Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, thực tế cho thấy, đối với ngành công nghiệp truyền hình nói chung và đối với Truyền hình Nhân Dân nói riêng, các vấn đề liên quan, khó khăn và cả hạn
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN VĂN LONG
QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC DỮ LIỆU HÌNH ẢNH TẠI
TRUYỀN HÌNH NHÂN DÂN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI – 2019
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN VĂN LONG
QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC DỮ LIỆU HÌNH ẢNH TẠI
TRUYỀN HÌNH NHÂN DÂN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý báo chí truyền thông
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS CAO MINH THẮNG
HÀ NỘI – 2019
Trang 3Hà Nôi, ngày tháng năm 2019
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Nội dung và các trích dẫn nêu trong luận văn đều có xuất xứ rõ ràng và trung thực Luận văn có kế thừa chọn lọc những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài Các số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, sách báo theo danh mục tài liệu của luận văn Các kết luận trong luận văn chưa được công bố trong các công trình nghiên cứu khác
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả luận văn
TRẦN VĂN LONG
Trang 5Lời đầu tiên, tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến
TS Cao Minh Thắng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả thực hiện luận văn Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng đã nhận được
sự hỗ trợ, đồng hành và góp ý của các thầy cô giáo ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói chung và Khoa Báo chí học nói riêng
Đồng thời, tác giả cũng bày tỏ, gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các đồng nghiệp, đã hết lòng giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu, chia sẻ kinh nghiệm, cảm ơn sự quan tâm của gia đình, bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ, tạo điều kiện Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn cơ quan chủ quản là Truyền hình Nhân Dân đã tạo điều kiện để tác giả có thời gian học tập
và nghiên cứu luận văn này để tác giả hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
TRẦN VĂN LONG
Trang 6SD Standard Denfinition Hình ảnh có độ nét tiêu chuẩn
HD High Definition Hình ảnh chất lượng cao
DVR Digital Video Recoder Đầu ghi kỹ thuật số
DAW Digital Audio Workstation Máy trạm âm thanh kỹ thuật số
OTT Over The Top giải pháp cung cấp nội dung cho
người sử dụng dựa trên nền tảng Internet
MARC MAchine-Readable
Cataloging
Hệ thống quản trị thư viện tự động
NLE Non-Linear-Editing Dựng không tuyến tính
SCSI Internet Small Computer
Trang 7Hình 1.1 Sơ đồ các yếu tố tác động đến quá trình Quản lý 12
Hình 2.1 Sơ đồ hoạt động quản lý và khai thác tư liệu 39
tại Truyền hình Nhân Dân 39
Hình 2.2 Các thể loại trong phân chia tư liệu tại Truyền hình Nhân Dân 47
Hình 2.3 Mô hình hệ thống dự phi tuyến tính NLE 59
Hình 3.1 Sơ đồ intranet 75
Hình 3.2 Minh họa về nhập thêm trường vào Metadata 78
Hình 3.3 Mô phỏng thiết kế hệ thống quản lý dữ liệu đề xuất tại Truyền hình Nhân Dân 84
Trang 8Chương 1: QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC DỮ LIỆU HÌNH ẢNH TẠI
KÊNH TRUYỀN HÌNH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 9
Một số khái niệm 9
1.1 1.2.Tầm quan trọng của quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình 22
1.3 Nội dung, phương thức quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình 24
1.4 Quản lý tốc độ tìm kiếm, khai thác 29
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC DỮ LIỆU HÌNH ẢNH TẠI TRUYỀN HÌNH NHÂN DÂN HIỆN NAY 36
2.1 Khái quát về kênh Truyền hình Nhân Dân và hoạt động quản lý, khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh 36
2.2.Khảo sát thực trạng quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh Truyền hình Nhân Dân 39
2.3.Đánh giá chung 57
Chương 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC DỮ LIỆU HÌNH ẢNH TẠI TRUYỀN HÌNH NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN TỚI 64
3.1 Xu hướng về quản lý khai thác trên thế giới 64
3.2.Phương hướng tăng cường quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh Truyền hình Nhân Dân 69
3.3.Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh Truyền hình Nhân Dân trong thời gian tới 70
3.4.Đề xuất kiến nghị 85
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
TÓM TẮT LUẬN VĂN 101
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, thực tế cho thấy, đối với ngành công nghiệp truyền hình nói chung và đối với Truyền hình Nhân Dân nói riêng, các vấn đề liên quan, khó khăn và cả hạn chế trong việc sử dụng, chọn lọc, phân loại, quản lý kho dữ liệu thông tin, hình ảnh đã và đang đặt ra thách thức lớn khiến các nhà quản lý phải “đau đầu” Sự chuyển đổi từ các công nghệ phát sóng analog sang công nghệ số, truyền hình SD sang HD… với hàng loạt yêu cầu về lưu trữ, xử lý dữ liệu hình ảnh, âm thanh khổng lồ đến từ nhiều nguồn khác nhau (hàng chục Gigabyte với bộ phim full HD, hàng Terabyte với dữ liệu quay thô chưa qua
xử lý và nén) …
Tư liệu lưu trữ là một trong những tài sản có giá trị đặc biệt của các đài truyền hình Tư liệu lưu trữ chỉ thật sự phát huy giá trị khi được khai thác sử dụng để phục vụ các mặt hoạt động khác nhau của quá trình sản xuất Chính
vì vậy, hoạt động tổ chức khai thác, sử dụng tư liệu lưu trữ là nhiệm vụ quan trọng của các đài truyền hình Tổ chức quản lý và khai thác dữ liệu lưu trữ là một nghiệp vụ cơ bản của các đài truyền hình, lưu trữ nhằm cung cấp cho cơ quan, tổ chức và cá nhân những thông tin cần thiết từ tài liệu lưu trữ, phục vụ các mục đích nghiên cứu, sử dụng để sản xuất chương trình truyền hình Mục đích cuối cùng của công tác lưu trữ là quản lý và khai thác, sử dụng tốt tư liệu lưu trữ Làm tốt nhiệm vụ này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao vai trò của tài liệu lưu trữ trong hoạt động của cơ quan, biến những tư liệu lưu trữ thành những tài liệu sống phục vụ cho các hoạt động sản xuất
Trước khối “tài sản” là kho dữ liệu thông tin khổng lồ, việc lựa chọn quản trị dữ liệu một cách phù hợp sẽ đảm bảo cho sự ổn định và hữu ích, phát triển của một kênh truyền hình Sự cần thiết, quan trọng chính là phải đầu tư, nâng
Trang 10cấp hệ thống hiện có Bên cạnh việc đầu tư máy móc trang thiết bị hiện đại, biết sử dụng, quản lý dữ liệu hiệu quả người quản trị dữ liệu cần cẩn trọng trong việc nắm bắt những mối nguy hại, hệ quả của dữ liệu kém chất lượng,
từ đó có định hướng tốt hơn, đưa ra phương án khắc phục, hỗ trợ hợp lý, cụ thể, kịp thời Tốc độ xử lý dữ liệu, chất lượng dữ liệu, độ phong phú về các thông tin càng nhiều, càng nhanh thì hiệu quả đạt được càng chính xác và hiệu quả Để có thể khai thác toàn bộ tiềm năng của dữ liệu hình ảnh truyền hình, đòi hỏi mỗi nhà Đài cần phải đưa ra những chiến lược phát triển và hợp tác hợp lý, trong đó đề cao việc thực hiện chiến lược và chính sách truy cập
mở, đảm bảo việc hanh thông về tài chính và hỗ trợ về mặt công nghệ để tài liệu được truy cập mở và dễ dàng tìm thấy Tuy nhiên, cùng một lúc cũng đảm bảo có các chính sách về bảo hộ quyền sở hữu và thông tin cá nhân, quyền riêng tư cùng với các tiêu chuẩn về an ninh, an toàn dữ liệu để xây dựng hệ thống phục vụ việc sử dụng và tra cứu dữ liệu Ngoài ra, cần phải có chiến lược tái sử dụng thông tin, phục vụ hoạt động quản lý dữ liệu sẽ được phát hiện và tái sử dụng thông qua các sản phẩm truyền hình Quá trình kiểm duyệt, cài đặt và tạo ra các định danh đối tượng số duy nhất cho các dữ liệu và
dữ liệu có liên quan Hơn thế nữa, nhiệm vụ của nhà Đài trong hoạt động này
