Trước nhu cầu chủ động, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trong vấn đề này, báo chí cần thực hiện tốt tuyên truyền để gó
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN HỒNG PHƯƠNG
QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ KINH TẾ QUỐC PHÒNG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
TRÊN TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN
(Khảo sát chuyên mục “Biên giới biển đảo quê hương”
và chương trình “Thời sự” năm 2017)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN HỒNG PHƯƠNG
QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ KINH TẾ QUỐC PHÒNG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
TRÊN TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN
(Khảo sát chuyên mục “Biên giới biển đảo quê hương”
và chương trình “Thời sự” năm 2017)
Chuyên ngành : Quản lý báo chí Truyền thông
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Phạm Minh Sơn
HÀ NỘI - 2019
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn, giúp đỡ của PGS,TS Phạm Minh Sơn
Nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực Những
số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng được chính tác giả thu thập, phân tích
và tổng hợp Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung, kết quả trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Phương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Minh Sơn – Trưởng Khoa Quan hệ Quốc tế và PGS.TS Hà Huy Phượng – Phó Trưởng Khoa Báo chí – Học viện Báo chí và Tuyên truyền, người thầy tâm huyết đã dìu dắt tôi và dành nhiều sự hỗ trợ, định hướng cho tôi trong quá trình làm luận văn
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ vô cùng hữu ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Báo chí – Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin trân trọng cảm ơn Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Cục Kinh tế – Bộ Quốc phòng vì sự giúp đỡ nhiệt tình trong nghiên cứu này Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đồng nghiệp, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Phương
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Sơ đồ 2.1: Hoạt động của TTXVN 30 Bản đồ 2.1: Mạng lưới cơ quan thường trú trong và ngoài nước của TTXVN 31 Bảng 2.1.Giới thiệu cơ bản về chương trình “Thời sự” và chuyên mục “Biên
giới – Biển đảo – Quê hương” 40
Bảng 2.2.Số tin, bài về KTQP trong chương trìnhThời sự 41 Bảng 2.3 Số tin, bài về AN, QP trong chuyên mục BG-BĐ-QH 42 Bảng2.4.Nộidung thông tin về kinh tế quốc phòng nói riêng và an ninh, quốc
phòng nói chung trên Vnews 43
Bảng2.5.Thể loại tin, bàithông tin về quốc phòng trên Vnews 44
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ KINH TẾ QUỐC PHÒNGTHỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRÊN TRUYỀN HÌNH – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 11
1.1 Một số khái niệm liên quan 11
1.2 Đặc điểm và vai trò của quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên truyền hình 15
1.3 Cơ sở chính trị - pháp lý của quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên truyền hình 18
1.4 Một số yêu cầu đối với quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên truyền hình 25
Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀKINH TẾ QUỐC PHÒNG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾTRÊN TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN 30
2.1 Tổng quan về Thông tấn xã Việt Nam và Truyền hình Thông tấn 30
2.2 Khảo sát thực trạng quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn qua chuyên mục “Biên giới biển đảo quê hương” và chương trình “Thời sự” 36
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn 50
2.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn 61
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ KINH TẾ QUỐC PHÒNG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRÊN TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN 64
3.1 Một số vấn đề đặt ra đối với quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn 64
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn 65
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 84
TÓM TẮT LUẬN VĂN 98
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, nền báo chí cách mạng Việt Nam đang không ngừng đổi mới, thực hiện tốt vai trò chính trị, là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức chính trị-xã hội (CT-XH) và là diễn đàn của nhân dân Trong thời gian qua, công tác thông tin đối ngoại đã góp phần không nhỏ trong tiến trình đưa đất nước ta hội nhập kinh tế quốc tế, qua đó làm cho thế giới hiểu đúng về Việt Nam, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè khắp năm châu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), giữ vững ổn định chính trị-xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới, đã có một mục riêng trong phần “Các chủ trương, chính sách cụ thể”,
đề cập đến vấn đề quốc phòng, an ninh (QP, AN) bảo vệ Tổ quốc trong tiến
trình HNKTQT Nghị quyết khẳng định, mục tiêu: “Thực hiện tiến trình
HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị-xã hội nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”
Dưới góc độ xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), an ninh nhân dân (ANND), bảo vệ Tổ quốc, có thể thấy cơ hội từ quá trình chủ động và tích cực HNKTQT trên các khía cạnh:
- HNKTQT một cách chủ động và tích cực sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu, bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế
Trang 10- HNKTQT một cách chủ động và tích cực sẽ phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
- HNKTQT một cách chủ động và tích cực sẽ mang đến điều kiện đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn để bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc về kinh tế, bảo đảm cho sự độc lập về chính trị
- HNKTQT một cách chủ động và tích cực sẽ làm cho thị trường hàng hóa phục vụ QP, AN ngày càng phong phú hơn, tạo điều kiện trong quan hệ trao đổi, đầu tư, đổi mới công nghệ
Có thể khẳng định rằng tiến trình HNKTQT bảo đảm tăng trưởng kinh
tế, tạo điều kiện cho sự nghiệp xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tạo thế cho hoạt động ngoại giao nói chung và đối ngoại quân sự, QP nói riêng; đem lại sức mạnh mới trong xây dựng nền QPTD, ANND, bảo vệ Tổ quốc, gắn kết chặt chẽ hơn giữa kinh tế, QP, AN
và đối ngoại
Tuy nhiên, HNKTQT cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với việc xây dựng nền QPTD, ANND, bảo vệ Tổ quốc bởi HNKTQT có nghĩa là chúng ta đã đi vào xu thế chung của thế giới-xu thế hội nhập, bị chế ước bởi những định chế chung nên tính phụ thuộc lẫn nhau sẽ ngày càng sâu sắc hơn Điều đó không chỉ đe dọa đến sự độc lập về kinh tế, chính trị, làm gia tăng tính chất, nội dung, hình thức của cuộc đấu tranh giữa định hướng xã hội chủ nghĩa với xu hướng tự phát theo tư bản chủ nghĩa, mà còn gia tăng sự phụ thuộc của an ninh quốc gia vào an ninh khu vực, an ninh thế giới Bên cạnh
