1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của các công ty bảo hiểm nhân thọ ở việt nam hiện nay

128 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh tương quan về hiệu quả truyền thông qua dạng bài viết kết hợp hình ảnh trên mạng xã hội Facebook của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ .... Nhận thức được sức mạnh của truyền th

Trang 1

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

MAI TRƯỜNG GIANG

HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Quản trị truyền thông

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Lưu Văn An

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, thông tin và kết quả được nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày … tháng……năm 2019

Tác giả luận văn

Mai Trường Giang

Trang 4

DANH MụC BảNG, BIểU, HÌNH

Bảng

Bảng 2.1 So sánh tương quan về số bài viết dạng hình ảnh kết hợp văn bản đăng tải

trên Mạng xã hội Facebook của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 75 Bảng 2.2 So sánh tương quan về số bài viết dạng hình ảnh kết hợp văn bản đăng tải

trên Mạng xã hội Facebook của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 78 Bảng 2.3 Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu 80

Biểu đồ

Biểu đồ 2.1: Lượng tài khoản Follow trên Fanpage Facebook của 04 công ty Bảo hiểm lớn ở Việt Nam (Tính đến Tháng Tháng 7/2017) 53 Biểu đồ 2.2 Lượng tài khoản Follow trên Mạng xã hội Youtube của 04 công

ty Bảo hiểm lớn ở Việt Nam (Tính đến Tháng Tháng 7/2017) 54 Biểu đồ 2.3 Lượng tài khoản Follow trên Mạng xã hội Instagram của 04 công

ty Bảo hiểm lớn ở Việt Nam (Tính đến Tháng 7/2017) 55 Biểu đồ 2.5 Số lượng bài viết đăng tải thông tin về các gói sản phẩm, dịch vụ

và các chính sách chăm sóc khách hàng trên facebook của các công ty BHNT tại Việt Nam 60 Biểu đồ 2.6 Biểu đồ thể hiện số lượng bài viết, tương tác nội dung thông tin

bên lề liên quan tới bảo hiểm được quan tâm của các công ty BHNT ở Việt Nam hiện nay 62 Biểu đồ 2.7 Thề hiện số lượng bài đăng, tương tác các nội dung như câu nói hay,

ảnh độc đáo, đố vui sáng tạo, truyện ý nghĩa, các cuộc thi, bình chọn, trò chơi tương tác trên mạng xã hội của các công ty BHNT Việt Nam 64 Biểu đổ 2.8 Thể hiện số lượng bài viết, tương tác nội dung chia sẻ từ những

người nổi tiếng để tạo niềm tin đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ

và sản phẩm của công ty BHNT tại Việt Nam 65 Biểu đồ 2.9 Thể hiện số lượng bài viết, tương tác nội dung giới thiệu văn hóa của

doanh nghiệp của các doanh nghiệp BHNT tại Việt Nam hiện nay 66

Trang 5

Bảng 2.1 So sánh tương quan về số bài viết dạng hình ảnh kết hợp văn bản đăng tải

trên Mạng xã hội Facebook của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 75 Biểu đồ 2.10 So sánh tương quan về hiệu quả truyền thông qua dạng bài viết kết

hợp hình ảnh trên mạng xã hội Facebook của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 76 Biểu đồ 2.11 So sánh hiệu quả truyền thông qua dạng đồ họa trực quan trên

mạng xã hội Facebook của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 78 Biểu đồ 2.12 Mức độ hài lòng cuả khách hàng đối với các nội dung đăng tải

cảu Công ty BHNBT Prudential 81 Biểu đồ 2.13 Mức độ hài lòng cuả khách hàng đối với các nội dung đăng tải

cảu Công ty BHNBT Manulife 82 Biểu đồ 2.14 Mức độ hài lòng cuả khách hàng đối với các nội dung đăng tải

của Công ty BHNT Bảo Việt 83 Biểu đồ 2.15 Mức độ hài lòng cuả khách hàng đối với các nội dung đăng tải

của Công ty BHNT AIA 83 Biểu đồ 2.16 Mức độ hài lòng của khách hàng đối với các hình thức truyền

thông của Công ty BHNT Prudential 84 Biểu đồ 2.17 Mức độ hài lòng của khách hàng đối với các hình thức truyền

thông của Công ty BHNT Manulife 85 Biểu đồ 2.18 Mức độ hài lòng của khách hàng đối với các hình thức truyền

thông của Công ty BHNT Bảo Việt 85

nội dung của các doanh nghiệp BHNT 87

Trang 6

Hình 2.6 Kết quả đo lường của Younet Media về các nền tảng thảo luận đối

với nội dung của các doanh nghiệp BHNT 88 Hình 2.7 Mức độ tiếp cận của khách hàng đối với các kênh mua bảo hiểm 91 Hình 2.8 Diễn biến khủng hoảng xảy ra đối với Manulife, AIA và Prudential

trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2016 92 Hình 2.23 Mức độ bình luận tiêu cực của khách hàng đối với các thương hiệu

bảo hiểm nhân thọ 93

Trang 7

MụC LụC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRUYỀN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ 19

1.1 Những vấn đề cơ bản về truyền thông qua mạng xã hội 19 1.2 Truyền thông qua mạng xã hội của các công ty bảo hiểm nhân thọ 31

Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ VIỆT NAM HIỆN NAY 47

2.1 Khái quát về các công ty bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 47 2.2 Nội dung, hình thức hoạt động truyền thông trên mạng xã hội của các công ty BHNT ở Việt Nam 53 2.3 Đánh giá chung 79

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ 98

3.1 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông trên mạng xã hội của các công ty Bảo hiểm nhân thọ……….98 3.2 Kiến nghị cụ thể 102

KẾT LUẬN 115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, tại Việt Nam, việc xây dựng các chương trình quảng cáo, truyền thông qua mạng xã hội không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp Việt Nam cũng như những cá nhân tự kinh doanh online trên internet Những lợi ích của nó đem lại và sự tương tác, định hướng cao đã góp phần giúp công tác truyền thông qua mạng xã hội của các đơn vị bắt đầu được chú ý đầu tư, nghiên cứu để mang lại hiệu quả tối đa Thực tế cho thấy, hình thức truyền thông này đang dần lấn át hoạt động truyền thông truyền thống Nếu như Myspace là trang mạng xã hội và là công cụ truyền thông phổ biến, hữu hiệu nhất tại Mỹ thì Facebook hiện nay không chỉ là kênh truyền thông hữu hiệu phổ biến ở các nước trên thể giới mà còn cả ở Việt Nam Căn cứ Báo cáo về chỉ số thương mại điện tử ở Việt Nam năm 2018 do Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), ở Việt Nam có gần 40 triệu người sử dụng mạng xã hội Facebook, tuy nhiên chỉ có khoảng 10% các doanh nghiệp chú ý đến hoạt động mạng xã hội

Dịch vụ Social Media Marketing (SMM) khai thác và tìm kiếm trên

Facebook, Youtube, LinkedIn, Blog, Forum… những cơ hội marketing hiệu quả nhất, với sức mạnh lan tỏa và tương tác mạnh của truyền thông xã hội giúp thông điệp tiếp thị của doanh nghiệp đến với cộng đồng một cách nhanh chóng, từ một người truyền ra mười người, từ mười người có thể truyền ra cả trăm, cả nghìn người Tận dụng được điều này, doanh nghiệp sẽ nhanh chóng

có thêm nguồn khách hàng khổng lồ mới và sản phẩm sẽ được quảng bá rộng rãi, giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, từ đó gia tăng mức độ nhận biết thương hiệu, kết nối với khách hàng, đồng thời giữ vững và phát triển thương hiệu trên thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay

Nhận thức được sức mạnh của truyền thông qua mạng xã hội như vậy nên, nhiều doanh nghiệp nói chung, các công ty Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) ở

Trang 9

Việt Nam nói riêng, đã bắt đầu quan tâm khai thác hình thức này Điều này không chỉ thể hiện sự nắm bắt công nghệ, xu thế mới của doanh nghiệp mà còn thể hiện sự nắm bắt công nghệ, xu thế mới của doanh nghiệp trong việc tiếp cận tới khách hàng thời hiện đại, đặc biệt là khách hàng trẻ

Không những thế, truyền thông trong lĩnh vực bảo hiểm nói chung đang được đẩy mạnh như một nhu cầu cấp thiết, do nhận thức của người dân về bảo hiểm còn hạn chế, trong khi thị trường biến chuyển ngày một nhanh cả về quy

mô lẫn số lượng các sản phẩm mới Chưa kể tới các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được ra mắt với tần suất lớn hàng tháng, trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, các sản phẩm mới đã, đang và sẽ ngày một nhiều hơn Bởi vậy, muốn bán được sản phẩm, không thể không tuyên truyền để người dân hiểu Tính riêng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, theo báo cáo mới nhất của AVI, sau gần 20 năm kể

từ khi có doanh nghiệp nhân thọ đầu tiên trên thị trường, vai trò của bảo hiểm nhân thọ đối với nền kinh tế xã hội đã được khẳng định

Trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp BHNT ở Việt Nam đã quan tâm, chú trọng đến hoạt động truyền thông qua mạng xã hội và đạt được những kết quả khá khả quan, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình Điều này được chứng minh cụ thể qua nghiên cứu khảo sát của Buzzmetrics Social Listening – một công cụ nghiên cứu và phân tích mạng xã hội uy tín Trong nghiên cứu này, Buzzmetrics Social Listening đã đi sâu vào phân tích tâm lý của khách hàng trong quá trình lựa chọn, sử dụng dịch vụ của các công ty bảo hiểm nhân thọ hiện nay bằng mô hình phân

tích quá trình trải nghiệm tiêu dùng - BJ (Brand Journey) và Ý kiến của khách

hàng về các công ty bảo hiểm nhân thọ trên các nền tảng mạng xã hội Theo thống kê của Buzzmetrics Social Listening, tính đến cuối năm 2018, Prudential, Manulife và AIA là 3 công ty bảo hiểm nhân thọ được nhắc đến nhiều nhất trên mạng xã hội, chiếm 67% thị phần thảo luận về ngành bảo hiểm nhân thọ

Trang 10

Cũng theo nghiên cứu của Buzzmetrics Social Listening, thông qua việc đánh giá và phân tích dữ liệu người dùng về trải nghiệm khách hàng khi tiếp cận các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ thông qua nền tảng mạng xã hội, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nêu trên đã duy trì và định vị được thương hiệu của mình trong tâm trí khách hàng - một trong những đối tượng công chúng truyền thông chính của doanh nghiệp, cụ thể: Doanh nghiệp Prudential: hãng được nhìn nhận như một công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín và

có các gói sản phẩm tốt phù hợp với nhu cầu của khách hàng Ngoài yếu tố đặc thù của ngành bảo hiểm nhân thọ, là một phương pháp phòng tránh rủi ro, thì khách hàng nhận được nhiều quyền lợi (nhất là quyền lợi y tế) và thủ tục chi trả nhanh chóng là các yếu tố khiến Prudential được đánh giá cao Hay, doanh nghiệp Manulife ngoài việc chiếm được cảm tình của khách hàng thông qua các chiến dịch truyền thông nhân văn như “Mẹ ơi, con muốn nói” đầy xúc động với lượng lớn lượt chia sẻ thì hãng còn nhận được nhiều nhận xét tốt về dịch vụ và các gói sản phẩm; trong đó được hưởng nhiều quyền lợi

và thủ tục chi trả nhanh chóng là các yếu tố chiếm tỷ trọng tích cực cao nhất

Và, doanh nghiệp AIA: hãng có nhiều quyền lợi cho khách hàng và có các gói sản phẩm đa dạng đem đến trải nghiệm tốt nhất

Tuy nhiên, những kết quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của truyền thông qua mạng xã hội cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay Điều này thể hiện ở việc, vẫn chưa có nhiều thông điệp từ các công ty BHNT Việt Nam được biết đến, chưa có những video ý nghĩa của BHNT được chia sẻ rộng rãi; đặc biệt, nhiều doanh nghiệp BHNT vẫn còn rơi vào tình trạng khủng hoảng truyền thông trên mạng xã hội do chưa quản trị và khai thác tốt nền tảng này

Xét về tổng thể, vấn đề cốt lõi trong ngành bảo hiểm là xung đột lợi ích giữa khách hàng và nhà cung cấp bảo hiểm Việc trao đổi, truyền đạt và tiếp nhận thông tin của đôi bên không hiệu quả dẫn đến tình trạng các công ty

Trang 11

không đáp ứng, hỗ trợ như mong muốn của khách hàng Từ đó, người mua bảo hiểm có những cảm nhận tiêu cực về thương hiệu, nghiêm trọng hơn là về ngành, cho rằng bảo hiểm là dịch vụ mang tính lừa đảo, đa cấp Điều này càng dễ xảy ra đối với các doanh nghiệp đầu ngành, sở hữu số lượng khách hàng vô cùng lớn nhưng chưa hoàn thiện khâu chăm sóc và hỗ trợ kịp thời

Cụ thể, theo đánh giá của Younet Media - công cụ thu thập và phân tích dữ liệu người dùng internet thì tính đến cuối năm 2018, trên nền tảng mạng xã hội, vẫn có đến 86% phản hồi tiêu cực nhìn nhận bảo hiểm là hình thức lừa đảo, đa cấp và không đáng tin Trong khi đó, chỉ có 14% người tiêu dùng đánh giá tích cực dựa trên những lợi ích mà nó đem lại như Tiết kiệm tài chính (13%) và là Giải pháp đầu tư tài chính an toàn (1%) Đây thực sự là một tình trạng đáng báo động đối với các thương hiệu trong ngành

Vậy giải pháp nào để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của các công ty BHNT ở Việt Nam hiện nay? Làm thế nào để đẩy mạnh hoạt động này nhằm thúc đẩy hơn nữa hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đó? Vai trò của hoạt động truyền thông qua mạng xã hội hiện nay ở mức nào? Có những phương thức và hình thức nào trong truyền thông qua mạng xã hội có thể khai thác để phục vụ cho hoạt động truyền thông của các công ty BHNT? Để giải đáp những câu

hỏi nêu trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Hoạt động truyền thông qua

mạng xã hội của các công ty Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” làm đề tài

nghiên cứu Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị truyền thông

2 Tình hình nghiên cứu

Nhận thức rõ vai trò của mạng xã hội đối với sự phát triển kinh doanh trong thời đại hiện nay, nhiều công ty, doanh nghiệp đã nghiên cứu về chiến lược kinh doanh và truyền thông qua mạng xã hội ở cả trên thế giới và Việt Nam Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Trang 12

- Khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thu Quỳnh, khóa QH – 2003 -

X, Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài “Trào lưu mạng xã hội tại Việt Nam” (Khảo sát qua 3 mạng xã hội tiêu biểu hiện nay ở Việt Nam: Vietspace,

Cyworld Việt Nam và Yahoo!3600)

Khóa luận này chủ yếu nghiên cứu việc tham gia vào mạng xã hội của giới trẻ và những người sử dụng Internet thường xuyên tại Việt Nam qua 3 mạng xã hội thu hút sự quan tâm của nhiều người Việt Nam: Vietspace, Cyworld Việt Nam và Yahoo!3600 Khóa luận mới chỉ đánh giá được những vấn đề hệ quả và hệ lụy của mạng xã hội, đề xuất giải pháp phát triển, mô hình lý tưởng cho một mạng xã hội tại Việt Nam

- Khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Ngô Lan Hương khóa QH - 2006 -

X, Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài:“Mạng xã hội với việc truyền tải thông tin trong lĩnh vực văn hoá - giải trí”

Khóa luận này tập trung vào việc nghiên cứu quá trình đưa - tiếp nhận thông tin trong lĩnh vực văn hóa, giải trí lên các trang mạng xã hội nổi tiếng

và có nhiều người truy cập nhất hiện nay trong phạm vi 2 trang mạng xã hội chủ yếu: Facebook và Twitter Kết quả khóa luận đã đưa ra những đánh giá và kết luận mang tính định hướng trong việc phát triển mạng xã hội nhằm khai thác một cách tối đa hiệu quả của nó trong việc lan truyền thông tin trên lĩnh vực văn hóa – giải trí

- Luận văn của học viên Lê Minh Thanh, (2010), Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc

gia Hà Nội với đề tài “Truyền thông cá nhân trong xu thế bùng nổ thông tin hiện đại nay”

Luận văn này đã tập trung nghiên cứu về mặt nội dung và hình thức thông tin trên blog và mạng xã hội chủ yếu ở Việt Nam từ năm 2005 đến nay

Trang 13

Kết quả của luận văn đã hệ thống những vấn đề liên quan đến truyền thông cá nhân, đưa ra những nhận xét về xu hướng phát triển của truyền thông cá nhân trong tương lai; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm đưa truyền thông cá nhân trên mạng Internet đặc biệt là blog và mạng xã hội trở thành những trang thông tin cá nhân lành mạnh và hiệu quả

- Khóa luận “Hoạt động marketing truyền thông xã hội trên thế giới và Việt Nam” của tác giả Hoàng Ngân Hà, khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, chuyên

ngành kinh tế đối ngoại, Trường đại học Ngoại Thương Hà Nội tháng 5/2010

Tác giả đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung về marketting truyền thông xã hội, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động marketing truyền thông trên thế giới và ở Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, phát triển hoạt động này tại Việt Nam

- Luận văn của học viên Nguyễn Thị Cẩm Nhung, (2011), Học viện

Báo chí và Tuyên truyền với đề tài “Tác động của mạng xã hội đối với báo điện tử ở nước ta hiện nay”

Luận văn này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích những tác động của mạng xã hội đến báo điện tử nói chung trên một số khía cạnh: thu thập thông tin, nội dung thông tin, xu hướng tương tác đối với báo mạng điện tử

- Luận văn của học viên Hoàng Thị Hải Yến, (2012), Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc

gia Hà Nội với đề tài: “Trao đổi thông tin trên mạng xã hội của giới trẻ Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2011 – thực trạng và giải pháp (khảo sát mạng Facebook, Zingme và Go.vn)

Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý thuyết chung về mạng xã hội, nghiên cứu thực trạng trao đổi thông tin của giới trẻ Việt Nam trên mạng xã hội từ năm 2010 – 2011 qua khảo sát thông tin và người dùng ở 3 trang mạng

xã hội Facebook, Zingme và Go.vn Chỉ ra những mặt tích cực và tiêu cực khi giới trẻ tham gia vào mạng xã hội Trình bày kinh nghiệm, giải pháp và mô hình quản lý giới trẻ Việt Nam sử dụng mạng xã hội

Trang 14

- Luận văn của học viên Dương Nam Hoàng, (2013), Học viện Báo chí

và Tuyên truyền với đề tài “Tác động của mạng xã hội đến việc xử lý thông tin của báo điện tử Việt Nam hiện nay”

Luận văn này đã phân tích, làm rõ những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đối với việc xử lý thông tin của báo điện tử Luận văn tập trung nhiều vào việc khảo sát, thống kê chưa khái quát ược nhiều vấn đề lý luận chung

- Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Minh Hạnh, (2013), Học

viện Báo chí và Tuyên truyền, đề tài “Báo mạng điện tử với việc khai thác và

sử dụng thông tin trên diễn đàn, mạng xã hội”

Nội dung khóa luận đã có những khảo sát, phân tích bước đầu về việc báo mạng điện tử với việc khai thác và sử dụng thông tin trên diễn đàn, mạng

xã hội Tuy nhiên, khóa luận chưa có những phân tích cụ thể, sâu sắc về tác động của mạng xã hội đối với báo điện tử

- Khóa luận của tác giả Nguyễn Đức Công, chuyên ngành kinh tế đối ngoại, trường ĐH Ngoại thương, Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, tháng

6/2013,“Hoạt động truyền thông marketing trực tuyến tại các trung tâm đào tạo tại Hà Nội – thực trạng và giải pháp”

Nội dung khóa luận đã đi sâu nghiên cứu về các hình thức Marketting trực tuyến, các lợi ích của từng hình thức với doanh nghiệp, khách hàng, xã hội Đồng thời tác giả cũng nêu lên thực trạng hoạt động truyền thông marketing trực tuyến của các trung tâm đào tạo ở Hà Nội và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh họat động này

- Nghiên cứu của Sophie Tan-Ehrhardt năm 2013: “Social networks and Internet usages by the young generations” (Mạng xã hội và thói quen sử

dụng Internet của thế hệ trẻ) Nghiên cứu này đã chỉ ra những thói quen của giới trẻ khi sử dụng mạng xã hội và Internet, so sánh những thói quen này với những hành vi trong đời thực cũng như những quan điểm của thế hệ trẻ về

Trang 15

mạng xã hội, Internet Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của mạng xã hội và Internet trong xã hội hiện đại

- Một nghiên cứu khác của Isak Ladegaard với chủ đề: “Young and old use social media for surprisingly different reasons” (Những người trẻ và già

sử dụng truyền thông xã hội với những lý do đáng ngạc nhiên) đã cho thấy những lý do mà mọi người tham gia sử dụng mạng xã hội, mạng xã hội đã thay đổi thói quen và lối sống của họ như thế nào cũng như xu hướng sử dụng mạng xã hội trong tương lai như thế nào

Bên cạnh đó, cũng có không ít những cuộc tranh luận xung quanh vấn

đề những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đối với thế hệ trẻ, tiêu

biểu như cuộc tranh luận trên trang web Debate.org với tiêu đề: “Is social networking bad for today's generation?” (Có phải mạng xã hội là xấu đối với

thế hệ ngày nay?) Đã có rất nhiều ý kiến vào tranh luận, trong đó có 58% đồng ý rằng mạng xã hội đang có những tác động tiêu cực đến thế hệ trẻ, 42% không đồng ý và nêu lên những ưu điểm mà mạng xã hội mang lại

- Nghiên cứu “Tác động của mạng xã hội đến giới trẻ” của tác giả Bùi

Thu Hoài, tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014

Đề tài đã có những nghiên cứu toàn diện và hệ thống về tác động của các nền tảng truyền thông xã hội đến giới trẻ, nhóm công chúng đông đảo và

có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến cộng đồng, xã hội Nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi về lối sống, xu hướng tiếp cận thông tin cũng như những quan niệm mới về truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội

- Nghiên cứu “Tác động của mạng xã hội đối với văn hóa truyền thông” của tác giả Ma Thị Yến, tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015

Nghiên cứu chỉ ra những tác động của sự ra đời, hình thành và phát triển của mạng xã hội đến nhận thức, quan điểm và xu hướng truyền thông

Trang 16

của các nhóm công chúng truyền thông Nghiên cứu cũng phân tích và chỉ ra những nhân tố giúp mạng xã hội trở thành nền tảng truyền thông thu hút người dùng và vượt qua các loại hình truyền thông đại chúng truyền thống

- Luận văn thạc sĩ Quan hệ công chúng “Hoạt động quảng bá ngành báo chí truyền thông của các trường đại học trên mạng xã hội” của tác giả

Nguyễn Thị Minh Trang, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2017

Nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về hoạt động quảng bá, truyền thông trên nền tảng mạng xã hội, khảo sát thực trạng vấn đề quảng bá ngành Báo chí - Truyền thông tại các trường học ở Việt Nam hiện nay thông qua công chúng, các thành viên của mạng xã hội, các lãnh đạo, nhà quản lý, người trực tiếp thực hiện các chiến dịch quảng bá thương hiệu; chỉ ra được ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân còn tồn tại, để tìm ra xu hướng phát triển và đề xuất những giải pháp ứng dụng

- Luận văn thạc sĩ Quan hệ Công chúng của tác giả Trần Thu Dung, tại

Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2017),“Hoạt động truyền thông thương hiệu qua mạng xã hội của công ty dịch vụ chăm sóc phụ nữ mang thai và trẻ

sơ sinh”

Trên cơ sở phân tích, làm rõ những lý luận, thực tiễn đưa ra cái nhìn tổng quan về thực trạng sử dụng hoạt động truyền thông thương hiệu qua mạng xã hội của các công ty dịch vụ chăm sóc phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh Luận văn đưa ra những tác động tích cực và tiêu cực trong việc truyền thông thương hiệu qua mạng xã hội và những giải pháp ứng dụng có hiệu quả

- Luận văn thạc sĩ Quản lý Báo chí - Truyền thông của tác giả Phạm Tú

Linh, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2018), “Thông điệp về chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên bảo hiểm xã hội (khảo sát trong năm 2017)”

Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu thông điệp truyền thông của các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên báo in hiện nay, từ đó tác giả

Trang 17

chỉ ra thực trạng và những vấn đề đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị về quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông điệp về chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên bảo hiểm xã hội

- Luận văn thạc sĩ Quan hệ công chúng của tác giả Nghiêm Thị Thu

Trang, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2018), “Hoạt động truyền thông trên Website và Facebook của Công ty Vinamilk và TH True Milk”

Nghiên cứu cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động truyền thông của doanh nghiệp trên Website và Facebook; Thực trạng hoạt động truyền thông trên Website và Facebook của Công ty Vinamilk và TH True Milk; Xu thế hoạt động truyền thông và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông trên Website và Facebook của Công ty Vinamilk và TH True Milk

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, tại Học viện Báo

chí và Tuyên truyền (2018), “Hoạt động xây dựng thương hiệu của Zing News trên mạng xã hội”

Luận văn hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết căn bản về xây dựng thương hiệu truyền thông trên các nền tảng truyền thông xã hội; phân tích thực trạng xây dựng thương hiệu của báo điện tử Zing News trên mạng xã hội, từ đó nhận định và đưa ra giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng thương hiệu cho các tờ báo mạng điện tử ở Việt Nam nói chung

Bên cạnh đó, có một số sách chuyên khảo, sách tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước cũng cung cấp hệ thống các vấn đề lý thuyết cơ bản liên quan đến truyền thông, quan hệ công chúng, truyền thông xã hội, cũng như tác động của truyền thông xã hội đến các nhóm công chúng khác nhau:

- Giáo trình “Lý thuyết truyền thông” do tác giả Lương Khắc Hiểu làm

chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2017:

Giáo trình gồm 6 chương trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn

cơ bản nhất về truyền thông và quá trình truyền thông, vận động, truyền thông

Trang 18

thay đổi hành vi, kênh truyền thông, kế hoạch truyền thông; giám sát, đánh giá và duy trì kế hoạch truyền thông

- Sách “PR - lý luận và ứng dụng” do tác giả Đinh Thị Thúy Hằng làm

chủ biên, Nhà xuất bản Alpha Books, 2017:

Với sáu chương, cuốn sách này tập trung nghiên cứu và khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn nhất về nghề quan hệ công chúng trên thế giới và ở Việt Nam Từ những vấn đề đơn giản nhất như thuật ngữ, khái niệm, đặc trưng cốt lõi về quan hệ công chúng ở đến những nét sơ thảo về lịch sử hình thành và phát triển quan hệ công chúng trên thế giới Bên cạnh đó, tác giả cũng khái quát các mô hình tổ chức và hoạt động quan hệ công chúng chuyên nghiệp hiện nay, các quy trình cơ bản để thực hiện hoạt động quan hệ công chúng Cuốn sách cũng khái quát hóa những sơ đồ chiến lược giúp các nhà hoạt động quan hệ công chúng phân tích, nắm bắt và giải quyết các vấn

