HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGUYỄN VĂN PHÁP THÔNG ĐIỆP VỀ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ TRUYỀN HÌNH BẮC NINH Khảo sát trên bản tin Tiếng An
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN VĂN PHÁP
THÔNG ĐIỆP VỀ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀITRÊN CHƯƠNG TRÌNH THỜI
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN VĂN PHÁP
THÔNG ĐIỆP VỀ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN CHƯƠNG TRÌNH
THỜI SỰ TRUYỀN HÌNH BẮC NINH
(Khảo sát trên bản tin Tiếng Anh và Tiếng Trung Quốc từ tháng 7/2018
đến tháng 12/2018)
Chuyên ngành : Quản lý Báo chí - truyền thông
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2019
CHủ TịCH HộI ĐồNG
PGS,TS TRƯƠNG THỊ KIÊN
Trang 4Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực; những kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác; các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
NGUYỄN VĂN PHÁP
Trang 5Tác giả trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Viện Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; lãnh đạo Đài PTTH Bắc Ninh, đặc biệt là PGS,TS
Đỗ Thị Thu Hằng người trực tiếp hướng dẫn đã giúp tôi hoàn thành luận văn này Trân trọng cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tác giả hoàn thành luận văn
Luận văn chắc chắn sẽ còn một số thiếu sót về mặt kiến thức cũng như
kỹ thuật văn bản Rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của các nhà khoa học, quý thầy cô giáo và đồng nghiệp
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
NGUYỄN VĂN PHÁP
Trang 6DANH MụC BIểU, SƠ Đồ
Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ các loại nội dung thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trong các chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh năm 2018 41 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ mức độ đánh giá các thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trong các chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh 60 Biểu đồ 2.3: Mức độ xem kênh truyền hình BTV của khán giả 62 Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ mức độ đánh giá về hiệu quả tiếp nhận thông tintrên Đài
PTTH tỉnh Bắc Ninh 65 Biểu đồ 2.5 Một số hạn chế của chương trình về các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài trên Đài PTTH tỉnh Bắc Ninh 66 Biểu đồ 2.6 Nhận xét về mức độ thông tin về các điển hình thực hiện các chủ
trương chính sách của Đảng, nhà nước về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên Đài PTTH tỉnh Bắc Ninh 69
Sơ đồ 2.1 Quy trình sản xuất bản tin thời sự ở Đài PTTH Bắc Ninh 39
Trang 7MụC LụC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2 Vị trí, vai trò của bản tin thời sự 17
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 19
1.4 Nội dung, hình thức và yêu cầu đối với thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình 22
Chương 2:THỰC TRẠNG THÔNG ĐIỆP VỀ DOANH NGHIỆP CÓVỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN BẢN TIN THỜI SỰ CỦAĐÀI PTTH BẮC NINH 31
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh 31
2.2 Một số yếu tố trong quản lý thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh 33
2.2 Khảo sát thực trạng thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh 40
2.3 Đánh giá chung 60
Chương 3:NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰMNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG ĐIỆP VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở ĐÀI PTTH TỈNH BẮC NINH 73
3.1 Một số vấn đề đặt ra đối với thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Đài PTTH tỉnh Bắc Ninh 73
3.2 Giải pháp 80
3.3 Kiến nghị cụ thể 94
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
TÓM TẮT LUẬN VĂN 123
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế ở hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam Thu hút doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI) đầu tư tại Việt Nam là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong suốt hơn 30 năm đổi mới Cùng với các chính sách khác, chính sách thuế đã đóng góp tích cực trong thu hút DN FDI đầu tư vào Việt Nam và được điều chỉnh tùy theo điều kiện kinh tế – xã hội (KT-XH) cụ thể Chính sách thuế tập trung chủ yếu vào thuế thu nhập DN (TNDN), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các khoản thu về đất
Thực tế thời gian qua, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế chung của cả đất nước Tính đến hết tháng 8/2018, Việt Nam có 26.500 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 334 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 184 tỷ USD Theo đánh giá, đầu tư nước ngoài đã đóng góp gần 20% GDP và là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư phát triển của Việt Nam với tỷ trọng khoảng 23,7% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng khu vực đầu tư nước ngoài cũng còn một số tồn tại, hạn chế cần phải được khắc phục Cụ thể, mức độ kết nối, lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đến khu vực đầu tư trong nước còn chưa đạt được như kỳ vọng; việc thu hút và chuyển giao công nghệ từ khu vực đầu tư nước ngoài còn khiêm tốn; thu hút đầu tư nước ngoài vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên và từ các tập đoàn đa quốc gia còn hạn chế; còn hiện tượng một số doanh nghiệp chuyển giá, trốn thuế hoặc chưa nghiêm tục thực hiện quy định về bảo vệ môi trường; hiệu quả sử dụng đất của nhiều dự án đầu tư nước ngoài chưa cao
Những hạn chế trên cho thấy cần phải có những hoạt động truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nêu bật những thông điệp về
Trang 9chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Qua đó vừa giúp doanh nghiệp tận dụng thời cơ, chính sách để phát triển, vừa giúp xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh cho đất nước
Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, những năm qua tỉnh Bắc Ninh đã trở thành điểm đến của nhiều nhà đầu tư nước ngoài Lũy kế đến hết tháng 6-2019, Bắc Ninh đã thu hút hơn 1.000 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt gần 17 tỷ USD Ðể nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, tỉnh Bắc Ninh đang tập trung chuyển hướng mạnh
mẽ sang thu hút các dự án đầu tư sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, sử dụng ít đất và lao động Chính vì vậy, việc truyền thông về các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tại Bắc Ninh đóng vai trò hết sức quan trọng
Thực tế thời gian qua, Đài PTTH Bắc Ninh đã đưa nội dung này vào các thông điệp trong các chương trình thời sự của mình Qua đó góp phần giúp doanh nghiệp và người dân trong tỉnh có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn
về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và những đóng góp to lớn của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển của tỉnh.Các thông điệp đã bao quát được các lĩnh vực, đúng định hướng của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về các thông điệp liên quan tới doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài của BTV được triển khai cơ bản khoa học, logic Đồng thời, các thông điệp về cơ bản mang nội dung chính xác, phù hợp, tác động tới người dân góp phần nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên các thông điệp này còn nhiều hạn chế như: thông điệp trong một số nội dung chưa rõ ràng, sắc sảo; không ít nội dung còn chưa chính xác, cách phản ánh thiếu sinh động, thông điệp còn chưa sâu, chưa đều, người dẫn chương trình, đưa tin còn chưa chuyên nghiệp Thực tế chỉ ra, vẫn còn không ít chương trình thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
