Trong những năm qua, thể chế về văn hóa từng bước được nâng lên; đời sống văn hóa nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị truyền thống văn hóa TTVH dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
QUÀNG THỊ HOA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
QUÀNG THỊ HOA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý xã hội
Mã số: 8 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Thu Quyên
HÀ NỘI - 2019
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Thị Thu Quyên Các số liệu, kết quả được nêu ra trong luận văn là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Những kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Quàng Thị Hoa
Trang 5Truyền thống văn hóa
Văn hóa, thể thao và du lịch
Văn hóa và thông tin
Bản sắc dân tộc
Hoạt động bảo tồn
Trang 6MỞ ĐẦU 1
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒNTRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC Ở CẤP HUYỆN 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái ở cấp huyện 9
1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp huyện 31
Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN YÊN CHÂU,TỈNH SƠN LA HIỆN NAY 47
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La hiện nay 47
2.2 Ưu điểm, hạn chế trong quản lý hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La hiện nay và nguyênnhân 54
Chương 3:PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝHOẠT ĐỘNG BẢO TỒN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC THÁI Ở HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA THỜI GIAN TỚI 78
3.1 Phương hướng tăng cường quản lý hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La thời gian tới 78
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý hoạt động bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La thời gian tới 82
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
TÓM TắT LUậN VĂN 105
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi một dân tộc đều có những giá trị truyền thống và văn hóa riêng góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam truyền thống
Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa các dân tộc thiểu số
là một chính sách lớn và nhất quán Trong quá trình giao lưu, hội nhập kinh tế thế giới, văn hóa Việt Nam càng khẳng định vị thế, vai trò quan trọng của mình trong công cuộc đổi mới đất nước Để văn hóa thực sự vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH thì quản lý hoạt động bảo tồn (QLHĐBT) truyền thống văn hóa dân tộc phải trở thành một nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên và có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong những năm qua, thể chế về văn hóa từng bước được nâng lên; đời sống văn hóa nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị truyền thống văn hóa (TTVH) dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành; nhiều phong tục tập quán, lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu
số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng… Tuy nhiên, so với thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại thì thành tựu trên lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng, nhất là việc bảo tồn giá trị TTVH chưa hiệu quả, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn
Từ nhận định trên, có thể khẳng định công tác QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta hiện nay Nhất là trong quá trình tiến sâu vào hội nhập, toàn cầu hóa tạo ra sự “xâm thực” văn hóa, bất bình đẳng trong tiếp cận văn hóa và nguy cơ tổn thất bản sắc văn hóa (BSVH) dân tộc cho nên việc bảo tồn TTVH
là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị
Trang 8Dân tộc Thái là dân tộc có số dân đông thứ hai trong 53 dân tộc thiểu
số ở nước ta Cũng như mọi dân tộc khác, người Thái ở Tây Bắc đã sớm hình thành một nền văn hóa mang mầu sắc riêng và hết sức đặc sắc Nền văn hóa
ấy ảnh hưởng sâu sắc đến từng cá nhân trong cộng đồng người Thái, góp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa đa dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam Những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra như một cơn lốc cuốn hút tất cả các nước trên thế giới Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia khác không thể đứng ngoài dòng chảy này Kinh tế thị trường với những ưu điểm và mặt trái của nó, có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa truyền thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa của dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Bên cạnh những giá trị tốt đẹp trong văn hóa truyền thống của người Thái, còn có những yếu tố không còn phù hợp với sự phát triển của thời đại Trước sự tác động của cơ chế thị trường, mở rộng hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Thái nói chung, và người Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La nói riêng đang bị mai một, pha trộn, lai căng, không còn giữ được bản sắc Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển KT-XH, giữ gìn và phát huy BSVH các dân tộc, tạo điều kiện
để vùng Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Trước tình hình đó thì việc bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La là vấn đề mang tính thời sự, cấp bách trong giai đoạn hiện nay Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, học viên đã
lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc
Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La hiện nay” để nghiên cứu ở cấp trình độ
Thạc sĩ, ngành Chính trị học, chuyên ngành Quản lý xã hội
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta không
Trang 9phải là vấn đề mới, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu với tầm cỡ, quy mô và khía cạnh khác nhau
Thứ nhất, các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát
triển như: Phạm Văn Đồng, “Văn hóa và đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1994; Phạm Xuân Nam, “Văn hóa vì sự phát triển”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Ngô Đức Thịnh, “Đa dạng văn hóa và sự phát triển
xã hội” Các công trình bài viết về vai trò của văn hóa trong nền kinh tế thị
trường như: Hồ Sĩ Vịnh, “Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; GS.TS Trần Văn Bính, “Mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tuyên giáo số 1/2012; PGS.TS Phạm Ngọc Trung, “Hệ giá trị văn hóa Việt Nam cấu trúc và xu hướng biến đổi trong thời kỳ hội nhập quốc tế” Tạp chí Lý luận và truyền thông, tháng 11/2013
Thứ hai, một số công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc và
bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam như: Huy Cận,“Suy nghĩ về bản
sắc văn hóa dân tộc”,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Nguyễn Đình
Quốc Cường, “Bản sắc văn hóa dân tộc – Nền tảng tinh thần đảm bảo phát
triển bền vững”, Tạp chí Tuyên giáo số 11/2012; Huỳnh Văn Tới, “Bản sắc dân tộc – Từ góc nhìn văn hóa”, Tạp chí Cộng sản số 860 (6/2014) Nghiên
cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số như: Ngô Văn Lệ, “Văn hóa các dân tộc
thiểu số Việt Nam”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998; Trần Văn Bính (chủ biên),
“Văn hóa các dân tộc Tây Bắc – Thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Phạm Hữu Dật, “Góp phần nghiên cứu dân
tộc học Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Các báo cáo tại Hội
thảo Quốc tế tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội (2010), Văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam và vấn
đề bảo tồn di sản văn hóa
Thứ ba, những bài viết và công trình nghiên cứu về văn hóa Thái như:
Trang 10Đặng Nghiêm Vạn, “Tìm hiểu văn hóa cổ truyền của người Thái Mai Châu”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,1989; Lê Ngọ Thắng, “Nghệ Thuật trang phục
Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,1990; Cầm Trọng, Phạm Hữu Dật, “Văn hóa Thái Việt Nam”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,1995;Vì Trọng Liên, "Vài nét về người Thái ở Sơn La", Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002; Lương Thị
Đại, Lò Xuân Hinh, “Hôn nhân truyền thống dân tộc Thái ở Điện Biên”, Nxb Văn hóa dân tộc, 2005; Phạm Thị Kim Oanh, “Hôn nhân và gia đình của
người Thái ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La” - Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên
ngành nhân học văn hóa, Viện Dân tộc học, 2010 (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) Đặc biệt từ năm 2012 đến 2017, Bảo tồn tác phẩm văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số, Chí Kiên, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 8/2016,Đề
tài khoa học “Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Thái ở Sơn La trong quá trình hội nhập quốc tế” do Tiến sỹ Thào Xuân Sùng
chủ nhiệm, đã nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị TTVH của dân tộc Thái từ khi đến sinh sống trên mảnh đất Sơn La trong mối liên hệ chặt chẽ với cộng đồng dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc và trong cả nước để đối chiếu, so sánh lựa chọn, đưa ra những giải pháp khả thi nhất nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Thái Đề tài gồm 15 chương với 55 tiết, cùng
bộ tài liệu tham khảo, phụ lục về các giá trị văn hóa tiêu biểu; hệ thống một số vấn đề lý luận và văn hóa, đặc điểm tộc người và quá trình hình thành của dân tộc Thái ở Sơn La; văn hóa vật chất và tinh thần với những giá trị tốt đẹp, những khó khăn thách thức cùng giải pháp giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái
Có thể khái quát về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
đã nêu:
Một là, thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển nền văn hóa dân
tộc trong giai đoạn mới, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản làm cơ sở cho công tác bảo tồn, phát huy BSVH các dân tộc;
Trang 11Hai là, các công trình trên đã nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và
phát triển, phát huy vai trò của văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, động lực của phát triển;
Ba là, nghiên cứu những đặc điểm chung về BSVH; văn hóa dân tộc
thiểu số, văn hóa dân tộc Thái ở nước ta
Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa phong tục tập quán của người Thái (nói chung), người Thái ở Tây Bắc (nói riêng), nhằm giới thiệu về người Thái; những nét đặc sắc, cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Thái Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Thái nhưng mới chỉ đề cập chung chung hoặc đi sâu tìm hiểu một số nét văn hóa cụ thể; đã đề cập đến thực trạng và một số giải pháp cho sự phát triển văn hóa dân tộc Tây Bắc nhưng cũng chỉ là những giải pháp mang tính định hướng chung cho các dân tộc thiểu số; chủ yếu nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái ở góc độ văn hóa Xét tổng thể về các công trình nghiên cứu trên, chúng ta thấy những nghiên cứu có liên quan đến đề tài nhằm định hướng về công tác bảo tồn các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số; hoặc chỉ mới tập trung ở phần lý luận về công tác bảo tồn giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện và cụ thể về QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn la hiện nay
Vì thế việc nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn la hiện nay”, ngoài việc kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu ở trên; đồng thời nghiên cứu chỉ
ra được cơ sở lý luận và thực tiễn của QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở địa phương cụ thể; thông qua đó tìm những giải pháp nhằm giúp các chủ thể có thẩm quyền trên địa bàn tăng cường QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái sẽ được đề tài này nghiên cứu
Trang 123 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La hiện nay
- Chỉ ra phương hướng, đề xuất những giải pháp tăng cường QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu QLHĐBT truyền thống văn hoá dân tộc Thái
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2012 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn TTVH dân tộc Đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, các luận án, luận văn của các tác giả đã nghiên cứu về công tác bảo tồn TTVH của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào dân tộc Thái
Trang 135.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đồng thời, việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sởcác phương pháp cụ thể như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp logic – lịch sử; phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp quan sát và phương pháp điền dã để đạt được mục tiêu và nhiệm
vụ nghiên cứu
6 Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn đã phân tích và luận giải khái niệm QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái; Đặc điểm, vai trò của QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái; nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý (QL) hoạt động này
- Luận văn đã đánh giá đúng thực trạng và chỉ ra nguyên nhân của kết quả đạt được và hạn chế trong QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La từ góc độ QL xã hội
- Luận văn đã đề xuất được những giải pháp tương đối khả thi, gắn với điều kiện thực tiễn của địa phương nhằm tăng cường QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La nói riêng, của cả nước nói chung đáp ứng yêu cầu phát huy, bảo tồn giá trị văn hóa các dân tộc Việt Nam, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà BSDT
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về QLHĐBT văn hóa truyền thống dân tộc Thái; Luận văn là tài liệu cung cấp thông tin, tri thức bổ ích về QL văn hóa nói chung, QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái nói riêng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các giải pháp được đề xuất trong luận văn có giá trị tham khảo, vận dụng vào QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái nói chung, của huyện
Trang 14Yên Châu, tỉnh Sơn La nói riêng
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy QL hoạt động văn hóa và các chuyên ngành về QL
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần phụ lục, nội dung chính của Luận văn được kết cấu thành 3 chương và 6 tiết
Trang 151.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái và khái niệm liên quan
* Văn hóa dân tộc
Dân tộc (tộc người) được hiểu là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt, kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hóa, trên cơ sở mối liên hệ đó, mỗi tộc người có ý thức về thành phần tộc người và tên gọi của mình Tộc người có tính bền vững và giống như là những quy tắc, các tộc người tồn tại hàng nghìn năm Mỗi tộc người có sự thống nhất bên trong xác định, cả những nét đặc thù để phân định tộc người này với các tộc người khác Có ba yếu tố quan trọng để xác định tộc người là: ngôn ngữ, lãnh thổ và ý thức tộc người gắn với tộc danh Trong ba yếu tố đó thì yếu tố thứ ba có vai trò đặc biệt quan trọng, yếu
tố này không chỉ là yếu tố cần thiết để xác định tộc người mà còn là yếu tố đầy đủ thể hiện BSVH tộc người
Văn hóa dân tộc (tộc người) là bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác Chính văn hóa dân tộc (tộc người) là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tự giác tộc người Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hiện tượng phổ quát của văn hóa tộc người Nhờ có quan hệ với tự nhiên và xã hội
mà chủ thể văn hóa sáng tạo ra những giá trị văn hóa, thông qua đó thể hiện mình trước tự nhiên và xã hội
Văn hóa dân tộc chính là sự thể hiện mình theo một cách riêng, trong điều
Trang 16kiện lịch sử cụ thể của mỗi chủ thể văn hóa Ở chừng mực nhất định chúng ta có thể hiểu: văn hóa dân tộc là tổng thể các thành tố văn hóa thuộc về một tộc người
