1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý truyền thông về vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử hiện nay (khảo sát thanhnien vn, baophapluat vn, dansinh vn từ tháng 72016 đến 62017)

138 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRẦN DOÃN QUYẾT THẮNG QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO THA

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN DOÃN QUYẾT THẮNG

QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG

TỆ NẠN XÃ HỘI CHO THANH NIÊN TRÊN BÁO MẠNG

ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

((Khảo sát thanhnien.vn, baophapluat.vn, dansinh.vn

từ tháng 7/2016 đến 6/2017)

Chuyên ngành : Quản lý báo chí truyền thông

Mã số : 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Nhã

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Lưu Văn An

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Nhã

Các thông tin và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, dựa trên thực tế khảo sát và báo cáo của các cơ quan hữu quan và có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Doãn Quyết Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Luận văn thạc sĩ Báo chí học, chuyên ngành

Quản lý báo chí truyền thông với đề tài: “Quản lý truyền thông về vấn đề

phòng chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử hiện nay”,

tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình từ các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Xin chân thành cám ơn TS Lê Thị Nhã đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn này Xin chân thành cám ơn các Thầy, Cô giáo trong Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã có những ý kiến góp ý chân thành, sâu sắc cho tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn

Xin trân trọng cảm ơn cơ quan đại diện Báo Thanh niên tại Hà Nội; Ban biên tập Báo Pháp luật Việt Nam và Báo điện tử Dân Sinh đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, hỗ trợ tác giả hoàn thành Luận văn

Mặc dù rất cố gắng, song chắc chắn Luận văn còn thiếu sót, hạn chế Kính mong các thầy, cô giáo, các nhà khoa học quan tâm, giúp đỡ, góp ý kiến

bổ sung để Luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Doãn Quyết Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO THANH NIÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 17

1.1 Tệ nạn xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội 17

1.2 Truyền thông và quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử 20

1.3 Mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung và phương pháp quản lý truyền thông về vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử 35

1.4 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử 43

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO THANH NIÊN TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 51

2.1 Khái quát về các báo mạng điện tử khảo sát 51

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên các báo mạng điện tử khảo sát 56

2.3 Một số vấn đề đặt ra trong quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống, tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử hiện nay 79

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ 85 TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO THANH NIÊN TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ TRONG THỜI GIAN TỚI 85

3.1 Quan điểm tăng cường quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử 85

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử 89

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 118

TÓM TẮT LUẬN VĂN 130

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê chuyên mục, chuyên trang liên quan đến truyền thông

PCTNXH trên các báo mạng điện tử khảo sát 59 Bảng 2.2: So sánh về chủ đề, tần suất tin bài về TN trên 3 báo mạng điện tử

khảo sát 62 Bảng 2.3 Mức độ xuất hiện các tin, bài viết về PCTNXH trên báo điện tử 64 Bảng 2.4 Mức độ thường xuyên đọc các tin, bài viết về vấn đề PCTNXH 65 Bảng 2.5: Số lượng các tin, bài đăng từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2017 67 Bảng 2.6 Các vấn đề được các BMĐT tập trung khai thác thông tin 69 Bảng 2.7 Mức độ quan tâm nội dung truyền thông PCTNXH được các phóng

viên tập trung khai thác 70

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ xuất hiện các tin, bài viết về các vấn đề PCTNXH trên

BMĐT khảo sát 64 Biểu đồ 2.2 Mức độ thường xuyên đọc các tin, bài về vấn đề PCTNXH 65 Biểu đồ 2.3: Số lượng các tin, bài đăng từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2017 67 Biểu đồ 2.4 Các vấn đề được các BMĐT tập trung khai thác thông tin 69 Biểu đồ 2.5 Mức độ quan tâm nội dung truyền thông PCTNXH được các

phóng viên tập trung khai thác 71

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BMĐT : Báo mạng điện tử

DS : Dân sinh PCTNXH : Phòng, chống tệ nạn xã hội PLVN : Pháp luật Việt Nam

PV, BTV : Phóng viên, Biên tập viên

TNXH : Tệ nạn xã hội

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, cùng với các giai tầng xã hội khác, thế hệ trẻ, trong đó có TN đã có những đóng góp tích cực cho nước nhà Thanh, thiếu niên hiện chiếm hơn 70% dân số cả nước, là nguồn nhân lực dồi dào Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “TN là giường cột của nước nhà”, “Là chủ nhân của tương lai đất nước” Đây là nguồn nhân lực dồi dào, một thế hệ trẻ năng động, có trình độ, có tri thức là sự thuận lợi lớn cho đất nước phát triển ngày một đi lên

Thực tiễn cho thấy, TN có vai trò hết sức to lớn trong mọi thời kỳ, mọi lĩnh vực, TN luôn luôn là lực lượng xung kích đi đầu, hiến thân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đa số TN sống có hoài bão, có lý tưởng lập thân, lập nghiệp, có đạo đức, lối sống trong sáng Xuất hiện ngày càng nhiều tấm gương sáng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, trong học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Nhiều tấm gương khởi nghiệp, dám nghĩ, dám làm, giàu lên từ sản xuất, kinh doanh, được xã hội ghi nhận

Song, quá trình phát triển xã hội Việt Nam trong bối cảnh của nền kinh

tế thị trường và toàn cầu hóa đã dẫn đến những biến đổi sâu sắc ở các thiết chế, các tổ chức xã hội, các giai tầng, các nhóm đối tượng, trong đó có TN Song song với quá trình phát triển của xã hội, mặt trái của nền kinh tế thị trường là những vấn đề tiêu cực đang không ngừng tăng lên về số lượng và mức độ nguy hiểm Một bộ phận TN sống thiếu lý tưởng cách mạng, “khô đoàn”, “nhạt Đảng”, suy thoái về đạo đức, lối sống, sa vào các TNXH

TNXH trong TN và hệ lụy của nó đã và đang dần trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội Nó là nhân tố tác động nguy hiểm, ảnh hưởng đến sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận TN

Trang 9

Đáng lo ngại là do ảnh hưởng từ hệ lụy của cơ chế thị trường, ảnh hưởng từ nhiều thông tin xấu độc từ các trang mạng xã hội trên internet, một

bộ phận TN Việt Nam sa vào nhiều TNXH như ma túy, mại dâm …

Hậu quả các TNXH trên là tỷ lệ các loại tội phạm gia tăng Trong đó có những tội phạm hình sự chưa có trong tiền lệ đang được trẻ hóa thuộc các đối tượng ở lứa tuổi TN ngày càng gia tăng Tính chất, mức độ ghê rợn của các hành vi tội phạm ngày càng phức tạp, nguy hiểm từ nhiều vụ án mạng Đáng

lo lắng là không ít nguyên nhân các vụ án giết người rất giản đơn: chỉ vì ghen tuông mà giết người yêu, chặt đầu, chặt tay, cắt xác thành nhiều mảnh để phi tang; chỉ vì bố, mẹ không cho tiền mà con giết bố, giết mẹ, cắt xác cho vào nhiều bao tải phi tang; chỉ vì không chào hay “nhìn đểu” cũng giết bạn một cách dã man Nhiều vụ án ghê rợn, rúng động làm cả cộng đồng phẫn nộ, lên án, gây nên những bất ổn xã hội, tạo nên sự phân tâm, lo lắng, thiếu niềm tin vào chế độ trong một bộ phận không nhỏ các giai tầng xã hội

TNXH trong TN ngày càng gia tăng đã, đang và tiếp tục làm đảo lộn thang giá trị đạo đức, lối sống trong xã hội Tình trạng đó đã vi phạm đạo đức

và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng Đó là những biểu hiện cụ thể của lối sống thực dụng, coi thường các chuẩn mực đạo đức, xã hội

và pháp luật, làm xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, phá vỡ tình cảm, hạnh phúc của gia đình, phá hoại nhân cách, phẩm giá con người, ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe, năng suất lao động, làm băng hoại giống nòi dân tộc

Nhận định, đánh giá thực trạng TNXH trong TN, Chỉ thị số 42-CT/TW

ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030” đã nhấn mạnh: “Một bộ phận giới trẻ giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Một số

Trang 10

ít TN bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động chống sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta Tình trạng tội phạm và TNXH trong giới trẻ diễn biến phức tạp” [17]

Phải khẳng định rằng, trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước đã đặc biệt quan tâm chỉ đạo đấu tranh PCTNXH Các ngành, các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội đã vào cuộc, chung tay PCTNXH Trong đó, báo chí nói chung và BMĐT nói riêng đã tăng cường quản lý truyền thông PCTNXH Nhiều toà soạn BMĐT đã chú trọng đổi mới, nâng cao hiệu quả truyền thông PCTNXH Song nhìn chung hiệu quả quản lý truyền thông PCTNXH còn rất nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu của lĩnh vực vốn rất hệ trọng này

Nhìn nhận, đánh giá nguyên nhân dẫn đến TNXH ngày càng gia tăng luôn là trăn trở của các cấp lãnh đạo, của các nhà hoạch định chiến lược, chính sách và giới nghiên cứu Tất nhiên, có rất nhiều nguyên nhân được chỉ

ra, trong đó, phần lớn quy cho hệ lụy từ mặt trái của cơ chế thị trường Song, tiếp cận vấn đề từ các góc độ báo chí học, xã hội học, tâm lý học có thể thấy rất rõ một trong những nguyên nhân dẫn đến TNXH trong TN ngày càng gia tăng là từ tác động động tiêu cực của môi trường mạng internet và sự yếu kém trong truyền thông và quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên BMĐT Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, do chưa làm tốt truyền thông và quản

lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên BMĐT nên thông tin xấu độc mạng xã hội đôi khi lấn át thông tin tích cực Bởi vì, thông tin tích cực trên các BMĐT chính thống không đủ sức chi phối, dẫn dắt, định hướng, giáo dục đạo đức, lý tưởng cho TN Nhiều BMĐT chưa tham gia cung cấp thông tin trên các trang mạng xã hội Trong khi, tâm lý của TN chủ yếu lại thường xuyên truy cập các mạng xã hội Do tiếp cận, cập nhật thường xuyên, với một khối lượng lớn các thông tin xấu độc, phản văn hóa, nhất là tâm lý tò mò, tìm hiểu các cách ăn chơi sa đọa, đọc và nghiền ngẫm các vụ án ly kỳ, với các

Trang 11

hình thức giết người tinh vi, “hiện đại”, rùng rợn trên các mạng xã hội nên một bộ phận TN sa vào các TNXH là điều khó tránh khỏi

Vậy làm thế nào để ngăn chặn các TNXH trong TN? Đó là bài toán cần lời giải Thực chất, bài toán này cần phải được xem xét, luận giải một cách căn

cơ trong tổng thể từ chủ trương, chính sách, chiến lược đến các giải pháp thực thi trong thực tiễn đối với TN Trong thực tiễn, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp và cả hệ thống chính trị vào cuộc để ngăn chặn, đẩy lùi Báo chí, trong đó có BMĐT đã thực sự vào cuộc để tạo hiệu ứng truyền thông tác động độc giả trẻ tuổi nhằm ngăn chặn các TNXH với thanh, thiếu niên Tuy nhiên, công tác quản lý truyền thông chính sách, đặc biệt là truyền thông về PCTNXH trên báo chí nói chung và BMĐT nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tác động trong lĩnh vực này Không ít toà soạn BMĐT rất yếu về năng lực quản lý về vần đề truyền thông PCTNXH cho TN ở các khía cạnh như: hạn chế về năng lực quản lý, tổ chức lực lượng PV viết tin, bài; không kiểm soát được nội dung để lọt nhiều tin bài phản ánh thiếu khách quan, gây tác động xấu trong xã hội; không quản

lý được comment, để lọt nhiều nội dung, hình ảnh, clip nhạy cảm…

Chính vì vậy, việc tăng cường quản lý truyền thông của BMĐT với lĩnh vực này trở nên cấp thiết Với cách tiếp cận đó, tác giả chọn vấn đề

“Quản lý truyền thông về vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử hiện nay” làm đề tài Luận văn thạc sĩ báo chí

học, chuyên ngành quản lý báo chí truyền thông

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến phòng chống tệ nạn

Trang 12

- Đề án “Tổng luận phân tích về phòng chống lạm dụng ma túy trong

TN” của Trung ương Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh, năm 1995 Đây là một

đề tài rộng, trong đó tập trung điều tra, khảo sát tình hình lạm dụng ma túy của thanh thiếu niên cả nước, kết hợp nghiên cứu, phân tích các báo cáo số liệu của các tỉnh Đoàn để xây dựng lên trực trạng chung, lạm dụng ma túy trong TN Trên cơ sở đánh giá công tác phòng, chống ma túy của các cấp Đoàn TN, những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và xây dựng các nước, trong đó nhấn mạnh vai trò của tổ chức Đoàn Tuy nghiên đề tài mới đề xuất được nhóm giải pháp cơ bản trong công tác tuyên truyền phòng ngừa, chưa có nhóm giải pháp phối hợp để khắc phục những hậu quả do TN mặc TNXH, nghiện ma túy gây ra như công tác cai nghiện, công tác quản lý sau TNXH, phòng ngừa TNXH và tái nghiện bền vững

- “Mại dâm, ma túy, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại” GS TS Nguyễn

Xuân Yêm, TS Phạm Đình Khánh, TS Nguyễn Thị Kim Liên (2003), Nxb Công an nhân dân Công trình nghiên cứu đã chỉ ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ của các TNXH và được nhìn nhận dưới góc độ đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng công an nhân dân

“Vấn đề phòng, chống TNXH trong thời kỳ đổi mới” TS Đàm Hữu

Đắc, Nguyễn Minh Tuấn, Trần Việt Chung và TS Lê Thanh Hà (2005) Các tác giả đã hệ thống dưới góc độ nghiên cứu xã hội học những lý luận cơ bản

về tệ nạn mại dâm và ma túy, phân tích, đánh giá thực trạng và tình hình PCTNXH trong thời kỳ mới, dự báo tình hình cũng như đề xuất những giải pháp ngăn ngừa, PCTNXH

“Phòng, chống sự xâm nhập của các TNXH vào gia đình” (2006) Cuốn

tài liệu của nhóm tác giả PGS TS Lê Ngọc Hùng; TS Ngô Thị Ngọc Anh và các cộng sự Nội dung tài liệu đã nêu một cách khái quát về khái niệm tệ nạn

xã hội, các loại TNXH, ảnh hưởng của TNXH với gia đình và các giải pháp phòng tránh các loại TNXH xâm nhập vào gia đình thời kỳ hiện nay

Trang 13

- “Những giải pháp thực hiện việc ngăn chặn tệ nạn mại dâm, ma túy

trong thanh thiếu niên” (năm 2007) Đề tài cấp Bộ, do ThS Đỗ Thị Bích

Điểm làm chủ nhiệm Đề tài đánh giá được cơ bản thực trạng TNXH và nghiện ma túy trong thanh, thiếu niên Việt Nam và đề xuất các giải pháp phòng ngừa cho thực trạng này Tuy nhiên đề tài chưa chia tách được thực trạng nghiện ma túy trong nhóm thiếu niên và nhóm TN, do đó đề tài cũng chỉ

đề xuất được các giải pháp phòng ngừa TNXH nói chung cho cả TN và thiếu niên, trong khi đó mỗi độ tuổi cần phải có những nhóm giải pháp phòng ngừa phù hợp Bên cạnh đó đề tài chưa đề xuất được nhóm giải pháp để khắc phục tình trạng TNXH xảy ra trong lứa tuổi thanh, thiếu niên

- “Phát huy vai trò của Đoàn TN cộng sản Hồ Chí Minh trong đấu

tranh phòng ngừa tội phạm và TNXH” của Trung tướng Bùi Quang Bền, Ủy

viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, (Tạp chí Cảnh sát nhân dân điện tử, ngày 12/12/2012) Tác giả đưa ra những thực trạng, xu hướng tội phạm và TNXH mới Từ đó, tác giả đề ra các giải pháp phát huy vai trò của Đoàn TN cộng sản Hồ Chí Minh trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm và TNXH

- “Quan điểm và giải pháp chiến lược phòng, chống tội phạm thời kỳ

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Trần Minh Tơn, Viện Chiến

lược và Khoa học Công an (Bộ Công an) Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 24/9/2014 Tác giả đã đưa ra những quan điểm, đặc biệt là các nhóm giải pháp trước mắt và lâu dài để ngăn chặn tội phạm hiện nay

- “Đổi mới nội dung, biện pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao hiệu

quả công tác phòng, chống ma túy ở nước ta hiện nay” của Trung tướng,

PGS TS Đồng Đại Lộc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát (Tạp chí Cảnh sát nhân dân điện tử, ngày 9/8/2016) Tác giả đã đưa ra một cách hệ thống về giải pháp đổi mới nội dung, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy ở nước ta trong tình hình mới

Trang 14

2.2 Các bài viết về phòng chống tệ nạn xã hội và quản lý truyền thông về phòng chống tệ nạn xã cho thanh niên đã đăng tải trên các báo mạng điện tử

Vấn đề TNXH và PCTNXH trong TN là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà xã hội học quan tâm, đăng tải nhiều bài viết trên các báo, tạp chí điện tử như: Báo Nhân dân, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo TN, Báo PLVN, Báo Sinh viên Việt Nam, Báo Gia đình và Xã hội, Báo Công an nhân dân, Tạp chí Cảnh sát Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Tuyên giáo, Tạp chí Quốc phòng toàn dân…

Có thể nêu một số bài viết nghiên cứu chuyên khảo điển hình sau:

- Bài nghiên cứu chuyên khảo của tác giả Phạm Thanh Hưng, Khoa

Luật, Học viện CSND về “Dự báo và phương hướng phòng, chống tệ nạn xã

hội trong tình hình mới” đăng trên Tạp chí Cảnh sát nhân dân, cập nhật ngày

14/5/2018, 15:2' đã phác họa bức tranh rõ nét về thực trạng TNXH và PCTNXH hiện nay

- “Bóng cười, người khóc”- Bài viết của tác giả Khánh Anh, cập nhật

trên www.baophapluat.vn, 23/9/2018 06:45 Tác giả bình luận: Thời gian gần đây, nhiều tụ điểm ăn chơi bị lực lượng chức năng “phá” và khách chơi ở các

tụ điểm đó phần lớn là dương tính với ma túy sau khi kiểm tra Tuy nhiên, có

“phá” mà không “triệt” được, các tụ điểm đó mọc lên như nấm, hồi sinh nhanh chóng và tiếp tục tái diễn những khách làng chơi ma túy như chưa hề

có vụ triệt phá nào Hệ lụy của ma túy không chỉ khiến con người tê liệt ý chí, tàn phá sức khỏe, mầm mống tội phạm mà cả những người hiền lành, lương thiện cũng “thân tàn, ma dại” vì nó Vậy nên, phải “đánh chặn” nó, phải triệt phá toàn bộ các tụ điểm ăn chơi và nên cấm tiệt, từ bóng cười đã khiến bao người phải khóc

Đình chỉ cấp phép các lễ hội âm nhạc để làm công tác tổ chức chặt chẽ, ngăn ngừa việc sử dụng chất kích thích và “vui quá trớn” cũng là một biện

Trang 15

pháp cần thiết và cần thiết hơn cần xử lý nghiêm khắc những người sử dụng

ma túy - “đầu ra” và thị trường tiềm năng cho như kẻ buôn bán “cái chết trắng” khai thác

- “Khuyến cáo gây bão: "Nên phi hình sự hóa hoạt động mại dâm”-bài

viết của tác giả Mai Long trên www.baophapluat.vn, cập nhật 6/5/2018 14:51 Tác giả cho biết tại Hội thảo kinh nghiệm quốc tế trong giải quyết vấn đề mại dâm, bà Trần Quỳnh Anh đến từ UNFPA chia sẻ: trên thế giới hiện có bốn

mô hình quản lý gồm: Hình sự hóa, hình sự hóa một phần, hợp pháp hóa và phi hình sự hóa mại dâm

Khu vực Châu Á, Thái Bình Dương có 37/38 nước áp dụng hình sự hóa toàn phần, hình sự hóa một phần mại dâm Qua thực tế áp dụng thấy gây ra một số điểm bất lợi như tăng kỳ thị, phân biệt đối xử với người bán dâm vì bị xem là vi phạm pháp luật, từ đó làm giảm khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội Người bán dâm bị phân biệt đối xử phải hoạt động trong bóng tối, lo sợ không báo cáo hoặc báo cáo không đầy đủ dẫn tới xây dựng chính sách chưa đầy đủ

Đối với mô hình hợp pháp hóa mại dâm tức đưa các hoạt động mại dâm vào các khu vực để quản lý, kinh nghiệm khi áp dụng cũng cho thấy nhiều bất lợi bởi đa số người hành nghề tập trung ngoài khu vực được quản lý

Với mô hình phi hình hình sự hóa, đại diện UNFPA lưu ý việc bãi bỏ các quy định xử lý hình sự không có nghĩa buông lỏng quản lý Riêng các hoạt động mại dâm liên quan đến mua bán người, mua bán dâm với người chưa thành niên vẫn bị xử lý hình sự

Từ những phân tích trên, UNFPA khuyến cáo các nước nên tính toán tiến tới phi hình sự hóa mại dâm; cần xây dựng luật trên tinh thần tôn trọng quyền con người, chống phân biệt đối xử Các dịch vụ y tế phải sẵn sàng tiếp cận người hành nghề mại dâm, tăng cường hỗ trợ nhóm đối tượng này về thủ tục pháp lý như giấy tờ thân nhân

Trang 16

Ông Trần Văn Đại, Phó Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về Xây dựng pháp luật (Bộ Tư pháp) trình bày quan điểm không chỉ Việt Nam mà các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm tới phòng, chống mại dâm cũng như các tệ khác như ma túy, cờ bạc “Đã nói tệ nạn xã hội thì rất khó loại trừ mà chỉ hướng đến giảm thiểu Pháp lệnh Phòng chống mại dâm ra đời từ năm 2003, thực tế mại dâm vẫn diễn ra chắc chắn có nguyên nhân pháp luật”, ông Đại nói và cho biết đồng tình với quan điểm không hình sự hóa mại dâm Riêng các hành vi liên quan tới mại dâm gồm tổ chức mại dâm, môi giới mại dâm, mua dâm với người chưa đủ tuổi thành niên, vẫn bị xử lý hình sự

- “Phòng, chống tệ nạn xã hội: Tăng cường các giải pháp đồng bộ, có hiệu quả”- Bài viết của tác giả Như Ngọc, cập nhật 08:00,09/02/2019 trên

BMĐT Tiếng Chuông http://tiengchuong.vn/ Tác giả đề xuất giải pháp tạo cơ chế phối hợp giữa các cơ quan báo chí, truyền thông nhằm tuyên truyền có hiệu quả về việc giáo dục hành vi tình dục an toàn, lành mạnh; phòng chống HIV/AIDS và tội phạm mua bán người tại cộng đồng, các nhóm đồng đẳng/nhóm tự lực/câu lạc bộ… nhằm nâng cao nhận thức, hạn chế nguy cơ bị mua bán, bị ép buộc làm mại dâm-nhất là đối với nhóm lao động di cư, tìm kiếm việc làm

- “Phòng chống ma túy qua nhạc phẩm, hội họa”- bài viết của tác giả

Chu Lương, cập nhật trên www.baodansinh.vn, 10:20 - 20/06/2019 Tác giả

đã nêu một giải pháp khá mới về truyền thông phòng chống ma túy qua hình tyhuwcs văn hóa, văn nghệ Theo đó, ông Lê Trung Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản lý, người sáng lập Viện Nghiên cứu Tâm lý người sử dụng ma túy (PSD) cho biết: “Hôm nay ở đây, tôi với rất nhiều cương vị nhưng có lẽ xin được chia sẻ ở cương vị của một người từng đi qua cơn bão ma túy, với một mong muốn, nỗi niềm và những khao khát về những gì tôi đã trải qua Tôi mong các nhạc sĩ, họa sĩ sẽ biến nó thành những tác phẩm để truyền một thông điệp vì một xã hội không ma túy… Khao khát của tôi hôm nay là chúng

Trang 17

ta sẽ cùng nhau thực hiện mục tiêu, gia tăng thêm sức mạnh cho cộng đồng trong cuộc chiến chống ma túy không cân sức này”

Ông Nguyễn Cửu Đức, Phó Vụ trưởng, Vụ Khoa giáo văn xã, Văn phòng Chính phủ đánh giá cao về ý nghĩa chương trình cũng như việc sử dụng các hình thức văn hóa nghệ thuật đặc biệt trong sáng kiến của hoạt động sáng tác lần này Ông đặt nhiều hy vọng vào sự thành công của hội trại và việc tận dụng tối đa hiệu quả của các tác phẩm vào hoạt động lan tỏa thông điệp đẩy lùi tệ nạn ma túy thời gian tới

- “Bộ Công an đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi)”-

Bài viết của tác giả Đông Hải cập nhật trên www.baodansinh.vn, 06:20 - 01/07/2019 Tác giả nêu bật sự cần thiết phải có Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) Tác giả dẫn lời của nhóm chuyên gia dự thảo luật này: việc sửa đổi Luật Phòng, chống ma túy là yêu cầu cấp thiết khách quan, nhằm khắc phục một số hạn chế, khó khăn hiện nay, bảo đảm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của đẩy mạnh công tác phòng, chống ma túy trong thời gian tới.Nhóm soạn thảo chọn phương án sửa đổi với nội dung bao trùm là: tăng cường hơn nữa hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên trách, bộ, ngành, UBND trong phòng, chống ma túy, đặc biệt là UBND cấp xã trong công tác cai nghiện và quản lý sau cai trong đấu tranh phòng, chống ma túy

- “Vai trò của truyền thông trong việc ngăn chặn ma túy học đường” Bài viết của tác giả D.A cập nhật ngày 27/08/2019 trên website http://pctnxh.molisa.gov.vn/ [7] Tác giả đã phác họa bức tranh tổng thể về

kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu tâm lý người sử dụng ma túy (PSD)

Theo đó, từ năm 2014, Viện PSD đã tiến hành nghiên cứu “Thực trạng nhận

thức của học sinh, sinh viên về ma túy: Nguyên nhân và giải pháp” cho học

sinh của các trường phổ thông Viện PSD đã ứng dụng chương trình truyền thông mới, lấy học sinh làm trung tâm, lồng ghép với các hoạt động trò

chơi “học mà chơi – chơi mà học”, có những công cụ truyền thông hấp dẫn

Trang 18

và đặc biệt đó là học sinh sẽ được giao lưu, chia sẻ và nhận được lời tư vấn từ chính những người đã từng sử dụng ma túy chia sẻ về cuộc đời, những mất mát và những tác hại mà ma túy gây ra cho bản thân và cuộc sống của họ như thế nào để từ đó học sinh có cái nhìn toàn diện và khách quan về ma túy, tác hại của ma túy

Đồng thời, Viện PSD cũng khuyến cáo truyền thông cần sâu rộng, khoa học và hấp dẫn hơn Xây dựng và thực hiện đổi mới phương thức truyền thông phòng, chống ma túy cho học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm Các em học sinh vừa được vui chơi tìm hiểu về văn hóa các dân tộc Việt Nam, đồng thời, được tham quan khu trưng bày các hiện vật được quyên tặng từ nhiều tỉnh thành trên cả nước trong hoạt động phòng, chống ma túy

- “Truyền thông - giải pháp hữu hiệu ngăn chặn ma túy trong trường

học”- Bài viết của tác giả Vân Anh cập nhật trên www.giaoducthoidai.vn,

10:00, 25/10/2019 Tác giả cho biết: Theo nghiên cứu “Thực trạng nhận thức của học sinh sinh viên về ma túy: Nguyên nhân và giải pháp” của Viện Nghiên cứu tâm lý người sử dụng ma túy (PSD): Chỉ có 4,5% số học sinh được khảo sát cho rằng mình có những kiến thức đầy đủ về các chất ma túy; trong khi đó có tới 42,2% số người cho biết không có kiến thức về nội dung này Theo kết quả nghiên cứu, có 65% học sinh tham gia trả lời rằng bản thân không biết đến ma túy và tác hại của ma túy nên tò mò và muốn dùng thử; 27% học sinh sử dụng do bạn bè rủ, mời và lôi kéo sử dụng; 8% học sinh sử dụng là do bị lừa sử dụng mà không hay biết đến lúc lệ thuộc vào chất gây nghiện đó mới biết là mình nghiện

Bài toán đặt ra là triển khai đồng bộ các giải pháp để ngăn chặn tệ nạn này trong trường học Các nhà trường, cơ sở giáo dục cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của HSSV về hậu quả, tác hại của việc sử dụng, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển chất ma túy.Cần lồng ghép tuyên truyền về phòng, chống ma túy với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, thi tìm

Trang 19

hiểu pháp luật về phòng, chống ma túy, tập huấn, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề; tổ chức cho HSSV, và các tập thể, đơn vị ký cam kết không tham gia tệ nạn ma tuý

2.3 Khái quát chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Qua tiếp cận nội dung các công trình nghiên cứu khoa học, các chuyên khảo, các bài báo khoa học… có thể thấy rằng, những vấn đề cơ bản về thực trạng TNXH, PCTNXH, phòng chống tội phạm đã được đề cập ở nhiều chiều cạnh, góc độ khác nhau Nhiều công trình khoa học đã đưa ra được những lý giải về nguyên nhân ra tăng TNXH, tội phạm, đề cập tới phương pháp tiếp cận PCTNXH lứa tuổi thanh, thiếu niên

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học trên đều chưa nghiê cứu chuyên sâu về quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử Song, tiếp cận các kết quả từ những công trình trên là cơ sở khoa học, thực tiễn quý báu để kế thừa, gợi mở cho nghiên cứu triển khai đề tài “Quản lý truyền thông về vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử hiện nay”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng quản lý truyền

thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên ba BMĐT,

tác giả đề xuất quan điểm và giải pháp tang cường quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử; các khái niệm có liên quan

- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên các BMĐT: TN, PLVN, DS

Trang 20

- Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên báo mạng điện tử thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Mục đích quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên báo mạng điện tử

- Chủ thể, đối tượng quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên báo mạng điện tử

- Nội dung, phương pháp quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho

TN trên báo mạng điện tử

4.2 Phạm vi, thời gian nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng quản lý truyền thông, tổ chức quản lý, sản xuất tin, bài, ảnh, video clip truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN của các BMĐT khảo sát …

- Mục đích, chủ thể, đối tượng, phương thức quản lý truyền thông về PCTNXH trên các BMĐT khảo sát

- Khảo sát công tác quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH của các

cơ quan quản lý truyền thông và các cơ quan chủ quản của các cơ quan báo chí như: Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Y tế; Bộ Lao động, Thương binh

và Xã hội; Bộ Công an; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam; Trung ương Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam; Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Trung ương Hội sinh viên Việt Nam; Ủy ban về phòng chống tệ nạn xã hội

- Ngoài ra, để có cơ sở thực tiễn khách quan làm tiền đề để đưa ra bức tranh toàn diện về thực trạng, cũng như đề xuất các giải pháp về vấn đề này, Luận văn cũng khảo cứu, tham chiếu thêm những nội dung truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN liên quan đến đề tài của một số BMĐT, trang tin

Trang 21

điện tử khác như svvn.vn (báo điện tử Sinh viên Việt Nam), vov.vn (Đài tiếng nói Việt Nam); vtv.vn (Đài Truyền hình Việt Nam), vietnamplus.vn (Thông tấn xã Việt Nam); tiengchuong.vn (Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm); pctnxh.molisa.gov.vn (Cục phòng chống TNXH- Bộ Lao động, thương binh và Xã hội)

4.2.2.Thời gian nghiên cứu

- Khảo sát các BMNĐT khảo sát trong thời gian từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2017

- Khảo sát, cập nhật bổ sung các năm 2018, 2019 và thời điểm trước khi bảo vệ luận văn

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng, Nhà nước về BMĐT; lý luận về báo chí, truyền thông hiện đại

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp sau đây:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Phương pháp liên ngành: báo chí học và khoa học quản lý

-Phương pháp logic, lịch sử, thống kê, so sánh

Nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị, luật, pháp lệnh và các công trình, ấn phẩm, các báo cáo có liên quan đến chủ đề nghiên cứu Trên cơ sở đó, phân tích, thống kê, luận giả thực trạng vấn đề nghiên cứu tại các BMĐT khảo sát

và khát quát vấn đề trong hệ thống BMĐT

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Tiến hành phỏng vấn sâu 06 trường hợp gồm các tổng biên tập, phó tổng biên tập, thư ký tòa soạn, BTV, PV của một số BMĐT khảo sát; đại diện độc giả của ba BMĐT được khảo sát

Trang 22

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Tiến hành điều tra xã hội học với 300 phiếu Đối tượng tham gia là TN, độc giả là đoàn viên, sinh viên của 3 báo khảo sát; các nhà báo, PV, BTV hiện công tác tại tòa soạn báo TN, PLVN, DS và một số cơ quan BMĐT khác

6 Những đóng góp mới về khoa học của Luận văn

Trên cơ sở khái quát, đưa ra các khái niệm, quan niệm về TNXH; PCTNXH; PCTNXH cho TN; Truyền thông về vấn đề PCTNXH; Truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN; Quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên báo mạng điện tử, Luận văn đưa ra cơ sở lý luận về chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho

TN trên báo mạng điện tử; vai trò quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên báo mạng điện tử; sự cần thiết phải tăng cường quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên báo mạng điện tử

Dựa trên kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng, Luận văn chỉ ra những vấn đề đặt ra trong quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên BMĐT hiện nay Trên cơ sở đó, Luận văn đưa ra quan điểm, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên BMĐT trong thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn

Trang 23

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng biểu, nội dung, Tóm tắt luận văn, Luận văn gồm 3 chương,

Trang 24

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO THANH NIÊN

BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 1.1 Tệ nạn xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội

1.1.1 Khái niệm tệ nạn xã hội

Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở, “Tệ nạn xã hội” hay vấn đề xã hội là khái niệm để chỉ một vấn đề ảnh hưởng đến nhiều cá nhân trong xã hội Một vấn đề xã hội có nhiều phạm trù về chiều sâu cũng như vẻ ngoài Đó

là một vấn đề phổ biến chúng ta thấy xảy ra trong xã hội Một vấn đề xã hội

có thể được coi là một vấn đề ảnh hưởng đến nhiều người và nhiều người cố gắng giải quyết vấn đề này [57]

Dưới góc độ xã hội học, TNXH là hành vi sai lệch với những chuẩn mực xã hội, sai lệch với những quy tắc đạo đức truyền thống xã hội của những cá nhân hoặc những nhóm người do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan nào đó tác động

Dưới góc độ khoa học quản lý, TNXH là một hiện tượng xã hội, thể hiện

ra những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội có tính phổ biến bao gồm các vi phạm có tính nguyên tắc về lối sống, truyền thống, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục và những quy tắc được thể chế hóa bằng pháp luật, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho đời sống kinh tế, văn hóa, đạo đức xã hội của nhân dân [3]

Dưới góc độ đạo đức và giáo dục học: TNXH là một hiện tượng xã hội,

nó liên quan tới các đặc điểm xã hội, tâm lý, sinh lý, đạo đức, kinh tế, văn hóa của mỗi cá nhân và gia đình

Ngoài ra còn có những quan niệm khác nhau về TNXH - tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu

TNXH bao gồm tất cả những hành vi vi phạm pháp luật, kể cả pháp luật hình sự, những hiện tượng xã hội tiêu cực, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội

Trang 25

TNXH là những hiện tượng xã hội rất tiêu cực, đem lại những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội và gây ra tâm trạng xã hội rất nặng nề thậm chí gây mất ổn định chính trị, an toàn xã hội” [3]

TNXH là những hành vi phạm pháp luật nhưng chưa phải là tội phạm,

là những thói hư tật xấu trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức dân tộc do nhiều người mắc phải, gây tác hại đến đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ta Theo quan niệm này thì TNXH rất đa dạng gồm cả văn hóa phẩm đồi trụy, cao bồi càn quấy, đầm bóng, bói toán, mại dâm, nghiện hút, cờ bạc

Như vậy, ở các cách tiếp cận khác nhau đã cho thấy khái niệm TNXH cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Nhưng tựu chung lại, từ các cách tiếp cận có thể khái quát: “TNXH được coi là những hành vi của con người gây

ra, vi phạm các giá trị đạo đức, làm sai lệch chuẩn mực xã hội và có tính phổ biến trong xã hội, những hành vi này gây hậu quả tiêu cực cho con người và cho xã hội”

Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về TNXH Ở cách tiếp cận nghiên cứu đề tài này và từ những phân tích khoa học trên, có thể đưa ra khái niệm:

“TNXH là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, được biểu hiện ra ở những

hành vi làm sai lệch các giá trị chuẩn mực xã hội tiến bộ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống kinh kinh tế - xã hội”

Từ tiếp cận nội hàm khái niệm trên, có thể nêu một số loại TNXH có tính phổ biến cơ bản gồm:

Tệ nạn ma túy: là khái niệm dùng để chỉ tình trạng nghiện, lệ thuộc vào

ma túy, các tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy

Tệ nạn mại dâm: là một hiện tượng xã hội tiêu cực, biểu hiện tình trạng

các cá nhân dùng các dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân và tiền bạc, lợi ích vật chất hay các lợi ích khác để trao đổi với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục (đối với người mua dâm) hoặc nhu cầu về tiền bạc, lợi ích vật chất (đối

Trang 26

với người bán dâm) Tệ nạn này hiện đang biến đổi ở nhiều dạng thức mới như: mại dâm đồng giới; ấu dâm…

Tệ nạn cờ bạc: là hiện tượng xã hội trái pháp luật, biểu hiện tình trạng

các cá nhân tổ chức và tham gia các trò chơi cờ bạc dưới mọi hình thức, gây

ra những hậu quả xấu, tác động tiêu cực tới trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội Ngày nay, tệ nạn cờ bạc còn diễn biến phức tạp, tinh vi và hiện đại như: cá

độ, đánh bạc qua mạng; chơi game có thưởng qua mạng…

Tệ nạn mê tín dị đoan: là hiện tượng xã hội, biểu hiện tình trạng tin vào

những điều mơ hồ, nhảm nhí, không phù hợp với lẽ tự nhiên (tin vào bói toán, chữa bệnh bằng phù phép ) dẫn tới hậu quả xấu cho cá nhân, gia đình, cộng đồng về sức khoẻ, thời gian, tài sản, tính mạng.Mê tín dị đoan bao gồm những hành vi ông đồng, bà cốt, tin xin xăm bói quẻ, tin ngày lành tháng dữ, tin số mạng sang hèn, tin coi tay xem tướng, tin cúng sao, cúng hạn, tin thầy bùa thầy chú, tin cầu cúng tai qua nạn khỏi

Tệ nạn bạo lực học đường:là những hành vi thô bạo, ngang ngược, bất

chấp công lý, đạo lý, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương

về tinh thần và thể xác diễn ra trong phạm vi trường học Bạo lực học đường bao gồm các hành vi bạo lực về thể chất, gồm đánh nhau giữa các học sinh, sinh viên hoặc các hình phạt thể chất của nhà trường; bạo lực tinh thần, bao gồm cả việc tấn công bằng lời nói; bạo lực tình dục, bao gồm hiếp dâm và quấy rối tình dục; các dạng bắt nạt bạn học; và mang vũ khí đến trường

Trong khuôn khổ của luận văn, chỉ khảo cứu hai tệ nạn chủ yếu có tính phổ biến và diễn biến phức tạp, tác động nguy hiểm nhất hiện nay là ma túy

và mại dâm

1.1.2 Khái niệm phòng chống tệ nạn xã hội

“Phòng ngừa” là phòng trước, không để cho cái xấu, cái không hay có thể xảy ra [57] Nội hàm của thuật ngữ này có thể suy rộng ra gồm phòng

Trang 27

ngừa dịch bệnh, thiên tai bão lũ; PCTNXH như ma túy, mại dâm, tội phạm học đường, tệ nạn cờ bạc…

Khái niệm PCTNXH là vấn đề được giới nghiên cứu, tiếp cận với nhiều quan điểm khác nhau Có nhiều định nghĩa khác nhau, song, ở góc độ nghiên

cứu vấn đề này, có thể đưa ra một khái niệm chung nhất là: “PCTNXH là quá

trình Nhà nước cùng các ngành, các cấp các đoàn thể tổ chức xã hội và mọi công dân (trong đó lực lượng công an là nòng cốt) tiến hành đồng bộ các biện pháp nhằm phát hiện, ngăn chặn, loại trừ các TNXH”

Từ nội hàm khái niệm trên, có thể hiểu, PCTNXH đòi hỏi phải có sự tham gia của các cấp, các ngành, của toàn thể xã hội Trong đó, lực lượng báo chí nói chung và BĐT nói riêng có một vai trò, vị trí rất quan trọng Đây là lực lượng chủ công, nòng cốt tuyên truyền, hướng dẫn quần chúng nhân dân

và trực tiếp tuyên truyền, cổ vũ thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các biện pháp theo chức năng, nhiệm vụ của mình để PCTNXH

Mục đích của PCTNXH là ngăn ngừa chặn đứng không để cho TNXH phát sinh, phát triển, lan rộng trên địa bàn; từng bước xoá bỏ dần những nguyên nhân, điều kiện của TNXH, góp phần xây dựng đời sống văn hoá lành mạnh, bảo vệ thuần phong mỹ tục của dân tộc Phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm minh những hành vi hoạt động TNXH góp phần giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội

1.2 Truyền thông và quản lý truyền thông về vấn đề phòng, chống

tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử

1.2.1 Thanh niên và vị trí, vai trò của thanh niên

1.2.1.1 Khái niệm Thanh niên

TN (young people; youth) là thuật ngữ để chỉ người trẻ tuổi Còn theo Luật TN (2005), trong Điều 1 đã quy định: TN quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi

Trang 28

Khái niệm TN cũng còn có nhiều quan điểm khác nhau Nhiều quan điểm cho rằng TN là một khái niệm chỉ một nhóm các thành phần được phân biệt một cách tương đối với các bộ phận dân cư khác bởi tiêu chí giới hạn độ tuổi Và tiêu chí này liên tục chuyển động theo thời gian và hoàn cảnh cụ thể sao cho đáp ứng được yêu cầu chung của toàn xã hội

Ngoài tiêu chí độ tuổi, TN còn có thể được phân chia dựa trên đặc thù

về công việc, thu nhập, địa lý như TN thành thị, TN nông thôn (nếu lấy địa bàn cư trú làm tiêu chí phân biệt), hay TN công nhân, TN nông dân hoặc TN trí thức TN là một giai đoạn chuyển tiếp thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành

Ngoài ra, các yếu tố khác như tộc người, tôn giáo, giới tính, giàu - nghèo… cũng có thể được coi là tiêu chí để phân biệt các nhóm TN Tùy thuộc vào nội dung và giác độ nghiên cứu mà có nhiều cách tiếp cận về TN Tựu trung lại, có thể rút ra một số nội dung tổng quát về quan niệm TN như sau:

Thứ nhất, TN với tư cách là một người cá thể từ 15 đến 30 tuổi, đang

trưởng thành, có sự phát triển trí tuệ và nhân cách mạnh mẽ cùng sự phát triển nhanh chóng về thể chất và tâm lý

Thứ hai, TN là một nhóm xã hội - dân cư bao gồm tất cả những thành

viên trong một xã hội cụ thể đang ở trong độ tuổi TN

Từ các tiếp cận ở các góc độ trên, có thể đưa ra khái niệm chung nhất:

“TN là một nhóm xã hội - dân cư có độ tuổi từ 15 đến 30 tuổi, thuộc mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trò to lớn trong xã hội hiện tại và giữ vai trò quyết định sự phát triển trong tương lai của xã hội”

1.2.1.2 Vị trí, vai trò của thanh niên

TN là lớp người đang phát triển về nhiều mặt Tâm sinh lý của TN có những nét đặc thù so với những đối tượng khác Đây là lứa tuổi trẻ trung và sôi nổi, ham học hỏi, ôm ấp nhiều khát vọng và hoài bão

Trang 29

Luật TN (2005) đã quy định rõ vị trí, vai trò của TN: TN là lực lượng xã hội hùng hậu, có nhiều đóng góp to lớn, quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là lực lượng trực tiếp kế tục sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn tiếp theo và quyết định tương lai của đất nước [37] Nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của TN, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho TN phát triển và phát huy TN; chủ trương xã hội hoá công tác TN, coi công tác TN không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước mà còn là trách nhiệm của gia đình, xã hội

Nghị quyết 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đã đánh giá vai trò, vị trí quan trọng của TN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ

21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng TN, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ TN; công tác TN là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” Đồng thời xác định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị thực hiện nhiệm vụ công tác TN”

Thể chế hoá quan điểm, chủ trương của Đảng, khoản 1 Điều 4 Luật TN quy định: “TN là tương lai của đất nước, là lực lượng xã hội hùng hậu, có tiềm năng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đào tạo, bồi dưỡng và phát huy TN là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội”

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, TN đã và đang chứng tỏ mình ngày càng xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Những phong trào lập thân, lập nghiệp, đặc biệt là phong trào khởi nghiệp (starup) đang được nhiều TN tích cực tham gia Nhiều công trình trọng điểm của quốc gia nhiều năm trở lại đây đều có sự đóng góp nhiệt tình

và hăng say của thế hệ trẻ như: Thủy điện Yaly, cầu Mỹ Thuận, đường hầm xuyên đèo Hải Vân, đường Hồ Chí Minh… Những công nghệ mới chuyển giao từ các chuyên gia nước ngoài đã được TN Việt Nam nhanh chóng tiếp thu, làm chủ và vận dụng hiệu quả ngay trong công việc

Trang 30

1.2.2 Truyền thông và quản lý truyền thông

1.2.2.1 Khái niệm truyền thông

Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những giừ người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được

cú pháp của ngôn ngữ

Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin

Có nhiều cách định nghĩa về truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ Khoảng 93%

“ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt

và tông giọng 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn

từ tới người khác Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia

Lý thuyết báo chí học được đề xuất dựa trên cơ sở của quá trình truyền thông Báo chí được tạo nên bằng sự phát triển của các phương tiện mà mở đầu là các phương tiện in ấn và hiện nay là các phương tiện điện tử Như vậy,

Trang 31

về kênh truyền đã có những thay đổi căn bản Nhưng những yếu tố cơ bản của

lý thuyết báo chí học vẫn dựa trên hệ thống tri thức đã được xác định từ lý thuyết truyền thông

Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố: Nguồn tin, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, hiệu quả, phản hồi và nhiễu “Trong quá trình này, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước” [11, tr.16]

Theo GS TS Nguyễn Văn Dững, bản chất xã hội của truyền thông là quá trình giao tiếp xã hội, quá trình liên kết xã hội và quá trình can thiệp xã hội [11, tr.120] Nói cách khác, đó là quá trình biện chứng Con người sau khi được truyền thông xã hội hóa có thể trở nên văn minh hơn Khi con người, xã hội càng phát triển thì nhu cầu, năng lực và khả năng đáp ứng của truyền thông càng cao

Trong xã hội loài người, truyền thông là một điều kiện tiên quyết để hình thành nên một cộng đồng hay một xã hội Đời sống xã hội thực chất đó

là quá trình trao đổi thông tin Con người có thể sống được với nhau, giao tiếp được với nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền và nhận thông tin giữa người này với người khác để giữ liên lạc với nhau Nói chuyện, đối đáp, tranh luận, tâm sự, đọc sách báo, xem phim, nghe nhạc… đều là những hành vi nằm trong một quá trình truyền thông Truyền thông do đó là một dạng căn bản của hành vi con người trong xã hội

Truyền thông là quá trình can thiệp xã hội vì mục đích của truyền thông

là nhằm thay đổi hành vi Quá trình này nhằm gia tăng sự tương đồng và giảm dần sự khác biệt trong nhận thức của các nhóm hay giữa các nhóm công chúng truyền thông và chủ thể truyền thông Bởi vì xét cho cùng, những xung đột trong hành vi chủ yếu bắt nguồn từ sự khác biệt về nhận thức và lợi ích

Trang 32

[42, tr.116] Do đó, muốn thay đổi hành vi và gia tăng sự tương đồng trong nhận thức của công chúng, quá trình truyền thông thường trải qua các giai đoạn khác nhau với những mục đích cụ thể khác nhau như cung cấp thông tin, kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm… Để tạo ra quá trình truyền thông hai chiều thì phải có điều kiện cần (nguồn, thông điệp, kênh chuyển tải thông điệp và người tiếp nhận) và điều kiện đủ (các rào cản, dòng phản hồi…)

Quá trình truyền thông là sự truyền đi của các thông điệp (ý nghĩa, thông tin, tư tưởng, ý tưởng, ý kiến, kiến thức…) từ một người hay một nhóm người đến người khác hay một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc các tín hiệu khác Chính vì vậy, truyền thông liên quan đến việc làm thế nào để liên kết các yếu tố như người nhận, người gửi, cách mã hóa và cách giải mã, các kênh và các phương tiện truyền thông nhằm đảm bảo cho tính chính xác và hiệu quả của quá trình truyền thông

Để thực hiện quá trình truyền thông, nhà truyền thông phải trải qua một quy trình truyền thông trọn vẹn gồm 5 bước: 1) Nghiên cứu ban đầu về công chúng - nhóm đối tượng 2) Thiết kế thông điệp 3) Lựa chọn kênh truyền thông và chuẩn bị tài liệu 4) Thực hiện chiến dịch truyền thông 5) Nghiên cứu phần đánh giá phản hồi

Chu trình truyền thông hiệu quả diễn ra trong một vòng tròn kép kín, trong đó một thông tin phát ra luôn luôn có một phản ứng nào đó về phía người nhận Do đó, người nhận tin sẽ có một thông điệp phản hồi lại cho người thông tin ban đầu Lúc này người nhận tin trở thành người phát tin - điều này làm cho quá trình truyền thông trở thành chu trình khép kín

Theo PGS TS Nguyễn Văn Dững, trong một chu trình truyền thông, mỗi thông điệp truyền thông được phát trên kênh truyền tải đến người tiếp nhận là một quá trình chuyển từ thông tin tiềm năng sang thông tin hiện thực

Và công chúng không chỉ là người tiếp nhận thông tin báo chí mà những đánh giá, nhận xét của họ về hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 33

đã tạo nên mối liên hệ ngược, nghĩa là ý kiến của công chúng về những thông tin mà họ tiếp nhận được từ hệ thống này cũng tác động trở lại của các phương tiện truyền thông đại chúng

Trong một chu trình truyền thông có hiệu quả, người gửi phải truyền đạt thông tin đến công chúng mục tiêu và định rõ xem mình muốn đạt được những phản hồi nào từ phía công chúng Họ phải mã hóa thông điệp của mình theo cách tính đến quá trình giải mã thông điệp thông thường của tầng lớp công chúng mục tiêu Người gửi - nhà truyền thông phải lựa chọn những phương tiện truyền thông thích hợp và phải thiết kế những kênh thông tin phản hồi để có thể biết phản ứng của người nhận đối với thông điệp đó Điều này đòi hỏi nhà truyền thông phải am hiểu về hành vi tiếp nhận như đặc điểm, thói quen, cách thức tiếp nhận của công chúng để đảm bảo tính hiệu quả của truyền thông

Có thể hiểu sâu hơn về chu trình này qua mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon

M

N

F

Trang 34

Trong đó: S (Source Sender) : Nguồn phát, chủ thể truyền thông

M (Message) : Thông điệp, nội dung truyền thông

R (Receiver) : Người nhận thông điệp (đối tượng)

N (Noise) : Nhiễu (yếu tố tạo sai số trong thông tin)

F (Feedback) : Phản hồi (yếu tố tác động trở lại

giúp cho truyền thông đạt hiệu quả cao) Theo PGS TS Mai Quỳnh Nam, trong một chu trình truyền thông thì phản hồi (Feedback) là yếu tố quan trọng nhất của quá trình truyền thông [43, tr.19-26] Một hoạt động truyền thông nếu không có phản hồi, nghĩa là các thông tin phát ra không tạo nên sự quan tâm của công chúng Hoặc có thể, đó chỉ là thông tin một chiều và mang tính áp đặt của nhà truyền thông Vì vậy thang đo phản hồi là một chỉ báo căn bản cho thấy hiệu quả hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với công chúng báo chí

Từ lý thuyết truyền thông, người ta đã chỉ rõ đối tượng tác động của truyền thông đại chúng là công chúng xã hội Điều này có nghĩa là truyền thông tác động đến ý thức của công chúng xã hội, ý thức quần chúng Việc phân tích ý thức quần chúng trong hệ thống tri thức về truyền thông phản ánh

sự tương tác của các yếu tố: thế giới quan, nhân sinh quan, ý thức lịch sử văn hóa và dư luận xã hội Điều đó cũng có nghĩa là truyền thông đại chúng tác động đến hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có nhóm TN

Mặt khác, tiếp cận các nghiên cứu về khoa học báo chí quan tâm đến việc hình thành nên các sản phẩm truyền thông, có thể thấy rằng sản phẩm truyền thông là kết quả tổng hợp của các quá trình xã hội bao gồm: thiết chế

xã hội truyền thông, thông điệp báo chí, kênh truyền, đối tượng tiếp nhận và hiệu quả đạt được

Trang 35

Như vậy, truyền thông là một khái niệm rộng, phản ánh quá trình trao đổi, tương tác thông tin của con người trong xã hội, là sợi dây liên kết xã hội,

là động lực kích thích sự phát triển xã hội, và là công cụ can thiệp hữu hiệu nhất vào đời sống chính trị của các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng để phân tích thông điệp về PCTNXH

và các tác động TNXH qua chuyên mục trên báo TN, PLVN và DS điện tử

Có nhiều các tiếp cận từ nhiều định nghĩa khác nhau, song ở khía cạnh

của đề tài nghiên cứu, có thể sử dụng khái niệm chung nhất: Truyền thông là

quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội

Như vậy, truyền thông là một khái niệm rộng, phản ánh quá trình trao đổi, tương tác thông tin của con người trong xã hội, là sợi dây liên kết xã hội,

là động lực kích thích sự phát triển xã hội, và là công cụ can thiệp hữu hiệu nhất vào đời sống chính trị của các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng để phân tích thông điệp truyền thông về vấn đề PCTNXH cho TN trên BMĐT

1.2.2.2 Khái niệm quản lý truyền thông

* Khái niệm quản lý:

Theo Từ điển Tiếng Việt mở, quản lý là “trông nom, coi giữ” là “trông

coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [57]

Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các

Trang 36

nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực.Thuật ngữ

"quản lý" cũng có thể chỉ những người quản lý một tổ chức

Theo các nhà khoa học thì quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản lý Song ở góc độ quản lý xã hội, có thể hiểu, quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra, là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu đề ra

Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Đó chính là mối quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần nhận thức

và hoạt động thực tiễn

Như vậy, quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động

xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia Nếu xét quản lý dưới tư cách là một hoạt động, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Xét ở góc

độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp

Trang 37

với quy luật khách quan Với cách hiểu này thì quản lý có những đặc điểm chính: là một hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu đã định; thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý và là mối quan hệ mang tính quyền uy; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; nếu xét về mặt công nghệ thì đó là sự vận động của thông tin

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm chung nhất: Quản lý

là hoạt động có mục đích, có tổ chức của chủ thể tác động vào các đối tượng, bằng các phương thức, biện pháp nhất định, nhằm điều khiển dẫn dắt đối tượng, duy trì sự ổn định và phát triển để đạt được hiệu quả cao nhất mục tiêu quản lý

Như vậy, từ khái niệm này, có thể hiểu quản lý là một hoạt động có tổ chức, có định hướng của chủ thể (cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) bằng một hệ thống các quy định của pháp luật, các chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo

ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý

Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị hoặc có thể là một con người, công việc cụ thể

Hoạt động này được thể hiện qua việc kết hợp các yếu tố như tổ chức, điều hành, tập hợp nguồn nhân lực, công cụ, phương tiện tài chính… nhằm đạt được mục tiêu đề ra

* Khái niệm quản lý truyền thông

Quản lý, hoặc quản trị truyền thông là một chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì truyền thông hai chiều, đi tìm sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức và công chúng Trong đó bao gồm quản lý những vấn đề hay sự kiện mà co quan quản lý truyền thông, hay tòa soạn báo cần phải nắm được dư luận và có trách nhiệm thông tin cho công chúng

Trang 38

Quản trị truyền thông vừa là khoa học xã hội vừa là nghệ thuật Khoa học được hiểu là người làm truyền thông cần phải có những phương pháp và công cụ thực hiện truyền thông hiệu quả Sử dụng linh hoạt, tài tình các giải pháp truyền thông khác nhau cho từng đối tượng truyền thông (bên trong, bên ngoài) để đạt được mục tiêu như mong đợi là cả một nghệ thuật Từ phân tích những xu hướng, dự đoán những kết quả phản hồi (comment), đến việc đưa ra các lời đề xuất cho lãnh đạo (có thể lãnh đạo bộ chủ quản hoặc lãnh đạo tòa soạn báo) và thực hiện các chương trình hành động linh hoạt đã được lập kế hoạch để phục vụ mục tiêu truyền thông Đó là sự phối hợp giữa khoa học và nghệ thuật quản lý truyền thông…