Trang 10ngoài chưa thật rõ ràng, sâu sắc Những thông điệp ở các chương trình thời sự mang tính lý luận sâu sắc còn ít, chưa có nhiều phóng sự, tin tức sắc sảo, gây tiếng vang, gây chú ý rộng lớn của dư luận để buộc các doanh nghiệp phải ý thức hơn nữa trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình cũng như khắc phục chế độ, giờ giấc làm việc cho công nhân; việc sử dụng các công cụ quản lý chưa thật linh hoạt, thường bó hẹp trong việc sử dụng các quyết định điều này
đã hạn chế hiệu quả quản lý của kênh
Nhận thức rõ về vấn đề này, với mong muốn hoạt động quản lý thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong chương trình thời sự
của Đài PTTH Bắc Ninh, tác giả lựa chọn đề tài: “Thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình
Bắc Ninh” (Khảo sát trên bản tin Tiếng Anh và Tiếng Trung Quốc từ tháng
7/2018 đến tháng 12/2018) làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ quản lý báo chí truyền thông Thông qua việc khảo sát, tổng kết thực tiễn, luận văn sẽ cố gắng luận giải tìm ra những giải pháp hợp lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý thông điệp trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu cho thấy, đề tài liên quan đến thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong chương trình thời sựđã có một số công trình khoa học được nghiên cứu ở các góc độ khác nhau như sau:
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về thông điệp
Lương Thị Phương Diệp (2012), Thông điệp quảng cáo trên báo in từ
góc nhìn của tâm lý học báo chí truyền thông, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền Luận văn hướng tới nghiên cứu nội dung thông điệp quảng cáo trên báo in dưới góc nhìn của tâm lý học báo chí truyền thông để làm rõ các quy luật tâm lý tiếp nhận của công chúng và mối liên hệ giữa tâm
lý tiếp nhận sản phẩm báo chí và tâm lý tiếp nhận thông điệp quảng cáo Từ
đó, đưa ra những giải pháp, kiến nghị để việc áp dụng tâm lý học báo chí
Trang 11trong sáng tạo thông điệp quảng cáo trên báo in được thực hiện hiệu quả hơn nữa, tăng cơ hội được công chúng tiếp nhận, đem lại lợi ích cho cả tờ báo và doanh nghiệp
Khuất Thị Diệu Linh (2015), Thông điệp về an toàn thực phẩm trên
báo điện tử Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền Luận văn trên cơ sở làm rõ khái niệm và những vấn đề lý luận liên quan tới thông điệp đã phân tích thực trạng thông an toàn thực phẩm trên báo điện tử Việt Nam và đề xuất giải pháp tăng cường chất lượng thông điệp
Mai Quỳnh Nam (2002), "Thông điệp về trẻ em trên báo hình, báo in",
Tạp chí Xã hội học, (2), tr.39-52 Bài viết cho rằng phân tích thông điệp báo
chí là một hướng nghiên cứu rất được coi trọng Nó cho thấy các hiện tượng, các sự kiện xã hội và những tác động xã hội chi phối các hiện tượng, sự kiện
xã hội diễn ra vào một giai đoạn nào đó Ngay từ năm 1910, trong luận chứng
về nghiên cứu truyền thông đại chúng, M.Weber đã đề cập vấn đề này Tính đặc thù của phương pháp phân tích thông điệp báo chí là việc nghiên cứu cho thấy ý nghĩa của thông điệp, tần số, diện tích của những nội dung trình bày ở dạng cố định hóa trong các văn bản, ảnh ở báo in, hoặc các hình ảnh, màu
sắc, âm thanh, băng chữ ở báo hình
Nguyễn Thị Thanh Thúy (2015), Thông điệp về chủ quyền biển đảo
trên Báo Điện tử VNESPESS và Thanh niên hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xã hội
học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Luận văn đã góp phần làm rõ
cơ sở lý luận về thông điệp và khảo sát, đánh giá thực trạng thông điệp về chủ quyền biển đảo trên các báo điện tử khảo sát, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường thông điệp trong thời gian tới
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về thời sự truyền hình
- Luận văn thạc sỹ Chương trình thời sự trên sóng truyền hình địa
phương của tác giả Lương Thanh Xuân năm 2003 Luận văn đi sâu nghiên
cứu chất lượng chương trình thời sự địa phương khu vực đồng bằng sông
Trang 12Hồng Luận văn đã cung cấp cho tác giả nhiều kiến thức bổ ích có thể tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài của mình
- Luận văn Thạc sỹ “Tổ chức sản xuất chương trình thời sự truyền hình
ở Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Tháp” của tác giả Dương Thị Thanh
Hương, thực hiện năm 2004 tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nội dung của đề tài bàn về cách thực hiện, tổ chức sản xuất một chương trình thời sự truyền hình
- Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng chương trình thời sự truyền
hình của Đài Phát thanh và truyền hình Hà Tĩnh” của tác giả Hồ Nam Trung
năm 2012 Thông qua việc khảo sát, phân tích thực trạng chất lượng của chương trình thời sự truyền hình Hà Tĩnh hiện nay, tác giả Luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình thời sự nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng chương trình thời sự của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Tĩnh để tạo sự hấp dẫn đối với công chúng truyền hình và nâng cao chất lượng hiệu quả tuyên truyền của Đài
- Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng chương trình thời sự truyền
hình của Đài Phát thanh và truyền hình Hưng Yên” của tác giả Nguyễn Trọng
Thành năm 2012 Qua nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá chất lượng chương trình thời sự truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Hưng Yên, từ đó đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng chương trình thời
sự truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Hưng Yên Qua nghiên cứu
sẽ đưa ra những kết luận mang tính khoa học để tổ chức các chương trình thời
sự tốt hơn ở các Đài truyền hình địa phương
- Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng chương trình thời sự truyền
hình của Đài Phát thanh và truyền hình Nam Định” của tác giả Trịnh Xuân
Lộc năm 2011 Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá chất lượng chương 6 trình truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Nam Định thời gian gần đây, tác giả đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
Trang 13chương trình truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Nam Định
- Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng chương trình thời sự truyền
hình của Đài Phát thanh và truyền hình tỉnh Sa Văn Na Khết – Lào” của tác
giả Phon Xay Sỷ La Phết năm 2011 Luận văn nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng, nguyên nhân thành công, hạn chế của một số chương trình Thời sự trên Đài truyền hình tỉnh Sa Văn Na Khết - Lào
- Tác giả Trịnh Thị Thanh Hoa, trong Luận văn tốt nghiệp bảo vệ tại
Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2008 với đề tài: Tổ chức sản xuất
chương trình Thời sự 19h Đài Truyền hình Việt Nam (khảo sát chương trình
Thời sự Đài Truyền hình Việt Nam từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2008), đã đề cập đến các hoạt động tổ chức sản xuất chương trình tại một bản tin quan trọng của Đài Truyền hình Việt Nam
Tác giả Hoàng Thị Nga đã nêu rõ những quan niệm cơ bản về tổ chức sản xuất chương trình truyền hình trong luận văn Thạc sỹ Báo chí học bảo vệ
năm 2012 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền với đề tài: Tổ chức sản xuất
chương trình truyền hình tại VIT Media
2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về doanh nghiệp, báo chí với doanh nghiệp
“Tác động của báo chí với doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thanh Hương luận văn Thạc sĩ năm 2010 tại Trường Đại học KHXH&NV Kết quả nghiên cứu của luận văn chỉ ra mối quan hệ hợp tác, đồng hành giữa báo chí
và doanh nghiệp luôn có vai trò quan trọng trong tiến trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và quá trình hội nhập, phát triển kinh tế đất nước nói chung Báo chí là cầu nối giữa doanh nghiệp và Nhà nước, thông qua thông tin trên các cơ quan thông tấn, báo chí, giúp Chính phủ và các cơ quan Nhà nước lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp, từ việc thực hiện chủ trương, chính sách để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý điều hành
