Chính vì vậy, thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân nông thôn mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp phát triể
Trang 1BÙI THỊ MINH CHÂU
QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÙI THỊ MINH CHÂU
QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY
Chuyên ngành : Quản lý xã hội
Mã số : 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Huy Kỳ
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Bùi Quang Hiển
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phạm Huy Kỳ Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 18 tháng 4 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thị Minh Châu
Trang 5Chương trình mục tiêu quốc gia: CTMTQG
Trang 6MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 11
1.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới 111.2 Nội dung, phương thức và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới 251.3 Kinh nghiệm quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương trong cả nước và những bài học rút ra cho tỉnh Phú Thọ 34
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY 44
2.1 Khái quát các tiềm năng, nguồn lực của tỉnh khi triển khai xây dựng nông thôn mới và tình hình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Phú Thọ hiện nay 442.2 Quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Phú Thọ hiện nay – kết quả, hạn chế và nguyên nhân 55
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ XÃ HỘI
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY 82
3.1 Quan điểm và chủ trương tăng cường quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
ở tỉnh Phú Thọ hiện nay 823.1.1 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay 823.1.2 Chủ trương của tỉnh Phú Thọ trong việc tăng cường quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới 853.2 Giải pháp tăng cường quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Phú Thọ hiện nay 863.3 Kiến nghị - đề xuất về quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Phú Thọ hiện nay 99
KẾT LUẬN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và chính sách lớn chỉ đạo về vấn đề này từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III cho đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII luôn xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chú trọng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới
Như vậy, từ thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước, nhận thức của Đảng và Nhà nước là ngày càng quan tâm chú ý tới phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tổng thể sự phát triển chung của đất nước Điều này không chỉ bởi nông dân là một lực lượng quan trọng của cách mạng mà còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số Nông nghiệp, nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Đến nay mặc dù sau 30 năm đổi mới, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu thể hiện sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới Do đó, xây dựng nông thôn mới (NTM) chính là giải pháp quan trọng thiết thực nhằm cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết mà các đại hội đã
đề ra, tạo động lực quan trọng cho sự nghiệp CNH, HĐH, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn
Trên cơ sở các nội dung của Nghị quyết 26-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 – 2020, nêu rõ 19 tiêu chí
Trang 8và 7 nhóm giải pháp Có thể nói, đây là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết 26-NQ/TW, là chương trình khung, tổng thể phát triển nông thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chương trình mục tiêu quốc gia và 14 chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bàn nông thôn trên phạm vi cả nước Chính vì vậy, thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới sẽ không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân nông thôn mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị,
xã hội chung trong cả nước
Phú Thọ là một tỉnh Trung du miền núi phía Bắc của Việt Nam, có vị trí trung tâm vùng và là cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội Tỉnh Phú Thọ nằm trên trục hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội – Côn Minh (Trung Quốc), phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Tây tiếp giáp thành phố Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang Phú Thọ cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 80 km, cách cảng Hải Phòng 170 km, cách cửa khẩu quốc tế Hà Khẩu (giữa Lào Cai – Việt Nam và Vân Nam – Trung Quốc) và cửa khẩu Thanh Thủy – Lạng Sơn 200 km và là nơi hợp lưu của ba con sông lớn: sông Hồng, sông Đà và sông Lô
Toàn tỉnh Phú Thọ hiện nay có 13 đơn vị hành chính cấp huyện gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập; 277 đơn vị hành chính cấp xã (249 xã và 28 thị trấn) Thành phố Việt Trì là
01/04/2009, tỉnh Phú Thọ có 1.313.926 người với mật độ dân số 373 người/km²
Tỷ lệ dân số sống tại nông thôn, vùng núi khoảng 85% và tại thành thị khoảng 15% Theo Nghị định 05/NĐ-CP, Phú Thọ có 1.400.226 người vào thời điểm
tỉnh đã được cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai nghiêm túc, kịp thời, huy
Trang 9động được cả hệ thống chính trị tham gia vào phong trào toàn dân chung sức xây dựng NTM, góp phần làm cho bộ mặt nông thôn có sự chuyển biến rõ nét
Tuy nhiên, quá trình triển khai xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh vẫn còn
có những khó khăn cả về cơ chế chính sách, nguồn lực đầu tư, về nhận thức của đội ngũ cán bộ có lúc, có nơi chưa thật đầy đủ và chưa tích cực vào cuộc, ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cư dân nông thôn Vấn đề cốt lõi của xây dựng NTM chính là nâng cao thu nhập, mức sống của cư dân nông thôn, tạo sự hài lòng của người dân đối với sự quản lý, điều hành của chính quyền Nhà nước các cấp Song phải xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ lâu dài, không thể nhanh chóng hoàn thành trong ngày một ngày hai, và xây dựng NTM cũng chưa kết thúc khi các địa phương hoàn thành các tiêu chí đề ra mà cần tiếp tục duy trì và nâng cao hơn chất lượng các tiêu chí đã đạt được Chính vì vậy, cần phải có những nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá thực tiễn, tìm giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả quản lý xã hội về xây dựng NTM trên địa bàn nông thôn cả nước nói chung cũng như ở tỉnh Phú Thọ nói riêng nhằm mở ra triển vọng mới trên lộ trình xây dựng môi trường sống tốt đẹp hơn cho cộng đồng
Với những lý do trên, đồng thời qua kinh nghiệm công tác từ thực tiễn,
học viên lựa chọn vấn đề "Quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh
Phú Thọ hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sĩ Chính trị học, chuyên ngành
Quản lý xã hội, với kỳ vọng góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý xã hội trong việc xây dựng NTM trên địa bàn của tỉnh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây ở nước ta, vấn đề xây dựng NTM và quản lý
xã hội đối với xây dựng NTM đã được nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị quan tâm nghiên cứu từ lý luận cho đến thực tiễn dưới nhiều góc độ khác nhau Để đáp ứng đúng mục đích và nhiệm vụ của đề tài đặt ra, luận văn
đi vào tổng quan theo hai hướng:
Trang 10Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về nông thôn mới và quản lý xã hội