đó, do sự tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa, do một số doanh nghiệp bị phá sản trong quá trình cạnh tranh và cũng có thể do những chính sách bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội chưa phù hợp làm gia tăng sự phân
Trang 11hóa giàu-nghèo, dẫn đến những “rạn nứt” trong các quan hệ xã hội, thách thức
sự ổn định và sự đồng thuận trong xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng tiềm lực và thế trận QPTD, ANND, nhất là xây dựng “thế trận lòng dân” Không những thế, thông qua các hiệp định song phương, đa phương, việc hình thành và mở rộng các khu kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp tập trung, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lớn khiến vấn đề bảo đảm QP, AN trên cả đất liền, biển, đảo và trong các khu kinh tế phức tạp hơn bởi việc tổ chức, hoạt động của lực lượng tự vệ, an ninh tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc Quan niệm về “an ninh phi truyền thống” xuất hiện dẫn đến vấn đề bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội phải được đặt ra đúng mức; vấn đề kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn những cuộc xâm nhập, “tiến công mềm” từ bên ngoài trên các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa phải được đặt ra một cách nghiêm túc, cấp thiết hơn
Ví dụ điển hình là tháng 05/2017 vừa qua, lợi dụng Hội nghị Trung
ương 5 ra Nghị quyết về “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp nhà nước”,… các thế lực thù địch đã xuyên tạc và ngụy biện
một cách trơ trẽn về “Quân đội làm kinh tế”, “phán xét” rằng “đây là cách làm giàu của một bộ phận lợi ích nhóm trong Quân đội, tiếp tay cho tham nhũng dưới cái bóng của quyền lực”; đồng thời kích động, tuyên truyền, tạo
dư luận xấu trong xã hội, gây mất niềm tin của nhân dân vào lực lượng vũ trang; kêu gọi mọi người lên tiếng “đấu tranh” phản đối chủ trương Quân đội làm kinh tế Nội dung xuyên tạc hết sức sai trái, phản động với phương thức thực hiện rất tinh vi, không từ một thủ đoạn nào, nhằm “lập lờ đánh lận con đen”, gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội ta và lãnh đạo cấp cao của Bộ Quốc phòng, v.v Từ đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự
Trang 12chuyển hóa” nội bộ, làm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội xa rời chuẩn mực chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tư tưởng, đạo đức, bản chất Quân đội cách mạng; mơ hồ về chức năng, nhiệm vụ, nhầm lẫn về đối tác, đối tượng, giữa hợp tác và đấu tranh…, dẫn đến mất cảnh giác, phương hướng chính trị, làm tổn hại đến uy tín, vị thế và hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, phá vỡ mối quan hệ đoàn kết quân-dân
Trước nhu cầu chủ động, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trong vấn đề này, báo chí cần thực hiện tốt tuyên truyền để góp phần quảng bá hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trên mặt trận sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng; đồng thời cần phát huy vai trò định hướng dư luận xã hội để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ của quân đội nói chung, chức năng của “đội quân lao động sản xuất” nói riêng, từ đó tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội Để ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của tư tưởng ngoại lai đi ngược lý tưởng xã hội, cổ súy cho việc xây dựng quân đội theo kiểu quân đội nhà nghề của các nước phương Tây; vô hiệu hóa các luận điệu hạ thấp uy tín của Quân đội, chia rẽ Quân đội và nhân dân, làm phai mờ bản chất cách mạng của Quân đội, thì việc truyền thông chuẩn mực, nhất quán về kinh tế quốc phòng và phương thức quản lý truyền thông hiệu quả, thích hợp là rất cấp thiết
Đề tài “Quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn” (Khảo sát chuyên mục “Biên giới biển đảo quê hương” và chương trình “Thời sự” năm 2017) sẽ đưa đến một
cái nhìn toàn diện về vai trò của kinh tế quốc phòng – nhiệm vụ chiến lược lâu dài trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; từ đó nâng cao hoạt động truyền thông toàn diện và đúng đắn về kết hợp kinh tế với quốc phòng như một phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 132 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có không ít tác phẩm về quản lý truyền thông của báo chí nói chung; cũng đã có một số tiểu luận, bài báo đề cập đến trách nhiệm của báo chí trong công tác tuyên truyền về hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng; tuy vậy, chưa có một chuyên luận đi sâu nghiên cứu đề tài quản lý truyền thông về kết hợp kinh tế với quốc phòng trong tình hình mới
a Về quản lý truyền thông
Qua tìm hiểu, tác giả tìm thấy một số sách, bài viết đăng trên báo, tạp chí chuyên ngành hay những bài phát biểu ở một số hội nghị, hội thảo báo chí Một số tài liệu chính thức có thể kể đến là:
- Sách: Công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự
nghiệp đổi mới của TS Nguyễn Thế Kỷ (Chủ biên) – Nxb Chính trị Quốc gia,
năm 2012;
- Sách: Truyền thông đại chúng trong hệ thống quyền lực chính trị ở các
nước tư bản phát triển của TS Lưu Văn An – Nxb Lý luận Chính trị năm 2008;
- Sách: Đảng ta là đạo đức, là văn minh của PGS.TS Trương Ngọc Nam,
TS Hoàng Anh (Đồng chủ biên) – NXb Chính trị Quốc gia – Sự thật năm 2011;
- Sách: Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa (Tuyển tập
các bài nghiên cứu truyền thông của khoa học xã hội) của TS Lưu Hồng
Minh – Nhà Xuất bản Dân trí năm 2009;
b Về thông tin kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông Tấn
Có một số công trình đã nghiên cứu về Truyền hình Thông tấn Công trình liên quan trực tiếp nhất tới đề tài có thể kể tới luận văn thạc sĩ Báo chí
học: THÔNG TIN KINH TẾ QUỐC TẾ TRÊN TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN của tác giả Vương Huyền Linh (2013) Tác giả đã khảo sát bản tin “Kinh tế
thế giới”, chương trình “Tiêu điểm kinh tế” và chương trình “Thời sự” từ
tháng 10/2012 đến tháng 3/2013
Trang 14Nhìn chung, nội dung các công trình đa phần đi sâu nghiên cứu chuyên
đề về lý luận báo chí truyền thông, các luận văn nghiên cứu về một mảng vấn
đề của thông điệp truyền thông Hiện chưa có công trình khảo cứu về quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông Tấn
Như vậy, đề tài “Quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông Tấn” (Khảo sát chuyên
mục “Biên giới – Biển đảo – Quê hương” và chương trình “Thời sự” năm 2017) là công trình nghiên cứu sâu, có hệ thống đầu tiên về vấn đề quản lý
