1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo mạng điện tử với vấn đề truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng (khảo sát các báo baoxaydung com vn, kinhtedothi vn, vietnamnet vn, từ 12015 đến 62018)

142 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống báo chí Việt Nam, mang đặc thù gắn bó với công nghệ hiện đại, báo mạng điện tử có khả năng nhanh chóng đưa chủ trương chính sách phát triển ngành Xây dựng của Đảng và Nhà

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Đặng Thị Thu Hương

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày…… tháng… năm 20…

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn mang tên:“Báo mạng điện tử với vấn đề

truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng”là công trình nghiên cứu của

riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Đặng

Thị Thu Hương Nội dung và các trích dẫn nêu trong luận văn có xuất xứ rõ

ràng và trung thực Luận văn kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Các số liệu, kết quả điều tra nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Khánh Hòa

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS,TS Đặng Thị Thu Hương, người trực tiếp hướng dẫn, định hướng cho tôi về đề tài, phương pháp nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn

Đồng thời, tôi trân trọng cảm ơn các nhà khoa học tham gia hội đồng góp ý đề cương và hội đồng chấm luận văn thạc sĩ của Học viện đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn Trân trọng cảm ơn các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, cung cấp cho tôi hệ thống kiến thức lý luận

và thực tiễn quý báu Những kiến thức này đã và sẽ giúp ích cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, công tác hiện tại cũng như trong tương lai Trân trọng cảm ơn các thầy, cô tại Viện Báo chí, Ban Quản lý Đào tạo đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các lãnh đạo, các đồng nghiệp, người thân và bạn bè đã ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Khánh Hòa

Trang 6

phát triển và quản lí nhà ở xã hội Nghị định số 59/2015/NĐ-CP : Nghị định số 59/2015/NĐ-CP về

quản lý dự án đầu tư xây dựng

Trang 7

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Ảnh 1.1: Mô hình truyền thông của Claude Shannon 13

Ảnh 2.1: Giao diện trang chủ Báo điện tử Xây dựng 39

Ảnh 2.2: Giao diện trang chủ Báo điện tử Kinh tế&Đô thị 41

Ảnh 2.3: Giao diện trang chủ Báo điện tử Vietnamnet 42

Ảnh 2.4: Thông tin được trình bày dưới dạng infographic trên báo Vietnamnet 65

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Số lượng tin, bài truyền thông một số chính sách tiêu biểu trên

Biểu đồ 2.8: Thực trạng chất lượng nội dung thông tin liên quan đếnhoạt

động truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng (%) 73

Biểu đồ 2.9: Hình thức thể hiện nội dung thông tin liên quan đến hoạt động

truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng tại các tờ báo này (%) 74

Biểu đồ 2.10: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin trên BMĐT với hoạt

động truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng (%) 74

Trang 9

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 12

1.1 Các khái niệm liên quan 12

1.2.Tầm quan trọng và những đặc điểm của truyền thông chính sách 25

1.3 Đặc trưng, thế mạnh của báo mạng điện tử trong việc truyền thông chính sách 30

1.4.Tiêu chí đánh giá chất lượng tin bài truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng 33

Chương 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCHVỀ LĨNH VỰC XÂY DỰNG TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 39

2.1 Khái quát về ba tờ BMĐT 39

2.2 Tần suất truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng 43

2.3 Những nội dung chính về các chính sách được thể hiện trên báo mạng điện tử 47

2.4 Hình thức chuyển tải thông tin về các chính sách 55

2.5 Đánh giá của công chúng đối với vấn đề truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng 67

Chương 3:MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP KHUYẾN NGHỊNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH VỀ LĨNH VỰC XÂY DỰNG TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 79

3.1 Những vấn đề đặt ra đối với truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng 79

3.2 Các giải pháp 84

3.3 Khuyến nghị 87

3.4 Kinh nghiệm truyền thông chính sách từ Hàn Quốc 95

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 108 TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của thế giới và xu hướng hội nhập của quốc tế, đất nước ta đang ngày càng đổi mới, bướcvào thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước; vừa xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, vừa phát triển nền kinh

tế đất nướchội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới Do đó, ngành Xây dựng được xem là ngành công nghiệp mũi nhọngóp phần quan trọng trong quá trình phát triển đất nước Để đảm bảo sự phát triển bền vững, ngành Xây dựng đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển dài hạn trong các lĩnh vực của Ngành như: Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển các đô thị Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược phát triển nhà ở đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, vùng tỉnh và các đô thị; Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng, xi măng, cùng với các Chiến lược, định hướng về cấp nước, thoát nước, quản lý chất thải rắn đô thị trên phạm vi cả nước

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cùng với nhiều cơ chế, chính sách hoạt động trong lĩnh vực xây dựng được hoàn thiện và tập trungđể phục

vụ cho công tác quản lý nhà nước Luật Xây dựng được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 4, tháng 12/2003, có hiệu lực từ ngày 1/7/2004, là sự kiện quan trọng nhất của ngành Xây dựng Việt Nam, tạo lập khuôn khổ pháp

lý và động lực thúc đẩy các hoạt động đầu tư xây dựng công trình, hình thành thị trường xây dựng với quy mô ngày càng rộng lớn, đa dạng, phong phú, đã làm cho các hoạt động xây dựng đi dần vào kỷ cương, nền nếp, chất lượng xây dựng được đảm bảo.Cùng với Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Quy hoạch đô thị… cũng đã được ban hành và có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý quy hoạch, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản Trên cơ sở đó, tác giả đã lựa chọn khảo sát nội dung, hình thức thông tin về một số chính sách của ngành Xây dựng trên 3 tờ báo mạng

Trang 11

điện tử (từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2018) Cụ thể là các chính sách:Luật Kinh doanh Bất động sản số 66/2014/QH13 (Luật Kinh doanh Bất động sản 2014)

có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 quy định về vốn pháp định, hợp đồng kinh doanh và tách Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là những nội dung mới cho các nhà kinh doanh bất động sản; Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 về phát triển và quản lí nhà ở

xã hội Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều, khoản về phát triển và quản lý nhà ở xã hội quy định tại Luật Nhà ở số 65/2014/QH13; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về quản lý dự

án đầu tư xây dựng Nghị định này quy định chi tiết một số nội dung thi hành Luật Xây dựng năm 2014 về quản lý dự án đầu tư xây dựng

Bộ Xây dựng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc, hoạt động đầu tư xây dựng, phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật, nhà ở, công sở, thị trường bất động sản, vật liệu xây dựng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ theo quy định của pháp luật Trong những năm qua, Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo hoàn thành, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cùng với nhiều cơ chế, chính sách hoạt động trong lĩnh vực xây dựng được hoàn thiện và tập trung để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước Ngoài ra, theo thẩm quyền Bộ Xây dựng cũng đã ban hành nhiều Thông tư, Quyết định thuộc phạm vi chức năng quản lý của mình.Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách, Bộ Xây dựng tập trung rà soát sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh Bất động sản; Nghiên cứu dự thảo Luật Kiến trúc

Bộ Xây dựng đã lập các đồ án quy hoạch xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị mới, vùng kinh tế trọng điểm cùng với những chính sách đổi mới kịp thời, phù hợp, ngành Xây dựng đã tạo nên sự đổi thay trên khắp đất nước

