn là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước pháp quyền; năm là, nhà nước thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Như vậy, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được nâng lên tầm thế giới với việc thu nhận tinh hoa văn hóa nhân loại và chủ nghĩa Mác – Lênin đã hình thành và tạo ra bước phát triển mới phù hợp với tiến hóa của nhân loại trong thời đại mới của tư tưởng Hồ Chí Minh về Chính phủ liêm chính
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã từng tận mắt chứng kiến cảnh sống cùng cực của nhân dân Việt Nam Điều kiện lịch sử trong nước cuối thế kỷ XIX đã giúp cho Người có điều kiện tìm hiểu về Nhà nước phong kiến quân chủ chuyên chế và Nhà nước thuộc địa nửa phong kiến
Nhà nước phong kiến là nhà nước của giai cấp phong kiến đại chủ, nằm trong tay của một số ít người Trong nhà nước đó tồn tại hai giai cấp chủ yếu: địa chủ phong kiến và nông dân Nhưng do chế độ bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến đối với nông dân nên mâu thuẫn giữa hai giai cấp này rất gay gắt,
Trang 21và đây là mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội
Trong xã hội mặc dù cũng có những người yêu nước thương dân, trong
đó có cả những ông vua phong kiến nhưng vẫn còn rất hạn chế, chưa trở thành một xã hội thật sự thân dân vì chế độ của xã hội phong kiến không cho phép tính triệt để giai cấp thống trị không từ bỏ địa vị thống trị của mình
“Thân dân” mới chỉ dừng lại ở tư tưởng chứ chưa trở thành hiện thực, nó giống như sự ban ơn của kẻ bề trên đối với bề dưới, chứ không phải quyết tâm tận tụy phục vụ, vì lợi ích của nhân dân
Đặc biệt, từ sau khi thực dân Pháp xâm lược mới thấy rõ sự nhu nhược của chế độ phong kiến, đồng thời xuất hiện những mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa được.Vì vậy, nếu thực dân Pháp không xâm lược Việt Nam thì nhà nước phong kiến cũng không tồn tại được Mặc dù cũng có một
số ưu điểm nhưng do bản chất nên nhà nước đó đã lỗi thời, lạc hậu, không thể
là sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam trong con đường đi tiếp của lịch sử
Nhà nước thuộc địa nửa phong kiến là nhà nước xấu xa, tàn bạo cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược và xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới vào năm 1884 sau khi ký hiệp ước Patơnốt Nguyễn Tất Thành đã được chứng kiến chính sách thuộc địa ở Đông Dương mà thực dân Pháp đang tiến hành Đó là chính sách chuyên chế
về chính trị: cấm mọi quyền tự do, dân chủ của nhân dân, sự bất bình đẳng về
xã hội, phân biệt màu da, thực hiện chính sách chia để trị…; là chính sách độc quyền về kinh tế: không cho nhân dân làm kinh tế, nắm quyền phân phối lưu thông hàng hóa và tiền tệ, bóc lột trong công nghiệp, nông nghiệp…; là chính sách nô dịch về văn hóa: thực hiện chính sách ngu dân chia để trị, bán rượu, bán thuốc phiện nhằm làm cho nhân dân ta suy kiệt… Đây thực sự là một chế
độ thối nát, tồi tệ hơn cả chế độ phong kiến, là một chế độ phản động
Đây cũng là thời kỳ mà Nguyễn Tất Thành chứng kiến sự thất bại trong việc tìm ra mô hình nhà nước mới cho cách mạng Việt Nam Đó là sự thất bại
Trang 22của phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế với hy vọng quay lại xây dựng nhà nước phong kiến khi bản thân nó đã không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử Đó là Phan Bội Châu với mô hình nhà nước quân chủ lập hiến hoặc Cộng hòa dân chủ kiểu phương Tây, Phan Chu Trinh với hy vọng xây dựng một nền cộng hòa ở Việt Nam, Việt Nam quốc dân Đảng với chủ trương đoàn kết trăm họ để xây dựng nhà nước cộng hòa… Thời kỳ này được lịch sử đánh giá là ở trong đêm tối, dường như không có đường ra Nó cho thấy sự bế tắc của các nhà hoạt động cách mạng trong việc tìm ra con đường cứu nước nói chung và tìm ra mô hình nhà nước phù hợp cho Việt Nam nói riêng
Sống dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân ta phải chịu cảnh
“một cổ hai tròng”: bị bóc lột dưới họng súng của thực dân Pháp và dưới thanh gươm của triều đình phong kiến nhà Nguyễn Do vậy, trong xã hội nảy sinh hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và mâu thuẫn giữa nhân dân (chủ yếu là nông dân) với địa chủ phong kiến Trong đó, mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn chủ yếu, đòi hỏi phải được giải quyết ngay Chính từ thực tiễn đó đã thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, tìm một mô hình nhà nước mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Hồ Chí Minh đã đến các nước tư bản Anh, Pháp, Mỹ, đã đến nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc ở khắp các châu lục Ở đâu, Người cũng sống và lao động thực sự như một người công nhân để xem xét đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các tầng lớp nhân dân; nghiên cứu các cách thức tổ chức xã hội