truyền thông trên truyền hình với việc thực hiện kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Đây là một lĩnh vực tương đối mới, phức tạp và nhạy cảm Trong quá trình công tác cũng như tìm hiểu, nhìn chung còn ít những công trình, tài liệu nghiên cứu chính thức về lĩnh vực này, nhất là trong quân đội có tính chất bí mật quân sự Những khó khăn khách quan kể trên sẽ là trở ngại không nhỏ đối với việc nghiên cứu, xây dựng đề tài Nhưng chính từ những khó khăn ấy, cộng với nhu cầu bức thiết từ thực tiễn trong Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng… là động lực để học viên quyết tâm hơn trong việc thực hiện đề tài này Do vậy, ngoài việc thu tập tài liệu trên mạng, trên sách, báo, tạp chí là những kinh nghiệp tự học hỏi, đúc kết từ thực tiễn công tác tại phòng Thông tin Chính trị-Xã hội – Truyền hình Thông tấn (Vnews) cùng quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế, khảo sát thực trạng quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng qua chuyên mục “Biên giới biển đảo quê
Trang 15hương” và chương trình “Thời sự” năm 2017 của Truyền hình Thông tấn, luận văn đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý truyền thông vềkinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn hiện nay
b Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế trên truyền hình
- Khảo sát thực trạng công tác quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn năm 2017 qua chuyên mục “Biên giới biển đảo quê hương” và chương trình “Thời sự”; từ đó phân tích rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng trên Truyền hình Thông tấn
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn (Vnews)
b Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: khảo sát các bản tin Thời sự đầu giờ và chuyên mục “Biên giới – Biển đảo – Quê hương” trên Vnews; công tác quản lý truyền thông trên Truyền hình Thông tấn; các đoàn kinh tế quốc phòng (KT-QP) và nhân dân nơi các đoàn KT-QP đóng quân; các doanh nghiệp quốc phòng và đối tác làm việc trực tiếp
- Phạm vi thời gian: từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2017
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
a Cơ sở lý luận
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí – truyền thông; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về kinh tế quốc phòng, về quản lí báo chí truyền thông
Trang 16- Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý thuyết chung về báo chí - truyền thông và quản lí báo chí – truyền thông Trong đó, đề cập đến chủ thể, đối tượng, nội dung và phương thức quản lí
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý thuyết can thiệp xã hội của truyền thông đại chúng Trong đó, luận văn cung cấp thông tin và chia sẻ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, báo chí – truyền thông góp phần truyền thông hiệu quả đến công chúng, từ đó tác động vào ý thức làm thay đổi nhận thức của cộng đồng, dẫn tới làm thay đổi thái độ, hành vi xã hội, hay nói cách khác
là can thiệp và giải quyết các vấn đề xã hội (cụ thể là nâng cao hiệu quả quản
lý truyền thông về kết hợp kinh tế với quốc phòng vì sự phát triển đất nước và lợi ích của nhân dân)
b Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu: thông qua việc tìm kiếm và tập hợp tài liệu từ
nhiều nguồn khác nhau, tác giả làm rõ lý luận về vai trò, đặc điểm của truyền thông, các yêu cầu về quản lý truyền thông trên truyền hình Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 1 – chương tạo lập cơ sở thực tiễn và lý luận, làm điểm tựa để khảo sát trong chương 2 và 3
- Phân tích, tổng hợp, đánh giá, thống kê: phương pháp này được dùng để
phân tích thực trạng quản lý truyền thông trên Truyền hình Thông tấn (Vnews)
về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế; rút ra những ưu điểm, hạn chế còn tồn tại Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2
- Phỏng vấn sâu: tác giả chọn phỏng vấn sâu Lãnh đạo Tổng cục Công
nghiệp Quốc phòng, Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng và chuyên gia truyền thông nghiên cứu vấn đề này về tầm quan trọng của công tác quản lý đối với các sản phẩm truyền thông Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương
2 và 3
Trang 176 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa lý luận
Qua việc mô tả, tổng kết các vấn đề thuộc về quản lý truyền thông kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế trên Truyền hình Thông tấn, luận văn cung hệ thống lý luận cơ bản, toàn diện về quản lý truyền thông kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân,
an ninh nhân dân, đặc biệt là xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm của báo chí đối với vấn đề quan trọng này
Góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế với tăng cường công tác giáo dục; nâng cao cảnh giác cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân; nhận thức rõ âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng hội nhập quốc té để tiến hành chiến lược “diễn biễn hoà bình” chống phá đất nước ta
b Ý nghĩa thực tiễn
-Cung cấp dữ liệu thực trạng quản lý và các giải pháp thiết thực nhằm quản lý truyền thông qua kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập được phát sóng trên Truyền hình Thông tấn (Vnews); nâng cao tính kịp thời cũng như chất lượng, tầm vóc của thông tin về kinh tế quốc phòng trên Vnews nói riêng
và báo chí nói chung
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, học viên, sinh viên nghiên cứu về truyền hình nói chung, công tác quản lý truyền thông trên truyền hình nói riêng, cụ thể là thông tin về kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập, gợi mở cho những công trình nghiên cứu tiếp theo
7 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài là một trong những công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế trên báo chí nói chung và truyền hình nói riêng
Trang 18Đề tài có tính ứng dụng thực tiễn cao, khi được hoàn thành sẽ là một sản phẩm khoa học, trong đó bao hàm những lý luận cơ bản nhất trong công tác lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước về hoạt động báo chí nói chung, quản lý truyền thông trên Truyền hình Thông tấn (Vnews) nói riêng; làm rõ những nội dung phương thức lãnh đạo, quản lý đối với truyền thông trên Vnews; chỉ ra những ưu điểm, thành tựu và cả yếu kém, khuyết điểm, xác định rõ nguyên nhân, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý truyền thông trên Truyền hình Thông tấn
về vai trò của kinh tế quốc phòng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần phần mở đầu, kết luận, các biên bản phỏng vấn sâu, bảng thống kê số liệu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương
Trang 19Chương 1 QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ KINH TẾ QUỐC PHÒNG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRÊN TRUYỀN HÌNH –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Quản lý truyền thông và quản lý truyền thông trên truyền hình
Khái niệm truyền thông:
Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Commune” có nghĩa là chung hay cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường phương tiện để đạt đến sự hiểu biêt lẫn nhau, giữa cá nhân với cá nhân,
cá nhân với cộng đồng, xã hội Nhờ truyền thông giao tiếp mà con người tự nhiên trở thành con người xã hội Truyền thông từ tiếng Anh
“Communication” có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đối, liên lạc, giao thông
