1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử hiện nay (khảo sát các báo tuoitre vn, thanhnien vn, dantri com vn năm 2018)

137 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRẦN VĂN PHƯƠNG ỨNG DỤNG KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN SAI LỆCH, XUYÊN TẠC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN VĂN PHƯƠNG

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN SAI LỆCH, XUYÊN TẠC

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

(Khảo sát các báo: tuoitre.vn, thanhnien.vn, dantri.com.vn năm 2018)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN VĂN PHƯƠNG

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN SAI LỆCH, XUYÊN TẠC

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

(Khảo sát các báo: tuoitre.vn, thanhnien.vn, dantri.com.vn năm 2018)

Ngành : Báo chí học

Mã ngành : 8 32 01 01 Chuyên ngành : Báo chí

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Quang Diệu

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày……tháng… năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Lương Khắc Hiếu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử

lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử hiện nay (khảo sát các

báo tuoitre.vn, thanhnien.vn, dantri.com.vn) là công trình nghiên cứu của

riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Quang Diệu Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan: các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ

rõ nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình

Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2019

Tác giả

Trần Văn Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN SAI LỆCH, XUYÊN TẠC TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 9

1.1 Kỹ thuật, công nghệ và ứng dụng kỹ thuật công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc 9

1.2 Xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử 15

Chương 2: KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN SAI LỆCH, XUYÊN TẠC TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 30 2.1 Sơ nét về báo điện tử tuoitre.vn , thanhnien.vn, dantri.vn 30

2.2 Thực trạng thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo điện tử 36

2.3 Pháp luật về xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc hiện nay ………… 61

2.4 Khả năng xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo điện tử ở nước ta hiện nay 64

2.5 Nhận định chiều hướng phát triển thông tin sai lệch, xuyên tạc 77

Chương 3: GIẢI PHÁP KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN SAI LỆCH, XUYÊN TẠC TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 82

3.1 Giải pháp về nghiệp vụ báo chí 82

3.2 Giải pháp về quản lý nhà nước 86

3.3 Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ 88

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 99

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 - Mô hình cấu tạo một neural 23

Hình 1.2 - Phân tích cảm xúc từ văn bản 24

Hình 1.3 - Minh hoạ mạng neural CNN cho xử lý ngôn ngữ tự nhiên 25

Hình 1.4 - Minh hoạ ma trận max-pooling trong CNN 26

Hình 1.5 - Mô hình mạng neural RNN 27

Hình 2.1 - Giao diện báo điện tử tuoitre.vn 31

Hình 2.2 - Giao diện báo điện tử thanhnien.vn 33

Hình 2.3 - Giao diện báo điện tử dantri.com.vn 35

Hình 2.4 - Tít của bản tin “Ông Đinh La Thăng khai chỉ định thầu là "do chủ trương của Bộ Chính trị"” được sửa lại là “Ông Đinh La Thăng nhận trách nhiệm” 46

Hình 2.5 - Tin “Bắt nguyên cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm công nghệ cao” trên tuoitre.vn lúc 15 giờ 26 phút ngày 11/3/2018 47

Hình 2.6 - Cải chính của tuoitre.vn về bài viết "Ruồi bu kín nhà dân gần trại gà hiện đại nhất Tiền Giang" 49

Hình 2.7 - Cải chính bài viết “Chủ tịch nước đồng ý cần ban hành Luật Biểu tình” trên tuoitre.vn ngày 16/7/2018 52

Hình 2.8 - Bài viết “Sao trong quy hoạch chưa thấy cao tốc cho miền Tây?” đăng trên tuoitre.vn ngày 26/5/2017 54

Hình 2.9 - Sau đó, báo đã đăng lại bản tin lúc 7 giờ 18 phút ngày 12/3/2018 57 Hình 2.10 - Bản tin “Đắk Lắk: Bắt nghi phạm đâm người phụ nữ 14 nhát rồi rạch bụng trước khi phi tang” đăng trên dantri.com.vn lúc 11 giờ 05 ngày 3/10/2018 60

Hình 2.11 - Sơ đồ tổng quan hệ thống linh kiện 65

Hình 2.12 - Sơ đồ tổng quan module Crawler 66

Hình 2.13 - Sơ đồ chi tiết website crawler 66

Hình 2.14 - Sơ đồ chi tiết Facebook crawler 67

Hình 2.15 - Sơ đồ chi tiết Youtube Crawler 67

Hình 2.16 - Sơ đồ module index 68

Hình 2.17 - Mô hình sử dụng Elastic Search cơ bản 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Toàn cầu đang sống trong thời kỳ kỹ thuật và công nghệ số, hiện nay gọi là công nghệ 4.0 hay cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Sau hàng ngàn năm sống trong thế giới thực, hiện nay loài người đang chung sống trong cả hai thế giới, gồm thế giới thực và thế giới ảo - thế giới trong môi trường số, trong đó việc chung sống với thế giới ảo còn rất mới mẻ

Trước đây báo chí - truyền thông sử dụng thông tin chính thống là chính Thông tin chính thống được xác thực, được thông qua một “bộ lọc” nhất định của cơ quan có trách nhiệm và cá nhân, tổ chức có trách nhiệm Ngày nay, thông tin trên môi trường số, trên mạng điện tử tính xác thực thấp

Kỹ thuật và công nghệ số là yếu tố có vai trò quyết định tính chất môi trường truyền thông số, mạng điện tử với đặc điểm nổi trội là khả năng siêu kết nối Môi trường truyền thông số đã và đang tạo những cơ hội vàng cho báo chí, truyền thông, đặc biệt là với báo mạng điện tử

Môi trường truyền thông số cũng mở ra các kênh chuyển tải thông tin nhanh chóng, cập nhật tin tức, kiến thức cho công chúng, là nguồn tin phong phú, đầu tiên và đa chiều, là nơi chia sẻ thông tin rộng rãi giúp báo chí có nhiều cơ hội để khai thác thông tin thuận lợi Sự ra đời của mạng xã hội cũng tạo nên sự cạnh tranh mạng mẽ với báo chí truyền thống và báo mạng điện tử, khiến báo chí phải cải thiện chất lượng và tốc độ đưa tin

Tất cả những điều đó cho thấy môi trường số, mạng điện tử đang là một trong những nguồn cung cấp năng lượng cho xã hội vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong xã hội ngày nay

Bên cạnh đó, mạng điện tử hiện nay cũng như “con dao hai lưỡi” đối với xã hội và công chúng khi thông tin sai lệch xuất hiện ngày một nhiều, chủ đích ngày càng rõ ràng hơn, được thực hiện một cách chuyên nghiệp hơn

Trang 8

Thời gian qua đã có không ít thông tin sai lệch, xuyên tạc, sai sự thật trên môi trường số, mạng điện tử, báo mạng điện tử, điển hình là trên môi trường mạng

xã hội hay website và nó xuất hiện ngày càng nhiều hơn, tính chất nghiêm trọng hơn, gây ra hậu quả nặng nề hơn Thông tin sai lệch, xuyên tạc, bị lợi dụng, gây hoang mang và bất bình trong dư luận tần suất dày hơn, khó kiểm soát hơn…

Hiện nay, thông tin sai lệch, xuyên tạc trên mạng điện tử ngày một nhiều Đó là những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề,

“đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch Một số thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức; một số thông tin có ngôn từ thô tục, nội dung phản cảm, soi mói đời tư của người khác, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhiều cá nhân, vi phạm chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục; kích động đồi trụy, bạo lực, bôi nhọ đời tư, vu khống…

Mạng điện tử ngày càng phát triển, tác động ngày càng lớn đến xã hội

và đời sống của con người cả hai mặt tích cực và tiêu cực như đã nêu Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ trong nhận diện và xử lý thông tin sai lệch trong môi trường ấy Đó là lý do tôi chọn

đề tài nghiên cứu “Ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Năm 1991, một số nhà khoa học của Đại học Quốc gia Úc và Viện công nghệ thông tin Việt Nam tiến hành thí nghiệm kết nối các máy tính ở Úc

và Việt Nam thông qua đường dây điện thoại Năm 1992, thí nghiệm thành công và Viện công nghệ thông tin Việt Nam có hộp thư điện tử riêng với

“đuôi” ở Úc để trao đổi Email Sau 2 năm thử nghiệm cung cấp dịch vụ điện

Trang 9

thư, năm 1994, Viện công nghệ thông tin Việt Nam trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên ở nước ta, với dịch vụ thư điện tử dưới tên miền quốc gia vn Lịch sử Internet ghi nhận ngày 19/11/1997 Việt Nam chính thức hòa vào mạng Internet toàn cầu Từ đó Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có Internet phát triển với tốc độ nhanh nhất thế giới Năm 2018, trong số 96,02 triệu dân số Việt Nam, có 64 triệu người sử dụng Internet, chiếm 67%, trong số đó có 55 triệu người sử dụng mạng xã hội

Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ 4.0 hiện nay, môi trường truyền thông số, mạng điện tử, báo mạng điện tử đã trở nên quen thuộc với mọi tầng lớp, đối tượng trong xã hội Mạng điện tử cũng ngày càng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, không chỉ trong lĩnh vực truyền thông mà còn vào mọi lĩnh vực khác của đời sống Thông tin sai lệch cũng xuất hiện ngày một nhiều hơn Và đây cũng là một đối tượng nghiên cứu của khoa học, đặc biệt là khoa học báo chí - một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ của truyền thông số, mạng điện tử

Trong quá trình xây dựng đề cương luận văn, chúng tôi đã tiếp cận một số tài liệu nghiên cứu như dưới đây:

Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên, 2017), "Báo chí và truyền thông

đa phương tiện" [14] Đây là cuốn sách rất hữu ích cho nghiên cứu trong lĩnh

vực báo chí và truyền thông, trong đó có các vấn đề cần quan tâm về tin giả

và xử lý tin giả trong môi trường số hiện nay

Nguyễn Văn Ngọc (2000), “Hoạt động phá hoại tư tưởng chống Việt Nam của báo chí và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh của cơ quan an ninh” Tác giả nghiên cứu sâu về các hoạt động chống phá Việt Nam

thông qua báo chí; đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh của các cơ quan an ninh về vấn đề này [25]

Trang 10

Hồ Thị Hồng Anh (2005), “Báo chí Việt Nam đấu tranh chống những quan điểm sai trái trong tình hình hiện nay” Tác giả nghiên cứu về các quan

điểm sai trái và vai trò của báo chí Việt Nam trong việc đấu tranh chống quan điểm sai trái Tác giả nêu lên các mặt tích cực, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống quan điểm sai trái tương đối sát với thực tế [1]

Nguyễn Thanh Phong (2014), "Xây dựng bộ lọc phát hiện các website

có nội dung khiêu dâm dựa trên url và text content" [31] Tác giả nghiên cứu

về việc xây bộ lọc web có thể tự động phát hiện các website cần truy có nội dung khiêu dâm dựa trên url và text content của website; nghiên cứu cách khai phá url và text content của website để từ đó đề xuất mô hình lọc các website có nội dung khiêu dâm dựa trên url và text content

Nguyễn Trung Thành (2015), "Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam" [38] Tác giả nghiên cứu

về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2011-2014

Bùi Thị Vân Anh (2016), "Vấn đề ứng dụng công nghệ thực tại ảo trong tác phẩm báo chí đa phương tiện (khảo sát dữ liệu trên CNN, BBC, Ryot, Thairah) [2] Trên cơ sở đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thực

tại ảo của một số hãng thông tấn trên thế giới, tác giả nghiên cứu, đưa ra đề xuất ứng dụng công nghệ thực tại ảo trong tác phẩm báo chí đa phương tiện phù hợp với hiện trạng và xu hướng công nghệ tại Việt Nam

Đỗ Quốc Bảo (2013) "Giải pháp biểu diễn và so sánh mức độ tương đồng giữa các hồ sơ trên mạng xã hội" [3] Tác giả nghiên cứu về một số kỹ thuật

liên quan trong xử lý so sánh mức độ tương đồng giữa các hồ sơ trên mạng xã hội Trong đó một trong những vấn đề được tác giả nghiên cứu sâu là phương pháp tách từ tiếng Việt dựa trên thống kê từ internet và thuật giải di truyền

Trang 11

Ngoài ra, một số nghiên cứu của các học giả nước ngoài cũng đề xuất các vấn đề liên quan đến tin giả và các nguồn tin giả như các cuốn sách của Mark Dice về tin giả [48], truyền thông xã hội và tin giả trong bầu cử năm

2016 [37] hay khoa học của tin giả [38]…

Các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều nhà nghiên cứu liên quan đến luận văn đã phản ánh nhiều khía cạnh xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo điện tử hiện nay đã giúp cho tác giả hiểu rõ hơn vấn đề liên quan

Đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu như đã nêu, đồng thời xác định đây là công trình nghiên cứu

có mục đích, yêu cầu và nội dung tương đối độc lập so với các công trình đã

có để đưa ra góc nhìn tổng quát về xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử hiện nay ở góc độ kỹ thuật, công nghệ và ở góc độ báo chí

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thông tin sai lệch, xuyên tạc và các kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử hiện nay, khảo sát các báo tuoitre.vn, thanhnien.vn, dantri.com.vn năm 2018

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nhận diện, phân tích, đánh giá thực trạng thông tin sai lệch trên báo mạng điện tử, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông tin trên báo mạng điện tử hiện nay

Để đạt được mục đích này, người nghiên cứu tổng hợp thông tin sai lệch trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay trong một biên độ nhất định, bao gồm tổng hợp về số lượng sai lệch, nội dung sai lệch và tính chất sai lệch

Trang 12

Luận văn phân tích và làm rõ vai trò, trách nhiệm của các đối tượng liên quan, như cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống quy định pháp luật, tổ chức và cá nhân liên quan đến thông tin sai lệch trên báo mạng điện tử… Qua đó phân tích, đánh giá, đưa ra kết luận và kiến nghị

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

+ Hệ thống hóa một số vấn đề về kỹ thuật xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

+ Đề xuất giải pháp xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm Mác - Lê nin về báo chí - truyền thông và quản lý thông tin truyền thông trên báo mạng điện tử; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển truyền thông

số, báo mạng điện tử ở nước ta hiện nay

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về báo chí truyền thông

- Kết hợp vận dụng các lý thuyết về khoa học liên ngành như báo chí học, công nghệ thông tin…

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu chung

Dựa trên cơ sở phương pháp tư duy logic, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung như: sưu tầm, thống kê, phân tích nội dung, chứng minh, so sánh - đối chiếu, tổng hợp, trong đó phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng chính

Trang 13

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn vận dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

+ Phương pháp sưu tầm, thống kê tư liệu và phân tích nội dung: Các phương pháp này dùng để tổng hợp và phân tích các thông tin sai lệch, xuyên tạc và một số ứng dụng trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên mạng điện tử hiện nay

+ Các phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh - đối chiếu: Những phương pháp này sử dụng để nghiên cứu thực trạng thông tin sai lệch, xuyên tạc trong môi trường truyền thông số, trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay

+ Các phương pháp tổng hợp: Nhằm đánh giá, rút ra những kết luận khoa học cần thiết cho luận văn

+ Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả luận văn thực hiện phỏng vấn sâu lãnh đạo cơ quan báo chí, người làm nhiệm vụ quản lý chuyên môn

kỹ thuật về báo mạng điện tử và xử lý thông tin sai lệch trong môi trường mạng điện tử

6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài

Luận văn cố gắng không chỉ phân tích, đánh giá thực trạng thông tin sai lệch, xuyên tạc trên môi trường mạng điện tử, báo mạng điện tử, mà còn góp phần làm rõ những vấn đề mới phát sinh, đề xuất giải pháp, những vấn đề cần giải quyết nhằm giúp các nhà quản lý có thêm dữ liệu, cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường trách nhiệm quản lý thông tin trên môi trường báo mạng điện tử, quy định chặt chẽ quyền

và trách nhiệm của công dân, nhà báo, người làm truyền thông khi đưa thông tin trên báo mạng điện tử

Đề tài có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động quản lý, quản trị thông tin trên môi trường mạng điện tử hiện nay, đề xuất biện pháp kịp thời nhận diện,

Trang 14

phát hiện, ngăn chặn, tham mưu cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với các hành vi vi phạm…

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, nội dung chính của luận văn sẽ bao gồm 3 chương:; 13 tiết

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

Chương 2: Kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử hiện nay

Chương 3: Đề xuất giải pháp trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử hiện nay

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN SAI LỆCH, XUYÊN TẠC TRÊN

BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

1.1 Kỹ thuật, công nghệ và ứng dụng kỹ thuật công nghệ trong xử

lý thông tin sai lệch, xuyên tạc

1.1.1 Kỹ thuật, công nghệ

Kỹ thuật trong phạm vi nghiên cứu của đề tài được hiểu là là việc ứng dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn để thiết kế, xây dựng và duy trì các cấu trúc, máy móc, thiết bị, hệ thống vận hành Kỹ thuật có thể bao gồm việc sử dụng sự hiểu biết sâu sắc để tìm ra, tạo mô hình, và thay đổi quy mô một giải pháp hợp lý cho một vấn đề hay một mục tiêu Khái niệm kỹ thuật vô cùng rộng, nó được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau Mỗi phân vùng nhấn mạnh đến những lĩnh vực công nghệ và những kiểu ứng dụng riêng