cụ thể, do tộc người đó sáng tạo hay tiếp thu, vay mượn của các tộc người khác trong quá trình lịch sử bao gồm các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa, vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và
lễ nghi khiến người ta phân biệt tộc người này với tộc người khác và thực hiện chức năng cố kết tộc người
* Truyền thống văn hóa
Truyền thống văn hoá là khái niệm dùng để chỉ sự tồn tại của những
yếu tố không thay đổi của văn hoá Những khái niệm này thường được gọi là
những hằng số văn hoá, là BSVH, là hệ giá trị
Truyền thống văn hóa là hệ thống giá trị văn hóa đã hình thành và luôn được bổ sung để trở thành phẩm chất văn hóa một dân tộc, và tự thân đã là một khái niệm có tính biện chứng, chuyển tải trong đó nội hàm là hành vi sáng tạo văn hóa của cộng đồng Truyền thống văn hóa là bộ mặt vật chất, tinh thần của một xã hội trong những thời kỳ lịch sử nhất định
Từ điển Tiếng Việt đã đưa ra khái niệm về truyền thống như sau: Truyền thống là “thói quen hình thành đã lâu đời trong đời sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”[30, tr.1053]
Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, truyền thống là những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và trao truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác Truyền thống không chỉ xã hội tiền công nghiệp mới có mà với
cả xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa truyền thống vẫn hình thành và định hình Hơn thế, còn có sự kết nối giữa truyền thống tiền công nghiệp với truyền thống công nghiệp hóa thể hiện trong từng hiện tượng hay giá trị văn hóa [39, tr.1]
Như vậy có thể thấy, truyền thống là những sự vật, hiện tượng, nội dung được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một khoảng thời gian dài trở thành những thói quen, phong tục tập
Trang 17quán, có giá trị về nhân văn, nhân bản và có tính trường tồn Truyền thống mang ý nghĩa tích cực, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc Truyền thống được nói đến là những truyền thống về văn hóa, y tế, giáo dục, chính trị và tư tưởng Truyền thống không nói đến những yếu tố tiêu cực hình thành thói quen xấu Những yếu tố, giá trị truyền thống được bảo tồn, gìn giữ và được trân trọng
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm: Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể), được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận [36, tr.13]
TTVH là những di sản văn hóa quý giá của mỗi dân tộc Khái quát chung, TTVH là những nét văn hóa làm nên bản sắc dân tộc tốt đẹp và được lưu truyền, trải qua nhiều thế hệ, được đa số bộ phận công nhận và có ý thức gìn giữ, phát huy
* Bảo tồn TTVH dân tộc Thái
Bản thân lĩnh vực văn hóa là rất rộng lớn và người ta thường gắn khái niệm “ bảo tồn văn hóa” với những đối tượng cụ thể như: bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn văn hóa phật giáo hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giá trị văn hóa
Bảo tồn văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa,
mà trong một chừng mực nào đó còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan Cần chú ý bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa đặc sắc, xây dựng thêm các tiêu chí văn hóa mới phù hợp
Các giá trị văn hóa bao giờ cũng là một thông điệp từ thời quá khứ, đến nay vẫn còn như là những nhân chứng sống của những truyền thống lâu đời
Trang 18Con người tự nhận thức có trách nhiệm chung phải giữ gìn bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa, đồng thời phải truyền lại cho thế hệ mai sau
Hiện nay, nhiều nước lớn với ưu thế về tài chính, nhất là với những phương tiện hiện đại của truyền thông, đang có ý đồ “xâm lược về văn hóa”, đưa văn hóa từ bên ngoài xâm nhập vào nội địa các nước, lấn át nền văn hóa bản địa, phổ biến lan tràn nhiều văn hóa phẩm tiêu cực và độc hại Vì vậy, phải ngăn chặn và đấu tranh chống lại sự xâm nhập của các loại văn hóa độc hại, bảo vệ văn hóa dân tộc Chúng ta biết rằng tác động của truyền thông mang tính hai mặt: vừa mang tính tích cực, góp phần tạo nên sức mạnh và là chỗ dựa không thể thiếu trên con dường phát triển, lại vừa là mảnh đất hết sức thuận lợi cho sự duy trì và làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi mà điều kiện lịch sử xã hội đã thay đổi, và do đó nó có thể là vật kìm hãm sự phát triển của nước ta Vì thế, cần chống lại khuynh hướng: hoặc tuyệt đối hóa hoặc phủ định truyền thống văn hóa dân tộc
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “bảo tồn” có nghĩa là giữ lại không để cho nó mất đi Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO giải thích rằng bảo tồn là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hóa,bảo vệ, phát huy,củng cố, truyền dạy, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc không chính thức cũng như việc làm sống lại các phương diện khác nhau của loại hình di sản này
Quan điểm về bảo tồn TTVH dân tộc đã được các nhà khoa học nghiên cứu theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, các nhà khoa học đều cho rằng tùy thuộc vào nhóm văn hóa truyền thống mà đưa ra các quan điểm bảo tồn khác nhau để vừa giữ được những giá trị nguyên gốc nhưng vẫn phát huy được giá trị của nó trong xã hội đương đại
Như vậy, bảo tồn TTVH dân tộc là nghiên cứu phát hiện các giá trị kết hợp với những giải pháp gìn giữ lâu dài nhằm khai thác giá trị phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Trang 19Văn hóa dân tộc Thái: Nói đến văn hóa của dân tộc Thái là ta nói đến
hệ thống những giá trị văn hóa do chính cộng đồng tộc người Thái tạo ra và là sản phẩm của người Thái bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa thiết chế xã hội…
Dân tộc Thái là một trong những dân tộc thiểu số ở Việt Nam Nhóm dân tộc này có trên 1 triệu người, sống rải rác ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa và một số vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên,…Cũng như những dân tộc khác, dân tộc Thái góp phần vào làm phong phú và rực rỡ sắc màu hơn cho bức tranh văn hóa Việt Nam Cộng đồng người Thái thường cư trú thành bản làng ở những thung lũng, bên những con suối, cuộc sống hòa với thiên nhiên để tiện cho việc cấy lúa nước, trồng bông, dệt vải Dân tộc Thái có chữ viết riêng, nên kho tàng văn học dân gian rất đa dạng, phong phú, như: Truyền thuyết, ca dao, truyện thơ, văn học, dân ca… Kho tàng văn hóa này có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của họ Từ xưa đến nay, đồng bào Thái sống và sinh hoạt trong ngôi nhà sàn cao ráo và dưới mỗi nếp nhà sàn trải qua bao thời gian đã tạo nên nếp sống, nét văn hóa đặc trưng riêng
Như đã trình bày ở phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ trình bày những giá trị văn hóa đặc trưng thuộc về văn hóa của dân tộc Thái:
Trước hết, nói đến văn hóa của dân tộc Thái là phải nói đến một loại hình văn hóa thung lũng Bởi lẽ, với những đặc điểm đặc thù về điều kiện tự nhiên của miền Tây Bắc đã hình thành nên một nền văn hóa tương ứng, đó là loại hình văn hóa thung lũng
Nói đến văn hóa thung lũng, nghĩa là muốn nói đến mối quan hệ giữa tộc người này với môi trường sinh sống là thung lũng lòng chảo Điều này cũng nói lên khả năng thích nghi của con người với tự nhiên bằng văn hóa của mình Văn hóa thung lũng của dân tộc Thái có các đặc trưng sau: Cảnh quan địa lý là những thung lũng lòng chảo lọt vào vùng núi cao, rừng sâu, nhiều khe, vực, sông suối cắt xẻ địa hình, khí hậu hai mùa rõ rệt; vùng sườn dốc
Trang 20nằm ở vành đai của các lòng chảo thì làm nương theo các phương pháp phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt, có tác dụng bổ sung vào hệ thống trồng trọt Đây là đặc trưng chủ yếu nhất trong toàn bộ hệ thống văn hóa thung lũng của dân tộc Đây là nền văn hóa tiền công nghiệp, được hình thành từ lao động tự cung tự cấp, chưa đạt tới trình độ trong đó chứa đầy chất men cần thiết để kích thích