Trang 12

Với khả năng tạo dựng diễn đàn để đối thoại và phản biện chính sách, báo chí truyền thông tạo ra cầu nối giữa chủ thể ban hành chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách, giúp lan tỏa các chính sách để đông đảo công chúng được biết đến Truyền thông càng tham gia đầy đủ vào các khâu của quy trình phổ biến chính sách thì hiệu quả và tác động tích cực của chính sách trong thực tiễn càng được nâng lên Trong hệ thống báo chí Việt Nam, mang đặc thù gắn bó với công nghệ hiện đại, báo mạng điện tử có khả năng nhanh chóng đưa chủ trương chính sách phát triển ngành Xây dựng của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân góp phần tạo nên những tác phẩm truyền thông chính sách có chất lượng cao và sức lan tỏa, hiệu quả ngày càng lớn Những năm qua, bằng việc huy động nguồn trí tuệ, ý kiến của đông đảo người dân đặc biệt là các chuyên gia, các nhà khoa học, báo chí Việt Nam đã thực hiện chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội, ngày càng trở thành kênh thông tin quan trọng để các cơ quan chức năng tham khảo, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong quá trình giải quyết các vấn đề, liên quan đến sự phát triển của cộng đồng.Luận văn tiến hành khảo sát trên 3 tờ báo mạng điện tử là: Báo điện tử Xây dựng (baoxaydung.com.vn), Báo điện tử Kinh tế&Đô thị (kinhtedothi.vn) và Báo điện tử Vietnamnet (Vietnamnet.vn) Đây là 3 tờ báo mạng điện tử có số lượng tin, bài truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng xuất hiện khá thường xuyên và có sự theo dõi quan tâm từ công chúng

Trên thực tế mặc dù hoạt động truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng trên báo mạng điện tử hiện nay đã đạt được một số kết quả tích cực song vẫn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng trên báo mạng điện tử

cần phải có những giải pháp phù hợp Với lý do đó, tác giả chọn đề tài “Báo

mạng điện tử với vấn đề truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng”(Khảo

Trang 13

sát các báo: baoxaydung.com.vn, kinhtedothi.vn, vietnamet.vn, từ 1/2015 đến

6/2018) làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành báo chí của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về truyền thông nói chung Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến vấn đề truyền thông chính sách

về lĩnh vực xây dựng hầu như chưa có Đây thực sự là một khó khăn lớn của tác giả khi thực hiện việc nghiên cứu đề tài này

Một số công trình nghiên cứu về lý luận báo chí, truyền thông nói chung

đã xuất bản như:

Cuốn sách “Báo chí và Dư luận xã hội” (2011) của tác giả Nguyễn Văn Dững đã cung cấp những kiến thức về bản chất của dư luận xã hội, bản chất hoạt động báo chí, mối quan hệ tác động của báo chí và dư luận xã hội, nhà báo và dư luận xã hội

Cuốn “Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản” (2011) của tác giả Nguyễn Thị Trường Giang đã cung cấp những kiến thức cơ bản về loại hình báo mạng điện tử; những đặc thù của loại hình này cũng như sự phát triển của nó

Sách “Truyền thông – lý thuyết và những kỹ năng cơ bản” (2012) của tác giả Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) và tác giả Đỗ Thị Thu Hằng cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản nói chung, truyền thông – vận động xã hội và truyền thông đại chúng Cuốn sách còn nghiên cứu

về công chúng; về công tác nghiên cứu phản hồi, giám sát của công chúng đối với kết quả công tác truyền thông

Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” (2012) của tác giả Nguyễn Văn Dững chủ yếu cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống về hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí, như về khái niệm về đặc điểm báo chí, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng và cơ chế tác động của báo chí,

về các chức năng và nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí Trên cơ sở đó, tác giả luận văn đã kế thừa những kiến thức về công chúng và cơ chế tác động

Trang 14

của báo chí, về các chức năng của báo chí để làm cơ sở cho lý thuyết về truyền thông chính sách trên báo mạng điện tử

Sách “Báo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo”(2014) của tác giả Nguyễn Thị Trường Giang – Nguyễn Trí Nhiệm (đồng chủ biên) cung cấp những kiến thức liên quan đến đặc trưng và phương pháp sáng tạo các thể loại báo chí trong chuyên ngành báo mạng điện tử một cách hệ thống

và bài bản

Sách “Phản biện xã hội của báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật” của tác giả Phan Văn Kiền (2015) không chỉ cung cấp những lý luận cơ bản về phản biện xã hội và phản biện xã hội trên báo chí mà còn cung cấp những phương thức, nghệ thuật phản biện qua từng sự kiện tiêu biểu trên báo chí

Sách “Báo chí truyền thông – Những vấn đề đương đại” (2015) của tác giả Nguyễn Trí Nhiệm đã cung cấp cho tác giả kỹ năng phản biện chính sách của nhà báo

Cuốn“Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam” (2017) của tác giả Nguyễn Văn Dững đã cung cấp cho tác giả kiến thức về khung pháp lý, khung lý thuyết, môi trường văn hóa của Việt Nam cho giám sát, phản biện xã hội của báo chí – truyền thông, nhằm mục đích ngày một nâng cao năng lực hiệu quả tác động của báo chí – truyền thông vì mục tiêu phát triển đất nước

Một số công trình nghiên cứu về lý luận truyền thông chính sách như: Cuốn sách “Truyền thông chính sách – kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc” do Học viện báo và tuyên truyền, Báo Đại biểu nhân dân và Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (đồng chủ biên - 2017) Cuốn sách là tập hợp các bài viết của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam và Hàn Quốc tại Hội thảo khoa học quốc tế cùng tên, góp phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo, nghiên cứu và thực hành truyền thông chính sách tại Việt Nam Cuốn sách đã cung cấp những lý luận về truyền thông chính sách để định hướng hoạt động truyền thông chính sách trong thực tiễn được chuyên nghiệp, hiệu quả

Trang 15

Cuốn sách “Truyền thông chính sách và đồng thuận xã hội” do Học viện Báo chí và tuyên truyền, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (đồng chủ biên - 2018) Cuốn sách là tập hợp các bài viết của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam và Hàn Quốc tại Hội thảo khoa học quốc tế cùng tên, nhấn mạnh vai trò của truyền thông chính sách trong việc xây dựng đồng thuận xã hội và nêu lên một số mô hình nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách

Tập hợp các bài tham luận từ các chuyên gia trong Hội thảo khoa học Quốc tế “Truyền thông chính sách và năng lực tiếp nhận của công chúng” (tháng 11/2018) do Học viện Báo chí và Tuyên truyền, báo Đại biểu Nhân dân

và Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) tổ chức Nhờ đó, tác giả đã

kế thừa những mô hình về truyền thông chính sách của một số nước và thực trạng tiếp nhận thông tin chính sách hiện nay tại Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới

Sách “Truyền thông chính sách – truyền tải thông tin và can thiệp hiệu quả tới các nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản và HIV/AIDS tại Việt Nam” do Trường đại học Y tế cộng đồng, văn phòng tư liệu dân số Mỹ (2009) Cuốn sách cung cấp lý luận về chính sách đồng thời xây dựng chiến lược truyền tải thông tin, truyền tải thông tin qua các phương tiện truyền thông, bản thông tin khuyến nghị chính sách, bài trình bày cá nhân

Sách “Chính sách công Những vấn đề cơ bản” (2014) của tác giả Nguyễn Hữu Hải đã cung cấp cho tác giả những kiến thức lý luận chung nhất

về chính sách công, nhất là chu trình chính sách công; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định chính sách công; công tác phân tích, đánh giá chính sách công