Tổ chức ECPD của các kỹ sư Hoa Kỳ định nghĩa: Kỹ thuật là việc ứng dụng một cách sáng tạo những nguyên lý khoa học vào việc thiết kế hay phát triển các cấu trúc, máy móc, công cụ, hay quy trình chế tạo hoặc những công trình sử dụng chúng một cách riêng lẻ hay kết hợp với nhau, có thể là việc xây dựng hay vận hành những đối tượng đó dưới những điều kiện nhất định

Trong các từ điển tiếng Việt, các từ, "kỹ thuật", "công nghệ" đôi khi được dùng với nghĩa tương tự nhau hay được ghép lại với nhau, như "kỹ thuật công nghệ" hay “công nghệ kỹ thuật” hoặc ghép với các từ khác, như “khoa học kỹ thuật” hay “khoa học công nghệ” Tuy nhiên, xét một cách toàn diện,

kỹ thuật có những điểm khác nhất định với công nghệ

Công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, sử dụng kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức,

Trang 16

nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt được một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể

Còn kỹ thuật là việc ứng dụng các kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội

và thực tiễn để thiết kế, xây dựng và duy trì các cấu trúc, máy móc, thiết bị,

hệ thống, vật liệu hay một quá trình nào đó

K.Marx đã dự đoán: Đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh ra sự giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động, mà lại phần lớn phụ thuộc vào tình trạng chung của khoa học và sự tiến bộ kỹ thuật hay sự vận dụng khoa học vào sản xuất

Ngày nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang phát triển mạnh

mẽ Kỹ thuật, công nghệ ngày càng chiếm vai trò quan trọng hơn trong sự phát triển của loài người nói chung và mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực, mỗi ngành hoạt động nói riêng Ở khía cạnh kinh tế, dưới tác động của kỹ thuật, công nghệ, các nguồn lực sản xuất được mở rộng Đó là sự mở rộng khả năng phát hiện, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên; làm biến đổi chất lượng nguồn lao động Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, nâng cao năng suất lao động Mở rộng khả năng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn vốn đầu tư hiệu quả…

Các công nghệ mới đã làm cho kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, tức là tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất Kỹ thuật, công nghệ

là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật

Đối với phát triển con người, kỹ thuật, công nghệ là một công cụ hữu hiệu Kỹ thuật, công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ gen… ngày càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe Đã

có những bước nhảy vọt trong lĩnh vực y tế, nhất là trong việc phát minh ra

Trang 17

những loại thuốc, vắc xin, thiết bị y tế… Đồng thời, việc phát triển những công nghệ sạch đã cải thiện môi trường sống của con người, giảm ô nhiễm môi trường…

Kỹ thuật và công nghệ đến với con người thông qua quá trình giáo dục, đào tạo Mặt khác, do sự thường xuyên đổi mới theo hướng hiện đại dần của các tranh thiết bị sản xuất và đời sống, buộc con người phải thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức, chuyên môn để không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất xã hội thích ứng với cuộc sống hiện đại Chính nhờ vậy trình độ và chất lượng của đội ngũ người lao động trong lực lượng sản xuất không ngừng được nâng cao và hiện đại hóa

1.1.2 Thông tin sai lệch, xuyên tạc

Hiểu một cách súc tích nhất, thông tin là truyền báo rộng rãi đến cộng đồng Thông tin là những gì đem lại sự hiểu biết cho con người về thế giới xung quanh và về chính con người Sai lệch là chệch đi so với cái được coi là chuẩn Xuyên tạc là cố tình làm sai sự thật Thông tin sai lệch là thông tin chệch chuẩn Thông tin xuyên tạc là cố tình đưa thông tin sai sự thật Thông tin sai lệch, xuyên tạc là thông tin chệch chuần, cố tình làm sai sự thật

Hiện nay, mạng xã hội cùng với một số mặt trái của kinh tế thị trường đang là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến hoạt động của báo chí Áp lực cạnh tranh thông tin gay gắt trong một thế giới mà mọi thứ đều diễn biến với tốc độ chóng mặt chỉ qua những cú nhấp chuột, báo chí đang đứng trước những lằn ranh chênh vênh đầy thách thức Không ít tờ báo đã coi nhẹ sự thật

và đạo đức nghề nghiệp, chạy theo cách làm báo câu view, câu like Tình trạng nhà báo câu kết thành nhóm “đánh hội đồng” một tổ chức, cá nhân nào

nó nhằm trục lợi qua thông tin bóp méo sự thật không còn là chuyện hiếm Những vụ việc như vậy đã ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh của người làm báo, gây tổn hại tới niềm tin bạn đọc

Trang 18

Con số cơ quan báo chí, nhà báo vi phạm trong việc đưa sai thông tin

bị phạt hay xử lý kỷ luật trong thời gian qua thật sự gióng lên hồi chuông báo động về vấn đề đạo đức, năng lực, trách nhiệm, bản lĩnh của người làm báo Các thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo sự thật, đi ngược lại đường hướng phát triển của đất nước, không phù hợp với văn hóa, thuần phong mỹ tục của Việt Nam cần được phát hiện kịp thời và xử lý kiên quyết, buộc tháo

gỡ, đính chính

Giống như mọi lĩnh vực hoạt động khác của xã hội, hoạt động báo chí luôn phải đáp ứng yêu cầu tôn trọng sự thật, tôn trọng cộng đồng, phân biệt được giới hạn giữa quyền được khai thác thông tin và nghĩa vụ tôn trọng, bảo mật đời tư của cá nhân, cũng như nghĩa vụ chấp hành pháp luật Đưa thông tin trung thực, có trách nhiệm đến với bạn đọc, tôn trọng pháp luật là điều xã hội

và người đọc luôn yêu cầu ở mỗi người làm báo, mỗi cơ quan báo chí

1.1.3 Kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc

Các ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch hướng tới hai mục tiêu Thứ nhất là nhận lọc bỏ thông tin sai lệch, xuyên tạc Thứ hai

là tạo lập thông tin chính thức và điều hướng Kỹ thuật để thực hiện để các mục tiêu này có một số thành phần cơ bản sau:

Search - tìm kiếm

Công cụ tìm kiếm (search) là một phần mềm nhằm cho phép người dùng tìm kiếm và đọc các thông tin có trong phần mềm đó, trên một trang web, một tên miền, nhiều tên miền khác nhau, hay trên toàn bộ internet Elastic search là công cụ tìm kiếm, phân tích và lưu trữ văn bản, có khả năng

mở rộng cao Nó cho phép lưu trữ, tìm kiếm và phân tích với dữ liệu rất lớn, cho kết quả gần với thời gian thực Elastic Search thường được sử dụng như một công cụ hỗ trợ cho những ứng dụng, hệ thống có chức năng search hoặc yêu cầu phức tạp

Trang 19

Search engines là các chương trình tìm kiếm dữ liệu, thông tin cho một

từ khóa nào đó và trả về danh sách các văn bản có liên quan đến từ khóa được tìm kiếm Một bộ máy tìm kiếm về cơ bản là một lớp các phần mềm, chương trình, tuy nhiên ngày nay mọi người thường mô tả search engines là các website như Google, Bing, Yahoo

Các bộ máy tìm kiếm web gửi những spider - “con nhện” để thu thập càng nhiều dữ liệu càng tốt Trong khi đó một chương trình khác - gọi là anindexer, sau đó sẽ đọc các tài liệu đó và tạo ra các chỉ mục dựa vào các từ

có trong văn bản Mỗi một bộ máy tìm kiếm sẽ sử dụng các thuật toán phân tích khác nhau để cho ra các kết quả có liên quan đến câu truy vấn

Việc sử dụng công cụ hay ứng dụng search được dùng cho rất nhiều trường hợp Ví dụ như chạy một web bán hàng online, công cụ search cho phép người truy cập có thể tìm kiếm tìm kiếm sản phẩm cần tìm… Việc ứng dụng công nghệ hay viết các chương trình search - tìm kiếm của các trang báo điện tử phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

Các thành phần cơ bản của search, gồm có:

Near realtime - có nghĩa là thời gian thực hiện của thuật toán có độ trễ rất nhỏ, rất gần với thời gian thực Độ trễ của bài toán thường chỉ 1 giây từ việc lập chỉ mục đến thời gian đưa ra kết quả search

Node - nút, kết nối, là một server đơn lẻ, là một phần của cluster, lưu trữ data - dữ liệu, tham gia vào chức năng lập chỉ mục và tìm kiếm Cũng như cluster, node cũng được định danh, mỗi node được biết đến với một tên thường được đặt mặc định ngẫu nhiên bởi Universally Unique IDentifier (UUID) Việc đặt tên được tiến hành khi thiết lập, cũng có thể tự định danh cho node Tên của node rất quan trọng trong việc xác định node này thuộc cụm nào trong elasticsearch

Cluster là một tập hợp một hay nhiều node hay server - máy chủ cùng nắm giữ toàn bộ data - dữ liệu, cung cấp khả năng lập chỉ mục và tìm kiếm