là phải đảm bảo dữ liệu được kết nối với nhau, nên chúng có thể dễ dàng được tìm kiếm bởi người dùng hoặc các đối tác trong cơ quan đó hay cộng đồng người dùng ngoài cơ quan Để thúc đẩy dữ liệu có thể được tìm thấy, các chương trình liên kết dữ liệu cần phải được cài đặt và thiết lập Ví dụ, trường Đại học Havard liên kết những bài báo của các nhà nghiên cứu trong trường với các cơ sở dữ liệu ở cả viện nghiên cứu và các cơ quan lưu trữ mà
có liên kết với nhau về nhiều ngành nghề Việc hỗ trợ tìm kiếm một lúc trên nhiều cơ sở dữ liệu hiệu quả cũng là một vấn đề cần phải được xem xét
Trang 11
Trong khi đó, công nghệ và mô hình lưu trữ, xử lý dữ liệu truyền hình tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay đang tỏ ra nhiều bất cập về không gian lưu trữ, tốc độ tìm kiếm hình ảnh theo nhu cầu của phóng viên và trang thiết
bị Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu một cách
hệ thống việc quản lý dữ liệu truyền hình tại Trung tâm Truyền hình Nhân
Dân là một vấn đề cấp bách Do đó, tác giả chọn đề tài “Quản lý và khai thác
dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay” làm luận văn Tốt
nghiệp Thạc sỹ Báo chí, Chuyên ngành Quản lý báo chí và truyền thông
2 Tình hình nghiện cứu liên quan đến đề tài
Qua khảo sát của tác giả, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới
đề tài như:
- Phí Thị Thanh Tâm (2007), Luận văn ngành Lý luận lịch sử nhà nước
và pháp luật "Pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay" lại tập trung nghiên cứu sự cần thiết quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật, thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay Những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những mặt tồn tại và những vấn đề đặt ra đối với báo chí hiện nay Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ta những đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản lý báo chí Đề tài
đã góp phần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay, một vấn đề cấp thiết khi các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại ngày càng chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động báo chí và việc xây dựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần được tăng cường và củng cố nhiều mặt đáp ứng yêu cầu đặt ra Như vậy đề tài nghiên cứu công tác quản lý báo chí dưới góc độ pháp luật
- Đề tài nghiên cứu khoa học của Nguyễn Minh Thăng (2008), “Nghiên cứu xây dựng chương trình khai thác tin trên Internet qua các kênh RSS”
Trang 12nghiên cứu giải pháp kỹ thuật cho việc cập nhật tin từ nhiều nguồn tin khác nhau và khai thác tin, bài của Trung tâm Tin
- Đề tài nghiên cứu khoa học của Vũ Xuân Cường (2009), “Nghiên cứu giải pháp và đề xuất cấu hình kỹ thuật của Trung tâm Tin phục vụ cho phát thanh hiện đại” đánh giá hệ thống cơ sở vật chất phục vụ kỹ thuật của Trung tâm Tin và đưa ra giải pháp và đề xuất cấu hình kỹ thuật, nâng cấp hệ thống máy chủ của Trung tâm Tin
- Chử Kim Hoa (2009), Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh 3 vực báo in ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Nội dung của luận án tập trung làm rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý báo chí, hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo in ở Việt Nam, khảo sát thực trạng công tác quản lý nhà nước về báo in trong giai đoạn đất nước bước vào thời
kỳ đổi mới với nhiều sự thay đổi trong đời sống xã hội, những thuận lợi và thách thức đan xen Đối tượng khảo sát của luận án là những văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành trong thời kỳ đổi mới đến 2008 và thực trạng của hoạt động tổ chức thực thi những văn bản đó trong lĩnh vực báo in, đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động báo in Phạm vi quản lý của Nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền nên phạm vi nghiên cứu của luận án là vấn đề hiệu lực tác động của nhà nước tới các đối tượng quản lý (theo chiều từ trên xuống) mà không nghiên cứu tới hiệu quả của sự tác động đó (theo chiều phản hồi) Từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo in
- Lê Minh Toàn (chủ biên) (2009), Quản lý Nhà nước về thông tin và truyền thông, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung của cuốn sách không chỉ đề cập riêng về vấn đề quản lý nhà nước về báo chí mà cung cấp các kiến
Trang 13thức cơ bản có liên quan đến quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin bao gồm: hệ thống cơ quan quản lý, quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, internet, thanh tra và xử lý vi phạm về thông tin và truyền thông
- Nguyễn Thị Minh Phương (2010), "Tăng cường quản lý Nhà nước đối với báo Đảng hiện nay", Luận văn Báo chí học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tác giả đi sâu nghiên cứu cách thức và nội dung quản lý Nhà nước với riêng đối tượng báo Đảng Luận văn này đã làm rõ sự cần thiết quản
lý nhà nước đối với báo chí nói chung và báo Đảng hiện nay Nêu ra thực trạng hoạt động của các báo Đảng và thực trạng quản lý nhà nước với các cơ quan báo chí này; những thành tựu hạn chế, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại và những vấn đề đang đặt ra việc quản lý nhà nước đối với các đơn vị báo chí này
- Hội thảo “Đạo đức nghề báo trong khai thác và xử lý nguồn tin” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức ngày 11/10/2012 đảm bảo tính chính xác, nhanh nhạy, đúng định hướng của thông tin trên báo chí
- Hội thảo “Bảo vệ nguồn tin: Pháp lý và đạo đức báo chí” do Trung tâm Truyền thông giáo dục cộng đồng phối hợp với báo Pháp luật thành phố
Hồ Chí Minh tổ chức ngày 15/10/ 2012
- Năm 2005, Quỹ Khoa học Quốc gia đã xuất bản tập báo cáo có tựa đề
“Phát triển bộ sưu tập số mang tính chất dài hạn: khuyến khích nghiên cứu và phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI” (Long-Lived Digital Data Collections: Enabling Research and Education in the 21st Century) đã đề cập tới việc có thể phân chia quản lý dữ liệu bởi nguồn gốc của chúng được tạo ra, bởi vì các
dữ liệu này có thể là các dữ liệu về thí nghiệm, máy tính hay quan sát Trong
đó dữ liệu quan sát có thể là các quan trắc về nhiễu độ hay quan sát về thái độ
Trang 14của người bỏ phiếu trước cuộc tổng tuyển cử Dữ liệu về máy tính có thể là kết quả từ thực hiện mô hình mô phỏng hoặc có thể là các thông tin về cấu hình như phần cứng, phần mềm Dữ liệu về nghiên cứu, thí nghiệm ví dụ các mẫu biểu hiện gen hay tốc độ phản ứng hoá học Trong quá trình vòng đời nghiên cứu, quản lý dữ liệu được tạo ra từ những quá trình đầu tiên của việc tiến hành xem xét, xử lý, phân tích, bảo quản, truy cập và tái sử dụng dữ liệu
để tạo ra thông tin mới Theo Hiệp hội lưu trữ dữ liệu của Vương quốc Anh , vòng đời nghiên cứu được hình thành và liên kết với nhau tạo thành một liên kết vòng tròn hỗ trợ nhau
Như vậy, các công trình trên đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên chưa có đề tài nào trực tiếp bàn về các vấn đề trong quản lý dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay, do vậy đề tài của tác giả có tính mới mẻ, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận, tác giả khảo sát, đánh giá thực trạng các vấn đề trong quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường
quản lý dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của đề tài được xác định như sau:
a Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý dữ liệu hình ảnh tại
kênh Truyền hình Nhân Dân hiện nay
b Phân tích, đánh giá thực trạng các vấn đề trong quản lý dữ liệu hình
ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay
Trang 15c Đề xuất các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường
quản lý dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn
đề và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại đài Truyền hình Nhân dân
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề quản lý