Sách “Giám sát và đánh giá chính sách công” (2016) của tác giả Lê Văn Hòa đã cung cấp cho tác giả kiến thức về những vấn đề cơ bản về chính sách công; về đánh giá tác động; đo lường kết quả thực hiện chính sách công; kết

Trang 16

hợp các phương pháp đánh giá tác động và đánh giá tác động chương trình có nhiều can thiệp; tổ chức đánh giá tác động chính sách

Ngoài ra còn có một số Luận văn thạc sĩ nghiên cứu có liên quan đến đề tài với nội dung tuyên truyền, truyền thông về một số chính sách như:

Luận văn Thạc sĩ Quan hệ công chúng, Học viện Báo chí và tuyên truyền (2014) của Nguyễn Thu Hương về “Bộ Y tế với hoạt động truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá”

Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2013) của Trần Thị Thùy Linh về “Tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trên sóng truyền hình, đài phát thanh – truyền hình Nghệ An”

Một số cuộc hội thảo quốc tế chuyên sâu về truyền thông chính sách như: Hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông chính sách - Kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc” do Học viện Báo chí và Tuyên truyền, báo Đại biểu Nhân dân và Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) tổ chức ngày 1/11/2016.Hội thảo là diễn đàn để các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản

lý trao đổi về thực trạng, kinh nghiệm truyền thông chính sách của Việt Nam

và Hàn Quốc, từ đó tìm ra những sáng kiến, giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách; Hội thảo khoa học quốc tế - truyền thông chính sách và đồng thuận xã hộido Cổng TTĐT Chính phủ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng với Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) đồng tổ chứcngày 1/11/2017.Hội thảo chỉ rõ tầm quan trọng, vai trò của truyền thông chính sách

và đồng thuận xã hội có mối quan hệ mật thiết, từ đó nêu lên một số mô hình nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách

Luận văn “Báo mạng điện tử với vấn đề truyền thông chính sách về

lĩnh vực xây dựng”(Khảo sát các báo: baoxaydung.com.vn, kinhtedothi.vn,

vietnamet.vn, từ 1/2015 đến 6/2018) là công trình khoa học đầu tiên đề cập trực tiếp đến vấn đề truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng trên báo mạng điện tử

Trang 17

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, luận văn khảo sát thực trạng 3 tờbáo mạng điện tử: baoxaydung.com.vn, kinhtedothi.vn, vietnamet.vnvới vấn đề truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựngđể chỉ ra được những thành công, hạn chế từ đó đề xuất giải pháp nâng cao truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng trên báo mạng điện tử

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chính sau:

Thứ nhất, khái quát và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng như khái niệm truyền thông chính sách, báo mạng điện tử,tầm quan trọng và những đặc điểm của truyền thông chính sách…

Thứ hai, đánh giá thực trạng truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng thông qua một số chính sách nổi bật được đăng tải trên 3 tờ báo mạng điện tử:baoxaydung.com.vn, kinhtedothi.vn, vietnamet.vn trong khoảng thời gian từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2018, từ đó phân tích các nguyên nhân của những kết quả, hạn chế và bài học kinh nghiệm

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp để nâng cao truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng trên baoxaydung.com.vn, kinhtedothi.vn và Vietnamnet.vn cũng như trên báo mạng điện tử Việt Nam nói chung hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng trên báomạng điện tử Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành khảo sát trên 3 tờ báo mạng điện tử là: Xây dựng (baoxaydung.com.vn), Kinh tế&Đô thị (kinhtedothi.vn) và

Trang 18

Vietnamnet (Vietnamnet.vn) trong khoảng thời gian từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Với đề tài này, tác giả luận văn tiếp cận từ các cơ sở lý luận sau:

Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, tính chất và nhiệm vụ của báo chí và nhà báo cách mạng

Lý thuyết truyền thông: Các lý thuyết truyền thông được tác giả luận văn vận dụng ở hầu hết các cách đưa ra thông điệp của nguồn phát, các phương thức cũng như nội dung, hình thức tiếp nhận nội dung chính sách của công chúng

Lý thuyết xã hội học truyền thông đại chúng: Lý thuyết này gợi mở cho tác giả luận văn khi vận dụng để tìm ra hiệu quả truyền thông của thông điệp đến công chúng, căn cứ trên các chỉ báo về tần suất, đánh giá của công chúng đối với việc truyền thông chính sách

Lý thuyết tâm lý học báo chí – truyền thông: Lý thuyết này chỉ ra tâm lý tiếp nhận của công chúng báo chí là toàn bộ các hiện tượng tâm lý có tính quy luật của công chúng trong quá trình tiếp nhận các thông điệp báo chí Nó bao hàm cả quá trình lĩnh hội, hệ thống thái độ, tình cảm và ý chí; cả những hiện tượng thuộc tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội quy định hành vi tiếp nhận thông điệp báo chí của công chúng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Được sử dụng với mục đích khái

quát, bổ sung cho hệ thống lý thuyết về truyền thông chính sách nói chung Đây chính là cơ sở, nền tảng cho việc khảo sát thực tế cũng như đánh giá kết quả khảo sát và tìm kiếm những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích nội dung thông điệp: khảo sát nội dung, hình thức thông tin về một số chính sách của ngành Xây dựng trên 3 tờ báo mạng

Trang 19

điện tử (từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2018) Cụ thể là các chính sách:Luật Kinh doanh Bất động sản số 66/2014/QH13; Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 về phát triển và quản lí nhà ở xã hội; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tác giả sử dụng phương pháp này để làm rõ nội dung và phương thức truyền thông chính sách giữa các BMĐT chọn mẫu khảo sát, để thấy rõ hiệu quả truyền thông chính sách giữa các báo này

Từ đó đề xuất giải pháp và kiến nghị đối với hoạt động truyền thông chính sách trong báo chí hiện nay

- Phương pháp phỏng vấn sâu: dùng để phỏng vấnlãnh đạo cơ quan Bộ Xây dựng, lãnh đạo 3 tờ BMĐT Cụ thể là: Ông Phạm Văn Bắc – Vụ trưởng

Vụ Vật liệu xây dựng, ông Nguyễn Trọng Ninh – Cục trưởng Cục Quản lý nhà

và thị trường bất động sản, ông Nguyễn Sơn Tùng – Phó Tổng biên tập Báo Xây dựng, ông Lê Thế Vinh – Phó Tổng biên tập Báo Vietnamnet, ông Trương Thành Trung – Trưởng Ban điện tử Báo Kinh tế&Đô thị

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:Nhằm thu thập đánh giá, ý kiến của công chúng về một số chính sách trong lĩnh vực xây dựng, bao gồm: việc thỏa mãn nhu cầu thông tin, hiệu quả thông tin mà truyền thông chính sách mang lại; những kiến nghị để nâng cao chất lượng truyền thông chính sách Tác giả luận văn đã tiến hành phát 250 phiếu khảo sát cho đối tượng công chúng báo chí (cán bộ, viên chức Bộ Xây dựng, các công ty liên quan về xây dựng, công nhân tại khu công nghiệp, người dân tại một số khu đô thị)

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài góp phần hệ thống, hoàn thiện, bổ sung thêm lý luận về truyền thông chính sách nói chung và truyền thông chính sách trên báo mạng điện tử nói riêng Từ đó có thể làm tài liệu tham khảo trong việc đào tạo, giảng dạy báo chí và báo mạng điện tử