Theo định nghĩa của một số nhà khoa học thì lý thuyết truyền thông thể hiện mối quan hệ giữa các dữ kiện truyền thông trong hành vi của con người,
và truyền thông là một quá trình có liên quan đến nhận thức (thái độ) hoặc hành vi Giữa nhận thức và hành vi của con người bao giờ cũng có khoảng cách Truyền thông là nhằm mục đích tạo nên sự đồng nhất hoặc ít ra cũng rút
ngắn khoảng cách ấy
“Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình liên tục trao
đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao thay đổi nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng- nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững” [14, tr14] Khái niệm trên đã chỉ ra bản chất và
mục đích truyền thông Về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi
Trang 20hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông
Tóm lại, từ những phân tích trên có thể hình thành khái niệm chung về
truyền thông như sau: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới
sự thay đổi trong hành vi và nhận thức”
Khái niệm quản lý truyền thông:
Quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt
Quản lý là một hoạt động rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố đó tác động đến nội dung, phương thức và công cụ để tiến hành quản lý Một số yếu tố cơ bản cần chú ý là: yếu tố con người, yếu tố chính trị, yếu tố tổ chức, yếu tố quyền lực, yếu tố thông tin và yếu tố văn hóa
Như vâỵ trong luận văn, tác giả sử dụng khái niệm quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
Từ những khái niệm nêu trên có thể hiểu quản lý truyền thông là sự tác
động có tổ chức của chủ thể quản lý bằng nội dung, phương thức quản lý tới đối tượng quản lý để đạt mục tiêu của quá trình truyền thông
Trang 21 Khái niệm quản lý truyền thông trên truyền hình
Căn cứ vào các lập luận trên, chúng tôi cho rằng, quản lý truyền thông
trên truyền hình là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý truyền hình bằng nội dung, phương thức quản lý tới đối tượng quản lý để đạt mục tiêu của quá trình truyền thông
Về phạm vi quản lý vĩ mô, tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng, quản
lý của Nhà nước đối với báo chí, truyền thông trong tình hình mới là một đòi hỏi khách quan và cấp bách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, truyền thông trong thời gian tới không chỉ là điều kiện,
là động lực quan trọng để làm tốt công tác tư tưởng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của đất nước, mà còn bảo đảm quyền sáng tạo của báo chí, truyền thông, giúp báo chí, truyền thông hoàn thành trách nhiệm nặng nề, sứ mệnh cao cả của mình đối với đất nước, nhân dân
Khái niệm kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế
Quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế kết hợp quốc phòng là chủ trương chiến lược lâu dài, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Chủ trương này đã và đang được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực triển khai, mang lại nhiều kết quả thiết thực Có thể phân tích từ quy luật nghìn đời đến đòi hỏi thực tiễn để làm rõ khái niệm này như sau:
- Tháng 7/1976, đến dự và phát biểu tại Hội nghị xây dựng kinh tế toàn quân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại lời dạy của Bác Hồ và nhấn mạnh: “Quân đội ta phải làm tốt hai nhiệm vụ lớn: Sẵn sàng chiến đấu, bảo
vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất; xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước là nhiệm vụ chính trị hết sức quan trọng”; “Quân đội làm kinh tế, không chỉ có ý nghĩa xây dựng đất nước đơn thuần về mặt kinh tế Việc đó còn có ý nghĩa to lớn đối với củng cố quốc phòng và xây dựng lực lượng của bản thân quân đội”
Trang 22- Đại hội VI của Đảng (1986) với tư duy đổi mới mạnh mẽ đã xác định:
“Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước Trên cơ sở bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất quốc phòng, huy động một phần lực lượng quân đội, sử dụng một phần năng lực công nghiệp quốc phòng và việc xây dựng kinh tế”
- Từ Hội nghị Trung ương 6, khóa VI, Đảng ta xác định phải tăng cường quản lý quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế: “Phát huy khả năng và tiềm lực của quân đội trong xây dựng kinh tế nhằm tự giải quyết một phần các nhu cầu của quân đội và góp phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quân đội làm kinh tế theo cơ chế quản lý chung của Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh doanh” Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng (1996) khẳng định:
“Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng trong việc quy hoạch và phát triển các vùng kinh tế, các ngành công nghiệp, lấy hiệu quả kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh làm cơ sở cho những chủ trương cụ thể” Đặc biệt, giai đoạn này, tại Thông báo số 116TB/TƯ ngày 9-3-1988 của Bộ Chính trị kết luận về nhiệm vụ lao động sản xuất và làm kinh tế của quân đội đã khẳng định: “Tham gia lao động sản xuất và làm kinh tế là một nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược, lâu dài của quân đội ta”
Nghị quyết các Đại hội IX, X, XI của Đảng đều nhất quán chủ trương kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng Nghị quyết Đại hội XII khẳng định:
“Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược”
Cụ thể hóa các quan điểm của Đại hội Đảng toàn quốc, Nghị quyết số NQ/NQTW ngày 25-9-2012 của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo nhiệm vụ sản
Trang 23520-xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của quân đội đến năm 2020 khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tư duy về quân đội làm kinh tế, khẳng định sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng là một trong những chức năng, nhiệm vụ chiến lược, lâu dài của quân đội; phấn đấu là một nguồn lực quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Tóm lại, kinh tế quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế là một chức năng cơ bản của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, vừa thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, vừa cho thấy ý thức, trách nhiệm chính trị của quân đội trong việc quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế
1.2 Đặc điểm và vai trò của quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên truyền hình
a Đặc điểm
- Chủ thể quản lý: được phân theo nhiều cấp Cụ thể, chủ thể quản lý
trực tiếp về báo chí đó là lãnh đạo cơ quan báo chí, lãnh đạo kênh; quản lý ở các cấp quản lý cao hơn như quản lý nhà nước cấp Trung ương là Bộ TT&TT, Hội nhà báo Việt Nam, các cấp địa phương như Sở thông tin truyền thông Ngoài ra, có các chủ thể quản lý gián tiếp về truyền thông kinh tế quốc phòng
tế là Bộ Quốc phòng, đơn vị quản lý cụ thể trong lĩnh vực này là Tổng cục Chính trị, chủ yếu với chức năng theo dõi, ghi nhận, định hướng cho các cơ quan quản lý báo chí về công tác kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế
trên truyền hình tại Việt Nam
- Đối tượng quản lý: đó là các bộ phận nhân sự trực tiếp sản xuất chương trình, đối tác, công chúng của đơn vị truyền thông
- Nội dung quản lý:
+ Quản lý việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng thông tin, chương trình cụ thể cũng như tổng thể của cơ quan báo chí nhằm truyền thông hiệu quả
Trang 24+ Quản lý quy trình, cách thức tổ chức thực hiện, chất lượng nội dung và hình thức thông tin truyền thông
+ Quản lý các nguồn nhân lực, tài chính, kỹ thuật, công nghệ của cơ quan báo chí trong truyền thông
Công tác quốc phòng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của truyền thông nói chung và ngành truyền hình nói riêng, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để thực hiện tốt, Bộ
đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác này; nhất là Nghị định 119/2004/NĐ-CP, ngày 11-5-2004 của Chính phủ “Về Công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương”
Trên cơ sở quán triệt, chấp hành nghiêm định hướng chỉ đạo của Chính phủ, nắm chắc tình hình trong nước và quốc tế, nắm vững chức năng, nhiệm vụ,
Bộ Thông tin và Truyền thông đã tích cực, chủ động xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển lĩnh vực thông tin, truyền thông, như: Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Luật An toàn thông tin mạng, đảm bảo cho hệ thống pháp luật của Ngành đi vào cuộc sống, góp phần để mọi công dân thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình Cùng với đó, các đơn vị truyền hình đã đẩy mạnh tiến trình đổi mới, tái cơ cấu doanh nghiệp, tích cực hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước Do vậy, truyền hình đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước cùng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển toàn diện đất nước; đặc biệt là về nâng cao năng lực quản lý, sản xuất kinh doanh; xóa đói giảm nghèo; đảm bảo an toàn, an ninh thông tin quốc gia Đồng thời, truyền hình cũng là kênh thông tin quan trọng, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến nhân dân, định hướng dư luận xã
Trang 25hội, khơi dậy và phát huy sức mạnh vật chất, trí tuệ, tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và năng lực cạnh tranh quốc gia
- Phương thức quản lý:
+ Quản lý bằng văn bản hành chính ban hành về chiến lược, kế hoạch, chỉ đạo, thông báo, hướng dẫn, định hướng thông tin, chương trình cụ thể cũng
như tổng thể của các cơ quan báo chí làm nhiệm vụ truyền thông
+ Quản lý bằng chế độ thông tin, báo cáo: Đây là khâu quản lý thông
qua họp giao ban, mail, văn bản… nắm bắt những hoạt động thường xuyên trong quá trình truyền thông
+ Quản lý bằng chế độ kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật: Đây là
phương thức quản lý nhằm theo dõi, đánh giá thực tế hoạt động, chất lượng truyền thông, hiệu suất làm việc của nguồn nhân lực, khả năng đáp ứng của
cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ
b Vai trò
Phát huy tiềm năng, thế mạnh của mình, báo chí truyền thông tích cực, chủ động tham gia tuyên truyền, phố biến quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trong đó, có phổ biến kiến thức về quốc phòng, an ninh cho các tầng lớp nhân dân trên các phương tiện thông tin Hiện cả nước có 859 cơ quan báo chí in, 126 cơ quan báo và tạp chí điện tử,
67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương với tổng số 182 kênh, tạo mạng lưới thông tin và truyền thông thường xuyên, rộng khắp, có chiều sâu đến khắp mọi miền của Tổ quốc Việc đẩy mạnh thực hiện Chương trình “Đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo”
đã giúp cho người dân ở các vùng khó khăn có cơ hội tiếp cận được các dịch
vụ bưu chính, viễn thông, in-tơ-nét, công nghệ thông tin, phát thanh và truyền hình; trực tiếp phục vụ cuộc sống và sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và bảo đảm quốc phòng, an ninh
Trang 26Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của báo chí truyền thông, đảm bảo tốt các kênh thông tin, tuyên truyền sẽ tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh và quốc phòng, an ninh Quốc phòng, an ninh được giữ vững là điều kiện tiên quyết
để thúc đẩy truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng phát triển Bên cạnh
đó, các đơn vị truyền hình cũng phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các đơn vị chức năng xử lý các nguồn phát tán thông tin xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đồng thời, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước trong mọi tình huống
Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương, các đơn vị truyền hình phối hợp chặt chẽ với các bộ: Ngoại giao, Quốc phòng, Công an, Ban Đối ngoại Trung ương đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa; chống “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, cùng các chính sách về dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền của Việt Nam và chủ quyền biển, đảo quốc gia
1.3 Cơ sở chính trị - pháp lý của quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên truyền hình
a Cơ sở chính trị
Trong những năm qua, thực hiện nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc và đại hội Đảng bộ Quân đội, các đơn vị trong toàn quân và LLVT đã tích cực thực hiện nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng Thực hiện chủ trương này không những giúp Quân đội ta và LLVT tự bảo đảm được một phần nhu cầu của mình, mà còn góp phần quan trọng để xây dựng đất nước sau chiến tranh; tham gia xóa đói giảm nghèo; tạo sinh kế bền vững cho người dân, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao tiềm lực
Trang 27về quốc phòng, kinh tế, khoa học-công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược
“Kinh tế quốc phòng” là nguồn lực trọng yếu cho những công trình
quốc gia
Ngay từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, quán triệt phương châm “Kháng chiến, kiến quốc”, “Thực túc binh cường”, Quân đội ta đã tích cực tăng gia sản xuất tại chỗ để cải thiện đời sống; các xưởng quân giới tích cực sản xuất vũ khí phục vụ quân, dân ta đánh giặc Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Bộ Quốc phòng đã chuyển 8 vạn quân tham gia khôi phục, xây dựng cơ sở hạ tầng của đất nước sau chiến tranh Quân đội đã có mặt trên những công trường xây dựng quan trọng nhất thời đó như: Đại công trường thủy nông Bắc Hưng Hải, khu công nghiệp Thái Nguyên, Việt Trì Nhờ đó, miền Bắc nhanh chóng khôi phục sản xuất, tạo tiềm lực về kinh tế để chi viện cho tiền tuyến miền Nam
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ Quốc phòng đã điều chuyển gần 28 vạn quân sang làm kinh tế Bộ đội đã tham gia xây dựng hầu hết những công trình lớn của quốc gia như: Tuyến đường sắt thống nhất Bắc-Nam; Khu căn cứ dịch vụ tổng hợp, cảng dầu khí ở Vũng Tàu; Nhà máy Thủy điện Hòa Bình Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, nhiệm vụ xây dựng kinh tế của quân đội được tổ chức lại Nhiều đơn vị kinh tế của quân đội được tổ chức thành các doanh nghiệp Việc tổ chức doanh nghiệp quân đội vừa là để sử dụng một lực lượng đông đảo, có tính kỷ luật cao, có sức mạnh tập thể để góp phần trực tiếp tham gia xây dựng kinh tế cho đất nước, vừa là một giải pháp tạo việc làm cho bộ đội trong tiến trình tinh giản quân số, bố trí lại tổ chức lực lượng sau khi hòa bình lập lại