đề cốt lõi của lĩnh vực này, như các kỹ năng tác nghiệp cụ thể, các chiến lược quản lý khủng hoảng, quá trình và phương pháp xây dựng các mối quan hệ với công chúng, các vấn đề pháp luật có liên quan

- Sách “Quảng cáo thoái vị và PR lên ngôi” của hai tác giả AL.Ries và

Laura Ries, Nhà xuất bản Trẻ, 2017:

Đây được coi là tác phẩm nghiên cứu kinh điển đã đặt nền móng và có ảnh hưởng to lớn đến lý thuyết và thực tiễn của 3 ngành quản trị chiến lược, quản trị marketing và quản trị thương hiệu Hầu hết các chiến lược và thực tiễn quản trị chiến lược marketing ngày nay mang ảnh hưởng sâu sắc bởi các luận điểm do Al Ries và các cộng sự đưa ra, đồng thời tiếp tục định hình sự thành công và thất bại của các thương hiệu lớn nhỏ trên thế giới trong một nền kinh tế tri thức với sự bùng phát và tiến hóa chưa từng có của các kênh truyền thông

- Nghiên cứu “Báo chí và mạng xã hội” của tác giả Đỗ Đình Tấn, Nhà

xuất bản Trẻ, 2017:

Trang 19

Trong nghiên cứu này, tác giả trình bày hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản

về mạng xã hội Những vấn đề của báo chí thời đại truyền thông xã hội và mạng

xã hội Giải pháp vì một hệ sinh thái truyền thông an toàn và lành mạnh

- Nghiên cứu “Báo chí và truyền thông đa phương tiện” của tác giả Nguyễn

Thị Trường Giang chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017

Trong nghiên cứu này, tác giả trình bày tổng quan về báo chí và truyền thông đa phương tiện Trình bày về các xu thế phát triển của báo chí trong kỷ nguyên kỹ thuật số, hội tụ truyền thông và toà soạn hội tụ, nhà báo đa phương tiện, tác phẩm báo chí đa phương tiện, công chúng báo chí và truyền thông trong kỷ nguyên mới, truyền thông xã hội và “nhà báo công dân”

- Sách “Làm giàu từ mạng xã hội” (Profiting from social networking)

của nhóm tác giả Patrice - Anne Rutledge, Nhà xuất bản Alpha Books, 2019

Cuốn sách được tổng hợp các nguồn thông tin, tư liệu và công trình nghiên cứu, khảo sát từ nhiều nhà nghiên cứu, doanh nghiệp trên khắp thế giới, vì vậy có hàm lượng khoa học tương đương với một tác phẩm khoa học thường thức Trong cuốn sách tác giả chỉ ra 50 “sự thật” về bản chất mạng xã hội và các cách thức mà các doanh nghiệp, tập đoàn lớn trên thế giới sử dụng mạng xã hội để phục vụ cho các chiến dịch marketing và kinh doanh của mình góp phần phát huy hiệu quả truyền thông qua mạng xã hội cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

Ngoài ra, trên các trang thông tin điện tử, báo chí, tạp chí…cũng có nhiều bài viết liên quan đến hoạt động truyền thông qua mạng xã hội hiện nay

như: “Bùng nổ dịch vụ bảo hiểm trực tuyến” đăng trên báo Đầu tư trực tuyến, ngày 08/01/2017); “truyền thông trực tuyến” đăng trên báo icolor.vn; “truyền thông mạng xã hội” đăng tại http://www.amimedia.vn/; “truyền thông mạng xã hội đang lấn át truyền thông truyền thống”, “ưu thế của hoạt động truyền thông marketing qua mạng xã hội” đăng trên báo Đầu tư trực tuyến…

Trang 20

Qua khảo sát có thể thấy, việc nghiên cứu hoạt động truyền thông xã hội

ở Việt Nam đã được qua tâm nghiên cứu trên những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, số lượng còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tầm quan trọng của hoạt động truyền thông qua mạng xã hội hiện nay đối với sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung Mặt khác qua khảo sát, chưa thấy có công trình nào nghiên cứu về hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của các công

ty Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Chính vì có khoảng trống như vậy nên tôi đã

lựa chọn đề tài “Hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của các công ty Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay”, với mong muốn nghiên cứu sâu và kỹ

thực trạng chất lượng hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của các công ty này hiện nay từ đó luận giải, tìm kiếm những giải pháp để việc khai thác mạng

xã hội trong truyền thông cho các công ty bảo hiểm nhân thọ hiệu quả hơn Trong luận văn, tác giả xin sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước và coi

đó là tiền đề lý luận và thực tiễn để triển khai đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết và thực tiễn, luận văn đi vào nghiên cứu, chỉ ra bức tranh về thực trạng; làm rõ những thành công, hạn chế trong hoạt động truyền thông của các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam thông qua mạng xã hội; từ đó kiến nghị các giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả việc truyền thông của các công ty này trên mạng xã hội trong thời gian tới ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:

Một là, hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề về mặt lý luận liên quan đến hoạt động truyền thông của doanh nghiệp trên mạng xã hội

Trang 21

Hai là, tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích, đánh giá thành công, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế của hoạt động truyền thông qua mạng xã hội ở một số công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

Ba là, đề xuất hệ thống những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động truyền thông của các công ty bảo hiểm nhân thọ trên mạng xã hội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động truyền thông qua mạng

xã hội của một số công ty Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Hiện nay, ở Việt Nam theo thống kê của Bộ Tài chính, tính đến năm

2017 có 18 công ty BHNT Trong đó, có 02 công ty của Việt Nam; 16 công ty của nước ngoài nhưng liên kết và có chi nhánh tại Việt Nam Để tập trung và

có sự khảo sát sâu, chất lượng, tác giả luận văn xin lựa chọn 4 công ty Bảo hiểm nhân thọ điển hình ở Việt Nam hiện nay để khảo sát Cụ thể, đó là các Công ty bảo hiểm nhân thọ AIA, Bảo Việt, Prudiental và Manulife Việt Nam

Luận văn lựa chọn 4 công ty BHNT trên để khảo sát bởi, đó là những công ty đang “nổi” trên thị trường Việt Nam hiện nay Xét về thị phần BH,

“top” 5 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) dẫn đầu khôngn có sự xáo trộn nhiều, theo đó, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục dẫn đầu thị trường với 26,34% thị phần, vị trí thứ 2 thuộc về Prudential với 24,48% thị phần, tiếp theo là Manulife 12,27%, Dai-ichi 12,16%, AIA 9,5%

Cũng theo Cục QLBH, trong năm 2017, các DNBH nhân thọ đã chi trả quyền lợi BH ước đạt 15.703 tỷ đồng (bao gồm chi trả giá trị hoàn lại, chi đáo hạn, sự kiện BH), tăng 26,6% Tổng tài sản của các DNBH nhân thọ năm

2017 ước đạt 233.691 tỷ đồng, tăng 28,6% Tổng nguồn vốn chủ sở hữu ước đạt 40.721 tỷ đồng, tăng 35,2%

Trang 22

Đặc biệt trong năm 2017, có 9 DNBH nhân thọ tăng vốn điều lệ gồm: Manulife tăng từ 1.820 tỷ đồng lên 5.720 tỷ đồng; Dai-ichi tăng từ 2.153 tỷ đồng lên 5.408 tỷ đồng; AIA tăng từ 1.264 tỷ đồng lên 3.224 tỷ đồng; Chubb Life tăng từ 1.165 tỷ đồng lên 1.245 tỷ đồng; Generali tăng từ 2.183 tỷ đồng lên 3.523 tỷ đồng, Aviva từ 800 tỷ đồng lên 2.557 tỷ đồng, Sunlife từ 1.350 tỷ đồng lên 1.520 tỷ đồng, Phú Hưng tăng từ 683 tỷ đồng lên 888 tỷ đồng, FWD

từ 1.395 tỷ đồng lên 2.014,5 tỷ đồng , góp phần giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực tài chính, đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh ngày càng tăng

Về phạm vi thời gian, luận văn nghiên cứu, khảo sát hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của 4 Công ty Bảo hiểm nhân thọ: AIA, Bảo Việt, Prudiental và Manulife Việt Nam trong 1 năm (từ 6/2016 - 6/2017)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở là các đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về truyền thông, về mạng xã hội, truyền thông qua mạng xã hội; nguyên tắc hoạt động của các công ty, doanh nghiệp bảo hiểm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Phân tích thông tin từ nguồn tài liệu sẵn có (Chiến lược, quy định của pháp luật đối với hoạt động của BHNT, hoạt động truyền thông và hoạt động truyền thông mạng xã hội; báo chí, sách, báo, internet ), vận dụng để khái quát hóa và lý thuyết hóa các vấn đề truyền thông mạng xã hội

- Phương pháp phân tích nội dung:

Trong phạm vi hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của 3 công ty BHNT nước ngoài ở Việt Nam và 01 công ty BHNT trong nước, luận văn phân tích những vấn đề chính của đề tài đã đề cập thông qua các số liệu mang tính định tính và tính định lượng bằng những logic khoa học