Với hướng nghiên cứu này phải kể đến một số công trình sau:
Công trình "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi
mới - Quá khứ và hiện tại" do tác giả Nguyễn Văn Bích làm chủ biên, Nxb
Chính trị Quốc gia Hà Nội, ấn hành năm 2007 đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề
lý luận, thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý Đồng thời, nêu được bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng Có thể nói, công trình đã đánh giá một cách khách quan, toàn diện lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta trong thế kỷ XX, nhất là những năm đổi mới
Công trình“Nông nghiệp, nông dân và nông thôn, hôm nay và mai
sau” do tác giả Đặng Kim Sơn chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn
hành năm 2007 Trên cơ sở trình bày những vấn đề lý luận về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, cuốn sách đã nghiên cứu làm rõ thực trạng các vấn đề
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam ngày càng phát triển
Giáo trình “Lý thuyết chung quản lý xã hội”, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, Hà Nội, 2008 đã đi sâu phân tích các thuyết quản lý; tập trung làm rõ các hình thức, phương pháp và nội dung quản lý các lĩnh vực đời sống
xã hội Cuốn sách tiếp cận và đánh giá vị trí, vai trò và những yêu cầu đối với chủ thể QLXH; từ đó, đã đưa ra những kết luận nhằm nâng cao hiệu quả QLXH đối với mọi mặt đời sống xã hội hiện nay
Bài viết“Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay” của Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, ấn hành năm 2009 đã phân tích chủ yếu ba vấn đề: một là, nông thôn Việt Nam trước yêu cầu mới; hai là, hình dung ban đầu về những tiêu chí của mô hình NTM;
Trang 11ba là, về những nhân tố chính của mô hình NTM như: Kinh tế, chính trị, văn
hóa, con người, môi trường Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình NTM
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách
Công trình "Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực
tiễn" của tác giả Vũ Văn Phúc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2012,
tập hợp nhiều bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan trung ương, các địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng NTM, với những nội dung như: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng NTM, đặc biệt thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam được trình bày khá phong phú về thực tiễn triển khai xây dựng NTM ở một số tỉnh: Yên Bái, Nghệ An, Phú Thọ, Ninh Bình, Thái Nguyên, Lai Châu đặc biệt nhiều bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan về vấn đề này
Từ đó giúp Việt Nam có cách nhìn nhận để nghiên cứu, áp dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước
Về cơ bản, các công trình nghiên cứu này trên cơ sở trình bày một số vấn đề lý luận chung về nông thôn mới, quản lý xã hội như: khái niệm, đặc trưng, chức năng, từ đó đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng NTM cũng như quản lý xã hội ở nước ta hiện nay
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam và tỉnh Phú Thọ
Ở hướng nghiên cứu này phải kể đến một số công trình như:
Công trình Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay – Một số vấn đề
và giải pháp (1996) của Phan Đại Doãn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã
Trang 12làm rõ những hạn chế ở khu vực nông thôn nước ta Trên cơ sở đó, nhóm tác giả nhấn mạnh: Phát triển kinh tế nông thôn phải gắn kết chặt chẽ với ba vấn
đề đó là: Ổn định chính trị xã hội; Tăng trưởng kinh tế; công bằng xã hội mới bền vững
Học viện Chính trị Quốc gia Hà Nội, Nxb Khoa học và kỹ thuật trên cơ sở trình bày những vấn đề chung về quản lý nhà nước, về nông nghiệp, nông thôn đã phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này Trên cơ
sở đó, công trình đã đưa ra một số giải pháp cơ bản để phát huy hiệu quả quản
lý Nhà nước về nông nghiệp và nông thôn
tỉnh Bắc Giang hiện nay (2015) của Phạm Thị Nhâm, Luận văn thạc sĩ Quản
lý xã hội, Học viện Báo chí và tuyên truyền Hà Nội Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nông thôn mới và QLXH đối với công tác nông thôn mới thông qua
hệ thống các khái niệm; luận văn làm rõ nội dung và bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới Đánh giá thực trạng triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và công tác QLXH đồng thời chỉ rõ nguyên nhân đối với vấn đề này Chỉ ra nội dung và vai trò, ý nghĩa của QLXH đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới ở phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng Đề xuất một số giải pháp tổng thể, khả thi nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLXH đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang hiện nay
Công trình Quản lý xã hội đối với công tác xây dựng nông thôn mới ở
tỉnh Quảng Ninh hiện nay (2016) của Hoàng Đức Toàn, Luận văn thạc sĩ
Quản lý xã hội, Học viện Báo chí và tuyên truyền Hà Nội Điểm mới nhất của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình NTM đồng thời cũng đưa ra những nhận xét, đánh giá kết quả xây dựng mô hình nông thôn mới ở tỉnh Quảng Ninh, bên cạnh đó cũng phân tích về điều kiện
Trang 13thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh, qua
đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng thành công nông thôn mới tại địa phương thời gian tới
Công trình Quản lý Nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm
Thao, tỉnh Phú Thọ (2016) của Nguyễn Thị Bích Lệ, Luận văn thạc sĩ Hành
thống hóa những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về xây dựng NTM và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng NTM ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, từ đó xác định những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại cần khắc phục và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng NTM trên địa bàn Một cách khái quát, các công trình theo hướng nghiên cứu này trên cơ sở những vấn đề lý luận chung như khái niệm, đặc trưng của xây dựng NTM, quản lý xã hội, đã phân tích thực trạng quản lý xã hội về xây dựng NTM ở một số tỉnh thành của nước ta hiện nay Từ đó, đưa ra một số giải pháp khắc phục hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội đối với xây dựng NTM ở những địa phương đó trong thời gian tới Mặc dù ở hướng nghiên cứu này đã có các công trình nghiên cứu về quản lý xã hội về xây dựng NTM ở các tỉnh thành trên cả nước Tuy nhiên, khi đi vào tổng quan thực tế ở tỉnh Phú Thọ thì chưa
có công trình nghiên cứu quản lý xã hội về xây dựng NTM cho toàn tỉnh Phú Thọ Vì thế, đối với vấn đề này ở tỉnh Phú Thọ vẫn còn là “khoảng trống” và thực tế của tỉnh cũng cho thấy, lĩnh vực này còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải
có những nghiên cứu sâu hơn nữa
Những vấn đề đặt ra và tiếp tục nghiên cứu trong luận văn
Như vậy, qua qúa trình khảo cứu các công trình đã liệt kê, chúng tôi rút
ra những kết luận sau:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của những công trình nêu trên, ở mức độ
khác nhau là cơ sở để tác giả luận văn có điều kiện đi sâu nghiên cứu
Trang 14Thứ hai, trong những công trình mà chúng tôi khảo cứu cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống quản lý xã hội về xây dựng NTM ở tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên, các công trình nêu trên đều rất bổ ích, không chỉ cung cấp tư liệu mà còn gợi mở cho học viên hướng tiếp cận, triển khai các nội dung nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn
Thứ ba, thực tế quản lý xã hội về xây dựng NTM ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
cũng còn nhiều hạn chế, cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống dựa trên việc khai thác thêm những tư liệu mới, khỏa lấp những khoảng trống nghiên cứu vẫn còn tồn tại, nhất là việc quản lý xã hội về xây dựng NTM một cách thực sự hiệu quả và bền vững Đây cũng là mục đích và nhiệm vụ mà luận văn cố gắng giải quyết và hoàn thành
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận quản lý xã hội về xây dựng NTM, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý xã hội về xây dựng NTM ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiên nay
3.2 Nhiệm vụ
Để đáp ứng được mục đích đề ra, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý xã hội, nông thôn
mới và quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý xã hội về xây dựng NTM ở
tỉnh Phú Thọ hiện nay;
Thứ ba, đề xuất quan điểm và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản
lý xã hội về xây dựng NTM ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Phú Thọ
Trang 154.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý xã hội về xây dựng
NTM ở tỉnh Phú Thọ
Phạm vi thời gian: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu quản lý xã hội về
xây dựng NTM ở tỉnh Phú Thọ từ năm 2010 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước và lý thuyết về quản lý xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, quy nạp, thống kê; thu thập thông tin, điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu
6 Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận QLXH về xây dựng NTM
- Đánh giá thực trạng và chỉ ra nguyên nhân những thành tựu cũng như hạn chế của QLXH về xây dựng NTM ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
- Đề xuất quan điểm và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường QLXH
về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu chuyên ngành QLXH
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 16dân và nông thôn Đây là tài liệu hữu ích cho những nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần đánh giá vai trò của QLXH đối với việc xây dựng nông thôn mới, cụ thể ở tỉnh Phú Thọ hiện nay Những quan điểm và giải pháp mà nghiên cứu này đề xuất được các cấp xem xét, áp dụng một cách hợp
lý sẽ đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh hiện nay
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ XÃ HỘI
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Khái niệm, đặc điểm của quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Quản lý xã hội
Hiện nay, quản lý xã hội không phải là một vấn đề quá mới mẻ song không vì thế mà mức độ quan tâm của giới nghiên cứu khoa học đối với khái niệm này giảm bớt Bởi, trong các loại quản lý thì QLXH là phức tạp nhất Một phần, do xã hội là một hệ thống của rất nhiều lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức, tôn giáo Phần khác, ngoài chủ thể quản lý xã hội quan trọng nhất là Nhà nước còn có sự tham gia của các chủ thể như tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ và quần chúng nhân dân… Vì thế, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau đã có những cách hiểu và định nghĩa khác nhau về QLXH Thông thường, trong các công trình nghiên cứu trước đây hay đưa ra hai cách tiếp cận về QLXH:
Thứ nhất, QLXH là hoạt động quản lý các tổ chức xã hội phi nhà nước,
không chịu sự chi phối trực tiếp bởi quyền lực Nhà nước hay Chính phủ Theo cách tiếp cận này, chủ thể QLXH được xác định đó là các tổ chức phi nhà nước, do đó công cụ chủ yếu để QLXH không phải bằng pháp luật mà thông qua các quy định, nội quy của các tổ chức đó
Thứ hai, QLXH là cách thức tổ chức đời sống xã hội vì mục tiêu chung,
khi đó cả quốc gia cho tới nhóm xã hội đều bị chi phối bởi dạng quản lý nào đó
Và quản lý hành chính cũng là một dạng QLXH Cách hiểu này có tính phổ biến hiện nay
Trang 18Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, về cơ bản các công trình nghiên cứu đều xoay quanh hai cách tiếp cận trên Xã hội với tính đa dạng của nó, bao gồm hệ thống các hoạt động và quan hệ diễn ra trong các vấn đề, các lĩnh vực, các dạng hoạt động khác nhau của xã hội QLXH bao quát trong mình những tác động có chủ đích tới các hoạt động, các quan hệ đang tồn tại trong thực tiễn khách quan để điều chỉnh nó vận động, phát triển theo chiều hướng tiến bộ Các lĩnh vực, các vấn đề và các hoạt động của đời sống xã hội đa dạng, phức tạp không ngừng biến đổi Việc QLXH trong một
xã hội đang phát triển không chỉ chú ý đến những vấn đề, những lĩnh vực, những hoạt động mang tính truyền thống, được sắp đặt sẵn mà còn phải chú ý đến những vấn đề mới nảy sinh từ sự phát triển và tính đặc thù của quá trình phát triển
Trên cơ sở phân tích quan điểm của các học giả để nhất quán trong
nhận thức, luận văn sử dụng khái niệm quản lý xã hội trong Giáo trình“Lý
thuyết chung về quản lý xã hội” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền Hà
Nội như sau: Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lý lên xã hội và các khách thể của nó, nhằm phát triển xã hội theo quy luật khách quan và đặc trưng của xã hội [53, 15]
1.1.1.2 Xây dựng nông thôn mới
Khái niệm về nông thôn:
Xung quanh khái niệm nông thôn có nhiều quan điểm đưa ra:
Thứ nhất, nông thôn được hiểu là khu vực địa lý nơi đó sinh kế cộng
đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường
và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
Thứ hai, căn cứ vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng và chỉ
tiêu trình độ tiếp cận thị trường cũng như phát triển hàng hóa, nông thôn là nơi có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị, là nơi có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường thấp hơn so với đô thị
Trang 19Thứ ba, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu,
tức là nguồn sinh kế chính của cư dân nông thôn trong vùng là từ hoạt động
sản xuất nông nghiệp
Vì khái niệm nông thôn có nhiều cách tiếp cận khác nhau, cho nên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi dựa theo khái niệm của Thông tư số 54/2009/TT - BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các
thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” [6, 1]
Khái niệm về nông thôn mới:
Theo Nghị Quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH TW khóa X
về NNNDNT, nông thôn mới được hiểu là nông thôn mà ở đó có kết cấu hạ
tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng KT-XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Xây dựng nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của
người dân, tạo động lực giúp cho họ chủ động phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ
sở vật chất và diện mạo đời sống, văn hóa, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa
nông thôn và thành thị Sở dĩ ở nước ta hiện nay cần phải xây dựng nông thôn mới, bởi vì:
Một là, do kết cấu hạ tầng còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không
đồng bộ; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới
Trang 20chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển
Hai là, do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến
còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ
Ba là, do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư
vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh
tế trang trại, HTX còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao
Bốn là, do đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn hạn chế,
nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một; nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát
Năm là, do yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, cần 3 yếu tố
chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng NTM sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các vấn đề NNNDNT phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước… Giải quyết vấn đề NNNDNT là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã
hội Do đó, mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi
Trang 21trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng XHCN
Như vậy, có thể hiểu rằng: xây dựng nông thôn mới là hướng đến một
nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có kết cấu hạ tầng hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ở nông thôn
* Đặc trưng của xây dựng nông thôn mới:
Trong cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” của Nhà xuất
bản Lao động Hà Nội năm 2010 đã chỉ ra 05 đặc trưng của nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn 2010 - 2020 như sau:
Thứ nhất, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân
nông thôn được nâng cao;
Thứ hai, nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ
Thứ ba, dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và
phát huy
Thứ tư, an ninh tốt, quản lý dân chủ
Thứ năm, chất lương hệ thống chính trị được nâng cao
* Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới:
Một là, xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của
cộng đồng dân cư, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn;
Hai là, xây dựng NTM được thực hiện lồng ghép với các chương trình,
dự án khác đang triển khai ở nông thôn;
Ba là, xây dựng NTM được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch
phát triển KT – XH, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch;
Bốn là, xây dựng NTM là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã
Trang 22hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện…
* Nội dung xây dựng nông thôn mới:
Căn cứ Quyết định số: 491/QĐ – TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Căn cứ Thông tư số 54/2009/TTg – BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, nội dung xây dựng nông thôn mới bao gồm 11 nội dung với
19 tiêu chí Cụ thể:
* Nội dung 1: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới Nhằm đạt yêu cầu
tiêu chí số 1 của Bộ tiêu chí Quốc gia NTM, bao gồm 02 nội dung: 1 Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 2 Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã
* Nội dung 2: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội Mục tiêu nhằm đạt
yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Bao gồm các nội dung: 1 Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở
UBND xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã 2 Hoàn thiện hệ thống các
công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn
xã 3 Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn
hóa thể thao trên địa bàn xã 4 Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn
xã 5 Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã 6 Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã 7 Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ
* Nội dung 3: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Mục tiêu nhằm đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM, cụ thể: 1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Trang 23theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao 2 Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; 3 Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; 4 Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương; 6 Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động NT, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động NT
* Nội dung 4: Giảm nghèo và an sinh xã hội Mục tiêu đạt yêu cầu tiêu
chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM 1.Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo; 2 Thực hiện các chương trình an sinh xã hội; 3 Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30 a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM;
* Nội dung 5: Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn Mục tiêu đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc
gia NTM Bao gồm các nội dung: 1 Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
2 Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn; 3 Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
* Nội dung 6: Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn 16 Mục tiêu:
đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM Theo đó tiếp tục thực hiện CTMTQG về giáo dục và đào tạo
* Nội dung 7: Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn Mục
tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM, bằng việc tiếp tục thực hiện CTMTQG trong lĩnh vực về y tế
* Nội dung 8: Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí Cụ thể:
Tiếp tục thực hiện CTMTQG về văn hóa, thực hiện thông tin và truyền thông
Trang 24NT, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
* Nội dung 9: Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Mục tiêu:
đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM; đảm bảo cung cấp
đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công
sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã
* Nội dung 10: Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 18 Bao
gồm các công việc: 1 Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới; 2 Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới 3 Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này
* Nội dung 11: Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn Mục tiêu:
Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM 1 Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu; 2 Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới
1.1.1.3 Khái niệm quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
Quản lý xã hội là một loại hình quản lý, với chức năng đảm bảo việc thực hiện các nhu cầu phát triển cho toàn bộ hệ thống xã hội nói chung cũng như các
bộ phận của nó Bất cứ ở đâu có con người, có hoạt động của con người thì cần
có sự quản lý QLXH điều chỉnh sự tác động qua lại một cách mâu thuẫn giữa các lợi ích cá nhân, nhóm người để cùng thực hiện chúng Đó là sự điều tiết
Trang 25những mối quan hệ xã hội quy định và vai trò của con người trong xã hội, định hướng về lợi ích và hoạt động của họ, nội dung và cường độ hoạt động Trong giáo trình “Lý thuyết chung về quản lý xã hội”, của Học viện Báo chí và
Tuyên truyền có đưa ra định nghĩa “Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên xã hội và các khách thể của
nó, nhằm phát triển xã hội theo quy luật khách quan và đặc trưng của xã hội”[53,15]