và nhà nước, chế độ chính trị hiện thời; xem xét đời sống, nguyện vọng, hoạt động đấu tranh của các dân tộc Người cũng đã sống và chứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới với những tổn thất nặng nề, những hy sinh to lớn và những hậu quả thật lâu dài về mọi mặt của nó; đồng thời qua đó cũng thấy được sức mạnh quật khởi của các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng Đặc biệt, Người có một số năm sống và làm việc, lao động, học tập trên đất nước Liên Xô đã miêu tả những ưu việt của chế độ và nhà nước xã
Trang 23hội chủ nghĩa xô viết một cách cụ thể, toàn diện
Người đã đi nhiều nơi, làm nhiều công việc, nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước và phụ trách nhiều cương vị trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Sau này, Người đào tạo, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Công hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; Người đứng đầu Đảng và nhà nước ta, lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng hai đế quốc lớn và xây dựng xã hội mới Đó là cơ sở thực tiễn đầy sức sống cho tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành, phát triển ngày càng phong phú, toàn diện, nhất là những vấn đề về chính trị, về Đảng, về nhà nước Nó là kết quả của sự tác động biện chứng giữa nhận thức và hành động, lý luận và thực tiễn, vì vậy mà Người ngày càng tiếp cận với chân lý của thời đại
Từ thực tiễn hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, Hồ Chí Minh đã tìm ra những quy luật, đúc kết thành lý luận Trong những năm bôn ba ở những nước tư bản phát triển, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu cách tổ chức nhà nước ở đó, phê phán những mặt tiêu cực, tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong quá trình xây dựng mô hình Nhà nước cách mạng Việt Nam Cũng chính xuất phát từ thực tiễn hoạt động cách mạng mà Người đã có những bước phát triển lớn trong tư tưởng về hình thức nhà nước trong con đường cách mạng Việt Nam Đó là sự chuyển biến trong tư tưởng của Người từ một nhà nước quyền lực thuộc về số đông đến nhà nước công - nông - binh và cuối cùng là nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Chính phủ liêm chính được hình thành và phát triển trong suốt cuộc đời đấu tranh và hoạt động cách mạng của Người, trong đó
cơ sở lý luận và thực tiễn phong phú của Hồ Chí Minh là một trong những cơ sở đặc biệt quan trọng để hình thành tư tưởng về Chính phủ liêm chính
Hồ Chí Minh là người Việt Nam yêu nước, thương dân và là một thiên tài của dân tộc Việt Nam Nhân cách đó, phẩm chất đó đã làm nên một anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa kiệt suất của dân tộc Việt
Trang 24Nam Xuất phát từ khát vọng yêu nước, thương dân chuyển thành khát vọng muốn cứu dân, cứu nước, ra đi tìm đường cứu nước, xây dựng lực lượng cách mạng, đoàn kết dân tộc giành thắng lợi xây dựng mô hình nhà nước kiểu mới
ở Việt Nam
Mục đích và lý tưởng của Hồ Chí Minh là độc lập cho đất nước, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.Người là mẫu mực về đạo đức cách mạng, có tác phong bình dị, chân tình nên có sức cảm hóa lớn đối với mọi người.Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về Chính phủ liêm chính thể hiện sự lựa chọn mô hình nhà nước đem lại quyền dân chủ thật sự cho nhân dân.Nhờ đó, Người đã khơi dậy được trong nhân dân ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước và biến ý thức, tinh thần đó thành sức mạnh đoàn kết toàn dân đánh giặc, toàn dân xây dựng đất nước
Hồ Chí Minh luôn gần gũi và quan tâm đến đời sống của nhân dân, luôn động viên thăm hỏi từng đối tượng, từ cụ già đến trẻ thơ Người đã cảm hóa, cuốn hút, tập hợp và lôi cuốn nhân dân bằng cả tấm lòng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, bằng cuộc đời cách mạng Cần, Kiệm, Liêm, Chính, chí công vô tư để giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước
Là một người yêu nước nhiệt thành, chân chính, đức độ, lại được thế giới quan Mác - Lênin soi sáng đã giúp cho Hồ Chí Minh nhìn nhận thấu suốt nỗi đau khổ của nhân dân ta dưới sự thống trị của thực dân Pháp, thông cảm sâu sắc nỗi đau của những người dân mất nước, những người lao động bị áp bức, bóc lột trên khắp thế giới Trên cơ sở đó, giúp cho Hồ Chí Minh dần dần hình thành những quan điểm về Chính phủ liêm chính, gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh của nhân dân ta với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích của nhân dân ta, của cách mạng nước ta với nhân dân thế giới, cách mạng thế giới…
Là một nhà hoạt động thực tiễn năng động, sáng tạo, ham học hỏi, chịu khó suy nghĩ, tìm tòi và với một nghị lực phi thường đã giúp Hồ Chí Minh
Trang 25đúc rút được nhiều kinh nghiệm thực tiễn phong phú, khái quát, nâng cao xác lập nhiều luận điểm quan trọng về đường lối, chủ trương, chiến lược, sách lược, phương pháp xây dựng Chính phủ liêm chính, đưa đến những thắng lợi quan trọng, to lớn của cách mạng Việt Nam
Sự thống nhất hài hòa giữa tư tưởng, hành động và đạo đức Hồ Chí Minh đã làm cho Chính phủ liêm chính không chỉ là tư tưởng, khẩu hiệu mà thực sự trở thành động lực, thành sức mạnh quy tụ toàn dân tộc dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Tóm lại, nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng trong
sự hình thành các quan điểm của Hồ Chí minh về Chính phủ liêm chính
1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về liêm chính và chính phủ liêm chính
1.2.1 "Liêm" và "Chính" theo quan điểm của Hồ Chí Minh
“Liêm chính” được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Intergrity”, có nguồn gốc
La tinh “integer” có nghĩa đen là “toàn bộ, trọn vẹn, không thể bị xâm phạm”
Theo Từ điển Oxford, “Intergrity” có 2 nghĩa: “1 phẩm chất trung thực
và có đạo đức; 2 trạng thái nguyên vẹn và không bị chia cắt”
Cũng có thể tìm thấy định nghĩa về “liêm chính” trong Từ điển Tiếng Việt theo từng tiếng riêng lẻ
Cụ thể, liêm là đức tính trong sạch, không tham lam, không tham của công
và của người khác, cả từ điển tiếng Việt và từ điển Hán - Việt đều chú thích như vậy.Theo đó, liêm khiết là trong sạch đến độ thanh khiết, thuần khiết, tinh khiết,
cao khiết, không một chút bụi bặm, nhơ bẩn Mạnh Tử đã có câu: “Hãy sống
cuộc sống liêm khiết nghèo khó, nếu phải như vậy, và quan tâm tới những vấn đề quan trọng hơn thay vì mangtheo vàng xuống mộ” Liêm phải gắn liền với sỉ,
liêm sỉ - giữ mình sao cho trong sạch, tránh những điều phải xấu hổ, hổ thẹn với mọi người, trước nhất là hổ thẹn với lương tâm mình
Chính là “ngay thẳng, đúng đắn, trái với tà” Điều gì không đứng đắn,
Trang 26thẳng thắn tức là tà Chính hay còn gọi là chánh Trong Đạo Phật có Bát chính đạo - là tám con đường đúng đắn để giải thoát khỏi Khổ Bao gồm: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tiến, chính niệm và chính định Chữ “chính” của Hồ Chí Minh là sự tiếp thu, phát triển chữ “Chính” từ đạo Nho của Đức Khổng Tử
Như vậy, nếu tiếp cận theo nghĩa này, “liêm chính” có nội hàm khá hẹp
và cụ thể, thường gắn với chủ thể là cá nhân Ở đó có sự trong sạch gắn liền với sự ngay thẳng, một sự chân thật, trên căn bản lẽ phải, không chỉ là theo lẽ phải mà còn là bảo vệ lẽ phải, không gian dối, thiên vị
Cũng có cách tiếp cận “liêm chính” ở góc độ rộng hơn, theo đó, liêm chính được hiểu là “việc tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực chung”, trong hoạt động công vụ, liêm chính là việc tuân thủ các quy tắc, chuẩn mực chung áp dụng cho hoạt động đó Theo cách tiếp cận này, liêm chính có thể được xem xét ở nhiều cấp độ như liêm chính của cá nhân, liêm chính của tập thể, liêm chính của công chức lãnh đạo, liêm chính của công chức thừa hành v.v…
Ngoài ra, trong cuốn sách Coach Wooden’s Pyramid of Success, John Wooden và Jay Carty đã đưa ra định nghĩa và tầm quan trọng của liêm chính
như sau: “Về cơ bản, liêm chính là sự thuần khiết của mục đích Nó giữ cho
lương tâm trong sạch, nhưng đồng thời cũng là sự kết hợp của nhiều phẩm chất khác Ở mức độ nhất định, liêm chính bao gồm cả một chút đáng tin cậy, thành thực và ngay thẳng… Sự thuần khiết của mục đích thực sự là sự phản chiếu trái tim và có một trái tim thuần khiết quan trọng đến nỗi mà tôi đặt nó ở gần đỉnh của Kim tự tháp, chỉ dưới sự kiên nhẫn Trái tim của một người liêm chính luôn muốn làm điều đúng đắn một khi họ đã chắc chắn về điều gì là đúng đắn.”