Trang 20

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua việc khảo sát truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng trên 3 tờ BMĐT là Xây dựng, Kinh tế&Đô thị và Vietnamnetđề tài sẽ giúp các nhà quản lý, cơ quan báo chí có loại hình BMĐT, các nhà báo – những người trực tiếp sản xuất sản phẩm báo chí có nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của vấn đề truyền thông chính sách trên BMĐT Từ đó, các cơ quan báo chí,

cơ quan quản lý sẽ có những giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện truyền thông chính sách về lĩnh vực xây dựng trên BMĐT cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng khác

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính, luận văn bao gồm 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Truyền thông chính sách trên báo mạng điện tử - những vấn

Trang 21

Chương 1 TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

Trên thế giới, theo quan niệm của Martin P.Adelsm thì: “Truyền thông

là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và người khác hiểu được chúng ta Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển là ứng phó với tình huống”[21,tr.11]

Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng” đưa ra định nghĩa: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [34,tr.8]

Trong cuốn “Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản” tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng đưa ra khái niệm truyền thông như sau: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng

và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân,nhóm,cộng đồng và xã hội”[27,tr.14]

Qua quá trình nghiên cứu tác giả luận văn nhận thấy có nhiều định nghĩa

về truyền thông Mỗi định nghĩa, quan niệm đều có những khía cạnh hợp lý riêng và có những nét tương đồng căn bản Theo đó, lý thuyết truyền thông thể hiện mối liên hệ giữa các dữ kiện truyền thông liên quan đến nhận thức, thái

Trang 22

độ, hành vi của con người Giữa 3 yếu tố đó luôn có khoảng cách Truyền thông là quá trình tạo nên sự đồng nhất hoặc rút ngắn khoảng cách đó

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra khái niệm chung nhất về truyền thông như

sau: “Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm giữa hai

hay nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tiến tới thay đổi nhận thức dẫn đến điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với lợi ích của các bên tham gia truyền thông”

Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông:

Ảnh1.1: Mô hình truyền thông của Claude Shannon

Lý giải tường tận dựa trên mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon, trong cuốn sách “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, PGS,TS Nguyễn Văn Dững đã nêu chi tiết các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông

Nguồn: Là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông Nguồn phát là một người hay một nhóm người mang nội dung thông tin trao đổi với người hay nhóm người khác

Thông điệp: Là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật… được

mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát

và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải

Trang 23

mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chí biểu đạt của con người sử dụng để chuyển tải thông điệp.

Kênh truyền thông: Là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia truyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp, truyền thông đa phương tiện…

Người nhận: Là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông Hiệu quả của truyền thông được xem xét trên cơ sở những biến đối về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng tiếp nhận cùng những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen với nhau Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước

Phản hồi/Hiệu quả: Là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát Mạch phản hồi là thước đo hiệu quả của hoạt động truyền thông Trong một số trường hợp, mạch phản hồi bằng không hoặc không đáng kể Điều đó có nghĩa là thông điệp phát ra không hoặc ít tạo được

sự quan tâm của công chúng

Nhiễu: Là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch

Bên cạnh đó, quá trình truyền thông còn tính đến hai yếu tố khác là hiệu lực và hiệu quả truyền thông Hiệu lực có thể hiểu là khả năng gây ra và thu hút sự chú ý cho công chúng - nhóm đối tượng truyền thông Hiệu quả là những hiệu ứng xã hội về nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng - nhóm đối tượng do truyền thông tạo ra, phù hợp với mong đợi của nhà truyền thông Hiệu lực và hiệu quả có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau

Trang 24

1.1.2 Chính sách công

Chính sách công là khái niệm thường xuyên được nhắc đến trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý hành chính, hoạch định chiến lược và trên bình diện các khoa học chính trị học, luật học, hành chính học…Ở Việt Nam, lần xuất hiện của các khái niệm này ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên, nhận thức về khái niệm và bản chất vấn đề, ngay cả trong các văn bản chính thức cũng còn những khác biệt, chồng chéo và có những cách hiểu khác nhau

Trên thực tế, chính sách công được truyền thông qua hệ thống các thông báo, pháp chế và luật, các văn bản chính sách, thông cáo báo chí và quảng cáo, cũng như các bài bình luận và phân tích trên các phương tiện truyền thông Sự kết hợp của các hình thức truyền thông khác nhau tạo ra tính thẩm quyền và tính hợp pháp của quyết định của đảng chính trị, quốc hội và cơ quan tư pháp từ đó khuyến khích sự tham gia của người dân trong quá trình thực thi các chính sách công của chính phủ thành công, lay động trái tim và lý trí của người dân, khơi dậy đam mê cũng như dẫn dắt công chúng vào các cuộc tranh luận

Theo B Guy Peters (năm 1990) định nghĩa: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân” [12, tr.14]

Quan niệm này của B Guy Peters đã bổ sung thêm một khía cạnh quan trọng của chính sách công, đó là tác động của chính sách công đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể Nói cách khác, chính sách công hướng tới giải quyết những vấn đề công và việc giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội

Còn tiếp cận dưới cả góc độ tổ chức và cá nhân chính trị gia, William Jenki (1978) cho rằng chính sách công “là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các phương thức để đạt được mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”[40, p.5]

Trang 25

Theo William Jenki, chính sách công là một quá trình chứ không đơn giản

là một sự lựa chọn; đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy một cách rõ ràng chính sách công là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau” Vì trên thực tế, hiếm khi nhà nước giải quyết một vấn đề công bằng, một quyết định đơn

lẻ, mà hầu hết đều phải bao gồm hàng loạt các quyết định khác nhau

Theo Đại úy, TS Bùi Hoàng Thao chính sách công được hiểu là những

tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được;

đó là quyết định của các chủ thể quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích, cách thức và chế định hành động của những đối tượng liên quan, để giải quyết những vấn đề nhất định mà xã hội đặt ra; là tổng thể các chuẩn mực, biện pháp

mà nhà nước sử dụng để quản lý xã hội [9, tr.68]

Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải, chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội[17, tr51]

Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội Chính sách của nhà nước không chỉ tác động đến một khu vực, một bộ phận dân cư nhất định, mà tác động rộng khắp đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên phạm vi toàn quốc Tác động của nhà nước đến các đối tượng có thể mang tính chính trị, hành chính, kinh tế hay

kỹ thuật được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất Đồng thời trong những thời kỳ phát triển khác nhau, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước cũng có sự thay đổi một cách thích hợp

Theo PGS,TS Nguyễn Văn Dững, chính sách công là quan điểm, thái

độ, cách tiếp cận, quyết sách và cách thức giải quyết hoặc không giải quyết vấn

đề liên quan đến lợi ích cộng đồng, các nhóm xã hội lớn, trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích nhân dân, của nhà nước hay chính phủ, chính quyền, của

tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị của một quốc gia Chính sách

Trang 26

công chính là công cụ nhà nước nói chung, của các tổ chức chính trị xã hội nói riêng được dùng để giải quyết các vấn đề thực tiễn, điều hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội lớn, nhằm tạo đồng thuận xã hội, bảo đảm phát triển bền vững[10, tr.48]

Từ những nghiên cứu, cách tiếp cận trên đây về chính sách công, tác giả

đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là định hướng

hành động được nhà nước lựa chọn, phù hợp với đường lối chính trị để giải quyết những vấn đề chung của xã hội trong một thời kỳ nhất định.