Trang 20

liên kết giữa các node với nhau Mỗi cluster được định danh bằng một tên duy nhất, ví dụ tên của cụm là "elasticsearch", mỗi node là một phần của Cluster khi được thiết lập được nối với Cluster bằng tên "elasticsearch"

Index - chỉ mục, mục lục, là một tập hợp của tài liệu chứa những đặc điểm tương tự Ví dụ, có chỉ mục về dữ liệu khách hàng, một chỉ mục khác về danh mục sản phẩm, và những chỉ mục khác cho những data khác Chỉ mục cũng được định danh bằng tên, tên này được sử dụng khi thực hiện các hoạt động như lập chỉ mục, tìm kiếm, cập nhật hoặc xóa các tài liệu trong đó

Type - loại, được sử dụng làm danh mục của chỉ mục cho phép lưu trữ các loại dữ liệu khác nhau trong cùng một chỉ mục

Document - tài liệu là đơn vị cơ bản của thông tin, được đánh chỉ mục Với một chỉ mục hoặc một loại, có thể lưu bao nhiêu tài liệu tùy thích Tuy nhiên tài liệu cần phải đánh chỉ mục

Shard - phân mảnh: Chỉ mục có thể lưu trữ một lượng lớn dữ liệu, có thể vượt qua giới hạn phần cứng của nút Ví dụ, một chỉ mục chứa 1 tỷ tài liệu chiếm 1TB dung lượng, có thể dung lượng của ổ đĩa không đủ chứa có thể làm chậm quá trình trả lời các request từ những nút đơn lẻ Để giải quyết vấn

đề này, Elasticsearch cung cấp khả năng chia nhỏ chỉ mục thành nhiều phần nhỏ hơn gọi là shard - phân mảnh Khi tạo chỉ mục, có thể chỉ cần xác định số lượng phân đoạn theo nhu cầu Shard rất quan trọng vì hai lý do: Cho phép phân mảnh theo chiều ngang mở rộng khối lượng bản ghi Thứ hai là cho phép phân phối và hoạt động song song trên các phân đoạn, nhờ đó tăng hiệu suất làm việc

Replica - bản sao: Trong môi trường mạng hay đám mây, có thể xảy ra lỗi bất cứ lúc nào như một nút bị ẩn hoặc biến mất, sử dụng bản sao được khuyến khích để có cơ chế dự phòng trong những trường hợp đó Để làm được điều đó, elasticsearch hỗ trợ, cho phép tạo nhiều bản sao của một phân đoạn chỉ mục các bản sao đó được gọi là replica shards hay replicas for short

Trang 21

Replica quan trọng vì hai lý do: Cung cấp khả năng sẵn sàng cao trong trường hợp một nút biến mất hoặc ẩn đi (một nút hay nhiều nút không thành công) Cũng vì lý do này, bản sao không bao giờ được phân bố trên cũng một nút với phân đoạn gốc mà nó chỉ được sao chép từ đó Thứ hai là cho phép mở rộng khối lượng tìm kiếm vì có thể thực hiện trên tất cả các bản sao song song

1.2 Xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

1.2.1 Thu thập và xử lí thông tin

Theo nghĩa từ vựng, thu thập là tìm kiếm, góp nhặt và tập hợp lại Vậy thu thập thông tin là quá trình tập hợp thông tin theo những tiêu chí cụ thể nhằm làm rõ những vấn đề, nội dung liên quan đến lĩnh vực nhất định Quá trình này đòi hỏi phải xác định được nhu cầu thông tin, tìm nguồn thông tin, thực hiện tập hợp thông tin theo yêu cầu nhằm đáp ứng mục tiêu đã được định trước

Hoạt động thu thập thông tin phải đảm bảo tính mục đích Khi thu thập thông tin cần giải đáp 3 câu hỏi: Thông tin này thu thập để làm gì? Phục vụ cho công việc gì? Liên quan đến những khía cạnh nào của vấn đề?

Thực tế cho thấy, phương pháp, cách thức thu thập thông tin rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu về thông tin, nguồn lực, việc áp dụng các phương pháp, cách thức thu thập thông tin sao cho phù hợp Việc lựa chọn nguồn thông tin thích hợp bảo đảm hiệu quả cho quá trình thu thập thông tin và chất lượng của thông tin Do đó, thu thập thông tin có thể tìm kiếm từ các nguồn và các kênh thông tin khác nhau bởi mỗi kênh thông tin có những ưu điểm và nhược điểm riêng

Có thể nói, thu thập thông tin là một quá trình liên tục, nhằm bổ sung, hoàn chỉnh thông tin cần thiết Đây là một khâu trong quá trình thông tin của một tổ chức, gắn với yếu tố đầu vào của tổ chức Thu thập thông tin chịu tác động của nhiều nhân tố về kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng sử dụng các phương pháp, cách thức thu thập thông tin

Trang 22

Thu thập thông tin luôn gắn liền với quá trình xử lý thông tin, nhằm đảm bảo thông tin cho hoạt động của tổ chức Xử lý thông tin là hoạt động phân tích, phân loại, sắp xếp các dữ liệu thông tin theo một số nguyên tắc và phương pháp nhất định, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp giải quyết công việc Đó là quá trình đối chiếu, chọn lọc, chỉnh lý, biên tập thông tin theo mục đích, yêu cầu Công việc này đóng vai trò quan trọng, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng thông tin, tránh sự quá tải, nhiễu thông tin Thông qua việc kiểm tra tính chính xác, tính hợp lý của các tài liệu, số liệu để đưa ra các giải pháp, phương án cho các quyết định quản lý dưới các hình thức khác nhau như: kiến nghị, đề xuất sáng kiến, ban hành các văn bản…

Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão hiện nay, việc

xử lý thông tin không chỉ được thực hiện bằng trí tuệ con người mà còn được

hỗ trợ bởi nhiều thiết bị kỹ thuật ngày càng hiện đại và “thông minh ” Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu đặt ra, người xử lý thông tin phải không ngừng tự hoàn thiện bản thân, chủ động nâng cao tri thức chuyên môn

Thu thập và xử lý thông tin phục vụ trực tiếp cho quá trình lập kế hoạch và ra quyết định Đây là công việc phức tạp và khó khăn nhưng có ý nghĩa tiên quyết đối với các nhà quản lý Để có được những kế hoạch và những quyết định đúng đắn, các nhà quản lý cần rất nhiều thông tin Nếu không có thông tin, các nhà quản lý khó có thể giải quyết đúng đắn và hiệu quả các vấn đề đặt ra

Trong các hoạt động của nhà truyền thông, quá trình thu thập và xử

lý thông tin có liên hệ chặt chẽ với nhau Nếu thu thập thông tin không đầy đủ

sẽ khó nhận diện được bản chất, quy luật của vấn đề Thông tin thu thập đầy

đủ nhưng thiếu kỹ năng xử lý cũng sẽ làm giảm ý nghĩa của thông tin, không đem lại cơ sở khoa học vững chắc cho quá trình xử lý thông tin

Trong hoạt động báo chí, cụ thể với báo điện tử, việc thu thập thông tin sai lệch, xuyên tạc có vai trò đặc biệt quan trọng Nó quyết định sự sống

Trang 23

còn của website Bởi nếu để thông tin sai lệch, xuyên tạc xuất hiện trên website, đồng nghĩa với uy tín của tờ báo bị ảnh hưởng, có thể bị xử phạt, bị đình bản, thậm chí có thể phải đóng cửa Vì thế, việc thu thập thông tin nhằm ngăn chặn sai lệch, xuyên tạc xảy ra luôn là bài toán của các cơ quan báo chí

Và để ngăn chặn nó, phải được thực hiện ở tất cả các bước, đầu tiên từ chính nhà báo, đến bộ phận biên tập tác phẩm, duyệt tác phẩm và đăng thông tin phản hồi, trong đó các ứng dựng kỹ thuật, công nghệ giữ một vai trò quan trọng nhất định

1.2.2 Báo mạng điện tử

PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang đưa ra khái niệm “Báo mạng điện

tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang

website, phát hành trên mạng internet” [10, tr.28]

Điều 3, Luật báo chí 2016 đưa ra khái niệm “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử” [34]

Có nhiều tên gọi khác nhau, như báo điện tử, báo mạng, báo mạng điện tử… Tuy nhiên, “báo mạng điện tử” là khái niệm chính thức được Học viện Báo chí và Tuyên truyền sử dụng sau khi học viện tuyển sinh một chuyên ngành đào tạo mới là chuyên ngành báo mạng điện tử và thành lập tổ bộ môn báo mạng điện tử

Báo chí được chia thành 4 loại hình khác nhau, bao gồm: báo in, báo phát thanh, báo truyền hình và báo mạng điện tử Xuất hiện muộn nhất trong tất cả các loại hình khác là báo mạng điện tử