và khai thác dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân dân trong thời gian từ năm 2017- 2018 và các giải pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả của công tác này
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Đề tài dựa trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến báo chí và truyền hình; lý luận báo chí, truyền thông, lý luận báo chí truyền hình
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
a Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc và tra cứu các tài liệu, văn
bản, sách báo, … có liên quan đến vấn đề quản lý dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay
b Phương pháp khảo sát, thống kê, đánh giá: được tác giả vận dụng để
làm sáng tỏ thực trạng các vấn đề trong quản lý dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay, đồng thời đưa ra những ưu điểm, hạn chế
c Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng để đánh giá
các dữ liệu, kết quả điều tra và rút ra những luận điểm khoa học
Trang 166 Đóng góp mới của đề tài
Luận văn trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề trong quản lý dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay sẽ đánh giá những ưu điểm, hạn chế
và đưa ra những giải pháp cụ thể đối với vấn đề trong thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu báo chí nói chung và các khía cạnh liên quan đến quản lý dữ liệu hình ảnh truyền hình nói riêng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua việc nghiên cứu, đánh giá chính xác thực trạng các vấn đề trong quản lý dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay, tác giả đưa ra được những giải pháp hiệu quả góp phần tăng cường quản lý dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân trong thời gian tới Làm thế nào để việc quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh truyền hình đạt hiệu quả cao nhất, thiết thực, khoa học và ứng dụng tốt trong thực tế công việc Đồng thời, tìm kiếm cách làm nâng cao tính bảo mật, bản quyền của lượng thông tin, kho dữ liệu khổng lồ đang nắm giữ và quản lý
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài có kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh Truyền hình Nhân Dân hiện nay: Một số vấn đề lý luận
- Chương 2: Thực trạng quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân hiện nay
- Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại Truyền hình Nhân Dân trong thời gian tới
Trang 17Chương 1 QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC DỮ LIỆU HÌNH ẢNH TẠI
KÊNH TRUYỀN HÌNH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
Một số khái niệm
1.1
1.1.1 Khái niệm quản lý và khai thác
Khái niệm quản lý 1.1.1.1
Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Xã hội ngày càng phát triển con người đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm mang tính quy luật để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, trong đó có hoạt động quản lý Trong xã hội hiện tại hoạt động quản lý dựa trên những cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để con người đúc rút thành khoa học quản lý
Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì
ở trạng thái "ổn định"; quá trình “lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”
C Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [11, tr.480]
Theo các nhà khoa học thì quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều
Trang 18ngành khoa học, trong đó có cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản lý Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các
cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực
hiện mục tiêu chung của tổ chức Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ” là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức
và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [57, tr.800]
Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Đó chính là mối quan hệ ra lệnh
- phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần nhận thức và hoạt động thực tiễn
Như vậy, quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động
xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia Nếu xét quản lý dưới tư cách là một hoạt động, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Xét ở góc
độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan Với cách hiểu này thì quản lý có những đặc điểm
Trang 19chính: là một hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu đã định; thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý và là mối quan hệ mang tính quyền uy; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; nếu xét về mặt công nghệ thì đó là sự vận động của thông tin
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất
về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong môi trường luôn biến động Như vậy, quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định: chủ thể quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và khách thể quản lý (chịu
sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý)
Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung Quản lý bao gồm các yếu tố sau:
a Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị
quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý Tác động có thể liên tục nhiều lần
b Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể,
đối tượng và khách thể quản lý Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng
c Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác
động Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách
có hiệu quả
d Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể
là con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật
Trang 20Quá trình tác động này có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Hình 0.1 Sơ đồ các yếu tố tác động đến quá trình Quản lý
1.1.1.2 Khái niệm khai thác
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “khai thác là tiên hành hoạt động để thu lấy những nguồn lợi sẵn có trong thiên nhiên” [57,tr490]
Hoạt động này chỉ được thực thi khi người ta xác định đối tượng định tiếp cận tiềm tàng, ẩn dấu nhiều khả năng có thể đem lại nguồn lợi, lợi ích cho mình Cũng có người quan niệm khai thác là việc tìm kiếm, tận dụng hết khả năng tiềm tàng, đang ở ẩn Hay khai thác là việc tra xét, do hỏi để biết thêm điều bí mật Như vậy với những quan niệm đó, khai thác có thể là một hành động cần huy động đa phần sự hoạt động của trí não, Cũng có khi khai thác là hoạt động của thể lực Từ những quan niệm nếu trên, có thể thấy rằng khai thác là một thuật ngữ rất đa dạng và phong phú về ngữ nghĩa Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, cách khác cũng có thể hiểu là hoạt động thu lấy dữ liệu
từ các nguồn như văn bản, âm thanh, hình ảnh, số liệu của một hay nhiều lĩnh vực ứng dụng và được tổ chức theo một cấu trúc nhất định, nhằm phục vụ nhiều người sử dụng Trong lĩnh vực truyền hình, khai thác là quá trình phát hiện và sử dụng những cái có ích còn được ấn dấu chưa được tận dụng đối với một tác phẩm truyền hình Trên cơ sở những phân tích ở trên kết hợp với thực tiễn để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tác giả luận văn xin đưa ra một quan
Trang 21điểm của mình về thuật ngữ được khai thác để tiện cho quá trình nghiên cứu Khai thác là một hoạt động có chủ đích của con người nhằm thu lấy những nguồn lợi trong cuộc sống hay một lĩnh vực nào đó
Khái niệm khai thác sử dụng tư liệu: quá trình tổ chức khai thác thông tin tài liệu lưu trữ phục vụ cho yêu sản xuất và yêu cầu nghiên cứu giải quyết những nhiệm vụ hiện hành của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân
Mục đích và ý nghĩa của tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ:
a Biến những thông tin quá khứ chứa đựng trong tài liệu lưu trữ thành
những tư liệu sản xuất
b Biến những giá trị tiềm năng có trong tài liệu lưu trữ thành của cải
vật chất trong xã hội