Xã hội với tính đa dạng của nó, bao gồm hệ thống các hoạt động và quan hệ diễn ra trong các vấn đề, các lĩnh vực, các dạng hoạt động khác nhau của xã hội QLXH bao quát trong mình những tác động có chủ đích tới các hoạt động, các quan hệ đang tồn tại trong thực tiễn khách quan để điều chỉnh
nó vận động, phát triển theo chiều hướng tiến bộ Các lĩnh vực, các vấn đề và các hoạt động của đời sống xã hội đa dạng, phức tạp và biến đổi không ngừng Việc QLXH trong một xã hội đang phát triển không chỉ chú ý đến những vấn đề, những lĩnh vực, những hoạt động mang tính truyền thống, được sắp đặt sẵn mà còn phải chú ý đến những vấn đề mới nảy sinh từ sự phát triển và tính đặc thù của quá trình phát triển
Quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới có thể xét dưới nhiều góc độ khác nhau Đặc biệt, khi xét ở góc độ khoa học quản lý, QLXH về xây dựng NTM được giải thích một cách chung nhất là tổ chức, điều khiển hoạt động, quá trình của các chủ thể trong xã hội khi xây dựng NTM Trên cơ sở kế thừa cách
tiếp cận của nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, có thể hiểu rằng: Quản lý xã
hội về xây dựng nông thôn mới là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến các hoạt động trong công cuộc xây dựng nông thôn mới thông qua các cách thức, các biện pháp tác động phù hợp đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu xây dựng thành công nông thôn mới; làm thay đổi sâu sắc diện mạo khu vực nông thôn và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH
Trang 261.1.2 Đặc điểm cơ bản của quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
Thực tiễn đã cho thấy, trong QLXH về xây dựng NTM, các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp giữ vai trò chủ đạo Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị xã hội cũng là những chủ thể có vai trò quan trọng đối với công tác xây dựng NTM Ngoài ra, trong quá trình xây dựng NTM còn có sự tham gia đóng góp tích cực, chủ động của người dân trên địa bàn Tuy nhiên, ở góc độ văn bản pháp quy, chức năng nhiệm vụ của chủ thể
xã hội trong QLXH đối với xây dựng NTM đã được cụ thể hóa theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/8/2016, theo đó, vai trò của các chủ thể được thể hiện qua từng nội dung, từng mặt hoạt động cụ thể của quá trình xây dựng như sau:
Ở cấp Trung ương, dựa trên 11 nội dung và 19 tiêu chí về xây dựng
nông thôn mới đã đề ra mỗi một Bộ phụ trách mảng công việc phù hợp với
chức trách, nhiệm vụ của mình Cụ thể:
Một là, đối với quy hoạch xây dựng NTM: Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp
với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện quy hoạch xây dựng vùng; hướng dẫn thực hiện rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển
hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường nông thôn trong đồ án quy hoạch xã NTM;
Hai là, đối với phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội: Bộ Giao thông vận
tải hướng dẫn thực hiện Hoàn thiện hệ thống giao thông trên địa bàn thôn, xã;
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng, các công trình đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt; Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện cải tạo, nâng cấp, mở rộng hệ thống lưới điện nông thôn, hệ thống chợ nông thôn, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn;
Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện xây dựng hoàn chỉnh các công
trình đảm bảo đạt chuẩn về cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện việc hoàn thiện hệ thống Trung tâm văn hóa - thể thao, Nhà văn hóa - Khu thể thao
Trang 27thôn, bản; Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện xây dựng, cải tạo, nâng cấp về cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị cho các Trạm y tế xã; Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn thực hiện việc tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống thông tin và truyền thông cơ sở
Ba là, đối với phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì và hướng dẫn triển khai,
thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Bốn là, đối với giảm nghèo và an sinh xã hội: Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội chủ trì thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình an sinh xã hội ở xã, thôn; nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tập trung nghề phi nông nghiệp
Năm là, đối với phát triển giáo dục ở nông thôn: Bộ Giáo dục và Đào
tạo chủ trì, hướng dẫn thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 05 tuổi, tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, xóa mù chữ và chống tái mù chữ
Sáu là, đối với phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn: Bộ Y tế chủ trì xây dựng và phát triển mạng lưới y
Tám là, đối với vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm
và cải thiện môi trường tại các làng nghề: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn chủ trì, hướng dẫn thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020; Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện các nội dung liên quan đến cải thiện vệ sinh nhà tiêu hộ gia đình, Trạm Y tế; Bộ Xây dựng chủ trì, hướng dẫn thực hiện nội dung cải tạo nghĩa trang; Bộ Tài nguyên và Môi
Trang 28trường chủ trì, hướng dẫn thực hiện việc khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng
Chín là, đối với nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng NTM; cải thiện
và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân: Bộ Nội vụ chủ trì, hướng dẫn
thực hiện đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiện toàn BCĐ và
bộ máy giúp việc BCĐ các cấp, cải thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; xây dựng và nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến thuộc Chương trình mục tiêu về Công nghệ thông tin giai đoạn 2016 - 2020;
MTTQ Việt Nam chủ trì, hướng dẫn các tổ chức chính trị - xã hội tham gia xây dựng NTM theo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị
văn minh”; Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương chủ trì, hướng dẫn triển
khai Kế hoạch thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng
NTM”; Bộ Tư pháp chủ trì, hướng dẫn thực hiện đánh giá, công nhận, xây dựng xã tiếp cận pháp luật; Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam chủ trì, hướng
dẫn thực hiện cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”
Mười là, đối với giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn: Bộ Công an chủ trì, hướng dẫn thực hiện việc bảo đảm an toàn, an ninh,
trật tự xã hội địa bàn nông thôn; Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, nhất là các xã vùng trọng điểm (biên giới, hải đảo)
Mười một là, đối với nâng cao năng lực xây dựng NTM và công tác giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình; truyền thông về xây dựng NTM:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, hướng dẫn thực hiện tập huấn nâng cao năng lực, nhận thức cho cộng đồng và người dân Ban hành Bộ tài liệu chuẩn phục vụ cho công tác đào tạo, tập huấn kiến thức cho cán bộ
Trang 29làm công tác xây dựng NTM các cấp Xây dựng và triển khai có hiệu quả hệ thống giám sát, đánh giá đồng bộ, toàn diện, trên cơ sở áp dụng công nghệ thông tin, đồng thời thực hiện tốt việc truyền thông về xây dựng NTM
Ở cấp Địa phương cũng dựa trên 11 nội dung và 19 tiêu chí về xây
dựng nông thôn mới đã đề ra, giao nhiệm vụ quản lý xã hội cho từng đơn vị
chức năng, như:
Thứ nhất, Ủy ban nhân dân tỉnh: Chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch
thực hiện chương trình trong giai đoạn 5 năm và hàng năm; Chỉ đạo rà soát và điều phối kế hoạch xây dựng nông thôn mới cấp huyện trên địa bàn để phù hợp với kế hoạch xây dựng nông thôn mới chung của tỉnh; Quy hoạch và thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung trên địa bàn tỉnh theo hướng liên kết chuỗi giá trị phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp
Thứ hai, cơ quan thường trực Chương trình ở cấp tỉnh: Chủ trì, phối hợp
với các Sở, ngành liên quan xây dựng kế hoạch vốn, phân bổ vốn thực hiện Chương trình hàng năm theo kế hoạch trung hạn của tỉnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Trên cơ sở chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm vụ và nguồn vốn ngân sách hàng năm được Thủ tướng Chính phủ giao, chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh về phương án giao chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm vụ cụ thể cho các huyện, xã thực hiện trình HĐND quyết định; Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan tổ chức kiểm tra, giám sát định kỳ, đột xuất tình hình sử dụng nguồn vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp và các nguồn vốn huy động khác để thực hiện Chương trình; Tổng hợp kết quả phân bổ nguồn vốn ngân sách nhà nước của Chương trình trên địa bàn tỉnh theo từng nội dung, lĩnh vực; Theo dõi, tổng hợp tình hình thực hiện Chương trình trên địa bàn tỉnh
Thứ ba, Uỷ ban nhân dân cấp huyện: Hướng dẫn tổ chức triển khai
Chương trình trên địa bàn huyện; Xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng huyện và chỉ đạo các xã rà soát, bổ sung hoàn
Trang 30chỉnh quy hoạch nông thôn mới cấp xã phù hợp với quy hoạch xây dựng vùng huyện; Chỉ đạo rà soát và điều phối kế hoạch xây dựng nông thôn mới các xã trên địa bàn để phù hợp với Kế hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện; Nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện (giao thông, thủy lợi, điện) đảm bảo kết nối đồng bộ với cơ sở hạ tầng của các xã trên địa bàn; Chỉ đạo và phân công các phòng, ban cấp huyện trực tiếp hỗ trợ các xã
để triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Quy hoạch và thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung theo hướng liên kết chuỗi giá trị phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh
Thứ tư, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận các cấp phối hợp với cơ quan
báo chí, truyền thanh triển khai công tác xây dựng NTM thông qua tuyên truyền giáo dục, trong đó trọng tâm là nông dân tham gia các phong trào
“Toàn dân đoàn kết chung tay xây dựng NTM”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh” của MTTQ Việt Nam
Thứ năm, nông dân và cộng đồng dân cư giữ vai trò là chủ thể, trong đó
người dân được biết, được bàn, quyết định, tự làm, giám sát và được thụ hưởng (quy hoạch, đề án, huy động vốn, quản lý )
1.1.2.2 Đặc điểm khách thể của quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
Quản lý xã hội về xây dựng NTM là sự tác động mang tính hướng đích của các chủ thể đối với tất cả các hoạt động, quan hệ xã hội liên quan đến xây dựng NTM Tất cả các hoạt động liên quan đến nông thôn mới: chương trình mục tiêu, kế hoạch huy động và sử dụng vốn, dự án phát triển kinh tế xã hội đối với từng địa phương, công tác xóa đói giảm nghèo, phong trào xây dựng đời sống văn hóa nông thôn, cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống mới… vừa là đối tượng vừa là khách thể của QLXH về xây dựng nông thôn mới, chịu tác động trực tiếp của các chủ thể
Trang 31Vì thế, đối tượng tác động của QLXH về công tác xây dựng nông thôn mới rất đa dạng; bao gồm tổng thể các hoạt động liên quan đến nông nghiệp của nông dân diễn ra tại khu vực nông thôn Các hoạt động này không tách rời nhau mà có sự gắn kết chặt chẽ Mỗi một sự thay đổi của các hoạt động này đều có tác động, làm thay đổi ít hay nhiều các hoạt động khác Do điều điện
tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, lịch sử khác nhau nên đối tượng của QLXH về xây dựng nông thôn mới có tính phức tạp và khác nhau giữa các tỉnh trong cả nước và giữa các địa phương trong một tỉnh Chính vì vậy, trong quá trình quản lý, chủ thể QLXH cần linh hoạt sử dụng các biện pháp, cách thức tác động phù hợp để mang lại kết quả cao nhất
1.2 Nội dung, phương thức và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý
xã hội về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Nội dung và phương thức quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
1.2.1.1 Nội dung quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
Thứ nhất, hoạch định chiến lược, quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Hoạch định là quá trình xác định mục tiêu và quyết định phải làm gì và làm như thế nào để đạt được mục tiêu Hoạch định làm tăng khả năng thành công của
tổ chức, bởi thông qua hoạch định sẽ phân tích, dự báo được những thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện mục tiêu, từ đó có những giải pháp nắm bắt thời cơ, hạn chế rủi ro, phù hợp trong từng thời kỳ, từng giai đoạn Hoạch định chiến lược là tập hợp các hành động, quyết định của lãnh đạo, hướng tới việc soạn thảo các chiến lược chuyên biệt nhằm đạt mục tiêu của tổ chức Hoạch định chiến lược bao gồm các việc như: xác định các ưu tiên, tập trung các nguồn lực nhằm hướng đến mục tiêu chung
Trong xây dựng NTM, hoạch định chiến lược chính là việc định ra những mục tiêu, nội dung, giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho CTMTQG xây dựng NTM Quy hoạch xây dựng NTM là một trong những
Trang 32nội dung cơ bản và là bước đi đầu tiên, quan trọng trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng NTM nói chung Đồng thời, là điều kiện tiên quyết, là cơ sở cho đầu
tư xây dựng các công trình, chỉnh trang, phát triển nông thôn
Thứ hai, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quản lý xã hội và chính sách về xây dựng nông thôn mới
Hệ thống văn bản quản lý xã hội về xây dựng NTM là các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục nhất định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các vấn đề về xây dựng NTM Xây dựng hệ thống văn bản quản lý xã hội về xây dựng NTM
là rất cần thiết, giúp thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chủ trương, chính sách về NTM Thông qua hệ thống văn bản này, Nhà nước có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn trong công tác xây dựng NTM, kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp với tình hình, yêu cầu mới, giúp quá trình quản lý, điều hành đạt hiệu lực, hiệu quả cao
Nhận thấy nông nghiệp, nông thôn có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, CTMTQG xây dựng NTM đã hình thành trên
cơ sở lồng ghép nhiều CTMTQG vào một chương trình và triển khai đồng bộ tất cả các nội dung để phát triển nông thôn một cách toàn diện, bền vững Bên cạnh đó, các Bộ, ngành liên quan ở Trung ương và địa phương cũng
đã ban hành đồng bộ hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời để tiết kiệm nguồn vốn hiện có, Nhà nước đã triển khai việc nối tiếp một số chương trình từ giai đoạn trước và trong giai đoạn 2006 – 2010 Đã có 11 CTMTQG được thực hiện trên địa bàn cả nước, tác động chủ yếu đến khu vực nông thôn, trong đó đáng chú ý là các chương trình như: xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ, phục vụ phát triển KTXH
