1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm trên kênh truyền hình vtv1 và truyền hình thông tấn

141 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ĐỖ MINH HÀ TRUYỀN THÔNG VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH VTV1 Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS... Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quả

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐỖ MINH HÀ

TRUYỀN THÔNG VỀ VỆ SINH

AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH VTV1

VÀ TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐỖ MINH HÀ

TRUYỀN THÔNG VỀ VỆ SINH

AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH VTV1

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Phạm Huy Kỳ

HÀ NộI, 2019

Trang 3

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Lưu Văn An

Trang 4

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý báo chí với đề tài “Truyền thông về an toàn thực phẩm trên truyền hình” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng của bản thân và được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập – nghiên cứu khoa học vừa qua

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo PGS TS Phạm Huy Kỳ đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Viện Báo chí đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cha mẹ, con gái tôi, đồng nghiệp

đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Trang 5

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Người cam đoan

Trang 6

Đài Truyền hình Việt Nam VTV1 Kênh thời sự, Đài Truyền hình Việt Nam

VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm

VTV GO ứng dụng trực tuyến Đài Truyền hình Việt Nam

Trang 7

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Kênh sóng được công chúng hay theo dõi về mảng VSATTP 57

Biểu đồ 2.2: Mức độ theo dõi thường xuyên của công chúng với các tin tức về VSATTP trên sóng truyền hình 58

Biểu đồ 2.3: Trình độ học vấn của đối tượng được khảo sát 68

Biểu đồ 2.4: Tình trạng hôn nhân của đối tượng được khảo sát 68

Biểu đồ 2.5: Mức độ tin tưởng của công chúng đối với các tin tức VSATTP trên truyền hình 79

Biểu đồ 3.1: Mảng nội dung về VSATTP nào thu hút sự chú ý của công chúng 96

Biểu đồ 3.2: Mong muốn của công chúng đối với những thông tin về VSATTP được đưa lên sóng truyền hình hiện nay 97

Biểu đồ 3.3: Mức độ quan tâm của công chúng đến tin tức liên quan đếnVSATTP 103

HÌNH Hình 1.1 Mô hình truyền thông của Claude Shannon 14

Hình 2.1: Hình ảnh bản tin thời sự 19h trên kênh VTV1 51

Hình 2.2: Hình ảnh bản tin thời sự trên kênh truyền hình Thông tấn 52

Hình 2.3: Hình ảnh phát sóng có bản quyền chương trình của TVAD 53

Trang 8

PHầN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRUYỀN THÔNG

VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH 12

1.1 Một số vấn đề lý luận về truyền thông 12 1.2 Truyền hình và hiệu quả truyền thông trên truyền hình 17 1.3 Vệ sinh an toàn thực phẩm 28 1.4 Vai trò, nội dung và hình thức của truyền thông về VSATTP trên kênh truyền hình 37

Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH VTV1 VÀ TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN 51

2.1 Giới thiệu khái quát về kênh VTV1 và kênh Truyền hình Thông tấn 51 2.2 Đánh giá ưu điểm và hạn chế của truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm của kênh VTV1 và kênh truyền hình Thông tấn 57

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG

VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH VTV1

VÀ TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN TRONG THỜI GIAN TỚI 86

3.1 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức tầm quan trọng về truyền thông VSATTP trên kênh truyền hình 86 3.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nội dung, hình thức truyền thông

về VSATTP trên kênh truyền hình VTV1 và Truyền hình Thông tấn 95 3.3 Nhóm giải pháp tăng cường nguồn lực truyền thông 99

PHẦN KẾT LUẬN 105 TÀI LIệU THAM KHảO

PHỤ LỤC

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 9

PHầN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong lịch sử loài người, dù ở bất cứ xã hội nào, thực phẩm luôn là một trong những nhân tố thiết yếu nuôi dưỡng con người, cải thiện sức khỏe, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi

Đối với người tiêu dùng, được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi con người Thực phẩm an toàn là nguồn cung cấp năng lượng, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để con người sống và phát triển Thế nhưng, nếu không bảo đảm được vệ sinh và an toàn, thực phẩm cũng là nguồn truyền bệnh vô cùng nguy hiểm Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ của quốc gia Theo thống kê của

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 400 các bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn, hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm Do đó, bên cạnh việc tiếp cận nguồn thực phẩm sạch, ngày nay, người tiêu dùng phải có quyền tiếp cận nguồn thông tin chính thống, đảm bảo chính xác về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) Đồng thời, cộng đồng cư dân cũng cần tự nâng cao ý thức, kiến thức về lựa chọn thực phẩm an toàn thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo in, báo mạng, truyền thanh, truyền hình,

Đối với ngành báo chí truyền thông, định hướng tư tưởng, truyền thông cho dư luận xã hội không chỉ là nhiệm vụ mà còn là đạo đức nghề nghiệp Trong bối cảnh tự do hóa thương mại, kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, chất lượng VSATTP lại đáng lo ngại hơn cả và liên tục bị phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng Việc sử dụng không an toàn về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng, kháng sinh, hóa chất trong chăn nuôi trồng trọt nông nghiệp, thủy hải sản hiện nay còn khá phổ biến Thực phẩm có chứa chất độc hoặc được sử dụng chất bảo quản, phụ

Trang 10

gia, phẩm màu công nghiệp có hại cho sức khỏe cũng tồn tại và lưu hành rất nhiều trên thị trường Cùng với tình trạng vi phạm VSATTP tăng cao thì các bệnh truyền qua thực phẩm và ngộ độc thực phẩm đang có nhiều diễn biến phức tạp về cả tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng Hằng năm, ở nước

ta có từ 250 đến 500 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 7.000 nạn nhân và hơn

100 ca tử vong mỗi năm Chỉ tính đến 10/06/2014, toàn quốc ghi nhận 67 vụ ngộ độc thực phẩm với 2084 người mắc, 1528 người đi viện và 24 ca tử vong Như vậy, báo chí, đặc biệt là phương tiện truyền hình – một một trong những phương tiện thông tin đại chúng đến gần với người dân nhất cần tìm cách liên tục cập nhật tình hình VSATTP và đưa tin một cách chính xác, nhanh chóng hiệu quả nhất tới quần chúng nhân dân

Cuối cùng, đối với các cơ quan quản lý cấp ngành nói riêng và cơ quan nhà nước nói chung, giải quyết vấn đề VSATTP, nâng cao ý thức người dân là trách nhiệm quan trọng và sống còn trong sự nghiệp duy trì và phát triển nguồn nhân lực quốc gia Theo báo cáo của viện Nghiên cứu phòng chống ung thư Việt Nam, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh ung thư là do các loại hóa chất độc hại có trong thức ăn hàng ngày khiến tỷ lệ ung thư của Việt Nam bị đánh giá là cao nhất thế giới Cả nước hiện có từ 240.000-250.000 người mắc bệnh ung thư, mỗi năm có thêm khoảng 150.000 người mới mắc ung thư và số tử vong do ung thư hằng năm lên đến 82.000 trường hợp, tỉ lệ tử vong/mắc lên đến 73,5% và vào loại cao hàng đầu thế giới (tỉ lệ tử vong/mắc ở bệnh nhân ung thư chung toàn thế giới là 59,7%) “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” nhưng trước khi có thể đóng góp cho đất nước, người dân phải khỏe mạnh cả về thể chất và tinh thần Các chính sách nâng cao hiệu quả quản lý báo chí, định hướng truyền thông VSATTP đúng đắn chính là một phần quan trọng mà cơ quan chủ quản cần quan tâm và suy xét kỹ lưỡng

Rõ ràng vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề bức thiết, rất được cộng đồng xã hội, ngành báo chí truyền thông – đặc biệt là phương tiện truyền hình và các nhà quản lý quan tâm trên cả phạm vi quốc gia và

Trang 11

quốc tế Tuy nhiên, mặc dù vệ sinh an toàn thực phẩm đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng đồng toàn cầu nhưng tình hình chưa được cải thiện đáng kể Trong tương lai không xa, người dân, báo chí và cơ quan quản lý chắc chắn sẽ phải bắt tay chặt chẽ với nhau, siết chặt chính sách, thực hiện nghiêm túc từng nhiệm vụ để nhanh chóng giải quyết phần nào vấn đề VSATTP

Vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Truyền thông về vệ

sinh an toàn thực phẩm trên kênh truyền hình VTV1 và Truyền hình Thông tấn” làm đề tài luận văn thạc sỹ báo chí học với hy vọng đóng góp

vào việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá chi tiết thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm trên truyền hình tới công chúng

2 Tình hình nghiên cứu

Tác giả nhận thấy đề tài về truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm không phải hoàn toàn mới nhưng vẫn luôn có tính thời sự Luận văn cũng đòi hỏi sự kết nối, liên hệ thống nhất giữa lý luận về báo chí truyền thông, cụ thể là truyền hình với những nghiên cứu liên quan tới vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, luận văn chia lược sử vấn đề nghiên cứu thành 3 nhóm lĩnh vực như sau:

a Trong lĩnh vực báo chí truyền thông và truyền thông trên truyền

hình, nhiều giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo và công trình khoa

học đã được công bố, là nền tảng cơ sở cho hàng loạt nghiên cứu ngành báo chí học

“Giáo trình Báo chí truyền hình” (2009), NXB Đại học quốc gia Hà

Nội của TS Dương Xuân Sơn trình bày chi tiết vị trí, vai trò, lịch sử ra đời và phát triển của truyền hình; khái niệm, đặc trưng, nguyên lý của truyền hình; chức năng xã hội, kịch bản, quy trình sản xuất chương trình truyền hình, các thể loại báo chí truyền hình

Cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” (2012), NXB Lao Động của PGS.TS

Nguyễn Văn Dững với những luận cương cơ bản khái quát về báo chí, đặc điểm

Trang 12

báo chí, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng và cơ chế tác động, các chức năng và nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí,…

Cuốn sách “Báo Chí Truyền Hình - Tập 1” (2013), NXB Thông tấn

của nhóm tác giả G.V, Cudơnhetxốp, X.L Xvích, A.Ia Iurốpxki là cuốn sách mang tính hệ thống hoá về lĩnh vực báo chí truyền hình Sách gồm 6 chương, trong đó các tác giả tập trung trình bày vị trí, chức năng của truyền hình trong

xã hội; vị trí của truyền hình trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng; bản chất của truyền hình hiện đại; các phương tiện xây dựng kịch bản truyền hình và những định hướng, triển vọng của truyền hình trong thời đại bùng nổ thông tin và công nghệ truyền thông phát triển vô cùng mạnh mẽ

Giáo trình “Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” (2014) do

PGS TS Nguyễn Văn Dững làm Chủ biên cung cấp các kiến thức lý thuyết

và kỹ năng truyền thông, giúp người đọc có được nền tảng tri trức cơ bản, cái nhìn bao quát và toàn diện nhất việc truyền thông và truyền thông - vận động

xã hội

“Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” (2014),

NXB Thông tin và Truyền thông, PGS, TS Nguyễn Thành Lợi Cuốn sách gồm 5 chương đem đến cho độc giả những kiến thức về truyền thông xã hội trong kỷ nguyên số, phân tích những ảnh hưởng của truyền thông xã hội đối với báo chí, lý giải sự xuất hiện của xu hướng hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ Những xu hướng mới, những thách thức và những kỹ năng làm báo đa phương tiện trong thời đại công nghệ số được tác giả tìm tòi, giải thích và đúc kết trong cuốn sách

“Báo chí - Truyền thông - những vấn đề đương đại” (2015), Chính trị quốc

gia - Sự thật do chủ biên Nguyễn Trí Nhiệm Cuốn sách gồm các bài viết, bàn về các vấn đề: tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp cận từ góc độ pháp luật báo chí và đạo đức nhà báo hiện nay; vai trò của báo chí trong việc cung cấp thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý; báo chí trong kỷ nguyên di động,…

Giáo trình Lý luận báo chí truyền thông (2015), NXB Giáo dục của TS

Dương Xuân Sơn được giới thiệu khái quát về truyền thông và quá trình

Trang 13

truyền thông Trình bày những vấn đề chung và vấn đề cụ thể của báo chí như: các loại hình, đặc trưng, chức năng, nguyên tắc hoạt động của báo chí, luật pháp và đạo đức báo chí, hiệu quả, lao động sáng tạo trong hoạt động báo chí và nhà báo

b Nhóm tài liệu nghiên cứu thứ hai liên quan đến những vấn đề chung

trong vệ sinh an toàn thực phẩm VSATTP đã được các học giả, tổ chức

nước ngoài nghiên cứu từ rất sớm và liên tục cập nhật theo sự phát triển của

xã hội

Cuốn sách “Food Safety and Toxicity” (1996), NXB CRC của tác giả

John De Vries đã nghiên cứu và đánh giá vấn đề ngộ độc và an toàn thực phẩm dưới góc nhìn khoa học tự nhiên Ấn phẩm không chỉ chỉ rõ bản chất nguồn gốc các chất độc hại trong thực phẩm và ảnh hưởng của việc tiêu hóa chúng hàng ngày mà còn thảo luận một số cách phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro sức khỏe trước những trường hợp này Đây là những thông tin hữu ích cho những người làm truyền thông, các nhà quản lý và người tiêu dùng

Liên quan đến công tác quản lý VSATTP trong “ngôi làng toàn cầu”,

cuốn sách “The changing Landscape of Food Governance: Public and Private

Encouters” (2015), NXB Edward Elgar của tác giả T Havinga và F Van

Waarden là một nghiên cứu mới, hội nhập được với xu hướng toàn cầu hóa Cuốn sách nhấn mạnh sự kết nối mạnh mẽ giữa nhà nước và tư nhân từ khâu

kế hoạch, tuyên truyền, thực hiện, kiểm định và phối hợp đánh giá phản ứng

dư luận trong quá trình giải quyết vấn đề VSATTP ở cấp quốc gia, không chỉ tại các nước đang phát triển như Trung Quốc, Đài Loan,… mà còn cả tại các thị trường lớn mạnh như EU, Anh,…

Báo cáo thường niên, bản tin an toàn thực phẩm của WTO cũng là nguồn số liệu quan trọng, đánh giá tình hình chung và mới nhất của VSATTP trên phạm vi toàn cầu Các bản tin, ấn phẩm còn giới thiệu và phân loại rõ ràng những nguy cơ hiện hữu và tiềm ẩn đối với VSATTP cho mọi đối tượng độc giả Trong đó Việt Nam càng ngày càng trở thành điểm nóng trong mối quan hệ thực phẩm – sức khỏe

Trang 14

Tạp chí Food Protection Trends của Hiệp hội Quốc tế về Bảo vệ thực phẩm được xuất bản hàng tháng đã đưa ra nhiều nghiên cứu liên quan đến các

khía cạnh của vệ sinh an toàn thực phẩm và các biện pháp bảo vệ thực phẩm đối với từng loại thực phẩm riêng biệt Không chỉ cập nhật thông tin mới nhất

về tình hình VSATTP, tạp chí còn tập trung nghiên cứu giải pháp quản lý và kiểm định VSATTP cho các nhà khoa học, nhà máy và cơ quan nhà nước

c Nhóm tài liệu nghiên cứu thứ ba là các công trình nghiên cứu riêng

về truyền thông vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam Tác giả xin thống

kê một số công trình nghiên cứu, tài liệu tham khảo tiêu biểu như:

Trong cuốn luận văn: “Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trên báo chí

hiện nay (Khảo sát trên các báo Lao động, Sức khoẻ và đời sống từ 1/2007 đến 6/2008)”, tác giả Chu Thuý Ngà có đề cập đến khía cạnh tuyên truyền về

VSATTP, chủ yếu là trên báo in Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận về truyền thông và hoạt động truyền thông về VSATTP nông sản; đồng thời phân tích thực trạng các hoạt động này tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động truyền thông về VSANTP nông sản trong giai đoạn hiện nay Một

luận văn tương tự của tác giả Nguyễn Văn Giang về “Truyền thông về vệ sinh

an toàn thực phẩm nông sản tại Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn” lại