Năm 1962, ý tưởng đầu tiên về mạng kết nối các máy tính với nhau của J.C.R Licklider ra đời Năm 1969, mạng này được đưa vào hoạt động và là tiền thân của Internet Sau những năm nghiên cứu đề ra những giải pháp giải quyết những vấn đề đang còn vướng mắc, năm 1984, giao thức chuyển tin giao thức chuyển gởi tin TCP/IP (Transmision Control Pro- tocol và Internet

Trang 24

Protocol) trở thành giao thức chuẩn của Internet, hệ thống các tên miền DNS (Domain Name System) ra đời để phân biệt các máy chủ

Năm 1991, ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML (Hyper Text

Mark-up Language) ra đời cùng với giao thức truyền siêu văn bản HTTP (Hyper Text Transfer Protocol), Internet từ đó thực sự trở thành công cụ đắc lực với hàng loạt các dịch vụ mới WWW ra đời, đem lại cho người dùng khả năng tham chiếu từ một văn bản đến nhiều văn bản khác, chuyển từ cơ sở dữ liệu này sang cơ sở dữ liệu khác với hình thức hấp dẫn và nội dung phong phú Nhờ áp dụng khoa học công nghệ, dần dần các cơ quan báo chí đi vào khai thác thông tin trên mảnh đất màu mỡ này và hàng loạt tờ báo điện tử của các nước trên thế giới ra đời vào các năm 1992, 1993, 1994

Trong cuốn sách “Báo mạng điện tử - những vấn đề cơ bản”, tác giả Nguyễn Thị Trường Giang khẳng định báo mạng điện tử trên thế giới xuất hiện khá sớm Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 đã xuất hiện tờ báo mạng điện tử đầu tiên “Tờ báo mạng điện tử đầu tiên được biết đến trên thế giới là

tờ Chicago Tribune ra đời vào tháng 5/1992 có máy chủ đặt tại nhà cung cấp dịch vụ American online (cũng có tài liệu cho rằng tờ báo mạng điện tử đầu tiên ra đời tháng 10/1993 tại Khoa báo chí thuộc Đại học Floria).” [11, tr.11]

Năm 1997, Việt Nam chính thức kết nối Internet với tên miền vn Năm

1997 cũng là thời điểm tờ báo trực tuyến đầu tiên của Việt Nam ra đời, là tạp chí Quê hương điện tử Năm 1998: Báo điện tử Vietnamnet ra đời Năm 1999: Báo Nhân dân điện tử ra đời

Báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay được chia thành hai dạng phổ biến Thứ nhất là các tờ báo mạng điện tử hình thành và phát triển độc lập, không xuất phát từ báo in như: vnexpress.net, vietnamnet.vn, dantri.com, vietnamplus… Loại thứ hai được phát triển từ những tờ báo in như: tuoitre.vn, thanhnien.vn, laodong.vn, tienphong.vn…

Trang 25

Tính đến tháng 11/2018, theo “Báo cáo đánh giá công tác báo chí năm

2018 và một số nhiệm vụ trọng tâm năm 2019”, có 24 cơ quan báo chí điện tử độc lập và 189 giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp được cấp cho các cơ quan báo chí in, phát thanh, truyền hình Số lượng báo mạng điện

tử và các trang thông tin điện tử tổng hợp nói trên cho thấy sự phát triển của nền báo chí điện tử Việt Nam đang ngày càng đi lên

Các giai đoạn phát triển của báo mạng điện tử Việt Nam có thể chia theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (1997-2001): giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của báo mạng điện tử ở Việt Nam Các tờ báo còn đơn giản cả về nội dung và hình thức, thậm chí là những bản sao của các phiên bản báo in Giai đoạn 2 (2001-2005): xuất hiện hàng loạt các trang báo điện tử, tiêu biểu như Thanhnien online, Tuoitre Online, Vietnamnet, Vnexpress, Dân trí Giai đoạn 3 (từ 2005 đến nay): xuất hiện thêm dạng blog, địa chỉ web của các cá nhân, cơ quan, các diễn đàn

Về công nghệ, báo điện tử có thể đồng thời tích hợp nhiều hình thức đa phương tiện, từ chữ viết, âm thanh, biểu đồ, đến hình ảnh tĩnh, động Về nội dung truyền tải, báo điện tử có những lợi thế mà báo in, phát thanh, truyền hình không thể sánh bằng bởi không gian không giới hạn của báo điện tử

Cùng với sự phát triển của Internet, máy tính và các thiết bị thông minh, báo điện tử đã và đang là loại hình báo chí có nhiều độc giả nhất trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế vượt trội, báo mạng điện tử vẫn tồn tại những hạn chế đặc thù: độ tin cậy của thông tin còn thấp so với các loại hình báo chí truyền thống; khi muốn đọc, xem, nghe báo mạng thì độc giả

ít nhất cũng phải có các thiết bị thông minh, có kết nối Internet và biết những thao tác sử dụng đơn giản nhất

Trang 26

1.2.3 Nhận diện thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

Trong hoạt động báo chí truyền thông, vì nhiều mục đích khác nhau, có cá nhân, có cơ quan truyền thông, cơ quan báo chí vô tình hoặc cố ý thông tin sai lệch, xuyên tạc Đây là một trong những đặc tính của truyền thông, báo chí

Báo điện tử có tính chất phi định kì, cho phép cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên và liên tục Không chỉ tức thời, báo mạng điện tử còn cho phép thường xuyên cập nhật thông tin Điều này khác với báo giấy hoặc các loại hình báo chí khác ở chỗ nhà báo có thể đăng tải thêm tin tức bất cứ lúc nào mà không phải chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như ở các loại hình báo chí khác Đặc trưng này cũng khiến cho báo mạng điện tử cạnh tranh thông tin gay gắt hơn về tốc độ thông tin giữa các cơ quan báo chí, giữa các báo điện tử với nhau Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới thông tin sai lệch, xuyên tạc ngày càng nhiều trên báo điện tử

Báo mạng điện tử có tính tương tác cao Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với tòa soạn, nhà đài, trên báo mạng điện tử còn có sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí Dưới mỗi tác phẩm báo chí đăng trên trang báo mạng điện tử đều có tiện ích phản hồi để độc giả dễ dàng đóng góp ý kiến, đưa ra quan điểm của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy và nếu không kiểm soát được sẽ là nơi phát sinh vô số thông tin sai lệch, xuyên tạc

Báo mạng điện tử có khả năng lưu trữ và giúp độc giả tìm kiếm thông tin dễ dàng Báo mạng điện tử cũng cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng khổng lồ thông tin lưu trữ, đồng thời tìm kiếm dễ dàng nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khóa được đính kèm trên mỗi trang báo mạng điện tử Vì thế, cho dù một tác phẩm đã được xuất bản, nhưng sau

đó thông tin sai lệch, xuyên tạc vẫn có thể tiếp tục xuất hiện sau đó một thời gian dài, có thể tính bằng tháng, bằng năm…

Trang 27

Báo mạng điện tử là sự kết hợp của các loại hình báo in, báo nói, báo hình trong một thể thống nhất, vì thế nó mang rất nhiều ưu thế Khác với các loại hình báo chí khác, báo mạng điện tử tin tức được cập nhật thường xuyên, liên tục Có thể đọc, xem, nghe báo mạng điện tử trên các thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại di động và các thiết bị có kết nối Internet Đặc biệt, báo điện tử còn cho phép độc giả trên thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng, không phụ thuộc vào không gian và thời gian Sự phát triển của báo mạng điện tử đã làm thay đổi thói quen đọc tin của độc giả và ảnh hưởng lớn đến các loại hình báo chí truyền thống như báo in, phát thanh, truyền hình

Sự phát triển của báo mạng điện tử cũng tạo nên sự cạnh tranh thông tin gay gắt giữa các cơ quan báo chí, giữa các báo điện tử với nhau Điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới thông tin sai lệch, xuyên tạc ngày càng nhiều trên báo điện tử Bên cạnh nhiều trường hợp vô tình hoặc do trình độ hạn chế dẫn tới sai phạm, có một nhóm người thường xuyên đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc nhằm làm sai lệch bản chất của sự việc, hiện tượng Họ thường dựa vào một số sự việc xảy ra trong đời sống xã hội để tìm cách thêm thắt, dắt dây, thổi phồng sự việc, làm sai lạc hoàn toàn bản chất của

sự việc Thủ đoạn này vốn không mới nhưng thực sự nguy hại, bởi nó làm cho môi trường thông tin trở nên lẫn lộn trắng - đen, thật - giả khó phân biệt