a) “Liêm” trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Sinh thời, khi nói chuyện với đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, ngày 20-3-1961, Hồ Chí Minh đã từng dặn: “Chế độ ta là chế độ dân chủ,
Trang 27nghĩa là nhân dân làm chủ Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán
bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”[28, 297] Để Đảng ta thật sự là một Đảng lãnh đạo và là đầy tớ trung thành của nhân dân thì trước hết cán bộ, đảng viên phải thực hành đoàn kết và thanh khiết Chính
vì lẽ đó, trong những phẩm chất cần có của người cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đề cao chữ Liêm
Theo Hồ Chí Minh, “Liêm” tức là luôn luôn tôn trọng và giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước và của nhân dân Không tham địa vị Không tham tiền tài Không tham sung sướng Không tham người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa Liêm là không tham danh vị, không tham sống, không tham tiền, không tham sắc Người cán bộ đã dám hy sinh cho Tổ quốc, cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa thì không ham gì hết
Hồ Chí Minh cho rằng chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ mới là chính đáng, mới là tích cực Càng ham những thứ này con người mới càng tiến bộ Ham học, ham làm, ham tiến bộ không những không ảnh hưởng xấu đến mọi người mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân Do vậy, càng phải ham học, phải ham làm, phải ham tiến bộ Đó là đạo đức cách mạng Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người Như vậy trong Liêm có Chính,
có Nghĩa, có Nhân, có Dũng; bất liêm là biểu hiện và bắt nguồn từ bất nhân, bất chính, bất nghĩa, vô dũng Trong bài “Thế nào là Liêm?” đăng báo Cứu Quốc, số ra ngày 1-6-1949, Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm sỉ là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” [10, 99] Liêm và Sỉ, bất liêm và vô sỉ, do vậy đã trở thành trung tâm của sự phán xử, đánh giá về trình độ phát triển của con
Trang 28người, cơ sở của tiến bộ xã hội
Người chỉ rõ, do bất liêm mà đi đến tội ác trộm cắp Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp Người đã dẫn câu nói của Khổng Tử để răn dạy những kẻ bất liêm rằng: Người mà không liêm không bằng súc vật Và trong thực thi quyền lực, ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy
Người chỉ rõ: “Quan tham vì dân dại” Vì vậy, để thực hiện chữ liêm, theo Hồ Chí Minh, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên Bởi lẽ, theo Người, cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn đút, có dịp “dĩ công
vô tư” Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân Người nói: “Mỗi người phải nhận rằng, tham lam là một điều rất xấu hổ,
kẻ tham lam là có tội với nước với dân Vì lẽ đó, hơn ai hết, cán bộ phải thực hành liêm khiết để làm tấm gương cho quần chúng noi theo” (23)
Cuộc đời của Người là tấm gương sáng chói cho mỗi chúng ta về thực hành liêm khiết Đi thăm cơ sở, Người phê bình việc mổ trâu bò linh đình đón tiếp, mà ăn cơm nắm mang theo Kháng chiến thành công, Người từ chối đề nghị của Trung ương dành Phủ toàn quyền Đông Dương trước đây làm Phủ Chủ tịch - nơi ở cho mình, mà chỉ đồng ý ở trong một ngôi nhà sàn khiêm tốn
Dự đại tiệc của thủ đô nước Pháp nhưng Người vẫn nhớ dành quả táo cho em
bé ăn xin ở góc đường Kêu gọi cả nước nhường cơm sẻ áo cho thương binh, gia đình liệt sỹ, Người xung phong gửi một sào lúa, 1 tháng lương, 1 bữa ăn của bản thân mình Trong thư gửi Báo Vệ Quốc quân tháng 3 -1947, Người nêu
12 điều, trong đó có “Tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư, không động đến cái kim sợi chỉ của dân; khi đến đóng, lúc kéo đi, phải giữ gìn nhà, vườn của dân cho sạch sẽ; mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường” (23) - Đó chính là thực hành liêm chính
Sau khi nhận cương vị Chủ tịch chính phủ liên hiệp kháng chiến, Bác
Trang 29Hồ trả lời các nhà báo trong nước và ngoài nước: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu đến vòng danh lợi…” [22, 125] Ở Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thì mọi sự đều công khai
và minh bạch trong sự lựa chọn và xác định, theo đuổi và thực hiện tới cùng,
từ thời tuổi trẻ cho tới lúc “đi xa” Không chỉ công khai minh bạch mà còn là dứt khoát quyết liệt, khẳng định và phủ định Đó là “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc”… là “tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào”… “Không dính líu gì với vòng danh lợi”
b) “Chính” trong tưởng Hồ Chí Minh
Thực hiện chữ “chính” theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải bắt đầu từ tâm và phải là sự tu dưỡng bền bỉ suốt đời Trong mối quan hệ
“liêm”; có “liêm” thì mới có “chính”; có “cần, “kiệm” thì có “liêm”; nhưng cũng có khi “liêm” mà chưa thể có “chính” hoàn toàn Ví dụ như có một người trong cuộc sống và quan hệ luôn liêm khiết, trong sáng, những trước hành vi lũng đoạn, sa đọa của người khác lại không dám góp ý, không dám đấu tranh thì người đó chưa chính tâm, chưa chính ngôn Cho nên trong bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính mà Người dạy chúng ta, đức nào cũng vô cùng cần thiết và thực hiện nó không hề dễ Đức “chính” là kết quả của cần, kiệm, liêm nhưng không phải cứ thực hiện tốt cần, kiệm, liêm là có “chính”, phải thấy “chính” độc lập tương đối, đồng thời cũng có cái đức khó thực hiện nhất trong bốn đức Trong đời sống “chính” có nghĩa vô cùng sâu rộng, vô cùng cần thiết, nhưng không phải ai cũng thực hiện được, nhất là trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta…