đi sâu hơn, tập trung thúc đẩy, nâng cao chất lượng và tính hiệu quả của truyền thông VSATTP tại một cơ quan quản lý nhà nước

Luận văn “Báo Nhân dân với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm (Khảo

sát từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2016)” của tác giả Nguyễn Diệu Linh tiếp

tục hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của báo chí trong vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, đánh giá thực trạng thông tin về vấn đề VSATTP của báo Nhân dân và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin VSATTP trên Báo Nhân dân thời gian tới

Luận văn “Báo điện tử Việt Nam tuyên truyền về vệ sinh an toàn thực

phẩm hiện nay (Khảo sát báo điện tử Vnexpress, Vietnamnet và Dantri từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016)” của tác giả Lê Thị Viên đề cập đến khía

cạnh này chủ yếu trên báo điện tử Trong bối cảnh internet lan tỏa khắp các

Trang 15

thành thị, cách mạng công nghiệp 4.0 từng bước nở rộ, luận văn được coi là

có góc nhìn hiện đại Thông qua quá trình hệ thống hóa khái niệm cơ bản, chỉ

rõ vai trò, nội dung và hình thức của báo điện tử trong công tác tuyên truyền

về VSATTP và khảo sát những bài viết tuyên truyền VSATTP trên ba trang báo mạng điện tử; luận văn đã đề xuất nhóm giải pháp giúp phát huy vai trò của báo điện tử với vấn đề VSATTP tại Việt Nam

“Đài Tiếng nói Việt Nam thông tin về vệ sinh an toàn thực phẩm (Khảo sát 3 chương trình trên hệ VOV1 - Đài Tiếng nói Việt Nam: Thời sự, Theo dòng thời sự, Nông nghiệp và nông thôn)” của tác giả Dương Thị Ngáy cũng

có nhận xét, đánh giá chi tiết thực trạng thông tin về VSATTP trong báo chí truyền thông, nhưng chủ yếu ở phạm vi kênh truyền thanh, đặc biệt là khảo sát 3 chương trình trên hệ VOV1 – Đài Tiếng nói Việt Nam

Gần đây nhất, trên Tạp chí Người làm báo (03/12/2018) cũng có bài viết “Truyền thông VSATTP trên truyền hình” của tác giả Thùy Dương bước đầu cho độc giả cái nhìn khái quát nhất về việc tuyên truyền VSATTP thông qua một số chương trình trọng điểm như “Nói không với thực phẩm bẩn”,

“Chúng ta ăn gì?” và qua đó, nêu lên một vài giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông

Có thể thấy những tài liệu trên phần nào làm sáng tỏ về nội dung và tính cấp thiết của việc tuyên truyền công tác vệ sinh an toàn thực phẩmhiện nay Tuy nhiên, các góc độ nghiên cứu tập trung trên các loại hình báo chí khác chứ không phải trên truyền hình Chưa kể đến, hiện nay, một số kênh truyền hình đã xây dựng được chuyên mục ghi dấu ấn được với độc giả chuyên về mảng VSATTP – một mảng đề tài thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng hiện nay

Do đó, hướng nghiên cứu của luận văn lần này là một điều cần thiết để chỉ ra được những yếu tố mới, điểm mạnh, điểm hạn chế trong công tác truyền thông trên truyền hình về vệ sinh an toàn thực phẩm Chính vậy, đề tài nghiên cứu của tôi không trùng lặp với những công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã công bố cho đến thời điểm này

Trang 16

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu, mục tiêu của luận văn là làm sảng tỏ cơ sở lý luận kết hợp với phân tích thực trạng, đánh giá ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động truyền thông trên kênh truyền hình về

vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt qua trường hợp 2 kênh truyền hình VTV1

và kênh truyền hình Thông tấn Từ đó, tác giả sẽ đề xuất các giải pháp cho đơn

vị báo chí – truyền hình cũng như cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trên kênh truyền hình trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ lần lượt thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Làm rõ khái niệm, vai trò của truyền thông trên truyền hình và nội dung truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm trên truyền hình trước vấn nạn thực phẩm không an toàn hiện nay tại Việt Nam

- Đưa ra số liệu, tổng hợp thông tin về thực trạng, phân tích chỉ rõ điểm mạnh, điểm yếu và hạn chế còn tồn tại; đồng thời làm sáng tỏ nguyên nhân của những hạn chế trên, những vấn đề đặt ra về truyền thông về vệ sinh

an toàn thực phẩm trên kênh truyền hình VTV1 và truyền hình Thông tấn

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm trên kênh truyền hình VTV1 và Truyền hình Thông tấn Việt Nam

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề truyền thông về VSATTP trên kênh VTV1 và Kênh Truyền hình Thông tấn

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về đối tượng khảo sát: 2 kênh truyền hình chính luận của Chính phủ

là kênh VTV1 và Truyền hình Thông tấn Trên kênh VTV1 gồm các bản tin thời sự và chuyên mục “Nói không với thực phẩm bẩn”; trên kênh truyền hình

Trang 17

Thông tấn gồm các bản tin thời sự và chuyên mục “Đường dây nóng 389” trong năm 2018, so sánh đối chiếu với một số cơ quan báo chí khác Tiến hành phỏng vấn sâu và điều tra bằng bảng hỏi đối với các đối tượng công chức, viên chức, người lao động tại Hà Nội và các phóng viên, biên tập viên của kênh VTV1 và kênh Truyền hình Thông tấn

Luận văn có nghiên cứu mở rộng một số đài truyền hình như ANTV, Nhân Dân, VTC, VOV… (Đây là những kênh truyền hình có nhiều lượng người xem và là kênh có uy tín,…) để so sánh

- Về thời gian: hoạt động thông tin về VSATTP trên kênh truyền hình VTV1 và Truyền hình Thông tấn trong năm 2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu dựa trêncác nguyên lý của Chủ nghĩa Mác Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước về truyền thông và các lý thuyết vềtruyền thông, truyền hình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trênphương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng

và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm phương pháp luận của ngành báo chí học để triển khai nghiên cứu đề tài

Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể: phân tích, tổng hợp, quan sát, nghiên cứu tài liệu, điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu…để nghiên cứu

Báo chí và quản lý báo chí là một quá trình, vấn đề VSATTP phải trải qua nhiều giai đoạn thay đổi trong thực tế xã hội Do đó, tác giả thông qua cái riêng để tìm được cái chung, thông qua hiện tượng để nêu lên bản chất Chỉ có những thao tác của phương pháp phân tích và tổng hợp mới giúp tác giả có cái nhìn thực tế nhất, nắm được nguyên nhân chính yếu và đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả truyền thông trên kênh truyền hình về VSATTP

Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu cũng hết sức quan trọng trong luận văn này Do VSATTP là một vấn đề bức xúc của toàn xã hội

và diễn biến liên tục với đặc điểm, tính chất và độ phức tạp ngày càng gia tăng

Trang 18

nên tác giả phải sử dụng điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu để tiếp xúc với từng trường hợp cụ thể trong thực tế Ngoài ra, việc lấy mẫu sẽ cho biết những kết quả tổng quan nhưng chính xác nhất về hiệu quả trong truyền thông VSATTP hiện nay Từ đó tác giả có thể có những kết luận chi tiết về tình hình truyền thông VSATTP trên 2 kênh truyền hình VTV1 và truyền hình thông tấn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa khoa học

Cho đến nay, các nguồn tài liệu nghiên cứu về báo chí truyền thông, truyền hình hay các tài liệu VSATTP đã được xuất bản tương đối nhiều và chi tiết Tuy nhiên, đề tài về truyền thông VSATTP trên kênh truyền hình chưa xuất hiện nhiều, đặc biệt các tài liệu nghiên cứu mới ở mức độ tương đối tổng quan sơ lược hoặc truyền thông trên các loại báo điện tử hay truyền thanh Mặt khác, truyền thông VSATTP không chỉ mang tính thời sự với người dân, với ngành báo mà còn rất ý nghĩa với công tác quản lý và truyền thông trên kênh truyền hình lại càng thay đổi nhanh hơn trong bối cảnh thông tin lan tỏa

vô cùng nhanh chóng, dễ dàng Do đó, luận văn thực sự sẽ đem lại góc nhìn mới cho công tác quản lý báo chí trên truyền hình về chủ đề VSATTP và có ý nghĩa, định hướng mới đối với ngành

