Luận văn này sẽ tập trung làm rõ những đặc điểm, yêu cầu đối với mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng phát thanh, yêu cầu về quy trình tạo lập, xây dựng mô hình thông tin tư vấn,
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
GÓP PHẦN HOÀN THIỆN MÔ HÌNH THÔNG TIN TƯ VẤN VÀ CHỈ DẪN TRÊN SÓNG VOV2 – ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
(Khảo sát chương trình “Eva làm mẹ”;“Chuyện thầm kín”;
“Hành trang trẻ” năm 2017)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
GÓP PHẦN HOÀN THIỆN MÔ HÌNH THÔNG TIN TƯ VẤN VÀ CHỈ DẪN TRÊN SÓNG VOV2 – ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
(Khảo sát chương trình “Eva làm mẹ”;“Chuyện thầm kín”;
“Hành trang trẻ” năm 2017)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐINH THỊ THU HẰNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3luận văn Thạc sĩ
Hà Nội, ngày…….tháng…….năm 2019
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn tận tình, tâm huyết của PGS.TS Đinh Thị Thu Hằng Các thông tin trong luận văn được thu thập, nghiên cứu một cách nghiêm túc, cẩn thận Những kết luận của luận văn này cũng chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Hà Nội,ngày… tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Thảo
Trang 5Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Đinh Thị Thu Hằng – người đã động viên, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, các phóng viên, biên tập viên của Ban Văn hóa – Xã hội VOV2 – Đài Tiếng Nói Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi có thêm những thông tin, tư liệu để thực hiện luận văn này Cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp Kênh Sức khỏe và An toàn thực phẩm đã nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành csảm ơn Hội đồng bảo vệ luận văn đã dành thời gian đọc luận văn này Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong Hội đồng bảo vệ luận văn giúp đỡ, chỉ giáo thêm
Hà Nội, ngày… tháng năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Phương Thảo
Trang 6MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH THÔNG TIN TƯ VẤN, CHỈ DẪN TRÊN BÁO PHÁT THANH 11
1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 11
1.2 Đặc điểm của thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh 20
1.3 Xây dựng mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh 24
Chương 2: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH THÔNG TIN TƯ VẤN, CHỈ DẪN TRÊN SÓNG VOV2 – ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 39
2.1 Giới thiệu về các chương trình thuộc diện khảo sát 39
2.2 Khảo sát mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam 41
2.3 Đánh giá thành công, hạn chế của mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam 78
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN MÔ HÌNH THÔNG TIN TƯ VẤN, CHỈ DẪN TRÊN SÓNG VOV2 – ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 88
3.1 Một số vấn đề đặt ra với mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2 hiện nay 88
3.2 Giải pháp góp phần hoàn thiện mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam 95
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 114
Trang 7Hình 1.1 Mô hình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn 25 Hình 2.1 2 MC chương trình với vai là Bố Tôm, Mẹ Tép, họ là các BTV Quyết
Thắng và Phương Thảo 40
Hình 2.2 Ảnh chụp màn hình livestream chương trình “Chuyện thầm kín” chủ
đề “Yêu xa – làm sao giải tỏa” 44
Hình 2.3: Hình ảnh trang web của VOV2- Đài Tiếng nói Việt Nam 53 Hình 2.4: Nhiều thính giả đặt câu hỏi thắc mắc nhưng 2 tuần sau vẫn chưa được
quản trị trang fanpage trả lời 76
Hình 2.5: Nhiều thính giả quan tâm tham gia khảo sát trước khi lên sóng chương
trình “Chuyện thầm kín” trên fanpage VOV2 FM 96,5 82
Biều đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện nhu cầu chia sẻ, tâm sự của thính giả khi gọi điện
đến chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn 59
Biểu đồ 2.2: Thính giả liên hệ lại sau khi chương trình được phát sóng 74 Biểu đồ 2.3: Hình thức liên hệ của thính giả với các chương trình phát thanh 75
Bảng 2.1: Tỉ lệ đánh giá về chuyên gia trong các chương trình tư vấn, chỉ dẫn
trong diện khảo sát 52
Bảng 2.2: Ý kiến của thính giả về MC các chương trình phát thanh tư vấn,
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong dòng chảy thông tin thời hiện đại cùng sự thay đổi trong nhu cầu tiếp cận, tiếp nhận của công chúng, xu hướng phát triển báo chí theo hướng phi đại chúng hóa Tức là tính chuyên biệt trong truyền thông và đối tượng thính giả được chú trọng hơn Giờ đây, các sản phẩm của truyền thông đại chúng nói chung và báo chí nói riêng đều đã hướng tới cân bằng giữa tin tức, sự kiện với thông tin tư vấn, chỉ dẫn Điển hình có thể kể đến như sự ra đời của các Kênh truyền hình chuyên biệt cho giới trẻ, nam giới hoặc chuyên về tin tức chính luận; Kênh phát thanh chuyên biệt về sức khỏe và an toàn thực phẩm– VOVFm89; Kênh phát thanh chuyên biệt về sức khỏe JoyFm; Kênh VOV giao thông… kéo theo đó là nhiều bản tin, chuyên mục, phóng sự, các chất liệu trong nhiều sản phẩm báo chí đều không ít thì nhiều mang tính chất tư vấn, chỉ dẫn
Ở một bình diện khác, công chúng ngày càng nảy sinh những nhu cầu mới, đa dạng hơn cùng nhiều kênh tiếp nhận khác nhau, trong đó thông tin là nhu cầu nổi bật và ngày càng gia tăng, thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên nhiều lĩnh vực lại càng được ưu tiên Vậy nên, trong môi trường truyền thông hiện đại, báo chí cần nắm được những xu hướng, nhu cầu của công chúng, từ đó phát huy tốt hơn nữa chức năng thông tin, giáo dục, phổ biến kiến thức nhằm thực hiện chức năng định hướng thông tin trong xã hội
Thể loại báo Phát thanh vẫn đã và đang khẳng định vai trò không thể thiếu trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin tư vấn, chỉ dân về mọi mặt của công chúng Giữa muôn vàn kênh và hình thức truyền thông đại chúng thì phát thanh vẫn là lựa chọn tối ưu giúp truyền tải những nội dung mang tính chất thân mật, gần gũi, riêng tư, cảm xúc Bên cạnh đó, dù phát thanh cũng là một phương tiện truyền thông đại chúng hướng tới đông đảo công chúng nhưng cách thức tác động lại như đang hướng tới một người với sự nhẹ nhàng, gần gũi như đang trò chuyện, tâm sự
Trang 9Thế nhưng, tư vấn, chỉ dẫn thế nào để đáp ứng tối đa nhu cầu của công chúng, đạt hiệu quả truyền thông cao vẫn là bài toán đang đặt ra với báo chí nói chung và phát thanh nói riêng Nhiều tác phẩm báo chí chưa thực sự thể hiện tính chất gần gũi với công chúng bằng những thông tin tư vấn, chỉ dẫn mà chỉ cung cấp thông tin, sự kiện thời sự đơn thuần Có những nơi đã có tính chất tư vấn, chỉ dẫn nhưng lại không đồng đều, từ đó khó có được lượng công chúng trung thành lâu dài
Ban VH – XH VOV2 (Đài Tiếng nói Việt Nam) là một trong những đơn
vị đã và đang tiếp tục giải quyết bài toán xây dựng và duy trì mô hình thông tin
tư vấn, chỉ dẫn với mục tiêu có nội dung thiết thực với thính giả, hình thức thể hiện sinh động, gần gũi với đời sống VOV2 đã đưa lên sóng khung chương trình mới vào tháng 4/ 2016 với việc ra mắt một lúc nhiều chương trình mới như:
“Chuyện thầm kín”, “Eva làm mẹ”, “Thực khách thông thái”, “Chuyến đi kỳ thú”, “Sống cùng biển”, “Sống an toàn”, phát sóng theo phương thức phát thanh hiện đại, thông tin trực tiếp, thiết thực, tập trung vào tư vấn, chỉ dẫn và giải trí Như vậy để thấy, VOV2 là kênh phát thanh luôn có sự đổi mới, thường xuyên tìm tòi, thay đổi để đáp ứng nhu cầu của thính giả và sự phát triển tất yếu của báo chí hiện đại
Luận văn này sẽ tập trung làm rõ những đặc điểm, yêu cầu đối với mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng phát thanh, yêu cầu về quy trình tạo lập, xây dựng mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn; khảo sát những mặt đã làm được hay còn tồn tại với các chương trình trên kênh sóng Hệ VOV2; cuối cùng từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn giúp phát thanh trở thành “người bạn tâm giao” không thể thiếu của thính giả, phát huy thế mạnh về tính riêng tư, thân mật, gần gũi với thính giả của loại hình này
Luận văn cũng mong muốn đóng góp một cách nhìn tổng thể, toàn diện nhưng chi tiết, sâu sắc hơn để giúp nâng cao hiệu quả mô hình thông tin tư vấn,
Trang 10chỉ dẫn trên sóng VOV2, trên sóng phát thanh nói riêng và báo chí Việt Nam nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy, mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh là một xu hướng truyền thông hiện đại Xu hướng này cũng mới phát triển ở nước ta vài năm gần đây, vì thế việc tìm hiểu, nghiên cứu về dạng thức này trên báo chí vẫn còn hạn chế Riêng về công trình nghiên cứu về mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam thì hiện tại chưa có luận văn thạc sĩ nào đề cập một cách toàn diện, đầy đủ, sâu sắc
Tuy nhiên, liên quan đến nội dung khảo cứu của đề tài có một số công trình đáng quan tâm như công trình của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (2012),
Thông tin chỉ dẫn tiêu dùng trên truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình
Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tuy nhiên luận văn này mới chỉ đưa ra những đánh giá cho các chương trình có nội dung thông tin tư vấn, chỉ dẫn về tiêu dùng trên truyền hình và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của những chương trình có tính thông tin chỉ dẫn về tiêu dùng trên truyền hình
Bên cạnh đó, có Luận văn Thạc sĩ của tác giả Dương Thị Bảo Ngọc (năm
2012) về Xây dựng kênh thông tin chỉ dẫn trên sóng phát thanh, Luận văn Thạc
sĩ Báo chí học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội nghiên cứu về thông tin chỉ dẫn xã hội nói chung trên sóng phát thanh Luận văn cũng phân tích thông tin chỉ dẫn gắn với đặc trưng loại hình phát thanh Tuy nhiên, luận văn này chưa đi sâu nghiên cứu về những yêu cầu đối với chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn dành cho một đối tượng chuyên biệt, chưa phân tích những yêu cầu đối với quy trình sản xuất, nội dung, hình thức một chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn
Ngoài ra, đã có một công trình nghiên cứu khoa học Thạc sĩ báo chí học
của tác giả Bùi Thị Thu Thủy (năm 2010) về nội dung Thông tin sức khỏe trên
Trang 11báo chí Việt Nam hiện nay ở trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận
văn có khảo sát nội dung thông tin về sức khỏe trên báo Sức khỏe và Đời sống
và Kênh truyền hình O2TV Tác giả Đinh Thu Hiền cũng nghiên cứu đề tài
Dòng tạp chí chỉ dẫn – giải trí ở Việt Nam – hiệu quả và bất cập cũng mới đề
cập khái niệm dòng tạp chí chỉ dẫn, giải trí, cách tổ chức hoạt động, hiệu quả, bất cập… song đi sâu về thể loại tạp chí và dòng tạp chí chỉ dẫn giải trí
Tác giả Lê Thị Ngọc Thanh Hoa có công trình nghiên cứu khoa học Thạc
sĩ báo chí học năm 2013 với đề tài “Tính tương tác trong các chương trình phát
thanh Xone FM, Âm nhạc với bạn và tôi” Luận văn đã hệ thống hóa lý luận cơ
bản về phát thanh và tương tác trên sóng phát thanh (một trong những yếu tố chính trong các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn) Tuy nhiên, tác giả luận văn mới chỉ đi sâu vào vao trò của tương tác đối với hiệu quả chương trình phát thanh và thính giả nghe đài
Bàn về một đặc điểm của chương trình phát thanh – truyền hình hiện nay
là hoạt động tương tác Tác giả Nguyễn Thị Thu Trà có nghiên cứu sâu về hoạt
động này trong Luận văn Báo chí học “Hoạt động tương tác trong các chương
trình truyền hình trên Kênh VTV6” Qua Luận văn này, tác giả phân tích thực
trạng hoạt động tương tác trong các chương trình truyền hình trên kênh VTV6,
từ đó đề xuất một số giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động tương tác trên truyền hình Tuy nhiên, đó mới chỉ là một yếu tố góp phần xây dựng sự hấp dẫn của các chương trình phát thanh – truyền hình, chưa phải là yếu tố chính tạo nên thành công của chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn
Về thông tin tư vấn, chỉ dẫn thì hiện cũng có tác giả Trần Thị Thảo nghiên
cứu Luận văn Báo chí học với đề tài “Vấn đề thông tin tư vấn, chỉ dẫn an toàn
thực phẩm trên báo chí việt nam” Tuy nhiên, tác giả mới đưa ra đặc điểm nội
dung, cách thức thể hiện thông tin tư vấn, chỉ dẫn về an toàn thực phẩm trên các loại hình báo chí Việt Nam hiện nay và đã rút ra những kết luận và khuyến nghị giải pháp tăng hiệu quả của thông tin tư vấn, chỉ dẫn an toàn thực phẩm trên báo
Trang 12chí Việt Nam Như vậy, nội dung mới gói gọn trong lĩnh vực về an toàn thực phẩm trên nhiều loại hình báo chí nước ta hiện nay
Về tính thân mật, gần gũi trong các chương trình phát thanh tư vấn, giải
đáp, tác giả Lê Tuấn Anh đã có công trình nghiên cứu với đề tài “tính thân mật,
gần gũi trong các chương trình phát thanh tư vấn, giải đáp” Qua đó, tác giả đã
phân tích thực trạng tính thân mật, gần gũi trong các chương trình phát thanh tư vấn, giải đáp và đưa ra giải pháp nhằm phát huy tính thân mật, gần gũi trong chương trình phát thanh tư vấn, giải đáp ở Đài TNVN hiện nay Tuy nhiên, tác giả Lê Tuấn Anh mới phân tích một tính chất của thông tin trong chương trình tư vấn, giải đáp chứ chưa đưa ra được mô hình thông tin ngay từ trước khi phát sóng đến trong khi phát và sau khi phát sóng
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những nền tảng lý luận chung về báo chí, truyền thông đã có và từ thực tiễn trong hoạt động báo chí của bản thân, tác giả chọn đề tài này với mong muốn có sự nghiên cứu, tìm hiểu một cách nghiêm túc
về lý luận và tiến hành khảo sát trong thực tiễn về thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên
Hệ VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam để góp phần hoàn thiện mô hình thông tin
tư vấn, chỉ dẫn trên Hệ VOV2 nói riêng và phát thanh Việt Nam nói chung
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ thực trạng của mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn hiện nay, phân tích thành công, hạn chế, mâu thuẫn, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, góp phần hoàn thiện mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng phát thanh hiện nay
Để đạt được mục đích trên, tác giả cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Xác định cơ sở lý thuyết về mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh
- Khảo sát, phân tích mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn tiêu biểu trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam, chỉ ra những điểm mạnh, những hạn chế còn tồn tại
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện mô hình thông tin
tư vấn, chỉ dẫn, đáp ứng nhu cầu của công chúng trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2 hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là 3 chương trình phát thanh tư vấn, chỉ
dẫn tiêu biểu trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam đó là chương trình
“Eva làm mẹ”; “Chuyện thầm kín”; “Hành trang trẻ” Đây là 3 chương trình tác động vào những nhóm đối tượng khác nhau, thính giả chính của 3 chương trình cũng ở những lứa tuổi khác nhau Ngoài ra, đây là 3 chương trình được Ban Văn hóa – xã hội VOV2 triển khai thực hiện từ năm 2014 theo hướng đẩy mạnh thông tin tư vấn, chỉ dẫn Về phương thức thực hiện, 3 chương trình có những phương thức thực hiện khác nhau, tác giả muốn lựa chọn để so sánh, làm nổi bật được những cách sản xuất khác nhau trong mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn
Ngày 4/1 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 03/2018/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam Theo đó Hệ Văn hóa – Đời sống – Khoa giáo – VOV2 là một đơn vị thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam với tên gọi mới theo cơ cấu
tổ chức là Ban Văn hóa – Xã hội VOV2
- Các thính giả theo dõi các chương trình tư vấn, chỉ dẫn của VOV2 nói chung và 3 chương trình được chọn khảo sát nói riêng
- Các phóng viên, biên tập viên trong ekip thực hiện các chương trình được chọn khảo sát
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của học thuyết Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí; đường lối, chủ trương, chính sách
Trang 14của Đảng, Nhà nước về vai trò, tính chất và nhiệm vụ của báo chí nói chung và trong nhiệm vụ thông tin nói riêng
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý thuyết chung về báo chí – truyền thông được nêu trong giáo trình Cơ sở lý luận báo chí (Nguyễn Văn Dững, NXB Lao động, 2013) của Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trong đó, đề cập vai trò, chức năng của báo chí, các nguyên tắc hoạt động báo chí, quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí, các vấn đề liên quan công chúng báo chí
Luận văn cũng được nghiên cứu dựa trên lý thuyết can thiệp xã hội của truyền thông đại chúng Trong đó, thông qua cung cấp thông tin và chia sẻ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, báo chí – truyền thông góp phần làm giàu thêm hiểu biết, nhận thức của công chúng, từ đó tác động vào ý thức làm thay đổi nhận thức của cộng đồng, dẫn tới thay đổi thái độ, hành vi xã hội
Luận văn cũng dựa trên lý luận Báo phát thanh hiện đại trong đó có khái niệm, đặc điểm, quy trình sáng tạo tác phẩm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tài liệu: Thông qua việc tìm kiếm và tập hợp tài liệu từ
nhiều nguồn khác nhau, tác giả làm rõ lý luận về vai trò, đặc điểm của tư vấn, chỉ dẫn trên sóng phát thanh, các yêu cầu về nội dung, hình thức của mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng phát thanh Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 1 – chương tạo lập cơ sở thực tiễn và lý luận, làm điểm tựa để khảo sát trong chương 2 và 3
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): phương pháp này được
sử dụng nhằm mục đích thu nhận các nhận xét, đánh giá và nhu cầu của thính giả trong việc đón nhận các thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng phát thanh Đồng thời tìm hiểu thực trạng sản xuất các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn hiện nay Phương pháp này phục vụ nội dung chương 2 Tác giả thực hiện khảo sát với 150 phiếu phát ra, thu về 150 phiếu với các thính giả ở thành phố Hà Nội và
Trang 15thành phố Thái Nguyên Thính giả ở các độ tuổi khác nhau, học vấn và ngành nghề khác nhau
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả chọn phỏng vấn sâu mỗi chương
