1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên đài tiếng nói việt nam (khảo sát kênh vov giao thông (khảo sát kênh vov giao thông (hà nội) và kênh vov3 từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2019 )

138 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hiện nay đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự cạnh tranh khốc liệt của các loại hình truyền thông, nhất là mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân có đủ khả

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN VĂN HOAN

QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH

LIÊN KẾT SẢN XUẤT TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM (Khảo sát kênh VOV Giao thông (Hà Nội) và kênh VOV3

từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2019 )

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN VĂN HOAN

QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH LIÊN KẾT SẢN XUẤT TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM (Khảo sát kênh VOV Giao thông (Hà Nội) và kênh VOV3

từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2019 )

Chuyên ngành: Quản lý Phát thanh -Truyền hình và Báo mạng Điện tử

Mã số: 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS ĐINH THỊ THU HẰNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu, các số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác

Hà Nội, tháng 7 năm 2019

Tác giả luận văn

NGUYỄN VĂN HOAN

Trang 5

Trong quá trình triển khai thực hiện nghiên cứu đề tài: “Quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt nam”, tác giả luận

văn luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình và sát sao của PGS, TS Đinh Thị Thu Hằng, Phó trưởng Khoa Phát thanh - Truyền hình, các giảng viên của Học viện Báo chí & Tuyên truyền cùng nhiều anh chị em trong khóa học Với điều kiện hạn chế về thời gian, cũng như khả năng, kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của Hội đồng, của các thầy cô giáo để luận văn hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 7 năm 2019

Tác giả luận văn

NGUYỄN VĂN HOAN

Trang 6

Sơ đồ 1.1 Sự tác động trong quản lý 19

Sơ đồ 1.2: Quy trình sản xuất chương trình phát thanh 36

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ duyệt phát sóng chương trình The One Rađio-VOV3 52

Trang 7

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH LIÊN KẾT SẢN XUẤT 16

1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 16

1.2 Vai trò quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất 29

1.3 Chủ thể, đối tượng, phương thức, nội dung và yêu cầu đối với quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất 31

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH LIÊN KẾT SẢN XUẤT TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 41

2.1 Khái quát về Kênh Âm nhạc VOV3, Kênh VOV Giao thông và các chương trình thuộc diện khảo sát 41

2.2 Khảo sát thực trạng quản lý các chương trình liên kết sản xuất trên Kênh VOV3 và Kênh VOV Giao thông 45

2.3 Thành công, hạn chế và nguyên nhân 71

Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH LIÊN KẾT SẢN XUẤT TRÊN ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM 81

3.1 Những vấn đề đặt ra đối với quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài TNVN 81

3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài tiếng nói Việt Nam 87

3.3 Một số kiến nghị đối với Đài tiếng nói Việt Nam 95

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 109

TÓM TẮT LUẬN VĂN 130

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Là loại hình báo chí ra đời sớm (từ cuối thế kỷ 19), phát thanh đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển toàn diện của xã hội loài người, giúp cho con người đến gần với nhau hơn Ở Việt Nam, loại hình báo phát thanh có lịch sử ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước dân chủ nhân dân (7/9/1945, chỉ sau ngày thành lập nước 5 ngày) Phát thanh Việt Nam đã có những đóng góp to lớn trong trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và dựng xây đất nước Trong kháng chiến, phát thanh có những ưu thế đặc biệt,

là tiếng kèn xung trận thúc giục các đoàn quân ra trận lập công, là tiếng nói tâm tình, là trường học giáo dục lý tưởng, là lời động viên tạo nên sức mạnh tinh thần vô song cho quân và dân ta mọi nơi, mọi lúc Ngày nay, phát thanh

có mặt ở khắp nơi trên cả nước (63 tỉnh, thành phố trên cả nước đều có Đài phát thanh-truyền hình) và vẫn đang phát huy tác dụng to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, phát triển con người Việt Nam toàn diện Phát thanh vẫn luôn là phương tiện truyền thông đại chúng chính thống, là cầu

nối thông tin quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân “Nhu cầu thông tin của người nghe đài ngày càng tăng về số lượng và chất lượng Nhịp sống hiện đại đòi hỏi con người lựa chọn hình thức thông tin nhanh gọn, trực tiếp,

dễ hiểu, dễ nhớ sao cho với một lượng thời gian vật chất nhỏ nhất có thể tiếp thu được một lượng thông tin lớn nhất” [11; tr.234]

Tuy nhiên, hiện nay đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự cạnh tranh khốc liệt của các loại hình truyền thông, nhất là mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân có đủ khả năng tham gia lĩnh vực truyền thông, cùng với đó là sự thay đổi nhu cầu và phương thức nghe đài của thính giả, đặc biệt là sự cởi mở nhưng cũng yêu cầu ngày càng cao của việc quản lý nhà nước về báo chí, trong đó có việc cắt giảm một phần kinh phí, nhân lực trong sản xuất nên việc liên kết giữa nhà đài với các tổ chức, cá nhân có đầy

Trang 9

đủ tư cách pháp nhân để sản xuất ra các chương trình phát thanh vừa bảo đảm chất lượng về mặt nội dung, phong phú về mặt hình thức thể hiện, phát huy được khả năng của toàn xã hội, đồng thời giảm gánh nặng chi phí cho các nhà đài là điều rất cần thiết và cần phải được triển khai thực hiện mạnh mẽ không chỉ ở Đài Tiếng nói Việt Nam mà còn phải nhân rộng ra các Đài phát thanh-Truyền hình các tỉnh, thành phố trong cả nước Đây cũng là vấn đề được đặt

ra trong nhiều văn bản của cấp quản lý nhà nước về báo chí, trong đó có Nghị định 06/2016/NĐ-CP, ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ

về “Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình”, hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 03 năm 2016; Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 của Chính phủ; Luật Báo chí năm 2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017

Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều cơ quan báo chí đã và đang chủ động thực hiện liên kết sản xuất một số chương trình với các đối tác là những công ty truyền thông Tuy nhiên, việc quản lý của một số cơ quan đối với chương trình liên kết sản xuất chưa thực sự chặt chẽ, còn lỏng lẻo, dẫn đến xuất hiện những nội dung thiếu chuẩn mực theo hướng câu người đọc, người xem, người nghe

vì lợi ích kinh tế (điều này xảy ra nhiều với các tờ báo điện tử hay trang thông tin điện tử), làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác tuyên truyền, vai trò của

cơ quan truyền thông, ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục, thậm chí làm lệch lạc, xấu xí văn hóa của dân tộc, tạo sự du nhập ngoại lai thiếu chọn lọc v.v