“Hoạt động PR của các doanh nghiệp và báo in tại TP.HCM” của tác
Trang 14giả Lê Ngọc Hường khóa luận 2009 – 2011 Trong khóa luận, tác giả đã làm
rõ thực tế và phân tích tính tích cực, tiêu cực của hoạt động PR trong doanh nghiệp và báo chí, trong đó về phía báo chí chủ yếu khảo sát một số báo in và
ý kiến của những người làm báo tại TP HCM, đồng thời đưa ra những giải pháp, những đề xuất với hy vọng góp phần để đưa mối quan hệ giữa hoạt động PR doanh nghiệp với báo chí
“Vai trò của báo chí trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu doanh nghiệp hiện nay” của tác giả Trần Thị Tú Mai khóa luận Thạc sĩ 2008 –
2010 Trường Đại học KHXH&NV Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra cho độc giả thấy vai trò, tác dụng của báo chí đối với việc xây dựng và quảng bá thương hiệu doanh nghiệp, để thúc đẩy hoạt động quảng bá doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh hơn, đồng thời những mặt tồn tại của thông tin báo chí gây bất lợi cho doanh nghiệp và hướng khắc phục
“Vai trò của báo chí trong việc bảo vệ và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp” của tác giả Đào Thanh Hưng khóa luận thạc sĩ 2010- 2012 Trong đó, tác giả đã tìm hiểu khái niệm, thuật ngữ báo chí và doanh nghiệp, thương hiệu của doanh nghiệp; Làm rõ mối quan hệ giữa báo chí với doanh nghiệp và phân tích các yếu tố, điều kiện thuận lợi, khó khăn về việc báo chí thông tin hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thương hiệu Khảo sát thực trạng thông tin, tuyên truyền của báo chí đối với việc bảo vệ và phát triển thương hiệu, vai trò tuyên truyền của báo chí đối với sự phát triển của doanh nghiệp Cuối cùng, tác giả đề xuất những giải pháp và khuyến nghị phù hợp thích ứng với công tác tuyên truyền, để báo chí làm tốt hơn trong việc bảo vệ và phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp
Nguyễn Thu Giang (2012), Quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn đã hệ thống hóa và xây dựng bước đầu một số vấn đề
lý luận cơ bản cho việc quảng bá thương hiệu doanh nghiệp ở Việt Nam Phân
Trang 15tích hoạt động quảng bá thương hiệu cũng như các phương tiện và phương thức quảng bá thương hiệu của một số thương hiệu thuộc loại hình doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nói trên để đánh giá thực trạng, thành công cũng như hạn chế của quá trình quảng bá thương hiệu cũng như của phương thức, phương tiện đó Bước đầu khái quát và chỉ ra một số xu thế quảng bá thương hiệu hiện đại trong những năm trước mắt
Nguyễn Lê Hải Yến (2014), Quảng bá thương hiệu thông qua Website của doanh nghiệp, luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn nghiên cứu về vấn đề quảng bá thương hiệu doanh nghiệp thông qua website bằng việc khảo sát website của top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2012 theo bảng xếp hạng của Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (VNR); phân tích các vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn về quảng bá thương hiệu nói chung và thông qua website của doanh nghiệp nói riêng; Từ đó, luận văn sẽ góp phần nhận diện thực trạng sử dụng website để quảng bá thương hiệu trong các doanh nghiệp này về cả phương diện nội dung và hình thức, cũng như đánh giá, đề xuất bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả quảng bá thương hiệu doanh nghiệp thông qua website
Trần Thanh Tâm (2014), Báo chí Thái Nguyên tuyên truyền xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tuyên truyền thương hiệu nói chung và thương hiệu chè nói riêng để tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá - Khảo sát thực trạng nội dung và hình thức tuyên truyền xây dựng thương hiệu chè trên báo chí Thái Nguyên - Phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế trong tuyên truyền xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên và nguyên nhân của những thành công, hạn chế đó - Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền xây dựng thương hiệu chè trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung
và báo chí Thái Nguyên nói riêng
Trang 16Nguyễn Thúy Ngà (2016), “Hoạt động truyền thông xây dựng thương hiệu của báo điện tử ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ Học viện Báo chí
và tuyên truyền Tác giả cũng nên rõ hoạt động truyền thông xây dựng thương hiệu là một khâu rất quan trọng trong dây truyền giá trị của kinh tế học báo chí Thương hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng Báo điện tử Việt Nam đang trên con đường chuyên nghiệp Một trong những điều kiện tiên quyết giúp cơ quan báo điện tử chuyên nghiệp hóa thành công là nguồn kinh tế- tài chính vững mạnh Muốn vậy, cơ quan báo điện tử, bằng chiến lược, phải khẳng định được giá trị thương hiệu của mình với công chúng Nhiều cơ quan báo điện tử có tiềm năng phát triển, nhưng không xây dựng được thương hiệu, cũng sẽ bị đánh bại bởi các đối thủ cạnh tranh khác Đồng thời tác giả đưa ra quan điểm, trong điều kiện khó khăn của nên kinh tế trong nước cũng như kinh tế toàn cầu hiện nay, cùng với sự cạnh tranh mạnh mẽ của nhiều loại hình truyền thông mới, việc phát triển thương hiệu càng có ý nghĩa quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của báo điện tử
Như vậy, qua khảo sát nêu trên cho thấy các công trình đã bước đầu làm rõ khái niệm, tầm quan trọng về quản lý, truyền hình và thông điệp, tuy nhiên đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các bản tin thời sự của Đài PTTH tỉnh Bắc Ninh Do vậy, đề tài tác giả lựa chọn không trùng lặp với các công trình trước đó Đây sẽ là nguồn tài liệu quý báu để tác giả tham khảo, kếthừatrong qua trìnhnghiêncứuđể hoàn thiện luận văn của mình
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, luận văn tập trung khảo sát thực trạng, chỉ ra thành công, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong quản lý
Trang 17thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời
sự truyền hình Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị hợp lý nhằm nâng cao chất lượng thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninhtrong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Hệ thống hóa, làm rõ những lý luận chung liên quan đến
thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình
Thứ hai: Khảo sát thực trạng thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh, chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
Thứ ba: Đề xuất giải pháp và kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao chất
lượng thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát: Bản tin thời sự Tiếng Anh và Tiếng Trung
- Thời gian khảo sát: Từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là dựa trên quan điểm chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước Việt Nam, các lý thuyết về truyền thông, quản lý truyền thông, thu hút doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; báo chí, quản
lý báo chí, báo chí truyền hình
Trang 185.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả thu thập, nghiên cứu, kế thừa những tài liệu đã được các tác giả công bố như sách, báo, luận văn liên quan tới thông điệpvề doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh… nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Phương pháp thống kê, phân tích nội dung
Phương pháp này được thực hiện với các tác phẩm báo chí liên quan đến thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu về thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh, để đưa ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong công tác quản lý thông điệp
- Phương pháp điều tra xã hội học
Tác giả phát phiếu khảo sát 300 khán giả của Đài PTTH Bắc Ninh để thu thập những nội dung liên quan đến luận văn Để thu được kết quả tập trung nhất, tác giả phát 300 phiếu cho người dân sinh sống trên địa bàn 05 phường của thành phố Bắc Ninh- mỗi phường 60 phiếu, người dân được lựa chọn ngẫu nhiên Số phiếu phát ra là 300 phiếu; số phiếu thu về là 300 phiếu