trình 1 đến 2 phóng viên, biên tập viên trực tiếp sản xuất 3 chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn được chọn để thu thập thông tin về quy trình sản xuất các chương trình Tổng số phóng viên, biên tập viên tham gia phỏng vấn là 5 người Tác giả cũng phỏng vấn sâu 2 Lãnh đạo Ban VH-XH về tầm quan trọng của thông tin tư vấn, chỉ dẫn, những yêu cầu đối với mô hình thông tin này Tác giả cũng thực hiện phỏng vấn 2 nhóm thính giả (mỗi nhóm 5-6 người) để hỏi về hiệu quả tư vấn, chỉ dẫn của những chương trình thuộc diện khảo sát
- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp này để làm nổi
bật lên những ưu việt của các chương trình phát thanh chuyên biệt tư vấn, chỉ dẫn hoặc có yếu tố tư vấn, chỉ dẫn; Thực trạng chất lượng của các chương trình thông tin tư vấn, chỉ dẫn so với mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn đã được xây dựng trong khung lý thuyết
- Phương pháp thực địa: Tác giả sử dụng phương pháp này khi tham gia
trực tiếp vào quá trình thực hiện các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn thuộc diện khảo sát trên sóng VOV2 Từ đó, có thể cảm nhận được sức hấp dẫn của một chương trình tư vấn, chỉ dẫn, quan sát kỹ hơn sự tương tác được thể hiện trong chương trình giữa người dẫn chương trình với khách mời, khách mời với thính giả Tác giả cũng nắm được lượng thính giả muốn tham gia giao lưu, tương tác và mong muốn được tư vấn trong các chương trình
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Vấn đề xây dựng mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn, dành cho đối tượng chuyên biệt trên sóng phát thanh hoặc chương trình phát thanh có yếu tố tư vấn chỉ dẫn chính là điều làm nên sự khác biệt và là thế mạnh của phát thanh, bởi vậy mà đã được biết đến và thực hiện nhiều trên thực tế Tuy nhiên, chưa
có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, tổng kết thực tiễn để đúc rút
Trang 16thành lý luận Đây chính là trở ngại cho việc nghiên cứu, học tập và phát triển hình thức này theo hướng chuyên nghiệp hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công chúng
Với đề tài này, từ việc tìm hiểu, phân tích thực trạng, tác giả sẽ đưa ra những căn cứ xác đáng mang tính khoa học về vấn đề mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh, những ưu điểm, hạn chế và khả năng phát triển của
mô hình dạng như thế này trong tương lai ở Việt Nam
Đối với công tác nghiên cứu, giảng dạy báo chí nói chung và báo phát thanh ở Việt Nam nói riêng, các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng sẽ là những tài liệu tham khảo hữu ích cả về lý luận lẫn thực tiễn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Trong luận văn, tác giả có mạnh dạn đề xuất một số phương pháp góp phần hoàn thiện mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh, nâng cao chất lượng, hình thức của các chương trình phát thanh tư vấn chỉ dẫn, mong muốn nâng cao hiệu quả của hình thức này trong phát thanh trở nên chuyên nghiệp hơn Đây có thể sẽ là tài liệu hữu ích cho các nhà lãnh đạo cơ quan báo chí và các nhà báo
- Luận văn cũng sẽ là tài liệu giúp người làm chương trình phát thanh ở Đài Tiếng nói Việt Nam nói riêng và người làm phát thanh nói chung có được những tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, có giải pháp, kỹ năng để nâng cao năng lực sản xuất các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn – một xu thế nổi bật của phát thanh hiện đại
- Với bản thân tác giả, quá trình hoàn thành công trình nghiên cứu này là sự vận dụng hệ thống lý luận đã được tiếp thu trong cả khóa học để nghiên cứu một vấn đề cụ thể Đó chính là quá trình tự hoàn thiện về cả lý thuyết và ứng dụng thực tế của một xu thế phát thanh đang phát triển mạnh hiện nay Việc này cũng sẽ tạo cơ sở cho hoạt động báo chí thực tế của bản thân tác giả về sau
Trang 177 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Mục lục, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn có kết cấu gồm có 3 chương, 8 tiết
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình thông tin tư
vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh
Chương 2: Thực trạng mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2
– Đài Tiếng nói Việt Nam
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp góp phần hoàn thiện mô
hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH
THÔNG TIN TƯ VẤN, CHỈ DẪN TRÊN BÁO PHÁT THANH
1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Mô hình thông tin
1.1.1.1 Khái niệm mô hình
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học (2007) thì khái niệm
mô hình được hiểu theo hai nghĩa: “1 Vật cùng hình dạng nhưng được làm thu
nhỏ lại nhiều lần, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để tiện trình bày, nghiên cứu, như mô hình máy bay, mô hình khu đô thị mới 2 Hình thức diễn đạt hết sức gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào đó để nghiên cứu đối tượng ấy Ví dụ: mô hình của câu đơn, mô hình làm việc của chương trình phân tích văn bản” [41, tr.426]
Mô hình là công cụ giúp ta thể hiện một sự vật, hiện tượng, quá trình nào
đó, phục vụ cho học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạt tinh thần của con người Từ hai nghĩa cơ bản của mô hình nêu trong từ điển Tiếng Việt, có thể phân thành hai dạng mô hình: 1) mô hình hình thức và 2) mô hình chức năng
Mô hình hình thức chỉ sự thu nhỏ lại nhiều lần, mô phỏng cấu tạo và hoạt
động của một vật khác để tiện trình bày nghiên cứu, có các dạng như công thức,
đồ thị, bảng biểu, sơ đồ, sa bàn, vật mẫu… Mô hình chức năng là sự diễn đạt hết
sức ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào
đó để nghiên cứu đối tượng ấy, gồm có: mô hình hệ thống, mô hình cấu trúc, mô hình logic, mô hình toán…
Như vậy, khái niệm mô hình (trong mô hình thông tin) thuộc kiểu mô hình hệ thống trong dạng mô hình chức năng, lột tả các thành phần, thành tố bên trong và bên ngoài cùng với mối quan hệ tác động qua lại làm thành một hệ
thống Mô hình là sự thu gọn, sự mô phỏng hay diễn đạt hết sức ngắn gọn các
Trang 19đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào đó đúng với chủ đích nhằm nghiên cứu đối tượng ấy
1.1.1.2 Quan niệm về thông tin
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học (2007) thì thông tin là thông báo, truyền tin, báo tin cho người khác biết (theo nghĩa là động từ) và thông tin là điều hoặc tin được truyền đi cho biết (nói khái quát) hay là sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra nó (theo nghĩa danh từ) [41, tr.613]
Theo PGS, TS Tạ Ngọc Tấn, thông tin luôn gắn với sự tồn tại và phát triển của xã hội “Trong quá trình lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên, làm ra của cải vật chất nuôi sống mình, con người tích lũy được những kinh nghiệm quý báu, phát hiện ra những tri thức mới mẻ Đồng thời trong xã hội cũng hình thành nhu cầu thông tin, truyền bá kinh nghiệm, phương pháp lao động có hiệu quả, thông báo cho đồng loại những tri thức mới về thế giới xung quanh.” [36, tr.15]
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thông tin càng cao và những khái niệm về thông tin cũng ngày một phong phú, đa dạng, cập nhật hơn Thông tin báo chí là một dạng thông tin đặc thù bắt nguồn từ chính thông tin xã hội, từ nhu cầu thông tin - giao tiếp của xã hội “Tuy nhiên, không phải có nhu cầu thông tin
- giao tiếp là có báo chí Khi nội dung thông tin còn đơn giản, phạm vi giao tiếp của con người còn nhỏ hẹp, rõ ràng báo chí chưa thể xuất hiện Nhưng khi nhu cầu thông tin giao tiếp phát triển đến một trình độ nhất định, thì vấn đề báo chí mới được đặt ra.” [36 tr.16]
Từ việc nghiên cứu chung nhất về khái niệm thông tin, trong phần lý thuyết chung về thông tin với hướng nghiên cứu thông tin chuyên đề cho ấn phẩm thông tin, tác giả Nguyễn Tri Thức trong luận án tiến sĩ về đề tài “Xu hướng phát triển thông tin chuyên đề báo in Việt Nam hiện nay” đã đưa ra quan niệm về thông tin Quan niệm này phù hợp với nội hàm nghiên cứu về mô hình thông tin của luận văn này Do đó, tác giả sử dụng quan niệm này để tiến hành
Trang 20nghiên cứu về mô hình thông tin của báo phát thanh “Thông tin là việc chuyển
tải thông báo, kiến thức đến nhiều người thông qua các phương tiện kỹ thuật, các loại hình chuyển tải khác nhau nhằm tác động đến những hành vi của công chúng trong xã hội, định hướng dư luận xã hội, thực hiện chức năng giám sát, quản lý để góp phần hoàn thiện, phát triển xã hội.” [39, tr.42]
1.1.1.3 Quan niệm về mô hình thông tin trên báo chí
Quan niệm về mô hình thông tin của báo chí G.V Lazutina trong cuốn “Cơ
sở hoạt động sáng tạo của nhà báo” [45, tr 249] cho rằng: “Nghề báo là một loại hoạt động nhằm sản xuất ra các luồng thông tin đại chúng” và “nghề báo mô hình hóa những luồng thông tin này, hình thành từ các bài thông tin những số báo và tạp chí, những chương trình truyền thanh và vô tuyến truyền hình, gom góp lại thành một loại sản phẩm “lắp ráp” mới.” “Hoạt động mô hình hóa, phục vụ cho nhiệm vụ phát hiện nội dung và tạo ra hình thức cho các trích đoạn này hay khác của các luồng thông tin đại chúng (số báo, chương trình phát thanh hay truyền hình), có thể nói là nhiệm vụ tạo ra những phương tiện để tổ chức các loại sản phẩm thông tin đại chúng khác nhau thành một sản phẩm hoàn chỉnh duy nhất.”