NT và miền núi, giai đoạn 2004 – 2010; nước sạch và vệ sinh môi trường NT; kiên cố hóa kênh mương; điện nông thôn; xóa đói giảm nghèo
Trang 33Thứ ba, tổ chức bộ máy quản lý xã hội về xây dựng NTM
Trong quản lý xã hội về xây dựng NTM việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý xã hội là một trong các yếu tố giúp nhà nước quản
lý hoạt động xây dựng NTM một cách thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, mang tính khoa học, nhất quán
Ngày 01/7/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1013/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương CTMTQG xây dựng NTM, giai đoạn 2010 – 2020, trên cơ sở đó Ban Chỉ đạo TW tiếp tục xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai CTMTQG xây dựng NTM, giai đoạn 2010 – 2020, trong đó nêu rõ việc thành lập BCĐ – cơ quan tham mưu giúp việc trong quản lý xã hội về xây dựng NTM ở các cấp như sau:
Một là, cấp Trung ương: Theo Quyết định số 1013/QĐ-TTg, BCĐ TW
CT MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 gồm 24 thành viên; Ban hành Quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm cụ thể đối với các thành viên của BCĐ TW; Thành lập Thường trực BCĐ TW, gồm Trưởng ban, phó Trưởng ban và ủy viên là lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Xây dựng; Thành lập Văn phòng điều phối Chương trình giúp Ban Chỉ đạo Trung ương đặt tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định)
Hai là, cấp tỉnh: BCĐ của tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban
Phó Ban thường trực là Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 01 Phó ban là Giám đốc
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các thành viên BCĐ có thành phần tương tự BCĐ TW Thường trực BCĐ cấp tỉnh là Trưởng ban, các phó trưởng ban và 3 ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở: Xây dựng, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính; Thành lập Văn phòng điều phối CTMTQG xây dựng NTM đặt tại
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, giúp BCĐ tỉnh thực hiện Chương trình trên địa bàn
Trang 34Ba là, cấp huyện, thị xã (gọi chung là huyện): BCĐ của huyện do Chủ
tịch UBND dân huyện làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND là Phó Trưởng ban Thành viên gồm lãnh đạo các phòng, ban có liên quan của địa phương; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) là cơ quan thường trực điều phối, giúp BCĐ huyện thực hiện Chương trình trên địa bàn
Bốn là, cấp xã: thành lập Ban Quản lý xây dựng NTM xã do Chủ tịch
UBND xã làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND xã là Phó Trưởng ban Thành viên là một số đại diện cơ quan chuyên môn và đại diện một số Ban, ngành, đoàn thể chính trị xã
Thứ tư, tổ chức chỉ đạo thực hiện các nội dung xây dựng NTM
CTMTQG về xây dựng NTM là chương trình tổng thể về phát triển
KT-XH, chính trị và an ninh quốc phòng Do đó quản lý xã hội về xây dựng NTM chính là việc tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện 11 nội dung xây dựng NTM, trong đó trọng tâm là các nội dung sau:
Một là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp Tăng mạnh hơn nữa tỷ
trọng của công nghiệp và dịch vụ trong GDP; phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp; chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường
và hiệu quả kinh tế cao; phát triển mạnh chăn nuôi với tốc độ và chất lượng cao hơn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất, bảo quản và chế biến; Tiếp tục rà soát, bổ sung, điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo hướng: phát huy lợi thế tự nhiên của từng vùng, lợi thế kinh tế của từng loại cây trồng, con gia súc, tăng
tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ; Ðưa nhanh khoa học công nghệ vào sản xuất; ứng dụng mạnh công nghệ sinh học và xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao; Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nông, lâm thủy
sản…
Trang 35Hai là, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn
Khuyến khích hơn nữa các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia đầu
tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông thôn Đổi mới cơ chế, chính sách để huy động mạnh nguồn lực đất đai vào phát triển hạ tầng Có chính sách phù hợp thu hồi đất, đấu giá quyền sử dụng đất để tạo vốn hỗ trợ cho xây dựng công trình hạ tầng Mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm theo hướng Nhà nước đầu tư vốn, người dân đóng góp thêm vốn hoặc nhân công Khuyến khích, vinh danh các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhiều đóng góp cho xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là ở vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc…
Ba là, quản lý các vấn đề xã hội, an ninh và trật tự khu vực nông thôn
Đó là việc quản lý, chỉ đạo thực hiện trên các lĩnh vực: phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng nâng cao chất lượng toàn diện; chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân; thực hiện các tiêu chí về văn hóa xã hội; đảm bảo vệ sinh môi trường; xây dựng môi trường NT
ổn định về chính trị, an toàn về trật tự xã hội; tạo thuận lợi cho KT-XH địa
Trang 36yếu thông qua hệ thống Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam; Ngân hàng phát triển Việt Nam Vốn huy động từ doanh nghiệp được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức hỗ trợ tiền mặt hoặc sản phẩm của doanh nghiệp (ví dụ như xi măng, sắt thép, gạch, ngói, ), tham gia đầu tư trực tiếp Huy động từ cộng đồng bao gồm tiền mặt, hiện vật (như đất đai, hoa màu và các tài sản gắn liền với đất, ), ngày
công lao động và các hình thức xã hội hóa khác
Bên cạnh đó, cũng cần quan tâm tới vai trò của các tổ chức đoàn thể trong huy động nguồn lực xây dựng NTM Quan tâm thu hút sự hỗ trợ nguồn lực từ bên ngoài thông qua việc xây dựng công khai, kế hoạch về các dự án cụ
thể theo từng năm để huy động nguồn lực cho xây dựng Chương trình NTM
Thứ năm, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm
Kiểm tra, giám sát các hoạt động xây dựng NTM là việc Nhà nước xem xét, đánh giá tình trạng đạt hay không đạt các tiêu chí về xây dựng NTM; đảm bảo việc tuân thủ những quy định của pháp luật trong tổ chức triển khai thực hiện xây dựng NTM theo các quy định, tiêu chí đã đề ra Đây là một trong những chức năng, nhiệm vụ cần thiết để giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách, các thể chế quản lý của nhà nước, kịp thời phát hiện những sai sót
và ngăn chặn, chấn chỉnh các sai phạm, kiểm soát các sai lầm, lệch lạc; xử lý các vi phạm đồng thời điều chỉnh các tiêu chí cho phù hợp với tình hình thực
tế của địa phương Đi đôi với kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm để kịp thời tháo gỡ khó khăn, nhân rộng những kinh nghiệm, cách làm hay và những điển hình trong xây dựng NTM; biểu dương khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình, tạo động lực cho phong trào thi đua chung sức xây dựng NTM
1.2.1.2 Phương thức quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
Nói đến quản lý xã hội về xây dựng NTM chính là nói đến cách thức quản lý xây dựng nông thôn sao cho hiệu quả Trong QLXH đối với xây dựng
