1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng công an ở huyện thường tín, thành phố hà nội hiện nay

105 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 810,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, công tác quản lý về an ninh, trật tự trong thời gian qua của lực lượng Công an huyện Thường Tín vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập như: Việc thu thập xử lý thông tin còn lung tung, ch

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

`

SÁI THỊ TUYẾT MAI

QUẢN LÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NộI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

SÁI THỊ TUYẾT MAI

QUẢN LÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý xã hội

Mã số: 8.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Minh Sơn

HÀ NộI - 2019

Trang 3

Luận văn đã được sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Chủ tịch Hội đồng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phạm Minh Sơn Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Sái Thị Tuyết Mai

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 6

MụC LụC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN HUYỆN 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện 6 1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp và biện pháp nghiệp vụ quản lý về

an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện 16 1.3 Cơ sở chính trị, pháp lý trong quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện 23

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 31

2.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay 31 2.2 Kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội hiện nay 45

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN

LÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 66

3.1 Dự báo, phương hướng tăng cường quản lý về an ninh trật tự của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 66 3.2 Giải pháp tăng cường quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trong thời gian tới 74

KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 TÓM TắT LUậN VĂN 98

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Nằm ở cửa ngõ phía nam của Thủ đô, huyện Thường Tín là địa phương

có truyền thống lịch sử, văn hóa đặc sắc, vốn được mệnh danh là “đất trăm nghề”.Trong công cuộc thực hiện đường lối đổi mới, huyện Thường Tín đã đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Chính trị xã hội ổn định, kinh tế xã hội phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể Bên cạnh sự phát triển về kinh tế, xã hội, công tác đảm bảo an ninh, trật tự của huyện Thường Tín trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định như: Không để xảy ra đột xuất bất ngờ, hình thành các điểm nóng, chủ động đấu tranh bảo vệ an ninh trên các lĩnh vực như xuất nhập cảnh, tôn giáo, chính trị nội bộ, văn hóa tư tưởng, an ninh nông thôn, an ninh học đường…giải quyết ổn định tình hình mâu thuẫn khiếu kiện phức tạp trong nội

bộ nhân dân liên quan đến tôn giáo, đền bù giải phóng mặt bằng, quản lý đất đai, thực hiện các dự án điểm, cụm, khu công nghiệp Tuy nhiên, tình hình ANTT trên địa bàn huyện vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp như: Tình trạng khiếu nại, tố cáo liên quan đến trật tự xây dựng, đất đai; hoạt động tôn giáo trái pháp luật của chức sắc, tín đồ tôn giáo; các hoạt động của người nước ngoài trong các cụm công nghiệp…Theo thống kê từ năm 2015 đến nay

đã phát hiện 2.210 vụ việc với 4.535 đối tượng tội phạm về hình sự và tệ nạn

xã hội xảy ra trên địa bàn huyện Thường Tín Riêng 06 tháng đầu năm 2019 phát hiện 201 vụ với 392 đối tượng Đây là yếu tố tác động đến quản lý của lực lượng Công an huyện về ANTT trên địa bàn huyện trong thời gian tới

Trong thời gian qua, lực lượng Công an huyện Thường Tín đã chủ động tiến hành đồng bộ các hoạt động quản lý về ANTT và bước đầu đạt được những kết quả nhất định, góp phần nâng cao việc chấp hành pháp luật

Trang 8

của người dân, hạn chế thiếu sót mà các đối tượng có thể lợi dụng xâm phạm ANQG trên địa bàn huyện Các vụ việc phức tạp xảy ra được giải quyết ngay, không để hình thành các điểm nóng, tình hình tội phạm về tệ nạn xã hội được kiềm chế Tuy vậy, công tác quản lý về an ninh, trật tự trong thời gian qua của lực lượng Công an huyện Thường Tín vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập như: Việc thu thập xử lý thông tin còn lung tung, chưa đầy đủ; quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự còn thiếu chặt chẽ; vẫn còn đó những hạn chế về nhận thức, trình độ của đội ngũ cán

bộ, chiến sỹ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; thanh kiểm tra chưa tiến hành thường xuyên; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác quản lý chưa đầy đủ…Việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện thực trạng quản lý về an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Thường Tín là vấn đề cấp thiết để từ đó đưa ra được những dự báo, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện trong thời gian tới

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả lựa chọn đề tài:

“Quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay” làm Luận văn Thạc sĩ ngành Chính trị học,

chuyên ngành quản lý xã hội tại Học viên báo chí và tuyên truyền

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Cho đến nay, lý luận quản lý về ANTT đã được đề cập đến nhiều trong các sách, giáo trình dành cho chuyên ngành pháp luật, tài liệu chuyên khảo, đề tài khoa học, luận văn, luận án, các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành như:

Giáo trình “Quản lý nhà nước về an ninh trật tự” Chủ biên Trần Viết Long và tập thể tác giả Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2007;

Tài liệu chuyên khảo “Một số lý luận cơ bản về hoạt động nghiệp vụ

Trang 9

của lực lượng cảnh sát quản lý hành chính” Chủ biên Tiến sĩ Vũ Văn Hiền, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1996;

Giáo trình “Kỹ năng giao tiếp của cảnh sát quản lý hành chính về trật

tự xã hội” của chủ biên PGS TS Đinh Trọng Hoàn, Nhà xuất bản Công an

nhân dân, Hà Nội, 2009;

Giáo trình “Quản lý hành chính nhà nước”, của chủ biên Trần Quang

Hiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2017;

Đề tài “Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự” của Chủ biên: Trần Viết Long và tập thể tác giả Học viên Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2007;

Luận văn Thạc sĩ: “Quản lý về TTATXH của lực lượng công an ở quận

Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay” của Nguyễn Quốc Việt, bảo vệ tại

trường Học viện báo chí và tuyên truyền, 2017

Những công trình trên chính là cơ sở lý luận để tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện nội dung của luận văn này

Các Luận ánTiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ trước đây các tác giả đã nghiên cứu đến quản lý về ANTT trên một số quận, huyện thuộc thành phố Hà Nội Tuy nhiên, mỗi địa bàn khác nhau lại có các đặc điểm, biện pháp quản lý về ANTT khác nhau và cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên

sâu, toàn diện về đề tài: “Quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an ở

huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay” Khẳng định, luận văn này là

công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích đánh giá thực trạng nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý về ANTT của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

Trang 10

Một là, Làm rõ cơ sở lý luận quản lý về ANTT của lực lượng Công

an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay

Hai là, Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý về ANTT ở huyện

Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay

Ba là, Phân tích phương hướng, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý

về ANTT của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý về ANTT của lực lượng Công

an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý về ANTT của lực lượng Công an huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội Luận văn không đề cập đến Công an xã, thị trấn

- Về thời gian: Từ năm 2015 đến nay

- Về không gian: Trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng ta về quản lý xã hội và quản lý ANTT

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học mác- xít Bên cạnh đó, đề tài luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được dùng để nghiên cứu các công