Trang 28 “Kinh tế quốc phòng” là điểm tựa vững chắc nơi biên cương
Hiện nay, hoạt động xây dựng các khu kinh tế-quốc phòng (KT-QP); tham gia xóa đói giảm nghèo; thực hiện Đề án bảo vệ và phát triển rừng (triển khai 25 dự án); xây dựng các làng bản tại những vùng đặc biệt về quốc phòng-an ninh (QPAN) dọc theo tuyến biên giới đang là một hoạt động nổi bật, thể hiện rõ vai trò của quân đội trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng Đến hết năm 2016, Bộ Quốc phòng đã triển khai xây dựng 28/33 Khu KT-QP ở vùng biên giới, biển đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trọng yếu
về QPAN Thực tiễn minh chứng, trước khi các khu KT-QP được xây dựng, nhiều khu vực trên tuyến biên giới đất liền của nước ta không có người dân sinh sống, tình hình an ninh trật tự diễn biến phức tạp, nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia gặp không ít khó khăn
Sự xuất hiện của các khu KT-QP thực sự trở thành những phên giậu nơi tuyến đầu của Tổ quốc Đến nay, các dự án khu KT-QP đã hoàn thành đỡ đầu, đón nhận hơn 101.340 hộ dân (đạt hơn 101% theo kế hoạch được phê duyệt) Trong đó đỡ đầu, ổn định tại chỗ giúp xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho hơn 69.810 hộ dân; đón nhận, sắp xếp gần 31.530 hộ dân; hoàn thành mục tiêu đón nhận, sắp xếp dân cư trong các khu KT-QP (trong đó có 7.150 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, tổ chức quy hoạch 15.847 hộ dân di cư từ các vùng khác đến ổn định cuộc sống); xây dựng mới 536 điểm dân cư tập trung với 32.009 hộ dân Hiện nay, đang tiếp tục hỗ trợ 100.000 hộ dân theo Quyết định 1391/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Các khu KT-QP trở thành điểm tựa vững chắc cho cuộc sống bình yên, ấm no của nhân dân và bảo đảm QPAN vùng biên giới
“Kinh tế quốc phòng” góp phần nâng cao năng lực chuyên môn,
phục vụ xã hội
Hoạt động kết hợp KT-QP là giải pháp để duy trì và tăng cường năng lực cho các đơn vị thuộc nhiều lĩnh vực của quân đội Về việc này, Trung
Trang 29tướng Nguyễn Đức Lâm, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (CNQP) cho rằng: “CNQP là một bộ phận của tiềm lực quốc phòng, an ninh; đồng thời là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù của nền kinh tế quốc dân Vì vậy, kết hợp sản xuất quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng là yêu cầu khách quan trong hoạt động của ngành CNQP”
Hiện nay, tổ chức lực lượng sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp CNQP được củng cố, kiện toàn theo hướng gắn kết, hòa nhập sâu với công nghiệp quốc gia, với yêu cầu lưỡng dụng trong các dự án cả sản xuất quốc phòng và sản xuất kinh tế Nhờ đó, năng lực nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang
bị kỹ thuật của ngành chuyển biến rõ nét và có bước đột phá với hơn 80% vũ khí, trang bị kỹ thuật do CNQP sản xuất Đặc biệt, tất cả đều do đội ngũ cán bộ,
kỹ sư của ngành tự nghiên cứu, thiết kế, chế tạo Cùng với thực hiện tốt nhiệm
vụ chính trị trung tâm, các đơn vị, nhà máy đã tận dụng tối đa công năng để sản xuất các sản phẩm kinh tế, tạo nguồn lực tài chính tái đầu tư cho sản xuất quốc phòng và tham gia phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những năm gần đây, doanh thu từ các đơn hàng kinh tế chiếm tỷ trọng bình quân hơn 60% tổng doanh thu toàn Tổng cục CNQP
Thời gian qua, một số mô hình, loại hình tham gia hoạt động xây dựng kinh tế của các đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp có thu và đơn vị thường trực mang lại hiệu quả cao như: Tăng gia quanh bếp, quanh nhà; mô hình VACR; khu tăng gia sản xuất, chế biến tập trung cấp trung, sư đoàn; khu căn cứ hậu cần cấp quân khu, quân đoàn và tương đương; hoạt động có thu từ kết hợp dịch vụ với chuyên môn đặc thù của đơn vị như: Khám, chữa bệnh; rà phá bom, mìn; tư vấn thiết kế; tư vấn giám sát; thí nghiệm chuyên ngành
“Kinh tế quốc phòng” tiên phong trên nhiều lĩnh vực khó, đóng góp
tích cực cho ngân sách Nhà nước
Một mảng hoạt động rất quan trọng trong tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội là hoạt động của các doanh nghiệp quân đội (DNQĐ)
Trang 30Những năm qua, các DNQĐ đã đóng góp lớn vào ngân sách Nhà nước Đến nay, sau quá trình sắp xếp, Bộ Quốc phòng còn 88 doanh nghiệp độc lập thuộc loại hình công ty TNHH MTV Nhà nước nắm giữ 100% vốn Theo báo cáo của Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng), năm 2016, tổng doanh thu của DNQĐ
là 345.124 tỷ đồng, bằng 104,2% so với tổng doanh thu năm 2015; lợi nhuận trước thuế đạt 43.504 tỷ đồng; nộp ngân sách đạt 40.273 tỷ đồng Số lượng doanh nghiệp có mức thu nộp ngân sách từ 300 tỷ đồng trở lên là 5 doanh nghiệp, gồm: Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng công ty Đông Bắc, Tổng công ty Xăng dầu quân đội, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Tổng công ty Vaxuco DNQĐ đang tạo thu nhập và việc làm cho gần 200.000 lao động Đặc biệt, từ năm 2012 đến nay, Viettel luôn nằm trong tốp 3 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (trong đó Viettel đứng vị trí số 1 vào năm 2012 và năm 2015)
Nếu như không phải DNQĐ thì khó có doanh nghiệp nào dám đầu tư, xây dựng các công trình ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, biển đảo tiền tiêu-những nơi rất gian khó, mà hiệu quả kinh tế không cao Hơn nữa, ở các khu vực nhạy cảm về QPAN chỉ có đơn vị kinh tế của quân đội, DNQĐ mới được tin tưởng và phù hợp để đứng chân Cùng với đó, DNQĐ còn thể hiện vai trò tiên phong trong việc nâng cao tiềm lực về khoa học-công nghệ của quốc gia Các dự
án nghiên cứu sản xuất của Viettel cả trên lĩnh vực dân sinh và CNQP đều đạt được những thành tựu nổi bật Trong đó, Viettel đã tự nghiên cứu, phát triển thành công nhiều vũ khí, thiết bị công nghệ cao, nâng cao khả năng tự chủ về công nghệ sản xuất vũ khí của Quân đội ta, hứa hẹn sẽ thay đổi nhanh chóng sức mạnh quân sự của Việt Nam Chính những hiệu quả trong sản xuất kinh tế khiến các DNQĐ như Viettel có đủ tiềm lực tài chính để đầu tư cho nghiên cứu phát triển vũ khí, trang thiết bị quân sự công nghệ cao Việc nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ của các đơn vị, DNQĐ cũng trở thành một môi trường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Trang 31b Cơ sở pháp lý
Quân đội ta là quân đội cách mạng, “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ Chức năng cơ bản đó của QĐND Việt Nam được xác lập quy định ngay từ ngày đầu thành lập và được khẳng định, phát huy trong suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu, trưởng thành hơn 70 năm qua Bởi vậy, dù ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cùng với thực hiện tốt nhiệm