sự phát triển xã hội
-Văn hóa nông nghiệp: sống với điều kiện tự nhiên môi sinh có nhiều
điểm đặc thù cho nên, định hướng tác động trong khai thác tự nhiên truyền thống của người Thái là đồng ruộng lòng chảo và nương rẫy trên sườn núi Hàng ngàn năm nay, dân tộc này đã có những biện pháp dẫn thủy nhập núi điền (dẫn nước vào đồng ruộng), đúc rút được tập quán làm thủy lợi bằng biểu tượng ngôn ngữ Yếu tố đầu tiên trong văn hóa mưu sinh của tộc người Thái là việc làm ruộng nước, nó trở thành động lực phát triển lịch sử cộng đồng tộc người theo mạch vừa tự cư, vừa định cư, lan tỏa chung cho cả nhóm nói tiếng Thái
-Công cụ lao động: Trong sáng tạo văn hóa trên cánh đồng lòng chảo
và làm nương rẫy trên các sườn dốc, dân tộc này chỉ cần có bốn công cụ kép
có lưỡi kim loại là: Dao ( mịt hay pạ), rìu ( khoán), cày (tháy), và Mai (ban)
-Nhà ở: Theo truyền thống thì người Thái ở nhà sàn bằng gỗ, tre, nứa
… Lợp bằng cỏ tranh Họ hiểu không chỉ riêng dân tộc mình ở nhà sàn, nhưng ở trong tâm thức vẫn coi đây như một trong những nét văn hóa của dân tộc mình Nếp nhà sàn là một đơn vị không gian chứa đựng tế bào của xã hội
Đó có thể là một gia đình nhỏ gồm một cặp vợ chồng và con cái chưa đến tuổi trưởng thành, cũng có thể là tổ hợp gia đình lớn có từ hai cặp vợ chồng trở lên
và con cháu của họ
- Vải vóc và các biểu hiện văn hóa: Theo truyền thống của dân tộc
Thái, theo phân công tự nhiên thì việc làm ra vải là lao động chủ yếu của nữ giới Tập quán, xã hội Thái đã rèn luyện cho người phụ nữ một tay nghề làm vải rất tài hoa, là con gái Thái thì không được phép ngừng tay làm vải và phải
Trang 21đạt tới trình độ tinh xảo như câu tục ngữ: “xấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá” Nếp sống xưa cho rằng: Biết làm vải thì mới là phụ
nữ, bằng không thì cho dù người phụ nữ đó dù có chăm chỉ mọi việc khác đến đâu, cũng bị xã hội cho là chây lười, thường thì không ai muốn lấy làm vợ Người đàn bà sành nghề làm vải thì được bản mường tặng danh hiệu “Đàn bà tám cạnh sắc nét”
- Trang phục: Người dân tộc khác không sai khi đã nhận xét rằng, người
Thái là một cộng đồng tộc người biết mặc và mặc đẹp Trang phục của họ phân biệt theo giới; trang phục thường ngày với lễ phục; khi chết và để tang; lúc đi làm ngoài đồng, nương rừng với ở nhà; mùa nóng bức với những tháng đông lạnh giá trong năm; hai độ tuổi chưa thành niên với khi đã trưởng thành và khi
có Không phân biệt Thái đen hay Thái trắng, bộ quần áo nam phục thường ngày thường là màu đen
Lễ phục, kiểu quần không đổi, nhưng người ta mặc áo dì, cắt theo kiểu
xé nách tương tự như áo dài của người kinh
Đối với nữ giới: Trang phục nữ Thái đượm vẻ đẹp bản sắc văn hóa dân tộc Điều này luôn chiếm ưu thế rõ rệt trong các nét văn hóa độc đáo của dân tộc Thái Nó không những đẹp về kiểu dáng mà hơn hết, nó còn làm tăng vẻ đẹp trời ban cho người phụ nữ: Y phục Thái nổi tiếng bởi sự hài hòa giữa cái che và cái phô ra, giũa cái giản dị mà không kém phần lộng lẫy, và cũng nhờ
Trang 22lẽ đó mà cụm từ “cô gái Thái” đã trở thành ngôn ngữ biểu tượng văn hóa Việt Nam” [5, tr.145] Đã là nữ giới đã trưởng thành thì mặc váy khâu liền (váy ống) dài chấm gót chân, không có màu nào khác ngoài màu đen Mép dưới ở bên trong lòng váy thì được táp một dải vải bề rộng từ 3 đến 4 cm, màu phổ biến là đỏ, ngoài ra có thể là màu xanh, vàng, hoa nhưng tuyệt đối không phải là màu trắng Đầu váy có cạp, khâu bằng dải vải màu đỏ, trắng hoặc xanh, miễn không đồng màu đen với thân váy để khi mặc dễ nhìn thấy phần bắt buộc phải dùng dải thắt lưng phủ ở bên ngoài Dải cạp là để gập mép sao cho váy bó sát thân eo, làm đường thắt lưng nổi cộm rõ vòng eo
Nói đến bộ trang phục nữ, ta không thể không kể tới dải thắt lưng dệt bằng sợi tơ tằm Nó không chỉ là là vật để thắt giữ váy xiết vào thân mà còn là chỗ để tạo dáng thắt đáy lưng ong của phái đẹp Màu thắt lưng là tín hiệu xác định hai độ tuổi Nếu như ở tuổi niên thiếu đến tuổi 30 người ta dùng thắt lưng màu xanh những lứa tuổi sau đó chuyển sang màu tím
Trang phục nữ Thái đen còn có khăn Piêu màu đen, hai đầu có thêu những hoa văn hình kỷ hà bằng chỉ nhiều màu sắc có những chùm hoa vải tết hoặc thêu gọi là cút Nữ Thái trắng không chít khăn piêu mà thường mua khăn vuông len hoặc khăn bông trắng để cuốn
Kiểu tóc của phụ nữ Thái cũng phân biệt hai đen trắng Khi chưa chồng, nữ Thái đen búi tóc đằng sau gáy (khót phôm), khi có chồng thì búi tóc ngược lên đỉnh đầu để hơi nghiêng về phía bên trái (tằng cẩu) Chồng chết, trong thời gian để tang thì búi ở lưng chừng giữa đỉnh đầu với gáy gọi là búi tóc kiêng, hết tang lại búi tóc ngược như khi chồng còn sống Nữ Thái trắng thì không dùng tóc làm tín hiệu báo có hoặc không chồng mà chỉ búi đằng sau hay cuốn vấn trên đầu nhưng không vấn bọc khăn như kiểu nữ người Kinh
- Văn hóa ẩm thực: Công thức ăn uống của người Thái là: xôi đồ chẩm
chéo, măng rau đồ, thịt cá nướng, cơm lam, thịt – cá làm chua, lạp sống hoặc chín, gỏi, mọc Từ gạo chế biến thành cái ăn đã biểu hiện rõ bản sắc cộng
Trang 23đồng tộc người Cách chế biến cổ xưa hơn cả là cơm nếp lam, cơm lam có mùi hương sắc đặc biệt và hương vị thơm ngon bổ dưỡng.Lương thực chính là xôi nếp, nên dụng cụ bếp núc chính là ninh đồng hay chõ Trong gia đình người Thái ninh đồng là một trong bốn thứ của gia truyền, và theo tập quán thì chiếc chõ còn là vật chứa đựng “điều cấm kỵ’ Dùng với cơm xôi, người Thái có hệ thực phẩm được chế biến từ ba nguồn: Rau, cá, thịt thường được chế biến bằng cách nướng với các loại gia vị riêng tạo nên mùi vị thơm ngon, độc đáo riêng có của món ăn dân tộc Thái mà ai đã thưởng thức một lần thì không bao giờ quên
- Ngôn ngữ và văn tự: Người Thái là một cộng đồng tộc người có ngôn
ngữ riêng, có chung cội nguồn ngôn ngữ với tiếng nói của các dân tộc: Tày, Nùng, Lào, Lự, Bố Y, Sán Chay ở Việt Nam; với tiếng Lào và Thái Lan; với tiếng Choang và tiếng Thái ở miền nam Trung Quốc Về mặt cấu trúc ngôn ngữ, ta có thể thấy tiếng Thái nổi bật lên một số nét cơ bản như sau:Đây là thứ tiếng phát triển, đã sớm hình thành ngôn ngữ văn học và có thể diễn đạt được sự vật tự nhiên, xã hội mà con người cần nhận thức Đương nhiên, để thực hiện điều đó người Thái đã du nhập, vay mượn các yếu tố ngôn ngữ sắc tộc khác Trong đó, có phần đóng góp của tiếng Vệt hiện nay là quan trọng và chiếm tỷ lệ nhiều nhất Song, đây là một loại ngôn ngữ chưa được nghiên cứu một cách tường tận để có thể có được một nền ngữ pháp cũng như từ điển Do
đó, ngôn ngữ Thái mới chỉ đạt ở trình độ văn hóa dân gian, chưa có được một nền ngôn ngữ bác học.Có ngôn ngữ, văn tự người Thái đã xây dựng được một nền văn hóa của mình Có thể coi đây là sự tổng kết quá trình tư duy các quá trình tự nhiên, xã hội bằng hình tượng của nghệ thuật ngôn ngữ, cấu tạo thành
ba luồng cơ bản:
- Văn học dân gian truyền miệng gồm: các câu truyện thần thoại, giúp ta
có thể hình dung được về bức tranh lịch sử của dân tộc Thái Các câu truyện cổ tích mang nội dung đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người nghèo và kẻ giầu, giữa người lao động trí tuệ và kẻ ngồi mát ăn bát vàng và kết quả bao giờ cũng khẳng định sự toàn thắng của yếu tố thiện và người lao động chăm
Trang 24chỉ Thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ và dân ca phát triển, ngôn ngữ Thái mới thoát khỏi chỉ có lớp từ vựng cơ bản để vươn tới tri thức văn học Theo cộng đồng tộc người này thì có văn hóa nghĩa là biết nói, biết viết, sử dụng thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ, dân ca hợp ngữ cảnh và ngược lại Bởi họ cho rằng:
“ngôn ngữ là sự gạn lọc tinh khiết của tư duy”
- Văn học được ghi chép thành văn: Khi nói đến văn hóa Thái không
thể không nói đến những pho sách cổ - tài sản vô giá không chỉ của dân tộc Thái mà của cả dân tộc Việt Nam Những pho sách cổ này nêu ba chủ đề lớn như sau:
Những tác phẩm nói về lịch sử xã hội, như cuốn sách nhan đề “kể truyện bản mường” (quăm tô mương) Tác phẩm này đã được dịch ra và xuất bản bằng tiếng Việt Cùng đó, còn có các tập thơ lịch sử nhan đề Dựng mường lớn (Phanh mương luông), Dựng mường nhỏ (Phanh mương nọi), đặc biệt là tập sử thi nổi tiếng nhan đề: Những bước đường chinh chiến của cha ông (Táy pú xớc)
Những tác phẩm văn học bằng thơ rất nhiều Đến nay, đã có một số tác phẩm được biên dịch và xuất bản như Xống Chụ Xon Sao, Khun Lu Nàng Ủa, Tán Chụ Xiết Xương là những tác phẩm rất nổi tiếng Trong đó, phải kể đến tập truyện thơ: Tình ca – tập nhiên tình ca tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) không chỉ đạt đỉnh cao trong loại hình văn học này mà cho cả nền văn học
cổ điển Thái Việt Nam
- Nghệ thuật: bao gồm có họa tiết trang trí và múa
Họa tiết trang trí bao gồm có: họa tiết điêu khắc gỗ và đan mây, tre và họa tiết trên vải; Múa: Người Thái từ lâu đã nổi tiếng trong các điệu dân vũ Khi nói đến người Thái, người Việt không mấy ai không hình dung các cô gái đẹp, trang phục hoàn chỉnh, thanh cao, mềm mại, cuốn hút trong các điệu múa mang tên xòe của mình Và như thế, múa xòe đã trở thành một trong những biểu hiện đặc trưng văn hóa cụ thể, thật sự đậm đà bản sắc dân tộc Thái Múa xòe vô hình chung trở thành sự thừa nhận mang tính truyền thống, đối với nền
Trang 25nghệ thuật của người Thái như một loại hình vũ điệu Sở dĩ có điều đó, là vì nền nghệ thuật folkore này đã phát triển đạt tới sự phân chia thành hai cấp độ: Múa tập thể dân dã mà tiêu biểu là múa xòe vòng; múa biểu diễn hay múa phong cách mà đặc trưng là sự phô trương tối đa vẻ đẹp của hình tượng văn hóa – cô gái Thái Việt Có thể kể một số điệu múa phổ biến như: múa xòe, múa sạp, múa nón, múa chai, múa khăn, múa quạt
- Âm nhạc: Nhìn chung âm nhạc Thái thể hiện bằng ba cách: Thanh
nhạc, nhạc khí và bộ gõ Người Thái phô diễn thanh nhạc bằng nhiều dạng khắp (hát, hò, ngâm)
-Nhạc khí: người Thái dùng âm thanh, nhịp điệu của các nhạc khí để
thổ lộ tư tưởng, tình cảm của mình trên sự phô diễn nhạc cụ như chơi nhị hay tính tảu, đàn môi, pí, sáo và tiêu Bộ gõ: có trống, chiêng, chũm chọe và nhạc,
bộ ba hòa vào nhau tạo thành dàn nhạc nhịp, nhạc xâu lại thành chùm để đeo trên ngón tay, gõ nhịp cho hát then và múa xòe
- Tôn giáo tín ngưỡng: Người Thái có ngôn ngữ và văn tự, có tư duy và
văn hóa nhưng không theo một tôn giáo nghiêm ngặt nào như đạo Phật, đạo Hồi, đạo Thiên chúa vì xã hội người Thái ở Việt Nam nói chung, người Thái ở Yên Châu nói riêng không hình thành tư duy trên con đường đó mà theo một hướng riêng của mình Có thể nói, dân tộc Thái là dân tộc có tín ngưỡng đa thần Tín ngưỡng của người Thái chưa phát triển thành tôn giáo riêng nhưng họ cũng không chịu ảnh hưởng hay du nhập vào mình các tôn giáo khác Nằm trong phạm trù tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng dân gian Thái tập trung trong các phong tục tập quán, lễ nghi xoay quanh sự thể hiện nhận thức về: đường sống, đường chết và đường thần linh
Khi nói đến phong tục tập quán Thái, không thể không kể đến một trong những phong tục truyền thống đặc trưng của người Thái được thể hiện trong tục cưới xin Các đôi trai gái yêu nhau, khi đã quyết định đi đến hôn nhân thì sẽ tổ chức cưới Theo phong tục truyền thống người Thái thường tổ chức cưới hai lần
Trang 26Ngoài những nội dung nổi bật trên, văn hóa của người Thái còn thể hiện rất rõ trong các lễ hội truyền thống “lễ hội ném còn” là nơi quy tụ nhiều chàng trai, cô gái từ nhiều bản mường lân cận, là cơ hội tốt để nhiều đôi trai gái làm quen với nhau
Cũng như các dân tộc khác, đồng bào Thái có nhiều hình thức sinh hoạt cộng đồng trong gia đình, trong bản, trong mường Đó là các lễ, tết, hội hè của dân tộc Đó là tục xên bản, xên mường (Cúng bản, cúng mường) vào khoảng tháng ba âm lịch hàng năm được đồng bào rất coi trọng Tục này vừa
có yếu tố phồn thực và tâm linh, đây là ngày tết, ngày hội to nhất, vui nhất trong năm
-Các giá trị văn hóa với tư cách là thiết chế xã hội:Nổi trội trong gia
đình Thái, là sự bảo lưu tàn dư mẫu hệ trong chế độ gia đình quyền cha, trong
đó đặc biệt xem trọng chế độ quyền cậu Trong một gia đình Thái tất cả đều do người chồng, người cha quyết định, nhưng người vợ, người mẹ vẫn có một chỗ đứng vững vàng Phải chăng, đây là ưu điểm của truyền thống gia đình Thái
Nó thể hiện quyền bình đẳng nam, nữ trong gia đình cần được kế thừa và phát huy cho phù hợp với điều kiện mới
Từ lâu gia đình hạt nhân đã trở thành tế bào kinh tế - xã hội Thái, là mô hình gia đình phổ biến nhất trong xã hội Thái từ trước tới nay, nó tồn tại trong phong tục tập quán, nếp sống và tư duy về mối quan hệ thân thuộc được gọi là
ba họ Là người Thái, bất cứ cá nhân và hạt nhân gia đình nào không giữ được
nề nếp, vô tình hay hữu ý làm trái các quy định phong tục tập quán: ải nọng – lung ta – nhinh xáo chắc chắn sẽ bị xã hội lên án, chê trách
Bản mường: Chỉ một loại hình tổ chức xã hội đã từng tồn tại phổ biến ở khắp miền Nam Trung Hoa và bán đảo Đông Dương của người nói tiếng Thái Riêng người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, cơ cấu tổ chức xã hội này chính thức xuất hiện thành văn bản ghi bằng chữ Thái cổ cách đây hàng ngàn năm, khoảng thế kỷ thứ X
Ngày nay, mặc dù cấu trúc xã hội Thái theo kiểu bản mường không còn
Trang 27nguyên gốc (do việc thiết lập bộ máy hành chính từ trên xuống dưới thống nhất trong cả nước), nhưng danh từ ghép này vẫn được sử dụng khi nói đến
mô hình tổ chức xã hội Thái
Như vậy, có thể nói dân tộc Thái là một trong những dân tộc có khả năng thổi vào tự nhiên một sức sống mới khác với tự nó Khả năng ấy chính
là chiều dày của văn hóa phát triển thành truyền thống Giờ đây, khi mà khoa học phát triển mạnh và liệu có thể giữ gìn và phát huy được dòng truyền thống này không, điều này còn phụ thuộc vào khả năng phát huy, bản lĩnh và bản sắc dân tộc đã tạo ra được các mô hình thích nghi mới trong hệ sinh thái nhân văn của mình
Mọi thành tố văn hóa của dân tộc Thái đều mang giá trị riêng, xứng đáng để bảo tồn Tuy nhiên, trong những điều liện KT-XH nhất định việc phát huy các thành tố văn hóa cần được xem xét và đảm bảo trong mối quan hệ hài hòa với các thành tố khác Cộng đồng dân tộc Thái cũng như các cộng đồng dân tộc khác chịu tác động lớn của hội nhập, công nghiệp hóa cho nên, trong những trường hợp cụ thể, đôi khi phải chấp nhận một số thành tố văn hóa có thể mất đi nếu chúng trở nên lạc hậu
Từ phân tích nêu trên có thể hiểu: Bảo tồn TTVH dân tộc Thái là bảo
quản, không làm mất đi những nét đặc sắc, những tính chất đặc biệt vốn có của văn hóa dân tộc Thái mà còn làm cho cái hay, cái tốt ngày càng lan tỏa
và tiếp tục phát triển trong điều kiện mới
1.1.1.2 Khái niệm quản lý và quản lý hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái ở cấp huyện
* Quản lý
Quản lý (QL)là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất
xã hội của lao động, là hoạt động khách quan được hình thành từ nhu cầu của
xã hội và mục tiêu chung của cộng đồng Lịch sử phát triển của xã hội loài người luôn bao hàm sự phát triển của QL, bởi vì vai trò chính của QL là nâng cao hiệu quả trong các hoạt động phục vụ con người Xã hội ngày càng phát
Trang 28triển, QL trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến hầu hết các vấn đề của đời sống xã hội và con người Mục đích và nhiệm vụ của QL là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của cả nhóm và hướng hoạt động chung
đó theo những phương hướng thống nhất, tạo ra một kết quả đã định trước Như vậy, QL ra đời xuất phát từ nhu cầu tự thân của các hoạt động trong đời sống xã hội khi mà các quá trình riêng lẻ cần có liên kết hài hòa để tạo
ra hoạt động chung theo một mục đích nhất định Vậy QL là gì?