Trong khi đó, báo chí nói chung và phát thanh, truyền hình nói riêng là lĩnh vực chính trị tư tưởng quan trọng, có sự tác động, ảnh hưởng rất lớn đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nếu các Đài phát thanh, truyền hình buông lỏng trách nhiệm trong quản lý rất dễ dẫn đến tình trạng bị lợi ích nhóm thao túng, kiểm soát và chi phối hoạt động liên kết, thậm chí có thể bị các thế lực thù địch, kẻ xấu cài cắm nội dung nhằm mục đích chính trị Điều

này đặc biệt nguy hại

Với Đài Tiếng nói Việt Nam, trong suốt 74 năm xây dựng và phát triển,

Trang 10

Đài luôn luôn giữ vững vai trò là cơ quan truyền thông hàng đầu Việt Nam không chỉ về quy mô, phạm vi phủ sóng mà quan trọng hơn là về tính chính thống, độ tin cậy của thông tin phát trên sóng Mỗi nội dung, chương trình được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam đều có sự tác động vô cùng to lớn đến toàn xã hội Trong khi đó, hiện nay Đài đã và đang thực hiện liên kết sản xuất nhiều chương trình, phát sóng trên nhiều kênh khác nhau Điều này đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm đối với nhà quản lý, đặc biệt là lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam và lãnh đạo các Kênh phát sóng của Đài, làm sao để các chương trình liên kết sản xuất vừa phù hợp với tôn chỉ, mục đích của Đài phát thanh quốc gia vừa bảo đảm lợi ích của các bên tham gia liên kết

Do vậy, để có những đánh giá xác đáng, biện pháp phù hợp, tạo cơ sở cho Đài Tiếng nói Việt Nam nói riêng, các Đài phát thanh-truyền hình trong

cả nước nói chung quản lý và nhân rộng việc liên kết sản xuất các chương trình phát thanh trong thời gian tới, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt Nam (Khảo sát kênh VOV Giao thông (Hà Nội) và kênh VOV3 từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2019)” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành quản lý phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đến năm 2016 trong Luật Báo chí mới có nội dung cụ thể thể chế hóa

về lĩnh vực liên kết sản xuất báo chí (trước đó mới chỉ có Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông đề cập vấn đề này), do vậy cho đến nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất Để thực hiện đề tài này, tác giả nhận thấy rất cần thiết phải tìm hiểu các văn bản, công trình nghiên cứu về quản lý báo chí, về báo phát thanh, chương trình phát thanh và liên kết sản xuất nói chung

2.1 Nghiên cứu về Quản lý báo chí

Quản lý báo chí là lĩnh vực được đề cập nhiều, song chủ yếu là các bài

Trang 11

báo khoa học, còn với tính chất là một công trình chuyên sâu, riêng biệt về lĩnh vực này lại chưa nhiều Qua nghiên cứu, tìm hiểu, tác giả luận văn xin được nêu lên một vài công trình tiêu biểu:

- Trong cuốn “Truyền thông đại chúng" (2001), tác giả Tạ Ngọc Tấn

nêu rõ: “Ở Việt Nam, Chính phủ thống nhất quản lý toàn bộ hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng Cơ quan chức năng được Chính phủ giao trực tiếp quản lý nhà nước đối với toàn bộ hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng là Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) Nghị định số 81/CP ngày 8-11-1993 của Chính phủ quy định rõ, ngoài việc tổ chức thực hiện các hoạt động phù hợp với pháp luật hiện hành, Bộ văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) có trách nhiệm tham mưu cho Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển, xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật và cụ thể hóa, hướng dẫn các phương tiện truyền thông đại chúng thực hiện đúng pháp luật” [52; tr.384] Cuốn sách cũng nêu rõ những

nội dung của quản lý Nhà nước về báo chí, phân cấp quản lý, quyền hạn quản

lý báo chí đối với một số cơ quan như Đài Tiếng nói Việt Nam, đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam

- Trong bài: Một số vấn đề của lãnh đạo, quản lý báo chí trong tình hình hiện nay, đăng trên Tạp chí Cộng sản năm 2007, tác giả Trần Đăng Tuấn

nêu lên các yếu tố khách quan tác động mạnh đến báo chí - truyền thông, đồng thời đưa ra hai yêu cầu lớn đối với quản lý báo chí - truyền thông hiện nay, đó là: Quản lý báo chí truyền thông cần chủ động, không nên bị ngập vào

xử lý tình huống; Cần đầu tư, quan tâm đúng mức hơn đến việc nhanh chóng tăng cường tiềm lực, năng lực của hệ thống báo chí truyền thông hiện có, để

hệ thống này có thể đáp ứng được các thách thức trên mặt trận thông tin Đặc biệt, tác giả đưa ra một số giải pháp như: Tăng cường "pháp trị" trong quản lý báo chí - truyền thông, Tăng cường thực lực của toàn bộ nền báo chí - truyền thông nói chung, đặc biệt là thực lực của các đơn vị báo chí đầu đàn, để truyền thông nhà nước nhất định đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin, nhất định

Trang 12

chi phối được dư luận; Hệ thống báo chí truyền thông phải sử dụng để chi phối, chi phối để sử dụng các năng lực hoạt động truyền thông ngoài khu vực nhà nước [55]

- Luận văn ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật năm 2007:

Pháp luật về Quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay,

tác giả Phí Thị Thanh Tâm lại tập trung nghiên cứu sự cần thiết quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực báo chí, vai trò của pháp luật thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hiện nay Những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những mặt tồn tại và những vấn đề đặt ra đối với báo chí hiện nay Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ta những

đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản lý báo chí Đề tài đã góp phần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quản

lý nhà nước đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay, một vấn đề cấp thiết khi các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại ngày càng chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động báo chí và việc xây dựng hành lang pháp lý trong lĩnh vực báo chí cần được tăng cường và củng cố nhiều mặt đáp ứng yêu cầu đặt ra

- Trong cuốn Quản lý Nhà nước và pháp luật về báo chí, tác giả Lê

Thanh Bình và Phí Thị Thanh Tâm (2009) tập trung nghiên cứu trọng tâm vào vấn đề hành lang pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về báo chí, những bất cập của hệ thống các văn bản pháp luật về báo chí ở nước ta ta hiện nay Từ

đó tác giả cuốn sách đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản lý báo chí

- Bài Những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý thông tin trên mạng

xã hội ở nước ta hiện nay, đăng trên Tạp chí Lý luận và truyền thông, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2018), tác giả Lê Quang Tự Do nêu lên thực trạng tình hình công tác quản lý mạng xã hội

ở nước ta hiện nay, những vấn đề đặt ra, từ đó đưa ra một số đề xuất trong công tác quản lý mạng xã hội ở nước ta hiện nay Đây là nghiên cứu nằm trong

Trang 13

khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước Mặc dù tác giả không đề cập trực diện tới công tác quản lý loại hình báo phát thanh nhưng nghiên cứu này cũng gợi mở nhiều vấn đề liên quan tới đề tài luận văn, rất có giá trị

2.2 Nghiên cứu về Báo phát thanh

Báo phát thanh là loại hình ra đời sớm ở cả trên phạm vi quốc tế và trong nước nên các công trình nghiên cứu về Báo phát thanh khá nhiều và đa chiều Một số công trình tiêu biểu và có tác động lớn đến việc nghiên cứu vận dụng khi thực hiện luận văn như:

- Cuốn “Báo phát thanh” do PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ 2002), đề cập một cách hệ thống từ lý luận đến kỹ năng, kinh nghiệm, yêu cầu của các thể loại trên báo phát thanh, người làm báo phát thanh, kỹ thuật phát thanh Đây là cơ sở rất quan trọng để tác giả đề tài phân tích, đánh giá các chương trình phát thanh liên kết sản xuất

biên Tác giả V.V.Xmirnốp, với cuốn “Các thể loại báo chí phát thanh” (2004), do Đào Tấn Anh dịch đã đề cập những vấn đề cơ bản về thể loại và những kinh nghiệm thực tiễn khi thực hiện các thể loại báo phát thanh Điểm nổi bật của cuốn sách là tác giả đưa ra những ví dụ thực tiễn từ báo phát thanh của nước Nga Xô Viết để phân tích, đánh giá, đưa ra những nhận định đúng nhằm tạo nên tác phẩm báo phát thanh tốt hơn về nội dung và cách thức thể hiện Đây là cuốn sách cho ta những kinh nghiệm quý để phân tích tác phẩm phát thanh trên nhiều góc độ từ các yếu tố cấu thành tác phẩm phát thanh

- Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” (2012), tác giả Nguyễn Văn Dững khái lược lịch sử hình thành và phát triển, những thế mạnh, hạn chế của báo

phát thanh Từ đó tác giả đưa ra nhận định: Những hạn chế của phát thanh có thể sẽ được khắc phục một cách cơ bản khi radio internet ra đời – không phải nghe một lần mà có thể nghe bất cứ lúc nào có thể Bởi vì Internet radio có những đặc điểm vượt trội như: là kênh truyền thông đa phương tiện; cho phép tăng tần suất và biên độ tương tác với thính giả, kéo người nghe vào cuộc như những cộng tác viên tích cực; cho phép phát triển các loại dịch vụ đa loại hình,

Trang 14

kể cả dịch vụ ra tăng, đáp ứng nhu cầu của bạn nghe đài; chương trình phát thanh có độ nén giản lược tiện ích; khắc phục được sự cố nhiễu do môi trường

tự nhiên, bảo đảm chất lượng thông điệp tốt nhất

- Cuốn sách chuyên khảo “Các thể loại báo phát thanh”, do PGS.TS Đinh Thị Thu Hằng chủ biên (2016), đã đưa ra những vấn đề cơ bản như vị trí vai trò, đặc điểm, các dạng thức của tin phát thanh, phóng sự phát thanh, phỏng vấn phát thanh, bình luận phát thanh, tường thuật phát thanh, ghi nhanh phát thanh và tọa đàm phát thanh Cùng với đó, tác giả cuốn sách còn đưa ra những kỹ năng cơ bản trong xây dựng bản tin phát thanh, phẩm chất, năng lực của người thực hiện ghi nhanh phát thanh Cuốn sách là cơ sở để đối chiếu những thành công và hạn chế trong quá trình phân tích nội dung, hình thức thể hiện của chương trình phát thanh liên kết sản xuất

- Tác giả Vũ Quang Hào trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí” (2016), đã đề cập toàn diện về đặc điểm ngôn ngữ các loại hình báo chí trong đó có ngôn ngữ phát thanh Trong phần này, tác giả cuốn sách đề cập tới bản chất của

ngôn ngữ phát thanh với những đặc tính như: Tính âm thanh học, tính giao tiếp đơn dạng, tính khoảng cách, tính tức thời, tính phổ cập Về chuẩn mực của ngôn ngữ phát thanh, tác giả đề cập: Dù thế nào đi nữa, chuẩn mực của ngông ngữ phát thanh một mặt vẫn phải bảo đảm tính chuẩn mực của ngôn ngữ nói chung (tiếng Việt), mặt khác phải thỏa mãn chuẩn mực phù hợp với những đặc trưng của bản thân loại hình báo phát thanh Tác giả cuốn sách

cũng đề cập tới những yếu tố chi phối tính hiệu quả của ngôn ngữ phát thanh

Đó là nghệ thuật đọc hoặc nói, mục đích và đối tượng phát thanh và cách sắp xếp, dàn dựng chương trình Ngoài ra, tác giả cũng đề cập tới một số vấn đề ngôn ngữ của văn bản phát thanh

- Bài Thời cơ và thách thức đối với báo phát thanh trong môi trường truyền thông hiện nay của PGS.TS Đinh Thị Thu Hằng, đăng trên Tạp chí Lý

luận và truyền thông, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2018), nêu rõ những thay đổi của môi trường truyền

Trang 15

thông hiện nay, đặc biệt là sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Từ đó, tác giả đưa ra những thời cơ cùng những thách thức đối với báo phát thanh trong môi trường truyền thông hiện nay

2.3 Nghiên cứu về Chương trình phát thanh

Cũng như các công trình nghiên cứu về Báo phát thanh, các công trình nghiên cứu về Chương trình phát thanh cũng đã có nhiều và đề cập ở rất nhiều khía cạnh, từ tổng quan đến các kỹ năng cơ bản khi thực hiện chương trình phát thanh Tiêu biểu như:

- Trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, NXB Chính trị quốc gia (2001), tại chương IV: Phát thanh, tác giả Tạ Ngọc Tấn đề cập khá kỹ về

chương trình phát thanh “Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể” Tác giả

cũng đề cập kỹ thuật sản xuất các chương trình phát thanh như: sản xuất các chương trình sản xuất tại studio, sản xuất các chương trình đọc thẳng, sản xuất các chương trình phát thanh trực tiếp và sản xuất các chương trình cầu truyền thanh

- Tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn “Báo phát thanh”, NXB Văn hóa-Thông tin (2002), tại chương X: Sản xuất chương trình phát thanh, đã đề cập chi tiết từ khái niệm đến đặc điểm, các dạng chương trình phát thanh; phương thức sản xuất chương trình phát thanh; biên tập chương trình phát thanh; những yêu cầu về phẩm chất, kỹ năng của biên tập viên thực hiện biên tập chương trình phát thanh Đây là cuốn sách bao hàm cả các vấn đề về lý luận và thực tiễn sản xuất tại Đài Tiếng nói Việt Nam, do tập thể tác giả giàu

kỹ năng, kinh nghiệm thực hiện nên là cơ sở để phân tích, đánh giá về chất lượng, sự đúng, sai của chương trình phát thanh liên kết sản xuất

- Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, trong cuốn “Phát thanh trực tiếp”, tác giả Vũ Văn Hiền và Đức Dũng (chủ biên - 2007), đã đánh giá một cách toàn diện về tình hình phát thanh trực tiếp ở nước ta, từ đó rút ra

Trang 16

những kết luận khoa học để định hướng thực tiễn và đáp ứng được những yêu cầu bức xúc của công tác nghiên cứu, giảng dạy, bồi dưỡng về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp ở nước ta hiện nay Đặc biệt, cuốn sách nêu rất rõ về quy trình thực hiện chương trình phát thanh trực tiếp và cả những kỹ năng để xử lý các sự cố trong thực hiện chương trình phát thanh trực tiếp “Với những ưu thế của phát thanh trực tiếp, phát thanh hiện đại đã trở thành người bạn thân thiết của mỗi người và hoàn toàn có đủ sức mạnh để cạnh tranh với các phương tiện truyền thông đại chúng khác để tiếp tục tồn tại

và phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn”

- Đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất chương trình phát thanh và máy thu thanh theo công nghệ số”, tác giả Đào Duy Hứa (chủ nhiệm đề tài - 2009), đã đánh giá tổng quan về quy trình sản xuất chương trình phát thanh theo công nghệ số, có nghiên cứu của một số quốc gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực này, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng quy trình sản xuất chương trình phát thanh, lưu trữ tư liệu phát thanh và sản xuất máy thu thanh theo công nghệ số; xây dựng lộ trình ứng dụng phát thanh đa phương tiện ở Đài tiếng nói Việt Nam

- Trong cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình” của tác giả Dương Xuân Sơn (2011), khi đề cập về chương trình truyền hình, tác giả đưa ra khái niệm:

“Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mạng lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” Đặc biệt, cuốn sách đã nêu khá chi tiết phương thức sản xuất

chương trình truyền hình Với tính tương đồng giữa phát thanh và truyền hình, cuốn sách có giá trị tham khảo rất lớn đối với luận văn

2.4 Nghiên cứu về Liên kết sản xuất sản phẩm báo chí

Liên kết sản xuất sản phẩm báo chí không phải là lĩnh vực xa lạ nên cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, những

Trang 17

công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực liên kết sản xuất sản phẩm báo chí vẫn chưa nhiều, mà chủ yếu là xen lẫn trong các công trình nghiên cứu về

xã hội hóa sản xuất sản phẩm báo chí, hay những bài báo khoa học đề cập một khía cạnh nào đó của lĩnh vực này Tiêu biểu như:

- Trong cuốn sách “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay” (2014) tác giả Đinh Thị Xuân Hòa đã đề cập toàn diện các khía cạnh, lĩnh vực của xã hội hóa truyền hình của nước ta hiện nay Trong đó, tác giả có sự tìm hiểu cặn kẽ, sâu sắc về thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay-một lĩnh vực rất gần với hoạt động liên kết sản xuất nói chung, liên kết sản xuất chương trình phát thanh nói riêng Cùng với đó, tác giả cuốn sách đã đưa ra được những thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó dự báo

sự phát triển và đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam trong thời gian tới Đây

là cuốn sách chuyên khảo rất có giá trị cho hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình nói riêng, hoạt động xã hội hóa báo chí nói chung và trong đó có hoạt động liên kết sản xuất chương trình phát thanh

- Trong bài Bộ Thông tin và Truyền thông Quản lý và xử lý nghiêm các sai phạm trong liên kết sản xuất chương trình truyền hình, đăng trên báo Hà

Nội Mới điện tử (2015), tác giả Châu Anh đã nêu lên thực trạng những sai phạm trong thực hiện liên kết sản xuất chương trình truyền hình và từ đó đưa

ra giải pháp mang tính vĩ mô trong việc quản lý đối với cơ quan quản lý nhà nước và các nhà đài

- Còn trong bài Liên kết nhưng không thương mại hóa, tư nhân hóa báo chí, đăng trên báo Nhân dân điện tử (2016), tác giả Khánh Minh chỉ rõ: Báo chí là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của xã hội, thể hiện trình độ và bước tiến của một xã hội hiện đại, dân chủ Và khi mà quan hệ giữa các lĩnh vực hoạt động của xã hội ngày càng phong phú, sinh động, đa dạng, và có

Trang 18

những mối liên hệ tương hỗ chặt chẽ, thì việc hình thành những cơ chế mới và

tổ chức, quản lý những mối quan hệ đó một cách tốt nhất nhằm làm cho báo chí phát triển toàn diện là việc làm cần thiết, và nổi lên trong đó là vấn đề liên kết hoạt động báo chí Trên cơ sở phân tích những hạn chế của quá trình

liên kết trong lĩnh vực báo chí (kể cả báo in, báo mạng điện tử và phát thanh, truyền hình), tác giả đánh giá cao nội dung đề cập việc liên kết báo chí của

Luật Báo chí 2016 Đồng thời cho rằng, việc cho phép liên kết trong hoạt động báo chí cho thấy sự đổi mới kịp thời, đúng đắn của Đảng và Nhà nước với lĩnh vực báo chí Tuy nhiên, vấn đề nhất quán vẫn là không thương mại hóa, không tư nhân hóa báo chí (tư nhân chỉ tham gia liên kết, không được chi phối hoạt động báo chí), không để tư nhân núp bóng, không để lợi ích nhóm chi phối,

- Bài: Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình - xu hướng tất yếu của các đài phát thanh, truyền hình địa phương, đăng trên báo Bắc Ninh

điện tử (2018), tác giả Nguyễn Tiến Vụ đã nêu lên thực trạng việc xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình của nước ta và các tỉnh, thành phố, các nội dung, công đoạn tiến hành xã hội hóa, đưa ra những thời cơ và thách thức của việc thực hiện hoạt động này Qua đó, tác giả cho rằng: Trong bối cảnh hội nhập, phát triển hiện nay, các đài phát thanh, truyền hình địa phương cần phải có những thay đổi - trước hết là thay đổi trong nhận thức và tư duy về xu hướng có tính quy luật này, từ đó xây dựng những giải pháp cụ thể để thích ứng, vận dụng và phát triển

- Luận văn “Quản lý nội dung các chương trình phát thanh xã hội hóa của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội” (2018) của tác giả Nguyễn Trọng

Khương đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý nội dung chương trình phát thanh xã hội hóa, đồng thời nghiên cứu, phân tích khá kỹ thực trạng quản lý nội dung chương trình phát thanh xã hội hóa ở Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội, từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế cũng như những vấn đề đặt ra đối với các kênh phát thanh của Đài khi tiến hành xã hội

Trang 19

hóa Đặc biệt, tác giả luận văn đã đưa ra được hệ thống các giải pháp và khuyến nghị khoa học đối với việc quản lý nội dung các chương trình phát thanh xã hội hóa ở Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội trong thời gian tới

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất không nhiều, một số công trình về xã hội hóa sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình thì đề cập một phần không lớn về vấn đề liên kết sản xuất, còn việc quản lý chương trình đó thì chưa được đề cập tới Ngoài ra, việc quản lý các chương trình phát thanh chủ yếu được các công trình, bài báo đề cập ở tầm vĩ mô (quản lý cấp nhà nước) mà rất ít có nội dung

đề cập tới việc quản lý cụ thể đối với chương trình phát thanh liên kết sản xuất Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về chương trình phát thanh liên kết sản xuất cũng mới chỉ được một số sách, đề tài đề cập tới dưới một góc độ nào đó

mà chưa toàn diện Do vậy, đề tài luận văn “Quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt Nam” là không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, khảo sát, đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất các giải pháp, khuyến nghị khoa học nhằm tăng cường quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận như khái niệm, vai trò, cơ sở chính trị - pháp lý và yêu cầu đối với quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất

- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý các chương trình liên kết sản xuất ở Đài Tiếng nói Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và những vấn đề đặt ra

- Đưa ra hệ thống các giải pháp và khuyến nghị khoa học đối với việc quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt

Trang 20

Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các chương trình phát thanh liên kết sản xuất phát trên Kênh Âm nhạc VOV3 và Kênh VOV Giao thông (Hà Nội) của Đài Tiếng nói Việt Nam