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tác giả phỏng vấn sâu với đối tượng là lãnh đạo quản lý tại Đài PTTH Bắc Ninh để thấy những thuận lợi, khó khăn trong quá trình tổ chức sản xuất, quản lý các chương trình mang thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh Cụ thể, tác giả đã phỏng vấn sâu 02lãnh đạo Đài
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu và thể hiện, luận văn cũng kết hợp
sử dụng một số phương pháp như: So sánh, đối chiếu, thống kê, phân tích, tổng hợp, nghiên cứu thực tiễn Đồng thời tham khảo một số giáo trình để
Trang 19đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế quản lý thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh
6 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến thông điệp về về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh; kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung lý thuyết vào quá trình thực tiễn quản lý và giảng dạy các bộ môn liên quan đến quản lý, quản
lý thông điệp báo chí nói chung, quản lý thông điệpvề doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninhnói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn tập trung chỉ ra những ưu và nhược điểm của thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh, từ đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng thông điệp này trong thời gian tới
Kết quả của luận văn cũng như công trình nghiên cứu là những gợi ý, cũng như tài liệu tham khảo cho các cơ quan và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực quản lý thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương, 10 tiết:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận có liên quan tới đề tài
Chương 2: Thực trạng thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượngthông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh
Trang 20Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Thông điệp
Trong cuốn truyền thông thay đổi hành vi trong lĩnh vực dân số và chăm sóc sức khoẻ sinh sản, Tạ Ngọc Tấn, Phạm Đình Huỳnh, Lương Khắc Hiếu và cộng sự, cho rằng: "Thông điệp là nội dung thông tin về một vấn đề nào đó được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp truyền thông chứa đựng những thông tin mà người truyền thông muốn chia sẻ với đối tượng của mình" [26, tr.65]
Trong lĩnh vực truyền thông, thông điệp là một phát ngôn hoàn chỉnh dành cho một nhóm đối tượng cụ thể, trong một hoàn cảnh nhất định nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, hiệu quả tác động của thông điệp không phải lúc nào cũng như nhau, bởi nó còn phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp, phương tiện và bối cảnh của truyền thông Vì vậy trong quá trình truyền thông phải thường xuyên kiểm tra, theo dõi tác động của thông điệp tới đối tượng, nhận thông tin phản hồi từ đối tượng, kịp thời điều chỉnh thông điệp hoặc về nội dung hoặc về hình thức cho phù hợp với đối tượng và bối cảnh [, tr.65]
Còn trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản của tác giả Nguyễn văn Dững (chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng quan niệm rằng:
Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó
Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách viết - tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp [6, tr.13]
Trang 21Có thể tóm lại như sau: Thông điệp là một hệ thông ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể Hệ thông ký hiệu này là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận
- Phân loại của thông điệp
Theo tác giả Đỗ Thị Thu Hằng, truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2012) chia ra thông điệp truyền thông có 4 loại như sau:
- Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới
- Thông điệp cụ thể (có thể gọi là thông điệp bộ phận) là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông
- Thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu loại thông điệp này dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thể, có thể nhìn thấy bằng trực quan
- Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hoá, cảm nhận tinh tế và thậm chí sự liên tưởng với những vấn đề kinh tế - văn hoá - xã hội đã và đang đặt ra
Trong cuộc sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, chúng ta rất hay nhầm lẫn giữa thông điệp và thông tin Vậy thực chất thông tin là gì? Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh Trên quan điểm triết học thì thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn
từ , ký hiệu, hình ảnh v.v hay nói rộng hơn bằng tất phương tiện tácđộng lên giác quan của con người
Như vậy có thể thấy giữa thông tin và thông điệp có điểm giống nhau là đều làm gia tăng sự hiểu biết của con người và được con người cảm nhận theo một phương thức nào đó Tuy nhiên giữa thông tin và thông điệp lại có sự
Trang 22khác nhau cơ bản là thông điệp chỉ là một phần của thông tin nhưng là phần nội dung quan trọng nhất, được truyền đi có chủ đích, được mã hóa bằng nhiều hình thức và giữa điểm đầu, điểm cuối có chung một phương thức truyền- nhận
1.1.2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Theo Luật Doanh nghiệp, Luật số: 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014, Điều 4.7 “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”
Theo đó, doanh nghiệp được hiểu chung là một đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, được thành lập theo Luật doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước; Luật Hợp tác xã; Luật Doanh nghiệp tư nhân; Luật Đầu tư; Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài, gồm: Các doanh nghiệp nhà nước do Trung ương quản lý và do địa phương quản lý; Các doanh nghiệp tập thể được thành lập theo Luật Hợp tác xã; Các công ty hợp danh; Các công ty cổ phần (kể cả doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước); Các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo đó, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là hình thức đầu tư mà ở đó các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn để lập ra pháp nhân mới tại Việt Nam theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu chung của các nhà đầu tư
– Đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Là hình thức đầu tư mang tính ổn định, tính vững bền và tính tổ chức + Được thành lập dưới hình thức công ty TNHH Điều đó có nghĩa là các nhà đầu tư nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đầu
tư vào doanh nghiệp đối với các khoản nợ của doanh nghiệp
Trang 23+Các nhà đầu tư vốn nước ngoài có quyền sở hữu 1 phần hay toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
+Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
– Phương thức đầu tư:
+ Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao: Là văn bản ký kết
giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình thuộc kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định Hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam Việc thu hồi vốn cũng như lợi nhuận hợp lý chỉ có thể bằng cách khai thác kinh doanh chính công trình đó trong thời hạn nhất định
+ Hợp đồng xây dung – chuyển giao – kinh doanh: Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý nếu họ muốn
+ Hợp đồng xây dung – chuyển giao: Là văn bản được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu
tư và lợi nhuận hợp lý
1.1.3 Bản tin thời sự
Trong cuốn Báo chí truyền hình, nhóm tác giả G.V.Cu dơ nhet xốp, X.L Xvich, A.La.Iu rốpxki quan niệm về bản tin thời sự như sau: Nhiều khi người ta còn gọi bản tin thời sự là bản tin ngắn Bản tin thời sự ghi lại những
Trang 24sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian Trong báo chí, thể loại thời sự là thông tin ngắn về sự việc Vậy nên bản tin ngắn và bản tin thời sự trở nên đồng nghĩa Trong truyền hình, thể loại ấy gồm bản tin được phát bằng lời và bản tin ngắn bằng hình ảnh… Đối với những người làm truyền hình thì họ thường