Trang 11

trình khoa học đã được công bố, sách, giáo trình liên quan đến quản lý nhà nước về ANTT Thu thập những tài liệu, báo cáo tổng kết và kết quả khảo sát thực tế về tình hình ANTT và quản lý xã hội trên lĩnh vực này ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng kết thực tiễn được sử dụng để đánh giá, nhận xét về những ưu điểm và hạn chế trong quản lý xã hội về ANTT của lực lượng Công an huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, hỏi ý kiến chuyên gia, người có kinh nghiệm…để nghiên cứu đề tài

6 Những đóng góp mới của đề tài

Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý về ANTT của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn làm phong phú hơn những lý luận của công tác quản lý về an ninh trật tự, từ đó, giúp cho cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an nhân dân rút ra nhận thức chung về vấn đề này để từng bước tăng cường quản lý về

an ninh trật tự

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần tổng kết thực tiễn quản lý về ANTT ở huyện Thường Tín, những giải pháp trong luận văn sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học trong chỉ đạo thực tiễn lực lượng Công an ở huyện Thường Tín tổ chức quản lý về ANTT trong thời gian tới

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 03 chương, 07 tiết

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ

CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN HUYỆN

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm Quản lý và Quản lý nhà nước

Ở mỗi một giai đoạn lịch sử nhất định, mỗi quốc gia sẽ quản lý nhà nước riêng của mình, tùy thuộc theo sự thay đổi của những yếu tố kinh tế xã hội, chính trị nhất định

Quản lý nhà nước là sự tác động, điều chỉnh, sự sắp xếp mang tính quyền lực nhà nước, thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước, bằng các cách thức, các công cụ đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo đường lối, chủ trương chính sách, quan điểm của một chính đảng, của giai cấp cầm quyền

Từ đó, có thể thấy rằng: Quản lý chính là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý bằng các biện pháp và cách thức khác nhau nhằm đạt được mục đích đề ra, trong đó, chủ thể quản lý là cơ quan, tổ chức, các cá nhân có thẩm quyền; đối tượng quản lý là các hành vi của con người có liên quan và các quá trình xã hội Các yếu tố chủ yếu tác động đến quá trình quản lý bao gồm: con người, chính trị, tổ chức, quyền uy

và yếu tố thông tin

Có thể hiểu: Thực chất của việc quản lý xã hội là quản lý con người đang tham gia các quan hệ xã hội Do đó, đây là hoạt động quản lý bao trùm,

có nội dung, có phương pháp và phạm vi rộng, trong đó, quản lý nhà nước là hoạt động quản lý quan trọng nhất

Quản lý nhà nước là hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước thực hiện tổ chức, phối hợp, điều hành các quá trình xã hội, hoạt động của tập thể,

Trang 13

cá nhân, nhằm đạt được mục tiêu đề ra dựa trên những quy phạm pháp luật và truyền thống văn hóa của dân tộc Hiệu quả quản lý của nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau:

- Tính thống nhất, chặt chẽ và đầy đủ của các quy định trong hệ thống pháp luật;

- Năng lực tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước trên cương vị

là những người thực hiện quản lý trực tiếp;

- Trình độ văn hóa của người dân, hiểu biết về pháp luật, đời sống xã hội của các đối tượng quản lý;

- Biện pháp, cách thức huy động phối hợp giữa các lực lượng trong xã hội để giải quyết các vấn đề đặt ra;

- Tính tự giác của đối tượng quản lý trong việc nghĩa vụ của mình Trên khía cạnh chủ thể quản lý nhà nước, khái niệm quản lý nhà nước

có thể được hiểu theo hai nghĩa sau:

Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của

bộ máy Nhà nước, bao gồm sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên

3 phương diện: lập pháp, hành pháp, tư pháp Theo đó, hoạt động quản lý nhà nước ở Việt Nam được hiểu là: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ”

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là quá trình tổ chức điều hành, của các cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và tất cả hành

vi hoạt động của con người trên cơ sở các quy phạm pháp luật nhằm đạt được mục tiêu nhà nước đề ra Thêm vào đó, các cơ quan nhà nước còn điều hành, xây dựng và củng cố bảo vệ chế độ nội bộ Cụ thể là, nhà nước ban hành quy chế làm việc; đưa ra các quyết định chia tách, thành lập các đơn vị thuộc tổ chức bộ máy, khen thưởng hoặc kỷ luật công chức, viên chức v.v…

Như vậy có thể thấy:

Quản lý nhà nước là hoạt động chủ yếu của các cơ quan nhà nước dựa

Trang 14

trên những quy định của hệ thống pháp luật nhằm tổng hợp sức mạnh của toàn xã hội để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước

1.1.1.2.Khái niệm An ninh, trật tự

An ninh, trật tự là cách viết ngắn gọn của cụm từ an ninh quốc gia, trật

tự an toàn xã hội Định nghĩa trên được nêu ra tại khoản 1 Điều 4 Nghị định

96/2016/NĐ–CP quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành,

nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Trong một số tài liệu, từ điển, bài viết thuật ngữ “an ninh quốc gia” được hiểu một cách phổ biến là sự ổn định phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc An ninh quốc gia bao gồm an ninh trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa, xã hội, quốc phòng, đối ngoại trong đó an ninh chính trị là cốt lõi, xuyên suốt Theo đó, công tác đảm bảo an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm hại đến an ninh quốc gia

Trật tự an toàn xã hội là nói đến tình trạng ổn định, có trật tự, kỷ cương của xã hội Trật tự kỷ cương đó được xác lập trên cơ sở các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức truyền thống được mọi người trong xã hội thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ và nhờ đó mà mọi người có được cuộc sống yên ổn Hay nói khác đi, Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người có cuộc sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định Theo đó, công tác đảm bảo Trật tự an toàn xã hội là giữ gìn trạng thái bình yên, an toàn, có trật tự, kỷ cương của xã hội, là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn và các hành vi

vi phạm pháp luật có ảnh hưởng đến trạng thái đó

Như vậy, theo tác giả góc độ đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn

Trang 15

xã hội, khái niệm an ninh, trật tự được định nghĩa như sau: Là những biểu

hiện nhằm duy trì trật tự và bảo vệ đất nước khỏi những mối đe dọa, đồng thời đem lại sự bình yên và giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong xã hội hiện nay An ninh, trật tự vừa là cơ sở, vừa là nền tảng để phát triển một đất nước giàu mạnh Do vậy mỗi chính quyền nhà nước cần có những thay đổi, bổ sung phát triển an ninh trật tự một cách bền vững và tốt đẹp.Bảo vệ

an ninh, trật tự là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt và có chức năng tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự công cộng, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, tham gia phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường

Nhận thấy rằng ở góc độ nghiên cứu nào, chúng ta đều nhận thấy có sự thống nhất về nội hàm của khái niệm An ninh trật tự, được thể hiện ở các dấu hiệu sau:

- Là trạng thái giữ vững được độc lập chủ quyền quốc gia, trật tự, kỷ cương bình yên trong xã hội;

- An ninh, trật tự chỉ đạt tới độ bền vững trên cơ sở sự tự giác tuân thủ các quy phạm pháp luật, đạo đức của công dân trong xã hội;