Theo Từ điển tiếng Việt, QL là “1 Tổ chức, điều khiển hoạt động của một
số đơn vị, một cơ quan; 2 Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì” [54, tr.1363]
Có quan điểm cho rằng, QL là làm cho hoạt động, tư duy của từng người riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học, tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất
Như vậy, QL luôn luôn được thực hiện bằng tổ chức và quyền lực phục tùng: tổ chức, điều khiển sẽ phân định rõ chức trách, quyền hạn và tạo lập mối quan hệ của cộng đồng những người tham gia vào hoạt động chung; còn yếu tố quyền lực bảo đảm sự phục tùng của từng thành viên đối với tổ chức Việc tổ chức và điều khiển các hoạt động này luôn luôn gắn liền với những chủ thể nhất định, trong đó không thể không kể đến vai trò của Nhà nước – với tư cách chủ thể quyền lực trong các hoạt động của đời sống xã hội
Xã hội ngày càng vận động và phát triển, đòi hỏi sự tác động QL ngày càng phức tạp và đa chiều Tùy theo yêu cầu của sự vận động, phát triển của quá trình nhận thức và nhu cầu xã hội mà việc QL xã hội diễn ra ở mức độ, phạm vi và hướng tới những chuẩn mực, giá trị khác nhau
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu: QL là sự tác động của chủ
thể mang quyền lực bằng những công cụ, cách thức nhất định đến đối tượng
Trang 29QL nhằm đạt được mục tiêu đề ra
* Quản lý hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái ở cấp huyện:
QL đối với hoạt động bảo tồn (HĐBT) truyền thống văn hóa là những tác động của các chủ thể QL (Nhà nước, cá nhân, các tổ chức ) bằng những biện pháp, phương pháp của cá nhân, tổ chức mình nhằm điều chỉnh tác động đến các HĐBT giá trị văn hóa truyền thống như kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của vùng đồng bào các dân tộc để đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển cùng sự phát triển chung của đất nước, tạo ra các mối quan hệ xã hội tốt đẹp hơn dựa trên nền tảng của chuẩn mực xã hội
Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa truyền thống mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc BSVH truyền thống của dân tộc Thái là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch
sử Sự phát triển rực rỡ BSVH truyền thống của dân tộc Thái đã làm phong phú nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đã và đang hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc Đồng thời, khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của dân tộc Thái, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển của cộng đồng người Thái ở Việt Nam
Vấn đề đặt ra trong QL và tổ chức các hoạt động về văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở nước ta, nhất là ở khu vực miền núi là rất phức tạp
và khó khăn đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương, chủ thể có thẩm quyền
QL vấn đề này không chỉ có trang bị và nâng cao kiến thức, kỹ năng QL mà còn phải có tình yêu quê hương, hiểu biết sâu sắc về quê hương bản quán, phong tục tập quán, bản sắc dân tộc và những xu thế biến đổi của thế giới, đất nước, địa phương đặc biệt là trên địa bàn trong phạm vi QL để kịp thời điều
Trang 30chỉnh những vấn đề đặt ra trong công tác QL cho phù hợp và ngày càng phát triển, đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của đồng bào các dân tộc thiểu số Dòng chảy của TTVH dân tộc Thái mãi mãi được tiếp biến, phát triển TTVH dân tộc Thái ngày càng đa dạng, phong phú mang lại nhiều giá trị tinh thần quý báu đối với các thế hệ người Thái, như: Cưới hỏi, tang lễ, tạ ơn, xên mường Những năm gần đây, do đời sống của bà con đã khấm khá hơn, nhất
là người Thái đã dần giao thoa, kết hôn với người dân tộc khác, không sinh sống theo phong cách của người Thái xưa nên một số phong tục, tập quán đang dần bị mai một.Cũng theo dòng chảy của thời gian, cùng với điều kiện sống thì nhiều nét văn hóa truyền thống của dân tộc Thái đã và đang đứng trước nguy cơ mai một.Điều này đặt ra yêu cầu cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Thái cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và cần có sự định hướng mang tính kế thừa và phát triển
Với quan niệm, QL là “sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích” chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của nhà QL, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà QL Đối với chủ thể QL văn hóa nói chung, QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái nói riêng, phải luôn tự đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi: Ai là người QL? QL
ai và QL cái gì? QL vì cái gì? Có những loại công cụ nào để QL? Ngoài 4 câu hỏi cơ bản trên, để đạt hiệu quả của QL, người được trao thẩm quyền QL còn phải đặt cho mình một số câu hỏi có tính nghiệp vụ khác như: đã nắm chắc các công cụ đó chưa? (luật và các văn bản quy phạm pháp luật); hoạt động
QL đang diễn ra trong điều kiện, hoàn cảnh nào? trách nhiệm và quyền hạn
QL của cấp mình đến đâu?