Tác giả lựa chọn khảo sát và phân tích thực trạng công tác quản lý các chương trình liên kết sản xuất trên Kênh VOV3 và Kênh VOV Giao thông, cụ

thể là 4 chương trình: “The One Radio”, “Giai điệu tuổi vàng” trên Kênh VOV3 và chương trình “FM sức khỏe”, “FM bất động sản” trên Kênh VOV Giao thông Đây là 4 chương trình tiêu biểu đại diện cho các hình thức liên

kết đang được thực hiện trên Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

- Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài này là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng Đây chính là nền tảng phương pháp luận để tác giả dựa vào đó, đưa ra các luận điểm, kết luận về vai trò của các chương trình liên kết sản xuất, cũng như những nguyên tắc trong quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay

- Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài này là lý luận báo chí và báo chí phát thanh; của Luật báo chí và những quy định về đạo đức nhà báo Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng kế thừa một số quan điểm

lý thuyết về xã hội hóa báo chí nói chung và xã hội hóa các chương trình phát thanh nói riêng

Trang 21

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng thể nhiều phương pháp nghiên cứu, song tập trung vào những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu: nghiên cứu một số luật, thông tư,

sách, báo, tài liệu về báo chí, báo phát thanh, quản lý báo chí, liên kết sản xuất kênh và chương trình phát thanh, truyền hình để tìm kiếm những kiến thức lý thuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Tác giả khảo sát kế hoạch, các

điều kiện thực hiện, nội dung, hình thức của các chương trình phát thanh liên kết nhằm nhận diện kết quả của hoạt động quản lý các chương trình liên kết sản xuất củ Đài Tiếng nói Việt Nam

- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp việc quản lý quy trình thực

hiện các chương trình liên kết sản xuất để thu thập tư liệu, phân tích và đưa ra các nhận xét về công tác quản lý các chương trình liên kết sản xuất của Đài Tiếng nói Việt Nam

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp 2 nhà quản lý (Phó

trưởng Ban Âm nhạc VOV3 và Phó Giám đốc Kênh VOV Giao thông); 2 nhà báo ở Kênh VOV3 và VOV Giao thông; Trưởng phòng Hành chính tổng hợp, Trung tâm Quảng cáo và dịch vụ truyền thông Đài Tiếng nói Việt Nam và Trưởng phòng nội dung đơn vị liên kết sản xuất (công ty cổ phần Truyền thông Minhcom) để tìm hiểu cách thức, quy trình quản lý các chương trình liên kết sản xuất

- Phương pháp thống kê: phương pháp này chủ yếu dùng để thống kê,

phục vụ việc phân tích hiệu quả quản lý nội dung, hình thức thể hiện và kỹ thuật của các chương trình liên kết sản xuất, trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, đánh giá cụ thể, chính xác

6 Điểm mới của luận văn

Trong xu thế hợp tác, liên kết diễn ra ngày càng phổ biến trong lĩnh vực báo chí nói chung, loại hình báo phát thanh nói riêng thì luận văn thạc sĩ

Trang 22

“Quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt Nam” sẽ là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, khoa học và tổng thể cả

về lý luận và thực tiễn dưới góc độ quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất tại Đài phát thanh quốc gia

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn xác lập và hệ thống hóa các vấn đề lý luận quan trọng liên quan đến quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất như vai trò, nội dung, phương thức và các yêu cầu đối với quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất, góp phần bổ sung lý thuyết, lý luận về quản lý báo chí nói chung và quản lý chương trình phát thanh nói riêng

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn tập trung làm rõ thực trạng quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên Đài Tiếng nói Việt Nam, từ đó rút ra những điểm mạnh, hạn chế, đề xuất các giải pháp khoa học Đây cũng là cơ sở để tăng cường quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất ở Đài phát thanh quốc gia, đồng thời nhân rộng, phát triển mô hình quản lý tốt các chương trình phát thanh liên kết sản xuất không chỉ ở Đài Tiếng nói Việt Nam mà ở các Đài Phát thanh-Truyền hình trong cả nước

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo; Phụ lục, Luận văn kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 23

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH LIÊN KẾT SẢN XUẤT

1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Nhóm khái niệm về quản lý

Quản lý là vấn đề được nhắc đến nhiều cả trong lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, có sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, định nghĩa khác nhau Vì vậy, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào về quản lý

Theo từ điển Tiếng Việt 2000: Nghĩa thứ nhất: Quản lý là trông coi và

giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Quản lí hồ sơ Quản lý vật tư Nghĩa thứ

hai: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất

định Quản lí lao động Làm quản lý cho đơn vị [58; tr.800]

Như vậy, ngay Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra 2 định nghĩa, tùy theo chủ thể và đối tượng tượng quản lý Tuy nhiên, trên góc độ của đề tài “quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất” thì định nghĩa theo nghĩa thứ hai:

“Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”

sẽ phù hợp hơn

Dưới góc độ quản lý học, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều định nghĩa với những góc tiếp cận khác nhau:

Frederick Winslow Taylor (29 tháng 3 năm 1856 - 21 tháng

3 năm 1915), là một kỹ sư cơ khí Mỹ, người đã tìm ra cách nâng cao năng suất công nghiệp, cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất (về thời gian, nhân lực, vật lực)

Trang 24

Henry Fayol, sinh năm 1841 – từng là kỹ sư tại một công ty khai thác

mỏ lớn tại Pháp (người đưa ra 14 nguyên tắc quản lý và được xem là người có

lý thuyết toàn diện về lĩnh vực này) thì cho rằng: Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra (chỉ ra công việc cụ thể của quản lý nhưng dường như có sự nhầm lẫn với vai trò của lãnh đạo)

Peter Ferdinand Drucker, người Áo (19/11/1909 – 11/11/2005) là chuyên gia hàng đầu thế giới về tư vấn quản trị Ông được coi là cha đẻ của ngành Quản trị kinh doanh hiện đại, là tác giả nhiều cuốn sách quản lý nổi

tiếng, trong đó có cuốn Những thách thức của quản lý trong thế kỷ 21 Những

đóng góp của ông được đánh giá rất cao, tạp chí Financial Times (Thời báo Tài chính) đã bình chọn ông là một trong 4 nhà Quản lý bậc thầy của mọi thời đại" Peter Ferdinand Drucker cho rằng: Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"

Như vậy, ngay với góc độ quản lý học thì cũng chưa có sự thống nhất

về định nghĩa này

Trong giáo dục thì quản lý được định nghĩa như việc đạt đến mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả thông qua lập kế hoạch, tổ chức, sắp xếp nhân

sự, chỉ đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức

Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng

để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước

Trên góc độ quản lý nhà nước về báo chí, theo Giáo sư, Tiến sĩ Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “Vấn đề hàng đầu để quản lý tốt hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng là hình thành tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này trên cơ sở một quy mô thích hợp, một cơ chế vận hành

Trang 25

hợp lý Cùng với tổ chức bộ máy là bồi dưỡng, lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ

có chất lượng đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả của bộ máy Một khi tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ không tương xứng về số lượng, quy mô và trình độ, năng lực thì không thể quản lý tốt một hệ thống truyền thông đại chúng rộng lớn, hoạt động năng động và liên tục phát triển Quản lý tốt các phương tiện truyền thông đại chúng không tách rời điều kiện quan trọng là

xây dựng và hoàn thiện một hành lang pháp lý” [52; tr.258]