sử dụng tên gọi “bản tin” (khi nói đến mọi tin tức thời sự, kể cả bản tin được phát bằng lời) [13,tr21-22]
Theo từ điển tiếng Việt: Thời sựlà toàn bộ sự việc ít nhiều quan trọng vừa mới xẩy ra được nhiều người quan tâm [28,tr159]
Tổng hợp các khái niệm, bản tin thời sự được phát sóng định kỳ, tổng hợp các sự kiện, sự việc, vấn đề mới xẩy ra một cách nhanh nhạy, kịp thời, được sắp xếp thành các phần, các mục xác định trong thời lượng phát sóng Bản tin đáp ứng yêu cầu của công chúng khán giả Dựa trên nghiên cứu thực
tế, tác giả quan niệm bản tin thời sự truyền hình được phát sóng định kỳ có thời lượng ổn định và được kết cấu bởi các thể loại tin, phóng sự, phỏng vấn, tường thuật trực tiếp… thông tin về những vấn đề, sự kiện mới diễn ra trong
và ngoài nước, đang được nhiều người quan tâm
1.2 Vị trí, vai trò của bản tin thời sự
Trong cuốn “Chúng tôi làm tin” của tác giả L.A.vaxilepva, nhà xuất bản Thông tấn năm 2007 có nói tới “bản tin thời sự - bản tin ngắn” Trong đó tác giả đi sâu làm rõ khái niệm Tin: “Tin – là một thông báo, trong đó đưa ra cái nhìn hiện đại về thực tiễn đối với một vấn đề, sự kiện hay quá trình cụ thể Trong tin phản ánh những thay đổi quan trọng đối với cá nhân hay xã hội, được đưa ra trong bối cảnh phổ biến hay điển hình Tin được xây dựng có cân nhắc đến sự nhất trí về những gì mà công chúng quan tâm, cũng như đến các hạn chế bên trong và bên ngoài, mà tòa soạn gặp phải Tin là kết quả của trò chơi được lặp đi lặp lại hàng ngày để đạt được sự thỏa thuận của tập thể bên trong các tòa soạn có nhiệm vụ phân loại các dự kiện diễn ra trong một khoảng thời gian cụ thể nhằm tạo nên một sản phẩm chóng hỏng Tin là kết
Trang 25quả không hoàn hảo của việc đưa ra những quyết định vội vàng trong tình huống chịu áp lực từ bên trong và bên ngoài” [24, tr9] Tác giả khẳng định, các sự kiện bên ngoài tạo nên tin Dù là tin in, tin điện tử, truyền hình thì chúng hàng giờ, hàng phút quét sạch tất cả những gì chúng gặp trên đường đi, giống như các cơn bão mang cái tên phụ nữ mỹ miều, giật gân, thú vị, mới
mẻ, buồn đau – đó là những gì tin có thể mang lại cho người đọc Nếu như 10-15 năm trước đây, trên các ấn phẩm tin chỉ chiếm non nửa trang nhất, trên đài phát thanh và truyền hình chỉ vang lên 2-3 lần trong một ngày đêm thì hiện nay tình hình đã thay đổi Thị trường thông tin tăng về số lượng và rất đa dạng về thể loại, hình thức, phương thức đưa tin
Báo chí có nhiều chức năng như: Thông tin, giáo dục, giải trí, định hướng xã hội trong đó, chức năng thông tin được coi là chức năng gốc, chức năng quan trọng nhất của báo chí Các tài liệu đều định nghĩa “thời sự” là “tin tức” Bản tin thời sự là bản tin quan trọng nhất trong các chương trình phát thanh, truyền hình
Qua thực tiễn, tác giả nhận thấy: Bản tin thời sự là mũi nhọn của bất kỳ kênh truyền hình nào Qua bản tin thời sự, khán giả có thể nắm bắt được mọi
sự việc, sự kiện diễn ra trong ngày cũng như những vấn đề dư luận đang quan tâm Bản tin là tập hợp của những tin ngắn, tin vắn, tin lời, phóng sự, phỏng vấn, trò chuyện để giúp khán giả trong thời gian ngắn nhất có thể nắm bắt nhanh nhất hơi thở của cuộc sống, của xã hội trong và ngoài nước Phóng sự đan xen trong bản tin là những phóng sự ngắn giúp khán giả có cái nhìn sâu hơn, cụ thể hơn và rõ ràng hơn về những vấn đề dư luận xã hội quan tâm
Theo kết quả khảo sát, công chúng Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm theo dõi các bản tin thời sự, chương trình thời sự, trong đó ưu tiên cho chương trình thời sự 19h của VTV Những công chúng bận rộn, ít thời gian theo dõi ti
vi cũng lướt qua chương trình này Vì chỉ cần theo dõi chương trình thời sự thì nhu cầu thông tin của khán giả phần lớn đã được thỏa mãn Số ít những
Trang 26khán giả có nhu cầu đặc biệt cần tới những bản tin thời sự của các kênh truyền hình chuyên biệt khác
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Luật Đầu tư nước ngoài đã được Quốc hội thông qua và ban hành vào ngày 29/12/1987, đánh dấu bước ngoặt cho việc chính thức hóa dòng vốn ngoại đầu tư vào Việt Nam Từ chủ trương đúng đắn đó, trải qua chặng đường hơn 30 năm đến nay, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việc thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài góp phần tác động thúc đẩy chuyển dịch, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, sản phẩm, dịch vụ; thúc đẩy cải cách thể chế, chính sách kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác
và hội nhập quốc tế
Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thu hút FDI thành công nhất khu vực và trên thế giới, trở thành địa điểm đầu tư tin cậy, hiệu quả trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài Báo cáo 2017 của Tổ chức Thương mại và phát triển Liên Hợp quốc đánh giá, Việt Nam nằm trong Top
12 quốc gia thành công nhất về thu hút FDI
Theo thống kê chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 8/2018 Việt Nam, đã có hơn 26.500 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký hơn 334
tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 184 tỷ USD Đầu tư nước ngoài đã đóng góp gần 20% GDP và là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển với
tỷ trọng khoảng 23,7% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
58% tổng vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Kim ngạch xuất
Trang 27khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong xuất khẩu, đạt 72,6% trong năm 2017 và 71,4% trong 9 tháng đầu năm 2018 Số thu nộp ngân sách của khu vực đầu tư nước ngoài tăng đều qua các năm và đạt hơn 8 tỷ USD trong năm 2017, chiếm 17,1% tổng thu ngân sách nhà nước
Đầu tư nước ngoài là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bởi mức đóng góp của khu vực này ngày càng tăng từ 9,3% năm 1995 lên 19,6% năm 2017 (chiếm 23,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm trên 72% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 17% tổng thu ngân sách nhà nước)
Trong hơn thập kỷ qua, nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở một số ngành, lĩnh vực; tác động lan tỏa nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước, qua đó góp phần nâng cao trình độ công nghệ và quản trị của nền kinh tế Nhiều dự án lớn đã mang lại bước đột phá, đóng góp vào nguồn thu ngân sách cho nhiều địa phương
Chẳng hạn, theo báo cáo của UBND TP Hồ Chí Minh, năm 1992, khối doanh nghiệp FDI chỉ đóng góp hơn 15 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước (chiếm 0,6% tổng thu ngân sách) thì đến năm 2016 thu ngân sách từ khối doanh nghiệp FDI đạt 48.700 tỷ đồng, chiếm 16,3% tổng thu ngân sách của Thành phố
Khu vực đầu tư nước ngoài cũng đã có những đóng góp đáng kể vào phát triển ngành dịch vụ chất lượng cao ở Việt Nam như tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, vận tải biển, logistics, giáo dục - đào tạo, y tế, du lịch… Đồng thời, đây còn là nhân tố góp phần chuyển đổi không gian phát triển, hình thành các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế…
Đầu tư nước ngoài cũng tạo thuận lợi cho Việt Nam mở rộng thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, từng bước tham gia vào mạng sản xuất
và chuỗi giá trị toàn cầu Nhờ có định hướng này, xuất khẩu của khu vực đầu
Trang 28tư nước ngoài đã tăng nhanh, góp phần cân bằng cán cân thương mại, giảm áp lực tỷ giá và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Khu vực đầu tư nước ngoài cũng có nhiều đóng góp trong tạo việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực Việc làm trực tiếp trong khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng từ 330 nghìn người vào năm 1995 lên khoảng 3,6 triệu người năm 2017, đồng thời tạo việc làm gián tiếp cho khoảng 5 - 6 triệu lao động