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu:QLHĐBT truyền thống văn
hóa dân tộc Thái là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể
QL bằng hệ thống công cụ và bộ máy, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong quá trình bảo tồn TTVH và các đối tượng có liên quan, nhằm mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống
Trang 31của Việt Nam nói chung, TTVH của đồng bào dân tộc Thái nói riêng, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà BSDT
1.1.2 Đặc điểm QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp huyện
1.1.2.1 Đặc điểm về chủ thể quản lý
Xét tổng thể, chủ thể QL về văn hóa nói chung, về HĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái nói riêng là Nhà nước Nhà nước Việt Nam được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến các địa phương, quyền QL được phân cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận) QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp nào thì cơ quan, tổ chức ở cấp ấy là chủ thể QL
QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp huyện do các chủ thể ở huyện được phân cấp và phân công Đối với công tác QL văn hóa truyền thống của người Thái, sau cơ quan cấp trên là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh là cơ quan QL cấp huyện Theo sự phân công, Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện là cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện trực tiếp thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đối với HĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái Theo quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Văn hóa và Thông tin nói chung, chủ thể này là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, tham mưu cho UBND cấp huyện quyết định, kế hoạch dài hạn, hằng năm liên quan đến công tác bảo tồn và phát huy BSVH các dân tộc thiểu số trên địa bàn; Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt có liên quan đến công tác QL di sản văn hóa và hoạt động du lịch trên địa bàn; Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa, du lịch, tuyên truyền đối với Trung tâm Truyền thông và Văn hóa, UBND các xã, phường, thị trấn; Thực hiện công tác thống kê, thông tin báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với Chủ tịch UBND cấp huyện, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh; Hướng dẫn các tổ
Trang 32chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn thực hiện bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, bảo vệ tôn tạo, khai thác hợp lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn; Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động văn hóa và du lịch trên địa bàn; Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và cá nhân trên địa bàn thực hiện pháp luật về các lĩnh vực
di sản văn hóa, du lịch; Chịu sự chỉ đạo kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông cấp tỉnh
1.1.2.2 Đặc điểm về đối tượng quản lý
Trong QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp huyện, đối tượng của QL là toàn bộ các hoạt động của các chủ thể trên địa bàn huyện đối với công tác bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc Thái Nói một cách khác, đối tượng QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái là các HĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong việc bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc Thái hoặc có liên quan đến vấn đề này HĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái với tư cách là đối tượng QL được hiểu theo nghĩa cụ thể là: Các hoạt động bảo quản, gìn giữ, phát triển, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Thái và các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của truyền thống dân tộc Thái Mặt khác, theo sự phân công trong
hệ thống các cơ quan QL các cấp, không phải toàn bộ HĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái hiểu theo nghĩa rộng đều do Nhà nước QL
1.1.2.3.Đặc điểm về mục đích quản lý
Mục đích QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp huyện là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Thái nói riêng, văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung; từ đó xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà BSDT, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Tuy nhiên, trong QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở từng
Trang 33cấp, từng địa phương, từng hoạt động thì mục đích QL phải được xác định cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ và hoàn cảnh của địa phương
Ở cấp huyện, cấp trung gian trong bốn cấp QL hành chính nhà nước ở Việt Nam, khi tiến hành QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái hướng tới mục đích là:
Tôn vinh và kế thừa các giá trị TTVH tốt đẹp của dân tộc Thái; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới; gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn huyện; Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa trong phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc Thái
Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Thái trên địa bàn huyện; gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, đặc biệt là tại các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện
Nhằm từng bước đẩy lùi hủ tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh, từng bước giảm nghèo bền vững góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà BSDT; xây dựng môi trường văn hóa, con người Yên Châu đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
1.1.3 Vai trò của QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp huyện
1.1.3.1 Góp phần giữ gìn bản sắc TTVH của dân tộc Thái
Văn hóa truyền thống của dân tộc Thái là những giá trị vật chất và tinh thần được lưu giữ, gìn giữ trong toàn bộ quá trình lịch sử phát triển, là bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa dân tộc Việt Nam Công tác bảo tồn và phát huy TTVH để nhằm định hướng, đề ra những giải pháp cụ thể để có thể nhận diện, xác định được giá trị văn hóa truyền thống nhằm giữ gìn và bảo tồn phát huy những nét văn hóa truyền thống từ ngàn đời của người dân tộc Thái Người Thái giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống cùng hướng về nguồn gốc của
Trang 34dân tộc mình Từ đó, văn hóa truyền thống được tôn vinh, phát triển, hạn chế tình trạng bị mai một, biến dạng văn hóa Công tác bảo tồn TTVH của dân tộc Thái có tác động trực tiếp tới phương diện giáo dục, giúp vun đắp tình cảm cho mỗi cá nhân và cộng đồng trong bản, giúp người Thái thêm tự hào về BSDT mình, có trách nhiệm bảo tồn những giá trị di sản văn hóa Vì vậy góp phần giữ gìn BSVH dân tộc
1.1.3.2 Ổn định xã hội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cộng đồng người Thái
Công tác bảo tồn TTVH dân tộc Thái góp phần xây dựng và hình thành nếp sống, lối sống lành mạnh trong cộng đồng Người Thái cùng nhau thực hiện giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt hằng ngày, lao động sản xuất hoặc cùng thực hiện các nghi thức trong tín ngưỡng Văn hóa truyền thống được bảo tồn và giữ gìn sẽ làm cho mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng người Thái trở nên bền chặt, thân thiết, thân tình Đạo đức văn hóa truyền thống góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, có tôn ti trật
tự BSVH dân tộc xây dựng tính cộng đồng, bảo tồn nếp sống, đề cao tính cộng đồng làm giảm đi những mặt tiêu cực, phát huy những mặt tích cực của dân tộc Thái Những quy phạm xã hội chứa đựng các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận, tự nguyện xây dựng ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân trong cộng đồng dân cư nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của làng, bản góp phần duy trì trật tự trong cộng đồng dân cư.Quy ước, hương ước được đặt ra góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình và dân tộc như: truyền thống hiếu nghĩa, đạo làm con, truyền thống hiếu học…;từ đó bảo vệ thuần phong mỹ tục, tinh thần tương trợ, tương thân tương ái
Bảo tồn TTVH dân tộc nói chung, TTVH dân tộc Thái nói riêng luôn là
tư tưởng, hành động của toàn Đảng, của Nhà nước ta và đặc biệt là của đồng
Trang 35bào dân tộc Thái Bảo tồn TTVH dân tộc Thái phải gắn kết với mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ của các nền văn hóa trên thế giới Đảng ta chỉ rõ: “Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [3] Điều
dễ nhận thấy trong 54 dân tộc anh em thì mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa mang sắc thái riêng biệt Những sắc thái đó luôn bổ sung, củng cố, làm phong phú thêm tính đa dạng văn hóa của các dân tộc và tạo sự đoàn kết, gắn
bó trong cộng đồng xã hội Bản chất của văn hóa là sự sáng tạo hướng tới các giá trị nhân văn để xây dựng chuẩn mực con người và hoàn thiện môi trường văn hóa Điều này sẽ góp phần tác động tích cực đến tình hình an ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội
Việc bảo tồn TTVH tốt đẹp của dân tộc Thái không chỉ làm trong lành đời sống tinh thần xã hội mà còn góp phần giữ vững an ninh – chính trị, trật
tự an toàn xã hội, xây dựng tình đoàn kết, lòng tự hòa dân tộc, tham gia bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều đứng trước những khó khăn thách thức của sự đồng hóa văn hóa Các giá trị văn hóa truyền thống của các nước nhỏ dần bị các nước lớn áp đặt, thu hẹp và thay bằng nền văn hóa ngoại lai Đây chính là lý do khiến cho việc bảo tồn TTVH dân tộc Thái ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Trong bối cảnh văn hóa đã và đang trở thành mục tiêu của sự “xâm lăng” thì ngoài việc cảnh giác, đấu tranh chống phản văn hóa, chúng ta cần tạo lập một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà BSDT, đủ sức đương đầu và làm vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn sử dụng văn hóa, văn minh như là công cụ làm chệch hướng XHCN của Đảng ta
1.1.3.3 Góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội
Bản sắc văn hóa dân tộc là nhân tố quyết định khả năng thích nghi của con người với mọi sự biến đổi trong tự nhiên và xã hội, tạo sự thích nghi và làm chủ những tinh hoa văn hóa nhân loại Do đó các thành tố của văn hóa