vụ bảo vệ thành quả cách mạng, Quân đội ta luôn chủ động, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế bằng hình thức, biện pháp phù hợp, đúng định hướng của Đảng Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trước nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, những năm gần đây, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa hai nhiệm vụ chiến lược và đường lối của Đảng, ban hành nhiều nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quan trọng này Trọng tâm là Nghị quyết số 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002
“Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới-tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội”; Nghị quyết số 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Thông tư
số 69/2017/TT-BQP ngày 3-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội Trên cơ sở đó, nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và có bước phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về KT-XH và quốc phòng-an ninh Nổi bật là, quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế-quốc phòng (KTQP), tham gia xây dựng, phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng-an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng
Trang 32sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng Đến nay, quân đội
đã xây dựng 26 khu KTQP trên các địa bàn chiến lược, vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh Các đoàn KTQP đã phối hợp với địa phương xây dựng
hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, tổ chức quy hoạch, bố trí lại dân cư, tạo việc làm, điều kiện bền vững cho hàng trăm nghìn hộ dân định cư lâu dài, hình thành hàng trăm điểm, cụm dân cư tập trung trên vành đai biên giới, địa bàn xung yếu, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược Đồng thời, tích cực hỗ trợ, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, kết hợp thực hiện công tác dân vận, xây dựng cơ sở chính trị, Các khu KTQP thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển KT-XH gắn với tăng cường quốc phòng-an ninh của đất nước
Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, các đơn vị, doanh nghiệp quân đội tiếp tục nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đưa hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội đi vào chiều sâu Trong quá trình thực hiện, tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, “kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng-an ninh với nhiệm vụ phát triển KT-XH”; chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng; lấy phát triển KT-XH, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng-an ninh là mục tiêu hàng đầu; đồng thời, coi trọng bảo vệ tài nguyên, môi trường, thực hiện phát triển bền vững và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Đặc biệt, toàn quân tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 425-NQ/QUTW, ngày 18-5-2017 của Quân ủy Trung ương
“Về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo” và Đề án cơ cấu lại, đổi mới và
Trang 33nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội (khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt), bằng các giải pháp đồng bộ, quyết liệt và quyết tâm chính trị cao, bảo đảm đạt mục tiêu, yêu cầu đã đề ra Thông qua đó, nâng cao năng lực, sức canh tranh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, giữ vững thương hiệu doanh nghiệp quân đội, kịp thời khắc phục triệt để những tồn tại, thiếu sót, đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển
1.4 Một số yêu cầu đối với quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên truyền hình
a Một số yêu cầu chung
Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, vai trò phát triển của kinh tế quốc phòng ngày càng được nhấn mạnh và nhận thức đầy đủ hơn Nó có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, không chỉ là động lực, là điều kiện mà còn là hệ điều tiết của sự phát triển Điều đó có nghĩa rằng kinh tế -
xã hội có thể phát triển bền vững khi dựa trên môi trường mà ở đó các giá trị truyền thống tốt đẹp được phát huy, các giá trị tiến bộ của nhân loại được tiếp nhận Đó chính là nền tảng mở ra điều kiện và cơ hội thúc đẩy sự phát triển kinh tế Do vậy kinh tế - xã hội phải gắn kết hài hòa với quốc phòng, an ninh
Với mục đích hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng, truyền thông về kinh tế quốc phòng thời kỳ hội nhập quốc tế trên truyền hình cần bao hàm những nội dung chính như sau:
- Xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ gắn kết chặt chẽ với nhau, vừa là cơ sở, điều kiện, quy định ràng buộc nhau trong quá trình phát triển của dân tộc ta Muốn đất nước cường thịnh phải tạo được năng lực bảo vệ cương vực và thành quả do chính các thế hệ người Việt Nam tạo dựng lên và ngược lại muốn bảo vệ được đất nước phải có các nguồn lực do chính quá trình xây dựng, phát triển đất nước tạo ra Nói cách khác, dựng nước phải đi đôi với
Trang 34giữ nước Đây không chỉ là kinh nghiệm, là truyền thống được bao thế hệ người Việt Nam tạo dựng lên và ngày nay trở thành quan điểm chỉ đạo chiến lược xuyên suốt trong đường lối phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta
- Bước vào giai đoạn đổi mới, với những nhận thức mới trước sự phát triển của thực tiễn mở cửa và hội nhập, Đảng ta tiếp tục khẳng định: phát huy sức mạnh của cả hệ thống chuyên chính vô sản, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ngày càng vững mạnh… Tinh thần này tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện của Đảng Tại Đại hội X Đảng ta khẳng định: “Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước”
- Để phát huy tốt nhất mọi tiềm năng của đất nước, không chỉ ở khai thác, biến tiềm năng thành sức mạnh thực sự mà còn phải sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất trong điều kiện các nguồn lực của chúng ta chưa phải là dồi dào Điều đó cho thấy phải có sự gắn kết ngay từ đầu, mà trước hết phải được nhận thức ngay trong quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch Ngay trong chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phải xác định rõ được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội với mục tiêu củng cố quốc phòng - an ninh, phải xác định, có kế họach phân bổ nguồn lực và giải pháp thực hiện, triển khai kế hoạch Chính vì vậy, tại Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ quan điểm: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn” Đây có thể xem là bước cụ thể hóa rõ hơn các nội dung kết hợp Không chỉ kết hợp giữa các địa bàn, vùng miền, các ngành, trong mỗi một ngành, mà phải kết hợp ngay từ khâu xác định chiến lược, xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách
Trang 35b Một số yêu cầu cụ thể
Trên cơ sở phát triển một số yêu cầu chung kể trên và trước thực tiễn phát triển, việc quản lý truyền thông về kinh tế quốc phòng trên tryền hình cần có sự bổ sung, phát triển trong tư duy lý luận kết hợp kinh tế với quốc