Mục tiêu cơ bản của chính sách công là hiệu quả xã hội, góp phần ổn định, phát triển xã hội, bảo đảm cho mọi người sống trong dân chủ, công bằng, văn minh

Chính sách công được nhìn nhận như một chu trình hay quá trình từ hoạch định đến thực hiện cho ra kết quả cuối cùng Về tổng thể, chính sách công có thể được coi là một chu trình gồm 3 giai đoạn:

Thứ nhất, hoạch định chính sách: Đây là giai đoạn tiền đề, giai đoạn cơ

sở, định hướng mở đường cho cả chu trình chính sách Nó là giai đoạn mà các chính sách được nghiên cứu đề xuất để nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai Việc nghiên cứu, đề xuất chính sách do các nhà hoạch định, các cơ quan,

tổ chức đoàn thể được nhà nước ủy quyền thực hiện Trên cơ sở phân tích chính sách, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ chọn một phương án tối ưu

để phê chuẩn và ban hành thành chính sách

Thứ hai, thực hiện chính sách: Đây là giai đoạn quan trọng, trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống Đây là giai đoạn thực hiện các mục tiêu chính sách trên cơ sở vận dụng những giải pháp

đã định trước để biến những dự định của chính sách thành kết quả thực tế Thực hiện chính sách đòi hỏi việc huy động các nguồn nhân lực, vật lực và tài chính để hoạt động, vì vậy tổ chức thực hiện và duy trì chính sách là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm sự thành công của chính sách

Trang 27

Thứ ba, đánh giá chính sách: Đây là giai đoạn cuối của chu trình chính sách, giúp kiểm tra xem chu trình chính sách có đúng hay không từ đó có các biện pháp giúp điều chỉnh chính sách cho phù hợp và đúng đắn hơn Nó là giai đoạn tiến hành xác định kết quả thực tiễn và phân tích hiệu quả thực hiện chính sách trên cơ sở so sánh kết quả đó với mục tiêu và các yêu cầu đề ra, so sánh quá trình thực hiện với các biện pháp, nguồn lực và thời hạn đã được xác định trước Kết quả của quá trình đánh giá chính sách là để các cơ quan nhà nước quyết định có tiếp tục duy trì chính sách hay không, hoặc sửa đổi, bổ sung để chính sách phù hợp với thực tiễn

Trong nền hành chính nhà nước, chính sách công là bộ phận nền tảng trọng yếu của thể chế hành chính, là cơ sở và chi phối các yếu tố cấu thành khác của nền hành chính như: Bộ máy hành chính; đội ngũ cán bộ - công chức; tài chính công Chính sách công được định nghĩa là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định Việc xây dựng, hoạch định chính sách, công bố chính sách tới người dân, thực thi như thế nào liên quan nhiều tới công tác truyền thông chính sách

1.1.3 Truyền thông chính sách

Truyền thông chính sách công hay còn gọi là truyền thông chính sách là quá trình quảng bá, phổ biến, thông tin về chính sách đến người dân thông qua các phương tiện truyền thông Ở nước ta, truyền thông chính sách hướng tới mục tiêu giúp người dân có thể thực hiện được vai trò “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra” Nhờ vậy, quyền tiếp cận thông tin của người dân được bảo đảm, đồng thời trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền cũng được nâng cao Thực tiễn đã chứng minh truyền thông tham gia vào tất cả các khâu trong quy trình chính sách từ hoạch định, xây dựng, thực thi đến phân tích và điều chỉnh chính sách Sự tham gia của truyền thông có thể mang tính tích cực, tính kiến tạo làm cho chính sách được phổ biến và thực thi Sự tham gia của truyền thông cũng

Trang 28

có thể ảnh hưởng tiêu cực, cản trở, làm cho chính sách không được đón nhận trong thực tế như mong muốn của các nhà xây dựng chính sách

Truyền thông tham gia vào tất cả các bước của chu trình chính sách công, hướng tới mục tiêu công ích

Giai đoạn 1: Truyền thông trong giai đoạn xây dựng chính sách

Đây là giai đoạn truyền thông hướng vào mục tiêu dự thảo chính sách trên cơ sở lắng nghe, phân tích dư luận xã hội, quan điểm của nhân dân, có sự thỏa thuận mang tính xã hội Trong giai đoạn này cần đảm bảo: Quản lý thông tin trên báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng, thông tin trên mạng

xã hội và các phương tiện truyền thông khác trong môi trương internet; Điều tra dư luận (nhận thức, nhu cầu của công chúng liên quan đến các nội dung, vấn đề mà chính sách đề cập tới, phân tích kết quả điều tra dư luận; Thu thập ý kiến của người tiêu dùng và chuyên gia)

Ở giai đoạn này, truyền thông với vai trò phản biện xã hội, bảo đảm cho chính sách được thiết kế bảo đảm lợi ích công, chống và hạn chế mọi biểu hiện can thiệp của lợi ích nhóm

Phản biện xã hội có thể hiểu là sự phản biện từ phía nhân dân, các công đồng xã hội, các tổ chức và công dân đối với thể chế chính trị, thể chế nhà nước, cá cơ cấu quyền lực mà trung tâm là nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước Vai trò phản biện xã hội trong quá trình mở rộng dân chủ hóa, minh bạch hóa và thực hiện Luật về quyền tiếp cận thông tin càng có ý nghĩa hết sức

to lớn đối với Việt Nam trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền

Giai đoạn 2: Truyền thông khi công bố chính sách

Đây là giai đoạn truyền thông phổ biến chính sách với mọi giai tầng trong

xã hội Giai đoạn này cũng hướng tới mục tiêu quản trị khủng hoảng truyền thông khi công bố chính sách Các hoạt động truyền thông trong giai đoạn này thường bao gồm: phát hành tài liệu cho báo chí, tổ chức họp báo, lan truyền thông tin trên mạng xã hội, gặp đối tượng chính sách qua các buổi giới thiệu…

Trang 29

Truyền thông với vai trò tuyên truyền, giám sát xã hội Giám sát xã hội

có thể hiểu là quá trình theo dõi, kiểm tra một hoạt động hay một quá trình xã hội nào đó có ý nghĩa xã hội, có sự tham gia của lực lượng xã hội, của các thiết chế và vì mục đích, lợi ích xã hội Giám sát xã hội bảo đảm cho chính sách được thực thi không bị “méo mó” do lạm dụng quyền lực, làm sai lệch mục tiêu chính sách và các đối tượng hưởng lợi, Vai trò này gắn liền với khả năng giáo dục kiến thức, cung cấp thông tin liên quan đến chính sách công cho công chúng, cũng như đề cao vai trò và ý thức của họ trong thực thi và giám sát xã hội

Giai đoạn 3: Truyền thông thúc đẩy thi hành chính sách

Giai đoạn này bao gồm các hoạt động truyền thông như: Truyền thông qua các loại hình báo chí: báo in, phát thanh, báo mạng điện tử, truyền hình cáp, kênh vệ tinh truyền thông tin tổng hợp, tuyên truyền trực tiếp/quảng cáo

Giai đoạn 4: Đánh giá truyền thông chính sách

Truyền thông tham gia phân tích, đánh giá và tổng kết chính sách để có thể nêu ra những kinh nghiệm thực tiễn, góp phần hoàn thiện chu trình hay công nghệ chính sách công

Truyền thông chính sách là hoạt động trung tâm của các công chức chính phủ trong tổng thể quy trình chính sách từ xây dựng chương trình nghị sự, xây dựng chính sách, thực thi chính sách, đánh giá chính sách, trong đó chính phủ trung ương và địa phương xây dựng tốt mối quan hệ với công chúng và các nhóm lợi ích, khuyến khích họ tham gia vào quy trình chính sách

Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, truyền thông chính sách thực chất và chủ yếu

là một cách gọi tên mới hay là sự thay đổi cái vỏ khái niệm của một công việc

mà xưa nay báo chí – truyền thông của Việt Nam vẫn làm là tuyên truyền đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước[11, tr2]

Theo TS Vũ Thanh Vân: “Truyền thông chính sách là quá trình chủ thể chính sách khai thác, sử dụng các phương tiện truyền thông để đưa chính sách đến với các nhóm đối tượng liên quan Là cơ quan xây dựng và ban hành

Trang 30

chính sách, chính phủ là chủ thể quan trọng nhất của truyền thông chính sách”[10, tr.141]

Theo TS.Nguyễn Huy Phòng: “Truyền thông chính sách là quá trình tương tác, trao đổi, chia sẻ thông tin về chính sách giữa các cơ quan truyền thông đại chúng với đông đảo công chúng nhằm tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo

sự thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội”[10, tr.154]

Đối với các quốc gia phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Anh, Đức, Trung Quốc, Singapore,…truyền thông là một thế mạnh trong chiến lược quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Truyền thông được coi là một ngành công nghiệp văn hóa, hàng năm thu về những doanh thu khổng lồ Xét riêng về truyền thông chính sách, những chủ trương, chính sách mới của Chính phủ các nước được truyền tải trên truyền thông đa phương tiện giúp cho người dân ở mọi nơi trên thế giới hiểu được môi trường đầu tư, kinh doanh, thị trường lao động, chính sách an sinh xã hội để từ đó tạo dựng sự kết nối, giao lưu, trao đổi thương mại, dịch vụ giữa các nước trong khu vực

và quốc tế

Từ những nghiên cứu, cách tiếp cận trên đây về truyền thông chính sách,

tác giả đưa ra khái niệm về truyền thông chính sách như sau: Truyền thông

chính sách là quá trình tương tác, trao đổi thông tin về các chính sách giữa các cơ quan báo chí – truyền thông với công chúng nhằm tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội

1.1.4 Báo mạng điện tử

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, mạng Internet đã ra đời và làm xuất hiện loại hình báo chí mới, đó là báo mạng điện tử Báo mạng điện tử ngày càng chứng tỏ được ưu thế vượt trội của mình và được nhiều người biết đến, sử dụng rộng rãi trong đó có Việt Nam

Trang 31

Xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1997, báo mạng điện tử có sự phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng, từng bước khẳng định vị thế của mình trong đời sống báo chí, đời sống xã hội của đất nước Báo mạng điện tử có khả năng thu hút hàng triệu lượt người truy cập hàng ngày, cung cấp một cách nhanh nhất thông tin về mọi mặt của đời sống xã hội trong nước và quốc tế, phục vụ nhu cầu của công chúng

Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này Cụ thể là các tên gọi Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử

Báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta, gắn liền với tên gọi của nhiều tờ BMĐT thuộc cơ quan báo in như Quê Hương điện tử, Nhân dân điện

tử, Lao động điện tử… Ngay trong các văn bản pháp quy của nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ “báo điện tử” Theo điều 3 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí số 12/1999/QH10 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 12/6/1999 quy định: báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài”; điều 22 quy định thêm: “Báo điện tử được thực hiện trên mạng thông tin máy tính theo quy định của Chính phủ” [33] Tuy nhiên khái niệm báo điện tử có nghĩa rất chung chung, không giúp hiểu rõ đặc điểm của loại hình báo chí này

Báo trực tuyến là khái niệm được sử dụng đầu tiên ở Mỹ và trở thành cách gọi của quốc tế Cách gọi này không được phổ biến nhiều ở Việt Nam

Báo mạng là cách gọi của báo mạng Internet Đây là cách gọi được nhiều người sử dụng Tuy nhiên, cách gọi này không được đánh giá cao bởi không mang tính khoa học, không mô tả chính xác được bản chất của vấn đề

Báo Internet cũng là một tên gọi trước đây thường được sử dụng để chỉ loại hình báo chí tồn tại trên mạng Internet Cách gọi này không còn thông dụng thời gian gần đây

Trang 32

Năm 2003, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã có cuộc hội thảo giữa các cán bộ nghiên cứu giảng dạy ngành truyền thông đại chúng và thống nhất tên gọi là báo mạng điện tử Theo PGS,TS Nguyễn Văn Dững: “Báo mạng điện tử là loại hình báo chí – truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng internet toàn cầu” [25, tr.123].

Báo mạng điện tử là cách gọi được cho là chính xác, thể hiện đầy đủ bản chất nhất của loại hình báo chí này, lại đáp ứng được nhiều yếu tố như Việt hóa, đặc trưng khu biệt của loại hình báo chí mới, dễ tiếp nhận…Trong cuốn

“Báo mạng điện tử - Đặc trưng và phương pháp sáng tạo” do TS Nguyễn Trí Nhiệm và PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang đồng chủ biên đã nêu căn cứ để lựa chọn thuật ngữ “báo mạng điện tử” như sau:

Nó khẳng định loại hình báo chí mới này là con đẻ của sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, hoạt động được nhờ các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, số hóa, các máy tính nối mạng và các server, các phần mềm ứng dụng

Nó cho phép hiểu một cách chính xác về bản chất, đặc trưng của loại hình báo chí này: tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính tức thời, tính phi định kỳ, khả năng truyền tải thông tin không hạn chế, với cách lưu trữ thông tin dưới dạng siêu văn bản, khả năng siêu liên kết – các trang báo được tổ chức thành từng lớp, có cơ chế “nở ra” với số trang không hạn chế…

Tên gọi này chỉ rõ người làm báo và người đọc báo đều phải có trình độ

kỹ thuật nhất định

Đây là sự kết hợp các tên gọi có nội dung riêng biệt như: báo, mạng, điện tử Vì vậy, tên gọi này thỏa mãn các yếu tố: Việt hóa, đặc trưng, riêng biệt của loại hình báo chí mới, khắc phục được sự “thiếu” về nghĩa, sự máy móc của từ ngoại lai [21, tr.11]

Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm, để tạo sự thuận lợi trong quá trình nghiên cứu luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ báo mạng điện tử để nghiên cứu Tác giả lựa chọn thuật ngữ đã được nêu trong

Trang 33

cuốn sách “Báo mạng điện tử - đặc trưng và phương pháp sáng tạo” như

sau: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình

thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao[21, tr.12]

1.1.5 Lĩnh vực xây dựng

Xây dựng là lĩnh vực khá rộng bao trùm nhiều đối tượng, phạm vi, chủ thể khách thể như: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật; nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng, giấy phép xây dựng, thi công xây dựng công trình, khảo sát xây dựng và thiết kế xây dựng…

Quy hoạch xây dựng: là việc tổ chức không gian của đô thị, nông thôn

và khu chức năng đặc thù; tổ chức hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trường thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo

vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu Quy hoạch xây dựng được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch xây dựng gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh

Hoạt động đầu tư xây dựng là quá trình tiến hành các hoạt động xây dựng gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng

Hạ tầng kỹ thuật bao gồm: Kết cấu hạ tầng giao thông, cấp, thoát nước, cấp năng lượng, điện- chiếu sáng đô thị, thông tin liên lạc, chuẩn bị kỹ thuật , môi trường cây xanh, công viên, xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa địa, nghĩa trang