Trang 30Thực hiện tốt đức “chính” thật sự là niềm tin, là sự công bằng, văn minh và ổn định chính trị, xã hội Những điều đó đòi hỏi ở mọi người trước hết là ở Đảng, ở cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người đang giữ những cương vị, trọng trách của Đảng và chính quyền các cấp, bởi vì, họ là những tấm gương cho cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo Hiểu được và làm được chữ “chính” trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không hề đơn giản mà
nó là niềm tin, là cội nguồn của sự đoàn kết, là biểu hiện của một xã hội chân chính, một Đảng chân chính, một tương lai chân chính, bắt đầu từ mỗi một con người chân chính
Hồ Chí Minh đã chỉ ra, bất kỳ ở tầng lớp nào,giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt: đối với mình, đối với người, đối với việc Theo Người, 3 mối quan hệ trên lần lượt được biểu hiện như sau:
Đôi với mình: Người yêu cầu không được tự kiêu, tự đại vì “Tự kiêu, tự đại là khờ dại” Người lý giải một cách chân thành và sâu sắc trong tác phẩm
“Cần, kiệm, liêm, chính” viết tháng 6-1949 rằng: “Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình” Do vậy, tự kiêu, tự đại là “dại”, là “thoái bộ” Cũng trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh đưa ra hình ảnh để so sánh rất cụ thể, dễ hiểu và mang ý nghĩa sâu sắc: “Sông
to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn” Như vậy,
có thể hiểu, những người nông cạn, thiếu hiểu biết, không biết mình không rõ người mới tự cho mình là giỏi, là nhất.Trong mối quan hệ với mình, Bác yêu cầu phải “Luôn luôn cầu tiến bộ” Bởi lẽ “Không tiến bộ thì là ngừng lại Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu” Tiến bộ không phải là đạt được thành công mà dừng lại Đã tiến bộ rồi thì phải cố gắng học hỏi để hiểu thêm nhiều cái hay, cái mới như Người nói: “Tiến bộ không giới hạn Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi”
Trang 31Một lần nữa đề cập trong tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949),
Hồ Chí Minh cho rằng, Chính trong mối quan hệ với mình còn phải: “Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình” [23, 220] Đây được coi là một việc rất khó bởi bản tính của mỗi người thường thích bao biện cho việc làm của mình Không chỉ vậy, nhiều người dù đã nhận
ra khuyết điểm nhưng không cố gắng sửa chữa nên khó tiến bộ Nếu thực hiện được việc tự kiểm điểm, tự phê bình và sửa chữa khuyết điểm hàng ngày sẽ giúp mỗi người chúng ta phát huy được những mặt mạnh, ưu điểm, khắc phục
và hạn chế, những thói hư, tật xấu, ngày càng phát triển và tiến bộ không ngừng Hồ Chí Minh còn nhắc nhở phải luôn hoan nghênh người khác phê bình mình Vì người ngoài sẽ có cái nhìn khách quan hơn, đánh giá đúng hơn những ưu, khuyết điểm của bản thân mình Không nên vì người khác phê bình
mà tỏ thái độ không đồng tình hay thù ghét Nhưng phê bình ở đây yêu cầu người phê bình phải thật khách quan, tránh phê bình theo hướng vùi dập; phải phê bình theo chiều hướng mang tính xây dựng như Hồ Chí Minh đã dặn dò
là phê bình việc chứ không phê bình người
Tóm lại, Trong mối quan hệ với mình thì “Chính” giữ vai trò vô cùng quan trọng, đòi hỏi ở mỗi người phải tự giác rèn luyện đức tính này Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính.Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý
Trong mối quan hệ đối với người, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm của mình về “người” Chữ “người” theo Hồ Chí Minh lý giải, “nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là
cả loài người”
Đối với người thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ Nhưng không phải ai ta cũng đối xử như vậy mà phải trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, Người coi những đối tượng này là ác quỷ mà chúng ta phải kiên quyết đánh đổ
Trang 32Đối với người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là không được nịnh hót người trên, không nên xem khinh người dưới Mỗi chúng ta phải luôn luôn có thái độ chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết, phải học người và giúp người tiến tới Như vậy, trong mọi hoàn cảnh chúng ta phải luôn ghi nhớ, trong mối quan hệ với người khác phải thực hành chữ bác ái
Trong mối quan hệ thứ ba, Hồ Chí Minh đề cập đến công việc Theo Người, phải đặt việc công lên trước việc tư, việc nước lên trên việc nhà Khi
đã nhận công việc thì phải có trách nhiệm, có quyết tâm, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm Người nhắc nhở cách thực hiện công việc sao cho thật hiệu quả Đó là làm việc phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận,
phải quyết làm cho thành công Ngày 2-6-1949, Báo Cứu Quốc đăng tiếp bài
“Thế nào là Chính” của Bác, ký bút danh là Lê Quyết Thắng Bài báo phân tích: “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh” (27) Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước Lợi cho nước tức là lợi cho mình Nhiều lợi nhỏ cộng thành lợi to Nhưng Người cũng phân định rất
rõ ràng giữa lợi riêng và lợi chung, Người tiếp tục viết trong bài báo này như sau: “Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không
có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm” [24, 78] Đó là mối quan hệ khăng khít giữa lợi tư và lợi chung Bất kể ai, làm điều gì đều mong lợi cho mình càng nhiều càng tốt Nhưng chúng ta phải xem xét lợi ích cá nhân ấy có ảnh hưởng đến lợi ích chung của tập thể, của đất nước không Nếu lợi ích của
cá nhân ấy có ảnh hưởng đến tập thể, quốc gia thì nhất quyết không làm Đó mới thực sự là chính Không chỉ đối với quần chúng nhân dân mà những người cán bộ, đảng viên có chức có quyền lại càng phải lưu tâm điều ấy