Trang 23

- Điều tra xã hội học (bằng bảng hỏi):

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với các vấn đề: + Khảo sát về cách thức truyền thông của các công ty đã được chọn nghiên cứu

+ Khảo sát những kênh truyền thông qua mạng xã hội của các công ty + Khảo sát nhận thức của lãnh đạo điều hành và nhân viên, đặc biệt là

bộ phận truyền thông của họ

+ Khảo sát những khó khăn thách thức trong quá trình thực hiện truyền thông qua mạng xã hội của các doanh nghiệp đó

+ Khảo sát thăm dò tâm lý, cách thức sử dụng mạng xã hội của người dùng mạng xã hội

Thông qua đó đánh giá được thực trạng hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của các Công ty BHNT Việt Nam Khảo sát 300 người đang đi làm đi làm và chuẩn bị về hưu thông qua bảng hỏi Chủ yếu là qua email tới những khách hàng của các công ty BHNT

Thực hiện phỏng vấn một số thành viên tham gia hoạt động truyền thông từ các công ty BHNT khảo sát

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 10 người làm công tác truyền thông tại các công ty BHNT lớn ở Việt Nam về hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của công ty họ đang công tác Phỏng vấn những người điều hành, quản lý hoạt động của các công ty để nắm rõ hơn tình hình hoạt động truyền thông qua mạng xã hội, những khó khăn, tồn tại, giải pháp đề xuất

Luận văn lựa chọn hai đối tượng chính:

- Thứ nhất đó là những người trong độ tuổi từ 35 - 45 Đây là lứa tuổi

là đối tượng khách hàng của các công ty BHNT trên các mạng xã hội, đồng thời cũng phù hợp với hướng nghiên cứu của luận văn

Trang 24

- Thứ hai là những người đã đi làm trong độ tuổi từ 24 - 34 Đây là những đối tượng đang trực tiếp sử dụng mạng xã hội, chiếm tỉ lệ cao và cũng là đối tượng thường xuyên tiếp xúc thông tin qua mạng xã hội, đặc biệt họ cũng là đố tượng trung gian tới những khách hàng BHNT của các công ty bảo hiểm

- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp như:

+ Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý các số liệu về, kinh tế – xã hội, môi trường tại khu vực thực hiện dự án

+ Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu, báo cáo cảu các công ty BHNT đã được bổ sung và chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng Thẩm định

+ Phương pháp tổng hợp, so sánh: Tổng hợp các số liệu thu thập được,

so sánh giữa các năm và các công ty khác nhau Từ đó đánh giá hiện trạng đang gặp phải trong truyền thông qua mạng xã hội, dự báo đánh giá và đề xuất các giải pháp giúp gia tăng hiệu quả tới các công ty BHNT

+ Phương pháp phân tích:

Phân tích lý thuyết bao gồm những nội dung sau:

* Phân tích nguồn tài liệu (tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ thông tin đại chúng) Mỗi nguồn có giá trị riêng biệt

* Phân tích tác giả (tác giả trong hay ngoài ngành, tác giả trong cuộc hay ngoài cuộc, tác giả trong nước hay ngoài nước ) Mỗi tác giả có một cái nhìn riêng biệt trước đối tượng

* Phân tích nội dung (theo cấu trúc logic của nội dung)

6 Đóng góp mới của luận văn

6.1 Về mặt lý luận

Đề tài hệ thống hóa một cách tổng hợp những vấn đề lý luận liên quan đến truyền thông và hoạt động truyền thông qua mạng xã hội, kết quả thu được góp phần làm phong phú thêm các phương thức truyền thông hiện nay Mặt khác, hy vọng những lý thuyết tổng hợp này cũng góp phần làm tiền đề cho những người nghiên cứu sau này

Trang 25

6.2 Về mặt thực tiễn

Đề tài tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông qua mạng xã hội của các Công ty BHNT ở Việt Nam, từ đó chỉ ra một cách rõ ràng những thành công cũng như hạn chế và nguyên nhân của nó Qua đó, làm cơ sở để đưa ra giải pháp mang tính khoa học, tính khả thi, và thực tiễn cao nhằm nâng cao hơn nữa vấn đề đã đặt ra Những kết quả khảo sát, thống

kê và tổng kết đó có ý nghĩa quan trọng đối với các Công ty BHNT lớn ở Việt Nam đặc biệt là với 4 công ty được khảo sát, khi mà các Công ty BHNT hiện nay ngày càng xuất hiện rầm rộ, cạnh tranh quyết liệt ở Việt Nam Đặc biệt là trong bối cảnh, các kênh truyền thông truyền thống đang dần lỗi thời, không phù hợp trong thời đại CNTT phát triển như vũ bão, mạng xã hội bùng nổ như hiện nay

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn có kết cấu nội dung chính gồm ba chương:

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về truyền thông qua mạng xã hội của

các công ty bảo hiểm nhân thọ

Chương 2: Thực trạng truyền thông qua mạng xã hội của các công ty

BHNT ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động truyền

thông qua mạng xã hội của các công ty BHNT ở Việt Nam

Trang 26

Chương 1

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRUYỀN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI

CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1.1 Những vấn đề cơ bản về truyền thông qua mạng xã hội

Truyền thông từ tiếng Anh theo từ điển Cambridge: Communication

có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông…

Theo Từ điển Tiếng Việt 2003 của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên: “Truyền thông là truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng, được thực hiện theo tập hợp các quy tắc quản lý việc truyền dữ liệu và phối hợp trao đổi” [tr

1053] Định nghĩa này tập trung vào diễn giải phương thức thực hiện

Thực tiễn truyền thông đã có từ lâu Ngay từ thời cổ Hy Lạp, Aristotle

đã đề xuất một mô hình truyền thông rất gần gũi với mô hình tuyến tính, mà sau này Claude Shannon, cha đẻ của lý thuyết truyền thông đã nêu Aristotle

đã đưa ra một mô hình truyền thông khá đơn giản, trong đó người gửi gửi đi một thông điệp đến người tiếp nhận Mô hình này có giả thiết là thông tin gửi

đi đã được tiếp nhận, vai trò của công chúng chưa được nhận thức rõ nét Kinh nghiệm phát triển của khoa học cho thấy lý thuyết nảy sinh khi con người muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa các dữ kiện, và lý thuyết là sự kết nối một cách khách quan các dữ liệu đó

Theo định nghĩa của một số nhà khoa học thì lý thuyết truyền thông thể hiện mối quan hệ giữa các dữ kiện truyền thông trong hành vi của con người,

Trang 27

và truyền thông là một quá trình có liên quan đến nhận thức (thái độ) hoặc hành vi Giữa nhận thức và hành vi của con người bao giờ cũng có khoảng cách Truyền thông là nhằm mục đích tạo nên sự đồng nhất hoặc ít ra cũng rút ngắn khoảng cách ấy

Theo cuốn Quảng cáo và hỗ trợ bán hàng, một quan điểm truyền thông

tiếp thị tích hợp (Advertising and Promotion, An Intergrated marketing communications perspective) của George Belch và Michael Belch, truyền thông là sự truyền đạt thông tin, là sự trao đổi ý tưởng, hoặc là quá trình tạo lập cái chung hoặc cái thống nhất về suy nghĩ giữa người gửi và người nhận Định nghĩa này cho thấy để quá trình truyền thông xảy ra, bắt buộc phải có một vài điểm chung trong suy nghĩ giữa hai bên và thông tin phải được truyền đạt từ người này sang người kia (hoặc từ bên này sang bên kia) Tuy nhiên, việc tạo lập những suy nghĩ chung thường không đơn giản, có rất nhiều yếu tố tác động đến quá trình truyền thông khiến cho nó không thành công

Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [29, Tr.8] Quan niệm này tập trung chỉ ra cách thức và mục

đích của hoạt động truyền thông

Theo cuốn Cơ sở lý luận Báo chí truyền thông, các tác giả đã cho rằng:

“Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo ra sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [9, Tr.10] Định nghĩa này lưu ý đến các khía cạnh:

thứ nhất, truyền thông là một quá trình – có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong một khoảng thời gian lớn Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau Và thứ ba, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi

Trang 28

Ngoài ra, có thể dẫn ra hàng trăm định nghĩa về truyền thông Mỗi định nghĩa, quan điểm đều có khía cạnh riêng Qua những tìm hiểu nêu trên kết

hợp với thực tiễn có thể khái quát: “Truyền thông là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/ nhóm/ xã hội, từ

đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, chuyển đổi thành hành vi cá nhân/nhóm xã hội”

Quá trình truyền thông thường rất phức tạp Sự thành công phụ thuộc vào các yếu tố như nội dung thông điệp, sự hiểu biết của người nhận về vấn đề được truyền thông và môi trường nhận thông điệp Nhận thức của người nhận và phương tiện dùng để truyền tải thông điệp cũng có thể ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình truyền thông, cũng giống như các yếu tố khác Từ ngữ, hình ảnh, âm thanh và mầu sắc có thể mang những ý nghĩa khác nhau đối với những đối tượng tiếp nhận khác nhau Người làm truyền thông cần hiểu ý nghĩa mà từ ngữ và biểu tượng đó chứa đựng và cách mà chúng tác động đến nhận thức của khách hàng về sản phẩm và thông điệp Đây sẽ là một thử thách của các công ty khi muốn giới thiệu sản phẩm của mình ra nước ngoài

- Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông:

Để tiến hành hoạt động truyền thông, cần có các yếu tố sau:

+ Nguồn: Nguồn (source) hoặc người gửi (sender) của truyền thông là

một người hoặc một tổ chức có thông tin muốn chia sẻ cho người hoặc một nhóm người khác Nguồn có thể là một cá thể hoặc là phi nhân thể (như bản thân các tổ chức, doanh nghiệp) Quá trình truyền thông bắt đầu khi người gửi lựa chọn từ ngữ, biểu tượng, hình ảnh… để thể hiện thông điệp sẽ gửi đến cho người nhận Quá trình này được gọi là mã hóa (encoding)

+ Thông điệp: Quá trình mã hóa dẫn đến sự phát triển thông điệp chứa

đựng những thông tin hoặc ý nghĩa mà người gửi mong muốn được truyền tải Thông điệp có thể bằng tín hiệu, kí hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, bằng sóng trên không trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu

Trang 29

được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa Đối với một số sản phẩm, thông điệp không đơn giản chỉ là những từ ngữ đơn thuần mà nó còn là sự ấn tượng do hình ảnh mang lại

+ Kênh truyền thông (channel): là sự thống nhất của phương tiện, con

đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Căn cứ vào các tính chất, đặc điểm cụ thể, người ta chia kênh truyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông cá nhân, truyền thông trực tiếp, truyền thông đại chúng, truyền thông đa phương tiện…

+ Đối tượng tiếp nhận (Reciver/decoding): là các cá thể hay tập thể

người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông Cũng có thể nói, các

cá thể hay nhóm người tiếp nhận thông điệp là đối tượng tác động của truyền thông Để truyền thông hiệu quả thì quá trình giải mã thông điệp của người nhận phải phù hợp với sự mã hóa của người nhận Nghĩa là, đối tượng tiếp nhận phải hiểu và giải thích chính xác những điều người gửi truyền tải

+ Nhiễu (noise): là một yếu tố luôn luôn tồn tại trong quá trình truyền

thông Đó là hiện tượng thông tin truyền đi bị ảnh hưởng bởi các điều kiện của tự nhiên và xã hội, phương tiện kỹ thuật… gây ra sự sai lệch hay kém chất lượng về nội dung thông tin cũng như tốc độ truyền tin Nhiễu luôn được coi là quy luật của quá trình truyền thông, nếu biết xử lý nhiễu sẽ tăng thêm hiệu quả cho quá trình truyền thông

+ Phản hồi (feedback/response): được hiểu là sự tác động ngược trở lại

của thông tin từ phía người tiếp nhận đối với người truyền tin Phản hồi là phần tử cần thiết để điều khiển quá trình truyền thông, làm cho quá trình truyền thông được liên tục từ nguồn đến đối tượng tiếp nhận và ngược lại Nếu không có phản hồi, thông tin chỉ một chiều và mang tính áp đặt

1.1.1.2 Mạng xã hội

Những đổi mới trong công nghệ thông tin đã đưa thế giới đến với một

kỷ nguyên của các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó hầu như tất

Trang 30

cả mọi người đều được tiếp cận tin tức và thông tin, và trở thành những người sáng tạo và đóng góp cho ngành công nghiệp báo chí Nhờ đó, ngày nay, tin tức được truyền đi theo những cách thức phi truyền thống với những hệ quả không thể đoán trước được Một trong những cách thức phi truyền thống đó là mạng xã hội Mạng xã hội (social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian

Theo nhà xã hội học Laura Garton, nhà nghiên cứu chiến lược trường

đại học Toronto thì “khi một mạng máy tính kết nối với mọi người hoặc các cá nhân tổ chức lại với nhau thì đó chính là mạng xã hội” [26] Đây là một định

nghĩa đơn giản nhưng đã cho thấy vai trò của mạng máy tính Khái niệm này cho rằng mạng máy tính là căn cốt phát triển MXH Nếu không có mạng này thì không có mạng xã hội MXH đơn giản là hệ thống của những mối quan hệ con người với con người

PGS.TS Nguyễn Minh Hòa (Trưởng bộ môn Đô thị học Trường đại học

KHXH&NV – ĐHQG TP Hồ Chí Minh) cũng cho rằng: “Theo cách hiểu truyền thống thì MXH là một sự liên kết các cá nhân và cộng đồng lại dưới một kiểu nào đó để thực hiện một vài chức năng xã hội Tương tự nhóm xã hội, người ta có thể liệt kê ra rất nhiều loại MXH dựa trên đặc tính pháp lý và

tổ chức, chẳng hạn như mạng chính thức và không chính thức, mạng thực và mạng quy ước, mạng lớn và mạng nhỏ” [6, 5] Đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu nêu trên, trong cuốn Quy luật mới của PR và Tiếp thị tác giả

David Meerman Scott cũng nhìn nhận thuật ngữ MXH dưới góc độ vai trò của

nó Đó là MXH là nơi góp phần kết nối những những người bạn trong thực tế

và tìm kiếm những người bạn mới trên mạng Tuy nhiên, trong thuật ngữ tìm hiểu về MXH của David Meerman Scott, tác giả đã chỉ ra điểm khác biệt trong việc “kết nối” và “tìm kiếm” những người bạn đó là dưới dạng “mạng

lưới ảo” Cụ thể thuật ngữ đó như sau: “MXH khiến mọi người dễ dàng tạo ra

Trang 31

được một hồ sơ về bản thân và sử dụng chúng để lập nên một mạng lưới ảo kết nối với những người bạn trong thực tế và tìm kiếm những người bạn mới trên mạng” [3, 43]

Mạng xã hội được quy định tại Khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, theo đó: Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác

Từ các quan điểm trên đây, kết hợp với thực tiễn, tác giả luận văn xin khái quát và đưa ra một quan niệm về MXH theo cách hiểu của mình như sau:

“MXH là đại diện tiêu biểu của Web 2.0 mô phỏng các quan hệ trong xã hội thực MXH tạo ra một hệ thống trên nền Internet kết nối các thành viên cùng

sở thích với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian với những tính năng như kết bạn, chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog… nhằm phục vụ những nhu cầu của người sử dụng và những giá trị của xã hội”

1.1.1.3 Truyền thông qua mạng xã hội

Khái niệm truyền thông xã hội (social media) ra đời một vài thập kỉ trước đây với sự xuất hiện của mạng internet buổi sơ khai và hệ thống tin nhắn BBS (Bulletin Board System) Tuy vậy, phải đến khi nền tảng Web 2.0

ra đời, với công nghệ giúp cho người dùng tự xây dựng được nội dung và kết nối với nhau, thì kỉ nguyên của truyền thông xã hội mới thực sự bùng nổ Truyền thông xã hội đến lúc này được hiểu là các nền tảng (platform) cung cấp cho người sử dụng internet dựa trên công nghệ web 2.0

Truyền thông qua mạng xã hội (tiếng Anh: Social Media) là một thuật ngữ để chỉ một cách thức truyền thông kiểu mới, trên nền tảng là các dịch vụ

Trang 32

trực tuyến, do đó các tin tức có thể chia sẻ, và lưu truyền nhanh chóng và có tính cách đối thoại vì có thể cho ý kiến hoặc thảo luận với nhau Những thể hiện của Social Media có thể là dưới hình thức của các mạng giao lưu chia sẻ thông tin cá nhân (MySpace, Facebook, Yahoo 360) hay các mạng chia sẻ những tài nguyên cụ thể (tài liệu – Scribd, ảnh – Flickr, video – YouTube)

Bên cạnh đó, mạng xã hội, hay còn có thể biết đến dưới những tên gọi khác như “cộng đồng ảo” hay “trang hồ sơ”, là một trang web mang mọi người đến với nhau để nói chuyện, chia sẻ ý tưởng và sở thích, hay làm quen với những người bạn mới Cách thức hợp tác và chia sẻ dữ liệu này thường được gọi là “truyền thông xã hội”

Theo định nghĩa của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, mạng xã hội được quy định tại Khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản

lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng của Bộ Thông

Tin và Truyền thông, thì “Mạng xã hội là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác.”