Luận văn cũng góp phần hoàn chỉnh hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề truyền thông và truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm trên truyền hình trước vấn nạn thực phẩm không an toàn hiện nay tại Việt Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý, quản lý, đẩy mạnh truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm trên truyền hình Qua nghiên cứu này, luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý, quản lý, đẩy mạnh truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩmtrên truyền hình trong giai đoạn phát triển tới, từ đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, phương thức quản lý; đồng thời cải tiến quy trình sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông, nâng cao chất lượng tin, bài, sản phẩm truyền thông của kênh VTV1 và kênh truyền hình Thông tấn

Trang 19

7 Kết cấu của luận văn

Trừ Phần Mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của truyền thông về Vệ sinh an toàn thực phẩm trên kênh truyền hình

Chương 2: Thực trạng truyền thông về Vệ sinh an toàn thực phẩm trên kênh truyền hình VTV1 và truyền hình Thông tấn

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm trên kênh truyền hình VTV1 và truyền hình Thông tấn thời gian tới

Trang 20

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRUYỀN THÔNG

VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH

1.1 Một số vấn đề lý luận về truyền thông

1.1.1 Truyền thông và các mô hình truyền thông

1.1.1.1 Khái niệm truyền thông

Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, có vai trò rất quan trọng, tác động và chi phối đến mọi lĩnh vực khác nhau trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Trong cuốn sách “Truyền thông Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” do PGS.TS Nguyễn Văn Dững làm chủ biên có đề cập “Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội Do đó, hiện tượng này có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau, tuỳ theo góc nhìn đối với truyền thông [tr.13]

Bên cạnh đó, trên thế giới có nhiều quan điểm riêng về truyền thông Trong đó một số khái niệm tiêu biểu về truyền thông như sau:

- Theo John R Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời

- Martin P Adelsm thì cho rằng: truyền thông là quá trình liên tục, qua

đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta

Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống

- Theo quan niệm của Dean C Barnlund (1964), truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn

- Theo Gerald Miler (1966), về cơ bản, truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ

- Theo Frank Dance (1970), truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người

Trang 21

- Theo S Schachte, truyền thông là một quá trình qua đó quyền lực được thể hiện và tính độc quyền tăng lên

- Dưới góc độ cấu trúc, Bess Sodel cho rằng, truyền thông là một quá trình chuyển đổi từ một tình huống đã có cấu trúc như một tổng thể sang tình huống khác theo một thiết kế có chủ đích

Ngoài ra, có thể dẫn ra hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác nhau về truyền thông Mỗi định nghĩa, quan niệm lại có những khía cạnh hợp lý riêng Tuy nhiên, các định nghĩa, quan niệm khác nhau này vẫn có những điểm chung, với những nét tương đồng rất cơ bản Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “communicare”, nghĩa là biến thành thông thường, chia sẻ, truyền tải Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu Về bản chất, đó chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân nhóm xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội

Từ các quan niệm và phân tích trên, định nghĩa chung nhất, chính xác nhất về truyền thông là: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin,

tư tưởng, tình cảm chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/ nhóm/ cộng đồng xã hội”

1.1.1.2 Một số mô hình truyền thông

Mô hình truyền thông là những bản vẽ, các hình, biểu đồ sơ đồ,… sử dụng để quy những ý kiến phức tạp về cách biểu đạt mang tính chất đồ họa Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều mô hình truyền thông khác nhau như mô hình của Lasswell, mô hình truyền thông của Claude Shannon,

mô hình của Shannon và Weaver, mô hình của David Berlo, mô hình tiếp thị

xã hội,… Trong đó, mô hình truyền thông của Shannon được coi là khái quát hơn cả, phản ánh khái quát và đầy đủ về các yếu tố truyền thông

Trang 22

Hình 1.1 Mô hình truyền thông của Claude Shannon

Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố tham dự chính (Hình 1.1):

- Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông Nguồn phát là một người hay một nhóm người mang nội dung thông tin trao đổi với người hay nhóm người khác

- Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư tình cảm, mong muốn, đòi hỏi ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật được

mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để truyển tải thông điệp

- Kênh truyền thông là các phương tiện, con đường, cách thức truyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia truyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông cá nhân,truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông đa phương tiện

- Người nhận là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ

sở những biến đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận, cùng những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại

- Phản Hồi/ Hiệu quả : là thông tin ngược là dòng chảy của thông điệp

từ người nhận trở về nguồn phát Mạch phản hồi là thước đo hiệu quả của

Trang 23

hoạt động truyền thông Trong một số trường hợp, mạch phản hồi bằng không hoặc không đáng kể Điều đó có nghĩa là thông điệp phát ra không hoặc ít tạo được sự quan tâm của công chúng

- Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch không được, dự tính trước trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật ) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch

Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước

1.1.2 Quản lý truyền thông

Quản lý truyền thông là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành

vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan; là quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển truyền thông ban hành, chỉ đạo, kiểm soát việc thực hiện pháp luật về truyền thông nhằm tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực này

1.1.2.1 Nội dung của hoạt động quản lý truyền thông

- Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch phát triển các loại hình báo chí, xuất bản, bưu chính và chuyển phát, viễn thông và internet, truyền dẫn phát sóng, tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện từ; phát thanh - truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông

- Tổ chức thực hiện các quan điểm, định hướng, chủ trương của Đảng

về thông tin, truyền thông

- Giám sát, kiểm tra hoạt động của đội ngũ cán bộ làm trong lĩnh vực thông tin - truyền thông

- Xây dựng và sử dụng nguồn lực, kinh phí cho các hoạt động truyền thông, xây dựng và củng cố các hệ thống cơ quan truyền thông

1.1.2.2 Nguyên tắc quản lý truyền thông

Quản lý nhà nước đối với hoạt động truyền thông cũng giống như quản

lý nhà nước đối với những lĩnh vực khác cần tuân theo các nguyên tắc:

Trang 24

- Nguyên tắc tập trung dân chủ: đây là nguyên tắc quan trọng nhất, chi đạo mọi hoạt động của bộ máy nhà nước Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa Nhà nước nắm quyền thống nhất quản lý những vấn

đề cơ bản, đồng thời giao quyền và trách nhiệm cho địa phương.Thường xuyên khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, tự do vô Chính phủ, phân tán, cục bộ, tùy tiện trong quản lý

- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, theo địa phương và vùng lãnh thổ Nhà nước là một thể thống nhất, bộ máy nhà nước tổ chức hoạt động theo các cấp hành chính nhà nước và thực hiện theo quy định cấp dưới, phục tùng cấp trên Các đơn vị văn hóa ở địa phương vừa chịu sự quản lý của ngành, vừa chịu sự quản lý về lãnh thổ của địa phương

- Nguyên tắc phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về truyền thông

và chức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực truyền thông Các cơ quan truyền thông là bộ máy tổ chức và nhân sự, cơ

sở vật chất kỹ thuật để thực hiện chức năng thông tin Các cơ quan truyền thông hoạt động theo cơ chế thị trường và theo nguyên tắc quản lý kinh tế nhưng phải chú ý tới tính đặc thù của lĩnh vực truyền thông để điều tiết cụ thể, tránh đồng nhất quản lý kinh tế với quản lý truyền thông

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: đòi hỏi quản lý hoạt động phải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước để thực hiện trách nhiệm nghĩa

vụ và chức năng của truyền thông Chống sự tùy tiện, đứng ngoài và đứng trên pháp luật

- Nguyên tắc công khai: đòi hỏi hoạt động quản lý của nhà nước phải công khai cho nhân dân biết trên các phương tiện thông tin đại chúng Các cơ quan giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải chú ý đến dư luận xã hội, kịp thời điều chỉnh quyết định về quản lý cho phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội

1.1.2.3 Phương thức quản lý đối với hoạt động truyền thông

- Phương pháp hành chính: là tác động trực tiếp bằng các quy định mang tính quyền lực bắt buộc của nhà nước Đặc điểm cơ bản của phương

Trang 25

pháp này là tính nguyên tắc và tính quyền lực Nó đòi hỏi các hoạt động truyền thông hóa phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định hành chính, nếu

vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải sử dụng đúng và đầy đủ quyền lực của mình trong các tác động hành chính gắn với thẩm quyền của mình.Thực chất của phương pháp này là

sử dụng quyền lực quản lý nhà nước để tạo ra sự phục tùng của các cá nhân

và các tổ chức

- Phương pháp kinh tế: tác động vào đối tượng quản lý thông qua các phương pháp kinh tế để đối tượng quản lý lựa chọn phương pháp hiệu quả nhất trong các phạm vi của họ Mọi hoạt động của các cơ quan truyền thông cũng phải tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật cạnh tranh, quy luật quản lý giá trị, quy luật cung cầu Tác động thông qua lợi ích kinh tế, tạo ra động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận

1.2 Truyền hình và hiệu quả truyền thông trên truyền hình

1.2.2 Truyền hình và những ưu điểm, hạn chế của truyền hình

1.2.2.1 Khái niệm

Trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass Communication), hay Mass Media gồm có báo in, báo truyền hình, báo truyền hình, báo điện tử phát trên mạng Internet, sản phẩm thông tin của chúng có tính định kỳ hết sức đa dạng và phong phú Bên cạnh đó còn có những sản phẩm không định kỳ của truyền thông như các ấn phẩm của ngành xuất bản, các phương pháp truyền thông trực tiếp như: tuyên truyền miệng, quảng cáo,… Nội dung và tính chất thông tin đều mang tính phổ cập và có phạm vi tác động rộng lớn trên toàn xã hội

Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ''ở xa'' còn “videre” là ''thấy được'', còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại

“Televidere” có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là “Television”, tiếng Nga gọi là “Tелевидение” Dù có phát triển bất

cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa

Trang 26

Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, truyền hình giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng

Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại (commercial TV) Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí,…

Mặt khác, theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV)

- Truyền hình sóng: (vô tuyến truyền hình- Wireless TV) được thực hiện theo nguyên tắc kỹ thuật như sau: hình ảnh và âm thanh được mã hóa dưới dạng các tín hiệu sóng và phát vào không trung Các máy thu tiếp nhận các tín hiệu rồi giải mã nhằm tạo ra hình ảnh động và âm thanh trên máy thu hình (ti vi) Còn sóng truyền hình là sóng phát thẳng, vì thế ăngten thu bắt buộc phải ''nhìn thấy'' được ăngten máy phát và phải nằm trong vùng phủ sóng thì mới nhận được tín hiệu tốt Do những đặc điểm kỹ thuật trên, truyền hình sóng chỉ có khả năng đáp ứng nhu cầu của công chúng bằng các chương

Trang 27

trình cho các đối tượng; không có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu hay dịch vụ

cá nhân

- Truyền hình cáp: (hữu tuyến – CATV- viết tắt tiếng Anh là Community Antenna Television) đáp ứng nhu cầu phục vụ tốt hơn cho công chúng Nguyên tắc thực hiện của truyền hình cáp là tín hiệu được truyền trực tiếp qua cáp nối từ đầu máy phát đến từng máy thu hình Từ đó, truyền hình cáp truyền hình trong cùng một lúc có thể chuyển đi nhiều chương trình khác nhau đáp ứng theo nhu cầu của người sử dụng Ngoài ra truyền hình cáp còn phục vụ nhiều dịch vụ khác mà truyền hình sóng không thể thực hiện được

1.2.2.2 Những yếu tố thiết yếu trên truyền hình

- Về nội dung kỹ thuật

Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình là phương tiện

ra đời muộn, tuy nhiên nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát triển Truyền hình đã thừa hưởng kinh nghiệm và phương pháp tạo hình, tiếng của điện ảnh và truyền hình Ở truyền hình có sự khái quát triết lý của báo in, tính chuẩn xác cụ thể bằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh, truyền hình, tính hình tượng của hội họa, cảm xúc tư duy của âm nhạc Sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật công nghệ giúp truyền hình tạo ra phương pháp mới trong truyền đạt thông tin Truyền hình là loại hình truyền thông có cac yếu tố kỹ truyền hình thuật hiện đại, là sự kết hợp giữa: kỹ thuật + mỹ thuật + nghệ thuật + kinh tế + báo chí

- Về tư duy và sáng tạo tác phẩm

Mỗi loại hình truyền thông đại chúng đều có những đặc thù riêng Nếu chỉ xét trên phương diện quá trình làm ra một sản phẩm, ở báo in mỗi tác phẩm, mỗi bài báo có thể là sản phẩm riêng, là sự sáng tạo riêng của mỗi cá nhân, mỗi nhà báo Nhưng để sáng tạo một tác phẩm truyền hình còn công phu hơn nhiều, đó là đứa con tinh thần của cả một tập thể, đạo diễn, biên kịch và những người làm kỹ thuật Sản phẩm đó thể hiện ý kiến thống nhất của từng thành viên trong đoàn làm phim, giữa người biên tập và người quay phim Vì vậy đối với báo in, nhà báo có thể viết đề cương rồi viết luôn thành bài, còn ở truyền hình do tính chất đặc thù quy định, đề cương đó được thể hiện ở kịch bản Kịch bản là sương sống

Trang 28

cho một tác phẩm truyền hình, đồng thời tạo ra sự thống nhất giữa đạo diễn và quay phim trong quá trình làm phim, sự ăn ý giữa hình ảnh và lời bình 4, Những yếu tố cơ bản trong truyền hình

- Lượng thông tin

Do trực quan cảm giác truyền hình rất hạn chế lượng thông tin lý luận

và tư duy trừu tượng Ký hiệu thông tin truyền hình thuộc ký hiệu đồng nhất (sự phù hợp hoàn toàn giữa nội dung ký hiệu và vật thể mà ký hiệu đại diện), thông tin trong truyền hình thường mang tính cụ thể, dễ hiểu bằng hình ảnh,

âm thanh tự nhiên, có tính thuyết phục cao

- Hình ảnh trong truyền hình

Hình ảnh trong truyền hình vừa là phương tiện vừa là nội dung thể hiện

ý đồ tư tưởng của tác phẩm Hình ảnh trong truyền hình phản ánh không gian

ba chiều lên mặt phảng hai chiều của truyền hình Khác với hình ảnh tĩnh tại của truyền hình các nghệ thuật tạo hình như hội họa, nhiếp ảnh Hình ảnh trong truyền hình là hình ảnh động có thực đã qua xử lý kỹ thuật Năm 1828, nhà vật lý người Bỉ J Plateau đã chứng minh nguyên lý lưu ảnh trên võng mạc của mắt người và chính ông là người đã xác định nguyên lý cơ bản của nghệ thuật thứ bảy Nguyên lý đó là sự biến đổi những hình ảnh tĩnh của nhiếp ảnh thành những hình ảnh động của điện ảnh 24 hình/giây và sau này, truyền hình với việc truyền và tái tạo hình ảnh điện tử 25 hình / giây Ở điện ảnh và truyền hình, hình ảnh được tái tạo sinh động, liên tục về quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, còn ở nhiếp ảnh, hình ảnh là sự tái hiện cuộc sống trong khoảng khắc.trong tác phẩm truyền hình, hình ảnh không chỉ mô tả

sự hoạt động của con người mà còn giúp khán giả “tham gia” sự kiện Chỉ cần ngồi tại chỗ với chiếc máy thu hình, người xem có thể biết được sự việc xảy

ra xung quanh mình hoặc cách xa mình hàng vạn cây số, hàng năm ánh sáng Truyền hình đã kế thừa kinh nghiệm của điện ảnh về cỡ cảnh, góc độ máy, động tác máy và nghệ thuật Montage Các cỡ cảnh chính trong truyền hình là: toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh, Với các cỡ cảnh này, truyền hình có thể thỏa mãn nhu cầu muốn biết cái gì đang xảy ra, nó xảy ra như thế nào của khán