- Là kết quả của công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch; đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội; công tác quản lý giữ gìn trật tự trên các lĩnh vực của đời sống xã hội;

- Đảm bảo an ninh trật tự là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong

đó lực lượng Công an nhân dân là nòng cốt

1.1.1.3 Khái niệm Quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng công

an huyện

Trong từ điển Bách khoa CAND, thì khái niệm QLNN về ANTT “là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành

Trang 16

pháp luật nhằm bảo vệ an ninh, trật tự” [01,tr948]

Quản lý về ANTT của lực lượng Công an là một bộ phận quan trọng của QLNN nói chung; là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực của Nhà nước, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là sự tồn vong của chế độ chính trị; do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực QLNN về ANTT mà lực lượng nòng cốt là lực lượng Công an nhân dân tiến hành các hoạt động trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội; duy trì pháp luật về ANTT, góp phần chủ động phòng ngừa; ngăn chặn; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động xâm phạm ANTT; tạo môi trường ổn định trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Quản lý về ANTT là hoạt động quản lý nhà nước đa ngành; đa lĩnh vực; tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Quản lý về ANTT trên địa bàn hành chính cấp (Quận, Huyện, Thị xã) khác với Quản lý về ANTT đối với đối tượng, lĩnh vực, mục tiêu ở chỗ địa bàn cấp hành chính là nơi diễn ra các vấn đề phức tạp về dân cư, văn hóa, kinh tế xã hội…; là nơi bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến lĩnh vực, đối tượng, mục tiêu trên địa bàn Quản lý về ANTT của lực lượng Công an tại địa bàn cấp hành chính được thể hiện phổ biến ở hai dạng là cấp tỉnh và cấp huyện Theo khoản 1 – Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và theo quy định tại Điều 2 của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cấp huyện là từ dùng để chỉ đơn vị hành chính cấp hai được xác định theo địa giới hành chính sau đơn vị hành chính cấp một gồm tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương Cấp huyện bao gồm có quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trong Khoa học An ninh, ANTT trên địa bàn cấp huyện được hiểu là

sự ổn định tình hình về chính trị, kinh tế, an ninh - quốc phòng, xã hội trên

Trang 17

phạm vi địa bàn của một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện các đường lối, chủ trương; chương trình; chính sách phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của Đảng

và Nhà nước trên địa bàn cấp huyện Tất cả các hoạt động của đời sống kinh

tế -xã hội trong địa bàn cấp huyện đều được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật và theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội

Như vậy qua nghiên cứu trên, ta có thể định nghĩa: Quản lý về an ninh,

trật tự của lực lượng Công an huyện là sự tác động liên tục, có chủ đích của Công an huyện đến đối tượng quản lý và các khách thể có liên quan trong lĩnh vực giữ gìn an ninh, trật tự nhằm bảo đảm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện

Qua khái niệm trên, ta thấy quản lý về ANTT của lực lượng Công an huyện có những đặc điểm sau đây:

- Là sự tác động có tổ chức, có hệ thống và bằng pháp luật của của chủ thể quản lý - Công an huyện vào tất cả các yếu tố cấu thành nên an ninh trật

tự, nhằm điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội, hành vi xã hội đản bảo vững chắc trật tự an toàn xã hội

- Đối tượng quản lý về ANTT là tất cả tổ chức, cá nhân tham gia vào mối quan hệ thuộc lĩnh vực về ANTT

- Khách thể quản lý về ANTT là trật tự an ninh chính trị, trật tự xã hội trong lĩnh vực ANTT

1.1.2 Đặc điểm quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công

an huyện

1.1.2.1.Đặc điểm về chủ thể quản lý:

Lực lượng Công an huyện với tư cách là một cấp cơ quan hành chính đặt tại địa bàn huyện, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức, phối hợp với các lực lượng chức năng để đảm bảo ANTT trên địa bàn huyện Công an huyện là lực

Trang 18

lượng chủ trì triển khai hoạt động quản lý về ANTT theo phân công, phân cấp của Công an cấp trên, đồng thời có trách nhiệm tham mưu, báo cáo trước HĐND, UBND cấp huyện về công tác đảm bảo ANTT Theo đó lực lượng Công an cấp huyện thực hiện công tác đảm bảo ANTT thông qua triển khai các biện pháp như: Quản lý hành chính về TTATXH; quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, đảm bảo trật tự công cộng, an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy; phòng, chống tệ nạn và ngăn ngừa tội phạm Lực lượng Công an cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với các lực lượng khác tại địa phương như: Quân sự, Bộ độ Biên phòng, thuế, vụ quản lý thị trường tổ chức triển khai công tác đảm bảo ANTT tại địa phương Để tổ chức hoạt động quản lý, các đơn vị chuyên trách trực thuộc Công an huyện được phân công nhiệm vụ trực tiếp thực hiện QLNTT

về ANTT trên địa bàn huyện gồm: Đội tổng hợp, Đội An ninh, Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về kinh tế - ma túy - môi trường, Đội xây dựng phong trào và phụ trách xã về ANTT, Đội Cảnh sát giao thông – trật tưu – cơ động, Đội điều tra tổng hợp, Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Lực lượng Công an huyện còn có nhiệm vụ thực hiện QLNN về ANTT đối với lĩnh vực, đối tượng theo

sự phối hợp, chỉ đạo của các đơn vị nghiệp vụ cấp trên của Công an thành phố như: PA61, PA72, PA83, PA88, PC64, PC67…

1.1.2.2.Đặc điểm về đối tượng quản lý

Các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân (cả người Việt Nam và Nước ngoài) đang cư trú, sinh sống, hoạt động trên địa bàn cấp huyện có hành vi, các hoạt động liên quan đến ANQG, TTATXH Tất cả các tổ chức, cá nhân này là đối tượng của quản lý về ANTT khi tham gia vào các hoạt động có liên quan đến ANTT trên địa bàn cấp huyện như: Hoạt động xuất nhập cảnh; hoạt động kinh doanh ngành, nghề có điều kiện về ANTT (Khách sạn, nhà hàng,

Trang 19

khắc con dấu…); hoạt động liên quan đến biên giới, dân tộc, tôn giáo; phòng

cháy chữa cháy, quản lý vũ khí, công cụ hỗ trợ…

là hệ thống các mối quan hệ xã hội và hành vi của con người cần phải tiến

hành tác động bằng quyền lực nhà nước góp phần đảm bảo ANTT

1.1.3 Vai trò của quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công

an huyện

Công an huyện là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, công tác tại địa bàn huyện có chức năng tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền huyện và Công an tỉnh/ thành phố về công tác đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn huyện; đóng vai trò nòng cốt trong phòng chống tội phạm, vừa thực hiện quản

lý về an ninh quốc gia, gìn giữ trật tự an toàn xã hội; đồng thời chịu sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy Đảng, chính quyền huyện và sự chỉ đạo về nghiệp vụ của Công an cấp trên; hướng dẫn chỉ đạo về nghiệp vụ cho Công an

xã trong phòng chống tội phạm đảm bảo ANTT ở huyện Hoạt động quản lý Nhà nước của công an huyện bao gồm tổng hợp các biện pháp, cách thức tác động trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình nhằm bảo đảm tốt ANQG, TTATXH tại địa phương Từ đó, có thể chỉ ra vai trò quan trọng của lực lượng công an huyện cụ thể như sau:

Trang 20

Một là, quản lý về an ninh trật tự của Công an huyện góp phần bảo đảm sự ổn định, phát triển về mọi mặt tại địa phương

Có nhiều yếu tố khác nhau để giúp địa phương phát triển, trong đó vấn

đề đảm bảo an ninh, trật tự sẽ làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội là một nhiệm vụ mang tính chiến lược Công tác đảm bảo ANTT ở địa phương có sự tham gia của nhiều lực lượng với chức năng nhiệm vụ khác nhau, trong đó có lực lượng Công an huyện Thấy rõ vai trò của Công an huyện trong việc đảm bảo cho sự hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan tổ chức, ban ngành, đoàn thể, góp phần giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân và các diễn biến phức tạp về ANTT trong cộng đồng cư dân tại địa bàn

Tiến hành các hoạt động quản lý Nhà nước trong phòng ngừa tội phạm

ở cơ sở, Công an huyện phát huy vai trò là lực lượng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, huy động các cấp ngành, nhân dân tham gia, thông qua tổng hợp các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa,pháp luật, nghiệp vụ tạo sự ổn định

và phát triển của địa phương Đồng thời, hoạt động quản lý nhà nước của Công an huyện góp phần xây dựng hệ thống chính quyền cơ sở vững mạnh, lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra

Hai là, quản lý về an ninh trật tự của lực lượng Công an huyện taoj kinh

tế cao và tính nhân văn sâu sắc

Với chức năng nhiệm vụ của mình, lực lượng Công an huyện tiến hành các hoạt động phòng ngừa, không để tội phạm xảy ra, bảo vệ tài sản của nhà nước và nhân dân; không những đảm bảo tài sản về vật chấttrong quá trình đấu tranh xử lý tội phạm mà còn đảm bảo sự ổn định xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trên địa bàn

Bên cạnh đó, quản lý về an ninh trật tự của công an huyện cũng mang tính nhân đạo sâu sắc trong phòng ngừa tội phạm tại địa bàn cơ sở Phòng

Trang 21

ngừa tội phạm là không để một công dân nào phải chịu hình phạt của pháp luật bởi những hành vi phạm tội Đối với xã hội là không để các hành vi phạm tội xảy ra Nếu biết phòng ngừa điều chỉnh bằng những biện pháp thích hợp nhằm loại trừ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội thì hành vi phạm tội sẽ không xảy ra Mặt khác, một người có hành vi phạm tội thì cần có biện pháp

xử lý, cải tạo, giáo dục để giúp họ trở thành người có ích Đây chính là biện pháp phòng ngừa tích cực nhân đạo Lực lượng Công an huyện từng bước loại

bỏ đi được các nguyên nhân, điều kiện phạm tội chính là đã dần xây dựng được môi trường sống lành mạnh, mọi công dân được sống, lao động, học tập

và phát triển, không có người phạm tội và bị pháp luật xử lý

Ba là, quản lý về an ninh trật tự của lực lượng Công an huyện góp phần tích cực vào việc phát hiện, ngăn chặn tội phạm và làm giảm tội phạm

trong cộng đồng dân cư, giữ gìn an ninh, trật tự

Công an huyện là lực lượng trực tiếp phát hiện và ngăn chặn hành vi phạm tội xảy ra trên địa bàn huyện Họ không những phát huy sức mạnh của các chủ thể phòng ngừa tội phạm để quản lý, giáo dục người lầm lỗi, người

có quá khứ phạm tội, vi phạm pháp luật để họ trở thành công dân có ích mà còn tuyên truyền, vận động người dân hiểu và tự giác chấp hành pháp luật, xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, góp phần làm giảm tội phạm

Với vai trò là chủ thể trực tiếp trong phòng ngừa tội phạm ở địa phương, Công an huyện thực hiện chức năng tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp tổ chức các biện pháp phòng ngừa tội phạm Đây là lực lượng chủ động nắm tình hình mọi mặt đời sống xã hội có liên quan đến an ninh, trật tự; tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các biện pháp về phòng ngừa tội phạm; tổ chức điều tra, nghiên cứu, nắm tình hình về tình trạng phạm tội, những hành vi vi phạm pháp luật, biện pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả; tổ chức quản lý, giáo dục, vận động quần chúng tham gia phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm

Trang 22

1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp và biện pháp nghiệp vụ quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện

1.2.1 Nguyên tắc quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện

Một là, Nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp

Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, chủ đạo và chi phối các nguyên tắc khác Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, đối với sự nghiệp quốc phòng

và an ninh”.[4,tr 10]

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII là bước phát triển tư duy

lý luận của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên một tầm cao mới, phù hợp với tình hình thực tiễn trong giai đoạn cách mạng hiện nay Việc quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó có lực lượng Công an nhân dân Theo đó, các cấp ủy, lãnh đạo Công an các đơn vị, địa phương chủ động xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện 4 nhóm giải pháp cơ bản được đề ra trong Nghị quyết đến từng tổ chức cơ sở Đảng, Đảng viên, cán

bộ, chiến sĩ Công an, gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày

15/05/2016, của Bộ Chính trịvề “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,

đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”và các cuộc vận động, phong trào thi đua

trong Công an nhân dân, tạo thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn lực lượng

Khi thực hiện công tác quản lý về ANTT, các cấp ủy Đảng cần nắm rõ chức năng lãnh đạo của mình với chức năng quản lý của cơ quan Nhà nước, không biến các tổ chức Đảng thành các cơ quan hành chính, nhưng cũng không khoán trắng cho chính quyền, cho các cơ quan chuyên môn Đảng lãnh

Trang 23

đạo bằng đường lối chính sách và công tác giám sát, kiểm tra hoạt động quản

lý Nhà nước trên lĩnh vực này

Hai là, Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Các hoạt động quản lý về ANTT trên địa bàn cấp huyện là hệ thống các quy định của Hiến pháp; các Bộ luật; Luật và văn bản dưới luật có liên quan đến các nội dung khác nhau của công tác đảm bảo ANTT Đây là các quy định cụ thể đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo vệ tổ quốc nói chung và đảm bảo ANQG, giữ gìn TTATXH nói riêng Đây là các công cụ hữu hiệu để các chủ thể quản lý về ANTT tại địa bàn cấp huyện nhất là lực lượng Công an huyện tổ chức triển khai các biện pháp đảm bảo ANTT trên địa bàn huyện đó

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý về trật tự an toàn

xã hội đòi hỏi quá trình xây dựng các văn bản pháp luật về ANTT phải kịp thời, thống nhất và tương đối ổn định, đáp ứng yêu cầu của công tác ANTT đặt ra Nguyên tắc này cũng đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, tuyên truyền phổ biến ý thức pháp luật cho công dân, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm ANTT