Từ những phân tích trên có thể thấy, quản lý là hoạt động tương tác giữa người với người và được diễn ra thường xuyên, liên tục của mọi tổ chức, mọi lĩnh vực, nhỏ hơn nữa là những nhóm người nhằm đưa tổ chức đó hoạt động hiệu quả hướng tới đạt được mục đích đã định Và để quản lý hiệu quả thì bao giờ cũng liên quan đến xây dựng tổ chức, đào tạo, bố trí, sắp xếp nhân

sự, xây dựng thể chế, kế hoạch hoạt động Và một yếu tố không kém phần quan trọng là vai trò, tài năng của người quản lý Tất nhiên người quản lý và người lãnh đạo có những đòi hỏi khác nhau, song nếu nhà quản lý mà có tố chất của nhà lãnh đạo nữa thì công tác quản lý sẽ đạt hiệu quả cao hơn

Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là điều hành, chỉ đạo một hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định Nói cách khác, quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý; quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người; mục đích, nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp với các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hành động thống nhất của tập thể để hướng đến mục tiêu đã định trước; quản

lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy nhằm đảm bảo sự phục tùng và tạo sự thống nhất trong quản lý

Trang 26

Sơ đồ 1.1 Sự tác động trong quản lý

Như vậy, có thể rút ra một khái niệm chung nhất về quản lý: quản lý là

sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản

lý bằng nội dung và phương thức quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra Quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng, đó là: chủ thể quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và khách thể quản lý (chịu sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý) và các công cụ quản lý như hệ thống tổ chức, các thể chế (pháp luật, quy định, quy chế ), kết hợp với phong cách, thái độ nhà quản lý

1.1.2 Nhóm khái niệm về chương trình phát thanh

1.1.2.1 Phát thanh

Thuật ngữ phát thanh (radio) thực ra bao gồm cả hai loại hình nhỏ, trong đó là phát thanh qua làn sóng điện và truyền thanh qua hệ thống dây dẫn Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử của phát thanh thì loại hình phát thanh qua làn sóng điện là cơ bản và là yếu tố cơ bản tạo nên bản sắc của phát thanh Trong phạm vi của luận văn này cũng chỉ đề cập đến loại hình phát thanh qua làn sóng điện từ Thực tế cho thấy có nhiều định nghĩa về phát Tác động

quản lý

Trang 27

thanh với các góc độ tiếp cận khác nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt: Phát thanh là phát và truyền âm thanh bằng

sóng vô tuyến điện Đài phát thanh Phát thanh tin tức Buổi phát thanh ca nhạc

[52; tr.769] (định nghĩa này đơn giản chỉ tiếp cận ở phương thức truyền tải thông tin mà chưa định nghĩa một cách toàn diện về loại hình báo chí phát thanh)

Theo Luật Báo chí năm 2016: Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau [45]

Dưới góc độ hình thức chuyển tải thông tin: Phát thanh (Radio) là loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyển tải qua

âm thanh Âm thanh trong phát thanh bao gồm lời nói, âm nhạc, các loại tiếng động làm nền hoặc minh họa cho lời nói như tiếng mưa, gió, nước chảy, sóng

vỗ, chim hót, tiếng vỗ tay, tiếng ồn đường phố v.v [52; tr.104]

Dưới góc độ chức năng của loại hình: Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống

truyền thanh, tác động vào thính giác (vào tai) của công chúng [12; tr.51]

Dưới góc độ cách thức thể hiện: Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực Thông điệp được mã hóa truyền qua kênh phát thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp Tuy nhiên, phát thanh hiện đại-phát thanh internet hay radio online lại cần có định nghĩa khác [11; tr.111]

Dưới góc độ môi trường truyền tải và chức năng: Một mặt, phát thanh

là sự nối tiếp tự nhiên kinh nghiệm đã tích lũy của loài người trong việc phản

Trang 28

ánh và tổ chức thông tin xã hội Phát thanh-đó là kênh chuyển tải những nghệ thuật âm thanh khác, bằng lời thoại, chuyển tải những khối lượng lớn hoạt động sáng tạo của mình Mặt khác, phát thanh là sản phẩm của thực tế ngôn

ngữ mới, của sự tồn tại ngôn ngữ trong êphia (không trung) [60; tr.09]

Mặc dù đứng ở các góc độ khác nhau dẫn đến có những định nghĩa về phát thanh cũng khác nhau Tuy nhiên, các định nghĩa trên đều có những điểm chung tạo nên đặc trưng vốn có của thể loại báo chí phát thanh Và ta có thể hiểu: Phát thanh là một loại hình báo chí, chuyển tải thông tin thông qua kỹ thuật sóng điện từ; ngôn ngữ sử dụng là lời nói, tiếng động và âm nhạc; được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau

Theo khảo sát của Đài tiếng nói Nhân dân TP.Hồ Chí Minh (VOH) năm 2014 trên 4.000 người ở TP.ồ Chí Minh, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ

và Đồng bằng sông Cửu long thì một điều thú vị là có đến 36,1% người khảo sát cho biết nghe radio qua điện thoại di động, 34,6% nghe radio bằng cassette, 18,2% nghe radio cầm tay, 28,8% nghe radio trên ô tô và 16,4% nghe radio trên internet Điều này cho thấy, chính những phương tiện công nghệ hiện đại đã góp phần giúp cho radio phát triển

Phát thanh có các đặc điểm cơ bản làm nên tính đặc thù và sức sống riêng có của mình Theo Lois Baird, tác giả cuốn “Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh” của Trường Phát thanh, truyền hình và Điện ảnh Australia thì phát thanh có 11 đặc tính như: Radio là hình ảnh; Radio là thân mật riêng tư; Radio dễ tiếp cận và dễ mang theo; Radio là trực tiếp; radio có ngôn ngữ riêng của mình; Radio có tính tức thời; Radio không đắt tiền; Radio

có tính lựa chọn; Radio gợi nên cảm xúc; Radio làm công việc thông tin và giáo dục; Radio là âm nhạc [12; tr.81]

Phát thanh có những ưu thế vượt trội so với các loại hình báo chí khác Thứ nhất, đối tượng tác động của phát thanh rộng rãi nhất, người nghe không cần biết chữ, miễn là có khả năng nghe và hiểu được ngôn ngữ lời nói được

Trang 29

chuyển tải trên sóng phát thanh Thứ hai, thông điệp trên sóng phát thanh có thể len lỏi vào mọi tầng lớp dân cư khắp mọi nơi, đặc biệt là với các dân tộc ít người chỉ có tiếng nói mà chưa có văn tự Thứ ba, báo phát thanh có tính tức thời và tính tỏa khắp Ngay lập tức, thông điệp có thể tác động đến hàng triệu người trên khắp hành tinh, vượt qua mọi biên giới quốc gia, lãnh thổ Thứ

tư, cơ chế tác động của phát thanh linh hoạt, khả năng tiếp nhận mọi nơi, mọi lúc Thứ năm, phát thanh rất rẻ tiền Thứ sáu, là kênh truyền thông sinh động, hấp dẫn cho mọi lứa tuổi, mọi đối tượng