Doanh nghiệp FDI cũng là những đơn vị tiên phong trong đào tạo, nâng cao trình độ và tác phong công nghiệp của đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên, cán
bộ quản lý Nhiều vị trí việc làm trước đây do chuyên gia nước ngoài đảm nhận, nay đã được thay thế bằng lao động Việt Nam Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đã quan tâm thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng, tham gia hoạt động xóa đói, giảm nghèo và các hoạt động thiện nguyện khác
Thực tế cho thấy Việt Nam đã có lịch sử 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trở thành một thành phần kinh tế quan trọng, đóng góp vào sự phát triển của đất nước
Tuy nhiên, thời gian qua Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chưa có một Nghị quyết chuyên đề về thu hút FDI Do đó, việc Ban cán sự Đảng Chính phủ chủ trì xây dựng Đề án này để trình Bộ Chính trị thông qua bằng một Nghị quyết chuyên đề có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở để thu hút FDI có chọn lọc, phù hợp với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy lợi ích và hạn chế những bất cập của FDI mang lại Đồng thời, góp phần để Đảng, Nhà nước lồng ghép việc thu hút FDI trong phát huy nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn 2021 - 2030
Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến tại Hội nghị 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào tháng 10/2018, báo cáo tổng kết của 11 bộ, ngành, 63 địa phương, góp ý của Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức hợp tác và phát
Trang 29triển kinh tế (OECD), Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng dự thảo Đề án Theo đó, Đề án liệt kê 10 đóng góp chủ yếu và 6 hạn chế bất cập của khu vực FDI tới nền kinh tế trong nước
Về định hướng thu hút FDI trong thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán, coi khu vực FDI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài Thu hút FDI có chọn lọc, khuyến khích gắn kết với doanh nghiệp trong nước, nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu trên nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm tính độc lập của nền kinh tế, bảo đảm an ninh quốc gia
1.4 Nội dung, hình thức và yêu cầu đối với thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình
1.4.1 Nội dung thông điệp
1.4.1.1 Thông điệp về thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Luật Đầu tư nước ngoài đã được Quốc hội thông qua và ban hành vào ngày 29/12/1987, đánh dấu bước ngoặt cho việc chính thức hóa dòng vốn ngoại đầu tư vào Việt Nam Từ chủ trương đúng đắn đó, trải qua chặng đường hơn 30 năm đến nay, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Việc thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài góp phần tác động thúc đẩy chuyển dịch, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, sản phẩm, dịch vụ; thúc đẩy cải cách thể chế, chính sách kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác
và hội nhập quốc tế
Việt Nam được quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thu hút FDI thành công nhất khu vực và trên thế giới, trở thành địa điểm đầu tư tin cậy, hiệu quả trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài Báo cáo 2017 của Tổ chức
Trang 30Thương mại và phát triển Liên Hợp quốc đánh giá, Việt Nam nằm trong Top
12 quốc gia thành công nhất về thu hút FDI
Theo thống kê chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 8/2018 Việt Nam, đã có hơn 26.500 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký hơn 334
tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 184 tỷ USD Đầu tư nước ngoài đã đóng góp gần 20% GDP và là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển với
tỷ trọng khoảng 23,7% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
58% tổng vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong xuất khẩu, đạt 72,6% trong năm 2017 và 71,4% trong 9 tháng đầu năm 2018 Số thu nộp ngân sách của khu vực đầu tư nước ngoài tăng đều qua các năm và đạt hơn 8 tỷ USD trong năm 2017, chiếm 17,1% tổng thu ngân sách nhà nước
Đầu tư nước ngoài là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bởi mức đóng góp của khu vực này ngày càng tăng từ 9,3% năm 1995 lên 19,6% năm 2017 (chiếm 23,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm trên 72% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 17% tổng thu ngân sách nhà nước)
Trong hơn thập kỷ qua, nhiều dự án đầu tư nước ngoài đã chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở một số ngành, lĩnh vực; tác động lan tỏa nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước, qua đó góp phần nâng cao trình độ công nghệ và quản trị của nền kinh tế Nhiều dự án lớn đã mang lại bước đột phá, đóng góp vào nguồn thu ngân sách cho nhiều địa phương
Chẳng hạn, theo báo cáo của UBND TP Hồ Chí Minh, năm 1992, khối doanh nghiệp FDI chỉ đóng góp hơn 15 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước (chiếm 0,6% tổng thu ngân sách) thì đến năm 2016 thu ngân sách từ khối doanh nghiệp FDI đạt 48.700 tỷ đồng, chiếm 16,3% tổng thu ngân sách của Thành phố
Trang 31Với những thực trạng trên, có thể nói thông điệp về việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình là một trong những nội dung không thể thiếu khi đề cập tới doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
1.4.1.2 Thông điệp về những thời cơ, thuận lợi khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động ở Việt Nam
Có thể thấy khu vực đầu tư nước ngoài cũng đã có những đóng góp đáng kể vào phát triển ngành dịch vụ chất lượng cao ở Việt Nam như tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, vận tải biển, logistics, giáo dục - đào tạo, y tế, du lịch… Đồng thời, đây còn là nhân tố góp phần chuyển đổi không gian phát triển, hình thành các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế…
Đầu tư nước ngoài cũng tạo thuận lợi cho Việt Nam mở rộng thị trường quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, từng bước tham gia vào mạng sản xuất
và chuỗi giá trị toàn cầu Nhờ có định hướng này, xuất khẩu của khu vực đầu
tư nước ngoài đã tăng nhanh, góp phần cân bằng cán cân thương mại, giảm áp lực tỷ giá và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Khu vực đầu tư nước ngoài cũng có nhiều đóng góp trong tạo việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực Việc làm trực tiếp trong khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng từ 330 nghìn người vào năm 1995 lên khoảng 3,6 triệu người năm 2017, đồng thời tạo việc làm gián tiếp cho khoảng 5 - 6 triệu lao động
Doanh nghiệp FDI cũng là những đơn vị tiên phong trong đào tạo, nâng cao trình độ và tác phong công nghiệp của đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý Nhiều vị trí việc làm trước đây do chuyên gia nước ngoài đảm nhận, nay đã được thay thế bằng lao động Việt Nam Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã quan tâm thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng, tham gia hoạt động xóa đói, giảm nghèo
và các hoạt động thiện nguyện khác
Trang 32Chính vì những ưu thế nổi bật kia, các thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình phải nhấn mạnh tới những kết quả mà các doanh nghiệp này mang lại cho nền kinh tế Việt Nam
1.4.1.3 Thông điệp về những tồn tại, hạn chế ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Có thể nói các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi hoạt động ở Việt Nam đã mang lại những đóng góp rất tích cực Tuy nhiên trong hoạt động của các doanh nghiệp vẫn tồn tại nhiều hạn chế đòi hỏi báo chí nói chung, truyên hình nói riêng phải truyền tải các thông điệp một cách rõ ràng
để khắc phục những hạn chế này Cụ thể như:
Một là, mức độ kết nối, lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đến khu vực đầu tư trong nước còn thấp, thu hút và chuyển giao công nghệ từ khu vực đầu tư nước ngoài đến khu vực đầu tư trong nước còn chưa đạt được như kỳ vọng, chủ yếu là gia công lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành thấp, giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm chưa cao