Từ quan niệm của G.V Lazutina về “mô hình” và việc nhìn nhận mô hình hoá các luồng thông tin đại chúng là cơ sở nền tảng để hình thành nên các sản phẩm báo chí Trong một chuỗi các nhiệm vụ của người làm báo, hoạt động sáng tạo của nhà báo thì việc mô hình hoá các luồng thông tin là việc làm vô cùng quan trọng, là nền tảng để hình thành nên những mắt xích nhỏ nhất trong chuỗi công việc để hình thành nên sản phẩm báo chí Hay nói cách khác, mô hình thông tin chính là sự mô phỏng một cách toàn diện các yếu tố hình thức, nội dung để tạo nên thông điệp, thông tin cho việc ra đời một sản phẩm báo chí cụ thể
Theo GS TS Tạ Ngọc Tấn, trong hoạt động báo chí nói chung, thông tin báo chí nói riêng có xuất hiện khái niệm mô hình thông tin và nó được hiểu đơn giản là một mô hình nghiên cứu thông tin để đáp ứng được một yêu cầu nào đó Trong cuốn “Từ lý luận đến thực tiễn báo chí”, GS TS Tạ Ngọc Tấn đã đưa ra
Trang 21khái niệm mô hình thông tin để phân biệt khái niệm đó với khái niệm mô hình truyền thông Theo đó, khái niệm mô hình thông tin được cho là mô hình hình thành tỷ lệ, mức độ giữa các loại hình thông tin mà nhà truyền thông cung cấp tới xã hội Khi phân tích về tính tổng quát, bao trùm của “mô hình thông tin” trong hoạt động báo chí, GS TS Tạ Ngọc Tấn cho rằng: Tổ chức thông tin là tổ hợp thông tin vào một thông điệp, một số báo cụ thể Tổ chức, xây dựng thông tin chỉ là một mặt của vấn đề mô hình thông tin Trong mô hình thông tin còn nghiên cứu phương pháp xây dựng tin, bài thế nào; đặc thù hình thức ra sao; những yếu tố hình thức bên ngoài tác động để mang tới nguồn thông tin như thế nào? Tổ hợp của tất cả những yếu tố đó chính là mô hình thông tin của sản phẩm báo chí
Trong nghiên cứu về thông tin, mô hình thông tin của báo chí nói chung, tạp chí nói riêng đã xuất hiện khái niệm mô thức thông tin và nhiều người nhầm lẫn hoặc đánh đồng hai khái niệm này Thực chất, mô thức thông tin chỉ là yếu tố hình thức, hẹp hơn mô hình thông tin Mô hình thông tin gồm cả nội dung thông điệp, hình thức đăng tải thông điệp Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cũng sử dụng thuật ngữ “mô hình thông tin” và đưa ra các tiêu chí để phân loại thông tin như: “từ phương diện hình thức, cách thức thông tin… Thông tin không chỉ phụ thuộc vào mục đích, cách thức, phương pháp được chuyển tài mà nó còn phụ thuộc vào nguồn tin khách quan hay không.”[8, tr 176]
Từ các quan niệm và hướng tiếp cận về mô hình thông tin trong hoạt động báo chí nêu trên, trong phạm vi nghiên cứu này tác giả xin đưa ra khái niệm mô hình thông tin trong hoạt động báo chí và sử dụng khái niệm đó để nghiên cứu
và luận chứng nhằm khảo sát và đánh giá mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng VOV2 – Đài Tiếng nói Việt Nam như sau:
Mô hình thông tin là khái niệm để chỉ tính chất đặc thù về thông tin, thông điệp của từng sản phẩm báo chí cụ thể Tính đặc thù này được hình thành
từ những đặc điểm tạo nên thông tin, thông điệp của sản phẩm đó, gồm: đặc
Trang 22điểm hình thức, đặc điểm nội dung Những đặc điểm (đặc trưng, đặc thù) này
để tạo nên thông điệp, tạo nên khả năng tác động của một sản phẩm báo chí cụ thể Do đó, những đặc điểm này phải phụ thuộc vào đối tượng tác động, mục đích tác động thông tin và phương pháp, cách thức khai thác các thông tin nguồn Tóm lại, mô hình thông tin trên báo chí là sự mô phỏng tính đặc thù về thông tin, thông điệp của một sản phẩm báo chí cụ thể và những yếu tố làm nên đặc thù đó chính là: Công chúng - Mục đích - Nguồn thông tin của sản phẩm báo chí đó
1.1.2 Mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn
1.1.2.1 Tư vấn, chỉ dẫn
Tư vấn: Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh niên là phát biểu ý
kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định
Chỉ dẫn: Theo Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn
quốc gia xuất bản, là sự hướng dẫn cho biết một cách cụ thể để làm việc gì Chỉ cho người khác theo Như vậy, chỉ dẫn có thể hiểu là sự chỉ bảo, hướng dẫn thực hiện một công việc, thông tin… cho một đối tượng nhất định nào đó có thể nghe, tham khảo hoặc thực hiện theo
Theo PGS.TS Vũ Quang Hào trong cuốn Ngôn ngữ báo chí (xuất bản năm 2004) [25] , thì thông tin tư vấn thường được thể hiện dưới dạng thức các câu hỏi – đáp giữa độc giả với những chuyên gia, những người có hiểu biết về lĩnh vực đó, nhằm cung cấp thông tin về một lĩnh vực cụ thể, một vấn đề nào đó trong cuộc sống, trong xã hội cho nhóm công chúng đối tượng quan tâm Thông tin chỉ dẫn bao gồm những cách thức, phương pháp để chỉ ra, hướng dẫn cho công chúng về những lĩnh vực mà họ quan tâm, mong muốn nhưng chưa biết thực hiện như thế nào
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản nhất, thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo chí là việc báo chí cung cấp cho công chúng những tin tức về các sự kiện, hiện tượng và gợi ý, hướng dẫn cách thức, phương pháp về một lĩnh vực
Trang 23nào đó trong cuộc sống nhằm giúp đỡ, hỗ trợ họ nhận biết hoặc giải quyết vấn đề
mà họ quan tâm, mong muốn nhưng chưa biết thực hiện như thế nào
Điều quan trọng là muốn tư vấn, chỉ dẫn cho người khác thì người tư vấn, chỉ dẫn không những phải hiểu biết rất sâu về vấn đề mình sẽ tư vấn, chỉ dẫn mà còn phải hiểu đối tượng mình tư vấn là ai Với các đối tượng khác nhau luôn có
sự khác biệt về trình độ hiểu biết, lứa tuổi, nghề nghiệp, văn hóa, phong tục, lối sống nên cần có cách thức tư vấn, chỉ dẫn phù hợp để đạt hiệu quả tốt nhất Việc tư vấn, chỉ dẫn trên báo chí là hình thức chuyển tải thông tin đặc biệt của báo chí Đây không phải là một thể loại báo chí độc lập, không mang những đặc điểm thể loại báo chí mà chỉ là một dạng thức chuyển tải thông tin đặc biệt của báo chí nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng về thông tin của công chúng
Chủ thể của việc tư vấn, chỉ dẫn trên báo chí thường là nhà báo và các chuyên gia:
Nhà báo: là người có tìm hiểu về vấn đề, có nghiên cứu tài liệu, hơn nữa
là người biết về đối tượng được tư vấn, chỉ dẫn Nhà báo có ưu điểm là biết cách chuyển tải thông tin một cách hiệu quả đến đối tượng tiếp nhận Nhưng nhà báo không thể hiểu vấn đề cặn kẽ, chuyên sâu Nhà báo giữ vai trò quan trọng khi tư vấn, chỉ dẫn trên báo chí vì chính nhà báo là người đi thu thập thông tin tư liệu
về vấn đề đó rồi viết phản ánh lại và còn là người biên tập bài của cộng tác viên, của các chuyên gia Nếu nhà báo không có kiến thức hiểu biết cơ bản về vấn đề được tư vấn, chỉ dẫn thì hiệu quả sẽ không cao, thậm chí còn tác động ngược
Chuyên gia: Đây chính là những người làm công việc tư vấn, chỉ dẫn hợp
lý và quan trọng nhất bởi lẽ họ là người có quá trình nghiên cứu, tìm hiểu rất kỹ
về vấn đề được tư vấn, chỉ dẫn Nếu ngoài việc nghiên cứu, nắm chắc lý thuyết, các chuyên gia còn có thêm kiến thức thực tế thì hiệu quả tư vấn, chỉ dẫn sẽ cao Nhưng hiệu quả của việc tư vấn, chỉ dẫn còn phụ thuộc vào việc báo chí có chọn đúng chuyên gia hay không Bởi nếu chọn được chuyên gia phù hợp, có kỹ năng
tư vấn, chỉ dẫn tốt thì hiệu quả truyền thông và uy tín của cơ quan báo chí được
Trang 24nâng cao và ngược lại, nếu chọn chuyên gia không phù hợp thì hiệu quả tư vấn, chỉ dẫn cũng như uy tín của cơ quan báo chí sẽ giảm sút
Với những chuyên gia đang hoạt động trong lĩnh vực chuyên môn, họ
chính là những người có kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề được tư vấn, chỉ dẫn
Trong thực tế cuộc sống, khi đứng trước một cái mới mà có ai đó đã làm thử thành công thì những người khác sẽ mạnh dạn làm theo Vì vậy, nếu dùng chủ thể này để tư vấn, chỉ dẫn sẽ dễ đạt hiệu quả cao
1.1.2.2 Thông tin tư vấn
Thông tin tư vấn là những thông tin được đưa ra giúp người khác có thêm các phương án để hướng đến lựa chọn cuối cùng Những phương án này đều được phân tích cụ thể ở từng khía cạnh, mặt lợi, mặt hại ra sao, từ đó, người đón nhận thông tin sẽ có quyền lựa chọn phương án nào, cách thức nào là phù hợp nhất với mình