c Là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các công tác nghiệp vụ lưu trữ
phát triển
1.1.1.3 Các yếu tố tác động đến quản lý và khai thác
a Các yếu tố tác động đến quá trình quản lý
1 Cơ cấu tổ chức:
Các quyết định quản lý được thực hiện thông qua các bộ phận, đơn vị trong cơ quan Các bộ phận đó được xác định vị trí, chức năng, quyền hạn, trách nhiệm thông qua cơ cấu tổ chức của cơ quan Vì thế tính ổn định, khoa học của cơ cấu tổ chức đảm bảo cho việc triển khai quyết định quản lý được nhanh đúng kế hoạch đặt ra Mặt khác thông qua cơ cấu tổ chức quá trình truyền thông được thực hiện, tính hiệu quả của quá trình này gắn liền với cơ cấu tổ chức và gắn liền với hiệu lực quản lý
2 Năng lực sản xuất:
Năng lực sản xuất hay còn gọi là công suất là khả năng sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ của máy móc thiết bị, lao động và các bộ phận của một đơn vị cơ quan hay doanh nghiệp, trong một đơn vị thời gian nhất định
Trang 22(tháng, quý, năm ) trong điều kiện xác định
Năng lực sản xuất là một đại lượng động, có thể thay đổi theo thời gian
và điều kiện sản xuất Nếu thay đổi số lượng thiết bị, diện tích sản xuất, bố trí phân giao công việc cho nhân viên hợp lý, cải tiến quản lý thì năng lực sản xuất sẽ thay đổi
Tùy theo năng lực sản xuất của từng bộ phận sẽ có cách thức quản lý khác nhau Những khâu nào năng lực kém thì người quản lý sẽ phải quan tâm
kỹ hơn, có những thay đổi phù hợp với bộ phận để thay đổi nâng cao năng lực sản xuất của bộ phận đấy Những khâu nào năng lực đã đáp ứng tốt công việc, thì người quản lý đưa ra những cách thức quản lý nhằm ổn định năng lực và thúc đẩy nâng cao năng lực hơn Người quản lý giỏi là người đánh giá được năng lực của từng bộ phận, hoạch định được khối lượng công việc để đưa ra
dự đoán và những thay đổi cần thiết, kịp thời
3 Trang thiết bị công nghệ:
Đó là tổng thể các yếu tố phục vụ cho sản xuất, như máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện truyền thống…nếu những yếu tố này được trạng bị tốt đáp ứng được đòi hỏi của công việc thì quá trình quản lý đảm bảo được triển khai tốt Có những vấn đề trong sản xuất kinh doanh được giải quyết tốt phải
là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, nếu chỉ có lý luận và trong khi thực hiện công nghệ thiết bị không đáp ứng được dẫn tới hiệu lực quản lý kém Mà quản lý xét theo gióc độ truyền thông nó là quá trình thông tin vậy thì các thiết bị phục vụ thông tin phải tốt sẽ đảm bảo thông tin được nhanh chính xác
và đầy đủ Qua đó ta thấy trang thiết bị công nghệ có tác động mạnh đến hiệu lực quản lý Yếu tố trang thiết bị lại bị ảnh hưởng bởi chi phí tài chính Chi phí tài chính nắm một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất Việc quản
lý chi phí ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại, tăng trưởng và thành công của một
cơ quan Quản lý chi phí giúp tối ưu hóa trong việc sử dụng các nguồn lực có
Trang 23sẵn như: nhân lực, nguyên vật liệu, máy móc Do đó, việc quản lý chi phí tốt
sẽ tạo điều kiện trong việc chuẩn bị các kế hoạch phát triển, mở rộng và mang lại sự thành công cho cơ quan Chi phí bao gồm chi phí hạ tầng, chi phí nhân công, … Để đạt được sự hài hòa giữa chi phí và yêu cầu là một vấn đề hết sức khó khăn Việc quản lý chi phí tốt sẽ giúp nhà quản lý đánh giá được hiệu quả làm việc của cơ quan bằng cách dựa vào hiệu quả tài chính Quản lý chi phí hợp lý nhấn mạnh đến việc sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên trong tổ chức Trên thực tế, sự thất bại của một tổ chức kinh doanh không phải là do thiếu nguồn tài chính mà là kết quả của việc quản lý nguồn vốn không hiệu quả Quản lý chi phí hiệu quả đóng một vai trò quan trọng trong việc khai thác và sử dụng tối đa các nguồn tài nguyên trong tổ chức Sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính mang lại lợi nhuận tối đa cho tổ chức khi sử dụng tối
ưu các nguồn vốn Ví dụ như đầu tư thấp nhưng hiệu quả công việc vẫn đạt được yêu cầu Nhưng nếu cắt giảm chi phí đầu tư không hợp lý cũng sẽ tạo ra hạn chế về mặt sản xuất, từ đó gây ảnh hưởng về mặt kết quả thu lại
4 Nhân lực:
Trong khi các yếu tố trang thiết bị công nghệ làm chức năng truyền tải vận hành thì yếu tố con người có vai trò điều khiển sự vận hành đó Mỗi cá nhân lại mong những yếu tố riêng và tạo nên sự đa dạng, phức tạp trong tập thể Vì thế quản lý cần tạo được cơ chế làm việc hợp lý, kỷ luật chặt chẽ và giám sát thi hành đảm bảo mỗi các nhân được đảm bảo bởi lợi ích và trách nhiệm riêng của mình sao cho trong công việc cá nhân đều phải hoàn thành trách nhiệm của mình Làm được điều này trước tiên phải nâng cao nhận thức của đội ngũ lao động ý thức sẽ dẫn dắt hành động của họ Qua đó ta thấy kỹ năng làm việc, kỷ luật lao động và trình độ nhận thức của họ ảnh hưởng rất lớn tới việc đảm bảo hiệu lực quản lý Ngoài các yếu tố khách quan đã nêu, hiệu lực quản lý còn chịu tác động mạnh bởi năng lực của nhà quản lý Đây là
Trang 24một yếu tố chủ quan bao gồm tổng hoà nhiều vấn đề khác nhau mà nhà quản
lý phải đảm bảo.Trước hết là về kỹ năng Đó là khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế để đạt được kết quả cao, có thể giải nghĩa đơn giản là biết làm việc Nó đòi hỏi nhà quản lý phải có kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt được, thực hiện được các hoạt động của quản lý Sau đó là kỹ năng làm việc với nhiều người mà trước tiên là phải hiểu người khác tạo ra sự nhạy cảm trong việc tiếp cận với người khác, giành quyền lực và gây ảnh hưởng để mọi người nghe, tin và làm việc với mình Nhà quản lý còn cần xây dựng kỹ năng đàm phán, giao tiếp giải quyết các xung đột và xây dựng phát triển nhóm làm việc Tóm lại, việc quản lý đòi hỏi họ phải mẫn cảm, nhạy cảm Kỹ năng của người lãnh đạo còn bao gồm cả khả năng nhận thức, có tầm nhìn sâu về hệ thống và môi trường, nhìn ra điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức hay doanh nghiệp, nhìn ra cơ hội và thách thức với môi trường Do đó nhà quản lý cần
có quan điểm phát triển và toàn diện Đảm bảo được những yếu tố đó nhất định nhà quản lý sẽ xây dựng được cho mình năng lực cao, làm việc được trước mọi khó khăn, dẫn dụ được mọi người làm theo mình, đảm bảo được hiệu lực quản lý [theo https://voer.edu.vn ]
Yếu tố nhân lực cũng bị ảnh hưởng bởi áp lực công việc Đây là trạng thái tinh thần của người đi làm ở mức thấp nhất Khi đó, người đi làm lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, gặp khó khăn trong công việc và gần như không hoàn thành hoặc hoàn thành công việc với kết quả không tối ưu nhất Họ không còn hứng thú, đam mê và năng lượng cao nhất cho công việc như trước nữa Áp lực công việc đến từ công việc là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng căng thẳng tinh thần Nguyên nhân phát sinh từ công việc có khá nhiều vấn đề liên quan như: công việc lương thấp, khối lượng công việc quá nhiều, mặc cảm với công việc, chọn sai công việc, không hoà hợp với môi trường nơi làm việc, không hợp tác giao lưu được với đồng nghiệp, bị cô lập trong môi
Trang 25trường làm việc chung, … Việc bị áp lực công việc ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ, hiệu quả công việc, vì vậy đây cũng là yếu tố quan trọng trong việc giải quyết vấn đề nhân lực
b Các yếu tố tác động đến quá trình khai thác:
1 Yếu tố giá trị của tư liệu:
Giá trị của tư liệu là những thông tin trong tư liệu mang lại Nó mang nhiều giá trị từ lịch sử cho đến giá trị kinh tế Những tư liệu có nhiều giá trị
sử dụng, có thể được dùng lại nhiều lần cho nhiều mục đích khác nhau thì quá trình khai thác cũng phải được quản lý một cách kỹ càng, cẩn thận
2 Yếu tố con người:
Yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định quan trọng trong mọi lĩnh vực Dù ngày nay thời đại 4.0 các yếu tố tự động, hệ thống trí nhân tạo thông minh AI đã được áp dụng vào nhiều lĩnh vực nhưng lĩnh vực nào cũng cần có yếu tố con người để làm chốt chặn, quyết định các vấn đề quan trọng Tất cả các yếu tố nhân tạo được sinh ra đều dùng để phục vụ cho mục đích nhu cầu của con người theo một mặt nào đấy Trong lĩnh vực quản lý và khai thác tư liệu, yếu tố con người càng quan trọng hơn Nếu không có nhu cầu khai thác thì việc quản lý khác thác càng trở nên không thực tiễn và thành việc vô ích Ngược lại nếu như cầu khai thác lớn thì việc quản lý khai thác sẽ trở nên quan trọng và yêu cầu cao hơn
3 Yếu tố trang thiết bị: Máy móc trang thiết bị ngày nay đã được áp
dụng và mọi mặt đời sống, chính trị, văn hóa của con người Trong quá trình quản lý khai thác yếu tố trang thiết bị góp phần làm cho việc quản lý khai thác trở nên đơn giản và tăng hiệu quả trong quá trình khai thác lên Trang thiết bị càng hiện đại, càng ứng dụng tốt vào từng quá trình trong việc khai thác thì việc khai thác sẽ thuận lợi, nhanh chóng, giúp thúc đẩy hoạt động khai thác đạt hiệu quả cao hơn
Trang 261.1.2 Khái niệm dữ liệu hình ảnh
Dữ liệu cũng là một khái niệm rất trừu tượng, là thông tin đã được đưa
vào máy tính Dữ liệu sau khi tập hợp lại và xử lí sẽ cho ta thông tin Hay nói cách khác, dữ liệu là thông tin đã được mã hoá trong máy tính Chẳng hạn, con số điểm thi là một dữ liệu hoặc con số về nhiệt độ trong ngày là một dữ liệu, hình ảnh về con người, phong cảnh cũng là những dữ liệu,
Theo từ điển tiếng việt thì: “Dữ liệu là số liệu, tài liệu đã có, được dựa vào để giải quyết một vân đề” [57, tr29]
Theo “Từ điển Tiếng Việt”, “Hình ảnh là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt” [57, tr.441]
Có thể hiểu với hình ảnh dù bất kì thể loại nào thì yếu tố thông tin cũng
là cái có trước, nó mang tính trực tiếp và thể hiện ngay tầng nhận thức thứ nhất Xét trên một khía cạnh nào đó, nó được “bày ra” trước mắt độc giả thông qua các chi tiết được mô tả trong hình ảnh và những lời bình luận Đây
là điểm mạnh riêng biệt mà chỉ có hình ảnh mới có Và nếu hàm lượng thông tin ấy mang đến cho người xem càng nhiều thông điệp, càng giải đáp được nhiều câu hỏi của độc giả thì hình ảnh đó càng có giá trị
Như vậy có thể quan niệm dữ liệu hình ảnh là những thông tin có thể nhìn thấy bằng mắt và được mã hóa theo một phương thức nào đó
1.1.3 Khái niệm truyền hình
Thuật ngữ "Truyền hình" (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latin và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ "tele" có nghĩa là "ở xa", còn "videre" có nghĩa là "thấy được" Ghép hai từ đó ta được từ "televidere" có nghĩa là "xem được từ xa" Tiếng Anh là Television
Từ khoảng những năm 1890 - 1920 đã có nhiều nhà khoa học Anh,
Trang 27Pháp, Mỹ, Đức nghiên cứu về kỹ thuật truyền phát hình ảnh Năm 1887: Heinrich Hertz (người Đức) chứng minh những tính chất của sóng điện từ Năm 1890 - 1895: Edouart Branly (người Pháp), Oliver Lodge (người Anh),
và Alexandre Popove (người Nga) hoàn chỉnh điện báo vô tuyến Năm 1895: Guglielmo Marconi (người Ý) ứng dụng những công trình nghiên cứu về vô tuyến điện Tháng 3/1899: Liên lạc vô tuyến quốc tế ra đời đầu tiên ở Anh và Pháp, dài 46 km Năm 1923: Vladimir Zworykin (người Nga) phát minh ra ống iconoscrop cho phép biến năng lượng ánh sáng thành nưang lượng điện Nhà phát minh người Anh là John L.Baird đã trình chiếu những hình ảnh truyền trực tiếp ở Luân Đôn năm 1926 và năm 1932 ông đã thực hiện việc phát các hình ảnh về cuộc đua ngựa tại Đêby (Anh) tới một rạp chiếu phim Năm 1934: Vladimir Zworykin hoàn chỉnh nghiên cứu về iconoscrop và bắt đầu ứng dụng vào việc xây dựng và phát sóng truyền hình Năm 1935: Pháp đặt thiết bị phát sóng trên tháp Eiffel Năm 1936: Thế vận hội Berlin được truyền hình tại một số thành phố lớn Năm 1939: Truyền hình Liên xô phát đều đặn hàng ngày
Truyền hình là hệ thống thu, phát hình ảnh và âm thanh bằng những thiết bị truyền dẫn tín hiệu từ qua cáp, sợi quang và quan trọng nhất là sóng điện từ
Ở Việt Nam, truyền hình được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa truyền hình là quá trình truyền hình ảnh, âm thanh bằng sóng điện vô tuyến
Trong cuốn Giáo trình Báo chí truyền hình của PGS.TS Dương Xuân
Sơn, thuật ngữ Truyền hình được định nghĩa như sau: "Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX, nhờ sự phát triển vượt bậc của khao học kỹ thuật và công nghệ đã nhanh chóng trở thành một kênh thông tin quan
Trang 28trọng trong đời sống xã hội" [22, tr.5]
Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, trong cuốn Truyền thông đại chúng, NXB
Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001 cho rằng: "Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt đầu từ hai từ Tele có nghĩa là "ở xa" và vision có nghĩa là "thấy được", tức là "thấy được ở xa"
[55, tr.127]
Đặc trưng của truyền hình chính là hình ảnh và âm thanh Thực chất cội nguồn trực tiếp của truyền hình chính là điện ảnh Điện ảnh cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, phương thức truyền thông cũng như hệ thống phương tiện ngôn ngữ phong phú, giúp truyền hình nhanh chóng trở thành một loại hình truyền thông phổ biến, có sức truyền tải cao
Về kỹ thuật, truyền hình được hoạt động theo nguyên lý cơ bản sau:
1 Hình ảnh về sự vật được máy quay ghi nhớ lại biến đổi thành tín hiệu điện trong đó mang thông tin về độ sáng tối, màu sắc, đó là tín hiệu hình (tín hiệu video)
2 Sau khi được xử lý, hình ảnh được truyền đi trên sóng truyền hình nhờ máy phát sóng hoặc hệ thống dây dẫn
3 Tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đến đèn hình
để biến đổi ngược từ tín hiệu hình thành hình ảnh trên màn hình Phần âm thanh cũng được thực hiện theo nguyên lý đó rồi phát tín hiệu qua loa
Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công
cụ giải trí, thông tin Đến nay truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, định hướng dư luận xã hội So với các loại hình truyền thông đại chúng khác, truyền hình là phương tiện ra đời muộn, nhưng
nó lại có công nghệ, kỹ thuật cao, hiện đại Truyền hình được thừa hưởng công nghệ và phương thức đặc trưng tạo hình và âm thanh từ điện ảnh Về
Trang 29mặt thể hiện báo chí, truyền hình tổng hợp được những ưu điểm của các loại hình ra đời sớm hơn như báo in, phát thanh
Nhờ có sự kết hợp và kế thừa từ rất nhiều loại hình báo chí, truyền thông khác nên truyền hình có sự hấp dẫn với công chúng hơn Tuy nhiên vì phụ thuộc vào công nghệ kỹ thuật nên việc sản xuất chương trình truyền hình cũng yêu cầu cao và phức tạp hơn các loại hình báo chí khác
1.1.4 Khái niệm quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh truyền hình
Khái niệm về quản lý và khai thác dữ liệu hiện nay còn nhiều tranh luận để đưa ra một khái niệm thống nhất, vì hình thức và nội dung của dữ liệu
ở các lĩnh vực khác nhau thì khác nhau Khái niệm về quản lý và khai thác dữ liệu cũng có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cách khác nhau Trong một số trường hợp, quản lý dữ liệu được định nghĩa là các biểu ghi, hay các bằng chứng, dẫn chứng về nội dung của thông tin có thể ở các hình thức vật lý dạng in ấn, điện tử hay các hình thức khác Quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh truyền hình không giống như các loại hình thông tin khác, chúng được thu thập, quan sát hay tạo ra cho các mục đích phục vụ cho mục đích của truyền hình
Từ những khái niệm được đề cập ở trên, tác giả mạnh dạn đưa ra một
khái niệm về quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh truyền hình: “Quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh truyền hình là hoạt động tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý là các hình ảnh đã có, nhằm bảo quản tài liệu hình ảnh và sử dụng có hiệu quả nhất các thông tin hình ảnh đã có để giải quyết các vấn đề trong hoạt động sản xuất của truyền hình.”