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, truyền thông kéo theo sự phát triển quá nhanh chóng của thông tin điện tử, mạng xã hội khiến thông tin báo chí bị cạnh tranh gay gắt Thông tin sai lệch, xuyên tạc trên mạng ngày càng gia tăng, có lúc, có nơi lấn át thông tin báo chí Thời gian qua, việc một

số nhà báo hoặc cơ quan báo chí bị xử phạt vì có sai phạm liên quan đến việc đưa thông tin sai sự thật, đưa tin giật gân, câu khách, chạy theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận độc giả… đã khiến dư luận hết sức đồng tình, ủng

hộ

Trang 28

Trên thực tế, báo chí là công việc đặc thù, có tính chuyên biệt, đặc biệt trong đó nổi lên một vấn đề quan trọng là người làm báo tiếp nhận sự thật như thế nào, phản ánh sự thật ra sao Đây là điều không dễ giải quyết nếu người làm báo nghiệp vụ và bản lĩnh không vững vàng Phần lớn các sai phạm dẫn đến phải xử phạt trong thời gian qua đều có nguyên nhân từ việc chủ quan, thiếu trách nhiệm hoặc không hội tụ đủ những yếu tố thuộc về phẩm chất nghề nghiệp làm báo Thậm chí, vì năng lực nghiệp vụ yếu, vì suy thoái đạo đức nghề nghiệp, vì động cơ vụ lợi… đã có một số người làm báo tự hạ thấp nhân phẩm của mình bằng cách chạy theo thông tin giật gân, câu khách, bóp méo thông tin, đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc

1.2.4 Ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

1.2.4.1 Một số lý thuyết về phân tích nội dung sử dụng công nghệ

Xử lý ngôn ngữ tự nhiên (Natural Language Processing - NLP) là một nhánh của trí tuệ nhân tạo tập trung vào các ứng dụng trên ngôn ngữ của con người Trong trí tuệ nhân tạo thì việc xử lý ngôn ngữ tự nhiên là một trong những phần khó nhất vì nó liên quan đến việc phải hiểu ý nghĩa ngôn ngữ (công cụ hoàn hảo nhất của tư duy và giao tiếp)

Deep Learning là một kỹ thuật máy học (Machine Learning) mạnh mẽ đang được nhiều người trong ngành biết đến Với khả năng biểu diễn thông tin (represent problem/feature engineering) và học (learning) Bên cạnh các lĩnh vực đã gặt hái được nhiều thành công như xử lý ảnh số và video số, hay

xử lý tiếng nói, và được áp dụng vào trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên

Mạng neural nhân tạo (hay còn gọi là mạng thần kinh nhân tạo) Artificial Neural Network (ANN) là một hệ thống các chương trình và cấu trúc dữ liệu mô phỏng cách xử lý thông tin của mạng neural sinh học Nó được tạo nên từ một số lượng lớn các phần tử neural kết nối với nhau thông qua các liên kết (trọng số liên kết) làm việc như một thể thống nhất để giải

Trang 29

quyết một vấn đề cụ thể nào đó Một mạng neural nhân tạo được cấu hình cho một ứng dụng cụ thể (nhận dạng mẫu, phân loại dữ liệu, .) thông qua một quá trình học từ tập các mẫu huấn luyện Về bản chất học chính là quá trình hiệu chỉnh trọng số liên kết giữa các neural

Cấu tạo neural nhân tạo:

Hình 1.1 - Mô hình cấu tạo một neural

Convolutional Neural Network - CNN (mạng neural tích chập) là một trong những mô hình Deep Learning tiên tiến giúp xây dựng được những hệ thống thông minh với độ chính xác cao như hiện nay

Một số bài toán và ứng dụng

Nhận dạng tiếng nói: Nhận dạng tiếng nói rồi chuyển chúng thành văn bản tương ứng Giúp thao tác của con người trên các thiết bị nhanh hơn và đơn giản hơn, chẳng hạn thay vì gõ một tài liệu nào đó chúng ta đọc nó lên và trình soạn thảo sẽ tự ghi nó ra Đây cũng là bước đầu tiên cần phải thực hiện trong ước mơ thực hiện giao tiếp giữa con người với robot Nhận dạng tiếng nói có khả năng trợ giúp người khiếm thị rất nhiều

Phân tích cảm xúc trong ngôn ngữ: Đây là khái niệm mới trong xử lý ngôn ngữ, bằng việc kết hợp giữa nhận dạng ngôn ngữ với phân tích cảm xúc, biểu cảm Mục tiêu là máy tính nhận dạng đánh giá các mức độ tâm lý của con người trong ngôn ngữ

Trang 30

Phân tích cảm xúc là một lĩnh vực mới trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên,

sử dụng các kỹ thuật NLP (Neuro - Linguistic - Programming, được hiểu

là lập trình tư duy) để rút trích thông tin cảm xúc của con người từ một câu nói hay một văn bản, từ đó giúp đánh giá cảm xúc của con người là tích cực hay tiêu cực Dựa vào mạng xã hội, sử dụng các kỹ thuật trong NLP có thể rút trích thông tin và từ đó thống kê các mức độ quan tâm của người dùng đối với các sự kiện và thông tin được chia sẻ, giúp việc tổng hợp đánh giá của người

sử dụng cho các công ty và tổ chức được tốt hơn

- Làm thế nào để máy có thể giải quyết các cảm xúc chủ quan

- Làm thế nào để máy tính điểm cho một quan điểm, ý kiến

- Làm thế nào để máy biết được cường độ của cảm xúc

- Làm thế nào để biết sự khác nhau giữa fact (sự thật) và opinion (ý kiến viết ra), nhiều khi bề ngoài gồm những cụm từ khen nhưng thật sự lại đang xỏ xiên, …

Có thể theo dõi hay lắng nghe những bình phẩm, bình luận, hay cả con người trực tiếp nói chuyện về các vấn đề Vì vậy gần đây các nhà khoa học đã sử dụng các mô hình trong Deep Learning cho quá trình tự học và

Trang 31

phân tích cảm xúc trong ngôn ngữ, nhằm tiến gần hơn đến việc con người và máy tính giao tiếp với nhau

1.2.4.2 Một số ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử

Mô hình mạng neural tích chập cho xử lý ngôn ngữ tự nhiên

Thay vì sử dụng các pixel như trong xử lý ảnh, trong xử lý ngôn ngữ

tự nhiên (NLP), biến đổi các câu hay văn bản thành một ma trận đầu vào Mỗi dạng của ma trận tương ứng với một token (một từ trong câu, nhưng cũng có thể là một ký tự - character) Nghĩa là, mỗi dạng là một vector đại diện cho một từ Giả sử có một câu gồm 10 từ được biểu diễn thành word embedding vector gồm 100 chiều, sẽ có đầu vào là một ma trận 10×100, tương ứng trong

xử lý ảnh, có một bức ảnh 10×100 pixel

Hình 1.3 - Minh hoạ mạng neural CNN cho xử lý ngôn ngữ tự nhiên

Duyệt qua từng từ một, nghĩa là sẽ duyệt qua từng dạng của ma trận đầu vào Khi đó, chiều rộng của filter sẽ bằng với chiều rộng của ma trận đầu vào (trong ví dụ trên, chiều rộng bằng 10) Chiều cao (region size) của filter

Trang 32

có thể tùy ý thay đổi sao cho phù hợp, thường là từ 2 đến 5 từ (như 2 đến grams trong n-grams)

5-Quan sát hình vẽ trên, có đầu vào là một câu gồm 7 từ (kể cả ký tự !)

“I like this movie very much!” Các từ này được chuyển đổi thành word embedding có số chiều d = 5 Khi đó, có một ma trận đầu vào là 7×5 Ở layer tiếp theo, sử dụng các filter với region size khác nhau gồm 2, 3, và 4 Gấp đôi

số lượng từng dạng filter này lên, có tổng cộng 6 filter Tiếp đến, thực hiện nhân tích chập tương ứng với từng filter và cho qua activate function (softmax hay tanh) để thu được các vector đầu ra Sau đó, sẽ cho các vector này đi qua filter max-pooling (average-pooling hay các phép toán tương tự khác), mục đích chính là để chuẩn hóa đầu ra các vector sao cho chúng có số chiều là như nhau Ở layer cuối cùng, tùy theo bài toán là phân loại văn bản (Text Classification), phân tích cảm xúc (Sentiment Analysis), phát hiện spam (Spam Detection), phân loại đề tài (Topic Categorization) mà sẽ giới hạn số chiều của vector phân lớp này thành 2 hay nhiều chiều tương ứng

Hình 1.4 - Minh hoạ ma trận max-pooling trong CNN

CNNs phù hợp với các tác vụ phân lớp như phân tích cảm xúc (Sentiment Analysis), phát hiện spam (Spam Detection) hay phân loại chủ đề (Topic Categorization) Các phép toán convolution và max-pooling làm thất thoát thông tin về thứ tự cục bộ giữa các từ (local order of words) Do đó, các tác

vụ liên quan đến gắn nhãn cho chuỗi (sequence tagging) như POS Tagging, Entity Extraction sẽ không phù hợp khi sử dụng kiến trúc của CNNs

Trang 33

Recurrent Neural Networks (RNNs)