Trang 29

giả Mặt khác qua các cỡ cảnh tác giả có thể bộc lộ được thái độ tâm lý của con người trong sự kiện đó Qua các góc quay cao thấp, chính diện, ¾ góc độ chủ quan và khách quan, các tác phẩm truyền hình có thể giúp cho người xem

“tham gia” sự kiện hay “đứng trên” nhìn vào sự kiện

Tuy nhiên, hình ảnh trong truyền hình có nhiều điểm khác hình ảnh trong phim truyện Mục đích của các cảnh trong các tác phẩm truyền hình là thông tin thời sự và xác thực Tính thời sự, tính phổ biến không thể thiếu được trong các tác phẩm báo chí Còn điện ảnh, với mục đích giải trí, với phương pháp tái tạo cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật, việc hư cấu là không thể xóa bỏ Bởi vậy, khi làm phim truyện, người ta phải mất nhiều thời gian dàn truyền hình cảnh, bố trí đạo cụ, phục trang, hóa trang… Trong khi đó, người phóng viên khi quay phim phóng sự hay tin truyền hình, ít khi có điều kiện dàn dựng hiện trường, ít có góc độ thời gian để chọn góc độ, ánh sáng Thậm chí khi công chúng phát hiện ra sự dàn dựng giả tạo, tính thuyết phục của tác phẩm truyền hình sẽ giảm sút Truyền hình là phương tiện quan sát trực tiếp cuộc sống của mỗi gia đình, khả năng trực quan có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình nhận thức của con người Chỉ riêng một khuôn hình thôi cũng có thể truyền đạt trực tiếp hình ảnh của sự vật cụ thể Trong các tác phẩm truyền hình , mỗi hình ảnh đều phải bao hàm một ý nghĩa, một nội dung nào đó hoặc

là nguyên nhân, diễn biến hoặc là kết quả của quá trình phát triển sự kiện trong cuộc sống Các hình ảnh liên kết với nhau theo tuyến tính thời gian Hình ảnh trong tác phẩm truyền hình là phương tiện để tác giả biểu thị ý đồ,

tư tưởng: “bản thân sự thể hiện hình ảnh đã là nội dung, là hành động rồi và vì vậy, nó hàm chứa những nguyên nhân của chính cách xây dựng khuôn hình, hoặc thay thế khuôn hình này bằng một khuôn hình khác.” Ý nghĩa của hình ảnh trong tác phẩm truyền hình thể hiện ở chỗ cảnh quay cho xem cái gì, góc quay và động tác máy có ý nghĩa như thế nào, tác giả muốn biểu lộ ý đồ qua góc quay này Khả năng biểu hiện của hình ảnh trong tác phẩm truyền hình còn thể hiện ở mối liên hệ trong các hình ảnh Qua phương pháp Montage, nội dung tự thân của mỗi hình ảnh phối hợp với nhau, tạo ra nội dung thông tin

Trang 30

mới mang tính tổng thể Sự sắp xếp hình ảnh trong quá trình truyền đạt thông tin giúp con người cảm nhận được tính đa chiều, lập thể trong mỗi sự kiện, vấn đề, số phận con người Tư duy làm khán giả phát hiện được tính ẩn dụ của hình ảnh, của các hiện tượng lắp ráp và qua đó biểu hiện được mối quan

- Âm thanh

Âm thanh là những yếu tố tồn tại khách quan trong đời sống xã hội.Nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình thông tin, truyền hình đã kế thừa kinh nghiệm xử lí, thể hiện âm thanh của truyền hình.Ba yếu tố của âm thanh (lời bình, tiếng động, âm nhạc) được sử dụng trong truyền hình nhằm thông tin phản ánh cuộc sống Nhờ sự trợ giúp của âm thanh tác phẩm truyền hình trở nên sống động chư bản thân cuộc sống Âm nhạc trong bản thân tác phẩm truyền hình phải là âm thanh từ cuộc sống thực tế không được dàn dựng, giả tạo bởi mục đích của các tác phẩm truyền hình là những hình ảnh và âm thanh ghi lại hơi thở, động thái của cuộc sống Tính xác thực trong âm thanh truyền hình là sức mạnh của thể loại này Lời bình trong tác phẩm truyền hình là sự

bổ sung cho những gì người xem thấy trên màn hình chứ không phải những gì

họ đã nhìn thấy Lời bình được tiến hành song song với hình ảnh Lời bình (thuyết minh) bắt đầu hình thành trong giai đoạn xây dựng kịch bản Lời

Trang 31

thuyết minh phải nảy sinh không truyền hình trước thì cũng đồng thời với việc xây dựng kịch bản Lời thuyết minh phải truyền đạt được nội dung tư tưởng của phim Vậy lời thuyết minh phải đạt được những yêu cầu sau: phải giúp người xem tổng hợp, khái quát được ý nghĩa của sự việc, sự kiện phản ánh trong tác phẩm của truyền hình

- Tiếng động hiện trường

Tiếng động hiện trường bao gồm âm thanh của thiên nhiên ( mưa, gió, nước chảy…), âm thanh do sinh hoạt con người tạo nên (tiếng dụng cụ lao động, máy móc, tiếng reo hò…), tiếng động nhân tạo… Có người cho rằng:

“Phim tài liệu, phóng sự truyền hình không có tiếng động khác nào phim câm” Rõ ràng tiếng động sẽ làm tăng sự gợi cảm, tính chân thực của tác phẩm truyền hình nhằm tác động vào nhận thức, tình cảm của người xem truyền hình Tuy nhiên, việc sử dụng tiếng động phải đúng cường độ, đúng lúc Sử dụng tiếng động hiện trường không tốt sẽ làm giảm hiệu quả của tiếng động truyền hình.Việc sử dụng tiếng động quá to, át lời bình sẽ gây cảm giác khó chịu cho khán giả Mặt khác, tiếng động trong các tác phẩm truyền hình không nên là tiếng động giả tạo như trong phim truyện Theo kinh nghiệm của những nhà làm phim Canada thì trong phim phóng sự tài liệu Canada trước đây: 90% là lời bình, 5% là phỏng vấn, 1% là tiếng động Sau đó một thời gian tỉ lệ này đã thay đổi: 80% là lời bình, 15% phỏng vấn, 5% tiếng động Hiện nay 40% lời bình, 40% phỏng vấn, 20% tiếng động Điều này chứng tỏ tiếng động hiện trường rất quan trọng trong phim phóng sự truyền hình.Vấn

đề là sử dụng tiếng động hiện trường như thế nào cho hiệu quả, tạo được sự hấp dẫn đối với người xem

Trang 32

hiện trường.Âm nhạc cũng phải có kịch tính gợi cảm chứ không chỉ minh hoạ cho phim.Không thể sử dụng âm nhạc một cách tuỳ tiện mà phải phụ thuộc vào nội dung, cách thể hiện hình ảnh trong phim

1.2.2.3 Ưu điểm và hạn chế của truyền hình

a Ưu điểm

Báo truyền hình là một kênh truyền thông giúp truyền tải thông tin bằng hình ảnh, âm thanh sống động với đầy đủ sắc màu từ lời nói đến âm nhạc và tiếng động Truyền hình còn được khán giả gọi với những tên ưu ái như kẻ mang bức tranh muôn màu cuộc sống, người đưa mang thông tin kết nối mọi người lại với nhau Với các hoạt động chương trình được thu nhỏ lại qua màn ảnh giúp cho người xem cảm nhận được những thông tin, hình ảnh một cách trực quan nhất Đây được xem là những thế mạnh vượt trội của báo truyền hình, giúp cho thông tin khoa học những vấn đề thời sự nổi cộm được cập nhật một cách nhanh chóng chính xác nhất

