1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục chủ nghĩa yêu nước hồ chí minh cho thanh niên huyện gia bình, tỉnh bắc ninh hiện nay

119 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện thành công nhiệm vụ trọng đại này, một động lực quan trọng hàng đầu là phải khơi dậy và phát huy cao độ CNYN Hồ Chí Minh trong Đảng, trong các tầng lớp nhân dân và đặc biệt

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

BÙI THỊ BÍCH HUỆ

GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC

HỒ CHÍ MINH CHO THANH NIÊN HUYỆN GIA BÌNH,

TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC

HÀ NộI – 2018

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

BÙI THỊ BÍCH HUỆ

GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC

HỒ CHÍ MINH CHO THANH NIÊN HUYỆN GIA BÌNH,

TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY

Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học

Mã số: 8 31 02 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC

NGƯờI HƯớNG DẫN KHOA HọC: PGS, TS Lưu Văn An

HÀ NộI – 2018

Trang 3

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Chủ tịch Hội đồng

PGS.TS Doãn Thị Chín

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, thông tin và kết quả được nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ

công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Bùi Thị Bích Huệ

Trang 5

BCH Ban Chấp hành

BTV Ban Thường vụ

CLB Câu lạc bộ

CNXH Chủ nghĩa xã hội

CNYN Chủ nghĩa yêu nước

ĐVTN Đoàn viên thanh niên

THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH – KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản 10

1.2 Nội dung chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh 18

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH CHO THANH NIÊN HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 44

2.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình 44

2.2 Thực trạng – nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh hiện nay 56

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 88

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

TÓM TẮT LUẬN VĂN 113

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gắn liền với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã để lại cho nhân dân ta di sản vô giá về tư tưởng, đạo đức, tác phong Tư tưởng của Người giữ vai trò quyết định trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và

đi lên chủ nghĩa xã hội Trong hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn ý thức sâu sắc về giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, trong đó Người đặc biệt nêu cao tầm quan trọng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam mà dòng chủ lưu là chủ nghĩa yêu nước đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc

Nói về truyền thống yêu nước của dân tộc, Người tự hào viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,

nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [41; 38] CNYN là sản

phẩm tinh thần cao quý nhất, giữ vị trí đứng đầu trong bậc thang giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc, là chuẩn mực của đạo lý Việt Nam CNYN là sức mạnh nội sinh to lớn của dân tộc, là cội nguồn của bao chiến công hiển hách

mà mỗi người Việt Nam đều phải khắc ghi, gìn giữ và phát huy

CNYN Hồ Chí Minh chính là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể của nước ta và đạt đến đỉnh cao của CNYN Việt Nam, đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác CNYN Hồ Chí Minh là viên ngọc quý sáng ngời của dân tộc, trường tồn cùng với dân tộc và con người Việt Nam Bởi vậy, việc nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, CNYN Hồ Chí Minh nói riêng giúp chúng ta có thêm lòng tự hào dân tộc, có thêm niềm tin vào đường lối, sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình

Trang 8

thực hiện hoá tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, đồng thời tạo nên sức sống mới cho CNYN Việt Nam trong thời đại mới

Hiện nay, đất nước ta đang ở trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, từng bước tiến lên CNXH Để thực hiện thành công nhiệm vụ trọng đại này, một động lực quan trọng hàng đầu là phải khơi dậy và phát huy cao độ CNYN Hồ Chí Minh trong Đảng, trong các tầng lớp nhân dân và đặc biệt là trong thế hệ thanh niên

- những chủ nhân tương lai của nước nhà, những người có vai trò quan trọng quyết định sự tồn vong hay phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Nói về thanh

niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết ” Trong Di chúc, Người khẳng định: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng Xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên” [49;

612] Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của thanh niên với sự nghiệp cách mạng nước nhà, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm, chăm lo đến công tác giáo dục thanh niên, nhất là giáo dục CNYN và truyền thống cách

mạng của Đảng và dân tộc ta Đảng ta khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên [22; 538-539]

Huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh là một trong những địa phương có dân

số khá đông, trong đó thanh niên nông thôn chiếm phần lớn dân số, là lực lượng nòng cốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của cả nước nói chung Việc giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên trong những năm vừa qua đã được chú

Trang 9

trọng, giúp thanh niên xây dựng mục đích, lý tưởng đúng đắn, góp phần xây dựng quê hương giàu mạnh Tuy nhiên, do vẫn còn có nhiều hạn chế về nội dung cũng như phương pháp và hình thức giáo dục một bộ phận thanh niên chưa xác định đúng lý tưởng cách mạng, trình độ giác ngộ, tinh thần cách mạng chưa cao, một số mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, mơ hồ về sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta Cũng không ít thanh niên, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường đã suy giảm ý chí ngại khó, ngại khổ, chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ, buông thả, suy thoái về đạo đức, phai nhạt lý tưởng và lòng yêu nước

Chính vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng để đề xuất các giải pháp tích cực nhằm tăng cường giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới là việc làm vô cùng cấp thiết và quan trọng có ý nghĩa quyết định tới sự thành công hay thất bại của sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa - giáo dục tỉnh Bắc Ninh nói riêng và cách mạng xây dựng CNXH của đất nước ta nói chung Xuất phát từ những lí do

trên, tác giả chọn đề tài: “Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho

thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh hiện nay” để làm luận văn Thạc

sĩ ngành Hồ Chí Minh học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

CNYN Hồ Chí Minh cùng với việc giáo dục, chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Cho đến nay, đã có nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu về CNYN Hồ Chí Minh ở nhiều khía cạnh khác nhau Cụ thể:

2.1 Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa yêu nước, và chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh

- Phạm Văn Đồng (1988), Nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, cũng khẳng định hành trang ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành là truyền thống lịch sử hàng ngàn năm dựng

Trang 10

nước và giữ nước, với sức sống mãnh liệt của CNYN Việt Nam Đó là một nhận thức cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp ích cho mỗi người khi nghiên cứu chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

- Võ Nguyên Giáp (1997), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, khẳng định truyền thống

yêu nước của dân tộc đã phát triển thành CNYN Chính CNYN đã thúc đẩy

Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và là một trong những nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh

- Võ Nguyên Giáp (1998) Văn hóa Việt Nam – Truyền thống cốt cách dân tộc, Tạp chí Cộng sản,(số 15) Trong bài viết, tác giả đã trình bày một số

đặc điểm và nét đẹp của nền văn hoá dân tộc, trong đó, tác giả đặc biệt đề cập đến truyền thống yêu nước Việt Nam Từ đó, đi đến khẳng định truyền thống yêu nước đã được nâng tầm lên thành CNYN Việt Nam là một giá trị văn hoá sáng ngời, không thể thiếu trong văn hoá Việt Nam

- Phan Huy Lê (2000), Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Nxb

Giáo dục, Hà Nội Trong cuốn sách, tác giả tập trung nghiên cứu CNYN như một thành tố, một giá trị văn hóa, bản sắc của dân tộc Việt Nam, là cơ sở, động lực nội tại tạo nên sức mạnh Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại

- Nguyễn Mạnh Tường (2001), Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra ba đặc điểm của CNYN truyền thống là: ý chí chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, bảo

vệ văn hoá dân tộc và tư tưởng thân dân Từ đó, tác giả xem xét CNYN Hồ Chí Minh và cho rằng nội dung cơ bản của CNYN Hồ Chí Minh là sự thống nhất lập trường dân tộc và lập trường giai cấp, độc lập dân tộc và CNXH,