Trang 37NTM, các chủ thể có thể vận dụng linh hoạt các phương thức quản lý nhằm tạo ra hiệu quả quản lý Phương thức QLXH về xây dựng NTM bao gồm: Phương pháp tổ chức - hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp tuyên truyền, vận động
Thứ nhất, phương pháp tổ chức - hành chính: Thông qua xây dựng cơ cấu
tổ chức cơ chế làm việc, thành lập BCĐ, Ban Quản lý dự án, ban hành chính sách, pháp luật về công tác NTM thể hiện dưới các văn bản chỉ đạo phù hợp với từng cấp, từng ngành Thông qua cách thức này đã tạo ra môi trường pháp lý hợp
lý cho công tác xây dựng NTM trên cả nước được tiến hành theo trật tự, có sự thống nhất và ổn định, trong đó có tính đến các yếu tố đặc thù Phương pháp này
có tính chất bắt buộc và thể hiện qua các mệnh lệnh hành chính
Thứ hai, phương pháp tuyên truyền, vận động: Đây là phương pháp các
chủ thể QLXH đối với xây dựng NTM tác động về mặt tư tưởng, tình cảm, ý thức trách nhiệm của chính quyền địa phương, các tổ chức, đoàn thể và người dân (đặc biệt là nông dân) ở khu vực nông thôn nhận thức một cách sâu sắc về
ý nghĩa, niềm tin, quá trình xây dựng NTM là quá trình làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng tiến bộ, tạo ra những giá trị tích cực, tạo động lực cho người dân khu vực nông thôn phát triển bền vững Thông qua các kênh truyền thông khác nhau nhằm nêu gương người tốt, việc tốt, gương điển hình xây dựng NTM, các cuộc vận động toàn dân chung sức phát triển tam nông Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong chương trình xây dựng NTM vì đây là chương trình toàn dân, yêu cầu huy động nguồn lực rất lớn từ nhân dân Phương pháp này đã tạo ra môi trường đồng thuận về mặt tinh thần của người dân ở khu vực nông thon trong quá trình xây dựng NTM Không chỉ làm cho người dân hiểu, người dân tin, mà phương pháp này đã làm cho mỗi người dân
ở khu vực nông thôn trở thành thành viên chủ động, tích cực và sáng tạo trong từng hoạt động, nội dung của quá trình hoàn thành các tiêu chí xây dựng NTM
Thứ ba, phương pháp kinh tế: Là cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng
Trang 38động lực vật chất tác động lên lợi ích của đối tượng quản lý Trong QLXH đối với xây dựng NTM các chủ thể quản lý thông qua các biện pháp chi phối trực tiếp lên lợi ích của chính quyền địa phương và người dân ở khu vực nông thôn
để hoàn thành được tiêu chí về NTM Thông qua cách thức tác động này phong trào phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, các chỉ tiêu xây dựng NTM đạt kết quả mong muốn Chính từ động lực kinh tế tác động đã tạo ra động lực thúc đẩy người dân ở khu vực nông thôn cùng các cấp chính quyền địa phương
và các tổ chức khác tham gia một cách tích cực, chủ động nhằm tạo ra sự tiến bộ mới của nông thôn ngay tại quê hương mình Đây là phương pháp quản lý có hiệu quả cao đối với Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM nói chung
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới
1.2.1.1 Sự lãnh đạo của Đảng
Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X đã đề ra Nghị quyết số 26-NQ/TW,
đề cập một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về phát triển NNNDNT, trong đó có xây dựng NTM Nghị quyết khẳng định: NNNDNT có vai trò to lớn, chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Chính vì vậy, các vấn đề về NNNDNT phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH Đó không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực NT mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về NNNDNT; đã thống nhất nhận thức, hành động về NNNDNT và CTMTQG xây dựng NTM Nối tiếp Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI và XII, cũng đã nêu: “Tiếp tục triển khai chương trình xây dựng NTM phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn
Trang 39hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam”
Thực hiện đường lối của Đảng, thời gian qua phong trào xây dựng NTM
ở các địa phương đã thu hút sự tham gia tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và nhân dân, bước đầu làm thay đổi đáng kể diện mạo khu vực NT tại nhiều địa phương, đời sống vật chất và tinh thần của người dân có bước tiến bộ rõ rệt Tuy nhiên, quá trình xây dựng NTM còn bộc lộ nhiều hạn chế Đây là một chương trình mới nên phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm, năng lực thực tiễn của cán bộ các cấp chưa nhiều, công tác chỉ đạo, triển khai còn lúng túng
1.2.1.2 Vai trò quản lý và năng lực của bộ máy của chính quyền các cấp
Xây dựng NTM là một vấn đề phức tạp vì liên quan đến nhiều ngành, nhiều chính sách và hoạt động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khu vực nông thôn và đời sống của người dân Việc triển khai xây dựng NTM mới
là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp đóng vai trò nòng cốt, có tính chất quyết định Chính
vì vậy, nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành của UBND các cấp, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm
vụ chính là vấn đề cần được quan tâm, chú trọng Các chính sách đối với nông dân phải đảm bảo lợi ích, phát huy dân chủ và mọi tiềm năng của nông dân trong xây dựng NTM Thực hiện có hiệu quả giữa chính sách kinh tế, chính sách xã hội, an sinh xã hội trong quả trình phát triển nền kinh
tế bền vững Các địa phương cần lựa chọn các tiêu chí để ưu tiên thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề bức xúc về phát triển KT-XH của địa phương, hình thành sớm các tiêu chí có điều kiện thuận lợi để thục hiện
1.2.1.3 Vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng
Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò của MTTQ, các đoàn thể quần chúng là hết sức quan trọng Cùng với chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân chính là nơi tập hợp, đoàn kết,
Trang 40động viên các hội viên, đoàn viên và toàn thể nhân dân tích cực tham gia thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước do địa phương phát động, trong đó có chương trình chung sức xây dựng NTM Do
đó, để xây dựng NTM thành công cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể theo hướng ngày càng đa dạng, thiết thực và hiệu quả
1.2.1.4 Sự tham gia chủ động, tích cực của người dân nông thôn
Người dân, nhất là cư dân nông thôn chính là chủ thể trong xây dựng NTM Người dân là người trực tiếp tham gia phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp NT; chủ động xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH; tham gia vào quá trình quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng NTM; xây dựng và giữ gìn đời sống văn hóa; đảm bảo vệ sinh môi trường; duy trì ổn định về trật tự xã hội; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng NTM là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn, từ đó huy động được cả cộng đồng tham gia tích cực vào các quá trình xây dựng NTM, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
1.3 Kinh nghiệm quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương trong cả nước và những bài học rút ra cho tỉnh Phú Thọ
1.3.1 Kinh nghiệm trong quản lý xã hội về xây dựng nông thôn mới ở một số tỉnh, thành trong cả nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm trong chỉ đạo quản lý xã hội về xây dựng NTM ở tỉnh Yên Bái
Yên Bái nằm ở khu vực trung tâm của vùng trung du miền núi phía Bắc Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã, và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (159 xã và 21 phường, thị trấn); trong đó có