1.1.2.2 Chương trình phát thanh

Một kênh phát thanh được tạo nên bởi các chương trình phát thanh (còn

có tên gọi là các Fomat) và mỗi chương trình phát thanh có thể đề cập tới nhiều lĩnh vực khác nhau (ví dụ chương trình thời sự), song cũng có rất nhiều chương trình phát thanh chỉ đề cập tới một lĩnh vực cụ thể nào đó của đời sống xã hội Đó là các chương trình chuyên đề Ví dụ như chương trình “Mùa vàng”, “Phát thanh Quân đội nhân dân”, “Vì an ninh Tổ quốc”, “Từ nghị trường tới cuộc sống” trên Kênh Thời sự VOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam Hay các chương trình “ONE Radio”, “Những lá thư nhỏ”, “Âm nhạc 168giờ”,

“Happy car”, “Giai điệu tuổi vàng” trên Kênh Âm nhạc VOV3, Đài Tiếng nói Việt Nam; hoặc các chương trình “Giờ cao điểm”, “Sự việc và góc nhìn”,

“Radio kết nối”, “Thế giới giao thông” trên Kênh VOV Giao thông Sự phong phú, đa dạng của chương trình phát thanh là cơ sở để tạo nên một Kênh phát thanh chất lượng, thu hút, lôi cuốn được thính giả Vậy chương trình phát thanh là gì? Chương trình phát thanh có những đặc điểm gì?

Theo Khoản 10, Điều 3, Chương I, Luật Báo chí 2016: Chương trình

phát thanh, chương trình truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo nói, báo hình theo một chủ đề trong thời lượng nhất định, có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc

Trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng:

Trang 30

Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán

và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể [52; tr.117]

Cũng theo tác giả cuốn “Truyền thông đại chúng” thì thông thường một

chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát thanh viên, trong đó chỉ ra tên

và đôi khi cả một vài đặc trưng cốt yếu của chương trình Chương trình phát thanh được xây dựng phù hợp với đối tượng và mục đích cung cấp thông tin Loại hình chương trình phát thanh rất phong phú Căn cứ vào đặc điểm nội dung, mục đích thông tin và đối tượng, người ta chia chương trình phát thanh thành bốn loại chính: Loại chương trình tin tức, thời sự tổng hợp; loại chương trình chuyên đề; loại chương trình giải trí; loại chương trình giáo dục Còn khi dựa vào phương pháp và kỹ thuật sản xuất, người ta cũng chia chương trình phát thanh thành 4 loại: Chương trình sản xuất tại Studio; chương trình đọc thẳng; chương trình trực tiếp; chương trình cầu truyền thanh

Tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: Chương trình phát thanh là sự liên

kết sắp xếp hợp lý tin, bài, bảng tư liệu âm nhạc trong một thời lượng nhất định, được mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc với lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh, đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe [11; tr.216]

Như vậy, mỗi chương trình phát thanh có thể được coi như là một số báo, được bắt đầu bằng việc sản xuất các tin, bài của đội ngũ phóng viên, cộng tác viên Và vai trò của đội ngũ biên tập viên là vô cùng quan trọng trong tạo nên sắc thái, giá trị của chương trình phát thanh Bởi lẽ, sau khi có tin, bài thì biên tập viên phải là người sắp xếp các tin, bài, các tư liệu âm nhạc theo chủ đề nhất định, có sự kết nối và tổ chức thực hiện Nếu biên tập viên biết lựa chọn tin, bài và biết kết nối chúng theo một cách linh hoạt, sáng tạo, bám sát đối tượng của chương trình thì chương trình sẽ đạt hiệu quả cao, được

Trang 31

thính giả đón nghe và trông đợi

Trong cuốn Báo phát thanh - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, tác giả Đinh Thị Thu Hằng định nghĩa: Chương trình phát thanh là một chỉnh thể trong đó

các thành phần tin, bài, âm nhạc, lời dẫn… được bố trí, sắp xếp hợp lý trong khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông

và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe [31; tr.153]

Trên thực tế, các chương trình phát thanh không phải là sự chắp ghép một cách cơ học các tin, bài, âm nhạc để tạo thành một sản phẩm lớn hơn mà giữa chúng cần có đường khâu nối hoặc những gia giảm để sản phẩm hoàn thiện và đến với thính giả một cách hoàn hảo Điều này đòi hỏi sự lao động nghiêm túc, sáng tạo, sự hiểu biết toàn diện của đội ngũ biên tập viên Do đó, nếu nói phóng viên là linh hồn của một cơ quan báo chí thì biên tập viên là những nhà kiến tạo của cơ quan báo chí đó

Tuy nhiên, hiện nay, với phát thanh hiện đại, khi nói tới chương trình phát thanh thì ngoài chương trình đóng khung theo kiểu truyền thống thì

người ta quan tâm nhiều đến chương trình phát thanh mở Một chương trình phát thanh mở phải linh hoạt, mềm dẻo về nội dung, thời lượng, có sự giao lưu rộng rãi, sinh động, đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng của bạn nghe đài Chương trình phát thanh càng mở, càng sinh động, càng thu hút thính giả Chương trình mở phải tạo ra tâm lý chờ nghe và chuẩn bị nói cho

thính giả, lôi cuốn họ tham gia vào chương trình [37; tr.76]

1.1.3 Nhóm khái niệm về liên kết sản xuất chương trình phát thanh

1.1.3.1 Liên kết

Theo Từ điển Tiếng Việt 2000: Liên kết là kết lại với nhau từ nhiều

thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ Ví dụ: Liên kết các hạt rời bằng chất kết dính các đảng phái đối lập liên kết với nhau Đường lối ngoại giao không liên kết (không tham gia phe nào, không đứng trong liên minh quân sự nào) [58; tr.568]

Hiểu theo một cách đơn giản nhất thì liên kết chính là kết hợp lại với

Trang 32

nhau từ hai hay nhiều cá nhân, hai hay nhiều tổ chức có khả năng để tạo ra một sản phẩm hay một tổ chức chặt chẽ hơn, lớn hơn, đáp ứng mục đích đặt

ra mà các bên cùng hướng tới tuy nhiên, sự hướng tới hay nói cách khác là lợi ích của các bên liên kết có thể không ngang bằng nhau, không giống nhau,

do sự thống nhất khi thực hiện liên kết

1.1.3.2 Sản xuất chương trình phát thanh

Theo một nghĩa chung nhất thì sản xuất chính là tạo ra của cải vật chất hay các sản phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào

đối tượng lao động [58; tr.845]

Như vậy, từ những phân tích ở trên ta có thể thấy: sản xuất chương trình phát thanh là tổng hợp các hoạt động từ lên ý tưởng đến sản xuất các tin, bài, lựa chọn âm nhạc, kết nối các nội dung nhằm tạo ra chương trình phát thanh với đầy đủ nội dung, yêu cầu, phù hợp với đối tượng để phát sóng phục

vụ thính giả

Để có những chương trình phát thanh cần phải trải qua một quy trình với nhiều công đoạn khác nhau, từ lên ý tưởng, viết kịch bản, triển khai, duyệt, lên sóng đến hậu lên sóng Tuy nhiên, có thể gom lại thành 3 khâu như: Triển khai (gồm ý tưởng, kịch bản, thực hiện); đóng gói (duyệt) và phân phối (phát sóng)