CNYN với chủ nghĩa quốc tế vô sản…

- Trần Xuân Trường (2001), Chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đi từ nghiên cứu CNYN

truyền thống đến CNYN Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh CNYN được

Trang 11

tác giả lý giải qua việc nêu và phân tích những nội dung về lao động, bảo vệ

Tổ quốc, chủ nghĩa quốc tế và chống chủ nghĩa cá nhân

- Nguyễn Hùng Hậu (2008), Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác giả

đã xem xét sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong bốn giai đoạn phát triển là thời Hùng Vương, thời Bắc thuộc, thời Lý Trần và thời Lê Nguyễn Ông cho rằng CNYN Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển bốn điểm tinh hoa cơ bản của CNYN truyền thống là kiên quyết đánh đuổi giặc ngoại xâm, đoàn kết toàn dân, lấy dân làm gốc và mong muốn đưa nhân dân

ra khỏi sự đau khổ một cách triệt để

- Bùi Đình Phong (2013), Phát huy chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh thời kì hội nhập quốc tế, Nxb Lao động Ở đây, tác giả đã làm rõ một số khái

niệm như tình cảm yêu nước, chủ nghĩa yêu nước, CNYN truyền thống, CNYN Hồ Chí Minh Sau đó, tác giả xem xét cơ sở hình thành và nội dung

cơ bản của CNYN Hồ Chí Minh và đặt ra yêu cầu phải phát huy ca độ CNYN

Hồ Chí Minh trong thời kì hội nhập với những nội dung mới

Các công trình nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu các nội dung, chuyên

đề riêng rẽ về tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, CNYN thống của dân tộc Việt Nam hay CNYN Hồ Chí Minh ở nhiều góc độ khác nhau,

và thường tập trung ở những vấn đề có tính lý luận chung nhất của chủ nghĩa yêu nước: chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, giáo dục CNYN Việt Nam hay giáo dục CNYN Việt Nam cho nhân dân nói chung

2.2 Những công trình nghiên cứu về giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên

- Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2000), Tài liệu giáo dục chủ nghĩa yêu nước, Nxb Giáo dục, Hà Nội đã trình bày một cách khái quát những

vấn đề chung nhất của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam như cơ sở hình thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước qua các thời kì lịch sử, trong các giai đoạn

Trang 12

khác nhau Từ những luận giải đó, các tác giả cho rằng phải phát huy cao độ CNYN Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thống nhất ý chí

và hành động, phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Nguyễn Mạnh Hưởng (2000), Giáo dục chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lý luận (số 6), Hà Nội

Bài viết nhằm mục đích giáo dục CNYN truyền thống Việt Nam cho thanh niên trong thời kì mới nhằm khơi dậy và phát huy tinh thần, nghị lực, trí tuệ, tài năng của thế hệ trẻ để tập trung phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh Tác giả cho rằng, việc giáo dục CNYN sẽ góp phần xây dựng cho thanh niên lối sống đẹp, lý tưởng cách mạng cao cả

- Bùi Đình Phong (2009), Vị trí, vai trò của phương thức giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ giáo dục thanh, thiếu niên, Tạp chí Tuyên

giáo, Số 9 Trong bài viết tác giả đã chỉ rõ và phân tích các phương pháp giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho thanh, thiếu niên, trong đó bao gồm cả các phương pháp giáo dục về CNYN cho thanh, thiếu niên

- Nguyễn Ngọc Ánh và Đàm Thế Vinh (2014), Tăng cường công tác giáo dục giá trị truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ Việt Nam theo tư tưởng

Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 216, tr 71–73, bài viết đã phân

tích tư tưởng Hồ Chí Minh về giá trị truyền thống nổi bật của dân tộc: yêu nước, bất khuất, anh hùng trong dựng nước giữ nước; hiếu học, tôn sư trọng đạo, trọng dụng hiền tài; uống nước nhớ nguồn, đoàn kết, cần cù, lao động sáng tạo; hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ trong điều kiện ngày nay: tăng cường công tác tuyên truyền; đổi mới và đa dạng các hình thức giáo dục các giá trị truyền thống; kết hợp với công tác giáo dục văn hóa ở nhà trường

Trang 13

- Hoàng Chí Bảo - Trần Thị Minh Tuyết (2014), Nghị quyết Trung ương

9 (khoá XI) với vấn đề xây dựng lòng yêu nước của con người Việt Nam trong thời kì mới, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 10/2014 Trong bài viết, các

tác giả cho rằng xây dựng lòng yêu nước con người Việt Nam xét về thực chất

là giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức, niềm tự hào dân tộc và cần phải xây dựng lòng yêu nước như một giá trị văn hoá

Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã đề cập một cách khá đầy đủ và toàn diện về CNYN Hồ Chí Minh và công tác giáo dục CNYN cho thanh niên Đây là nguồn tư liệu quý giá để tác giả tham khảo và thừa kế

có chọn lọc trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về sự giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục CNYN Hồ Chí Minh tại địa phương trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về CNYN Hồ Chí Minh và giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay

- Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh hiện nay

- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên trong huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

- Về thời gian : từ năm 2012 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thanh niên, công tác thanh niên; về CNYN và giáo dục CNYN cho thanh niên; đồng thời có sự kế thừa, vận dụng một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã được công bố

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, phương pháp hệ thống

6 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn góp phần cụ thể hóa những nội dung của CNYN Hồ Chí Minh trong thanh niên hiện nay

- Xác định nguyên nhân của những hạn chế trong giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh thời gian vừa qua

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 15

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Huyện ủy, Ban tuyên giáo, các đoàn thể chính trị - xã hội huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh về công tác tuyên giáo, giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên trên địa bàn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương, 9 tiết

Trang 16

Chương 1 CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC HỒ CHÍ MINH – KHÁI NIỆM VÀ

NỘI DUNG CƠ BẢN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Chủ nghĩa yêu nước

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học (2003): “nước”, “đất

nước”, “Tổ quốc” là một phạm trù lịch sử, là “vùng đất, trong đó những người thuộc một hay nhiều dân tộc cùng chung sống dưới một chế độ chính trị xã hội và cùng thuộc về một nhà nước nhất định [84, tr.298] Như vậy nước hay đất nước là nơi cư trú của cộng đồng người, có biên giới lãnh thổ “nhất định”,

có thiên nhiên, con người và các hoạt động lao động sản xuất cũng như các hoạt động tinh thần khác Cách giải thích này mới chỉ đề cập đến khía cạnh tình cảm của chủ nghĩa yêu nước

Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: CNYN là nguyên tắc đạo đức

và chính trị mà nội dung là tình yêu, lòng trung thành, ý thức phục vụ Tổ quốc Cùng với sự hình thành dân tộc và Nhà nước, CNYN từ chỗ chủ yếu là một trong những tâm lí xã hội đã trở thành hệ tư tưởng Nó trở thành lực lượng tinh thần vô cùng mạnh mẽ, động viên mọi người đứng lên bảo vệ Tổ quốc chống lại mọi cuộc xâm lược CNYN chân chính thể hiện lòng trung thành với Tổ quốc vì lợi ích của dân tộc, bảo vệ sự sinh tồn của dân tộc và đấu tranh cho sự phồn vinh của đất nước [51; 518] Như vậy, cũng có thể hiểu CNYN là sự phát triển đỉnh cao của lòng yêu nước, là sự kết hợp chặt chẽ giữa tình cảm yêu nước nhiệt thành và một hệ thống nhất các tư tưởng về tình yêu, lòng trung thành với Tổ quốc, ý thức phục vụ Tổ quốc Tức là, trong CNXH không chỉ có tình cảm nồng nàn mà còn có tri thức, có hệ lý luận về

lòng yêu nước và ý chí giữ nước

Trang 17

Từ điển Triết học giải thích: CNYN là nguyên tắc đạo đức và chính trị,

một tình cảm xã hội mà nội dung là tình yêu và lòng trung thành với Tổ quốc,

là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc [74; 172]