Nhà ở: là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân

Vật liệu xây dựng là sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, vô cơ được sử dụng để tạo nên công trình xây dựng, trừ các trang thiết bị điện và thiết bị công

Trang 34

nghệ Vật liệu xây dựng chủ yếu là các loại vật liệu xây dựng được quản lý và quy hoạch trên phạm vi toàn quốc, bao gồm: Xi măng, vật liệu ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, vôi, vật liệu chịu lửa

Giấy phép xây dựng là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời công trình

Thi công xây dựng công trình gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng

1.2 Tầm quan trọng và đặc điểm của truyền thông chính sách

Truyền thông chính sách có vai trò quan trọng trong một xã hội xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như của Việt Nam hiện nay Một

xã hội mà nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật thì mọi chính sách mà Nhà nước ban hành người dân đều phải biết và tuân thủ Vì vậy, truyền thông chính sách gắn liền với xây dựng Nhà nước pháp quyền, xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật

Với những ưu điểm vượt trội của mình, truyền thông chính sách trên BMĐT đang ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị - xã hội đặc biệt là quá trình thực thi chính sách, cụ thể:

Thứ nhất, truyền thông chính sách trên BMĐT góp phần tuyên truyền và phổ biến chính sách một cách rộng rãi nhất và nhanh nhất có thể

Truyền thông chính sách đáp ứng quyền được thông tin của người dân, quyền tự do ngôn luận của người dân; phản ánh kịp thời những chính sách của Đảng, nhà nước, giúp người dân dễ dàng tiếp cận, nắm bắt thông tin Có thể ví truyền thông chính sách là “cây cầu” kết nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể với quần chúng

Việc phổ biến tuyên truyền chính sách không chỉ dành cho nhân dân trong nước mà kiều bào ta ở nước ngoài cũng có thể tiếp cận được; không chỉ dành cho người Việt Nam mà bạn bè quốc tế cũng có thể biết đến

Trang 35

Với lợi thế là tích hợp (chữ viết, hình ảnh, video, đồ họa…), truyền thông chính sách trên BMĐT khá hấp dẫn và dễ tiếp cận hơn các loại hình báo chí khác

Thứ hai, truyền thông chính sách trên BMĐT có vai trò chỉ dẫn, tác động đến nhận thức xã hội Mỗi một nội dung liên quan đến các chính sách tác động trực tiếp tới hệ thống giáo dục của xã hội, định hướng tư tưởng trong đời sống của người dân

Mục đích của truyền thông chính sách là để giúp các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi chính sách, hiểu rõ về mục tiêu, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách và về tính khả thi của chính sách; về quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong thực thi chính sách…để họ

tự giác, tích cực thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước

Ngoài ra truyền thông chính sách có tác dụng làm cho các đối tượng chính sách và toàn thể nhân dân nhận thức được vai trò của mình trong xã hội,

để họ phát huy quyền làm chủ xã hội trong việc chấp hành chính sách Truyền thông chính sách còn là hình thức công khai, mở rộng dân chủ để người dân biết, người dân bàn trong tổ chức thực hiện chính sách Thông qua đó người dân cũng mạnh dạn tham gia vào quản lý xã hội, tự giác chấp hành chính sách, chủ động đề xuất, kiến nghị với các cơ quan nhà nước các giải pháp thực hiện mục tiêu chính sách, các phương pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả của chính sách

Thứ ba, truyền thông chính sách trên BMĐT có vai trò phản biện xã hội

Các nội dungtruyền thông chính sách trên BMĐT được người dân, dư luận phản hồi nhanh chóng, kịp thời, bởi các thông tin được đưa ra một cách nhanh, công khai và liên tục và bởi cơ chế phản hồi trên BMĐT

Truyền thông chính sách góp phần tạo ra sự đồng thuận xã hội cao trong thực hiện chính sách của Nhà nước Sự đồng thuận xã hội cao là sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân trong thực thi chính sách, là yếu tố quyết định sự thành bại của chính sách Truyền thông chính sách là để nhân dân nhận thức được

Trang 36

đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực thi chính sách đối với họ Nếu một chính sách đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và giải pháp thực hiện thì nó nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ thực hiện Còn các chính sách không thiết thực đối với đời sống nhân dân, không phù hợp với trình độ và điều kiện hiện có của nhân dân thì sẽ bị tẩy chay hoạc

“bỏ rơi” không thực hiện Ví dụ dự thảo quy định người có vòng ngực nhỏ (ngực lép) sẽ không được tham gia giao thông của Bộ Y tế Bản dự thảo tiêu chuẩn sức khỏe lái xe được Bộ Y tế xây dựng có quy định người muốn được cấp giấy chứng nhận sức khỏe để lái xe máy từ 50cm3 trở lên (giấy phép lái xe hạng A1, B1) thì phải có vòng ngực trung bình không dưới 72cm Xoay quanh vấn đề này, đã có rất nhiều ý kiến trái chiều gây tranh cãi, mà đa số là phản đối quyết định này Ngay lập tức báo chí đã liên tục đưa tin, phản ánh về vấn đề này: Người “ngực lép” có thể bị cấm lái ô tô, xe máy” (Vnexpress, ngày 25/8/2013); Phẫn nộ quy định “ngục lép” không được lái xe (VTC News, ngày 25/8/2013…Với những ý kiến đa chiều từ thông tin báo chí và dư luận, dự thảo thông tư về tiêu chuẩn sức khỏe với người lái xe được Bộ Y tế đưa ra ngày 30/12/2014 đã bỏ những quy định gây tranh cãi như người ngực lép, người có

6 ngón tay không được lái xe, đồng thời thêm tiêu chí về sử dụng ma túy, chất cồn Các cơ quan báo chí cũng thông tin rộng rãi quyết định này: “Bỏ quy định

“ngực lép” không được lái xe” (Vnexpress, ngày 30/12/2014)

Thứ tư, truyền thông chính sách thu hút sự quan tâm của công chúng và đem lại hiệu quả kinh tế

Nếu xây dựng được những nội dung có chất lượng tốt, hấp dẫn, khả năng tương tác cao, thì các cơ quan BMĐT sẽ thu hút được lượng công chúng đông đảo, từ đó nâng cao nguồn thu tài chính, phát triển hiệu quả hơn hoạt động báo chí

Trên thực tế, truyền thông chính sách và đồng thuận xã hội luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, đồng thuận xã hội không chỉ là

Trang 37

mục tiêu mà còn là nguồn lực xã hội quan trọng, nhằm góp phần triển khai thành công chính sách trong thực tiễn Với khả năng tạo dựng diễn đàn để đối thoại và phản biện chính sách, báo chí và truyền thông tạo cầu nối giữa chủ thể và đối tượng chính sách Một khi báo chí truyền thông tham gia sâu rộng vào các khâu của quy trình hoạch định chính sách, hiệu quả của báo chí truyền thông được nâng lên Thực tế cho thấy, truyền thông hình thành văn hóa đối thoại, đảm bảo quyền được biết của công chúng, đồng thời xây dựng môi trường công khai minh bạch cho việc thảo luận, xây dựng và thực thi chính sách

Truyền thông chính sách là một trong các bước không thể thiếu trong tổ chức thực hiện chính sách Vì sau khi kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện chính sách được thông qua việc đầu tiên cần phải làm là tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách Đây là hoạt động quan trọng, có ý nghĩa thiết thực, to lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách

Đặc điểm của truyền thông chính sách:

Về nội dung thông tin:Truyền thông chính sách cần phải tập trung vào

các nội dung như mục tiêu của chính sách, các giải pháp, công cụ chính sách, thể chế chính sách và đối tượng chính sách Cụ thể đối với Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 về phát triển và quản lí nhà ở xã hộicần phổ biến, tuyên truyền làm sao để các đối tượng cũng như toàn thể nhân dân hiểu được mục tiêu của chính sách là hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng khó khăn, thu nhập thấp ở các đô thị và nông thôn Chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp,

hộ gia đình, cá nhân tham gia phát triển nhà ở xã hội (thông qua việc miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp; vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi…)

Đặc điểm nổi bật của truyền thông chính sách là ở chiều sâu thông tin,

có sự lí giải, phân tích thông tin một cách sâu, rộng, rõ ràng Nội dung thông tin tập trung vào phân tích những vấn đề lý luận, gắn với thực tiễn đang đặt ra,

Trang 38

cụ thể hóa các cơ chế, chính sách trong hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn, phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của các chủ trương, chính sách kinh tế của nhà nước, giúp cơ quan có thêm căn cứ để hoàn thiện chính sách

Truyền thông chính sách trên BMĐT góp phần làm tăng tính thực tiễn, tính đa chiều, tính phản biện trong nhìn nhận

Về hình thức thông tin:Để nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách

cùng với việc xác định rõ, chính xác nội dung, nhiệm vụ, phương pháp còn phải xác định, lựa chọn các hình thức phổ biến, tuyên truyền chính sách

Trong truyền thông chính sách thường sử dụng một số hình thức như: trực tiếp tiếp xúc, trao đổi đối với các đối tượng chính sách và gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (đài truyền hình, đài phát thanh, báo, tạp chí, trang thông tin điện tử…); truyền thông chính sách thông qua họp báo công bố chính sách; tổ chức hội nghị phổ biến, tuyên truyền chính sách, các lớp tập huấn tập trung để quán triệt tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tin đại chúng, các cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tuyên truyền; xây dựng các văn bản hướng dẫn, phổ biến cụ thể việc thực hiện chính sách cho các cơ quan hữu quan để họ nghiên cứu, xây dựng

kế hoạch thực hiện chính sách Tùy thuộc theo yêu cầu của các cơ quản quản lý, tính chất của từng loại chính sách, đặc điểm của các đối tượng chính sách và điều kiện cụ thể để lựa chọn hình thức tuyên truyền, vận động thích hợp, đạt hiệu quả cao, tránh phô trương, hình thức, lãng phí thời gian

và công sức không cần thiết

Đặc điểm của truyền thông chính sách còn được thể hiện ở sự tương tác, phản biện xã hội Đối với báo mạng điện tử, truyền thông chính sách thể hiện sự tương tác giữa độc giả với cơ quan báo chí, giữa độc giả và độc giả…Nhờ sự tương tác của độc giả, các tác phẩm truyền thông chính sách có sức lan tỏa hơn, thu hút sự quan tâm của công chúng, giúp quá trình phổ biến, tuyên truyền chính sách đạt hiệu quả

Trang 39

1.3 Đặc trưng, thế mạnh của báo mạng điện tử trong việc truyền thông chính sách

Cuốn “Báo mạng điện tử - Đặc trưng và phương pháp sáng tạo” đã đưa

ra một số đặc trưng của BMĐT như sau:

Thứ nhất, tính tức thời và phi định kỳ

Nhờ vào sự phát triển của công nghệ, máy vi tính và đặc biệt là vai trò của mạng toàn cầu Internet, các nhà báo trực tuyến có thể dễ dàng xâm nhập

sự kiện, nhanh chóng viết bài và gửi về toà soạn thông qua hệ thống thư điện

tử Với tốc độ đường truyền nhanh, thậm chí các nhà báo có thể đưa tin cùng lúc với sự kiện, ví dụ như khi tường thuật một trận bóng đá, hay một cuộc họp báo…

Không chỉ tức thời, BMĐT còn cho phép nhà báo thường xuyên update thông tin Điều này khác với báo giấy hoặc các loại hình báo chí khác ở chỗ nhà báo có thể đăng tải thêm tin tức bất cứ lúc nào mà không phải chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như ở các loại hình báo chí khác Chính vì thế mà người ta còn cho BMĐT một đặc trưng là tính phi định kì

Đặc điểm này giúp cho báo mạng dễ dàng vượt trội hơn so với các loại hình báo chí khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời sự và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả Nhiều người tìm đến BMĐT để cập nhật thông tin cũng là vì lí do này

Ngoài ra, đặc trưng này còn giúp việc chuyển tải các chính sách được nhanh chóng, kịp thời Thông tin tức thời, gần như ngay lập tức, biết tin sớm nhất từ những khoảng cách xa nhất Mọi thông tin từ khi thu nhập được đến khi phát hành được diễn ra trong thời gian ngắn hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác

Nếu thông tin trên các thể loại báo chí khác có tính định kỳ cao thì công chúng chỉ có thể tiếp nhận vào đúng một khung giờ có sẵn Nhưng BMĐT với tính phi định kỳ có thể giúp công chúng tiếp nhận thông tin ở bất kỳ lúc nào chỉ bằng một click chuột Hơn nữa, trong xã hội hiện đại,

Trang 40

hàng ngày con người phải tiếp nhận một khối lượng thông tin hết sức to lớn Với công nghệ Internet, giờ đây người dùng trở thành trung tâm, chủ động lựa chọn thông tin phù hợp với nhu cầu và khả năng ở bất kỳ thời gian nào trên BMĐT

Thứ hai, BMĐT có tính tương tác cao

Tính tương tác là một trong những đặc trưng quan trọng của báo chí Khi mà mọi điều kiện của con người được nâng cao, nhu cầu được đáp ứng về thông tin, cũng như sự tương tác với báo chí của độc giả càng được coi trọng

Ở bất kì loại hình báo chí nào, tính chất này cũng được những người làm báo lưu tâm Đối với BMĐT, nhờ có những đặc trưng nổi trội về công nghệ mà dường như tính tương tác có vẻ cao hơn so với các loại hình còn lại

Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với toà soạn, ở BMĐT, chúng ta còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí

Quá trình tương tác trên BMĐT nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác Ngay sau mỗi tác phẩm báo chí đăng trên trang BMĐT đều có mục phản hồi, ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác khác như feedback, vote, email, forum… tiện cho độc giả dễ dàng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy

Khả năng giao lưu, tương tác giữa độc giả và tòa soạn cũng như tác giả của chính bài báo đó cũng là ưu điểm nổi bật của BMĐT BMĐT cho phép sự phản hồi thông tin từ người sử dụng đến tòa soạn báo nhanh chóng và thuận tiện nhất Bằng các phương tiện dễ dàng như email hay những dòng comment dưới mỗi bài viết khiến cầu nối giữa bên cung cấp thông tin và bên tiếp nhận thông tin trở nên chặt chẽ hơn Các phương tiện truyền thông đại chúng khác cũng đang trên cuộc chạy đua tăng tính tương tác với công chúng bằng các cuộc tọa đàm, giao lưu trực tuyến khán giả…Nhưng trên thực tế, BMĐT vẫn là một thể loại có tính tương tác cao nhất Với ưu thế như vậy, truyền thông trong giai đoạn xây dựng chính sách đạt hiệu quả hơn, khi chúng ta có thể dễ dàng điều tra dư luận

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w