Như vậy, từ những luận giải về khái niệm “truyền thông” và khái niệm

“mạng xã hội” nêu ở trên, kết hợp với thực tiễn có thể hiểu: “truyền thông

qua mạng xã hội là phương thức truyền thông dựa vào sức mạnh lan tỏa và tính tương tác của các phương tiện truyền thông xã hội (Facebook, Youtube, Linkedln, Blog, Forum,…) để xây dựng nội dung và truyền đi thông điệp” Với đặc tính đa chiều, không gian tương tác rộng, truyền thông xã hội giúp truyền tải thông điệp nhanh hơn, lan truyền rộng rãi và mạnh mẽ hơn, đặc biệt kênh truyền thông xã hội giúp tạo ra sự tương tác mạnh mẽ giữa người dùng hơn, so với các phương tiện truyền thông đại chúng trước đây

Truyền thông qua mạng xã hội hoàn toàn thoát khỏi giới hạn của định

Trang 33

dạng truyền thông đại chúng như báo giấy, sách, tạp chí và cả phát thanh, truyền hình Không chỉ phục vụ các nhu cầu thông tin khác nhau, truyền thông qua mạng xã hội góp phần phá vỡ khoảng cách về mặt địa lý và xã hội, làm cho sự cách trở về địa lý ít ảnh hưởng tới các mối quan hệ xã hội hơn Một trong những ưu điểm được cho là nổi bật của truyền thông mới là cho phép người sử dụng dân chủ hơn trong cách lựa chọn và công bố thông tin Khi đó, người sử dụng cũng đồng thời trở thành người “kể chuyện” hay nói cách khác là những “nhà báo công dân” (citizen journalist) Thực tế là ngày càng nhiều người tham gia vào mạng lưới báo chí với tư cách là “nhà báo công dân” khi họ là chủ thể cung cấp thông tin cho báo chí

1.1.2 Vai trò, đặc trưng của truyền thông qua mạng xã hội

1.1.2.1 Đặc trưng của truyền thông qua mạng xã hội

Một là, giúp công chúng xã hội có thể dễ dàng cùng tham gia Tất cả mọi người đều là một phần của câu chuyện Tất cả mọi người đều có ảnh hưởng Hành động của một người dân hoặc một nhóm công dân, đóng vai trò trong quá trình thu thập, đưa tin, phân tích và truyền bá tin tức và thông tin sẽ

là sự cạnh tranh đối với các tổ chức truyền thông và những nhà báo làm việc cho các tổ chức này Tuy nhiên, mục đích có thể lại là giống nhau: cung cấp thông tin độc lập, đáng tin cậy, chính xác, trên nhiều lĩnh vực và các lĩnh vực

có liên quan mà một nền dân chủ đòi hỏi

Hai là, truyền thông mạng xã hội giúp truyền tải thông tin nhanh chóng, mang tính đa chiều Truyền thông mạng xã hội thông qua các ứng dụng trên internet được các nhà nghiên cứu nhân học truyền thông xem xét như một quá trình để truyền đạt thông tin giữa những người có mong muốn chia sẻ thông tin một cách trực tiếp, mà không cần sử dụng các phương tiện lưu trữ như dạng văn bản viết truyền thống Thông tin được truyền đạt nhanh nhất đến cộng đồng nhờ quá trình truyền thông của mạng xã hội Chính vì sự cập nhật thông tin nhanh nhạy, trực tiếp và không hạn chế sự tương tác, các

Trang 34

ứng dụng truyền thông mạng xã hội phát triển vô cùng nhanh chóng trong những năm qua

Ba là, truyền thông qua mạng xã hội giúp tăng khả năng tương tác, phản biện, bình luận, bổ sung thông tin, truyền thông đa nguồn, đa chiều của mạng xã hội khiến môi trường truyền thông này trở nên phong phú, đa dạng hơn nhiều so với nguồn tin một chiều truyền thống

Bốn là, truyền thông qua mạng xã hội là môi trường giúp gắn bó mật thiết với các cá nhân hơn, do vậy việc phân phối thông tin và khả năng truyền thông trúng đích thông qua mạng lưới cá nhân và các mối quan hệ nhóm cao hơn nhiều so với sự phân phối độc lập của hàng trăm, hàng ngàn nguồn tin từ truyền thông truyền thống

* So sánh truyền thông qua mạng xã hội với truyền thông qua phương tiện truyền thống:

Truyền thông qua mạng xã hội giống truyền thông truyền thống ở điểm

chúng cùng là công cụ truyền thông Sự khác nhau lớn nhất giữa chúng thể hiện ở mô hình, mục đích, chất liệu truyền thông và đích phân phối (nhóm công chúng)

Điểm khác biệt dễ thấy nhất là về cơ bản, truyền thông truyền thống là quá trình truyền thông một chiều, một nguồn phát tin - nhiều nguồn tiếp nhận Còn truyền thông qua mạng xã hội là mô hình truyền thông đa chiều, đa nguồn - đa tiếp nhận

Chất liệu lõi của media là các nội dung như ảnh, bài viết, lời bình, clip, bản tin báo chí, chương trình truyền hình, phát thanh, Truyền thông truyền thống kinh doanh trên chất liệu lõi của mình (như bán báo, thuê bao để xem chương trình truyền hình cáp, quảng cáo ) Còn với truyền thông qua mạng

xã hội, chất liệu lõi thường là ý kiến, sự bày tỏ thái độ, cảm xúc, quan điểm cá nhân, các thông tin mang tính cá nhân, hoặc chia sẻ những thông tin chung có

ý nghĩa đối với bản thân người sử dụng

Trang 35

Dưới góc độ phân phối, truyền thông mạng xã hội định vị theo cá nhân

và các mối quan hệ của các nhân, theo các cấp độ: (1) Nguồn nội dung: Blog, Forum, Flickr, ; (2) Chia sẻ nội dung: Facebook, Wiki, Twitter, ; (3) Phân phối nội dung: Twitter, YouTube, linkhay, Digg, Trong đó, việc phân phối nội dung thông qua "màng lọc" của cá nhân là con người thật và đích phân phối trực tiếp chính là danh sách bạn bè, mạng lưới của cá nhân đó Điều này ngược lại với truyền thông truyền thống, vốn có tính cá nhân rất thấp, sản phẩm truyền thông được định vị theo phân khúc người dùng và phân phối trên

hệ thống của truyền thông đại chúng

Về mối quan hệ giữa truyền thông qua mạng xã hội và truyền thông truyền thống trong tương lai, sự tham gia của truyền thông qua mạng xã hội vào bức tranh truyền thông chung sẽ "phẳng hóa" môi trường truyền thông và giới thiệu kênh mới cho công chúng, đồng thời khiến Truyền thông truyền thống phải thích ứng và trở nên "dân chủ" hơn, thân thiện hơn Công chúng sẽ thụ hưởng một môi trường giàu tài nguyên hơn Truyền thông qua mạng xã hội

sẽ tham gia mạnh mẽ ở vai trò phát hiện sự kiện, khu vực nội dung chuyên sâu

và khâu phân phối Truyền thông truyền thống vẫn chiếm thế mạnh ở đưa tin tức sự kiện hàng ngày, báo chí điều tra, tập hợp và mở rộng vấn đề, sản xuất các nội dung, chương trình có chất lượng cao, quy mô lớn Bên cạnh đó, truyền thông qua phương tiện truyền thống cũng sẽ hòa nhập vào môi trường truyền thông qua mạng xã hội để tận dụng giá trị phân phối của môi trường này

1.1.2.2 Vai trò truyền thông qua mạng xã hội:

Một là, truyền thông qua mạng xã hội cung cấp cơ hội cho khách hàng

tự chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức về nội dung của doanh nghiệp và tự nguyện chia sẻ với nhau về các thông tin liên quan đến doanh nghiệp Đồng thời, truyền thông sử dụng mạng xã hội còn giúp doanh nghiệp tiếp nhận ý kiến phản biện của của khách hàng về sản phẩm dịch vụ doanh nghiệp đang kinh doanh Qua đó, doanh nghiệp hiểu rõ hơn nhu cầu cá nhân của từng

Trang 36

khách hàng, hình thành cơ sở dữ liệu về xu hướng của khách hàng - cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển của doanh nghiệp

Hai là, truyền thông qua mạng xã hội là cách tốt để doanh nghiệp gia tăng nhận thức về thương hiệu đến với khách hàng, doanh nghiệp cũng có thể tạo ra một sân chơi có sự tham gia của khách hàng cũng như củng cố tình cảm của họ đối với sản phẩm và dịch vụ

Bên cạnh những yếu tố tích cực nói trên thì truyền thông qua mạng xã hội cũng là 1 “cái bẫy” khổng lồ, bởi nó có thể ngốn của doanh nghiệp hàng núi tiền cho việc hiển thị và kết nội cộng đồng cùng tham gia với các chiến dịch Marketing của doanh nghiệp Để kiểm soát những cái bẫy này, doanh nghiệp cần phải có những nhân sự phụ trách với những kiến thức và kỹ năng

về phương tiện truyền thông xã hội thật vững chắc Nếu doanh nghiệp thiếu những kỹ năng cũng như kiến thức để xây dựng và vận hành các chiến dịch Marketing phương tiện truyền thông xã hội, rất có thể, doanh nghiệp sẽ tiêu tốn những khoản tiền rất lớn mà chưa chắc có hiệu quả

Ba là, truyền thông qua mạng xã hội đem lại nhiều điều bổ ích cho con người, đặc biệt là về thông tin, giải trí, sự liên kết, tương tác giữa các thành viên và các loại hình truyền thông Dựa trên tiện ích đa dạng mang lại cho người sử dụng, mạng xã hội được ví như ngôi nhà chung của nhiều người mà

ở đó, người ta có thể chia sẻ cảm nhận, cảm xúc cá nhân, bất kể khoảng cách

về địa lí hay sự chênh lệch tuổi tác Những diễn đàn được lập ra trên mạng, tập hợp nhóm người cùng sở thích, chung mối quan tâm, có khi dẫn đến hành động tập thể một cách hiệu quả

Tuy nhiên, truyền thông bằng mạng xã hội cũng có những hạn chế Truyền thông bằng mạng xã hội có vai trò quan trọng đối với báo chí trong việc cung cấp thông tin, đề tài, quảng bá và xây dựng giá trị thương hiệu cho

cơ quan báo chí và nhà báo Mạng xã hội cũng là kênh tương tác của báo chí với khách hàng góp phần làm thay đổi quy trình làm báo truyền thống trước

Trang 37

đây… Song, mạng xã hội không phải là phương tiện thông tin đại chúng Vì vậy, việc tiếp nhận, kiểm chứng và độ xác thực thông tin trên mạng xã hội, đòi hỏi các quan báo chí, nhà báo phải thận trọng, cân nhắc khi chọn lọc

1.1.3 Các hình thức và phương thức truyền thông qua mạng xã hội

1.1.3.1 Văn bản (text)

Cách thức truyền thông qua mạng xã hội cơ bản nhất chính là bằng văn bản Văn bản giúp cho người nhận nắm được các thông cơ bản, quan trọng 1 cách đầy đủ mà nguồn phát cần truyền tải Tuy nhiên, cách thức này cũng bộc

lộ nhiều nhược điểm trong thời kỳ Web 3.0 như: Văn bản nhiều chữ sẽ khiến người xem bỏ qua hoặc đọc lướt – không nắm bắt được hết thông điệp truyền tải, cách thức tiếp nhận khó khăn

1.1.3.2 Video

Xu thế của truyền thông trên thế giới hiện nay là giảm bớt lượng thông tin trình bày bằng văn bản, tăng cường sử dụng hình ảnh và video để chuyển tải thông tin Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều cơ quan truyền thông vẫn chưa khai thác video như một yếu tố truyền tải thông tin hữu ích Vì thế, việc nhận thức đúng vai trò và tính chất, tầm quan trọng của việc sử dụng video trong tác phẩm truyền thông là hết sức cần thiết

Video đem lại vai trò lớn trong việc truyền thông trên mạng xã hội như: giúp cho thông tin trở nên sinh động và hấp dẫn hơn; tăng tính khách quan trung thực của thông tin; tăng view, tăng nguồn thu cho cơ quan truyền thông; thông tin trở nên dễ hiểu, cô đọng, súc tích và dễ tiếp nhận hơn…

1.1.3.3 Audio

Theo khảo sát của Vietnam Mobile Report, hơn 70% người Việt nghe nhạc trên Internet mỗi ngày Số liệu từ Adtima Audience Insight - Audio Streaming Study 2018 cũng chỉ ra, 89% người tham gia khảo sát nghe nhạc bằng smartphone với thời gian trung bình mỗi tuần là 16 giờ Niềm yêu thích

âm nhạc của người Việt giúp cho việc truyền thông qua audio trở thành 1

Trang 38

công cụ đắc lực Thông tin được truyền tải bằng audio phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ

1.1.3.4 Infographic

Infographic là từ ghép của Information Graphic - nghĩa là hình thức đồ họa trực quan sử dụng hình ảnh để trình bày thông tin, dữ liệu hoặc kiến thức thể hiện những luồng thông tin phức tạp một cách nhanh và rõ ràng nhất

Vai trò của Infographic trong thông tin truyền thông trên mạng xã hội

đó là: giúp thu hút và hấp dẫn người xem; giúp truyền đạt những thông tin phức tạp nhất; cung cấp thông tin đầy đủ, dễ hiểu; ciúp người xem dễ dàng nắm bắt và ghi nhớ thông tin…

1.2 Truyền thông qua mạng xã hội của các công ty bảo hiểm nhân thọ

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của các công ty bảo hiểm nhân thọ

- Khái niệm

Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm mang ý nghĩa kinh tế - xã hội sâu sắc Trong đó, người tham gia bảo hiểm sẽ định kì đóng những khoản phí trong một thời gian thoả thuận trước vào một quỹ lớn do công ty bảo hiểm quản lí và công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một khoản tiền như đã thoả thuận trong hợp đồng khi kết thúc thời hạn bảo hiểm hoặc khi có sự kiện rủi

ro xảy ra cho người được bảo hiểm

Do đó bảo hiểm nhân thọ được hiểu như một sự đảm bảo, một hình thức tiết kiệm và mang tính chất tương hỗ Bảo hiểm nhân thọ trên một phương diện nào đó còn mang tính chất bổ sung cho bảo hiểm xã hội (BHXH) khi đời sống của nhân dân đưọc nâng cao mà chế độ BHXH chưa đáp ứng hết được

- Phân loại:

+ Phân loại theo phương thức tham gia bảo hiểm nhân thọ:

Phân loại theo cách này có bảo hiểm cá nhân và bảo hiểm nhóm

Bảo hiểm cá nhân: Là loại bảo hiểm con người thực hiện dưới hình thức người tham gia bảo hiểm là cá nhân Thông thường loại bảo hiểm tự nguyện đều do cá nhân tham gia bảo hiểm

Trang 39

Bảo hiểm nhóm: Là loại bảo hiểm con người theo hình thức tập thể có kèm theo danh sách cá nhân được bảo hiểm Thí dụ tập thể cán bộ, công nhân viên của một doanh nghiệp đều được mua bảo hiểm con người có kèm theo danh sách các cá nhân được bảo hiểm rủi ro chết hoặc bảo hiểm tai nạn bất ngờ nhằm đảm bảo an toàn sản xuất, lao động

+ Phân loại theo tính rủi ro:

Phân theo cách này bảo hiểm có một số loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản như sau:

(1) Bảo hiểm tử kỳ: Còn gọi là bảo hiểm tạm thời hay bảo hiểm sinh mạng có thời hạn Đây là loại hình BH được ký kết bảo hiểm cho cái chết xảy

ra trong thời gian đã quy định của hợp đồng Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì người được BH không nhận được bất kỳ một khoản tiền nào Loại hình BH này được đa dạng hoá thành các loại hình sau: Bảo hiểm tử kỳ

cố định; Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục; Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi; Bảo hiểm tử kỳ giảm dần; Bảo hiểm tử kỳ tăng dần; Bảo hiểm thu nhập gia đình; Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên; Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện

(2) Bảo hiểm trọn đời: Hay còn gọi là bảo hiểm trường sinh Đây là loại hình bảo hiểm nhân thọ mà thời gian bảo hiểm không xác định và số tiền bảo hiểm được chi trả cho người thừa kế khi người được bảo hiểm chết Ngoài ra trong một số trường hợp, loại hình bảo hiểm này còn đảm bảo chi trả cho người được bảo hiểm ngay khi họ sống đến 99 tuổi

(3) Bảo hiểm trong trường hợp sống (sinh kỳ): Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong một khoản thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào

(4) Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp: Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, số tiền bảo hiểm sẽ được trả khi người được

Trang 40

bảo hiểm bị chết hoặc sống đến đáo hạn hợp đồng và thời hạn bảo hiểm được xác định trước, trong đó bảo tức trả khi đáo hạn hợp đồng và phụ thuộc vào hiệu quả mang lại do đầu tư phí bảo hiểm mà người được bảo hiểm chọn

Tuỳ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính khác nhau của bản thân, mỗi người đều có thể lựa chọn cho mình một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ sao cho phù hợp với mục đích của mình Trong bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp này yếu tố rủi ro và tiết kiệm đan xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãi hầu hết ở các nước trên thế giới

+ Phân loại theo thời hạn hợp đồng

Trong bảo hiểm con người thì bảo hiểm nhân thọ được sử dụng để chỉ loại hình bảo hiểm con người có tính chất dài hạn

Ngoài các loại hình bảo hiểm nhân thọ nêu trên, còn có những sản phẩm

đi kèm cho sản phẩm chính đó là sản phẩm bổ xung, có những sản phẩm có thời hạn chỉ 1 năm, hết 1 năm lại tái tục hợp đồng ví dụ như: Trợ cấp nằm viện, chi phí phẫu thuật, bảo hiểm thương tật bộ phận vĩnh viễn do tai nạn

- Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ:

Bảo hiểm nhân thọ là một sự đảm bảo và mang tính chất tương hỗ - đó

là mục đích chính, và do đó bảo hiểm nhân thọ mang tính chất xã hội rất lớn

Số tiền được trả cho thân nhân và gia đình người tham gia bảo hiểm khi không may gặp rủi ro được bảo hiểm sẽ giúp những người thân chi trả những khoản chi tiêu rất lớn như: tiền thuốc thang và bác sỹ, tiền ma chay, khoản tiền cần thiết để ổn định cuộc sống, chi phí giáo dục con cái, nuôi dưỡng chúng nên người

Không ai muốn nghĩ tới cái chết, nhưng không ai biết nó đến lúc nào Việc mua một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là thể hiện sự chu đáo của mình đối với bản thân và gia đình Và nếu như may mắn trong suốt thời hạn bảo hiểm không có rủi ro thì người được bảo hiểm vẫn nhận lại được số tiền đã nộp cộng thêm lãi nhờ hoạt động của công ty bảo hiểm Nhiều khoản tiền nhỏ lúc

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w