Về khái niệm “yêu nước”, theo V.I Lênin, là một trong những tình cảm sâu sắc nhất được củng cố qua hàng nghìn năm tồn tại và là tư tưởng và tình

cảm phổ quát nhất của các quốc gia trên thế giới [33; 226]

Yêu nước là tình cảm gắn bó, yêu mến tha thiết của con người đối với quê hương, xứ sở, non sông, với cộng đồng các dân tộc đã và đang cùng sinh

sống, dựng xây, bảo vệ trên phạm vi lãnh thổ, quốc gia

Tổ quốc là toàn bộ những nhân tố tự nhiên và xã hội tạo thành quốc gia hiện diện trong chiều dài lịch sử, là bờ cõi, đất đai, sông núi, không phận, hải phận, tài nguyên trên và dưới mặt đất, trong biển và dưới biển; là nhân dân cộng

đồng các dân tộc chung sống; là ngôn ngữ, văn hóa, là tổ chức kinh tế - xã hội

Trong cuốn Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, tác giả Nguyễn Mạnh

Tường cho rằng, nội dung cơ bản của CNYN truyền thống trong lịch sử là: Có tình yêu quê hương, xứ sở và sự gắn bó, cố kết cộng động; có sự khẳng định lịch sử riêng và bản sắc văn hóa riêng của dân tộc, khẳng định về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng của nước ta, vua ta đối với phương Bắc và các vua phương Bắc; khẳng định tính chính nghĩa của những cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và quyết tâm đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ; có tư tưởng coi trọng vai trò của nhân dân và thân dân trong sự nghiệp xây dựng, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc [75]

CNYN giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng đầu trong bậc thang giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, là động lực nội sinh to lớn, tạo nên sức mạnh vô địch của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đối với dân tộc Việt Nam, CNYN không chỉ là

Trang 18

tình cảm tự nhiên, mà còn là sản phẩm của lịch sử, được hun đúc bởi chính lịch sử đau thương và hào hùng của dân tộc CNYN đó không chỉ dừng lại ở những tư tưởng, tình cảm thuần túy, mà còn được biểu hiện ở những hành động thiết thực của cá nhân và cộng đồng người Nói cách khác, CNYN Việt Nam là sự thống nhất hữu cơ giữa tình cảm và lý trí, suy nghĩ và hành động, trở thành đạo lý sống của cá nhân và cộng đồng Do vậy, có thể hiểu: CNYN

là sự phát triển đến đến đỉnh cao của lòng yêu nước, là một hệ thống nhận thức, tư tưởng, tình cảm đối với đất nước, Tổ quốc, biểu thị trong tình yêu quê hương, xứ sở, tiếng nói, văn hóa; trong sự gắn bó vì những lợi ích chung của cộng đồng quốc gia – dân tộc, trong ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước

Từ đó, có thể rút ra khái niệm, CNYN là sự phát triển đến đến đỉnh cao của lòng yêu nước, là một hệ thống nhận thức, tư tưởng, tình cảm đối với đất nước, Tổ quốc, biểu thị trong tình yêu quê hương, xứ sở, tiếng nói, văn hóa; trong sự gắn bó vì những lợi ích chung của cộng đồng quốc gia – dân tộc, trong ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước

CNYN Việt Nam là một giá trị bền vững, nhân tố quan trọng hàng đầu tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần và đã trở thành truyền thống, bản lĩnh Việt Nam trong suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử; là cơ sở vững chắc gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tổng kết

lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng

vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [41; 38]

1.1.2 Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh

CNYN Hồ Chí Minh là sự phát triển đỉnh cao của CNYN Việt Nam

Trang 19

trong thời đại mới nhưng mang sắc thái, dấu ấn, diện mạo cá nhân Hồ Chí

Minh PGS.TS Bùi Đình Phong đã đưa ra khái niệm: “Chủ nghĩa yêu nước

Hồ Chí Minh là sự kết tinh lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam, một

bộ phận của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời hiện đại, cũng là một bộ phận trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh; là sự kết hợp chặt chẽ giữa tình cảm yêu nước nhiệt thành của Hồ Chí Minh với hệ thống lí luận, tư tưởng chặt chẽ và sâu sắc của Người về tinh thần yêu nước” [70; 30] Tác giả hoàn

toàn nhất trí với khái niệm CNYN Hồ Chí Minh mà PGS,TS Bùi Đình Phong

đã nêu ra

Chính sức mạnh truyền thống yêu nước của dân tộc đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Đó cũng là cơ sở dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin ánh sáng soi rọi con đường cứu nước, nâng truyền thống yêu nước của dân tộc lên một tầm cao mới, trở thành CNYN Hồ Chí Minh Mặt khác, đây cũng là một nhân tố khởi nguồn hình thành hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Sau này,

trong bài viết "Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin" (năm 1960, nhân dịp

kỷ niệm 90 Ngày sinh Lê-nin), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế thứ ba" [46; 563] Như vậy, CNYN Việt Nam là yếu tố khởi

nguồn nhưng không phải là yếu tố duy nhất kết thành CNYN Hồ Chí Minh, thành hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Nói cách khác: CNYN Hồ Chí Minh là

sự kết tinh của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân văn, khoan dung Việt Nam Song, chỉ sau khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với sự tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, mới tích hợp và phát triển lên trình độ cao - CNYN

Hồ Chí Minh Nội dung CNYN Hồ Chí Minh được mở rộng, quan hệ chặt chẽ với tinh thần quốc tế bao la, chứa đựng nội dung cách mạng và tinh thần tiến

bộ của nhân loại, mang hơi thở của thời đại

CNYN Hồ Chí Minh là một nhân tố quan trọng của CNYN Việt Nam,

là nét đặc sắc và biểu tượng cao đẹp nhất của CNYN Việt Nam CNYN trong

Trang 20

tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ, tổng hòa của tư tưởng yêu nước Việt Nam chân chính; truyền thống, tinh hoa văn hóa của dân tộc ta với hệ tư tưởng tiên tiến của giai cấp công nhân mà chủ nghĩa Mác-Lênin là đại diện Đó là sự hòa quyện giữa tư tưởng truyền thống và tư tưởng hiện đại, chứa đựng trong đó sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại

Tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, coi việc đánh đổ đế quốc, thực dân, đánh đổ ách thống trị của nước ngoài là yếu

tố hàng đầu để giải phóng dân tộc, nhưng không dừng lại ở đó, cái đích vươn tới là dân phải được tự do, ấm no, hạnh phúc Đó là lòng yêu nước chân chính, sâu sắc và triệt để, không mang tính nửa vời Một tư tưởng yêu nước như vậy tự lô-gíc và tình cảm nội tại của nó đã mang tính vô sản và mang đậm tính nhân văn CNXH sâu sắc và triệt để Điều này được thể hiện rõ trong từng lời nói, việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chính nhờ CNYN Hồ Chí Minh mà từ đầu thế kỷ XX, tinh thần yêu nước Việt Nam mới được khơi dậy thành công và toàn dân tộc Việt Nam mới được tổ chức, đoàn kết lại trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng đất nước Trên thực tế, chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh đã gắn bó chặt chẽ với tiến trình đấu tranh giải phóng đất nước và là một nhân tố tạo nên những chiến thắng trong công cuộc giành độc lập trước kia cũng như trong công cuộc chấn hưng đất nước, trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế hiện nay CNYN Hồ Chí Minh là di sản tư tưởng, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta

CNYN Hồ Chí Minh có điểm đặc sắc là nó bao la rộng khắp, gắn yêu nòi giống mình với mọi giống người trên trái đất Nghĩa là nó tô đậm tinh thần văn hóa hòa bình Yêu nước ở Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở tìm ra con đường cứu nước giành độc lập dân tộc mà còn là ý thức, khát vọng làm cho đất nước hoà bình, giàu mạnh, phồn vinh Yêu nước ở Hồ Chí Minh là gắn liền độc lập tự do của đất nước với hạnh phúc của nhân dân CNYN Hồ

Trang 21

Chí Minh hiện thân ngay cả trong những dòng đầu tiên của văn bản pháp lý

về Việt Nam, về con người Việt Nam: “Việt Nam dân chủ cộng hoà - Độc lập

tự do hạnh phúc” đến “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Độc lập tự do hạnh phúc” ngày hôm nay

CNYN Việt Nam truyền thống dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã vươn lên lập trường cách mạng của giai cấp vô sản và ngang tầm với

sự đòi hỏi của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời hiện đại, trở thành CNYN Hồ Chí Minh CNYN ấy mang tinh thần cách mạng triệt để, mang tư tưởng nhân văn sâu sắc, luôn gắn chặt yêu nước với thương dân, phấn đấu vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, đó cũng là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và CNXH

1.1.3 Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên

* Khái niệm giáo dục

Giáo dục trong tiếng Anh là “education”, đây là một từ gốc Latin được

ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere” Có nghĩa là dẫn (Ducere) con người vượt ra khỏi (Ex) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn.Từ khi ra đời giáo dục đã trở thành một yếu tố

cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội Hiện nay, nhiều cách hiểu khác nhau về “giáo dục”

Giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác;…

Giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các

Trang 22

cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách Qua những môn học trên trường, lớp, những hoạt động thực tiễn như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, tham quan… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên

Từ những quan điểm trên có thể hiểu: Giáo dục là một quá trình được

tổ chức có ý thức nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kinh nghiệm được tích luỹ trong quá trình lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ

có giáo dục mà trình độ nhận thức và cải tạo thế giới của con người ngày càng được nâng lên và không ngừng phát triển

* Khái niệm thanh niên

Thanh niên (15 – 30 tuổi) - lứa tuổi đẹp nhất của cuộc đời mỗi con người vẫn được xem là mùa xuân của nhân loại Đây là lứa tuổi đang phát triển cả về thể chất, tâm lý, tinh thần, cả về nhu cầu và tình cảm, trí tuệ và tài năng, ước mơ và lý tưởng, tư duy và tính cách Đó cũng là lứa tuổi đang ở vào thời kỳ định hướng giá trị cuộc sống và đang trưởng thành về nhân cách, thanh niên luôn là những người giàu ước mơ, hoài bão, giàu lòng nhiệt tình, hăng say, ý chí, nghị lực, luôn có nhu cầu tìm hiểu, thích khám phá, sáng tạo, giàu óc tưởng tượng, thích giao tiếp, thích tham gia các hoạt động xã hội, có nhu cầu cao về tình bạn, tình yêu nam nữ và lập gia đình Mặt khác, thanh niên ngày nay do điều kiện sinh hoạt vật chất ngày càng được nâng cao nên yếu tố sinh lý, tố chất sinh học đã phát triển chín muồi nhưng những phẩm chất xã hội thì chưa hoàn thiện, chưa ổn định vững vàng Điều đó cho thấy lứa tuổi thanh niên rất cần đến những tác động tích cực của xã hội

Tuỳ theo môi trường hoạt động và đặc điểm nghề nghiệp mà thanh niên được phân loại theo các tiêu chí khác nhau, từ đó hình thành lên nhiều nhóm thanh niên khác nhau, các đối tượng xã hội khác nhau: phân loại theo nghề nghiệp thì có thanh niên nông dân, thanh niên công nhân, thanh niên học sinh

Trang 23

- sinh viên, thanh niên trí thức; phân loại theo nhóm đặc thù có thanh niên nam nữ, thanh niên dân tộc, thanh niên tôn giáo; phân loại theo nơi cư trú thì

có thanh niên nông thôn và thanh niên đô thị Mỗi một nhóm này lại có đặc điểm nhu cầu, sở thích riêng, nguyện vọng riêng Tuy nhiên sự phân loại này chỉ mang tính tương đối, trong thực tế có nhiều đối tượng thanh niên đan xen với nhau

*Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên

Giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên chính là giáo dục ý chí quyết tâm đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc; giáo dục tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, trách nhiệm công dân để thanh niên hoàn thiện mình trở thành công dân tốt; giáo dục tinh thần lao động, thái độ lao động; giáo dục cho thanh niên về ý thức, tuân thủ luật pháp; giáo dục truyền thống cách mạng

để hình thành những phẩm chất mới, con người mới XHCN; giáo dục cho thanh niên biết sống đẹp, sống có ích, sống có lý tưởng, lòng biết ơn và tình yêu quê hương đất nước; là đưa lòng yêu thương Tổ quốc yêu thương đồng bào của Hồ Chí Minh trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ đi sau học tập

và noi theo, thanh niên trở thành người làm chủ của nước nhà, tiếp tục xây dựng đất nước trở nên giàu đẹp và văn minh

Giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên nói riêng là một việc làm rất quan trọng và cần thiết Đây là sự thực hiện điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa

“chuyên” Trong chiến lược giáo dục, Đảng ta luôn luôn quan tâm đến giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thế hệ thanh niên Đứng trước thách thức của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì công tác này càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết CNYN Hồ Chí Minh là “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” là động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc ta

Trang 24

1.2 Nội dung chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh

1.2.1 Những nội dung cơ bản của chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh

- Thứ nhất, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”- tư tưởng xuyên xuốt CNYN Hồ Chí Minh

Trong hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một chân lý bất hủ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và giá trị thời đại sâu sắc Nó không chỉ là tư tưởng mà còn là lẽ sống, là một giá trị to lớn trong học thuyết cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp vĩ đại đấu tranh vì độc lập, tự do, vì sự tồn tại và phát triển của dân tộc; đồng thời tư tưởng đó còn là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với nhân loại tiến bộ, đặc biệt đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh vì cuộc sống và hạnh phúc của mình

Độc lập dân tộc là mục tiêu cao cả, là giá trị tinh thần cao quý của người Việt Nam, là sự tập trung CNYN, ý chí tự lực tự cường Việt Nam Nhân dân Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đã từng chiến đấu với nhiều kẻ thù xâm lược tàn bạo từ nhiều phương Từ mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của biết bao thế hệ người Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì cuộc sống, vì quyền độc lập, tự do và hạnh phúc của mình; từ khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chống lại tên đế quốc đầu sỏ và hung bạo Có đặt trong cái mạch “lịch

sử - thực tiễn” ấy, chúng ta mới thấm thía hết được ý nghĩa to lớn và giá trị thực sự của tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo Hồ Chí Minh, một dân tộc độc lập là một dân tộc có quyền bình đẳng với tất cả các dân tộc khác trên thế giới, không có sự phân biệt giàu nghèo

hay chế độ chính trị Trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân

chủ cộng hòa do Người soạn thảo và tuyên đọc vào ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã trích những lời bất hủ trong Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của