Người được tư vấn có thể điều chỉnh các thái độ, cảm xúc, hành vi trong con người, từ đó có những định hướng đúng đắn hơn Thông tin tư vấn giúp mọi người tự ý thức về bản thân mình, ý thức về thực tại, có thêm những hiểu biết về cuộc sống
Tư vấn giúp mọi người có cái nhìn đúng đắn về những sự việc mình đã trải qua, đồng thời giải tỏa các mâu thuẫn, căng thẳng của bản thân, nhìn nhận vấn đề đúng đắn nhất
-> Chương trình phát thanh tư vấn là chương trình cung cấp những thông tin tư vấn với thính giả, giúp thính giả có thêm hiểu biết về một lĩnh vực nào đó hoặc có những sự lựa chọn phù hợp trong một hoàn cảnh nhất định Những thông tin tư vấn cần được người có uy tín, có kiến thức chuyên môn, kiến thức thực tế để tăng sự tin tưởng cho người nghe, mang lại uy tín lâu dài cho chương trình
-Sau khi nghe chương trình, người nghe sẽ có thêm những tư vấn, những
sự lựa chọn để tự quyết định phương án, cách thức phù hợp nhất với mình
Trang 25Chương trình tư vấn không mang tính bắt buộc, vì vậy, vừa giúp giải tỏa tâm lý,
sự bí bách trong một hoàn cảnh nào đó, vừa giúp thính giả có thêm thông tin và lựa chọn
1.1.2.3 Thông tin chỉ dẫn
Thông tin chỉ dẫn được đưa ra một cách chi tiết, chỉ bảo, dẫn dắt cho biết phương hướng và cách thức tiến hành một hoạt động nào đó, giúp người khác hiểu sâu hơn và biết cách thực hiện Những thông tin chỉ dẫn sẽ chi tiết hơn về cách làm, điều kiện, phương thức tiến hành, mối liên hệ với những sự việc, sự vật liên quan, yếu tố nào là không thể thiếu, cách thức để hoàn thành việc đó…
Chỉ dẫn cần được người có uy tín, có kinh nghiệm chuyên môn đưa ra, từ
đó nhận được sự tin tưởng cao hơn, thông tin mang tính khoa học và thực tiễn hơn Vì nội dung chỉ dẫn thường chi tiết và đi vào góc tiếp nhận nhỏ, sâu nên thông tin cần đảm bảo chính xác, đúng đắn, cần thiết và khoa học
->Chương trình phát thanh chỉ dẫn cung cấp thông tin chỉ dẫn chi tiết tới thính giả trong một trường hợp, một khía cạnh cụ thể, có thể đưa ra diễn biến của vấn đề và chỉ dẫn cụ thể theo từng sự lựa chọn cho thính giả Kênh phát thanh thể hiện rõ nhất những tính chất của chương trình chỉ dẫn là chương trình “Giờ cao điểm” trên sóng VOV Giao thông của Đài Tiếng nói Việt Nam Chương trình này gồm rất nhiều thông tin hỗ trợ giúp người nghe lựa chọn được tuyến đường phù hợp nhất với lộ trình của mình mà không gặp phải quá nhiều rắc rối hay phiền toái Ở đây các thông tin đưa ra sẽ chỉ dẫn luôn thật chi tiết, cụ thể để thính giả có thể quyết định làm theo ngay tại thời điểm đó
1.1.2.4 Mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh
Mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn là mô hình thông tin chính trị xã hội được thực hiện trên sóng phát thanh một cách thường xuyên, đều đặn và ổn định, nhằm định hướng, chỉ dẫn suy nghĩ, hành động cho công chúng, đồng thời giúp
họ phát triển mọi mặt trong đời sống, sức khỏe, tinh thần theo hướng tích cực
Trang 26Nội hàm của khái niệm này được xây dựng trên căn cứ là những lý luận chung của lý thuyết cơ sở lý luận báo chí truyền thông Cụ thể, tác giả dựa vào lý thuyết “Báo chí – một loại hình thông tin chính trị xã hội” và lý thuyết về các
“chức năng của báo chí”
Đặc trưng chủ yếu của mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh chính là yếu tố thông tin Không nằm ngoài đặc điểm của các loại hình báo chí khác, thông tin ở đây dù trực tiếp hay gián tiếp, dù thuộc thể loại báo chí nào thì vẫn mang đậm tính chính trị - xã hội
Mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn luôn thể hiện rõ ràng thế mạnh của mình là mang tính chỉ dẫn xã hội cao Đây được cho là thế mạnh và thể hiện chiều sâu về nội dung của mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn, khác với những mô hình khác Thông tin tư vấn, chỉ dẫn của mô hình này thể hiện rõ tính hướng dẫn các vấn đề xã hội rất rõ ràng, cụ thể Sự hướng dẫn này được thể hiện với nhiều nội dung và hình thức khác nhau như tư vấn chăm sóc sức khỏe, lựa chọn, chế biến thực phẩm đúng cách, chỉ dẫn các địa điểm khám sức khỏe uy tín, tư vấn ổn định tâm lý cho lứa tuổi vị thành niên… Mặc dù những nội dung hướng dẫn này cũng xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng khác nhưng mức độ không sâu sắc và dày đặc như mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn Các thông tin tư vấn, chỉ dẫn sẽ đến với mọi người một cách nhẹ nhàng, gần gũi, tự nhiên và thể hiện tính khoa học, logic để công chúng dễ dàng tiếp nhận
1.1.3 Báo Phát thanh
Phát thanh là một phương tiện truyền thông có từ lâu đời, có giá thành rẻ Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động như hiện nay, phát thanh đã và đang phát huy vai trò là một phương tiện giúp kết nối cộng đồng, là nguồn cung cấp thông tin quan trọng, đáng tin cậy Với bề dày lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm qua, phát thanh đã không ngừng thực hiện sứ mệnh truyền tải thông tin, giáo dục và giải trí cho biết bao thế hệ người nghe ở khắp nơi trên thế giới Phát thanh cũng đại diện cho tiếng nói của những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, công cụ của
Trang 27nhân quyền và góp phần đưa ra giải pháp cho các thách thức mà thế giới đang đối mặt Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về báo phát thanh:
1 điện từ và hệ thống truyền thanh” Bởi phát thanh hiện đại có nhiều phương thức truyền tải đến thính giả không chỉ qua làn sóng radio, mà còn có thể qua Internet, kết nối 3G/4G
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm được nêu trong những định nghĩa trên, kết hợp với thực tiễn làm nghề, tác giả đưa ra cách định nghĩa về báo phát thanh như sau:
Báo phát thanh là một loại hình báo chí truyền tải thông tin bằng âm thanh tổng hợp (bao gồm lời nói, tiếng động và âm nhạc) thông qua sóng điện tử hoặc các kết nối internet, 3G/4G đến thiết bị tiếp nhận, tác động đến thính giác người nghe và thực hiện vai trò của loại hình, góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin và thay đổi nhận thức, hành vi của công chúng
1.2 Đặc điểm của thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh
1.2.1 Đặc điểm về nội dung
Thông tin chính xác, khoa học, đáp ứng nhu cầu của thính giả
Chính xác, khoa học là yêu cầu chung của thông tin trên báo phát thanh, với thông tin tư vấn, chỉ dẫn thì yêu cầu này càng cần thiết hơn Một lời nói trên sóng phát thanh là có thể tiếp cận được với rất nhiều người, bởi vậy mà thông tin cần hết sức chính xác Thêm nữa, tin tức đến lần đầu bao giờ cũng để lại ấn tượng mạnh mẽ nhất và khiến người nghe nhớ lâu nhất, kể cả sau đó nếu có cải chính thông tin thì mức độ mạnh mẽ và phủ khắp cũng chưa chắc đã bằng lần đầu tiên
Chương trình mang tính tư vấn, chỉ dẫn thì thông tin cần phải khoa học và nội dung phải có đầy đủ căn cứ, cơ sở giúp tăng niềm tin của thính giả đối với chương trình, từ đó về lâu dài mới tạo dựng được những thính giả trung thành
Để có được nguồn thông tin khoa học thì những người thực hiện chương trình
Trang 28cần phải tìm hiểu, thu thập thông tin từ sách báo, sách chuyên ngành, từ chính cuộc sống và nguồn thông tin tin cậy từ đồng nghiệp hay một nguồn tin có thể cung cấp những kiến thức chuyên ngành và tư vấn chi tiết, có căn cứ cho thính giả đó là đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực đó Chuyên gia vốn vẫn nhận được
sự tin tưởng khá cao từ phía thính giả, chuyên gia có thể trực tiếp đến phòng thu chương trình để tham gia buổi trao đổi
Nội dung tư vấn đa dạng, chỉ dẫn chi tiết, gần gũi
Nội dung đa dạng ở đây tức là hướng đến nhiều khía cạnh của một vấn
đề phục vụ cho đối tượng thính giả nào đó Đa dạng thể hiện trong cả đối tượng phản ánh của báo chí vừa thể hiện ở đối tượng tác động phong phú, đa dạng Nội dung thể hiện sự đa dạng cũng sẽ thu hút người nghe ở nhiều mảng khác nhau Một bà mẹ đang trong giai đoạn sinh nở sẽ rất quan tâm đến nhiều khía cạnh của vấn đề về chăm sóc sức khỏe mẹ và bé, cách nuôi dạy con, chăm con ở mỗi lứa tuổi khác nhau… Nội dung cũng không thể chỉ tập trung vào việc tư vấn để có một thai kì khỏe mạnh, hoặc không thể chỉ chăm sóc sức khỏe cho con mà quên mất là người mẹ cũng cần được đặc biệt quan tâm, săn sóc