1.2.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về Chính phủ liêm chính
Làm thế nào để xây dựng một chính phủ liêm chính là mối quan tâm thường xuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những ngày đầu có chính quyền Có thể thấy, Hồ Chí Minh không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về Chính phủ liêm chính, song trong các bài viết, bài nói, hoạt động thực tiễn có
Trang 33thể hiểu quan điểm của Người về vấn đề này xoay quanh những nội dung như: phòng, chống tham ô, tham nhũng, quan liêu, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí; mức độ gần dân, phục vụ dân; cơ cấu tổ chức và vận hành bộ máy Chính phủ và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Chính phủ
* Chính phủ liêm chính là chính phủ không tham ô, tham nhũng,
quan liêu, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí
Hồ Chí Minh khẳng định, việc thường xuyên phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu sẽ giúp cho mọi người đoàn kết, thống nhất hơn; giúp cho “cán bộ ta cải tạo tư tưởng, nâng cao giác ngộ, thấm nhuần đạo đức cách mạng"; "giúp chính quyền ta thành một chính quyền trong sạch, xứng đáng với lòng tin tưởng và sự hy sinh của chiến sĩ và đồng bào ta” (24)
Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng: Giành chính quyền đã khó, nhưng giữ chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và phát triển giàu mạnh còn khó hơn nhiều Vì vậy, Người không chỉ rất quan tâm, sớm tiên liệu, chỉ rõ những nguy cơ đe dọa
sự tồn vong của Đảng và chế độ; trong đó có tham ô, tham nhũng, lãng phí, bệnh quan liêu và cách phòng, chống mà còn luôn gương mẫu thực hiện, đồng thời yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng và nhân dân cùng làm theo
Hồ Chí Minh từ rất sớm đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác phòng và chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong các cơ quan công quyền và trong Đảng Vì vậy, không phải ngẫu nhiên, khi giảng về đạo đức cách mạng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu,
Trung Quốc: trong 14 điều “Tự mình phải” (tác phẩm “Đường Cách mệnh”,
xuất bản năm 1927), Người đã dành 3 điều để nói về phòng và chống tư lợi
của cá nhân, đó là phải “Vị công vô tư” (điều thứ 8); không có “lòng tham
muốn về vật chất” (điều thứ 14) và “xem xét hoàn cảnh kỹ càng" trong công
tác (điều thứ 20) Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền
Trang 34cách mạng được thiết lập và vận hành trong toàn quốc, song không lâu sau đó, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên các cơ quan Đảng và nhà nước đã bộc lộ những khuyết điểm, nhất là những thói hư, tật xấu của những “ông quan cách mạng” Trong số đó, không thể không nhắc đến nạn tham ô, tham nhũng, sự lãng phí của công, bệnh quan liêu, cửa quyền, kiêu ngạo, tư túng, v.v… đang
có nguy cơ lan rộng
Trong thư “Gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” ngày 17/10/1945, Người chỉ ra 6 lầm lỗi chính cần phải tránh; trong đó, lỗi thứ
ba là dùng của dân, của công để tiêu xài riêng: “Ăn muốn cho ngon, mặc
muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, tự hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức Ông uỷ viên đi xe hơi, rồi bà uỷ viên, cho đến các cô các cậu uỷ viên cũng dùng xe hơi của công Thử hỏi những hao phí đó, ai chịu?”… [19, 67]
Trăn trở vì những vấn nạn ấy, Hồ Chí Minh đã viết bài “Tự phê bình”
(1951) và nhận trách nhiệm trước quốc dân: “Chính phủ do tôi đứng đầu chưa
làm được việc gì đáng kể cho nhân dân Có thể nói rằng: những khuyết điểm
đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này, lẽ khác Nhưng không, tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng Những khuyết điểm là lỗi tại tôi” [38, 129]
Đặc biệt, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ngày càng quyết liệt, trước yêu cầu phải tập trung trí lực, sức mạnh đại đoàn kết của toàn
dân tộc, nhất là phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh một mặt nhấn mạnh: toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cần phải nỗ lực, quyết tâm và kiên trì “trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh”; mặt khác, kêu gọi phải đẩy mạnh “- Chống nạn tham ô, - Chống nạn lãng phí, - Chống bệnh quan liêu” Người chỉ rõ, tham ô, tham nhũng lãng phí và bệnh quan liêu “là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà
nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta… làm hỏng
Trang 35tinh thần trong sạch, ý chí khắc khổ của cán bộ ta Nó phá hoại đạo dức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính” (24)
Năm 1952, khi cả nước đang sôi nổi thực hiện phong trào Thi đua yêu nước, thực hiện tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và coi đó là nhiệm vụ
trung tâm của phong trào Thi đua ái quốc, Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề Thực
hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu Tuy các tệ
nạn này biểu hiện trong đời sống xã hội dưới nhiều dạng khác nhau, song tham ô, tham nhũng là “ăn cắp của công làm của tư”, “đục khoét của nhân dân”, “ăn bớt của bộ đội”, “tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình”, “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế” Còn lãng phí là “lãng phí sức lao động”, “lãng phí thời giờ”, “lãng phí tiền của”,v.v và “lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ và có khi còn tai hại hơn nạn tham ô” Cho nên, cùng với việc coi “tham ô là trộm cướp”,
nêu rõ mối quan hệ “có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu”, Hồ Chí