Trang 25

nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa đã cho

họ quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [38; 1] Suy rộng ra câu

ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do Cũng chính bởi vậy, nên quyền dân tộc độc lập là quyền thiêng liêng được tạo dựng từ mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của biết bao thế hệ người Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì cuộc sống, vì quyền độc lập, tự do và hạnh phúc của mình

Độc lập tự do là mục tiêu bất biến trong cuộc đời Hồ Chí Minh Thật vậy, ngay từ năm 1930, Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng - cương lĩnh giải phóng đất nước đúng đắn và sáng tạo mà cốt lõi

là độc lập - tự do Tháng 5/1941, trong Hội nghị lần thứ VIII của Ban chấp

hành Trung ương Đảng, Người chỉ rõ: “Trong lúc này, quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng” [37; 230] Tháng

8/1945 trong những điều kiện thuận lợi của lịch sử, Hồ Chí Minh đúc kết ý chí

đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do của nhân dân ta bằng câu nói bất hủ: “Dù

hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành được độc lập” [30; 196] Cách mạng tháng Tám thành công, Người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng khẳng định với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [38; 3] Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

của dân tộc Việt Nam diễn ra cũng vì cái quyền “bất khả xâm phạm đó” Với tất cả sự khát khao và quyết liệt, Hồ Chí Minh đã khái quát nên thành chân lý

lớn nhất thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Tuy nhiên, đối với Hồ Chí Minh độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự, độc lập hoàn toàn, phải đảm bảo theo nguyên tắc: có chủ quyền quốc gia thực

Trang 26

sự về chính trị, kinh tế, an ninh…và toàn vẹn lãnh thổ Nước Việt Nam là của người Việt Nam; mọi vấn đề của Việt Nam phải do người Việt Nam tự giải quyết; mọi sự giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam đều được nhân dân Việt Nam ghi nhận, hoan nghênh, song nhân dân Việt Nam quyết không chấp nhận bất cứ một sự can thiệp nào Sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh tuyên bố với

thế giới: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước” [38; 522] Khi thực dân Pháp quay lại Việt Nam và quyết tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, trong Thư gửi đồng bào Nam

Bộ (6/1946), Hồ Chí Minh khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi” [38; 280] Đặc biệt, khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở

miền Nam, đồng thời sử dụng không quân và hải quân tăng cường đánh phá

miền bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đanh thép: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do” [49; 131] Lời hiệu triệu của Người

thể hiện ý chí, quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam, động viên mạnh mẽ lòng yêu nước, dũng khí cách mạng, thúc giục quân và dân cả nước vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH

Độc lập thật sự phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân Với

Hồ Chí Minh: nếu nước độc lập mà nhân dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì, dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ Trong tư tưởng của Người, độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn với thống nhất đất nước, Nam-Bắc một nhà, “Bắc-Nam xum họp xuân nào vui hơn”

Trang 27

Không có gì quý hơn độc lập tự do là chân lý chỉ ra rằng, tự ta phải cứu lấy mình, từng dân tộc phải đứng lên tự quyết định lấy vận mệnh của chính bản thân mình Một dân tộc không thể có được độc lập, tự do, nếu dân tộc ấy không tự đứng lên để giải phóng cho mình, nếu dân tộc ấy không biết tự cứu lấy mình, không có con đường đấu tranh đúng Độc lập, tự do của các quốc gia dân tộc là một giá trị cao quý và thiêng liêng, là “không có gì quý hơn”, là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của cả dân tộc, của nhân dân các quốc gia dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới

Như vậy, lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch

Hồ Chí Minh mang nội dung vô cùng sâu sắc và triệt để: Độc lập-Thống Nhất-Tự Do-dân chủ-Hạnh phúc, đó cũng là mục tiêu bất biến của cuộc đời

Hồ Chí Minh Đây cũng là nội dung xuyên suốt CNYN Hồ Chí Minh Trong thời đại Hồ Chí Minh, lý tưởng ấy đã thẩm thấu vào con tim khối óc và trong mọi hoạt động của cả dân tộc Nó đã trở thành sức mạnh Việt Nam ở thời đại mang tên Người Nó đã để lại những ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn Tóm lại, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một nội dung cơ bản, xuyên xuốt

và cũng là sức mạnh của CNYN Hồ Chí Minh

- Thứ hai, yêu nước gắn liền với yêu dân

Kế thừa truyền thống “thân dân” trong các triều đại phong kiến tiến bộ của dân tộc, tiếp thu tư tưởng cách mạng triệt để, nhân đạo cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin, với Hồ Chí Minh yêu nước trước hết là phải yêu dân, đặc biệt là nhân dân lao động; độc lập dân tộc phải gắn với no ấm, hạnh phúc của

tất cả mọi người Người từng tự đặt câu hỏi: “Yêu Tổ quốc: yêu như thế nào? Yêu là phải làm sao cho Tổ quốc giàu mạnh Muốn cho Tổ quốc giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm” [45;

400] Mà làm cho Tổ quốc giàu mạnh cũng vì nhân dân

Kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn, đến thời đại Hồ Chí Minh, Người đã nâng tư tưởng yêu nước gắn liền với yêu dân,

Trang 28

nước lấy dân làm gốc lên một tầm cao mới, vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc “Dân” trong tư tưởng của Người là toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giai tầng, giới tính, lứa tuổi, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, quý tiện, miễn là có

tinh thần yêu nước Người nói rõ: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu

tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước” [42; 264] Hồ Chí Minh

nhận ra vai trò lịch sử vô cùng to lớn của nhân dân trong mọi cuộc cách

mạng, Người khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào Thành công của Đảng ta

là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân”; “Trong cuộc kháng chiến kiến quốc lực lượng chính là ở dân” [46; 672] Cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân [39; 556] Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền

nhân dân

Yêu dân, thân dân, Hồ Chí Minh còn đặc biệt tin tưởng vào sức mạnh đoàn kết của nhân dân, Người khẳng định: trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Dễ trăm lần không dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng xong Không chỉ vậy, Hồ Chí Minh còn tin tưởng vào khả năng hướng thiện, khẳ năng hoàn thiện nhân cách của con người Vì thế người chủ trương phê bình

và tự phê bình để làm cho “cái tốt nảy nở như hoa mùa xuân còn cái xấu mất dần đi” Có dân là có tất cả đã trở thành phương pháp luận trong tư tưởng của Người Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người không chỉ tin tưởng vào sức mạnh phi thường của nhân dân mà còn tin tưởng vào cả tấm lòng yêu nước, ý chí, quyết tâm, lòng dũng cảm và sự trung thành tuyệt đối vào Đảng của nhân

dân Người khẳng định: “nhân dân ta rất anh dũng, dũng cảm, hăng hái cần

cù Từ ngày có Đảng nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng Dù khó khăn mấy nhân dân ta nhất định thắng lợi…” [49; 612] Vì

Trang 29

thế, Bác rất tôn trọng người lao động, theo Bác, tôn trọng người lao động là phải gần gũi nhân dân, hòa cùng nhân dân, không được tự tách ra khỏi dân, không được đặt mình cao hơn dân

Với Hồ Chí Minh, yêu dân không chỉ dừng lại ở lời nói mà nó còn biến thành hành động cụ thể Yêu dân, phải tìm đường cứu nước, cứu dân, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Trong sự nghiệp to lớn