Thực tế cho thấy, chương trình phát thanh không phải là sự kết hợp một cách cơ học các tin, bài, âm nhạc mà đòi hỏi có sự kết nối rất chặt chẽ, hài hòa, mềm dẻo, tạo sự liên tục trong cả chương trình Bởi vậy, sản xuất chương trình phát thanh mang tính tập thể rất rõ nét, mà vai trò của phóng viên là đặc biệt quan trọng “phóng viên là linh hồn của tờ báo” Tuy nhiên, để

có chương trình phát thanh hoàn chỉnh thì cần phải có các yếu tố đảm bảo, đó

là con người, phương tiện kỹ thuật và nguồn tài chính phù hợp

Mỗi chương trình phát thanh thường có những đặc điểm như, mở đầu bằng nhạc hiệu, nhạc chương trình Thông thường, người nghe nhận diện chương trình phát thanh ngay từ phút đầu tiên thông qua nhạc hiệu hoặc nhạc

Trang 33

chương trình Nhạc hiệu được sử dụng như một thông báo chính thức, nó giúp người nghe phân biệt đài phát thanh của quốc gia này với quốc gia khác hoặc đài phát thanh của tỉnh này với tỉnh khác Nhạc hiệu được sử dụng có khả năng tạo nên tâm lý tích cực cho người nghe Lời xướng của chương trình do phát thanh viên thực hiện, nó như một thông báo ngắn gọn cho tên của chương trình Thông thường, lời xướng bao hàm các yếu tố như: tên chương trình, địa chỉ, tần số phát sóng cũng có khi lời xướng là yếu tố cốt lõi, chủ đề tư tưởng của chương trình Một đặc điểm nữa là mỗi chương trình phát thanh thường có cấu trúc ổn định Lời kết hoặc lời chào thính giả được bố trí ở cuối chương trình, nhằm tạo nên sự liên kết, gắn bó giữa nhà đài, chương trình với thính giả

Về phương thức sản xuất chương trình phát thanh, hiện nay có: sản xuất tại Studio, đọc thẳng, chương trình trực tiếp và cầu truyền thanh Chương trình sản xuất tại Studio là chương trình truyền thống, song hiện nay vẫn được

sử dụng rộng rãi và có ưu điểm là an toàn về nội dung và kỹ thuật, đặc biệt là khâu kiểm duyệt được thực hiện dễ dàng và có điều kiện để điều chỉnh cho phù hợp Chương trình trực tiếp là thể loại hiện đại và mở Loại chương trình này luôn hấp dẫn người nghe vì phản ánh ngay sự việc diễn ra, thính giả có thể cùng tham gia với chương trình Tuy nhiên, thực hiện chương trình trực tiếp phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận và nhất là biên tập viên, phát thanh viên phải có kỹ năng xử lý các tình huống nảy sinh Với chương trình đọc thẳng có lợi thế là không phải mất công đoạn thu in và có thể dừng, biên tập để đưa nội dung nóng hổi xen vào Chương trình cầu truyền thanh cũng là một trong những loại chương trình phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các điểm cầu, giữa kỹ thuật viên với người dẫn chương trình và vai trò của tổng đạo diễn là cực kỳ quan trọng nhằm tạo ra sự liên kết, nhịp nhàng

và sinh động của chương trình

1.1.3.3 Liên kết sản xuất chương trình phát thanh

Hoạt động liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình

là hình thức hợp tác giữa một bên là đài phát thanh, truyền hình với một bên

Trang 34

là đối tác liên kết để tạo ra một phần hoặc toàn bộ sản phẩm liên kết

Điều 37, Chương IV, Luật Báo chí 2016 đề cập việc liên kết trong hoạt động báo chí cụ thể như: Cơ quan báo chí được phép liên kết trong hoạt động báo chí với cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết theo quy định của pháp luật Người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động liên kết trong lĩnh vực báo chí theo quy định của pháp luật

Cơ quan báo chí được phép liên kết trong các lĩnh vực như: Thiết kế, trình bày, in, quảng cáo, phát hành báo chí; Khai thác hoặc mua bản quyền về măng sét, nội dung các ấn phẩm báo chí thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, thể thao, giải trí, quảng cáo và thông tin kinh tế của báo chí nước ngoài để xuất bản tại Việt Nam; Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép liên kết khai thác hoặc mua toàn bộ bản quyền về măng sét, nội dung các ấn phẩm báo chí hợp pháp của Việt Nam để xuất bản tại nước ngoài; Sản xuất chương trình, kênh phát thanh, kênh truyền hình thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh

tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội; Sản xuất các sản phẩm báo in, báo điện tử thuộc các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội

Các chương trình liên kết trên kênh phát thanh, kênh truyền hình phục

vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và kênh thời sự - chính trị tổng hợp không vượt quá ba mươi phần trăm tổng thời lượng chương trình phát sóng lần thứ nhất của kênh này

Việc liên kết các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình giải trí, trò chơi truyền hình, truyền hình thực tế có bản quyền, kịch bản chương trình nước ngoài phải được Việt hóa, phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam

Nội dung các chương trình liên kết phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam

Như vậy có thể thấy, hoạt động liên kết sản xuất báo chí nói chung, liên

Trang 35

kết sản xuất các chương trình phát thanh nói riêng được quy định rất rõ và chi tiết trong Luật Báo chí 2016 Bao gồm cả cách thức, thể loại, hình thức liên kết Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, để sản xuất chương trình phát thanh gồm có 3 yếu tố quan trọng, đó là con người, phương tiện kỹ thuật và tài chính, thì việc liên kết sản xuất được thực hiện ở cả 3 khâu này Nghĩa là trên

cơ sở pháp lý, đối tác liên kết sản xuất chương trình phát thanh (cơ quan báo chí khác, tổ chức có tư cách pháp nhân và cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết theo quy định của pháp luật) có thể huy động nguồn lực (bao gồm cả trí tuệ, phương tiện kỹ thuật và kinh phí) để tham gia một phần hay toàn bộ sản phẩm là chương trình phát thanh

Khi nói đến hoạt động liên kết sản xuất, chúng ta cũng cần lưu tâm tới một khái niệm có nội hàm rất gần với hoạt động này Đó là hoạt động xã hội hóa Xã hội hóa có nhiều khái niệm đề cập với nhiều góc độ khác nhau, song với góc độ nghiên cứu là hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình thì có khái niệm được nhiều người quan tâm: “Xã hội hóa là quá trình mở rộng sự tham gia, chia sẻ của xã hội với một hoạt động, một dịch vụ hay một tri thức vốn là độc quyền của một tổ chức hay cá nhân nhằm để hoạt động hay sản

phẩm đó được nhiều người biết tới, sử dụng hay thưởng thức” [34; tr.17]

Với định nghĩa trên thì ta có thể thấy hoạt động xã hội hóa trong sản xuất chương trình phát thanh có nội hàm rộng hơn Đặc biệt là đối tượng tham gia

xã hội hóa rộng hơn so với đối tượng liên kết sản xuất Đối tượng tham gia xã hội hóa bao gồm cả tổ chức, cá nhân có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân, nghĩa là tất cả mọi người đều có thể tham gia Riêng liên kết sản xuất thì đối tượng tham gia phải có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật và phải có lĩnh vực hoạt động phù hợp với lