Chính vì vậy, cần phải quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử, để công chúng có thể tìm hiểu rõ nét hơn về phong tục, tập quán, đời sống sinh hoạt và
Trang 1KHU VỰC TÂY BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát các báo: baotuyenquang.com.vn, baolaichau.vn,
baolaocai.vn, năm 2018)
Chuyên ngành : Quản lý báo chí - Truyền thông
Mã số : 80 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN BẢO KHÁNH
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2019
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Bảo Khánh Tài liệu và số liệu
trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn khoa học và đáng tin cậy Kết quả nêu trong luận văn không trùng lặp với những công trình đã được công bố trước đây
Tác giả luận văn
Triệu Thị Kim Cúc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, xin chân thành cảm ơn TS Trần Bảo Khánh, người đã trực
tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài “Quản lý thông điệp hình
ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc Việt
Nam hiện nay”
Xin chân thành cảm ơn các giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các nhà khoa học, các nhà báo và đồng nghiệp đã hướng dẫn, cung cấp tư liệu, trả lời phỏng vấn và đóng góp ý kiến quý báu cho luận văn của tôi
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Triệu Thị Kim Cúc
Trang 51.2 Cơ sở pháp lý quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số 22
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP HÌNH ẢNH VỀ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ KHU VỰC
2.1 Tổng quan về Báo Baotuyenquang.com.vn, Báo Baolaichau.vn
2.2 Nội dung và hình thức thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số 46 2.3 Thực trạng quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số 53
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP HÌNH ẢNH VỀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ KHU VỰC TÂY BẮC VIỆT
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp hình ảnh về
người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Số lượng bài đề tài về người dân tộc thiểu số theo trên Báo
Bảng 2.2: Số lượng bài báo có đề tài về người dân tộc thiểu số theo
Bảng 2.3: Số lượng bài báo có đề tài về người dân tộc thiểu số theo
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1: Giao diện trang chủ Báo Baotuyenquang.com.vn 43 Hình 2.2: Giao diện Trang chủ Báo Baolaocai.vn 44 Hình 2.3: Giao diện trang chủ Báo Baolaichau.vn 45 Hình 2.4: Bài báo kèm hình ảnh “Học Bác vận động nhân dân”
trên báo Tuyên Quang điện tử ngày 09/04/2018 55 Hình 2.5: Bài báo kèm hình ảnh “Khau Làng đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa” trên Báo Tuyên Quang điện tử ngày
Hình 2.6: Bài báo kèm hình ảnh “Chị Mẩy vì phụ nữ vùng cao”
trên báo Lao Cai điện tử ngày 30/10/2018 56 Hình 2.7: Bài báo kèm ảnh “Người phụ nữ Hà Nhì vượt lên số
phận” trên báo Lào Cai điện tử ngày 25/10/2018 57 Hình 2.8: Bài báo kèm hình ảnh “Nữ bí thư năng động” trên báo
Hình 2.9: Ảnh trong phóng sự ảnh “Hàm Yên rộn ràng thu hoạch
cam” trên Báo Tuyên Quang điện tử ngày 24/12/2018 59 Hình 2.10: Ảnh trong phóng sự ảnh “Hàm Yên rộn ràng thu hoạch
cam” trên Báo Tuyên Quang điện tử ngày 24/12/2018 59 Hình 2.11: Ảnh kèm theo bài viết “Đặc sắc hạt dổi Xứ Tuyên” trên
báo Truyên Quang điện tử ngày 03/01/2018 60 Hình 2.12: Bài viết kèm theo ảnh “Điểm nhấn Bản Xen” trên báo
Hình 2.13: Bài viết kèm ảnh “A Tủa làm giàu từ trồng trọt” trên
Hình 2.14: Bài báo kèm hình ảnh “ Người giữa lửa làn điệu Then”
trên báo Tuyên Quang điện tử ngày 30/4/2018 62
Trang 9Hình 2.15: Ảnh trong phóng sự ảnh “Độc đáo nghề dệt vải của phụ
nữ Tày” trên Báo Lào Cai điện tử ngày 27/12/2018 62 Hình 2.16: Ảnh trong phóng sự ảnh “Độc đáo nghề dệt vải của phụ
nữ Tày” trên Báo Lào Cai điện tử ngày 27/12/2018 63 Hình 2.17: Bài báo kèm hình ảnh “Lễ cưới của người Thu Lao”
trên Báo Lào cai điện tử ngày 28/8/2018 63 Hình 2.18: Bài báo kèm hình ảnh “Gìn giữ bản sắc văn hóa đồng
bào La Hủ” trên báo Lai Châu điện tử ngày 31/10/2018 64 Hình 2.19: Bài báo kèm hình ảnh “Hương sắc vùng cao”trên Báo
Hình 2.20: Bài báo kèm hình ảnh “Giữ vững ANTT vùng dân tộc
thiểu số và tôn giáo” trên Báo Tuyên Quang điện tử
Hình 2.21: Bài báo kèm hình ảnh “ Ngày hội toàn dân bảo vệ an
ninh Tổ quốc xã Khánh Yên Trung năm 2018” trên
Hình 2.22: Bài báo kèm hình ảnh “Nhân dân Khun Há tham gia
đảm bảo an ninh trật tự” trên Báo Lai Châu điện tử
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong
đó người kinh chiếm 87% dân số, còn lại là các dân tộc tiểu số chiếm 23%, mỗi dân tộc có những đặc điểm tiềm năng kinh tế, bản sắc văn hoá, ngôn ngữ riêng nhưng cùng có chung truyền thống đoàn kết xây đắp ngay từ thủa dựng nước và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay Thời gian qua, những hình ảnh về người dân tộc thiểu số luôn được xem là chủ thể không thể
tích cực phản ánh cuộc sống của bà con dân tộc thiểu số trên mọi miền đất nước đến nhân dân và bạn bè quốc tế
Những thông điệp về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử đã giới thiệu được phần nào tính đa dạng và phong phú của văn hóa các tộc người ở Việt Nam, đồng thời phản ánh và nhận diện những khó khăn trong đời sống mà các nhóm người dân tộc thiểu số đang phải đương đầu Mặt khác, bên cạnh việc đưa tin, các báo cũng đã có nhiều bài viết về miền núi, trong đó cố gắng lồng ghép chủ đích tuyên truyền đường lối, chính sách của nhà nước với các dân tộc thiểu số Những thông điệp đó đã góp phần giúp cho cộng đồng hiểu hơn về cuộc sống của bà con các dân tộc thiểu số, góp phần phát triển hơn, đẩy lùi những hủ tục lạc hậu Báo chí cũng xuất hiện ngày càng nhiều hình ảnh về người dân tộc thiểu số chủ động sáng tạo, nỗ lực vượt khó, người tốt, người giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình Bên cạnh đó còn có hình ảnh những nhà chính trị gia, doanh nhân thành đạt hay những nghệ sĩ là người dân tộc thiểu
số Họ được báo chí tiếp cận khai thác thông tin với vai trò là chủ thể, là những người có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của xã hội
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã mang lại thì hiện nay có rất nhiều báo mạng điện tử lại truyền đi những thông điệp hình ảnh về người dân
Trang 11tộc thiểu số không phù hợp, hình ảnh tiêu cực là những người dân tộc không có việc làm, gặp khó khăn, cần trợ giúp, hưởng phúc lợi, được trợ cấp và họ là những người thụ động, thiếu hiểu biết, dễ lợi dụng, lười lao động khiến công chúng hiểu sai và có những định kiến đối với người dân tộc thiểu số v.v
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chế trong quá trình báo chí khai thác, viết về đề tài liên quan đến hình ảnh người dân tộc thiểu số Vai trò, trách nhiệm của báo chí đối với việc tăng cường nhận thức của công chúng về đồng bào dân tộc thiểu số chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước về chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của báo chí Cùng với đó là sự thiếu định hướng trong trong quá trình tác nghiệp của nhà báo Một số phóng viên, nhà báo còn yếu trong tiếp cận cũng như cập nhật kiến thức và kỹ năng truyền thông về đồng bào người dân tộc thiểu số, những bài viết đều chỉ từ cái nhìn của một cá nhân tác giả áp đặt quan điểm
về cả một cộng đồng người, cộng đồng văn hoá Báo chí điện tử đang viết về hình ảnh người dân tộc thiểu số theo khuôn mẫu phổ biến là “tiêu cực nhiều hơn tích cực” Những hình ảnh không chân thực về miền núi hoang sơ, kỳ bí thường bị thổi phồng hay áp đặt, và do đó không giúp cải thiện quan hệ “đại đoàn kết” toàn dân mà ngược lại có nguy cơ làm sâu thêm cái hố ngăn cách giữa miền núi và miền xuôi, giữa người đa số và người thiểu số
Chính vì vậy, cần phải quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu
số trên báo mạng điện tử, để công chúng có thể tìm hiểu rõ nét hơn về phong tục, tập quán, đời sống sinh hoạt và lao động của bà con, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở vùng các bà con dân tộc thiểu số đang sinh sống
Xuất phát từ những lý do trên đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài
“Quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử
khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay” (Khảo sát các báo: baotuyenquang
com.vn, baolaichau.vn, baolaocai.vn, năm 2018) với phạm vi khảo sát được giới
hạn trên một số báo mạng điện tử đang được chú ý ở khu vực Tây Bắc Việt Nam
Trang 12hiện nay như Báo Tuyên Quang - Baotuyenquang.com.vn; Báo Lai Châu -
Baolaichau.vn và Báo Lào Cai - Baolaocai.vn cho Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Quản lý báo chí - truyền thông của mình
Qua nghiên cứu, tác giả hy vọng đề tài sẽ góp phần cho việc quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử một cách hiệu quả trong giai đoạn hiện nay và tương lai
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến quản lý thông tin báo chí, có một số cuốn sách đã được xuất bản như:
Hoàng Vĩnh Bảo - chủ biên (2010) cuốn “Lãnh đạo vào quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Lý luận chính trị Cuốn sách đã khái
quát quan điểm của Đảng về lãnh đạo và quản lý báo chí, cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước Từ những nghiên cứu trên thực tiễn, cuốn sách đã đưa ra những vấn đề đặt ra với hoạt động báo chí và quản lý báo chí ở nước ta hiện nay
Nhà báo Đỗ Quý Doãn - chủ biên (2015) có cuốn sách “Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Thông tin và truyền
thông Cuốn sách được chia làm hai phần: Báo chí dưới góc nhìn quản lý nhà nước và Báo chí dưới góc nhìn người làm báo đã cung cấp những vấn đề bức thiết đặt ra trong công tác quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí Việt Nam
Bên cạnh đó còn một số cuốn sách như: Cuốn “Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử” của tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên), 2014, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã trình bày những nội dung sáng tạo trên
các tác phẩm báo mạng điện tử so với các dạng báo chí khác; Cuốn “Giáo trình lý thuyết và kỹ năng báo mạng điện tử” của tác giả Nguyễn Thị Trường
Giang, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2016 đã giới thiệu lịch sử ra đời, phát triển của báo mạng điện tử, đặc trưng cơ bản, mô hình tổ chức bộ máy tòa soạn, quy trình sản xuất sản phẩm, viết bài và trình bày nội dung báo mạng
Trang 13điện tử; Cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” (Nxb Lao động, năm 2012) tác giả
Nguyễn Văn Dững đã cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí như khái niệm và đặc điểm báo chí, bản chất hoạt động báo chí Ngoài các vấn đề về lý luận, tác giả có đề cập kỹ năng của nhà báo, phóng viên Những tài liệu này là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả nghiên cứu về báo chí truyền thông nói chung
Tính đến nay, có không ít cuốn sách cũng như tài liệu về nhiếp ảnh báo chí nói chung Chỉ riêng ở Thông tấn xã Việt Nam trong những năm qua đã có hàng chục tài liệu, sách tham khảo đề cập đến vấn đề ảnh báo chí với nhiều đề tài khác nhau Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có tài liệu nào đề cập đến việc sử dụng hình ảnh chụp về người dân tộc thiểu số trên loại hình báo mạng điện tử
Tuy nhiên, đáng chú ý có các cuốn sách chuyên khảo liên quan đến ảnh
báo chí và sử dụng ảnh báo chí như: Ảnh báo chí (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội của Đỗ Phan Ái, Nguyễn Tiến Mão; Đề tài Giảng dạy thể loại phóng sự Ảnh báo chí (2009) Học viện Báo chí và Tuyên truyền Hà Nội của Đỗ Phan Ái; Cơ sở lý luận Ảnh báo chí (2006), Nxb Thông tấn, Hà Nội; Kỹ năng sáng tạo các thể loại ảnh thời sự tài liệu (2010), Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội của tác giả Nguyễn Tiến Mão; Tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo
in (2006), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội của tác giả Hà Huy Phượng Những
tác phẩm này trình bày những khái niệm, đặc trưng, thể loại về ảnh, nguyên tắc
cơ bản về trình bày, sử dụng ảnh báo chí và nhiều kỹ năng liên quan đến người biên tập ảnh Đây được xem là cẩm nang cho tất cả những người làm báo
Một số đề tài nghiên cứu các yếu tố có liên quan như: Năm 2004 có
Luận văn Thạc sĩ “Phóng sự ảnh và ảnh phóng sự trên báo in” (khảo sát các
tờ báo tiếng Việt của Thông tấn xã Việt Nam từ tháng 1/2001 đến tháng 1/2004) của tác giả Vũ Huyền Nga Luận văn có đề cập đến một số vấn đề lý luận chung, tìm hiểu thực tế phát triển của thể loại phóng sự ảnh trong giai đoạn hiện nay Qua đó, phân tích những điểm mạnh và những điểm yếu trong
Trang 14việc sử dụng một hình thức phản ánh của báo chí trong điều kiện xã hội phát triển trên nền khoa học kỹ thuật hiện đại Từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ảnh trên báo in
Năm 2005 Luận văn Thạc sĩ của Phạm Ngọc Bách về “Chương trình dân tộc và miền núi trên sóng VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam”, đưa ra các
giải pháp nâng cao chất lượng chương trình trên cơ sở khảo sát từ tháng 1/2004 đến tháng 6/2005
Năm 2009, có Luận văn Tiến sĩ Báo chí học của tác giả Hà Huy
Phượng về đề tài “Biên tập và trình bày ảnh trên báo in ở Việt Nam hiện nay”
nghiên cứu những vấn đề cụ thể về hoạt động biên tập và trình bày ảnh trên báo in Tác giả đã hệ thống hoá được những vấn đề lý luận cơ bản về báo chí, hoạt động biên tập báo chí nói chung và biên tập ảnh báo chí nói riêng; công tác thiết kế, trình bày ảnh trên báo in