ấy, Đảng và Chính phủ phải là người dẫn đường tin cậy của nhân dân Hồ Chí

Minh chỉ rõ: “Nếu không có nhân dân thì chính phủ không có đủ lực lượng Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường Vậy nên chính phủ và nhân dân phải đoàn kết một khối” [38; 64] Cũng chính vì vậy nên mối

quan hệ giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân là mối quan hệ máu thịt, không thể tách rời Muốn vậy, Người luôn đòi hỏi mỗi cán bộ của Đảng và Chính

phủ phải luôn tâm niệm: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì

có hại đến dân ta phải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [38; 65] Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được” [44; 260]

Yêu nước, thương dân là phải trung với nước, hiếu với dân, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Không những vậy, Đảng, Nhà nước và mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm giác ngộ, tập hợp, đoàn kết nhân dân lại rồi dẫn đường cho họ đi vào hoạt động cách mạng, nhằm đem lại lợi ích

thiết thực cho dân Người khẳng định: “Đảng ta là một đảng cầm quyền phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [49; 611], theo

Người ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đảng ta không còn lợi ích nào khác

Có thể nói, CNYN Hồ Chí Minh gói gọn toàn bộ trong một chữ “dân” Tất cả mọi lời nói, hành động, việc làm của Người đều muốn mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Yêu dân cũng chính là yêu nước

Trang 30

Ở Hồ Chí Minh tình cảm yêu nước kết hợp cùng với tinh thần quốc tế vô sản

đã vươn lên thành CNYN mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh

- Thứ ba, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – mục tiêu bất biến trong CNYN Hồ Chí Minh

CNYN Hồ Chí Minh có sự thống nhất hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại, giữa lòng yêu Tổ quốc chân chính với lòng yêu CNXH Lòng yêu CNXH không phải chỉ là một hình thức lý luận và tình cảm chung mà còn phải biểu hiện thành hành động đấu tranh không mệt mỏi để xây dựng thành công CNXH, làm cho đất nước ngày càng phồn vinh, nhân dân lao động ngày càng có đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được nâng cao

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra tính tất yếu sự ra đời của CNXH trong tiến trình lịch sử nhân loại Tiếp thu học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ ra CNXH là tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam Khác với con đường cứu nước của ông cha ta trong lịch

sử là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa phong kiến, khác với nhiều nhà yêu nước đương thời là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa tư bản, con đường cứu nước mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và CNXH còn bao hàm cả nội dung về sự thống nhất giữa lợi ích của Tổ quốc với lợi ích của nhân dân Nước đã độc lập thì nhân sẽ thoát khỏi ách nô lệ và

có hạnh phúc, tự do Với Người, đấu tranh vì độc lập dân tộc và CNXH cũng

là đấu tranh vì tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, bởi vì chỉ có CNXH mới đảm bảo mang được tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự cho nhân dân, và mang lại lợi ích cho Tổ quốc cũng là mang lại lợi ích cho nhân dân Do vậy, mục tiêu duy nhất đúng đắn là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH

Hồ Chí Minh cho rằng, cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN Hai giai

Trang 31

đoạn ấy không có bức tường ngăn cách, mà gắn bó chặt chẽ với nhau Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có hai nhiệm vụ chiến lược: chống thực dân xâm lược và chống địa chủ phong kiến Nhiệm vụ dân tộc và dân chủ quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên trên hết, trước hết, nhiệm vụ dân chủ cần thực hiện từng bước và phải phục tùng sự nghiệp giải phóng dân tộc Tư tưởng trên đây được Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 và Người nhấn mạnh tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VIII (khóa I) 5-1941

Hồ Chí Minh khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [46; 563], chỉ có CNXH với mục đích xóa bỏ tình trạng

bóc lột và áp bức giai cấp mới mang lại hạnh phúc cho nhân dân lao động Theo Hồ Chí Minh, CNXH là một xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày

càng tăng, tinh thần ngày càng tốt; CNXH là “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động” và

“chủ nghĩa xã hội là làm cho dân đủ ăn, đủ mặc ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ” [47; 438] CNXH là một

xã hội công bằng, là ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, ai có sức lao động mà không làm thì không hưởng, những người già, đau yếu, tàn tật và trẻ em thì xã hội và cộng đồng có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng Trong CNXH, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chính trị và kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được quan tâm và ngày một nâng cao Về mặt đối ngoại, CNXH là hòa bình, hữu nghị, làm bạn với tất cả các nước CNXH với những đặc trưng đó không chỉ bảo vệ những thành quả của độc lập dân tộc mà

cơ bản tạo nên sự phát triển mới về chất Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm cho một nền độc lập dân tộc chân chính, mới giải phóng các dân tộc một cách thực sự, hoàn toàn

Trang 32

Quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trở thành một mục tiêu quan trọng, xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả cuộc đời Người đấu tranh cũng chỉ nhằm hướng tới mục tiêu cao cả

ấy, điều đó được thể hiện trong suốt tiến trình lịch sử chống Pháp và chống

Mỹ của nhân dân ta

Trong thời kỳ 1930 - 1945, Hồ Chí Minh khẳng định sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam được thực hiện bằng con đường cách mạng vô sản:

“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [35; 9]

Trong thời kỳ 1945 - 1954, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được thể hiện ở những chủ trương, đường lối chiến lược do Hồ Chí Minh khởi xướng “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “kháng chiến đi đôi với kiến quốc”,

“kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”

Thời kỳ 1954 - 1969, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thể hiện qua chủ trương: một Đảng cộng sản lãnh đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền: xây dựng CNXH ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên CNXH Đây là một sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh

Từ sự khẳng định yêu nước gắn liền với yêu CNXH, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH là con đường phát triển duy nhất đúng đắn và tất yếu của

cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh căn dặn nhân dân: “yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mỗi ngày một ấm no thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”

[45; 401] Đó cũng là tư tưởng cốt lõi, xuyên xuốt, bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và trong CNYN Hồ Chí Minh nói riêng

- Thứ tư, yêu nước là yêu cội nguồn lịch sử, bảo tồn văn hóa dân tộc

Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là sự kết tinh của tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước

Trang 33

và giữ nước Bởi vậy, ở Hồ Chí Minh yêu nước gắn liền với việc nâng niu, giữ gìn những di sản, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bảo tồn văn hóa dân tộc mà trước hết là phải biết kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của đất nước Cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về việc kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân ái, cần cù, chăm chỉ, lạc quan yêu đời…

Theo Hồ Chí Minh, yêu nước là phải biết và yêu lịch sử dân tộc Lịch

sử dựng nước và giữ nước hơn 4000 năm của dân tộc ta là những trang vàng chói lọi, ghi lại những chiến công hiển hách của cha ông chúng ta, từ thời Hai

Bà Trưng, Lê Lợi, Quang Trung… mà chúng ta có quyền tự hào, học tập và noi theo Thấy được vai trò và ý nghĩa to lớn của lịch sử, của cội nguồn dân

tộc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” [37; 255] Người căn dăn phải học lịch sử là vì “sử dạy

cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên…”, rút ra nhiều bài học quý, trong

đó có bài học đoàn kết: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” “Việc học lịch sử làm tăng lòng yêu nước, căm thù giặc” [37;