- Thứ nhất, việc truyển tải thông điệp bằng hình ảnh với tất cả các màu sắc vốn có của cuộc sống, cùng với thế giới âm thanh sống động đã tạo nên tính hấp dẫn vô song Thế mạnh này bắt nguồn từ việc truyền hình tác động vào cả hai giác quan quan trọng nhất của con người là thị giác và thính giác bằng những chất liệu sinh động, tươi mới, tạo cho người xem cảm giác như đang tiếp xúc trực tiếp với người trong cuộc

- Thứ hai, thông điệp trên truyền hình hấp dẫn nhưng lại rất dễ hiểu, thích ứng cho cả nhóm công chúng có trình độ văn hoá thấp…

- Thứ ba, truyền hình có thể mạnh trong việc hướng dẫn các hoạt động, các thao tác; đặc biệt có năng lực cổ vũ, kêu gọi hành động xã hội của đông đảo công chúng trong một thời điểm nhất định và trên diện rộng

- Thứ tư, truyền hình là kênh truyền thông giao lưu văn hóa với nhiều ưu thế vượt trội, nhất là qua các phóng sự tài liệu, phim ảnh, trò chơi, quảng cáo

- Cuối cùng, truyền hình có ưu điểm nổi bật khi kết hợp rất khéo léo giữa hình ảnh và âm thanh giúp tạo cho khả năng truyền tải thông tin nội dung

vô cùng phong phú gần gũi với người xem Các sự kiện hiện tượng, vấn đề nổi bật đều được cập nhật thể hiện qua các chương trình truyền hình ngày

Trang 33

càng chuyên nghiệp và sáng tạo riêng Đây là đặc điểm then chốt giúp tạo ra đặc điểm riêng biệt của các chương trình truyền hình đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội Sự hấp dẫn riêng biệt khả năng tương tác với khán giả người xem bằng hình ảnh và âm thanh khiến cho thông tin được truyền tải theo một hình thức sống động gần gũi

- Thứ hai, muốn tiếp nhận chương trình truyền hình phải có máy thu Với điều kiện kinh tế, mức sống hiện nay, không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện mua máy thu hinh, nhất là một nước nghèo như Việt Nam, nông dân

và bà con vùng sâu vùng xa càng khó khăn hơn

- Thứ ba, chi phí sản xuất chương trình truyền hình thường rất tốn kém

- Thứ tư, tính tư liệu thấp, khó lưu giữ thông tin cho số đông mặc dù các điều kiện băng đĩa ghi hình hiện đại hơn và đã được cải thiện

- Thứ năm, tính hai mặt của truyền hình là rõ rệt Năng lực tác động rất mạnh mẽ, nhất là đối với lớp trẻ Một cảnh quay, một hình ảnh trên màn hình

có thể làm đảo lộn những bài giảng đạo đức trong các nhà trường trong khi các chương trình truyền hình cho thanh, thiếu niên và chương trình giảng dạy trong nhà trường chưa có sự phối hợp nhằm tạo nên sự cộng hưởng tích cực hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện

1.2.3 Đặc điểm truyền thông trên truyền hình

Việc truyền thông trên truyền hình đem lại những hiệu quả mà không phải loại hình báo chí nào cũng có Thậm chí những đặc điểm này còn là điểm đặc trưng riêng của truyền hình

- Tính thời sự

Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí Nhưng truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin

Trang 34

nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra thậm chí khi nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các

sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất.Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác.Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc “khi sự kiện diễn ra truyền hình báo tin, truyền hình trình bày và báo in giảng giải nó”

- Ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh

Một ưu thế của truyền hình chính là đã truyền tải cả hình ảnh và âm thanh cùng một lúc.Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường thị giác, truyền hình bằng con đường truyền hình sự kiện bằng cả thị giác và thính giác Qua các cuộc nghiên cứu người ta thấy 70% lượng thông tin con người thu được là qua thị giác và 20% qua thính giác Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện

- Tính phổ cập và quảng bá

Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bất kì đâu được đưa lên vệ tinh

sẽ truyền đi khắp cả thế giới, được hàng tỉ người biết đến.Ngày nay ngồi tại phòng nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được sự kiện diễn ra trên thế giới

- Khả năng thuyết phục công chúng

Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người.Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng

Trang 35

yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng.“Trăm nghe không bằng mắt thấy”, chính truyền hình đã cung cấp những hình ảnh về sự kiện thỏa mãn nhu cầu “thấy” của người xem.Đây là lợi thế lớn của truyền hình so với các loại hình báo in và truyền hình

- Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ

Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy Truyền hình được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh

mẽ Các chương trình của Đài truyền hình Việt Nam như các chuyên mục “Sự kiện và bình luận”, “Đối thoại trực tiếp”, “Chào buổi sáng” của ban Thời sự VTV1 không chỉ tác động dư luận mà còn định hướng dư luận, hướng dẫn dư luận phù hợp với sự phát triển của xã hội và các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo, nên sự tác động dư luận ngày càng rộng rãi Chính vì thế,truyền hình có khả năng trở thành diễn đàn của nhân dân Các chuyên mục “ý kiến bạn xem truyền hình”, “với khán giả VTV3”, “Hộp thư bạn xem truyền hình” ,… đã trở thành cầu nối giữa người xem và những người làm truyền hình Qua đó người dân có thể nêu lên những

ý kiến khen chê, ủng hộ, phản đối, góp ý phê bình về các chương trình truyền hình của đài truyền hình hoặc gửi đi những thắc mắc, bất cập, sai trái ở địa phương Rất nhiều vụ tham nhũng, lạm dụng quyền hạn đã được người làm báo làm sáng tỏ qua sự phản ánh của nhân dân

1.2.4 Lý thuyết chung về nâng cao tính tương tác của truyền hình

Truyền hình là một phần trong cuộc sống của chúng ta Nó đã đặt sự ảnh hưởng lên kinh tế, chính trị và thế giới quan của chúng ta Đó là điều không cần phải chứng minh Truyền hình là một phương tiện truyền thông mạnh mẽ nhất, trong mọi thời đại Chính thế mà chúng ta sẽ không có gì ngạc nhiên khi nói rằng: ngay từ khi ra đời, truyền hình tương tác đã đem đến rất nhiều lợi ích Vậy chúng ta đã biết gì về công nghệ tuyệt vời này? Đối với một số người, cho rằng, truyền hình tương tác cho phép khán giả tương tác với nội dungnhận được, gửi đi ý kiến của họ trong các buổi tranh luận hoặc

Trang 36

tham gia vào các trò chơi, trả lời các câu hỏi điều tra Một số khác lại cho rằng, truyền hình tương tác đồng nghĩa với các dịch vụ truyền hình theo yêu

cầu (video-on-demand hay VoD) Đối với các nhà công nghệ, truyền hình tương

tác lại hoàn toàn có nghĩa là sự hội tụ của truyền hình với mạng thông tin toàn cầu (Internet) Điều này được phát triển theo hai hướng Hướng thứ nhất, truy cập vào Internet thông qua truyền hình nhờ việc sử dụng một thiết bị giải mã, bộ điều khiển từ xa, bàn phím Hướng thứ hai, việc truy cập vào truyền hình thông qua máy tính

Khái niệm truyền hình tương tác dẫn ta tới rất nhiều khái niệm khác

Đó là một phương pháp thị giác mới của truyền hình, là một cuộc cách mạng công nghệ bởi vì nó sử dụng rất nhiều công nghệ tiên tiến Truyền hình tương tác rất phát triển trong những năm gần đây Sự rối loạn trong lĩnh vực truyền thông đã tạo đà phát triển cho sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty điện thoại, các công ty cung cấp cáp và các phương tiện truyền thông mới Điều này cũng khiến chúng ta quan tâm đến các thiết bị truyền thông không truyền thống được sử dụng trong các gia đình

1.3 Vệ sinh an toàn thực phẩm

1.3.1 Khái niệm

Bảo đảm chất lượng VSATTP giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo

vệ sức khỏe của nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển giống nòi, tăng cường sức lao động và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển sang cơ chế thị trường Các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và nước ngoài nhập vào Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng Việc sử dụng các chất phụ gia trong sản xuất trở nên phổ biến Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng trong pha chế nước giải khát, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai … Nhiều loại thịt bán trên thị trường không qua kiểm duyệt thú y

Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) được định nghĩa như sau: vệ sinh an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng

Trang 37

người tiêu dùng Hiện nay có hai khái niệm đang được sử dụng rộng rãi: vệ sinh thực phẩm (food hygiene) và an toàn thực phẩm (food safety):

- Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống tươi sống hoặc qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không báo gồm mỹ phẩm, thuộc lá và các chất sử dụng như dược phẩm

- Vệ sinh thực phẩm: Là một khái niệm khoa học để nói thực phẩm không chứa vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố Khái niệm vệ sinh thực phẩm còn bao gồm khâu tổ chức vệ sinh trong chế biến bảo quản thực phẩm

- An toàn thực phẩm: Được hiểu là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người Như vậy, có thể nói an toàn thực phẩm là khái niệm có nội dung rộng hơn do nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm không chỉ hạn chế ở vi sinh vật

Theo pháp luật Nhật Bản, ATTP là điều kiện vệ sinh liên quan đến việc tiêu dùng thực phẩm của con người bao gồm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, dụng cụ chế biến, bao bì

Theo tổ chức Nông lương thế giới và tổ chức Y tế Thế giới, ATTP là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng người sử dụng, đảm bảo thực phẩm không hỏng, không phải là sản phẩm từ động thực vật bị bệnh

Theo Pháp lệnh VSATTP của Việt Nam (2001), “vệ sinh ATTP là các điều kiện, biện pháp cần thiết đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe

và tính mạng của con người.”

Trong luận văn, tác giả đề cập đến 2 cụm từ ATTP và VSATTP đều có

ý nghĩa chỉ tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết trong khâu sản xuất, chế biên, bảo quản phân phối, vận chuyển nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn và không gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng Vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y

tế, người tiêu dùng

Trang 38

1.3.2 Những thách thức và thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm tại Việt Nam hiện nay

1.3.2.1 Thách thức

Sự bùng nổ dân số cùng với đô thị hóa nhanh dẫn đến thay đổi thói quen ăn uống của người dân, thúc đẩy phát triển dịch vụ ăn uống trên hè phố tràn lan, khó có thể đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Thực phẩm chế biến ngày càng nhiều, các bếp ăn tập thể gia tăng … là nguy cơ dẩn đến hàng loạt

vụ ngộ độc Bên cạnh đó, sự gia tăng nhanh dân số còn làm khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, trong đó có nước sạch sử dụng cho sinh hoạt và ăn uống cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm

Hơn thế nữa trong bối cảnh các ngành công nghiệp phát triển ồ ạt dẩn đến môi trường ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến vật nuôi và cây trồng Mức độ thực phẩm bị nhiễm độc tăng lên, đặc biệt là các vật nuôi trong ao hồ có chứa nước thải công nghiệp, lượng tồn dư một số kim loại nặng ở các vật nuôi cao

Cuối cùng, việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất, chế biến thực phẩm làm cho nguy cơ thực phẩm bị nhiễm các hóa chất độc hại ngày càng tăng do lượng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản trong rau, quả; tồn dư thuốc thú y trong thịt, thực phẩm sử dụng công nghệ gen, sử dụng nhiều hóa chất độc hại, phụ gia không cho phép, cũng như nhiều quy trình không đảm bảo vệ sinh gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm soát

1.3.2.2 Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm tại Việt Nam hiện nay

Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất lượng và không theo đúng quy định đã đăng ký với cơ quan quản lý cũng ngày càng phổ biến Nhãn hàng và quảng cáo không đúng sự thật vẫn xảy ra

Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không theo đúng quy định gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các hóa chất này trong thực phẩm Việc bảo quản lương thực thực phẩm không đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển đã dẩn đến các vụ ngộ độc thực

Trang 39

phẩm Các bệnh do thực phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn là các bệnh mạn tính do nhiễm và tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá các chương trình hành động đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên toàn cầu đã xác định được nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em là các bệnh đường ruột, phổ biến là tiêu chảy Đồng thời cũng nhận thấy nguyên nhân gây các bệnh trên là do thực phẩm bị nhiễm khuẩn Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế, trong 10 nguyên nhân gây tử vong thì nguyên nhân do vi sinh vật gây bệnh đường ruột đứng thứ 2

1.3.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức đa phương và ký kết nhiều hiệp định kinh tế với các quốc gia trên thế giới, trong đó, đáng chú ý là việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006 Tham gia vào sân chơi quốc tế, Việt Nam bắt buộc phải tuân thủ các quy định, những tiêu chuẩn chung toàn cầu mà các tiêu chuẩn về ATTP được đặc biệt quan tâm vì một phần lớn các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là các sản phẩm nông nghiệp và thủy hải sản Hiệp định

vệ sinh dịch tễ và kiểm định động thực vật (Sanitary and Phytosanitary Agreement – Hiệp định SPS) xây dựng trên nguyên lý cơ bản cho các quốc gia thành viên: “Các nước cần đảm bảo hệ thống vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật dựa trên nguyên tắc đánh giá, trong những trường hợp thích hợp thì cần lưu ý đến các kỹ thuật đánh giá rủi ro đối với sức khỏe con người, động vật, thực vật do các tổ chức quốc tế soạn thảo” Hiệp định SPS là căn cứ quốc tế mà Việt Nam và những nước có quan hệ thương mại với việt Nam phải tuân theo trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa nông sản thực phẩm nhằm đảm bảo, ngăn ngừa phòng chống hiệu quả các nguy cơ không đảm bảo ATTP cho quốc gia

Trang 40

Bên cạnh hiệp định SPS, Việt Nam đã chấp nhận bộ quy chuẩn Codex

Ủy ban an toàn vệ sinh thực phẩm quốc tế( Codex Alimentarius) là cơ quan xây dựng tiêu chuẩn quốc tế về ATTP do hai cơ quan của Liên Hợp Quốc là FAO và WHO cùng điều hành với nhiệm vụ xây dựng các tiêu chuẩn, hướng dẫn và những văn bản có liên quan về thực phẩm như: Bảng chuẩn giới hạn

dư lượng hóa chất BVTV trên thực phẩm Mục đích của chương trình này là bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, đảm bảo các hành vi trung thực trong mua bán thực phẩm và thúc đẩy hợp tác trong xây dựng tiêu chuẩn thực phẩm do các tổ chức Chính phủ ở cấp quốc tế thực hiện Việt Nam đã chấp nhận các tiêu chuẩn, hướng dẫn, văn bản liên quan đến ATTP của Codex làm cơ sở cho việc xây dựng các văn bản liên quan đến ATTP của Việt Nam, đồng thời cũng làm cơ sở cho các giao dịch thương mại quốc tế về thực phẩm

Cho đến nay, đã có rất nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam cũng như của các cơ quan truyền thông về các vấn đề liên quan đến ATTP Trong giai đoạn 5 năm từ 2004 đến 2009, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ATTP theo thẩm quyền đã thực hiện tương đối tốt, với tổng số 134 văn bản Cụ thể là: Luật: 8 văn bản; pháp lệnh: 2; Nghị định của Chính phủ: 35; Quyết định của Chính phủ: 12; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: 7; Thông tư hướng dẫn của các bộ: 28; Thông tư liên tịch: 15; Quyết định của các bộ: 27

Luật an toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 được thông qua ngày 17/6/2010 có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2011 bao gồm 11 chương, 72 điều Luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong đảm bảo ATTP Điều kiện đảm bảo an toàn đối với thực phẩm, điều kiện đảm bảo ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm, nhập khẩu và xuất khẩu thực phẩm, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm, kiểm nghiệm phòng ngừa ngăn chặn

và khắc phục sự cố về ATTP, thông tin giáo dục truyền thông về ATTP, quản

lý nhà nước về ATTP Luật an toàn thực phẩm ra đời là một sự kiện quan trọng trong việc luật hóa vấn đề ATTP trong tình hình mở cửa của đất nước, hội nhập sâu rộng và các tổ chức quốc tế và thị trường toàn cầu, chuyện ăn uống không còn là của riêng cá nhân hay gia đình mà trở thành vấn đề của cả

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w