Quá trình này thật sự cần thiết cho sự phát triển lâu dài của một đài truyền hình, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để cho hoạt động sản xuất và các hoạt động khác của cơ quan chủ quản Với việc đưa việc quản lý và khai
Trang 30thác dữ liệu hình ảnh theo một phương thức hợp lý thì công việc ở Đài sẽ có thay đổi lớn về bản chất, quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh sẽ bao trùm lên mọi hoạt động của Đài
1.2 Tầm quan trọng của quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình
1.2.1 Góp phần tối ưu hóa việc lưu trữ dữ liệu hình ảnh
Hiện nay, dữ liệu lớn (Big Data) và các giải pháp phân tích đang trở thành trung tâm trong quá trình “chuyển mình” của các tổ chức, doanh nghiệp, bên cạnh điện toán đám mây và các hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin Đối với ngành công nghiệp truyền hình, sự chuyển đổi từ các công nghệ phát sóng analog sang công nghệ số, truyền hình SD sang HD… đang khiến các đài phát thanh truyền hình, truyền thông đa phương tiện phải đối mặt với hàng loạt thách thức về lưu trữ, xử lý dữ liệu hình ảnh, âm thanh khổng lồ đến
từ nhiều nguồn khác nhau (hàng chục Gigabyte với bộ phim full HD, hàng Terabyte với dữ liệu quay thô chưa qua xử lý và nén)… Trong khi đó, công nghệ và mô hình lưu trữ, xử lý dữ liệu truyền hình truyền thống theo kiểu phân tán như hiện nay đang tỏ ra nhiều bất cập như khó giải quyết được thách thức, đảm bảo hiệu suất đọc, ghi dữ liệu cũng như khả năng sẵn sàng cao cho thiết bị, dịch vụ truyền hình… Sự thay đổi từ SD sang HD tạo nên nhiều thay đổi trong công tác quản lý tư liệu hình ảnh trong ngành truyền hình
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của những ứng dụng mới như khám phá đa màn hình, tiêu dùng và DVR mạng, tất cả tạo ra các trải nghiệm có khả năng tương tác giống như web Điều này hoàn toàn có thể thực hiện thông qua việc cải tiến các kiến trúc ứng dụng TV từ việc tập trung vào thiết bị phần cứng có chức năng chuyên biệt sang kết hợp các thiết bị phần cứng được điều khiển bởi các dịch vụ phần mềm theo modul để hỗ trợ những trải nghiệm mới của người dùng
Trang 31Nhân tố làm “thay đổi cuộc chơi” đối với các hãng truyền hình ở đây là khả năng theo dõi và phân tích dữ liệu lớn theo thời gian thực Tốc độ xử lý
dữ liệu càng nhanh thì các quyết định được đưa ra sẽ chính xác và tốt hơn liên quan đến các rủi ro và cơ hội Không chỉ vậy, dữ liệu lớn còn vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ những trải nghiệm truyền hình tương tác, phong phú này thông qua việc thu thập, lưu trữ và phân tích các sự kiện để tạo ta thông tin hữu ích về người dùng, nhà mạng và các hãng sản xuất chương trình Các công cụ phân tích dữ liệu lớn sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức hay doanh nghiệp có một cái nhìn tổng thể về nhu cầu, sở thích, thói quen của khách hàng, từ đó tạo ra các trải nghiệm khách hàng khác biệt, xây dựng những chương trình mang tính cá nhân hóa cao hơn và nâng cao doanh thu
Với nguồn dữ liệu lớn như trên, nếu không có việc quản lý dữ liệu sẽ gây quá tải cho hệ thống lưu trữ Nhờ vào quản lý, dữ liệu được tối ưu hóa ngay từ khâu đầu vào Ở đó, dữ liệu có sự sàng lọc đâu là dữ liệu nên và không nên lưu trữ, lưu trữ dưới định dạng nào, trong thời gian bao lâu Chính những khía cạnh trong quản lý này góp phần tối đa hóa việc lưu trữ dữ liệu hình ảnh cho các kênh truyền hình
1.2.2 Tăng tốc độ tìm kiếm, khai thác dữ liệu hình ảnh
Có thể thấy, với kho lưu trữ khổng lồ tại các kênh truyền hình thì việc tìm kiếm dữ liệu là không hề đơn giản Do xu hướng số hóa nội dung đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, các định dạng phong phú về âm thanh, hình ảnh, hoạt hình và các ảnh độ phân giải cao đang được giao dịch mạnh mẽ trên mọi phương diện, do vậy hệ thống lưu trữ hiện tại đang trở nên hạn chế về mặt kiến trúc Điều này sẽ tạo ra độ phức tạo gây nhiều trở ngại đối với khách hàng Khách hàng thường xuyên phải quan tâm đến yêu cầu trang bị hệ thống lưu trữ để tăng cường về mặt dung lượng, độ ổn định, tính tương thích và danh sách dài các yêu cầu về hoạt động
Trang 32Yêu cầu lưu trữ và bảo quản nội dung số là cấp bách do hai lý do sau: yêu cầu tính pháp lý và vận hành Về phía các tổ chức hay doanh nghiệp thì
sự đồng thuận và quy trình kinh tế là lý do hiển nhiên là lý do hiển nhiên để dịch chuyển sang thị trương truyền thông giải trí
Luật pháp quy định những đài truyền hình phải bảo vệ và chịu trách nhiệm đối với tất cả nội dung Nội dung được tạo ra trong quá khứ có thể được phát lại và vì vậy cần phải bảo vệ Vai trò của việc nạp tín hiệu, lưu trữ
và phát sóng các nội dung có thể gặp trở ngại Các thách thức này bao gồm việc hoạch định về cơ sở hạ tầng cho các thiết bị và lựa chọn giải pháp lưu trữ để tích hợp với cơ sở hạ tầng thiết bị đó Điều này sẽ bảo đảm quy trình
sẽ trở nên trôi chảy và tích hợp với các thành phần trong quy trình một cách trơn tru, vì thế hệ thống lưu trữ bây giờ đã trở thành trung tâm của bất kỳ quy trình nào
Thực trạng trên cho thấy việc quản lý dữ liệu hình ảnh nếu được làm tốt
sẽ tăng tốc độ tìm kiếm nhờ việc tối ưu hóa hạ tầng lưu trữ, hiện đại hóa công
cụ quản lý, truy xuất dữ liệu Ngược lại, nếu quản lý kém sẽ gây cản trở cho quá trình tìm kiếm, khai thác dữ liệu hình ảnh, từ đó trực tiếp ảnh hưởng tới hoạt động báo chí của kênh truyền hình, các chương trình dựng chậm sẽ mất tính thời điểm, mất đi độ nóng của thông tin Nếu thực hiện tốt việc khai thác
dữ liệu hình ảnh chất lượng các chương trình sẽ phong phú và hấp dẫn hơn, từ
đó cũng góp phần xây dựng kênh truyền hình ngày một phát triển một cách vững mạnh
1.3 Nội dung, phương thức quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình
1.3.1 Nội dung quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại đài truyền hình
1.3.1.2.Quản lý chất lượng của tư liệu
Quản lý chất lượng của tư liệu toàn bộ công việc của các chủ thể quản
Trang 33lý nhằm tối ưu hóa nguồn dữ liệu đầu vào nhằm nâng cao giá trị của tư liệu và tối đa hóa không gian lưu trữ Để tối ưu hóa nguồn dữ liệu đầu vào tại các kênh truyền hình có thể sử dụng các phần mềm chuyên dụng để cắt gọt dữ liệu hình ảnh, âm thanh nhằm đưa chính xác nội dung vào kho lưu trữ như:
1 Phần mềm chính sửa video: Hiện nay có rất nhiều những phần mềm
chỉnh sửa video trên thị trường như: Sony Vegas Pro, DaVinci Resolve, Adobe Premiere, Adobe After Effect, Avid Liquid, Final cut Nhưng về cơ bản thì các phần mềm được sử dụng đều phải có những tính năng sau:
a Tạo các hiệu ứng trực quan chất lượng cao qua khung thời gian
(timeline) chỉnh sửa Tạo hiệu ứng quay chậm và các hiệu ứng thời gian khác với khả năng kiểm soát keyframe chính xác và thông tin phản hồi thời gian thực Chuẩn màu, ánh sáng và các những hiệu ứng khác, các bộ lọc âm thanh,
và hơn thế nữa với các công cụ tích hợp nhanh, linh hoạt Chỉnh sửa phim từ nhiều máy quay một cách dễ dàng và chính xác
b Làm việc với định dạng theo ý muốn Chỉnh sửa mọi định dạng độ
nét chuẩn hoặc nét cao, từ băng DV và HDV tới HD
c Khả năng tích hợp tốt hơn với các ứng dụng như: Các ứng dụng đồ
họa tĩnh và động, kéo và thả hay chép và dán các clip và khung thời gian (timeline) giữa các phần mềm, các file