Recurrent Neural Networks (hay còn gọi là mạng neural tái phát) là một trong những mô hình Deep Learning được đánh giá có nhiều ưu điểm trong các tác vụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên và các ứng dụng nhận diện giọng nói, các chuỗi thông tin đóng vai trò rất quan trọng Ví dụ, một từ xuất hiện trong câu sẽ phụ thuộc vào từ trước đó

Kiến trúc recurrent neural network giải quyết vấn đề này được minh họa:

Hình 1.5 - Mô hình mạng neural RNN

Recurrent có nghĩa là thực hiện lặp lại cùng một tác vụ cho mỗi thành phần trong chuỗi Trong đó, kết quả đầu ra tại thời điểm hiện tại phụ thuộc vào kết quả tính toán của các thành phần ở những thời điểm trước đó Nói cách khác, RNNs là một mô hình có trí nhớ (memory), có khả năng nhớ được thông tin đã tính toán trước đó Không như các mô hình Neural Network truyền thống đó là thông tin đầu vào (input) hoàn toàn độc lập với thông tin đầu ra (output) Về lý thuyết, RNNs có thể nhớ được thông tin của chuỗi có chiều dài bất kì, nhưng trong thực tế mô hình này chỉ nhớ được thông tin ở vài bước trước đó

Trang 34

thuộc vào trạng thái phía trước nó Chúng cũng có thể được xem như là có một thành phần bộ nhớ, cho phép họ nhìn lại một cách tùy ý theo thứ tự của các từ

RNNs bị ảnh hưởng bởi vấn đề gia tăng và biến mất sự thay đổi Có hai phương pháp được đề xuất để khắc phục vấn đề này: Các mạng LSTM (Hochreiter và Schmidhuber, 1997) và Gated Recurrent Unit (Chung và cộng

sự, 2014) Sử dụng GRU vì các tham số mô hình ít hơn, có khả năng cần ít dữ liệu hơn để tổng hợp và cho phép đào tạo nhanh hơn

Kết hợp mạng CNN và GRNN

CNN xử dụng kích thước filter bằng 3 để lọc các word embedding và cho ra kết quả là max-pooling RNN sử dụng cell GRU cho việc xử lý các input word embedding Đầu ra từ cả hai mạng được nối thành một vector đặc tính duy nhất Vectơ này sau đó được đưa vào một lớp softmax kết nối hoàn chỉnh

Cũng dựa trên việc xây dựng hai mô hình mạng Nhưng thay vì cho 2 mạng cùng xử lý song song với nhau, thì mô hình ở đây cho phép xử lý kết quả theo tuần tự Các word embedding được cho xử lý qua mô hình CNN với filter và cho ra max-pooling Sau đó, kết quả maxpooling này được chuyển đổi thành mãng vector và truyền vào trong mạng RNN Mạng RNN xữ lý tiếp tục các dữ liệu này, kết quả cho ra output Từ output sẽ cho ra được tập softmax dùng để dự đoán các kết quả trong tập thử

Tập phân loại softmax cho phân bố xác suất trên các nhãn trong đầu ra Nhãn có xác suất cao nhất được chọn làm dự đoán cuối cùng

Pre-Processing (Tiền xử lý dữ liệu text)

Như đối với tập dữ liệu thô về hội thoại giữa bạn xem truyền hình, bạn nghe radio và bộ phận tiếp nhận phản hồi, độ dài văn bản với hơn 500 ký

tự, chiếm số lượng tương đối lớn, kèm theo đó là việc nhận dạng tách đoạn chưa được thực hiện trong quá trình chuyển đổi tiếng nói thành văn bản Do

Trang 35

đó, buộc phải tìm ra những cách mới và không thể tiên đoán được trong việc thể hiện lời nói của mình Xác định tình cảm trong những tình huống này là rất khó khăn, và kết quả là áp dụng một số bước tiền xử lý để xử lý một số các lỗi văn bản như: thêm dấu câu, sửa lỗi chính tả, thêm dấu cho văn bản

Mỗi từ hoặc ký hiệu đặt biệt là một phần của cuộc hội thoại trước tiên được ánh xạ tới một đại diện đặc trưng phân bố thích hợp, còn được gọi là nhúng từ (Word embedding) Trước khi huấn luyện, định nghĩa cái gọi là bảng tra cứu (Lookup table), nơi mỗi từ được liên kết với các biểu diễn tương ứng Với dữ liệu hội thoại trước khi huấn luyện sẽ được nhúng từ thành vector

300 chiều

Đối với các từ trong bộ dữ liệu không có trong bảng tra cứu, sử dụng

sự khởi tạo ngẫu nhiên của sự nhúng từ Tuy nhiên, mặc dù hiệu quả của chúng trong việc mã hóa cú pháp và ngữ nghĩa của từ, nhưng chúng không biết đến từ

"đặc tính tình cảm" Để chống lại việc này, việc nhúng từ được liên tục cập nhật trong quá trình đào tạo mạng bằng cách truyền lại các lỗi phân loại Do đó, tính chính xác về tình cảm được mã hóa trong biểu diễn đặc tính

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã trình bày tổng quan thu thập -

xử lý thông tin và một số khái niệm cơ bản liên quan đến ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch trên báo điện tử, một số lý thuyết, nội dung về ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc

Chương 1 là những nền tảng, khái niệm cơ bản cho việc nghiên cứu, đánh giá, nhận xét về việc ứng dụng kỹ thuật, công nghệ trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử ở chương 2 của luận văn Từ đó, đưa

ra giải pháp nhằm xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên báo mạng điện tử ở chương 3 và kết luận

Trang 36

Chương 2

KỸ THUẬT, CÔNG NGHỆ TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN SAI LỆCH,

XUYÊN TẠC TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

2.1 Sơ nét về báo điện tử tuoitre.vn, thanhnien.vn, dantri.vn

2.1.1 Báo Tuổi Trẻ điện tử (tuoitre.vn)

Báo tuoitre.vn là ấn phẩm điện tử của báo Tuổi Trẻ TP Hồ Chí Minh với địa chỉ tuoitre.com.vn ra mắt ngày 1/12/2003 Với thế mạnh của tờ báo giấy Tuổi Trẻ, phiên bản tuoitre.com.vn đã nhanh chóng đạt được những thành tích ấn tượng Chỉ sau 2 năm ra đời, Tuổi trẻ Online đã vào top 3 trang web tiếng Việt được nhiều người truy cập nhất Báo tuoitre.vn hiện trong top

20 trong số các báo điện tử có lượng bạn đọc nhiều nhất truy cập tại Việt Nam Hiện nay, tờ báo có khoảng 5-6 triệu lượt truy cập mỗi ngày, là một trong những tờ báo mạng điện tử có số lượng người truy cập nhiều tại Việt Nam

Một trong những điều đặc biệt của tuoitre.vn là tòa soạn báo được tổ chức theo mô hình tòa soạn hội tụ Cả báo in và báo điện tử đều chung một tòa soạn tổ chức, biên tập, xử lý tin bài và phóng viên Báo tuoitre.vn cũng có đội ngũ biên tập viên và nhân viên hỗ trợ nội dung riêng nhằm xừ lý tin bài phù hợp với đặc thù của báo mạng điện tử

Về nội dung, bên cạnh tin bài lấy lại từ báo giấy như các tờ báo khác, phần lớn tin bài trên tuoitre.vn đều là tin bài tự sản xuất Điều này làm cho uy tín cùa tờ báo được nâng cao

Tuổi trẻ là cơ quan ngôn luận cùa Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh và gồm bốn ấn bản, gồm nhật báo Tuổi Trẻ, tuần báo, Tuổi trẻ cười vả báo điện tử tuoitre.vn Ra đời ngày 2/9/1975, báo Tuổi trẻ nhanh chóng trở thành một trong những tờ báo có số lượng ấn phẩm lớn nhất trong cả nước Cùng với văn phòng chính đặt tại TP Hồ Chí Minh, báo có 9

Trang 37

văn phòng đại diện tại Hà Nội, Nghệ An, Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắk Lắk và Cần Thơ Những năm gần đây, phóng viên của Tuổi trẻ đã đi viết tin bài, tác nghiệp ở nhiều nơi trên thế giới như Iraq, Pakistan, Liban, Indonesia, Mỹ, Đức

Hình 2.1 - Giao diện báo điện tử tuoitre.vn

Báo điện tử tuoitre.vn ra mắt chính thức ngày 1/12/2003 tại địa chỉ tuoitre.com.vn và đến ngày 20/3/2010, đổi tên miền thành tuoitre.vn Từ năm

2006, báo đã thành lập phòng truyền hình sản xuất những chương trình cũng như hợp tác phát sóng vói các kênh truyền hình trong nước Từ ngày 10/2/2009, tuoitre.vn bắt đầu thử nghiệm trang web tiếng Anh Vietnews Đây

là phiên bản đầu tiên của Tuổi trẻ Online nhằm phục vụ bạn đọc quốc tế Hiện nay, tuoitre.vn đã cung cấp thông tin cho công chúng bằng các nội dung đa phương tiện như hình ảnh sinh động, đồ họa, audia, video Từ nhiều lợi thế như đội ngũ phóng viên, biên tập viên, tiềm lực kinh tế, khai thác hiệu