Minh chỉ rõ: những người và những cơ quan mắc bệnh quan liêu là do “không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng” Trong công việc, họ “trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề”, “chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn”, thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, v.v… vì thế mà “ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí” (24)
Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng: ở đâu có bệnh quan liêu thì ở
đó ắt có tham ô, lãng phí và nơi nào bệnh quan liêu càng nặng, thì ở đó càng nhiều lãng phí, tham ô, càng nhiều hiện tượng tham nhũng Tất cả những tệ nạn đó đều là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân, chúng đều “xâm phạm đến lợi ích của nhân dân” Trong khi các chiến sĩ đã hy sinh xương máu, đồng bào đã
hy sinh mồ hôi nước mắt để góp sức cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc
Trang 36thì những kẻ tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu đã “phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân” nên chúng
“là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ” Do đó, chống tham ô,
tham nhũng, lãng phí, quan liêu cũng rất cần thiết, “quan trọng và cần kíp như
việc đánh giặc trên mặt trận”- đó là cuộc đấu tranh gian khó trên mặt trận tư
tưởng và chính trị
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cách mạng là để tiêu diệt cái xấu, xây dựng cái tốt, tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, xây dựng chế độ dân chủ mới Song thực dân và phong kiến tuy đã bị tiêu diệt, nhưng nọc độc, xấu của nó là tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu vẫn còn Những nọc xấu ấy “vẫn ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự nghiệp xây dựng của cách mạng” - là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù của quá trình xây dựng một
xã hội cần, kiệm, liêm, chính Do đó, muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do và bình đẳng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thì nhất định phải “tẩy sạch cho hết những thói xấu của xã hội cũ”
Trong 14 điều “Tự mình phải” (tác phẩm “Đường Cách mệnh”, xuất
bản năm 1927), Người nêu cụ thể: 1) Phải chống tham ô, tham nhũng, quan liêu, “phải kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sự sinh hoạt của chúng ta Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ”; 2) Cần “phải chấm dứt nạn phô trương, lãng phí” trong
“những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn” và “không thể tha thứ cho những việc phô trương, lãng phí như vậy; 3) Chấm dứt cái thói vô Chính phủ như “xem thường pháp luật, chính quyền”, “hy sinh lợi ích của nước nhà để lên mặt mình khảng khái” của
một bộ phận cán bộ, đảng viên; 4) Phải chống nạn ăn cắp của công mà các cơ
quan quen gọi trộm cắp “đường hoàng”, vì “đó là một điều đáng chú ý, một
điều đáng nguy hiểm”; đồng thời cũng phải chống bọn “trộm cắp kín đáo”-
mà bọn này càng nguy hiểm, để chúng “không sống còn được”…
Trang 37Từ việc thấu hiểu sâu sắc rằng, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và chính trị này rất cam go, phức tạp và lâu dài, Hồ Chí Minh đã yêu cầu các cơ quan, đơn vị phải chuẩn bị kỹ và cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng phải được tiến hành từng bước Để tập trung cho cuộc đấu tranh chống những tệ nạn làm thiệt hại đến kinh tế, ảnh hưởng đến chính trị, làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, nhà nước, nhất là rất dễ lây lan này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: dưới bất kỳ hình thức nào, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng cũng phải phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu Nếu không làm được điều đó, nếu cuộc đấu tranh đó không đạt được kết quả thì nguồn sức mạnh nội lực của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bị rạn nứt, niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và chế độ bị xói mòn.Trên tinh thần đó, mỗi cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, “ắt phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên” để cuộc đấu tranh nhằm tẩy sạch nạn
tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu đạt kết quả thiết thực
Cũng trong phần thứ ba Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí
Minh“Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”
nhân dịp có phong trào sản xuất và tiết kiệm năm 1952, Người yêu cầu cấp ủy các cơ quan, địa phương, đơn vị phải triển khai thực hiện các biện pháp sau: 1) “Bước đầu đánh thông tư tưởng”; “sửa chữa những ý nghĩ sai lầm”; “yên định những lo ngại không đúng”… nhằm giúp mỗi người hiểu rõ hơn tác hại của tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu; tránh coi nhẹ tác dụng xấu của tham ô, tham nhũng, lãng phí, coi “tham ô là có tội, song lãng phí chỉ
là một khuyết điểm”, “những người có công với cách mạng, thì tham ô, lãng phí chút đỉnh, cũng nên tha thứ họ”; trong đấu tranh thì sẽ áp dụng phương pháp “một sự nhịn, chín sự lành”, suy nghĩ giản đơn: ai tham ô, lãng phí thì mặc, còn mình “không tham ô, lãng phí thì thôi”, “tự nhận sai lầm mình sợ mất thể diện, mất uy tín, sợ bị phạt, v.v ”, “chỉ trích lỗi của người sẽ mất đoàn kết”, “nói thật mất lòng, sẽ bị bầu bạn ghét, bị cấp trên trù v.v ” 2) Chia
Trang 38từng tiểu tổ nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu; đến cần, kiệm, liêm, chính và cách sửa đổi lối làm việc; thật thà tự phê bình và phê bình, để “tự kiểm thảo và kiểm thảo người khác phải thật thà, phải dựa vào thực lực, phải đào tận gốc rễ những khuyết điểm Không nên thoa vẽ, che giấu Không nên ít thít ra nhiều, càng không nên nói việc nhỏ bỏ việc lớn, nói việc cũ, quên việc mới”, phải “vừa nêu rõ khuyết điểm, vừa phân tách tư tưởng”, “chỉ trích những khuyết điểm, khen