d Tiết kiệm băng và thời gian nhờ hủy các hình ảnh từ quá trình sản
xuất Ghi video SD (độ nét chuẩn) và HD (độ nét cao) trực tiếp vào ổ cứng Xem lại ngay lập tức từng cảnh mà không cần quay băng
e Dễ dàng sử dụng, thao tác đơn giản, thời gian xử lý công việc
nhanh chóng, đáp ứng được nhu cầu đối với những chương trình như Thời sự, các chương trình chuyên đề đỏi hỏi về tốc độ sản xuất chương trình phải nhanh chóng nhưng chính xác
2 Phần mềm xử lý âm thanh: Là phần mềm hỗ trợ đa dạng các định
Trang 34dạng file nhạc và rất nhiều các tính năng , hiệu ứng âm thanh hay như convert, thu âm, cắt nhạc, đảo kênh, tách lời,… Có thể cung cấp khả năng thu
âm, trộn âm thanh cao cấp, chỉnh sửa, xử lý các hiệu ứng và làm chủ các file
âm thanh với công cụ mạnh mẽ Xử lý công việc linh hoạt, kết hợp với các công cụ, cho bạn sức mạnh để tạo những âm thanh sắc nét với chất lượng cao nhất có thể Phần mềm có thể dễ dàng tạo ra âm nhạc, tạo sóng âm thanh, và khôi phục lại bản ghi âm hoàn hảo Phần mềm xử lý âm thành phải có khả năng ghi âm nhiều bài hát đồng thời, các tập tin chỉnh chỉnh sửa âm thanh, thêm hiệu ứng đặc biệt và làm chủ hoàn thành các bản nhạc vào đĩa CD hoặc dạng file để dễ dàng quản lý và lưu trữ Sử dung phầm mềm xử lý âm thanh còn có tác dụng cắt xóa những đoạn âm thanh lỗi, bị nhiễu tạp âm không thể
xử lý được, giúp cho file được nhỏ gọn nhưng vẫn đầy đủ nội dung Hiện nay,
có rất nhiều các phần mềm xử lý âm thanh tốt có thể đáp ứng được như cầu như: Adobe Audition, Sound Forge Audio Studio, Audio Editor Pro, MP3 Music Editor, Akram Audio Editor…
1.3.1.2 Quản lý trang thiết bị
Truyền hình ra đời nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật Nhờ yếu tố này, truyền hình ngày càng có những bước tiến mới về thực hiện chương trình, hệ thống thu phát sóng cũng như quản lý dữ liệu hình ảnh Việc quản lý trang thiết bị là công việc không thể thiếu trong việc quản lý dữ liệu hình ảnh truyền hình Có thể nói, trong các thể loại báo chí, truyền hình có độ phụ thuộc vào máy móc trang thiết bị lớn nhất Ngay từ khâu chuẩn bị sản xuất, người tổ chức phải có kế hoạch cụ thể về kỹ thuật, công nghệ, tổ chức thực hiện, nguồn kinh tế, tính khả thi trong việc sử dụng các máy móc trang thiết bị Trong việc lưu trữ, khai thác dữ liệu hình ảnh thì việc quản lý hệ thống máy móc trang thiết bị một cách hiệu quả còn có tác dụng trong việc tối
ưu hóa lợi ích kinh tế, tiết kiệm thời gian và tạo ra môi trường làm việc thuận
Trang 35lợi, thoải mái, hiệu suất cao Đối với một kênh truyền hình, bên cạnh bộ phận nội dung, bộ phận kỹ thuật chiếm tỷ lệ đông đảo, bao gồm cả kỹ thuật dựng,
kỹ thuật âm thanh, kỹ thuật phát sóng… Thực chất của việc sử dụng máy móc trang thiết bị là sự áp dụng kỹ thuật và công nghệ trong quá trình quản lý dữ liệu hình ảnh Quản lý ở kênh truyền hình có đặc thù là vừa mang tính nội dung chính thống, vừa mang tính bao quát, cập nhật Sự kết hợp hài hòa, hợp
lý giữa các yếu tố này sẽ mang lại thành công cho đài
So với giai đoạn đầu phát triển của truyền hình, kỹ thuật phục vụ lĩnh vực này hiện đã phát triển nhanh chóng, đạt được nhiều thành tựu lớn, luôn mang đến cho phóng viên, đạo diễn, người làm truyền hình những tính năng mới mẻ Điều này đòi hỏi phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn, thường xuyên giữa bộ phận kỹ thuật và biên tập để tiếp thu, học tập những đổi mới về công nghệ Hệ thống truyền hình gồm rất nhiều trang thiết bị máy móc có chức năng khác nhau như: tạo tín hiệu hình, gia công xử lý tín hiệu, tạo các dạng
kỹ xảo truyền hình, phát sóng, ghi, thu tín hiệu hình Ngoài ra, còn có cả các thiết bị âm thanh, ánh sáng, trường quay
Đặc biệt trong việc lưu trữ, tìm kiếm, khai thác dữ liệu hình ảnh, trang thiết bị kỹ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng trực tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý Hệ thống càng ứng dụng tốt thì công việc của người quản lý sẽ đơn giản và hiệu quả hơn
1.3.1.3 Quản lý nhân lực
Có thể nói, công tác tổ chức nhân sự là khâu quan trọng trong bất kỳ lĩnh vực nào “Cán bộ có năng lực luôn là điều kiện đầu tiên để giải quyết các nhiệm vụ chuyên môn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn đạt thật giản dị và sinh động vai trò công tác cán bộ trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa,
ngày 20-02-1947: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy tổ chức, nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt đến mấy cũng bị tê liệt”
Trang 36Theo bài báo “ Lựa chọn và sử dụng cán bộ theo tư tưởng Hồ CHí Minh” đăng trên báo Nhân Dân điện tử ngày 03/10/2010[]
Nguồn lực con người đóng góp vai trò quan trọng trong hoạt động của các tổ chức hay doanh nghiệp Do đó việc khai thác tốt nguồn lực để phục vụ
sự phát triển của tổ chức, doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng trong việc quản lý các tổ chức và doanh nghiệp Việc quản lý nguồn lực đòi hỏi sự hiểu biết về con người ở nhiều khía cạnh, và quan niệm rằng con người là yếu tố trung tâm của sự phát triển Các kỹ thuật quản lý nhân lực thường có mục đích tạo điều kiện để con người phát huy hết khả năng tiềm ẩn, giảm lãng phí nguồn lực, tăng hiệu quả của tổ chức, đơn vị Quản lý nhân lực là sự khai thác
và sử dụng nguồn nhân lực của một tổ chức, cơ quan hay công ty một cách hợp lý và hiệu quả
Quản lý nguồn nhân lực là một chức năng quản lý đóng vai trò quan trọng nhất trong quản lý tổ chức Không có hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu đi công tác quản lý nguồn nhân lực Mục tiêu cơ bản của quản lý nguồn nhân lực là làm sao để sử dụng nguồn lực đó một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu tổ chức đề ra Ở Việt Nam, sự phát triển nhanh chóng ngành truyền hình và sự thu hút đầu tư ở quy mô lớn diễn ra trong thời gian qua được coi là ngành phát triển thanh chóng Ngày nay sự phát triển của ngành truyền hình đang chuyển đổi dần sang công nghệ số hóa Công nghệ số hóa mang lại những khả năng phục vụ mới cho ngành truyền hình Nhưng những yêu cầu, đòi hỏi của truyền hình hiện đại cũng ngày một tăng lên Để đáp ứng những yêu cầu này cần phải có nguồn nhân lực đủ về số lượng, cơ cấu và trình độ, có khả năng tiếp cận và sử dụng những công nghệ mới trong lĩnh vực truyền hình
Nhân sự của một ekip thực hiện chương trình truyền hình có nhiều bộ phận: bộ phận kỹ thuật (âm thanh, ánh sáng, thiết kế, ), bộ phận sản xuất
Trang 37(Nhà sản xuất, Quản lý sản xuất, Đạo diễn, quay phim, biên kịch, ) Một hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh, tối ưu không phải là sản phẩm của cá nhân nào mà
là sản phẩm của tập thể Đây là điểm khác biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác Người làm báo in, báo mạng, báo phát thanh có thể tự thân độc lập đi viết bài, chụp ảnh, ghi âm, biên tập nộp cho người duyệt bài và đăng bài Còn để sáng tạo một chương trình truyền hình hay quản lý dữ liệu của một kênh truyền hình thì có nhiều khâu, mỗi khâu cần sự tham gia của một bộ phận nhân sự như: biên tập, quay phim, kỹ thuật Đặc biệt, đối với những đơn vị có nguồn dữ liệu lưu trữ lớn, vai trò của các bộ phận nhân sự là ngang nhau, nếu thiếu bộ phận nào thì không thể đảm bảo hệ thống lưu trữ hoạt động trơn tru Với tính chất như vậy, việc quản lý nhân sự trong quá trình quản lý dữ liệu hình ảnh của kênh truyền hình hết sức quan trọng Mỗi nhân sự trong quy trình quản lý có chuyên môn riêng, nhưng đều phải hướng tới mục tiêu quản lý chung Nhân sự trong một kênh truyền hình bao giờ cũng phức tạp, cồng kềnh hơn so với các tòa soạn báo thuộc những loại hình báo chí khác Chi phí cho nhân sự cũng tốn kém hơn