Năm 2011, Đề tài “Nâng cao chất lượng tuyên truyền các vấn đề dân tộc của Đài Tiếng nói Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Hệ phát thanh Dân
tộc, Đài Tiếng nói việt Nam thực hiện, đề cập thực tế chất lượng nội dung và các yêu cầu thực hiện công tác tuyên truyền vấn đề dân tộc trong giai đoạn hiện nay của Đài tiếng nói Việt Nam
Năm 2014 có Luận văn Thạc sĩ “Đài Phát thanh - Truyền hình Điện Biên với vần đề gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số địa phương” của
tác giả Hồ Thị Thanh Hà Luận văn có đề cập đến vấn đề sử dụng các thông tin, hình ảnh về người dân tộc thiểu số nhằm nâng cao những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trên truyên truyền thông đại chúng
Năm 2015 tác giả Phạm Thị Quỳnh Mai có Luận văn Thạc sĩ ngành
quản lý công, Học viện Hành chính, Hà Nội với đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động của báo điện tử ở Việt Nam”
Tất cả các công trình khoa học, sách, báo, tạp chí và các luận văn Thạc
sĩ, Tiến sĩ, các bài viết nêu trên đều đề cập đến quản lý thông điệp hình ảnh
Trang 15người dân tộc thiểu số ở một khía cạnh nào đó như: Việc sử dụng hình ảnh người dân tộc thiểu số trên báo in, việc quản lý nhà nước về báo mạng điện
tử, việc giữ gìn bản sắc văn hóa người dân tộc thiểu số thông qua các chương trình tuyền hình địa phương các công trình trên đã đưa ra các góc nhìn khác nhau của báo chí về người dân tộc thiểu số Tuy nhiên, các công trình trên chưa có công trình nào đề cập cụ thể việc Quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên các báo mạng điện tử Trong luận văn, tác giả sẽ khái quát và nêu lên được những vấn đề mới như việc quản lý, việc sử dụng thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số; thời lượng, số lượng, nội dung đăng đăng tải trên các báo mạng điện tử Bên cạnh đó, tác giả còn làm rõ về các thành tựu, hạn chế về nội dung thông điệp hình ảnh, việc sử dụng hình ảnh về đề tài người dân tộc thiểu số, các giải pháp để nâng cao hiệu quả việc
sử dụng hình ảnh, truyền thông bằng hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử Tuy nhiên, những công trình khoa học nêu trên là nguồn tài liệu quí báu để tác giả chọn lọc, kế thừa một cách hợp lý những vấn đề có liên quan đến luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về quản lý thông điệp hình ảnh, đề tài nghiên cứu thực trạng thông điệp và quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay; Từ đó đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử ở khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn phải thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Trang 16- Nghiên cứu các tài liệu lý luận báo chí nói chung và tài liệu lý luận về ảnh báo chí nói riêng để hệ thống hoá các vấn đề lý luận về ảnh, hiểu rõ thêm một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý thông điệp hình ảnh trên báo
mạng điện tử làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu, khảo sát
- Khảo sát thực trạng, phân tích, đánh giá thành công và hạn chế hoạt động quản lý nội dung và hình thức thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên ba tờ báo mạng điện tử Baotuyenquang.com.vn; Baolaichau.vn
và Baolaocai.vn trong năm 2018
- Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo Baotuyenquang.com.vn; Baolaichau.vn và báo Baolaocai.vn
- Thời gian nghiên cứu: Trong năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phóng viên, nhà báo và công tác quản lý thông điệp hình ảnh; cơ sở nhận thức luận những vấn đề về báo chí - truyền thông đại chúng; về lý thuyết truyền thông hình ảnh, quản lý hình ảnh và các
ngành khoa học khác có liên quan như: Xã hội học, ngôn ngữ học
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 17Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: Phương pháp này được sử dụng với hình thức: Đọc các tài liệu như sách, tạp chí, giáo trình…chuyên ngành về quản lý báo chí, truyền thông, hình ảnh, thông điệp Tài liệu được lựa chọn là các công trình nghiên cứu, tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề nghiên cứu, các website điện tử uy tín và các nguồn tài liệu sưu tầm khác Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu được
sử dụng như một trong những phương pháp nghiên cứu cơ bản nhằm tổng hợp, phân tích trên cơ sở đó đúc rút những luận điểm, luận chứng có các nội dung xuyên suốt của luận văn Mục đích của phương pháp nghiên cứu tài liệu, giúp cho người nghiên cứu nắm vững cơ sở lý luận, thực tiễn và có thêm kiến thức về lĩnh vực và vấn đề mà mình đang nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Phương pháp này được dùng để thống kê, phân loại các nội dung, tiêu chí, các thể loại ảnh được sử dụng trên các tờ báo Trên cơ sở đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn các nhà quản lý, đội ngũ phóng viên; Phương pháp này sẽ giúp cho tác giả có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc việt Nam Kết quả của phương pháp phỏng vấn sâu góp phần làm cơ sở để tác giả luận đề các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử ở khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay
6 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò của thông điệp hình ảnh; Nội dung, hình thức quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử
Trang 18- Làm rõ thực trạng quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu
số trên báo mạng điện tử tại các tờ báo được khảo sát Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá những thành công, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử ở khu vực Tây Bắc Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Sản phẩm nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo giúp các cơ quan báo chí, các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí thực hiện tốt hơn công tác quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử ở Việt Nam
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập các môn học liên quan đến truyền thông hình ảnh và quản lý hình ảnh truyền thông
- Đề tài có thể được nghiên cứu vận dụng giúp các cơ quan báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội nhà báo Việt Nam có cách nhìn toàn diện
về thực trạng, từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài có kết cấu gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm “Quản lý”
Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Xã hội ngày càng phát triển con người đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm mang tính quy luật để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, trong đó có hoạt động quản lý
Trong xã hội hiện đại hoạt động quản lý dựa trên những cơ sở khoa học
và kinh nghiệm thực tiễn để con người đúc rút thành khoa học quản lý