Hai là, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam trước hết là vì mục tiêu lợi nhuận Hầu hết họ mong muốn làm ăn nghiêm túc, hợp tác với nước chủ nhà để cùng chia sẻ thành công và lợi ích nhưng cũng có một bộ phận nhà đầu tư thiếu năng lực, thiếu thiện chí Hiện tượng doanh nghiệp chuyển giá, trốn thuế hoặc chưa nghiêm túc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường vẫn còn phổ biến
Ba là, chưa có nhiều tập đoàn đa quốc gia trong các lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, công nghệ nguồn, tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu
và phát triển còn ít Thu hút đầu tư nước ngoài vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên và từ các tập đoàn đa quốc gia còn hạn chế
Bốn là, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam về cơ bản sử dụng công nghệ trung bình hoặc trung bình tiên tiến so với khu vực Một số dự án còn tiêu tốn năng lượng, thâu dụng tài
Trang 33nguyên, gây ô nhiễm môi trường
Năm là, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập, công tác quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài còn thiếu sự phối hợp từ Trung ương đến địa phương; Hiệu quả sử dụng đất của nhiều dự án đầu tư nước ngoài chưa cao…
Sáu là, có những doanh nghiệp FDI chưa bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của người lao động Việt Nam, tuyển dụng lao động nước ngoài, trong đó
có lao động phổ thông, không đúng quy định của pháp luật… Thực trạng này cũng khiến cho quan hệ lao động trong nhiều thời điểm trở nên căng thẳng, gây bất ổn chính trị, kinh tế xã hội địa phương, ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh, đầu tư tại Việt Nam
1.4.2 Hình thức thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình
- Thứ nhất, về thể loại, truyền hình phản ánh thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thông qua các phóng sự, điều tra, tin, bài, phỏng vắn, đồ thị, bản đồ… truyền thông thông điệp qua hình thức thể hiện các tin, bài truyền hình với ưu thế thể hiện qua hình thức âm thanh, hình ảnh sinh động và tích hợp được cả đa phương tiện hiện đại Qua đó khả năng truyền tải thông điệp truyền thông tới công chúng khá cao qua các tác phẩm truyền hình Các hình thức thể hiện nội dung thông điệp qua các hình thức phát sóng như: Tin vắn, tường thuật, phóng sự, điều tra, phỏng vấn, bình luận…
- Thứ hai, truyền hình phát huy thế mạnh về hình ảnh, âm thanh khi phản ánh thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài … phương thức truyền thông thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện qua hình ảnh, âm thanh, nội dung của tác phẩm truyền hình, là cách thức thực hiện việc truyền thông tin đến đối tượng cần hướng tới, theo đó phương thức truyền thông thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên đối với truyền
Trang 34hình phương thức truyền thông thông điệp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường thông qua các bản tin, chương trình thời sự, các phóng sự
có nội dung liên quan
Đặc biệt, về phương thức truyền thông các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài qua truyền hình, điểm nổi bật đó là sử dụng các video đa phương tiện có nội dung, chủ đề, ý nghĩa rõ ràng, có giá trị thông tin thời sự, phản ánh được khía cạnh tiêu biểu của thông điệp Bên cạnh đó việc sử dụng các video được tích hợp trong các bản tin về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàitrên truyền hình càng nâng cao tính xác thực và phản ánh đúng bản chất
sự việc được chuyển tải đến công chúng rõ nhất
- Thứ ba, về tần suất, số lượng bài, truyền hình thường xuyên, liên tục, thậm chí có khung giờ riêng đểtruyền tải thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong thời đại “kỷ nguyên số”, việc cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, liên tục, tức thời được xem là vô cùng quan trọng, là vấn đề sống còn của báo chí cũng như truyền hình Chính điều này đã tạo nên vị thế và cuộc tranh đua của truyền hình Tính tức thời được truyền hình sẽ được khai thác tối đa nhằm thoả mãn nhu cầu cập nhật thông tin của công chúng
1.4.3 Yêu cầu thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình
Một khi thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được truyền thông trên truyền hình thì nó cũng được coi là một sản phẩm báo chí, do vậy phải đáp ứng toàn bộ yêu cầu, tiêu chí của sản phẩm báo chí Yêu cầu về thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình phải được xem xét trên phương diện nội dung thông tin, hình thức thể hiện tác phẩm, đồng thời, dựa trên những nhu cầu của công chúng trang báo cũng như yêu cầu của trang báo Cụ thể là các tiêu chí sau:
- Thông tin chính xác, khách quan
Đây là yếu tố bắt buộc đối với mỗi cơ quan thông tin truyền thông Đối
Trang 35truyền hình thì thông tin càng bắt buộc phải chính xác, khách quan Bởi nó vừa là cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ, chính quyền, vừa là nơi cung cấp thông tin chính thống cho nhân dân Thông tin chính xác, khách quan mới tạo nên độ tin cậy cho công chúng Đồng thời phản ánh phải đúng và trúng bản chất vấn đề, sự kiện, hiện tượng, xuất phát từ lợi ích của Đảng, nhà nước, quyền lợi của nhân dân, giúp công chúng hiểu được bản chất của sự việc
Thêm vào đó, thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là lĩnh vực rất nhạy cảm cộng thêm tính chất lây lan nhanh chóng và không thể thu hồi của truyền hình thì việc đưa tin không chính xác, sai sự thật thì sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế- chính trị Do vậy với những nội dung liên quan đến mảng thông tin về thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dân đòi hỏi trước khi phát sóng trên truyền hình phải
có quy trình duyệt nghiêm ngặt và chính xác, toàn diện
- Thông tin phong phú, đa dạng
Truyền hình trong sự cạnh tranh gay gắt với các phương tiện truyền thông khác phải hướng đến nhiều đối tượng công chúng khác nhau, từ người già đến thanh thiếu niên, từ cán bộ công chức đến người công nhân, nông dân Các chuyên mục của truyền hình như một bức tổng thể, đề cập nhiều lĩnh vực khác nhau từ chính trị, kinh tế đến văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Thông tin của đài là các sự kiện, vấn đề đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội gắn liền trực tiếp với người dân… Trong thực tế, nhu cầu, sở thích và tâm
lý tiếp nhận của công chúng quy định tính đa dạng, phong phú của thông tin báo chí Để đạt chất lượng cao, thông tin truyền hình luôn cần phong phú, đa dạng, thiết thực, đáp ứng tốt nhu cầu, tâm lý tiếp nhận của công chúng
Đặc biệt với thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì đòi hỏi sự phong phú đa dạng cao hơn bao giờ hết Bởi lẽ ở nước ta, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tác động sâu vào mọi khía cạnh đời sống, thông tin một chiều hoặc thiếu đi mảng nào đó sẽ gây sự hụt hẫng
Trang 36cho độc giả đồng thời làm giảm giá trị thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói chung
Thông tin nhanh chóng, kịp thời, dễ hiểu, dễ làm theo
Đây là yêu cầu hàng đầu của thông tin truyền hình, là tiêu chí thu hút sự quan tâm của khán giả Đối với thông tin trên truyền hình thì thông tin nhanh chóng, kịp thời rất quan trọng Thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như các lĩnh vực khác, với những sự kiện, hiện tượng nảy sinh được dư luận xã hội quan tâm nếu công tác truyền thông không kịp thời thì sẽ làm mất tính thời sự bởi sự bùng nổ thông tin nhanh chóng của các phương tiện thông tin đại chúng Đặc biệt, nếu thông tin dư luận sai mà truyền hình không kịp thời cải chính thì ảnh hưởng về chính trị, kinh tế là vô cùng to lớn
Thông tin có tính định hướng
Truyền hình trước hết là cơ quan tuyên truyền của Đảng, Nhà nước Do