Chi tiết, gần gũi cũng là yêu cầu chung đối với nội dung của phát thanh, nhưng trong chương trình tư vấn, chỉ dẫn thì nội dung chi tiết, gần gũi càng giữ vai trò quan trọng hơn Chi tiết, gần gũi ở đây là đề cập sâu một vấn đề, có liên
hệ, so sánh, đánh giá với những vấn đề khác cùng tính chất, hoặc đề cập từng góc cạnh của vấn đề Nội dung gần gũi sẽ giúp thính giả cảm thấy như được trò chuyện với những người thân trong gia đình mình, với phương thức truyền đạt gần gũi thì các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn nói riêng và phát thanh nói chung sẽ rút ngắn khoảng cách với thính giả, nâng cao vị thế của phát thanh
là nhẹ nhàng sẻ chia với những câu chuyện sâu kín mà nếu không phải phát thanh thì thính giả khó có thể tâm sự cùng ai khác
Trang 29Nội dung dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo
Ngoài những vấn đề lớn mang tính thời sự và là chủ đề tranh lận, thảo luận, thông tin tư vấn, chỉ dẫn cần phải dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo, thông tin cần phải đảm bảo cho hàng triệu thính giả nghe và hiểu vấn đề ngay lập tức
Để dễ hiểu, dễ nhớ thì phát thanh tư vấn, chỉ dẫn không nên trình bày quá dài dòng một vấn đề nào đó, không nên diễn đạt phức tạp, vấn đề quá nhiều con
số khi sử dụng cũng cần được chấn chỉnh; các khái niệm chuyên môn hoặc khó hiểu thì ngay lập tức, chương trình phải có giải thích kỹ càng, chi tiết hơn cho thính giả
Hướng đến một nhóm đối tượng nhất định
Nếu ngày trước, đối tượng phục vụ của phát thanh là công chúng số đông, thì nay, mỗi dạng chương trình tư vấn, chỉ dẫn lại chia thính giả chuyên biệt cho từng chương trình để nội dung được phân chia rõ ràng, như vậy thì nội dung tác động vào nhóm thính giả chuyên biệt cũng sẽ sâu hơn và đúng trọng tâm hơn Thính giả phát thanh hiện đại không có thời gian nghe chương trình quá lâu và liên tục, vì thế các nội dung chuyên biệt và không quá dài sẽ giúp thính giả tiếp nhận dễ dàng hơn, nhanh chóng nắm bắt nội dung chính và tăng hiệu quả truyền thông rõ rệt
1.2.2 Đặc điểm về hình thức
Tính tương tác cao cùng phong cách thể hiện sống động
Đây là đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở một chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn Dù được thực hiện theo hình thức trực tiếp hay gián tiếp, tính tương tác vẫn luôn là yếu tố không thể thiếu Với sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin, các hình thức tương tác trong chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn ngày càng được mở rộng Nếu như trước đây, hình thức tương tác chỉ là sự trao đổi giữa khách mời với người dẫn, hoặc là giữa những người dẫn chương trình với nhau Thì giờ đây, thính giả đã có thể tương tác một cách trực tiếp, liên tục với chương trình, thậm chí còn có thể trực tiếp tham gia
Trang 30vào quá trình sản xuất chương trình thông qua nhiều hình thức khác nhau như điện thoại, mạng xã hội
Trong mối tương quan so sánh với báo truyền hình, phát thanh có lợi thế hơn hẳn trong việc thu hút công chúng tương tác ở những chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn mang tính tâm sự, thầm kín Công chúng có thể sẵn sàng chia sẻ những điều khó nói về tình yêu, tình dục, và cả những tâm
sự thầm kín của họ về những tình huống gặp phải trong cuộc sống đời thường để mong nhận được sự tư vấn, đôi khi là sự lắng nghe, vỗ về, động viên, an ủi Nhưng sẽ là rất khó khăn để có thể lôi kéo họ chia sẻ một cách thoải mái về chủ đề tương tự trên sóng truyền hình Và đó cũng là lý do vì sao mà những chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn như “Chuyện thầm kín”, “Cửa sổ tình yêu” vẫn duy trì được một lượng thính giả rất lớn qua nhiều năm lên sóng Hơn nữa, yếu tố tương tác trong các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn đã mang lại sức hấp dẫn với thính giả, đặc biệt là tương tác trực tiếp
Kết cấu linh hoạt, nội dung dựa trên chính các yêu cầu của công chúng
Nhìn chung, các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn ở Việt Nam hiện nay có kết cấu khá linh hoạt Nhiều chương trình có kết cấu mở, phát huy tối đa tính tương tác, tạo cơ hội cho thính giả được đặt câu hỏi, chia sẻ tâm sự với chương trình Cũng nhờ vậy, thính giả giờ đây không chỉ đóng vai trò là người tiếp nhận thông tin, mà thông qua việc tương tác với chương trình, xuất hiện trên sóng, thính giả còn trở thành những người tạo nên nội dung cho chương trình phát thanh tư vấn, giải đáp, góp phần tạo nên sự khách quan, chân thực, sinh động và hấp dẫn cho chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn Ở chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn, vai trò quan trọng và trung tâm của thính giả được thể hiện rất rõ qua việc đặt câu hỏi, yêu cầu nhà đài làm rõ nội dung thông tin mà mình đang quan tâm Cũng vì nội dung của các chương trình phát thanh tư vấn,
Trang 31giải đáp đều dựa trên sự quan tâm của công chúng cho nên rất thiết thực, gần gũi với họ
Chương trình chủ yếu là đối thoại
Hòa cùng xu thế phát triển của phát thanh hiện đại, bản thân các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn hiện nay cũng đang ngày càng tăng cường tính gần gũi, thân mật hơn với thính giả, thay cho cách truyền tải thông tin khô khan, một chiều, áp đặt như trước kia Hầu hết các chương trình phát thanh hiện nay đều có khuynh hướng gia tăng các hình thức đối thoại, làm cho chương trình trở nên sinh động, tự nhiên, gần gũi, hấp dẫn hơn
Với sự tham gia của các chuyên gia, hoặc những người có kinh nghiệm,
có liên quan, am hiểu đến những lĩnh vực mà thính giả quan tâm, chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn nhằm mục tiêu lớn nhất là cung cấp, bổ sung, làm rõ kiến thức cho thính giả Ngoài ra, các chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn hiện nay không chỉ là một môi trường giáo dục, phổ biến, trang bị kiến thức về các lĩnh vực của đời sống xã hội cho thính giả, mà còn là nơi lắng nghe những chia sẻ, tâm sự, là chỗ dựa tinh thần của thính giả Điều đó càng làm khăng khít thêm mối quan hệ gắn bó giữa thính giả với chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn hiện nay
1.3 Xây dựng mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh
Dựa theo đặc điểm của loại hình báo Phát thanh, đặc trưng, đặc thù của quy trình sản xuất chương trình phát thanh và những đặc điểm cơ bản của thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên sóng phát thanh, chúng tôi đề xuất mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh như sau:
Trang 32Hình 1.1 Mô hình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn 1.3.1 Trước khi phát sóng
1.3.1.1 Nghiên cứu ban đầu về công chúng, nhóm đối tượng
Theo cuốn “Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng cơ bản” do PGS TS Nguyễn Văn Dững làm chủ biên thì khi tiến hành bất kỳ hoạt động nào, con người đều cần phải tìm hiểu về đối tượng của hoạt động đó Hoạt động báo chí – truyền thông luôn lấy con người làm đối tượng tác động, đối tượng phản ánh, đối tượng điều chỉnh, cho nên lại càng cần phải nghiên cứu đối tượng ấy Đây là khâu công việc cơ bản, chủ yếu nhằm tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng,
TRƯỚC
TRONG
SAU
Khảo sát nhu cầu, những
mối quan tâm của công
chúng
Xác định chủ đề và các nội dung tư vấn, chỉ dẫn Lên
kế hoạch tin bài
Nghiên cứu ban đầu về
công chúng, nhóm đối
tượng
Người dẫn – Khách mời – Thính giả kết hợp tạo nên tổng thể chương trình
Nội dung thông tin gần gũi, hấp dẫn
Chuẩn bị khách mời
Tính tương tác cao,
phong cách sống động
Đón nhận, xử lý phản
hồi của công chúng
Đáp ứng nhu cầu của
thính giả chưa được kết
nối trong chương trình
Thực hiện hoạt động đánh giá
Công khai phản hồi, chia
sẻ kết quả Quảng bá nội dung,
quảng bá khách mời
Trang 33sở thích, thị hiếu, mong đợi… của thính giả để tiến hành xây dựng nội dung chương trình [4,tr.235]