Ba là, Nguyên tắc tập trung dân chủ

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là cơ sở bảo đảm hàng đầu để giữ vững bản chất cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng Việc xem nhẹ, hạ thấp cũng như nhận thức không thấu đáo, thực hiện không đến nơi đến chốn nguyên tắc này không chỉ làm tổn hại đến vị thế, sức mạnh của Đảng, mà còn là một trong những căn nguyên dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên

Xác định rõ tầm quan trọng đó, thời gian qua, Đảng bộ Công an Trung ương đã thực sự coi trọng công tác xây dựng Đảng, tập trung xây dựng Đảng

bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; quán triệt sâu sắc nguyên tắc

Trang 24

tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, thực hiện nghiêm túc kiểm điểm tự phê bình và phê bình hằng năm Trong đó, Bộ Công an đã quyết liệt chỉ đạo các Cục, Công an các Tỉnh đặc biệt chú trọng xây dựng quy định, quy chế nội bộ, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong đơn vị cơ sở, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng, xác định rõ thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác, trách nhiệm tập thể và thẩm quyền cá nhân, trách nhiệm người đứng đầu được đẩy mạnh Nhất là chú trọng tăng cường phân cấp ở một số lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm, dễ nảy sinh tiêu cực, như hậu cần, quản lý dự án, quản lý biên chế, công tác tuyển dụng, và bổ nhiệm cán bộ trong công an nhân dân nhằm tạo nên khối đoàn kết trong mỗi đơn vị

Bốn là, Nguyên tắc kết hợp theo ngành và theo lãnh thổ

Đây là nguyên tắc khách quan và cần thiết, xuất phát từ đặc điểm quản

lý về ANTT, từ mô hình tổ chức thực tiễn của lực lượng Công an Bộ công an thực hiện chức năng quản lý về ANTT trên phạm vi cả nước bằng việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch quản lý tầm vĩ mô Công an các cấp được tổ chức theo nguyên tắc song trùng trực thuộc, cụ thể là: Chịu sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng chính quyền cùng cấp và chịu sự chỉ đạo chuyên môn nghiệp

vụ của Công an cấp trên Do đó, cần phải quán triệt nguyên tắc kết hợp quản

lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ, trong đó quản lý theo ngành

là chủ yếu

1.2.2 Nội dung quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện

Quản lý về ANTT trên địa bàn cấp huyện được tổ chức tiến hành trên tất cả các lĩnh vực có liên quan đến ANTT và có thể được chia thành hai lĩnh vực chính đó là: Quản lý về ANQG và quản lý về TT ATXH Cụ thể như sau:

+ Quản lý về ANQG trên địa bàn cấp huyện gồm có: Quản lý về an

ninh chính trị nội bộ, quản lý về an ninh Kinh tế, quản lý về an ninh Văn hóa

Trang 25

Tư tưởng, quản lý về an ninh Thông tin, quản lý về về bảo vệ BMNN, quản

lý đối với hoạt động xuất, nhập cảnh và quản lý người nước ngoài, quản lý về

an ninh xã hội, quản lý về an ninh tôn giáo, dân tộc… theo sự phân cấp của tỉnh/Thành phố

+ Quản lý về TTATXH trên địa bàn cấp huyện bao gồm: Quản lý về cư

trú, nhân khẩu, hộ khẩu; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; quản lý phòng cháy, chữa cháy; quản lý các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; quản

lý trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị; trật tự công cộng, quản lý phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, quản lý về môi trường, giáo dục đối tượng…

Căn cứ trên cơ sở các quy định tại Điều 29 - Luật ANQG năm 2013; Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 của Chính phủ “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an”; Quyết định số 1727/QĐ-BCA ngày 07/04/2015 “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của bộ máy Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” Để thực hiện các nội dung quản lý nêu trên, chủ thể quản lý về ANTT sẽ tiến hành những nội dung quản lý cụ thể sau:

- Tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện xây dựng, soạn thảo kế hoạch,

đảm bảo ANTT trên địa bàn cấp huyện Dựa trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp Luật của Nhà nước, các quy định của ngành Công an, quy định của chính quyền cấp huyện, căn cứ vào tình hình thực tiễn về ANQG, TTATXH của đất nước, của địa phương trong từng thời kỳ để xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ANQG, đảm bảo TTATXH thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính cấp huyện;

- Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến; tổ chức hướng dẫn các cơ quan

Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân trên địa bàn thực hiện đúng pháp luật về bảo vệ ANQG, đảm bảo TT ATXH;

- Hướng dẫn và trực tiếp thực hiện các biện pháp bảo vệ ANTT: Thu thập,

Trang 26

xử lý thông tin tài liệu; hành vi có liên quan đến hoạt động xâm phạm ANQG, TTATXH trên địa bàn cấp huyện, phục vụ QLNN về ANTT tại cấp huyện;

- Tổ chức thẩm định, xét duyệt và cấp phép đối với các lĩnh vực liên

quan đến ANTT; tham mưu cho các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép đối với các lĩnh vực liên quan đến ANTT;

- Kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về ANTT; giải quyết khiếu nại, tố

cáo trong hoạt động bảo vệ ANTT trên địa bàn cấp huyện theo sự phân cấp của Công an Thành phố;

- Xây dựng, tổ chức bộ máy, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ

Công an cấp huyện thực hiện nhiệm vụ QLNN về ANTT trên địa bàn huyện; đảm bảo các điều kiện hoạt động về QLNN về ANTT trên địa bàn huyện

1.2.3 Phương pháp và các biện pháp nghiệp vụ quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện

Phương pháp quản lý về ANTT là hệ thống các cách thức mà chủ thể quản lý lựa chọn để tác động đến đối tượng quản lý nhằm mục đích đạt được các biện pháp đã đề ra sau:

Một là, phương pháp giáo dục, thuyết phục

Là cách thức chủ thể quản lý về ANTT trên địa bàn cấp huyện dùng lời nói, hành động, việc làm giải thích, tuyên truyền tác động đến tư tưởng, tình cảm, nhận thức của đối tượng quản lý, chứng minh làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ và tự giác chấp hành nghiêm túc các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ ANTT trên địa bàn cấp huyện; nâng cao ý thức cảnh giác,đấu tranh lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng, lật đổ chế độ XHCN Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng nói nói: “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Vì vậy, công tác giáo dục, tuyên truyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tư tưởng có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp

Trang 27

luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân Tuyên truyền gắn liền với cổ động, nên tuyên truyền còn là sự cổ vũ, động viên, thúc đẩy quần chúng hăng hái tham gia các phong trào, biến nhận thức, niềm tin thành nhiệt huyết của quảng đại quần chúng, thành hành động cách mạng Công tác tuyên truyền còn giúp uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựng con người mới, cuộc sống mới Đồng thời góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin, giáo dục lý luận, đạo đức, lối sống, lẽ sống; bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân

và xử lý vi phạm; thực hiện các chế độ báo cáo về công tác bảo vệ ANTT ở địa bàn huyện; xây dựng chương trình, kế hoạch đảm bảo biên chế, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ bảo vệ ANTT trên địa bàn huyện