phòng, an ninh; thể hiện trên các khía cạnh sau:
- Thứ nhất, cần có bước phát triển mở rộng sự kết hợp không chỉ kinh
tế mà cả văn hóa và xã hội với quốc phòng, an ninh và ngược lại: Phát triển
kinh tế - xã hội có vai trò quyết định đến việc tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh Và ngược lại quốc phòng, an ninh vững mạnh tạo điều kiện, môi trường ổn định cho phát triển kinh tế và bảo vệ những thành quả phát triển đã đạt được Như vậy, khó có thể có nền quốc phòng vững mạnh khi kinh tế xã hội không được phát triển
- Thứ hai, điểm mới, điểm phát triển trong tư duy kết hợp là tiếp tục nhấn mạnh sự kết hợp theo địa bàn, vùng, song phải chú trọng vùng sâu, vùng
xa, biên giới, biển, đảo: Việc kết hợp được thực hiện trên phạm vi tổng thể
quốc gia, đồng thời trong mỗi địa bàn, vùng có những đặc thù về kinh tế - xã hội và tự nhiên, nên cần có sự sáng tạo trong phối kết hợp thực hiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh
Trong triển khai phát triển kinh tế, xã hội và quốc phòng, chúng ta đã
có sự phân vùng kinh tế theo lãnh thổ và xây dựng các quân khu theo địa bàn lãnh thổ Mỗi vùng lãnh thổ có tiềm năng, thế mạnh riêng, dẫn đến hình thành
cơ cấu kinh tế cụ thể phù hợp để phát huy thế mạnh của vùng Bên cạnh đó, với những đặc thù lịch sử - văn hóa cũng cần hình thành kế hoạch, chính sách phù hợp để khai thác, phát huy sức mạnh tổng hợp cho phát triển kinh tế - xã hội Việc xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ, tạo thế bố trí chiến lược quốc phòng, an ninh cũng phải trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp về kinh tế, văn hóa, xã hội mới tạo được cơ sở bảo
Trang 36đảm nguồn lực tại chỗ cho từng khu vực phòng thủ, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển và đảo cần được chú trọng trong kết hợp kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh, bởi đây là những vùng còn kém phát triển, song lại có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược quốc phòng,an ninh Và nếu không có sự kết hợp tốt sẽ gia tăng nguy cơ mất an ninh, nguy cơ bị xâm lấn, ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
- Thứ ba, không chỉ mở rộng nội dung kết hợp mà còn phải nhấn mạnh đến tình toàn diện trong sự gắn bó kết hợp các lĩnh vực: Cụ thể, cùng với việc
khẳng định rõ yêu cầu kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, là việc tiếp tục khẳng định yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, và xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân
- Thứ tư, các yếu tố chủ thể, đối tượng, nội dung quản lý phải đảm bảo
có chiến lược phát triển tốt, có hiệu quả, có nội dung phù hợp với mục tiêu và phương thức khoa học, hiện đại
Tiểu kết Chương 1
Cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, xã hội Việt Nam đang có những biến động to lớn từ cấu trúc xã hội đến các yếu tố vật chất và phi vật chất trong mỗi cá nhân tham gia hoạt động xã hội Truyền hình trong kỷ nguyên mới, trở thành phương tiện truyền thông độc lập và có sức mạnh to lớn trong việc tạo dựng và định hướng dư luận
Trước thực trạng đó, quản lý truyền thông trên truyền hình là một chức năng thật sự cần thiết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nó đáp ứng nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Bên cạnh đó,
Trang 37trên bình diện quốc tế, các thông tin mà truyền hình cung cấp cũng như các hoạt động liên quan đến truyền hình cũng có những ảnh hưởng nhất định đến vấn đề an ninh chính trị của toàn cầu Ngoài ra, trước tình hình xuyên tạc của các thế lực thù địch, quản lý truyền thông sẽ làm cho truyền hình hoạt động
và phát triển theo đúng chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đấu tranh tích cực, làm thất bại các âm mưu sử dụng diễn đàn của nhân dân cho chiến lược diễn biến hòa bình trên phương diện thông tin đại chúng và văn hóa xã hội
Công tác quản lý truyền thông về quốc phòng, an ninh trên truyền hình trong thời kỳ hội nhập quốc tế có các đặc điểm, vai trò, nguyên tắc đặt ra đối
với các yếu tố chủ thể, đối tượng, nội dung quản lý
Trang 38THỰC TR
KINH TẾ QUỐ
TRÊN TRUY (Khảo sát chuyên m
ỐC PHÒNG THỜI KỲ HỘI NHẬP QU TRÊN TRUYỀN HÌNH THÔNG TẤN
o sát chuyên mục “Biên giới biển đảo quê hương”
và chương trình “Thời sự”)
ng quan về Thông tấn xã Việt Nam và Truyền hình Thông t
ch sử phát triển của Thông tấn xã Việt Nam
Sơ đồ 2.1: Hoạt động của TTXVN
ệt Nam (TTXVN) có tên giao dịch quốc tNews Agency (VNA), được thành lập từ 15/9/1945, là cơ quan thu
Trang 39phủ và là cơ quan thông tin chính th
nghĩa Việt Nam, thực hi
thông tin, văn kiện chính th
phục vụ yêu cầu lãnh đ
thông tin bằng các loại hình truy
chúng, công chúng và các đ
Là hãng thông tấ
tác song phương và đa phương v
quốc tế lớn trên thế giớ
- Thái Bình Dương (OANA), thành
Không liên kết (NANAP), T
Với hệ thống 63 cơ quan thư
nước và 30 cơ quan thư
hiện là cơ quan hoạt đ
phẩm và loại hình thông tin nh
Bản đồ 2.1: M
và là cơ quan thông tin chính thức của Nhà nước Cộng hoà xã h
c hiện chức năng thông tấn Nhà nước trong vi
n chính thức của Đảng và Nhà nước; cung cđạo của Đảng và quản lý Nhà nước; thu th
i hình truyền thông, phục vụ các cơ quan thông tin đchúng, công chúng và các đối tượng có nhu cầu ở trong và ngoà
ấn duy nhất của cả nước, TTXVN hiện có quan htác song phương và đa phương với hơn 40 hãng thông tấn và tổ
ới; là Ủy viên BCH tổ chức các hãng thông tương (OANA), thành viên Tổ chức thông tấn xã các n
t (NANAP), Tổ chức các thông tấn xã ASEAN (ANEX)…
ng 63 cơ quan thường trú tại tất cả các tỉnh, thành trong c
c và 30 cơ quan thường trú ở ngoài nước đặt tại tất cả 5 châu l
t động báo chí với nhiều ngôn ngữ nhất, có nhi
i hình thông tin nhất cả nước
2.1: Mạng lưới cơ quan thường trú trong
và ngoài nước của TTXVN
ng hoà xã hội chủ
c trong việc phát c; cung cấp thông tin c; thu thập, phổ biến các cơ quan thông tin đại trong và ngoài nước
Trang 40TTXVN là một tổ hợp truyền thông với 32 đơn vị đầu mối, trong đó có các cơ quan thông tấn cung cấp thông tin nguồn cho hệ thống truyền thông trong và ngoài nước gồm:
5 ban biên tập:
Ban Biên tập tin Trong nước,
Ban Biên tập tin Thế giới,
Ban Biên tập tin Đối ngoại,
Ban Biên tập tin Kinh tế,
Ban Biên tập Ảnh
2 trung tâm thông tin nguồn:
Trung tâm Truyền hình Thông tấn,
Trung tâm Thông tin Tư liệu
Các cơ quan báo chí xuất bản phục vụ công chúng Việt Nam và nước ngoài gồm 10 tòa soạn báo in và báo điện tử:
Báo Tin tức,
Báo Thể thao & Văn hoá,
Báo ảnh Dân tộc & Miền núi,
Nguyệt san Khoa học & Công nghệ,
Báo điện tử VietnamPlus,
Báo ảnh Việt Nam,
Báo Việt Nam News,
Báo Le Courrier du Vietnam,
Tạp chí Vietnam Law & Legal Forum,
Tuần báo Thời báo Việt – Hàn
Ngoài ra, còn có 1 kênh truyền hình; 1 nhà xuất bản, 5 trung tâm phục vụ thông tin, cùng với khối các đơn vị chức năng và 2 doanh nghiệp in
Với hơn 60 sản phẩm thông tin được thực hiện bởi đội ngũ khoảng 1.200 phóng viên, biên tập viên (trong tổng số gần 2.500 cán bộ, công nhân