Trang 36đều tham gia vào sự phát triển KT –XH Với tư cách là nền tảng tinh thần xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển, BSVH không những là nguồn lực nội sinh của sự phát triển, tạo nguồn gốc cho sự phát triển bền vững của các quốc gia, dân tộc, mà còn giữ vai trò trung tâm, nền tảng, điều tiết quá trình phát triển kinh tế, hướng nền kinh tế vào sự phát triển bền vững, khắc phục những mặt trái của nền kinh tế thị trường và quá trình CNH, HĐH Việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH Khi xác định văn hóa là động lực, đồng thời là mục tiêu thúc đẩy KT – XH phát triển, từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định văn hóa, BSVH có mối quan hệ hữu cơ với nhau và cùng hướng tới mục tiêu phát triển chung: “văn hóa không đứng ngoài phát triển Nó nằm bên trong, là nhân tố nội sinh, vừa là mục tiêu, vùa là động lực và hệ điều hành phát triển” [36, tr.431]
Bản sắc văn hóa dân tộc được phát huy sẽ góp phần tạo động lực sáng tạo, tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết giữa các dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ phát triển KT – XH Bởi lẽ, mục đích của việc bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc là nhằm hướng tới mục tiêu vì sự tiến bộ, công bằng xã hội, vì sự phồn vinh của đất nước vì hạnh phúc của Nhân dân, nó mang trong mình những điều kiện thuận lợi tạo động lực cho sự phát triển, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Bản sắc văn hóa được phát huy cùng với một môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh sẽ là mảnh đất màu mỡ làm nảy nở những tài năng sáng tạo của con người, cho ra đời những sáng chế, phát minh, cải tiến khao học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại phục vụ cho sự phát triển KT – XH Khi nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao mới đảm bảo điều kiện vật chất cần cho công tác bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc ngày càng thêm bền vững
Trong môi trường xã hội, truyền thống văn hóa dân tộc chính là thước
đo trình độ phát triển văn hóa của một quốc gia, dân tộc Bởi lẽ, nguồn lực của sự phát triển nằm trong tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người
Trang 371.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp huyện
1.2.1 Nguyên tắc QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở cấp huyện
1.2.1.1 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc cơ bản của QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái Nguyên tắc này phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái Bảo tồn TTVH dân tộc Thái theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cơ quan QL nhà nước, của cộng đồng người Thái trên từng địa bàn, của từng gia đình và mỗi cá nhân Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các quy định, tổ chức bộ máy, hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ các đối tượng, tuyên truyền vận động xã hội thực hiện các hoạt động bảo vệ, giữ gìn, phát triển, phát huy giá trị văn hóa truyền thống Các hoạt động cụ thể của bảo do cơ quan chuyên trách QL - cơ quan chuyên, các cơ quan, tổ chức, cộng đồng người dân, gia đình và cá nhân cùng tiến hành tổ chức thực hiện Việc thực hiện hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái ở địa bàn trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình dự án khác đang triển khai ở địa phương, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các vấn đề cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích các cá nhân, gia đình, đồng bào người Thái,… tham gia, đóng góp vào việc bảo tồn TTVH dân tộc Thái
Để thực hiện tốt nguyên tắc này, cần phải thực hiện mạnh mẽ chỉ đạo của Đảng bộ huyện trong QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái Công khai, minh bạch các thủ tục hành chính để nhân dân được biết nhằm tránh tệ hách dịch, cửa quyền, xoá bỏ văn hoá “phong bì” đã làm xấu hình ảnh của bộ máy hành chính nhà nước nói chung và trong trong hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái nói riêng Công khai các hoạt động của UBND trong hoạt động
QL trên mọi lĩnh vực để dân biết, dân kiểm tra, đặc biệt trong hoạt động bảo tồn TTVH dân tộc Thái; cần tinh giản biên chế cán bộ, công chức nhà nước
Trang 38làm việc không hiệu quả Bồi dưỡng, nâng cao trình độ cũng như đạo đức của cán bộ, công chức làm công tác tham mưu hoạt động bảo tồn văn hóa để hoạt động hiệu quả Tuyển dụng những nhân tài trên lĩnh vực văn hóa vào làm việc trong cơ quan tham mưu hoạt động bảo tồn TTVH theo sự giới thiệu của nhân dân, của cơ quan quyền lực nhà nước, của Đảng…với chế độ đãi ngộ tốt, giữ
vị trí phù hợp trong bộ máy hành chính nhà nước; đẩy mạnh phát triển kinh
tế, kiềm chế lạm phát, cải thiện đời sống cho nhân dân, đặc biệt quan tâm tới đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu hoạt động bảo tồn TTVH
để họ ổn định cuộc sống, làm giàu bằng sự đóng góp xứng đáng của mình, hoàn thành trọng trách cao cả mà nhân dân giao phó
1.2.1.2 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái là một nội dung cụ thể của hoạt động QL hành chính nhà nước, mà thực chất là quá trình tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo tồn TTVH dân tộc Thái Đây là nguyên tắc bắt buộc trong QL nói chung và QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái nói riêng QL bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý Để bộ máy Nhà nước nói chung, mỗi cơ quan nhà nước nói riêng hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền và quy định quyền hạn của mỗi cơ quan đó; đồng thời mỗi cơ quan phải xác lập một cách đúng đắn
và hợp lý mối quan hệ trong quá trình thực hiện chức năng, phải có nhiều phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo thành một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực nhà nước, tất cả điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc của nhà nước
và quy định của pháp luật
Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các chủ thể trong QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái Chủ thể này sẽ không thể thực hiện được và thực hiện kém hiệu quả nếu như không dựa vào pháp luật, chỉ có pháp luật mới mang tính đặc thù của nó
Trang 39và là cơ sở đảm bảo cho chủ thể QL hoàn thành được chức năng của mình Việc đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong QLHĐBT truyền thống văn hóa dân tộc Thái luôn có ý nghĩa quan trọng, không những đảm bảo tính thống nhất trong tổ chức thực hiện các nội dung, yêu cầu, mục đích của QL
mà còn là điều kiện cần thiết để đồng bào người Thái ở các địa phương phát hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật trong QL bảo tồn TTVH dân tộc Nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý bảo tồn TTVH dân tộc Thái yêu cầu:
- Các quy định của pháp luật về bảo tồn TTVH dân tộc Thái được ban hành trên cơ sở các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
và các quy định của Nhà nước về trình tự, thủ tục ban hành, về nội dung phạm
vi điều chỉnh, phù hợp với thực tiễn về văn hóa truyền thống ở nước ta và tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết trong lĩnh vực văn hóa
- Khi tiến hành QL, các chủ thể QL dựa trên cơ sở pháp luật, căn cứ vào pháp luật để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; đồng thời, trên cơ sở của pháp luật tạo ra các tác động phù hợp đến các đối tượng QL
- Nghiêm cấm các hành vi tùy tiện, trái với các quy định của pháp luật;
xử lý nghiêm minh, bình đẳng đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong QL bảo tồn TTVH dân tộc Thái
Từ những yêu cầu nêu trên, nguyên tắc này đòi hỏi, Nhà nước phải xây dựng cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý nhằm huy động nguồn lực của toàn xã hội cho hoạt động bảo tồn TTVH của các dân tộc Hoàn thiện và bổ sung các chính sách cần thiết để nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Thái nói riêng Xây dựng thêm những văn bản dưới luật, với những quy chế hoạt động và những bản quy ước, sử dụng trong lĩnh vực giữ gìn và phát huy những tài sản văn hóa truyền thống ở các xã, bản cho thích hợp với đặc thù từng địa phương
Trang 40Giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, tuyên truyền phổ biến những điều luật, những quy định pháp luật về hình phạt đối với các tội như: xâm phạm, đánh cắp, phá hoại các
di sản văn hóa dân tộc
1.2.1.3 Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa truyền thống với hiện đại
Trong “Định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu” của Đại hội VIII Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ mục tiêu về văn hóa ở nước ta hiện nay trước hết phải nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà BSDT Nghị quyết hội nghị trung ương 5 (khóa IX) của Đảng đã chỉ rõ, coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Như vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Thái nhất thiết phải thực hiện đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Văn hóa dân tộc Thái là bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc Việt Nam Bảo tồn TTVH là góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quá trình thực hiện công tác này đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa yếu tố truyền thống và hiện đại Chính yếu tố truyền thống là cái được chắt lọc, khẳng định qua thời gian làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, vì vậy cần phải giữ gìn và phát huy Do đó, sự phát triển đúng hướng phải dựa trên cơ sở đó và lấy đó làm nền tảng, nhưmg phát triển không có nghĩa là “Tây hóa” trong phạm vi quốc gia, cũng không có nghĩa là “Kinh hóa” trong phạm vi vùng, khu vực Mọi giá trị văn hóa đều có tính độc lập tương đối, nhưng sự phát triển của nó phải được đánh giá bằng trình độ, cấp độ và ý nghĩa của nó đối với đời sống mỗi con người và cộng đồng Nhưng dĩ nhiên, không có chân lý chung cho mọi thời đại, nên cái truyền thống muốn tồn tại được cũng cần phải kế thừa, và phát triển cho phù hợp với điều kiện mới, đó là một tất yếu