Là cách chủ thể quản lý sử dụng lợi ích kinh tế làm đòn bẩy, tạo động lực cho đối tượng quản lý Nội dung của biện pháp này là: lực lượng Công an huyện khuyến khích, động viên các tổ chức, cá nhân trong quần chúng nhân dân có thành tích, tích cực tham gia bảo vệ ANTT trên địa bàn huyện; Phòng

Trang 28

ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm trên địa bàn huyện bằng các lợi ích kinh tế Đời sống kinh tế thị trường hiện nay thì phương pháp kinh tế là cần thiết tuy nhiên chủ thể quản lý cần vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt và nên kết hợp với phương pháp giáo dục, thuyết phục để đạt hiệu quả cao nhất

Bốn là, phương pháp cưỡng chế

Lực lượng Công an ở huyện quản lý về ANTT trên địa bàn huyện sử dụng thẩm quyền theo quy định của Nhà nước buộc các cá nhân, tổ chức phải chấp hành các quyết định đơn phương của Công an huyện trong các trường hợp cá nhân, tổ chức không tự giác chấp hành pháp luật theo quy định hoặc vi phạm hành chính Cụ thể là buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định về mặt tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân Có bốn loại cưỡng chế nhà nước Công an huyện áp dụng: Cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân sự, cưỡng chế kỷ luật và cưỡng chế hành chính

Năm là,các biện pháp nghiệp vụ

Công an huyện sử dụng các biện pháp, công tác nghiệp vụ của ngành Công an để thu thập, xử lý thông tin, tình hình phục vụ quản lý và để kiểm soát, tác động, điều chỉnh hoạt động có liên quan đến ANTT của các đối tượng trọng điểm Các biện pháp, công tác mà lực lượng Công an huyện sử dụng bao gồm: Điều tra cơ bản, Quản lý nghiệp vụ, Sưu tra, Kỹ thuật nghiệp

vụ, hiềm nghi; xây dựng và sử dụng lực lượng bí mật (đặc tình, cơ sở bí mật); trinh sát ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật nghiệp vụ…Các phương pháp và kỹ thuật quản lý nghiệp vụ cụ thể là những phương pháp, kỹ thuật thực hiện chức năng cụ thể như kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng quản lý sự thay đổi, giao việc-

ủy quyền, quản lý thời gian Vậy nên đòi hỏi bản thân mỗi cán bộ chiến sỹ Công an huyện cần rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để

Trang 29

đáp ứng yêu cầu công tác của đơn vị Cần vận dụng linh hoạt trong những tình huống cụ thể để đạt kết quả cao nhất trong công tác quản lý của mình

Tóm lại, trong thực tiễn quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công

an huyện không thể tuyệt đối hoá một phương pháp nào đó mà phải có quan điểm tổng hợp, phải biết kết hợp nhịp nhàng và linh hoạt các phương pháp quản lý với nhau để nâng cao hiệu quả quản lý bởi lẽ: Đối tượng quản lý là những hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yếu tố và nhiều mối quan hệ tồn tại

và phát triển trong môi trường luôn biến động; tất cả các phương pháp quản

lý đều hướng về con người mà bản chất con người là tổng hòa các mối quan

hệ xã hội, con người hoạt động vì nhiều động cơ nên phải vận dụng tổng hợp các phương pháp; mỗi phương pháp quản lý đều có ưu nhược điểm riêng cần kết hợp lại để bổ sung cho nhau Tuy nhiên, chủ thể quản lý cần nghiên cứu

và chọn một phương pháp quản lý chủ đạo làm từ tưởng quản lý sao cho phù hợp với đối tượng quản lý, phát huy tốt nhất nội lực của từng cá nhân để tạo thành công cho đơn vị

1.3 Cơ sở chính trị, pháp lý trong quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện

1.3.1 Về cơ sở chính trị của quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an huyện

Đảng ta luôn xác định, công tác bảo vệ ANTT là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân

và chế độ XHCN; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, đảm bảo ANQG và TTATXH; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân

ta Quan điểm, chính sách của Đảng về công tác bảo vệ ANTT được thể hiện

rõ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và các Chỉ thị, Nghị quyết như:

Trang 30

Nghị quyết số 40-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 08/11/2004 về nâng cao chất lượng hiệu quả công tác trong tình hình mới; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 22/06/2015

về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo ANTT trong tình hình mới….Trên cơ sở nghiên cứu nội dung các văn bản nêu trên có thể xác định quan điểm, chính sách của Đảng về ANTT làm cơ sở cho quản lý về ANTT trên địa bàn cấp huyện như sau:

+ Công tác bảo vệ ANTT phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; Các cấp ủy Đảng phải thường xuyên đề cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ ANTT và xây dựng lực lượng CAND toàn diện

+ Tăng cường quốc phòng, giữ vững ANQG, TTATXH là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng chủ công, nòng cốt

+ Công tác bảo vệ ANTT phải bám sát và phục vụ đắc lực việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Lực lượng CAND phải phối hợp chặt chẽ với các tổ chức trong hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự chỉ đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận

an ninh nhân dân vững chắc

+ Kết hợp chặt chẽ kinh tế với Quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn

+ Chủ động tiến công và tích cực phòng ngừa, không để bị động, bất ngờ; lấy giữ vững bên trong là chính, kịp thời phát hiện và ngăn chặn những

Trang 31

nhân tố có thể dẫn đến những đột biến bất lợi, không để hình thành các tổ chức phản động, không để xảy ra biến động chính trị xã hội, bạo loạn lật đổ

+ Giữ vững nguyên tắc, đồng thời có sách lược mềm dẻo, linh hoạt và khôn khéo, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế và mọi giai tầng trong

xã hội

+ Chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng CAND thực

sự trong sạch, vững mạnh, không ngừng đổi mới các mặt hoạt động của lực lượng CAND để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ ANTT trong mọi tình huống

Tư tưởng chỉ đạo của Bộ Công an trong quản lý về ANTT

Một là; Lãnh đạo Bộ Công an luôn coi tư tưởng “Chủ động tiến công, chủ động phòng ngừa, lấy chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong làm chính” xuyên suốt trong hoạt động quản lý về ANTT, là quan điểm trọng tâm,

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH; trong đó tập trung làm tốt công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước, lãnh đạo

Bộ Công an sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ ANQG; trực tiếp xây dựng, ban hành các chủ trương, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo tính khả thi, hiệu quả trong hoạt động quản lý về ANTT Tăng cường hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng nâng cao hiểu biết pháp luật, tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với các loại tội phạm;

Hai là; Vận dụng và tiếp thu các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà

nước trong văn kiện Đại hội XII, lãnh đạo Bộ Công an chỉ đạo đối với hoạt động quản lý về ANTT, lực lượng Công an nhân dân cần thực hiện tốt tư

tưởng “Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,

phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại”

Trong đó tập trung phát huy mạnh mẽ nội lực là nhân tố cơ bản quyết định,

Trang 32

đồng thời tranh thủ tối đa mọi thuận lợi giúp đỡ từ bên ngoài Gắn kết nhiệm

vụ phát triển kinh tế với nhiệm vụ phát triển Đảng;

Ba là; Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ

thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, lực lượng

CAND làm nòng cốt trong cuộc vận động “toàn dân tham gia phong trào bảo

vệ an ninh tổ quốc” Tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, xây dựng thế

trận ANND, thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh phục vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH trong từng giai đoạn;

Bốn là; Nâng cao chất lượng tốt công tác dự báo, thu thập thông tin,

nắm tình hình liên quan đến ANTT trên địa bàn nhằm chủ động phòng ngừa, phát hiện đấu tranh kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch

và các loại tội phạm nhằm xâm phạm ANQG, TTATXH Tăng cường tiềm lực cho lực lượng CAND đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới

1.3.2 Cơ sở pháp lý của quản lý về an ninh, trật của lực lượng Công

an huyện

Hệ thống cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý về ANTT thể hiện như sau:

Thứ nhất; Các quy định của pháp luật xác định nhiệm vụ, quyền hạn

của lực lượng CAND trong quản lý về ANTT trên địa bàn huyện

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (Luật số 77/2015/QH13 do Quốc hội khóa XIII ban hành ngày 19/06/2015, có hiệu lực

từ ngày 01/01/2016): Trong quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện gồm có HĐND và UBND huyện đã có những quy định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực ANQG và TTATXH Điển hình như: Tại Điểm b, Khoản 1, Điều 26 đã quy định:

“Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong

Trang 33

phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo

hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật”

Hay tại Khoản 4, Điều 28 đã quy định UBND được: “Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”

Các quy định pháp luật xác định nhiệm vụ, quyền hạn của CAND trong quản lý về ANTT được xác định tại luật CAND năm 2014; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, năm 2015; Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Nghị định số 106/2014/NĐ-CP ngày 27/11/2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an

Quyết định số 1727/QĐ-BCA ngày 07/04/2015 của Bộ trưởng Bộ Công

an xác định “Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thuộc hệ thống tổ chức của CAND là cấp trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật về ANTT xảy ra ở cơ sở, có trách nhiệm tham mưu cho Giám đốc công an thành phố, tỉnh, Huyện ủy, UBND huyện về bảo vệ ANQG

và đảm bảo TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật trên địa bàn huyện: trực tiếp đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm vi phạm pháp luật về ANQG, TTATXH; tổ chức xây dựng lực lượng Công an huyện cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại”;

Thứ hai; Cơ sở pháp lý của hoạt động QLNN về ANTT trên địa bàn

cấp huyện còn có các Bộ luật, Luật và văn bản dưới luật liên quan đến công tác đảm bảo ANTT điển hình như: Bộ luật Hình sự, Bộ Luật Tố tụng Hình sự,

Trang 34

Luật Cư trú, Luật tổ chức điều tra Hình sự; Pháp lệnh bảo vệ BMNN; Luật xử

lý vi phạm Hành chính; Luật Nhập cảnh, xuất cảnh (điển hình như Luật số 47/2014/QH13 ngày 16/06/2014 về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam)…;

Thứ ba, Các quy định xác định hành vi vi phạm pháp luật và chế tài xử

lý liên quan đến ANTT trên địa bàn huyện

Các quy định có liên quan tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vị phạm Hành chính trong lĩnh vực an ninh và TTATXH; Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 03/09/2009 quy định điều kiện về ANTT đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; Nghị định số 96/2016/NĐ-

CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về ANTT đối với một

số ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Thông tư số 35/2014/TT-BCA ngày 09/09/2014 của Bộ trưởng BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cư trú; Nghị định 46/2016-NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; Nghị định số 31/2014/NĐ-

CP ngày 18/04/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú; Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30/6/2011 quy định về quản lý, sử dụng vũ khí; vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP và Nghị định số 114/2015/NĐ-CP ngày 09/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 21 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp

Ngoài ra khi thực hiện các công tác nghiệp vụ của lực lượng An ninh, Công an cấp huyện cần căn cứ theo các Thông tư số 47, 48, 49, 50, 51,

Trang 35

53/TT-BCA-A61 ngày 05/11/2013; Chỉ thị số 12/CT-BCA-A61 ngày 06/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng An ninh; Khi thực hiện các công tác nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát, Công an huyện cần căn cứ theo chỉ thị số 02/CT-BCA-C41 và các Thông tư từ số 18 đến 22/TT-BCA-C41 của Bộ trưởng BCA quy định công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát…các văn bản trên là cơ sở pháp

lý để lực lượng Công an huyện chủ động nắm tình hình,xác định hành vi vi phạm, chế tài xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về ANTT ở địa bàn huyện

Như vậy, chúng ta thấy rằng cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý về ANTT trên địa bàn cấp huyện là hệ thống các quy định của Hiến pháp; các Bộ luật; Luật và văn bản dưới luật có liên quan đến các nội dung khác nhau của công tác đảm bảo ANTT Đây là các quy định cụ thể đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về bảo vệ tổ quốc nói chung và đảm bảo ANQG, giữ gìn TTATXH nói riêng Đây là các công cụ hữu hiệu để các chủ thể quản lý về ANTT tại địa bàn cấp huyện nhất là lực lượng Công an cấp huyện tổ chức triển khai các biện pháp đảm bảo ANTT trên địa bàn cấp huyện đó

Trang 36

cơ sở Theo đó, quản lý về ANTT của lực lượng công an huyện Thường Tín

là việc công an huyện Thường Tín được Nhà nước trao quyền quản lý về ANTT tổ chức lực lượng, phương tiện, biện pháp quản lý theo quy định của pháp luật

Đây là cơ sở để tác giả nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng hoạt động quản lý về ANTT của lực lượng công an huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội ở Chương 2

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỀ AN NINH, TRẬT TỰ CỦA

LỰC LƯỢNG CÔNG AN Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý về an ninh, trật tự của lực lượng Công an ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội hiện nay

2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Thường Tín

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Thường Tín nằm dọc Quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Hà Nội 20 km về phía Nam, có ranh giới tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp huyện Thanh Trì; phía Nam giáp huyện Phú Xuyên; phía Đông giáp huyện Văn Giang và huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, với dải ngăn cách tự nhiên là sông Hồng; phía Tây giáp huyện Thanh Oai

Có tổng diện tích tự nhiên là 127,59 km2, gồm 28 xã, 1 thị trấn và 197 làng, thôn; cụm dân cư, tổ dân phố; mật độ bình quân 1688 người/km2 Thường Tín nằm gần với các trung tâm kinh tế lớn, ở vị trí cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội Trên Huyện có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy song song với đường quốc lộ 1A dài 17km, chạy qua 9 xã từ xã Duyên Thái tới xã Minh Cường, trên tuyến có 2 nút giao cắt tại cầu vượt Khê Hồi; cầu vượt Vạn Điểm và 32 cống dân sinh Đường quốc lộ 1A chạy qua 11 xã, thị trấn trong huyện Điều kiện thuận lợi này đã giúp cho Thường Tín và vùng phụ cận trở thành đầu mối giao thông, địa phận thực hiện trung chuyển các loại hàng hóa giữa Hà Nội và các tỉnh phía Nam