256] Trước khi qua đời không lâu, giữa những ngày kháng chiến chống Mỹ

ác liệt, Người căn dặn: Bây giờ do cuộc chống Mỹ cứu nước của ta có vị trí rất lớn đối với thế giới, ta lại đánh thắng đế quốc Mỹ, nên càng có nhiều người nước ngoài tìm hiểu về Việt Nam Coi chừng có nhiều người Việt Nam lại không hiểu rõ lịch sử đất nước con người và những vốn quý của mình bằng người nước ngoài Cho nên Người luôn luôn lưu ý lấy tri thức lịch sử làm cơ sở để giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết, đức tính cần cù, chịu khó cho các thế hệ Nếu không am hiểu lịch sử một cách đúng đắn, không ham mê với lịch sử dân tộc thì làm sao giáo dục những truyền thống, những vốn quý báu của cha ông ta cho thế hệ trẻ

Cũng vì trân trọng truyền thống dân tộc nên khi đề ra chủ trương xây

dựng đời sống mới, Người đã lưu ý: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng

Trang 34

bỏ hết…Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước” [39; 112]

Gắn liền với việc yêu cội nguồn lịch sử, Hồ Chí Minh cũng lưu ý rằng phải biết tôn trọng nền văn hóa dân tộc Văn hóa không thể tách rời với dân tộc, văn hóa là cơ sở để phân biệt sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác, là cơ sở vững chắc để đảm bảo quyền độc lập dân tộc, Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa của mình thì sẽ dễ dàng bị mất nước Vì vậy, chúng ta phải biết trân trọng, giữ gìn, kế thừa và phát triển những truyền thống tốt đẹp, những giá trị tinh thần bền vững của văn hóa dân tộc, bao gồm văn hóa của

các tộc người trong một quốc gia đa dân tộc thống nhất Người nói: “Nghệ thuật của cha ông ta hay lắm, tốt lắm! Cố mà gìn giữ” [2; 217] Người còn nói rõ: “Làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu” [2; 83] Người coi tính dân tộc là một trong ba tính chất

của nền văn hóa cách mạng

Hồ Chí Minh đã nhiều lần phân tích rất kĩ các truyền thống tốt đẹp của dân tộc: đó là truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc; đó là sự hòa hợp giữa các dân tộc người trên cùng một lãnh thổ, đó là tinh thần yêu nước thương nòi, ý chí quật cường bất khuất, là khí phách anh hùng sẵn sàng hi sinh quên mình vì nước; đó là tinh thần cộng đồng, tinh thần nhân nghĩa, tinh thần lao động cần cù dũng cảm; đó là tinh thần cần kiệm trong sinh hoạt, giản dị trong lối sống, tế nhị trong cư xử… Người nêu rõ quan điểm:

“Những người cộng sản chúng ta rất quý cổ điển: có nhiều dòng suối tiến bộ chảy ra từ ngọn nguồn cổ điển đó Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông” [50; 421]

Những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đã được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của cả dân tộc, đã kết tinh và trở thành những giá trị tinh thần bền vững, nó không chỉ có ý nghĩa đối với các thời kì lịch sử đã qua mà còn có ý nghĩa to lớn trong giai đoạn cách mạng

Trang 35

hiện nay cũng như mãi mãi về sau này Dù đất nước ta có phát triển đến đâu

đi chăng nữa thì truyền thống văn hóa tốt đẹp của cả dân tộc vẫn mãi được tôn trọng, giữ gìn và tiếp tục được thế hệ sau phát triển trong công cuộc xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh, văn minh

- Thứ năm, yêu nước phải gắn với thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

So với CNYN truyền thống thì đây là nội dung hết sức mới mẻ và mang đậm dấu ấn của Hồ Chí Minh Theo Hồ Chí Minh, yêu nước phải được thể hiện thành hành động cụ thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc để động viên toàn dân, toàn quân hăng hái thi đua sản xuất, đánh giặc,

học tập, công tác để đưa kháng chiến đến thắng lợi

Tiếp thu sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thi đua XHCN, thấu hiểu truyền thống yêu nước của nhân dân, Hồ Chí Minh phát động phong trào thi đua yêu nước trên cơ sở lấy tinh thần yêu nước làm gốc Xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nên thi đua là động lực, là phát huy nội lực của toàn dân, thi đua là quy tụ sức mạnh của dân tộc Thi đua là một đặc trưng nổi bật của sự vận động phát triển trong một xã hội mà nhân dân lao động làm chủ Thi đua là khơi dậy trong mỗi cá nhân, mỗi tập thể và toàn xã hội tính chủ động, tích cực, sáng tạo Thi đua là khơi dậy trong mỗi cá nhân, mỗi tập thể và toàn xã hội tính chủ động, tích cực, sáng tạo

“Yêu nước” là một khái niệm rộng và bao quát, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận khái niệm “yêu nước” với tư tưởng hết sức tiến bộ, giản

dị và dễ hiểu: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” [41; 407] Để giải thích cho

luận điểm “thi đua là yêu nước”, Người chỉ rõ:

Thi đua là một cách yêu nước thiết thực và tích cực Các chiến sĩ thi đua đều tăng năng suất từ gấp rưỡi trở lên Nếu ta cứ tính đổ đồng mỗi chiến

Trang 36

sĩ đều tăng năng suất gấp đôi, nếu tất cả những người lao động nước ta - bộ đội, công, nông, lao động trí óc - đều thi đua và đều tăng năng suất gấp đôi, thì kết quả sẽ thế nào? Kết quả là lực lượng của ta về mọi mặt đều tăng gấp đôi Ta sẽ diệt giặc gấp đôi, thắng lợi gấp đôi Kết quả là kháng chiến sẽ thắng lợi gấp đôi, kiến quốc sẽ thành công gấp đôi Kết quả là dân giàu nước mạnh [41; 406]

Hồ Chí Minh chỉ rõ: thi đua của chúng ta là thi đua với tinh thần giác ngộ XHCN, thi đua chẳng những bồi dưỡng tinh thần đoàn kết và tinh thần yêu nước của dân tộc ta mà còn làm cho nhân dân ta đoàn kết với nhân dân lao động thế giới Thi đua góp phần cải tạo con người, là cách tốt nhất, thiết thực nhất để giúp con người tiến bộ Thi đua làm hạn chế mặt xấu và làm tăng mặt tốt, mặt tích cực trong mỗi con người Thi đua yêu nước là lợi cho mình, cho gia đình và lợi cho làng cho nước, cho dân tộc Người nói: tất cả mọi ngành muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn làm cho dân giàu, nước mạnh thì phải thi đua

Tuy nhiên phong trào thi đua ái quốc phải có mục tiêu rõ ràng là nâng cao lòng nồng nàn yêu nước, ý thức giác ngộ chính trị của mọi người và phải

có kế hoạch tỉ mỉ, nội dung thi đua phải thiết thực, đúng mức; phong trào thi đua phải được tổ chức tốt, có trọng tâm, trọng điểm, có những mục tiêu riêng

để đáp ứng nhiệm vụ chính trị cho từng thời gian, từng giai đoạn của cách mạng, tránh rập khuôn máy móc, thiếu linh hoạt, không phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể

Trong quá trình thi đua, Hồ Chí Minh rất coi trọng việc rút kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm cùng với đó là công tác tổng kết khen thưởng Người viết: Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng Chính trên nền tảng của phong trào thi đua yêu nước sôi nổi mới có thể lựa chọn những cá nhân, tập thể tiêu biểu nhất, xứng đáng nhất, đầy đủ và kịp thời nhất cho việc khen thưởng Người chỉ rõ: Thi đua thì