Trang 38

quả mạng xã hội, tuoitre.vn nhanh chóng trở thành báo mạng điện tử có tốc độ phát triển mạnh

Báo tuoitre.vn cập nhật tin tức liên tục hàng ngày trong và ngoài nước Đặc biệt, những bài phóng sự điều tra, thâm nhập thực tế với thông tin nóng hổi, thu hút sự quan tâm của nhiều bạn đọc Ngoài những tin tức phổ biến về các lĩnh vực xã hội, kinh tế, chính trị, tuoitre.vn mang đến cho bạn đọc cái nhìn mới qua những chuyên mục và các bài báo phân tích sâu sắc về những vấn đề công chúng quan tâm

Mỗi thời điểm có những sứ mệnh khác nhau, và Ban biên tập báo Tuổi Trẻ xác định báo mạng điện tử là kênh chủ lực của báo trong thời gian tới và tuoitre.vn được đánh giá là một trong những tờ báo mạng điện tử hiệu quả và

có lượng truy cập nhiều nhất hiện nay

2.1.2 Báo Thanh Niên điện tử (thanhnien.vn)

Báo Thanh niên là cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, ra số đầu tiên với tên gọi Tuần tin Thanh Niên vào ngày 03/01/1986 Tờ báo thực sự là người bạn của giới trẻ và sự tin cậy của tổ chức Đoàn

Với tinh thần ủng hộ cái mới, cái tích cực, góp phần đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực với nhiều tin tức nhanh nhạy, khách quan, chính xác, Báo Thanh Niên đã góp dòng chảy của mình vào sự nghiệp chung của báo chí cách mạng Việt Nam, góp phần cùng các cơ quan chức năng trong việc lành mạnh hóa xã hội, bám sát thực tiễn xã hội Đáp ứng nhu cầu được tiếp nhận thông tin, trao đổi của tuổi trẻ, của nhân dân, phản ánh khách quan, chân thực toàn diện sức sống và sự vươn lên phát triển mạnh mẽ của đất nước

Ngày 15/7/2004 ra mắt thanhnien.vn phiên bản tiếng Anh với mong muốn giúp bè bạn và tuổi trẻ các nước hiểu rõ hơn về đất nước, con người, tiềm năng đầu tư, du lịch, về bản sắc văn hóa Việt và các hoạt động phong phú của tuổi trẻ Việt Nam

Trang 39

Báo thanhnien.vn có thể cập nhật thông tin liên tục, giao lưu trực tuyến, phân chia lĩnh vực theo từng đề mục để bạn đọc tiện theo dõi Dung lượng truyền của hai máy chủ đặt tại New York (Mỹ) có thể cho phép hơn 100.000 bạn đọc truy cập nhanh cùng lúc Về nội dung, cả bản tiếng Việt và tiếng Anh của thanhnien.vn cập nhật nhiều lần trong ngày những thông tin mới nhất về chính trị, kinh tế, xã hội, hoạt động thanh niên, tình hình thế giới, văn hóa nghệ thuật, thể thao, du lịch, giải trí, sức khỏe

Hình 2.2 - Giao diện báo điện tử thanhnien.vn

Báo Thanh Niên ngày càng nắm bắt và phản ánh kịp thời hơi thở của cuộc sống với tiếng nói trẻ trung nhưng bản lĩnh, nghiêm túc, trí tuệ, trách nhiệm, được bạn đọc tin tưởng, yêu mến

Báo thanhnien.vn là phiên bản điện tử của Thanh Niên nhật báo, vì vậy

có những hạn chế nhất định về thông tin đăng tải Theo thống kê của Alexa, Thanh niên điện tử có lượng truy cập hơn 4 triệu lượt/ngày, trong khoảng 30-

40 bảng xếp hạng các website Việt Nam và thứ 5-10 các tờ báo điện tử của Việt Nam

Trang 40

2.1.3 Báo Dân trí (dantri.com.vn)

Dân trí là báo điện tử thuộc Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam Dantri.com.vn vốn là trang tin điện tử Dân trí ra đời tháng 4/2005, từng kế thừa giao diện và bố cục nội dung của trang tin tổng hợp

"Tintucvictnam.com" Năm 2008, dantri.com.vn được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép là báo mạng điện tử theo Giấy phép số 1050/GP-BTTTT Năm 2009, báo điện tử dantri.com.vn lần đầu tiên thay đổi giao diện

Đến nay, báo điện tử dantri.com.vn đã trở thành địa chi quen thuộc cùa nhiều bạn đọc trong và ngoài nước, khẳng định được vị trí đáng kể trong dòng chảy báo mạng điện tử ở nước ta Điểm nổi bật của dantri.com.vn không chỉ bởi thông tin nhanh, chính xác, thân thiện, gần gũi

mà còn là một tờ báo kết nối nhiều hoạt động xã hội có tính nhân văn cao Các hoạt động từ thiện do báo khởi xướng đã tạo được uy tín rộng rãi trong

xã hội, thu hút bạn đọc tham gia

Ngày 15/11/2009, bản tin tiếng Anh của Dân trí với lên gọi Dantri International, viết tắt là DTiNews, tên miền là dtinews.vn được thử nghiệm

và chính thức đi vào hoạt động sau đó 1 tháng Với lượng thông tin phong phú và chất lượng, dtinews.vn được cộng đồng người nước ngoài cũng như Việt kiều trong và ngoài nước đón nhận tích cực, góp phần mở rộng, quảng

bá và đưa thương hiệu dantri.com.vn vượt qua rào cản về khoảng cách địa

lý, tiếp cận sang thị trường nước ngoài

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Thị Hồng Anh (2005), “Báo chí Việt Nam đấu tranh chống những quan điểm sai trái trong tình hình hiện nay”, luận văn thạc sĩ báo chí, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo chí Việt Nam đấu tranh chống những quan điểm sai trái trong tình hình hiện nay”
Tác giả: Hồ Thị Hồng Anh
Năm: 2005
3. Đỗ Quốc Bảo (2013), "Giải pháp biểu diễn và so sánh mức độ tương đồng giữa các hồ sơ trên mạng xã hội", luận văn thạc sĩ công nghệ thông tin, Trường đại học Lạc Hồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp biểu diễn và so sánh mức độ tương đồng giữa các hồ sơ trên mạng xã hội
Tác giả: Đỗ Quốc Bảo
Năm: 2013
6. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
7. Nguyễn Văn Dững (2012), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
8. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại - từ hàn lâm đến đời thường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại - từ hàn lâm đến đời thường
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
9. Nguyễn Văn Dững (chủ biên), (2017), Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
10. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) - Đỗ Thị Thu Hằng (2016), Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên) - Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2016
11. Nguyễn Thị Trường Giang (2010), Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
12. Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên), (2014), Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2014
13. Nguyễn Thị Trường Giang (2014), 100 bản quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 bản quy tắc đạo đức nghề báo trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
14. Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên), (2017), Báo chí và truyền thông đa phương tiện, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và truyền thông đa phương tiện
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
15. Đỗ Thị Thu Hằng (2013), Tâm lý học báo chí, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học báo chí
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
16. Đỗ Thị Thu Hằng (2010), PR - Công cụ phát triển báo chí, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: PR - Công cụ phát triển báo chí
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2010
17. Đỗ Thị Thu Hằng (chủ biên), (2015), Báo chí điều tra, Nxb Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí điều tra
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2015
18. Đỗ Thị Thu Hằng - Trần Quang Diệu (2017), "Báo chí thời công nghệ 4.0", Tạp chí Người làm báo (số 10/2017), Hội Nhà báo Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thời công nghệ 4.0
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng - Trần Quang Diệu
Năm: 2017
19. Khoa Báo chí Học viện Báo chí - Tuyên truyền (2000, 2001, 2017), Báo chí - Những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 1, 2, 3), Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí - Những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 1, 2, 3)
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
20. Nguyễn Quang Hòa (2016), Biên tập báo chí, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên tập báo chí
Tác giả: Nguyễn Quang Hòa
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2016
22. Phan Văn Kiền, Phan Quốc Hải, Phạm Chiến Thắng, Nguyễn Đình Hậu (2016), Một số xu hướng mới của báo chí chí truyền thông hiện đại, Nxb Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu hướng mới của báo chí chí truyền thông hiện đại
Tác giả: Phan Văn Kiền, Phan Quốc Hải, Phạm Chiến Thắng, Nguyễn Đình Hậu
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2016
23. Nguyễn Thành Lợi (2014), Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại, Nxb Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thành Lợi
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
24. Mai Quỳnh Nam (2007), “Truyền thông và phát triển”, Tạp chí Người làm báo số tháng 11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông và phát triển
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w