Với mô hình thông tin tư vấn, chỉ dẫn trên báo phát thanh thì khâu này lại càng cần thiết Vì phát thanh tư vấn, chỉ dẫn đều dựa trên những nhu cầu của thính giả, đều đáp ứng những gì thính giả đang cần, đang băn khoăn hoặc đang phải đối mặt, về mọi mặt cuộc sống đang ảnh hưởng tới con người Khi tìm hiểu, nghiên cứu được thính giả thì những người thực hiện mới có thể xây dựng được chương trình gần gũi, thiết thực, với những yếu tố tác động thật sự hiệu quả Các bình diện cần nghiên cứu thính giả bao gồm bình diện nhân khẩu học – xã hội (tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, phong tục, dân tộc, địa bàn sống, mức sống…); Bình diện thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng hoặc nhóm đối tượng mà chương trình tác động; Bình diện thứ ba là nghiên cứu thói quen, sở thích của công chúng – nhóm đối tượng nhằm xác định con đường, cách thức chuyển tải thông điệp một cách hiệu quả nhất
1.3.1.2 Khảo sát nhu cầu, những mối quan tâm của công chúng
Sau bước nghiên cứu chung về thính giả thì trước khi thực hiện một chương trình cụ thể, những người thực hiện cũng cần khảo sát về tình trạng, mối quan tâm hiện tại của công chúng và nhu cầu của công chúng với nội dung sắp thực hiện Bước khảo sát này có thể được thực hiện bằng bảng hỏi được phát trực tiếp hoặc thực hiện trên mạng xã hội Nếu nhiều thính giả quan tâm đến nội dung chuẩn bị triển khai, và quan tâm đến khía cạnh nào đó của nội dung này thì người thực hiện chương trình có thể tập trung triển khai nội dung đó nhiều hơn
và sâu sát hơn
Ví dụ, trong khoảng thời gian dư luận đặc biệt quan tâm đến những thông tin liên quan đến những vụ việc quấy rối tình dục nơi công sở Thì các chương trình tư vấn, chỉ dẫn cũng sẽ tập trung nội dung này với những khía cạnh khác nhau và thực hiện theo cách thức phù hợp với nhóm công chúng của mình Với các chương trình dành cho đối tượng là người trẻ, học sinh, sinh viên thì cần tư
Trang 34vấn, chỉ dẫn về những tình huống có thể dẫn đến quấy rối, hoặc những biểu hiện quấy rối để bạn trẻ biết cách phòng tránh Với đối tượng thính giả là người trung tuổi, đang đi làm tại các công sở thì có thể thực hiện các tư vấn để ổn định tâm lý nếu chẳng may thính giả đang gặp phải trường hợp đó, hoặc cách xử lý thỏa đáng nhất để vừa bảo vệ an toàn cho bản thân mà vừa đưa ra những thông điệp
để người gây ra những hành vi đó sửa chữa và không tái diễn…
Nếu thực hiện khảo sát trên mạng xã hội thì người làm chương trình có thể ngay lập tức nhận được phản ứng cùng những câu hỏi, băn khoăn của thính giả Đây là cách khảo sát đang được nhiều cơ quan báo chí áp dụng góp phần thu hút
và tiếp nhận ý kiến thính giả một cách nhanh chóng, chính xác và phục vụ tốt cho quá trình xây dựng chương trình
1.3.1.3 Xác định chủ đề và các nội dung tư vấn, chỉ dẫn Lên kế hoạch tin bài
Sau khi tiếp nhận nhu cầu của công chúng, những người thực hiện chương trình sẽ lập một kế hoạch, trước hết là xác định chủ đề và các nội dung sẽ tư vấn, chỉ dẫn trong chương trình Sau đó là kế hoạch tin bài để thể hiện thành công nhất những nội dung tư vấn, chỉ dẫn đó
Chủ đề chương trình cần phải được xác định sớm dựa trên các nguồn như mạng xã hội, các câu chuyện đời thường, câu chuyện được chính chuyên gia chương trình kể lại hoặc từ các nguồn báo chí… Các chương trình tư vấn, chỉ dẫn cần phải hướng đến các chủ đề đời thường, gần gũi, ngay sát thính giả và những gì đang xảy ra, thính giả đang phải trải qua Những chủ đề quá xa vời thường không được ưu tiên với những chương trình tư vấn, chỉ dẫn, những nội dung đó sẽ dành cho các kênh thông tin khác, còn chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn yêu cầu chủ đề gần gũi, thiết thực và mang tới cho thính giả thông tin hữu ích nhất với họ
Với kế hoạch tin bài thì ekip thực hiện cần có sự phân công rõ ràng Những người có thế mạnh về tin, bài phóng sự, phỏng vấn thì có thể được phân công đi tác nghiệp và mang về sản phẩm đáp ứng yêu cầu về thể loại và nội
Trang 35dung, mỗi thể loại có thể đáp ứng một khía cạnh nội dung Phóng sự, phản ánh
có thể đặt vấn đề về một nội dung thời sự đang được nhiều thính giả quan tâm và mong muốn được giải đáp Phỏng vấn là tư vấn trực tiếp của chuyên gia, những người có liên quan đến chủ đề đang triển khai… Tùy yêu cầu nội dung mà người chủ biên chương trình có thể phân công nhân sự đi thực hiện các tin bài này Các biên tập viên, phóng viên xây dựng chương trình có thể tổng hợp thông tin và chuyển thành các hộp nội dung (hay còn gọi là các box thông tin) gồm những nội dung tổng quát nhất về vấn đề đó, những điểm mới nhất, những mối đe dọa, những tiến bộ y khoa… thông tin nhanh nhất về vấn đề
Ngoài ra, họ có thể đưa những ý kiến nhanh của thính giả qua dạng thức voxpop Thính giả có thể phản ứng nhanh với vấn đề đó, đưa ra những băn khoăn chưa được giải đáp, những nghi ngại của họ khi nhắc tới vấn đề đó, những ứng xử của thính giả về vấn đề đang được đặt ra… Tất cả sẽ được thực hiện nhanh và thời lượng cực ngắn
Nếu muốn đặt vấn đề một cách mềm mại, nhẹ nhàng và giúp thính giả nhớ lâu thì có thể sử dụng hình thức tiểu phẩm Có thể do chính các biên tập viên diễn với các tình huống đời thường, đặt vấn đề cực nhanh
1.3.1.4 Chuẩn bị khách mời
Khách mời là người được coi là có tính chất quyết định sự thành công của các chương trình tư vấn, chỉ dẫn Khách mời có uy tín trong lĩnh vực tư vấn, có chuyên môn sâu, có kiến thức xã hội, có cảm xúc trong giọng nói, nhiệt tình tư vấn và đồng cảm với thính giả… thì sẽ khiến chương trình có điểm nhấn và sẽ thu hút nhiều người nghe tương tác hơn, sau chương trình đó, họ cũng sẽ thường xuyên theo dõi và đặt câu hỏi, mong muốn được trò chuyện với khách mời Đó cũng chính là thành công của chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn
Khi lựa chọn khách mời thì biên tập viên thực hiện chương trình cần hướng đến những khách mời có tính đại diện cho thông tin Cần xem xét vai trò,
vị trí của người đó, trách nhiệm và hiểu biết của họ về vấn đề đó có thỏa đáng
Trang 36hay không Việc liên lạc, mời khách mời cũng cần được thực hiện khéo léo, điều này phụ thuộc vào kỹ năng ứng xử của biên tập viên Khách mời cần phải nhận thấy là bản thân mình sẽ mang tới những thông tin bổ ích gì cho thính giả, niềm vui của khách mời là chia sẻ thông tin cho thính giả Những điều này cần được trao đổi trước khi thực hiện chương trình, để khách mời biết được họ đóng vai trò gì, cần tư vấn ở mức độ thế nào khi tham gia chương trình này
1.3.1.5 Quảng bá nội dung, quảng bá khách mời
Việc quảng bá cần được thực hiện ngay khi đã thống nhất trong ekip về chủ đề và nội dung tin bài Ekip thực hiện chương trình hoặc bộ phận chuyên môn về quảng bá nội dung của Kênh sẽ giới thiệu về cả nội dung và khách mời
sẽ tham gia chương trình Nội dung cần được giới thiệu ngắn gọn, hấp dẫn với những ý chính nhất, quan trọng nhất và thời sự nhất Khách mời thì nên giới thiệu chính xác, đầy đủ về chuyên môn, uy tín của họ và những điều hứa hẹn mà khách mời có thể mang tới cho thính giả
Khi làm được việc này tức là đã giúp thính giả nắm bắt được nội dung, có được hình dung cơ bản nhất về vấn đề và có thể chuẩn bị trước những thắc mắc, câu hỏi cần được giải đáp về nội dung đó Ngoài ra, khi thính giả đã biết rõ khách mời thì câu hỏi họ gửi đến cho khách mời cũng sẽ phù hợp hơn, nếu khách mời là người họ tin tưởng thì có thể thính giả sẽ quyết định là tham gia chương trình hay không Sự công khai quảng bá này còn mang lại nhiều lợi ích cho chính chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn khi được nhiều thính giả biết đến
Quảng bá có thể thực hiện trên mạng xã hội, trên trang web của chương trình, trang web của kênh hoặc quảng bá trên sóng phát thanh giữa các chương trình hoặc giữa các khung giờ Đồng thời với việc quảng bá, người làm chương trình cũng có thể nắm được nhu cầu thông tin của thính giả khi họ chia sẻ, phản hồi ngay dưới nội dung quảng bá của chương trình Khi việc quảng bá được thực hiện thường xuyên thì thính giả quan tâm chương trình có thể nắm được cách thức duy nhất để theo dõi nội dung chương trình, họ không phải tìm kiếm quá