Theo từ điển tiếng Việt (2005) “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định; tổ chức điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định” [36, tr.800]
Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh) Trong thực tế, thuật ngữ quản lý và quản trị vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ này có bản chất giống nhau Xét về từ ngữ, thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình “Quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì trạng thái “ổn định”; Quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa tổ chức vào thể chế “phát triển”
Theo Harol Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [30]
Trang 20Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các
cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Theo các nhà nghiên cứu Việt Nam “Quản lý là sự tác động có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã
đề ra”, là “một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó có các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quản lý nhất định nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường” [31, tr.92]
Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý luôn là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Đó chính là mối quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần nhận thức và hoạt động thực tiễn
Như vậy, quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động
xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội; là một yếu tố quan trọng và quyết định đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia
Xét ở góc độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi cá nhân hướng đến mục tiêu đã định; thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý và là mối quan
hệ mang tính uy quyền; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; nếu xét về mặt công nghệ thì đó là sự vận động của thông tin
Trang 21Từ những quan niệm trên ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong môi trường luôn biến động Quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định là chủ thể quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và khách thể quản lý (chịu sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý)
Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và
có cách hiểu chung tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết,
hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người sử dụng
để truyển tải thông điệp [12, tr.14]
Theo cuốn sách "Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của PGS TS
Dương Xuân Sơn, TS Đinh Văn Hường, Trần Quang định nghĩa:
Thông điệp là tin tức được thể hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có
ý nghĩa Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận hiểu được Có thể là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học, hay ngôn ngữ văn học trong nghệ thuật [41, tr.14]
Trang 22Theo cuốn sách "News Reporting and Writing” (nhà báo hiện đại) của The Missouri Group, tác giả đã khẳng định:
Với mỗi thông điệp bạn viết, trước hết bạn phải hy vọng sẽ đạt được điều gì, ngay cả khi mục đích của bạn chỉ là thông tin Báo in thì tốt cho thông điệp phức tạp và đôi khi là những thông điệp tế nhị Một vài người cho rằng báo in vẫn là phương tiện đáng được tín nhiệm hơn các phương tiện khác và rằng người ta có thể trở đi trở lại đọc thông điệp trên báo in [34, tr.440 - 441]
Thông điệp được quá nhiều người biết đến trong thời gian dài có thể giảm hoặc mất tính hấp dẫn; tình hình và điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi cũng có thể làm cho thông điệp "già đi” hoặc "lạc mốt” [16, tr.279]
Một thông điệp, theo định nghĩa của tác giả là thông tin cần truyền đi
đã được mã hoá dưới dạng ngôn ngữ nào đó như: Hội hoạ, điêu khắc, lời văn, thi ca, nhạc điệu, ánh sáng, biểu tượng (hội hoạ, âm nhạc, văn học nghệ thuật) và được giải mã bởi đầu nhận Nó là một nguyên tắc mọi người quan tâm vào một tình huống cụ thể và nó không thể được áp dụng rộng rãi cho tất
cả mọi người Thông điệp cũng có thể mang ý nghĩa cộng đồng, quốc gia, những mối nguy hại, cảnh báo mà chúng ta có thể tìm thấy qua một mẩu tin, một bài báo hay chỉ đơn giản là tình cảm được hình thành qua cảm xúc của con người được truyền đạt theo nhiều phương thức
Có thể nói, thông điệp ở mỗi trường hợp, bối cảnh có rất nhiều ý nghĩa khác nhau;
Mỗi thông điệp có đời sống riêng của nó, có môi trường và có điều kiện
cụ thể, có quá trình phát sinh, phát triển và suy thoái Thông điệp được nhiều người biết đến trong thời gian dài có thể giảm hoặc mất tính hấp dẫn; do điều kiện nào đó có thể làm cho thông điệp không còn phù hợp Do đó, đòi hỏi quá
Trang 23trình vận động, phát triển của chúng ta luôn điều chỉnh để thông điệp luôn phát huy ưu điểm và phải chế nhược điểm
Theo PGS TS Nguyễn Văn Dững, TS Đỗ Thị Thu Hằng thông điệp gồm có 5 yêu cầu chính [16, tr.245 - 246]:
Thứ nhất, thông điệp phải phù hợp với công chúng - nhóm đối tượng và
thể hiện rõ mục tiêu của chiến dịch truyền thông Yêu cầu cao nhất, trong bản thân thông điệp thể hiện rõ và hài hòa giữa mục tiêu truyền thông, tuyên truyền vận động của chủ thể với nhu cầu, mong đợi của nhóm đối tượng Cho nên, trước khi xây dựng thông điệp, cần tiến hành nghiên cứu nhóm đối tượng
Đối với nhóm đối tượng hoạch định chính sách, thông điệp cần tạo được sự ủng hộ tích cực cho việc hoạch định chính sách và chủ trương thuận lợi cho các vấn đề truyền thông, thông qua cam kết chính trị hoặc chương trình hành động
Đối với công chúng - nhóm đối tượng, thông điệp cần tập trung hướng tới thay đổi nhận thức, hành vi và thái độ của họ đối với vấn đề truyền thông
Sự thay đổi này thường thể hiện qua các cấp độ: chấp nhận, hưởng ứng, tán thành và tin tưởng thông điệp dẫn đến thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp với mục đích chiến dịch truyền thông cho thông điệp nêu ra
Đối với cán bộ truyền thông, thông điệp hướng tới việc nâng cao nhận thức và hiểu biết, hình thành ý chí quyết tâm và phương pháp, kỹ năng để thực hiện có hiệu quả chiến dịch truyền thông
Thứ hai, thông điệp phải phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc đối với tất cả các thông điệp -
từ thông điệp của chiến dịch truyền thông đến thông điệp quảng cáo
Thứ ba, thông điệp phải phù hợp với các quy tắc và giá trị xã hội, với
văn hóa - lối sống dân tộc và phát triển; đề phòng những hệ quả ngoài ý muốn
Trang 24đối với nhóm đối tượng không thuộc phạm vi gây ảnh hưởng, nhất là đối với trẻ em
Thứ tư, thông điệp phải phù hợp với tâm lý, tâm trạng xã hội và thể
hiện lợi ích của công chúng - nhóm đối tượng Do đó cần làm thế nào để nhóm đối tượng biết được rằng, thực hiện theo thông điệp thì họ có lợi ích
Thứ năm, thông điệp phải phù hợp với các kênh truyền thông
1.1.3 Hình ảnh