ngợi những ưu điểm”,v.v trên tinh thần “giáo dục là chính, trừng phạt là
phụ” Đặc biệt, trong khi kiểm thảo, nguyên tắc tiến hành là phải làm một
cách có trọng tâm, từng bước, phải nắm vững và vào sâu, phải làm từ cấp trên xuống cấp dưới, từ bộ phận chính đến bộ phận phụ; phải chú trọng nguyên tắc
tự phê bình và phê bình và phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên:
“Cán bộ cao cấp mỗi nơi phải: Thật thà tự kiểm thảo để làm gương mẫu Thật thà báo cáo tình hình cả đơn vị… - Phải kiên quyết “nhổ cỏ” - Nắm vững trọng điểm - Tổ chức nhóm trung kiên…” Khi kiểm thảo “ai kiểm thảo đúng người khác, sẽ được khen thưởng”, “ai có lỗi mà không thật thà nói ra,
-sẽ bị kỷ luật” và “ai ngăn cản, đe dọa người kiểm thảo mình, -sẽ bị kỷ luật”
Trong cuộc chiến này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cũng như mọi việc
khác, việc “chống” này phải động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ,
phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng” Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh, để chống kẻ thù lúc nào cũng kề cận trong ta, “ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự nghiệp xây dựng cách mạng” thì nhất định “từ trên đến dưới phải đồng tâm hiệp lực”, “chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy” Vì vậy,
sự theo dõi, sự cảnh giác của hàng triệu triệu quần chúng sẽ là những ngọn đèn pha soi rọi khắp nơi, không để cho tệ nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu còn nơi ẩn nấp… Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, việc thường
Trang 39xuyên phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh
quan liêu sẽ giúp cho mọi người đoàn kết hơn, thống nhất hơn; giúp cho “cán
bộ ta cải tạo tư tưởng, nâng cao giác ngộ, thấm nhuần đạo đức cách mạng";
"giúp chính quyền ta thành một chính quyền trong sạch, xứng đáng với lòng tin tưởng và sự hy sinh của chiến sĩ và đồng bào ta”
* Chính phủ liêm chính là chính phủ gần dân, phục vụ dân
Chính phủ liêm chính là chính phủ gần dân, phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Điều đó được biểu hiện:
Thứ nhất, chính phủ gần dân
Hồ Chí Minh quan niệm nhân viên nhà nước, cán bộ nhà nước chính là
“đầy tớ”, “công bộc” của dân Trong chế độ dân chủ, Người xác định: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ.làm đày tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng” Nói như vậy, quan hệ giữa cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước với nhân dân trở thành quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ nhưng không phải quan hệ chủ - tớ theo nghĩa thông thường, càng không nên hiểu nhân dân trở thành một loại ông chủ chỉ biết sai khiến Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đề cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần phụ trách của cán bộ, nhân viên nhà nước trước dân; nhân dân là người chủ xã hội nhưng quyền làm chủ đó lại được nhân dân trao lại và được thực hiện chủ yếu thông qua bộ máy nhà nước Vấn đề đặt ra ở chỗ, người được trao quyền phải sử dụng quyền cho đúng quyền hành được trao, sử dụng có hiệu quả và hiệu lực, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Mặt khác, phải luôn đề phòng khả năng người được trao quyền sẽ lạm dụng hoặc sử dụng tắc trách quyền đó, và điều rất tệ hại là biến nhân dân thành người chủ trên danh nghĩa, còn trên thực tế là người bị o ép,
bị bó tay bó chân, chỉ để bị sai khiến và phục vụ các “ông quan cách mạng”
Hồ Chí Minh yêu cầu “cán bộ và đảng viên phải nâng cao tinh thần phụ
Trang 40trách, nêu gương “cần, kiệm, liêm, chính”, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân; phải chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh là nguồn gốc sinh ra tham ô, lãng phí” Tinh thần phụ trách trước dân phải được thể chế hóa thành chế độ, trách nhiệm của nhân viên nhà nước, của cơ quan nhà nước, chế độ kỷ luật, quy chế công chức, công vụ…
Hồ Chí Minh còn chỉ ra một căn bệnh thường mắc phải là huy động và
sử dụng phung phí sức dân, dùng sức dân vào những công việc không mang lại lợi ích thiết thực, huy động và sử dụng sức dân vô tội vạ hoặc sai mục đích Người phê phán mạnh mẽ hiện tượng không tiết kiệm đồng tiền, bát gạo
là mồ hôi, nước mắt của nhân dân Tại Hội nghị bàn về cuộc vận động chỉnh
huấn mùa xuân năm 1961, Hồ Chí Minh phát biểu:
“Mỗi thứ của cải chúng ta làm ra phải tốn bao nhiêu mồ hôi và sức lao động Chúng ta chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống Cho nên phải biết giữ gìn của công Tham ô, lãng phí tài sản của nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp mà ai cũng phải thù ghét, phải trừ bỏ Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta Chúng ta cần chăm sóc sức khỏe và sử dụng hợp lý sức lao động của nhân dân ta”
Một yêu cầu có tính chuẩn mực đạo đức đối với viên chức nhà nước trong quan hệ với dân được Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh là phải làm mực thước cho nhân dân bắt chước Nhân viên nhà nước là người phụtrách, gánh vác một phần trách nhiệm của nhà nước trước nhân dân, trước
xã hội Có sứ mệnh cao cả là người hướng dẫn, người nêu gương Trong Di
chúc, Hồ Chí Minh xác định: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư
cách, đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”
Trong một nhà nước vì dân, nhân dân là người chủ, địa vị cao nhất