Trang 37nhiều gây cảm giác khó chịu, nhiều lần như vậy thì chương trình có thể sẽ mất đi những thính giả trung thành và thường xuyên của mình
có thể phát sinh trong chương trình thì sẽ khiến những thông tin tư vấn chỉ dẫn trở nên rời rạc, không có chiều sâu, khách mời cũng không được phát huy hết hiểu biết hay khả năng tư vấn của mình Người dẫn cần phải có một sự duyên dáng, cùng giọng điệu nhẹ nhàng để dù thính giả không nhìn thấy biểu cảm của
MC nhưng vẫn có thể cảm nhận được sự gần gũi, thân thiện để giữ thính giả ở lại lâu hơn với chương trình Vai trò cụ thể và sự kết hợp của người dẫn – khách mời – thính giả được phân tích cụ thể như sau:
Người dẫn dẫn dắt, khai thác, làm cầu nối để nhu cầu của thính giả
và thông tin tư vấn, chỉ dẫn của khách mời được bộc lộ rõ ràng và cụ thể:
Phát thanh không nên chỉ bắt thính giả nghe những điều mình nói mà phải nói với họ về những điều mà họ đang quan tâm, tạo điều kiện cho họ được bày tỏ quan điểm, tình cảm của mình cho hàng triệu người cùng nghe, cùng chia sẻ Nhưng trên cơ sở đó, người làm phát thanh phải thực hiện được chức năng giáo dục nâng cao nhận thức, định hướng được tư tưởng, định hướng được dư luận xã hội Giao lưu thính giả trên sóng phát thanh trực tiếp chính là sự hấp dẫn của phát thanh hiện nay
Vì thế, người dẫn chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn có một vai trò quan trọng là dẫn dắt, làm cầu nối giữa thính giả với chuyên gia, khiến cho thính giả thoải mái hơn khi trao đổi, bày tỏ nguyện vọng của mình với chuyên gia, với
Trang 38chương trình; giúp truyền tải lại với chuyên gia về nội dung mà thính giả muốn trao đổi một cách rõ ràng, ngắn gọn nhất; người dẫn còn giúp tóm gọn và chuyển lại lời tư vấn cho chuyên gia cho thính giả, sau đó người dẫn nhấn mạnh lại cũng như đưa ra lời khuyên dựa theo tư vấn của chuyên gia
Khách mời mang kiến thức chuyên môn, tư vấn chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó hoặc đưa ra các hướng lựa chọn cho thính giả tự quyết định
Về phần khách mời, như đã phân tích ở trên, ngoài kiến thức, hiểu biết về lĩnh vực tư vấn, thì khách mời cần phải phối hợp với người dẫn chương trình, có
sự trao đổi trước để hiểu nhau trong các tình huống phát sinh Ngoài ra, về giọng điệu tư vấn, cách diễn đạt của khách mời cũng cần thể hiện sự trân trọng thính giả, thể hiện được cảm xúc và sự chân thành khi muốn tư vấn gì đó cho thính giả Khách mời, chuyên gia sẽ dựa trên những kiến thức, kinh nghiệm, nghiên cứu của mình để tư vấn, trao đổi với thính giả, từ đó đưa ra những phương án xử
lý, những sự lựa chọn hoặc những cảnh báo trong trường hợp mà thính giả đưa
ra Ngoài ra, chuyên gia cần tạo dựng niềm tin, an ủi và tạo cảm giác yên tâm cho thính giả Như vậy thì hiệu quả tư vấn, chỉ dẫn sẽ tăng lên và góp phần củng
cố niềm tin của thính giả, nâng cao uy tín của chương trình
Người dẫn chương trình và chuyên gia trong chương trình cần phải
có những yêu cầu sau để tạo nên sự thành công và sự tin cậy, thân mật, gần gũi của chương trình:
- Yêu cầu đầu tiên, đó là phải có một chất giọng tốt, biểu cảm tốt, dễ nghe, và “gây được thiện cảm” Đặc biệt là với người dẫn chương trình, cần phải biết nhấn, biết nhả chữ, tốc độ phù hợp, biết thể hiện đúng cảm xúc trong những trường hợp giao tiếp cụ thể
- Tạo được sự tin tưởng cho thính giả Trước hết, người dẫn và chuyên gia phải cho thính giả thấy được mối quan hệ thân thiết Người dẫn phải hiểu rõ chuyên gia, chuyên gia nào phù hợp với vấn đề nào Có những chuyên gia quen dùng từ chuyên ngành, thì người dẫn cần phải hỏi lại chuyên gia xem từ đó có
Trang 39nghĩa là gì, để làm thế nào cho thông tin dễ hiểu, gần gũi nhất Còn chuyên gia thì vừa cần có năng lực diễn đạt, vừa cần phải giỏi chuyên môn
- Thứ ba là khả năng giao tiếp tốt, biết lắng nghe Những chương trình tư vấn chỉ dẫn, trực tiếp, có sự tương tác với thính giả, luôn được tạo được sự hấp dẫn với người nghe Thính giả muốn tham gia chương trình để được bày tỏ, đặt câu hỏi, giải đáp thắc mắc Chính vì vậy, người dẫn chương trình nên để chuyên gia và thính giả nói nhiều hơn Người dẫn chỉ nói khi thực sự cẩn thiết, trong các trường hợp kết nối các cuộc gọi, tóm lược các thông tin Bên cạnh đó, người dẫn chương trình cần trò chuyện với thính giả một cách nhiệt tình và chân thành như đang trò chuyện với một người bạn và thể hiện sự quan tâm chân thành đến họ, đồng thời phải biết lắng nghe, khích lệ khi trò chuyện
- Một yêu cầu quan trọng nữa là có kiến thức, am hiểu về các lĩnh vực mà thính giả quan tâm, khả năng truyền đạt tốt Am hiểu kiến thức là yêu cầu không chỉ với khách mời, mà còn với cả người dẫn Bởi người dẫn không phải là một cái “máy nói”, mà họ phải là người truyền tải thông tin đến thính giả Vì vậy, người dẫn phải không ngừng học hỏi để có kiến thức và am hiểu sâu rộng về các lĩnh vực mà thính giả đề cập Người dẫn phải dần đạt tới khả năng của một chuyên gia để hiểu rõ vấn đề mà người nghe quan tâm, biết bao quát vấn đề và làm cho thông tin dễ hiểu hơn với công chúng, phù hợp với từng đối tượng
- Cuối cùng là cần phải có kỹ năng xử lý tình huống nhanh Hiện nay, có nhiều chương trình phát thanh tư vấn, chỉ dẫn được thực hiện trực tiếp, tương tác trực tiếp với thính giả qua điện thoại Vì vậy, mà những rủi ro khi lên sóng như mất kết nối, tín hiệu chập chờn… là điều khó tránh khỏi Với những sự cố như vậy thì người dẫn có thể dễ dàng xử lý bằng cách xin lỗi thính giả và hẹn kết nối với thính giả sau, rồi sau đó chuyển sang kết nối với một thính giả khác Nhưng với tình huống, thính giả nói rất nhiều mà không rõ trọng tâm, ảnh hưởng đến thời lượng của chương trình thì người dẫn phải rất tinh tế trong việc xử lý Phải chen ngang
làm sao cho lịch sự, thính giả vẫn cảm thấy hài lòng, vẫn cảm thấy thoải mái
Trang 40 Thính giả tin tưởng bày tỏ, bộc bạch những tâm tư của mình, sau khi được tư vấn, thính giả có thêm sự lựa chọn và quyết định
Thính giả khi kết nối đến chương trình cần có sự chuẩn bị câu hỏi trước sao cho đúng chủ đề và đúng chuyên môn của chuyên gia tư vấn, thính giả cũng cần được tạo điều kiện, tạo cơ hội và không khí để họ thổ lộ tâm tư, nguyện vọng
và câu chuyện riêng tư của họ, khi thính giả tin tưởng thì họ sẽ trút bầu tâm sự,
và như vậy thì chuyên gia sẽ tư vấn một cách dễ dàng hơn
Khi chuyên gia và chương trình tư vấn thì thính giả hoàn toàn có thể lựa chọn những thông tin phù hợp với mình và có thể tin tưởng hay làm theo Bởi vì chương trình chỉ có thể tư vấn, chỉ dẫn, chứ không thể quyết định hay chịu trách nhiệm cho thính giả Mọi quyền quyết định đều thuộc về cá nhân thính giả
1.3.2.2 Nội dung thông tin gần gũi, hấp dẫn
Tác giả Heather Purdey, Đại học Thành phố, Luân Đôn trong bài nghiên cứu “Radio journalism training and the future of radio news in the UK” (2014)
đã chỉ ra rằng: “Khi thính giả có thể truy cập vào hầu như các nguồn tin tức như
một nhà báo thì những kỹ năng rõ ràng nhất trong đài phát thanh, chẳng hạn như khả năng xác định công chúng muốn gì và cung cấp nó, sẽ là yếu tố quan trọng cho sự sống còn của bất kỳ hoạt động thông tin nào” [1] Tức là ngoài
những kỹ năng làm báo, kỹ năng nghiệp vụ thì mỗi nhà báo còn cần thể hiện được sự thấu hiểu thính giả của mình Mà sự thấu hiểu chỉ có thể có được khi nhà báo tạo ra được sự thân mật, gần gũi với thính giả, để kích thích họ bày tỏ,
để lắng nghe họ chia sẻ,
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ
và sự bùng nổ của truyền thông xã hội đã và đang làm thay đổi nhu cầu tiếp cận thông tin của công chúng, khi mà công chúng đang ngày càng có xu hướng tiếp nhận thông tin nhiều hơn qua các loại hình truyền thông mới thì phát thanh phải
tự thay đổi để thu hút công chúng và tồn tại Trong đó, việc tăng cường các kỹ năng để nâng cao sự gần gũi, thân mật trong các chương trình phát thanh là yếu