Thuật ngữ hình ảnh có nguồn gốc từ tiếng Latin “Imago” và có quan hệ mật thiết với một từ Latin khác là “Imatari” - dùng để chỉ sự mô phỏng, phòng theo [29, tr.85]
Theo từ điển tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên của Viện Ngôn ngữ học tái bản năm 2010 đã giải thích khái niệm hình ảnh: "Hình ảnh
là hình người, hình vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong các diễn đạt" [36, tr.605]
Có thể hiểu với hình ảnh dù bất kỳ thể loại nào thì yếu tố thông tin cũng là cái có trước, nó mang tính trực tiếp và thể hiện ngay tầng nhận thức thứ nhất
Hình ảnh là những ký hiệu nhân tạo nhằm giúp ta hiểu được chính mình, hiểu được hành vi của ta và tính chất phức tạp của thế giới chúng ta đang sống được thêu dệt vào ngôn ngữ, những ký hiệu bằng hình ảnh và ngôn ngữ ấy trở thành một thứ hoa gấm của nhiều nền văn hóa khác Suốt một thời gian dài, những ký hiệu đó là công cụ cơ bản mà con người sử dụng để truyền thông và học hỏi
Xét trên một khía cạnh nào đó, hình ảnh được bày ra trước mắt độc giả thông qua các chi tiết được mô tả trong hình ảnh và những lời bình luận Đây
là điểm mạnh riêng biệt chỉ hình mới có Và nếu hàm lượng thông tin ấy
Trang 25mang đến cho người xem càng nhiều thông điệp, càng giải đáp được nhiều câu hỏi của độc giả thì hình ảnh đó có giá trị
1.1.4 Thông điệp hình ảnh
Truyền thông hình ảnh (Visual comminication) là truyển tải nội dung thông tin về sự kiện, vấn đề, nhân vật thông qua sự hỗ trợ của thị giác Truyền thông hình ảnh có chứa các khía cạnh bao gồm: dấu hiệu, áp phích, bản vẽ, ảnh chụp, quảng cáo, truyền hình… việc giải thích của hình ảnh là chủ quan
và để hiểu chiều sâu của ý nghĩa truyền đạt trong một hình ảnh đòi hỏi phải phân tích
Khác với ngôn từ, đặc điểm đầu tiên của các bức ảnh chụp mà chúng ta vẫn thường thấy là không có khả năng tạo ra một thông điệp truyền thông trọn vẹn và mạch lạc Hay nói như Roland Barthes: “Hình ảnh là những thông điệp không có bộ mã” [46, tr.17], do đó ảnh được sử dụng trên báo mạng điện tử cần có chú thích ảnh, tít báo, box thông tin hoặc thông qua xử lý kỹ thuật) để
có được một thông điệp trọn vẹn, đảm bảo việc độc giả khi xem ảnh trên báo
sẽ tiếp nhận thông điệp đó một cách chính xác Đây cũng chính là lý do sâu xa
có không ít người nhầm lẫn cho rằng ảnh chỉ là công cụ minh họa hoặc trang trí cho phần chữ
Xét về góc độ của việc tạo dựng thông điệp hình ảnh thì hình ảnh là nghệ thuật mô phỏng hoặc mô tả hình dáng bên ngoài của một đối tượng hoặc một con người Đó là hình dung về con người, đồ vật hay một tổ chức được hình thành trong nhận thức của công chúng với sự giúp đỡ của quảng cáo hay tuyên truyền
Hình ảnh đóng vai trò quan trọng và hữu hiệu trong việc tạo dựng thiện cảm ban đầu bởi hình ảnh là kênh cung cấp thông tin cho người nhận không cần phải dịch ra thứ tiếng khác, hình ảnh là kênh thông tin cô đọng, được người xem ghi nhất tốt hơn, hình ảnh là kênh thông tin đáng tin cậy, hình ảnh
là bức tranh thu nhỏ về con người trong xã hội
Trang 26Như vậy, thông điệp hình ảnh là thông tin truyền qua kênh hình ảnh, mang nội dung nhất định, thể hiện tâm tư, tình cảm, mong muốn của con người với con người Thông điệp hình ảnh luôn vận động, qua thời gian, một thông điệp sẽ luôn trở nên lạc hậu nếu không được thay đổi phù hợp Do đó, trong hoàn cảnh hiện tại, thông điệp hình ảnh phải luôn được điều chỉnh để phát huy hết thuận lợi và hạn chế nhược điểm
1.1.5 Dân tộc thiểu số
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dân tộc thiểu số: Dân tôc thiểu số
có nguồn gốc lịch sử là tập thể tộc người đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu
đời mà người ta thường gọi là dân tộc bản địa
Dân tộc thiểu số di cư là những người nước ngoài sang di cư tại một quốc gia đã có chủ quyền Đứng trên phương diện chính trị, mỗi quôc gia có khái niệm khác nhau về thuật ngữ “Dân tộc thiểu số”, kéo theo bao sự tranh cãi trên Diễn đàn Liên hợp quốc
Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người:
- Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này
- Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống
- Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ
- Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay một khu vực của quốc gia này có mối quan tâm tới vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ Bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ
Cho đến nay, khái niệm dân tộc thiểu số được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến:
Trang 27Một là, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền
vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc Với nghĩa này, dân tộc thiểu số là một bộ phận của quốc gia nhưng không chiếm số đông dân cư và không phải là dân tộc đại diện cho một quốc gia nhiều dân tộc
Hai là, Dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một
nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với ý nghĩa này, dân tộc thiểu số là số dân thuộc một dân tộc ít người của một quốc gia
1.1.6 Báo mạng điện tử
Trên thế giới loại hình Báo mạng điện tử có nhiều tên gọi khác nhau như online newspaper (báo chí trên mạng/ trực tuyến), e- journal (electronic journal- báo chí điện tử), e- zine (electronic magazine- tạp chí điện tử)…
Ở Việt Nam, thuật ngữ báo mạng điện tử được sử dụng khá phổ biến, chẳng hạn báo nhân dân điện tử, lao động điện tử… ngoài ra còn nhiều người gọi chúng bằng cái tên khác như: Báo mạng, báo chí internet, báo trực tuyến…
Theo điều 3 của Luật sử đổi, bổ sung một số điều luật của Báo chí năm
1999 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/6/1999 quy định: “Báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài.” Điều 22 quy định thêm “Báo điện tử được thực hiện trên mạng thông tin máy tính theo quy định của chính phủ” [14]
Trong cuốn sách “Báo mạng điện tử - Đặc trưng và phương pháp sáng tạo” (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2014) do PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang và TS Nguyễn Trí Nhiệm đồng chủ biên đã nêu các căn cứ để lựa chọn
Trang 28thuật ngữ “Báo mạng điện tử” như sau: Nó khẳng định loại hình báo chí này
là con đẻ của sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, hoạt động được nhờ các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, số hóa, các máy tính nối mạng và các server, các phần mềm ứng dụng
Nó cho phép hiểu một cách chính xác về bản chất, đặc trưng của loại hình báo chí hiện nay: Tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính tức thời, tính phi định kỳ, khả năng truyền tải thông tin không hạn chế với các lưu trữ thông tin dưới dạng dữ liệu siêu văn bản, khả năng siêu liên kết - các trang báo được tổ chức thành từng lớp, có thể “nở” ra với số trang không hạn chế
Tên gọi này chỉ rõ người làm báo và người đọc báo cần phải có trình độ
kỹ thuật nhất định
Đây là sự kết hợp các tên gọi có nội dung riêng biệt như: Báo, mạng, điện tử Vì vậy, tên gọi này thỏa mãn các yếu tố: Văn hóa, đặc trưng riêng biệt của loại hình báo chí mới, khắc phục được sự thiết về nghĩa, sự máy móc của từ lai [24, tr.11]
Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm, để tạo sự thuận lợi trong quá trình nghiên cứu luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ báo mạng điện tử để nghiên cứu
Tác giả lựa chọn thuật ngữ đã được nêu trong cuốn sách “Báo mạng
điện tử - đặc trưng và phương pháp sáng tạo” như sau: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trong truyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao” [24, tr.12]
1.1.7 Quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số
Từ những cách tiếp cận khái niệm quản lý, thông điệp, hình ảnh, dân tộc thiểu số, thông điệp hình ảnh nêu trên có thể hiểu quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điển tử là tổng thể các phương thức, hành động để quản lý thông tin truyền qua hình ảnh về nhóm người có
Trang 29sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc của quốc gia những không chiếm số đông dân cư và không phải là dân tộc đại diện cho một quốc gia nhiều dân tộc theo đúng chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kênh truyền phát đáp ứng yêu cầu xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trong truyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức
thời, đa phương tiện và tương tác cao
Trong khái niệm “Quản lý thông điệp hình ảnh” cần phân định rõ chủ thể và đối tượng quản lý:
Về chủ thể quản lý: chủ thể quản lý thông điệp hình ảnh về người dân
tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay là Ban biên tập cơ quan báo chí thuộc khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay
Về đối tượng quản lý: Đối tượng quản lý trong hoạt động quản lý thông
điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số là nội dung, hình thức ảnh báo chí về đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng trên các tờ báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay
Vai trò của Thông điệp hình ảnh trong truyền thông
Thông điệp hình ảnh có vai trò rất quan trọng trong truyền thông, bởi hình ảnh là kênh cung cấp nhiều thông tin cho người nhận, hình ảnh là thông tin cô đọng được người tiếp nhận ghi nhớ tốt hơn
Thứ nhất, hình ảnh là kênh thông tin cung cấp thông tin cho người nhận
không cần phải dịch ra thứ tiếng khác
Bằng kênh thông tin này có thể chuyển một lượng thông tin lớn hơn nhiều so với tưởng tượng
Thứ hai, hình ảnh là kênh thông tin cô đọng, được người xem ghi nhớ
tốt hơn
Trong ma trận thông tin hàng ngày, con người không đủ sức tiếp nhận mọi thông tin mà thường bị thu hút bởi những hình ảnh bắt đầu một cách ấn
Trang 30tượng, từ sự ấn tượng của hình ảnh ban đầu mà người ta có sự quan tâm, để ý đến những thông tin liên quan; nói cách khác, thông tin được truyền qua thị giác và dần lưu giữ, củng cố trong não bộ Ví dụ như hình ảnh về đất nước tươi đẹp, về một công ty phát đạt, về một danh lam thắng cảnh, một vị lãnh đạo tài ba, một người thầy giáo tâm huyết sẽ được lưu giữ tốt hơn
Việc điều chỉnh hình ảnh trong nhiều trường hợp là việc thay thế những đặc điểm thị giác (hoặc những điểm khác) không bản chất thành những đặc điểm mang tính quan trọng hơn theo cách nhìn nhận của một hình ảnh nào đó
Thứ ba, hình ảnh là kênh thông tin có tác động ngoài tầm kiểm soát của
Thứ tư, hình ảnh là kênh thông tin đáng tin cậy
Thông tin truyền qua kênh hình ảnh là những thông tin đáng tin cậy, điều này có liên quan tới đặc điểm mang tính tâm lý đơn thuần khi cho rằng những gì chúng ta nhìn thấy đều là thực Vì thế niềm tin của công chúng đối với hình ảnh trên báo mạng điện tử cũng tăng lên
Thứ năm, hình ảnh là bức tranh thu nhỏ về con người trong xã hội
Chúng ta cố gắng thể hiện bản thân mình ở phương diện tốt đẹp nhất khi nhấn mạnh những đặc điểm này hay những đặc điểm khác của cá nhân Chúng ta làm điều đó một cách vô thức, đặc biệt là trong những tình
Trang 31huống như khi lần đầu làm quen với một người mà ta mong họ có cảm tình với mình
Như vậy ta có thể thấy được tầm quan trọng của thông điệp hình ảnh trong truyền thông hiện đại ngày nay Những cơ sở lý luận trên đều là những
cơ sở quan trọng để tác giả có thể hoàn thành được nghiên cứu thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay để có được những lý luận chung về việc truyền tải thông điệp trên báo mạng điện tử Việt Nam
1.2 Cơ sở pháp lý quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc
thiểu số
1.2.1 Quan điểm của Đảng về người dân tộc thiểu số
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu
số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau ”
Với vai trò và vị trí quan trọng của mình trong công cuộc xây dựng đất nước, công tác dân tộc được Đảng và Nhà nước ta hết sức chú ý quan tâm Văn kiện Đại hội lần thứ 8 của Đảng đã Khẳng định:
Vấn đề dân tộc có vị trí, chiến lược lớn Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được nội dung chủ yếu: Xóa đói giảm nghèo và
ổn định và cải thiện đời sống, sức khỏe của đồng bào dân tộc, xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng viên của các dân tộc các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh [17] Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, vấn đề dân tộc tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết:
Trang 32Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và là nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Lấy mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung
để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân [19]
Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước mà những năm gần đây, các vùng dân tộc thiểu số đã có những bước tiến đáng kể, từng bước thoát khỏi cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu để tiếp cận với đời sống văn minh hiện đại, kinh
tế phát triển, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số khắp các vùng miền trên cả nước được tôn trọng, giữ gìn và phát huy
Những đặc điểm cơ bản, tình hình dân tộc ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc (53 dân tộc thiểu số
chiếm 14% dân số cả nước, cư trú chủ yếu ở miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới), cùng cư trú, tồn tại và phát triển trên lãnh thổ Việt Nam, đã sớm hình thành các đặc điểm cơ bản:
- Cộng đồng các dân tộc Việt Nam chung sống đoàn kết, hoà hợp Ngay
từ thuở khai sinh, các dân tộc phải cố kết, chung sức, chung lòng chống chọi với thiên nhiên, bão lũ; tinh thần đoàn kết càng được phát huy hơn trong lịch
sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc Trong sự nghiệp cách
Trang 33mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đoàn kết, thống nhất dân tộc không ngừng được củng cố và phát triển, tạo nên sức mạnh
vĩ đại để chiến thắng thiên tai, chiến thắng thù trong, giặc ngoài đem lại thắng lợi của cách mạng Việt Nam
- Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, nhưng không có sự phân chia lãnh thổ và chế độ xã hội riêng Hình thái cư trú xen kẽ nhiều dân tộc anh em, phản ánh mối quan hệ
đoàn kết, thống nhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong một quốc gia Những năm gần đây, gắn liền với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tính chất đan xen đó càng tăng lên Hiện nay, ở miền núi hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một cồng đồng hai dân tộc sinh sống, như: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng… Do địa bàn cư trú, phong tục tập quán và tâm lý, lối sống của các dân tộc, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng, miền dân tộc không đồng đều Một số dân tộc có dân số ít, ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế -
xã hội còn gặp khó khăn, như: Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu…
- Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên nền văn hóa Việt Nam
đa dạng, phong phú, thống nhất Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, tâm
lý, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo mang tính đặc thù, tạo nên những sắc thái văn hóa riêng của từng dân tộc, tồn tại và phát triển trong tính đa dạng và thống nhất của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam
- Địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ bền vững môi trường sinh thái Đồng bào cư trú suốt dọc tuyến biên
giới phía Bắc, Tây và Tây Nam, có nhiều cửa ngõ thông thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới Đây là địa bàn có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, có hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phục
vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước và bảo vệ bền vững môi trường sinh
Trang 34thái Trong tình hình hiện nay, miền núi là địa bàn tiềm năng, mang tính chiến lược, cơ bản cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Kinh tế ở miền núi, các dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di dân tự do vẫn còn diễn biến phức tạp Kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng vẫn còn khó khăn, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái
- Tỉ lệ hộ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi cao hơn so với bình quân chung cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa các vùng ngày càng gia tăng; chất lượng, hiệu quả về giáo dục đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn, một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một, một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển
- Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn yếu, tỉ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học thấp Năng lực, trình độ cán
bộ xã, phường còn hạn chế, số lượng đảng viên là người dân tộc thiểu số thấp, vẫn còn thôn bản chưa có đảng viên Hoạt động của cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi chưa sát dân, chưa tập hợp được đồng bào
- Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn về đời sống, trình độ dân trí thấp của đồng bào và những sai sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, phá hoại truyền thống đoàn kết và thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gây mất ổn định chính trị, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm
Trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện chính sách dân tộc, đoàn kết dân tộc như sau:
- Đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào vùng cao, vùng sâu,
Trang 35vùng xa, khu vực biên giới Giúp đồng bào các dân tộc khắc phục tình trạng
thiếu đất sản xuất, nhà ở tạm bợ, thiếu nước sinh hoạt, nâng cấp cơ sở hạ tầng, định canh, định cư, xây dựng khu kinh tế mới ở khu vực biên giới, xoá nghèo nhanh và bền vững
- Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ
sở vùng dân tộc thiểu số Kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo của
tổ chức cơ sở đảng, đẩy mạnh phát triển đảng viên; nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của bộ máy chính quyền các cấp, vai trò tập hợp quần chúng của mặt trận và các đoàn thể Kiên quyết khắc phục tình trạng cán bộ quan liêu, xa
dân; thực hiện tốt phương châm “gần dân, hiểu dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”
- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc ở vùng các dân tộc thiểu số, phát huy sức mạnh tại chỗ, sẵn
sàng đập tan mọi âm mưu và hành động lợi dụng dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch; tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn
xã hội, không để xảy ra “điểm nóng” trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm:
Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; thực hiện tốt chủ trương xây dựng phát triển các khu kinh tế - quốc phòng ở khu vực biên giới
- Thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và chính sách
cụ thể đối với các vùng, các dân tộc để động viên đồng bào phát huy nội lực,
ý chí tự lực, tự cường, tinh thần vươn lên trong phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai,
cứu hộ, cứu nạn, xây dựng đời sống ở khu dân cư, xây dựng bản làng văn hoá
1.2.2 Nội dung quản lý Nhà nước về báo chí
Nói về quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí là nói đến những hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được
ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm
Trang 36bảo cho nhân dân được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền được tự do ngôn luận, tự do báo chí Nhà nước có trách nhiệm điều tiết
để đảm bảo báo chí phát triển, tuân thủ đúng định hướng, đáp ứng đúng nhu cầu thông tin của nhân dân và bảo vệ tổ quốc
Hiện nay, các sản phẩm báo chí ở mọi loại hình báo chí chủ yếu làm nhiệm vụ tuyên truyền, đối với các sản phẩm của báo mạng điện tử cũng không phải ngoại lệ Nội dung, hình thức thể hiện và hình ảnh trong các sản phẩm của báo mạng điện tử tại Việt Nam hiện nay cần đảm báo tính Đảng và định hướng chính trị xuyên suốt trong quá trình thực hiện và trên sản phẩm công khai trước công chúng
Trong xã hội hiện đại, báo chí ngày càng thể hiện vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng Báo chí đã và đang đóng góp hết sức to lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội Trong tình hình cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng ngày càng tinh vi và phức tạp, trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường truyền thông số hiện nay, báo chí và truyền thông nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng
Để tiếp tục phát huy hiệu quả công tác tư tưởng và lí luận cũng như sức mạnh của báo chí - truyền thông một cách hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước, cần quán triệt sâu sắc những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về những lĩnh vực hoạt động này
Nội dung quản lý nhà nước về báo chí:
- Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển báo chí
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí, xây dựng chế độ chính sách phát triển báo chí, như chính sách tài trợ báo chí, chính sách khuyến khích phát triển các loại ấn phẩm báo chí, quản lý các dạng thức truyền thông trên mạng internet, Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thi hành luật
Trang 37- Tổ chức thông tin cho báo chí và quản lý thông tin của báo chí
- Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, nghiêp vụ, văn hóa và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ báo chí
- Tổ chức quản lý hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực báo chí
- Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động báo chí, thẻ nhà báo
- Quản lý hợp tác quốc tế về báo chí, hoạt động báo chí Việt Nam ở nước ngoài và hoạt động báo chí nước ngoài ở Việt Nam
- Kiểm tra báo chí lưu chiểu và kho lưu chiểu của báo chí quốc gia
- Tổ chức chỉ đạo công tác khen thưởng trong hoạt động báo chí
- Hướng đẫn thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp báo chí và việc chấp hành pháp luật về báo chí, thi hành các biện pháp ngăn chặn hoạt động báo chí trái pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử phạt vi phạm trong hoạt động báo chí
Quản lý nhà nước về báo chí không chỉ bằng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật mà còn bằng sức mạnh của cả hệ thống chính trị
- Các cấp ủy đảng, chính quyền, trong đó cơ sở đảng của cơ quan báo chí và cơ quan chủ quản báo chí có vai trò rất quan trọng
- Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó vai trò của Hội Nhà báo Việt Nam, chi hội nhà báo cơ sở cần đươc thể hiện và phát huy Mỗi tòa soạn báo chí và chi hội nhà báo có vai trò quan trọng trong việc tuyền truyền, giáo dục, giúp đỡ thành viên của mình, cũng như kiểm tra, giám sát mọi hoạt động chấp hành pháp luật và quy ước đạo đức nghề nghiệp của nhà báo
- Vai trò của công chúng như là lực lượng xã hội quan trọng quyết định vai trò, vị thế và sức mạnh xã hội của cơ quan báo chí Công chúng là người giám sát mọi hoạt động của nhà báo, dánh giá và thẩm định sản phẩm báo chí
Sức mạnh đó bao gồm sức mạnh tổng hơp của toàn bộ hệ thống chính trị, bằng uy tín chính trị và niềm tin chính trị của nhân dân đối với sự
Trang 38lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Do đó, báo chí góp phần gia tăng, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị có ý nghĩa rất quan trọng
- Nguyên tắc quản lý Nhà nước về Báo chí
Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí cũng như bất kỳ một dạng quản lý xã hội nào khác, là dạng quản lý công cụ quốc gia của bộ máy nhà nước - là công việc của bộ máy hành pháp Nó là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ sở quyền lực của nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm quyền trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng
và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu
tự do báo chí của công dân
Để tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với báo chí nói chung
và hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử nói riêng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật, dưới luật để làm cơ sở cho tổ chức hoạt động của lĩnh vữ này, cụ thể:
Luật báo chí năm 2016 là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng đặt nền tảng cho hoạt động của các báo mạng điện tử nói chung và việc quản lý hình ảnh, thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số nói riêng hiện nay Bên cạnh đó, Luật báo chí cũng đã quy định rõ những hành vi bị nghiêm cấm như:
1 Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung:
a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân
b) Bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân
c) Gây chiến tranh tâm lý
2 Đăng, phát thông tin có nội dung:
Trang 39a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa Nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo;
d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế
3 Đăng, phát thông tin có nội dung kích động chiến tranh nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
4 Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc
5 Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của
cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật
6 Thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan; thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng
7 Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy; miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, hành vi tội ác; thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam
8 Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án
Trang 409 Thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em
10 In, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, tác phẩm báo chí, nội dung thông tin trong tác phẩm báo chíđã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, gỡ bỏ, tiêu hủy hoặc nội dung thông tin mà cơ quan báo chí đã có cải chính
11 Cản trở việc in, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí hợp pháp tới công chúng
12 Đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo, phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật
13 Đăng, phát trên sản phẩm thông tin có tính chất báo chí thông tin quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 của Điều này
Đây là cơ sở quan trọng để các nhà quản lý, lọc và loại bỏ những hình ảnh không đúng chuẩn mực, đây cũng là căn cứ để ban biên tập phê duyệt hay không phê duyệt đăng tải nội dung hình ảnh nó chung và hình ảnh về người dân tộc thiểu số nói riêng lên các báo mạng điện tử
Có thể nói trong bối cảnh hiện nay, đề tài về người dân tộc thiểu số là một đề tài thu hút được đông đảo công chúng đón nhận thông tin Việc đáp ứng những nội dung mới, hấp dẫn, hình ảnh thực tế mang nhiều thông tin, thông điệp trong đời sống xã hội của bà con dân tộc thiểu số đòi hỏi phòng viên, biên tập viên và các nhà quản lý cần có những hiểu biết, nắm rõ về nét văn hóa cũng như nét sinh hoạt đặc biệt của bà con dân tộc thiểu số Căn cứ vào những điều Luật báo chí đã quy định, các nhà quản lý cần có sự lựa chọn, cân nhắc để đăng tải thông tin về người dân tộc thiểu số, hay nói cách khác, đây là cộng đồng người dễ tổn thương và báo chí thường có những định kiến nhất định khi đưa tin