1.4 Quản lý tốc độ tìm kiếm, khai thác
Quản lý tốc độ tìm kiếm khai thác là toàn bộ các công việc của chủ thể quản lý nhằm giúp đội ngũ phóng viên, biên tập viên, những đối tượng sử dụng dữ liệu của kênh có thể tìm kiếm, khai thác dữ liệu một cách an toàn, nhanh chóng và thuận tiện nhất Việc tìm kiếm và khai thác nhanh và chính xác giúp cho hiệu của của công việc biên tập chương trình cũng được tăng tốc hơn, tạo ra một tiến trình làm việc nhanh chóng hiệu quả
Thực hiện quá trình khai thác, sử dụng tư liệu bao gồm cả hai phía cung
và cầu Tư liệu lưu trữ tạo nên phần cung còn các yêu cầu tiếp cận khai thác
tư liệu là phần cầu Công nghệ máy tính chính là phương tiện để cung cấp tư liệu cho những người có yêu cầu khai thác sử dụng tư liệu
Trang 38Phía cung của chức năng tiếp cận khai thác tư liệu có tính chất xác định
và cố định Tư liệu lưu trữ phải được giữ lại nguyên trạng như nó được sản sinh ra trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức hay cá nhân và giá trị của chúng được cơ quan lưu trữ lựa chọn, đánh giá Việc cung cấp bị giới hạn bởi những nhu cầu hoạt động của cơ quan, tổ chức hay cá nhân sản sinh tư liệu, đồng thời mô hình tổ chức, các quy trình và các hoạt động của cơ quan
để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc cung cấp tư liệu cho nhu cầu khai thác, sử dụng
Nhu cầu tiếp cận khai thác tư liệu lưu trữ rất đa dạng, phong phú Vào bất kỳ thời điểm xác định nào cũng có thể có nhiều loại yêu cầu và tính chất của các yêu cầu cũng có thể thay đổi theo thời gian Những yêu cầu tiếp cận khai thác tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử của cơ quan,
tổ chức sẽ nảy sinh từ quá trình hình thành tư liệu; tuy nhiên, cũng phải nói rằng về thực chất, đa số các yêu cầu độc lập với mục đích ban hành và bảo quản tư liệu lưu trữ Mục tiêu cụ thể của những yêu cầu tiếp cận khai thác tư liệu lưu trữ sẽ nhằm khai thác, sử dụng những thông tin chứa đựng trong tư liệu Tính chất chứng cứ của tư liệu vẫn là yếu tố quyết định trong những trường hợp như vậy, bởi lẽ việc hiểu chính xác những thông tin chứa đựng trong tư liệu có thể là điều không thể thực hiện được nếu như không hiểu được tính chất của các thông tin tư liệu như những tư liệu đích thực
Công nghệ thông tin - phương tiện để tiếp cận khai thác tư liệu sẽ thay đổi theo thời gian và những thay đổi của công nghệ thông tin sẽ tác động tới khả năng có thể tiếp cận khai thác được của tư liệu cũng như nhu cầu khai thác tư liệu lưu trữ sẽ trở nên không thể tiếp cận khai thác được nếu như chúng lệ thuộc vào công nghệ lỗi thời Hơn nữa, khi công nghệ thông tin cung cấp những phương tiện tiếp cận khai thác nhanh và linh hoạt thì người nghiên cứu sẽ muốn sử dụng các công cụ đó để khai thác sử dụng tư liệu lưu trữ Có thể tin rằng số lượng các nhà nghiên cứu sẽ tăng khi công nghệ làm cho khả
Trang 39năng tiếp cận khai thác tư liệu từ xa ngày càng trở nên phổ biến và hiệu quả
về mặt chi phí Cuối cùng, có thể hy vọng rằng yêu cầu ngày càng cao của truyền hình muốn tận dụng cơ hội mà công nghệ thông tin đem lại trong việc tiếp cận khai thác tư liệu sẽ làm cho lưu trữ có vai trò trung gian cho việc tiếp cận khai thác tư liệu
Như vậy, chức năng bảo đảm cho việc tiếp cận khai thác tư liệu lưu trữ
tư liệu có thể được nhìn nhận như là một chức năng cung ứng những đối tượng cố định cho những nhu cầu luôn thay đổi và hết sức đa dạng Để có thể đáp ứng nhu cầu khai thác tư liệu một cách hữu hiệu, chức năng tiếp cận khai thác sẽ phải thích ứng với những thay đổi về nhu cầu và tận dụng được những
ưu điểm và lợi thế của tiến bộ của khoa học công nghệ Đồng thời, chức năng này còn phải có khả năng bảo đảm tính xác thực của những sản phẩm mà nó cung cấp Để giải quyết tình trạng trên, đòi hỏi phải có sự kiểm soát tri thức thích hợp đối với tư liệu, các phương pháp bảo đảm tiếp cận khai thác và sự thích ứng kịp thời trước những thay đổi về nhu cầu và về công nghệ Chúng tôi sẽ bàn đến vấn đề này ở phần tiếp theo
Tiền đề cho việc tiếp cận khai thác tư liệu lưu trữ điện tử là phải bảo đảm
tư liệu luôn ở trong tình trạng sẵn sàng có thể tiếp cận và hiểu được Ngoài ra, các phương pháp được áp dụng, xét về khía cạnh nội dung, cấu trúc và bối cảnh của tư liệu phải bảo đảm rằng chúng được cung cấp ở dạng xác thực
1.4.1 Phương thức quản lý và khai thác dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình
Để quản lý dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình, hiện nay các đài thường duy trì hai phương thức chính là quản lý trực tiếp và quản lý gián tiếp
Cụ thể:
1.4.1.1 uản l trực tiếp
Quản lý trực tiếp đối với dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình được hiểu là việc tác động của chủ thể quản lý tới chính đối tượng quản lý mà
Trang 40không thông qua khâu, bộ phận trung gian
Quản lý trực tiếp giúp cho việc vận hành của quá trình quản lý dữ liệu hình ảnh được đảm bảo đúng những định hướng của nhà đài hơn Tuy nhiên phương thức quản lý này đòi hỏi sự tận tâm và khả năng bố trí, sắp xếp công việc khoa học của lãnh đạo, quản lý Bởi lẽ với quản lý dữ liệu hình ảnh của kênh truyền hình là một quá trình gồm nhiều khâu khác nhau Để ra một quy trình quản lý hoàn chỉnh đòi hỏi một thời gian tương đối dài Do vậy nếu chủ thể quản lý không có lượng thời gian vừa đủ thì khó có thể thực hiện phương thức quản lý này Nếu cố tình thực hiện sẽ rơi vào quản lý hình thức, qua loa đại khái không đem lại hiệu quả về mặt thực chất
Để quản lý theo phương thức này cũng đòi hỏi ở người quản lý những năng lực nhất định Đó là sự am hiểu về toàn bộ quá trình lưu trữ, khai thác, tìm kiếm dữ liệu hình ảnh Sự am hiểu này đòi hỏi phải có chiều sâu mới có thể đem lại kết quả là một chương trình thực sự chất lượng
1.4.1.2 uản l gián tiếp
Quản lý gián tiếp là phương thức quản lý thông qua hệ thống văn bản chỉ đạo hoặc các cuộc họp định hướng, giao ban định kỳ Chủ thể quản lý thường không tác động trực tiếp tới quá trình quản lý dữ liệu hình ảnh tại kênh truyền hình Mọi công việc thường do đội ngũ ekip của phòng ban kỹ thuật tự chủ thực hiện Vai trò quản lý của các chủ thể thường chỉ được thể hiện khi ban hành các quy định, quy chế về quản lý và kiểm tra các sản phẩm lưu trữ khi đã hoàn thiện để khai thác
Nhiệm vụ chính của người lãnh đạo, quản lý là huy động, phối hợp sức mạnh của mọi người và tập thể để thực hiện mục tiêu của tổ chức Họ không trực tiếp tạo ra sản phẩm mà thông qua công tác tổ chức để điều khiển, tác động tới những người trực tiếp làm nhiệm vụ đó Dựa trên sự hiểu biết về năng lực, sở trường và các đặc điểm riêng của mỗi cá nhân trong tổ chức, người quản lý điều khiển hành động của họ, đồng thời thống nhất hành động