Trang 37

phải khen thưởng, khen thưởng để đẩy mạnh thi đua Thi đua và khen thưởng

bổ sung, hỗ trợ cho nhau và phải luôn gắn bó với nhau Người còn nói rõ là kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến trường kì, toàn dân và toàn diện nên

thi đua cũng phải trường kì, toàn dân và toàn diện Người viết: “Ta phải thi đua để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công” [40; 169] Thi đua yêu

nước không bó hẹp trong một cơ quan, một địa phương, một ngành, một nước

mà còn mở rộng ra trên phạm vi quốc tế Người viết: “Thi đua chẳng những bồi dưỡng tinh thần đoàn kết và tinh thần yêu nước của dân tộc ta, mà lại làm cho nhân dân ta đoàn kết với nhân dân lao động thế giới [41; 407] Để đấy

mạnh, phát triển phong trào thi đua rộng khắp hơn nữa, Người căn dặn:

“Chúng ta phải chống bệnh quan liêu, chống nạn tham ô, lãng phí Vì bệnh quan liêu sẽ ngăn trở phong trào thi đua, làm nó chậm tiến và nạn tham ô, lãng phí sẽ làm giảm bớt những phong trào thi đua” [41; 409]

Hồ Chí Minh chỉ rõ thi đua là nhằm mục đích “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc và tiến lên chủ nghĩa xã hội” [39; 557] Thi

đua yêu nước không chỉ tạo ra khí thế và tinh thần dân tộc cao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước mà còn đấy cao vị thế của đất nước với cộng đồng thế giới Phong trào yêu nước mà Hồ Chí Minh phát động và lãnh đạo là biểu hiện tập trung của ý thức yêu nước đã thâm nhập vào quần chúng

và biến thành sức mạnh của dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Ngày nay, trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta chủ trương nhân rộng phong trào thi đua yêu nước hơn nữa trong toàn dân nhằm tạo ra nguồn động lực mới thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.2.2 Mục đích giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh

Nắm vững quan điểm phát triển không ngừng của cách mạng và về vai trò của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vai trò của thanh niên và

Trang 38

chăm lo công tác giáo dục cho thanh niên Người luôn luôn khẳng định: vận mệnh dân tộc, tương lai của đất nước tùy thuộc vào ý chí, nghị lực của thanh

niên Trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường (9/1945), Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [38; 35] Người chỉ rõ: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, trong Thư gửi các bạn thanh niên năm 1947 một lần nữa Người khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do thanh niên” [39; 216]

Xuất phát từ vai trò “rường cột” vô cùng quan trọng của thanh niên đối với vận mệnh của dân tộc, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chú trọng công tác giáo dục cho thanh niên Tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III

toàn miền Bắc, năm 1958, Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì sự nghiệp 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [45; 528], coi việc

giáo dục đào tạo con người là một trọng tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, là

quốc sách phát triển đất nước Ngay cả trong bản Di chúc Người để lại cho toàn Đảng toàn dân, Người cũng căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết” [49; 612]

Như vậy, mục đích giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên là để vun đắp tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc, định hướng cho thanh niên những giá trị đạo đức mới - đạo đức XHCN, xây dựng định hướng chính trị đúng đắn cho thanh niên - những người chủ tương lai của nước nhà; đào tạo lên thế hệ thanh niên kế tục sự nghiệp cách mạng phát triển toàn diện

cả nhân cách và năng lực, đủ đức, đủ tài, vừa “hồng” vừa “chuyên” đúng như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ đó, thanh niên tự ý thức được vị trí, vai trò của mình đối với xã hội, tiến lên xây dựng thành công CNXH, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Trang 39

1.2.3 Nguyên tắc giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh

Để đạt được mục đích đã đề ra, giáo dục CNYN Hồ Chí Minh phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Cụ thể:

Thứ nhất, giáo dục phù hợp với đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã xác định học sinh (người học) là trung tâm của quá trình giáo dục, do đó Người luôn yêu cầu giáo dục phải dựa trên năng lực, điều kiện và trình độ của người học Để nâng cao hiệu quả, chất lượng, giáo dục phải căn cứ vào đối tượng người học mà truyền đạt nội dung và bổ

sung cách thức giáo dục cho phù hợp Người căn dặn: “Bất kỳ việc to, việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng” [39; 288] Người còn yêu cầu giáo viên phải căn

cứ vào trình độ, năng lực người học, bậc học để truyền tải những nội dung khác nhau cho phù hợp

Bên cạnh đó, giáo dục còn phải tìm hiểu điều kiện, hoàn cảnh của cả người dạy lẫn người học để định phương pháp dạy học phù hợp, phải tùy hoàn cảnh làm ăn mà tổ chức học mới duy trì được lâu dài, mới có kết quả Không những chú ý đến đối tượng và điều kiện cụ thể của người học, Hồ Chí Minh còn cho rằng, việc dạy học phải chú ý đến tâm lý người học, coi đó là một cách thức tạo nên sự hứng thú để người học có thể tiếp thu kiến thức dễ dàng, tự nhiên mà không cảm thấy bị gò ép Khi phân tích việc giáo dục thanh

niên, Hồ Chí Minh đã nói: “Thanh niên chuyên tâm học hành và công tác nhưng cũng cần có vui chơi Vui chơi lành mạnh là một bộ phận trong sinh hoạt của thanh niên… trong vui chơi cũng có giáo dục Cần có thứ vui chơi văn hóa” [43; 266]

Như vậy, để đạt hiệu quả trong giáo dục, đòi hỏi giáo viên phải xác định rõ đối tượng, điều kiện hoàn cảnh của người học, phải có tầm nhìn sâu sắc, nhạy bén có phương pháp linh hoạt, mềm dẻo phù hợp Có như vậy mới

Trang 40

phát huy hết khả năng của người người thầy và khơi dậy được toàn bộ tiềm

năng trí tuệ của người học

Thứ hai, giáo dục gắn với thực tiễn cuộc sống, học đi đôi với hành

Để đào tạo nên những người tài đức đáp ứng công cuộc kiến thiết nước

nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Cần nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nhà trường, thực hiện tốt phương châm nhà trường gắn với

xã hội, học đi đôi với hành” [48; 746] Quan điểm này của Người có ý nghĩa

hết sức to lớn trong việc hoạch định các chương trình giáo dục, mục đích đào tạo, nội dung chương trình giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên

Năm 1950, khi nói chuyện tại Hội nghị toàn quốc lần thứ I về công tác huấn luyện và học tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích hết sức cụ thể và

thuyết phục về mối quan hệ giữa học và hành Người khẳng định: “Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích Hành mà không học thì không trôi chảy” [40; 361] Cũng đề cập về việc học đi đôi với hành, đối với các cháu học sinh Người khuyên bảo: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành Học với hành phải kết hợp với nhau” [48; 402]

Nguyên tắc gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, học tập gắn liền với thực hành, sản xuất của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt là cho công tác giáo dục CNYN Hồ Chí Minh cho thanh niên Bởi sự kết hợp giữa lao động, sản xuất với học tập không chỉ trang bị cho người học những kiến thức

cơ bản mà còn đào tạo họ thành những con người có đức tính cần cù, siêng năng, hăng hái tham gia thực hiện “đời sống mới” và xây dựng xã hội mới

Thứ ba, giáo dục gắn với nêu gương, kết hợp giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội

Nêu gương là một trong những nguyên tắc giáo dục mang lại hiệu quả

cao, xuất phát từ những ưu việt của nó Hồ Chí Minh khẳng định: “Lấy gương người tốt việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w