Nói đến quản trị truyền thông, nhiều người trong chúng ta cho rằng đây là một khái niệm không còn mới mẻ, nhưng tư duy đúng để thực hiện đúng thì quả

là vấn đề cần bàn, ngay cả đối với chuyên gia trong trong lĩnh vực truyền thông

Từ cách tiếp cận khái niệm quản lý, có thể hiểu quản lý truyền thông diễn ra ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Ví dụ: ở lĩnh vực doanh nghiệp, truyền thông gắn với PR quảng cáo Ở lĩnh vực xã hội, phục vụ mục đích chính trị, xã hội, có các loại truyền thông về bảo vệ chủ quyền biển đảo; xóa đói giảm nghèo; quyên góp ủng hộ đồng bào bị lũ lụt; bình đẳng giới, phòng chống mại dâm, ma túy

Trong quản lý truyền thông, sự tiếp cận thông tin và phản hồi thông tin rất quan trong Điều đó cũng có nghĩa việc quản lý truyền thông, cũng như chiến lược truyền thông phải quan tâm hai mục tiêu rất quan trọng: Mục tiêu

đo lường độ rộng của chiến dịch và mục tiêu đo lường chiều sâu của chiến dịch truyền thông Mục tiêu đo lường độ rộng là “Reach”, cho chúng ta biết

số người trong đối tượng khán giả mục tiêu tiếp cận với thông tin của chiến dịch truyền thông ít nhất 1 lần Reach %: cho biết % khán giả mục tiêu tiếp cận thông tin truyền thông ít nhất một lần Như vậy Reach là độ rộng độ bao phủ hay còn gọi là độ rộng của một chiến dịch truyền thông

Trang 39

Trong truyền thông chỉ số khán giả được gọi là Rating: là chỉ số khán giả đo tỉ lệ người xem của tổng thể: tổng số người xem “người xem mục tiêu” chương trình trên tổng số người xem mục tiêu Ví dụ tổng thể khán giả mục tiêu có 10 người, nếu có 5 người xem quảng cáo thì chỉ số rating của quảng cáo này đạt 50% Đây là chỉ số đo lượng khán giả hoặc % khán giả mục tiêu của từng vehicle

Đối với doanh nghiệp, Rating là chỉ số rất quan trọng để các nhà quảng cáo lựa chọn để mua hoặc đặt chỗ quảng cáo trên một khung giờ phát sóng hoặc trong một chương trình truyền hình Đối với các tòa soạn báo, Rating là

chỉ số rất quan trọng để lãnh đạo lấy đó làm căn cứ nhằm điều chỉnh thông điệp, chủ đề hoặc nội dung, hình thức truyền thông cho phù hợp

Từ các tiếp cận trên, ở góc độ nghiên cứu đề tài, có thể đưa ra khái

niệm: Quản lý truyền thông là một chức năng quản trị nhằm mục đích thiết

lập, duy trì truyền thông hai chiều giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý (công chúng, độc giả) Từ quá trình quản lý nội dung, phương thức truyền thông và những vấn đề phản hồi từ công chúng, cơ quan quản lý truyền thông điều chỉnh cho phù hợp nhằm đạt mục tiêu truyền thông

1.2.3 Quan niệm về quản lý truyền thông với vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử

1.2.3.1 Khái niệm báo mạng điện tử

Ở Việt Nam, liên quan đến khái niệm BMĐT cũng được nhiều giới nghiên cứu, với nhiều công trình, bao gồm các đề tài, sách giáo trình đưa ra các khái niệm khác nhau Trong đó, phổ biến là các khái niệm BMĐT, báo mạng điện tử được sử dụng khá phổ biến

Thuật ngữ BMĐT đang được sử dụng được dịch từ các thuật ngữ

“Online newspaper” (báo trực tuyến), “Internet Newspaper” (báo Internet) hoặc “Electronic Newspaper” (BMĐT) Do quan niệm còn chưa hoàn toàn thống nhất, cả 3 thuật ngữ tiếng Anh này vẫn được dùng song song trên các BMĐT BMĐT là sự hội tụ báo giấy (text), báo tiếng (audio) và báo hình

Trang 40

(video) Với BMĐT, người đọc (lướt web) không chỉ cập nhật tin tức dưới dạng chữ viết mà còn có thể nghe phát thanh và xem truyền hình ngay trên các website báo chí Sự phát triển mạnh của công nghệ kết nối giúp đẩy nhanh tốc độ truy tải, tăng số lượng mạnh mẽ của báo chí điện tử, tạo điều kiện cho độc giả tìm kiếm thông tin ngày càng dễ dàng hơn [60, tr.2]

Tuy nhiên, cho dù có những cách nhận thức, cách hiểu và đưa ra các tên gọi khác nhau nhưng phần lớn các khái niệm đều xuất phát từ bản chất của loại hình báo chí này là môi trường mạng internet Đó cũng là bản chất đặc thù khác với loại hình báo in truyền thống

Tuy nhiên, khái niệm “BMĐT” dường như đã được xã hội chính thức công nhật từ năm 2016 khi đã được luật hóa tại Điều 3 của Luật Báo chí năm

2016 Tại khoản 6 của Điều 3 đã đưa ra quy định và được coi như khái niệm của loại hình báo chí này

Từ cách tiếp cận trên có thể nêu khái niệm chung nhất: “BMĐT là loại

hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm BMĐT và tạp chí điện tử

1.2.3.2 Khái niệm về quản lý truyền thông với vấn đề phòng chống tệ

nạn xã hội cho thanh niên trên báo mạng điện tử

Việt Nam, trong khoảng gần hai thập kỷ gần đây, trong bối cảnh báo chí thế giới phát triển mạnh mẽ với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, internet, xu hướng phát triển của báo chí truyền thông Việt Nam cũng có nhiều biến động theo chiều hướng gia tăng nhanh chóng Theo Bộ Thông tin

và Truyền thông, đến hết tháng 6/2017, số lượng cơ quan báo, tạp chí in đã

được cấp phép là 982 Trong đó có 193 báo in (Trung ương: 86, địa phương:

107); 639 tạp chí (Trung ương: 525, địa phương: 114); 150 cơ quan BMĐT đã được cấp phép

Theo đánh giá của tổ chức Liên minh viễn thông thế giới (ITU) thì Việt Nam nằm trong top các nước có tốc độ phát triển internet nhanh nhất thế giới

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Đề án “Phòng ngừa tội phạm và phòng, chống vi phạm pháp luật trong HSSV đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án “Phòng ngừa tội phạm và phòng, chống vi phạm pháp luật trong HSSV đến năm 2020
3. Bùi Quang Bền: “Phát huy vai trò của Đoàn TN cộng sản Hồ Chí Minh trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát huy vai trò của Đoàn TN cộng sản Hồ Chí Minh trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội
4. Bộ Thông tin và Truyền thông: Đề án “Truyền thông về phòng, chống ma túy trên các phương tiện thông tin đại chúng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông về phòng, chống ma túy trên các phương tiện thông tin đại chúng
10. Trần Bá Dung (2008), Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội. Luận án Tiến sĩ chuyên ngành báo chí học. Học viên Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội
Tác giả: Trần Bá Dung
Năm: 2008
11. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, Nbx Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Năm: 2011
12. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở Lý luận Báo chí. Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Lý luận Báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
14. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016)
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
15. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2007): Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) về Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới.NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) "về "Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Chỉ thị 30 - CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) ban hành ngày 25/12/2013 về “Phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên internet” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên internet
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016): Chỉ thị 05 của Bộ chính trị về “đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
21. Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh (1995): Đề án “Tổng luận phân tích về phòng chống lạm dụng ma túy trongTN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổng luận phân tích về phòng chống lạm dụng ma túy trongTN
Tác giả: Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh
Năm: 1995
22. Đỗ Thị Bích Điểm (2007): “Những giải pháp thực hiện việc ngăn chặn tệ nạn mại dâm, ma túy trong thanh thiếu niên” (Đề tài cấp Bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những giải pháp thực hiện việc ngăn chặn tệ nạn mại dâm, ma túy trong thanh thiếu niên” (
Tác giả: Đỗ Thị Bích Điểm
Năm: 2007
23. Nguyễn Thị Trường Giang (2017), “Báo chí và truyền thong đa phương tiện”. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và truyền thong đa phương tiện
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
24. Vũ Quang Hào (2004), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (http://moj.gov.vn)\ Link
7. Cổng thông tin điện tử Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (http://www.molisa.gov.vn) Link
8. Cổng thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (http://www.vksndtc.gov.vn) Link
37. Luật Thanh niên (2005). http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=30037 Link
38. Luật Báo chí (2016). https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Luat-Bao-chi-2016-280645.aspx Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w