đó, các Đài phải thông tin về các văn bản chỉ đạo, điều hành hoạt động thường xuyên của Đảng, Nhà nước; nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động, thông báo và các văn bản khác liên quan đến các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Qua đó, giúp nâng cao nhận thức, định hướng nhân dân ủng hộ, , đồng thuận với các chủ trương thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Đảng, Nhà nước trong thực tiễn
Bên cạnh đó, trong nhiều vấn đề liên quan tới doanh nghiệp, truyền hình cần là cơ quan chính thống, công khai thông tin nhân dân đang muốn tìm hiểu, nắm bắt, tránh những đồn thổi vô căn cứ Một thông tin sai về thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể để hại những hệ lụy khó lường Do vậy, thông tin truyền hình cung cấp, chuyển tải đến nhân dân phải có tính định hướng dư luận xã hội Khi thông tin, phân tích, bình luận về một vấn đề phải xuất phát từ lợi ích của Đảng, nhà nước, của nhân dân, đưa ra những nhận xét cho mình: đâu là tốt, đâu là xấu, việc gì nên hay không nên…
Trang 37Tiểu kết chương 1
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Luật Đầu tư nước ngoài đã được Quốc hội thông qua và ban hành vào ngày 29/12/1987, đánh dấu bước ngoặt cho việc chính thức hóa dòng vốn ngoại đầu tư vào Việt Nam Từ chủ trương đúng đắn đó, trải qua chặng đường hơn 30 năm đến nay, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Về định hướng thu hút FDI trong thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán, coi khu vực FDI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài Thu hút FDI có chọn lọc, khuyến khích gắn kết với doanh nghiệp trong nước, nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu trên nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm tính độc lập của nền kinh tế, bảo đảm an ninh quốc gia
Trong chương 1, tác giả làm rõ nội dung thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình bao gồm: Thông điệp về thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; Thông điệp về những thời cơ, thuận lợi khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động ở Việt Nam và thông điệp
về những tồn tại, hạn chế ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Bên cạnh đó, tác giả cũng làm rõ hình thức thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình và yêu cầu thông điệp về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên truyền hình
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG THÔNG ĐIỆP VỀ DOANH NGHIỆP CÓ
VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN BẢN TIN THỜI SỰ CỦA
ĐÀI PTTH BẮC NINH
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh
2.1.1 Khái quát về Đài PTTH Bắc Ninh
Chặng đường 65 năm qua, toàn thể cán bộ viên chức, người lao động ngành Phát thanh - Truyền hình Bắc Ninh qua các thời kỳ tự hào với những đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN Ngày 12-8-1954 từ Ty Tuyên truyền Bắc Ninh, Đài Truyền thanh phát sóng chương trình phát thanh đầu tiên, đánh dấu
sự ra đời của ngành Phát thanh tỉnh Sau khi hợp nhất tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc, Đài Phát thanh Hà Bắc ra đời Năm 1992 Đài Phát thanh Hà Bắc đổi tên thành Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Bắc, bổ sung thêm loại hình báo chí là báo hình, mở ra thời kỳ mới cho sự phát triển của ngành Ngay ngày đầu tiên tỉnh Bắc Ninh được tái lập, Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh phát sóng chương trình đầu tiên vào ngày 1-1-1997
22 năm qua, cùng với sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, lãnh đạo, CBVC Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh (BTV) không ngừng nỗ lực, quyết tâm xây dựng Đài ngày càng vững mạnh và trưởng thành Từ 2 chương trình truyền hình/tuần và 1 chương trình phát thanh/ngày, đến đầu năm 2015, BTV thực hiện phát sóng 24 giờ truyền hình/ngày và tăng thời lượng chương trình phát thanh từ 4,5 giờ lên 16,5 giờ/ngày từ tháng 4-
2018 Hiện nay Đài hội tụ đủ 4 loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và trang thông tin điện tử; đáp ứng kịp thời sự phát triển của một cơ quan báo chí truyền thông đa phương tiện Nội dung tuyên truyền phản ánh kịp thời, chính
Trang 39xác chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và mọi mặt của đời sống đến với nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế,
xã hội, nâng cao dân trí, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương
Song song với việc tăng thời lượng, BTV luôn chú trọng nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh-truyền hình và chủ động tiếp cận, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ hiện đại Sóng truyền hình Bắc Ninh phát trên nhiều hạ tầng hoàn toàn bằng công nghệ số như: Vệ tinh Vinasat1, truyền hình cáp, MyTV, Next TV BTV cũng là một trong những Đài tỉnh đi đầu trong việc ứng dụng sản xuất và phát sóng theo chuẩn hình ảnh chất lượng cao – HD; một số chương trình mới ra đời tạo được hiệu ứng tích cực đối với công chúng Đồng hành cùng sự lớn mạnh của BTV, Đài Phát thanh các huyện, thị xã, thành phố cũng được quan tâm, không ngừng phát triển
Với những đóng góp tích cực, ngành Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh nhận được nhiều phần thưởng cao quý, như: Huân chương Độc lập hạng
Ba, nhiều Cờ thi đua xuất sắc của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam Nhiều cá nhân được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ
Để phát huy và nêu cao vai trò, trọng trách, sứ mệnh của Báo chí cách mạng trên hành trình thực hiện mục tiêu xây dựng Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Đài PT-TH Bắc Ninh cần tập trung một số nhiệm
vụ trọng tâm: Tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XIX; làm tốt công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chủ trương, Nghị quyết của Tỉnh
ủy, HĐND, UBND tỉnh đến quần chúng nhân dân; thực hiện tốt quan điểm
Trang 40“Báo chí là diễn đàn của nhân dân”; Chủ trì phối hợp tham mưu thực hiện tốt Quyết định số 362 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển
và quản lý Báo chí toàn quốc đến năm 2025, rà soát sắp xếp lại cơ cấu tổ chức
bộ máy tinh gọn, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao; phản ánh toàn diện,
có trọng tâm, trọng điểm việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa
xã hội của địa phương
Bên cạnh đó thực hiện tốt chức năng biểu dương và phê phán; tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống các quan điểm sai trái, thù địch; tuyên truyền gương điển hình tiêu biểu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan báo chí đa chức năng; đẩy mạnh
xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình; nâng cao đời sống cán bộ, viên chức, người lao động Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, làm chủ KHKT; đáp ứng tốt hơn quá trình thực thi nhiệm vụ, định hướng thông tin và dư luận xã hội, nhất là đối với các vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm Qua đó xây dựng đội ngũ người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tâm, có tầm, xứng đáng là những chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hóa trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin; góp phần thực hiện mục tiêu “Đổi mới báo chí phục vụ sự nghiệp đổi mới của quê hương, đất nước”
2.2 Một số yếu tố trong quản lý thông điệp về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên chương trình thời sự truyền hình Bắc Ninh
- Phương thức quản lý của Đài
Qua khảo sát được biết, ngay từ năm 2015, để thể hiện quyết tâm đột phá, Ban Giám đốc Đài PTTH tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo quyết liệt từ rất sớm xây dựng khung chương trình cho Đài nói chung và thực hiện các nhiệm vụ chính trị nói riêng Ba năm sau, khung chương trình của Đài PTTH Bắc Ninh được ban hành vào tháng 1/2018 Đây là nét mới, sự khác biệt trong chỉ đạo