Về thủy văn: Địa bàn huyện có 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng

và sông Nhuệ

Trang 38

- Tín ngưỡng, tôn giáo:

Trên địa bàn các xã của huyện Thường tín có 3 tôn giáo đang tồn tại hoạt động là Đạo phật; Đạo Thiên chúa và Đạo tin lành

Trong đó đạo phật có 131 chùa ở 29 xã, thị trấn với 146 tăng ni

Đạo thiên chúa hiện nay chiếm 11/29 xã, thị trấn với tổng số sộ là 3.371/65.837 giáo dân chiếm khoảng 5,28% dân số toàn huyện có 5 xứ chính

và 13 họ lẻ; có 4 linh mục; 16 nhà thờ, 3 nhà nguyện, 2 nhà thờ dòng với 26

nữ tu; Đảng viên là giáo dân có 133 người, sinh hoạt ở 16 chi bộ

Đạo Tin lành có 01 nhà thờ Tin lành ở xã Tự Nhiên, có 01 mục sư với

100 tín đồ ở 2 xã Tự Nhiên, Tiền phong

Ngoài ra còn xuất hiện tín đồ theo các “tà đạo”, “đạo lạ” như “Hoàng Thiên Long” với 136 tín đồ và 03 trường hợp còn có biểu hiện tham gia luyện tập “Pháp Luân Công”

Về cơ bản tình hình Tôn giáo tương đối ổn định, tuy nhiên tình hình đoàn kết trong nội bộ nhân dân hai bên Lương – Giáo ở một số địa phương còn tiềm ẩn mâu thuẫn dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ mất ANTT

2.1.2.2 Đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội

* Về kinh tế

Theo báo cáo đánh giá của UBND huyện, trong năm 2018 mặc dù gặp không ít khó khăn thách thức, song tình hình kinh tế-xã hội, Quốc phòng - an ninh trên địa bàn huyện được giữ vững ổn định Tổng giá trị thu ngân sách Huyện đạt 1.473 tỷ đồng, đạt 134.59% dự toán Thành phố giao,

Thường tín cũng là nơi tập trung 126 làng nghề truyền thống và 10 cụm công nghiệp

* Về văn hóa - xã hội, giáo dục

Huyện Thường tín có truyền thống văn hiến và cách mạng.Trên địa bàn huyện có nhiều di tích lịch sử - văn hóa và tiềm năng du lịch lớn như Chùa

Trang 39

Đậu (xã Nguyễn Trãi), Nhà thờ Tổ nghề Ca trù họ Ngô (thôn Đông Duyên) Các hoạt động văn hóa – thể thao cũng luôn được quan tâm từ huyện đến cấp

cơ sở

Quy mô giáo dục và mạng lưới trường lớp phát triển mạnh mẽ về cả quy

mô và chất lượng, toàn huyện có 95 cơ sở giáo dục với 3.654 cán bộ, giáo viên

và nhân viên, 39.064 học sinh Chất lượng giáo dục toàn diện của huyện được giữ vững, giáo dục mũi nhọn có nhiều tiến bộ, số lượng học sinh giỏi các cấp tăng; được Sở Giáo dục đào tạo thành phố Hà Nội xếp loại tốt Đến nay có 69/95 trường đạt chuẩn, chiếm 43,48% Có trên 75% thanh niên trong độ tuổi đạt trình

Tình hình an ninh chính trị nội bộ cơ bản ổn định, tuy nhiên tình trạng

vi phạm pháp luật trong quản lý sử dụng đất đai diễn ra phổ biến như: Lấn chiếm, xây dựng nhà xưởng trái phép, cho thuê bán đất đai trái thẩm quyền; hiện tượng các đối tượng sử dụng phương tiện tuyên truyền tác động, đặc biệt

là Internet để xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng

và Nhà nước ta, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo…Tình hình mâu thuẫn nội bộ, đơn thư khiếu nại tố cáo tại một số cơ quan, đơn vị có dấu hiệu phức tạp, nhất

là liên quan đến việc luân chuyển, bổ nhiệm, vị trí làm việc Từ năm 2015 đến nay, tại địa bàn huyện Thường tín đã có 1.930 đơn thư và xảy ra 06 vụ khiếu kiện của nhân dân liên quan đến đất đai, hoạt động của các công ty, doanh nghiệp, hoạt động đền bù; giải phóng mặt bằng với tổng số 588 đoàn với 1.324 người tham gia khiếu kiện các cấp

Trang 40

*Tình hình hoạt động của số đối tượng cơ hội chính trị:

Trong những năm từ 2015 đến nay lực lượng Công an đã làm tốt công tác quản lý đối tượng nên các đối tượng cơ hội chính trị cơ bản chấp hành các quy định của Pháp luật, không có hoạt động chống phá, tụ tập biểu tình trái pháp luật Tuy nhiên trên địa bàn huyện nổi lên một số đối tượng do ngộ nhận chính trị, nhận thức lệch lạc về chủ trương, đường lối lãnh đạo xây dựng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, đã bị thế lực phản động trong và ngoài nước móc nối, lôi kéo tham gia các hoạt động chống phá, nhen nhóm thành lập tổ chức Chúng lợi dụng triệt để mạng xã hội để tuyên truyền phá hoại tư tưởng; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để đăng bài, đưa hình ảnh sai sự thật nhằm chia rẽ nội bộ Cụ thể:

Nhóm các đối tượng gặp gỡ trên mạng xã hội Facebook kêu gọi ra tuyên cáo thành lập “Đảng Mùa Xuân” do Nguyễn Thị Thúy Quỳnh ở thôn

Ba Lăng – Dũng Tiến; kêu gọi thành lập “Đảng xã hội Việt Nam Cấp Tiến”

do Đào Duy Tiên ở thôn Cống Xuyên – Nghiêm Xuyên thực hiện

Các đối tượng bị “Đảng Việt Tân” móc nối gồm: Đỗ Việt Khoa ở xã Vân Tảo, Đỗ Duy Thông ở xã Tiền Phong, Nguyễn Thị Hồng ở Thị trấn Thường Tín

Đối tượng Phạm Văn Trội sinh năm 1972 và Nguyễn Thị Huyền Trang (Vợ Trội) ở thôn Kỳ Dương – xã Chương Dương, là đối tượng tham gia cầm đầu “Hội anh em dân chủ” Mặc dù, đang chấp hành quản chế tại địa phương nhưng Trội đã 2 lần đi khỏi địa phương, không xin phép chính quyền, vẫn có hoạt động móc nối, tụ tập với các đối tượng cơ hội chính trị trong, ngoài thành phố, trong đó có thầy giáo Đỗ Việt Khoa là giáo viên trường Trung học phổ thông Thường tín ở Vân Tảo là người đương thời chống tiêu cực trong ngành giáo dục và thường xuyên nhận tài trợ của nước ngoài và năm 2014 Khoa đã lên trung tâm Thành phố Hà nội tham gia biểu tình phản đối Trung

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w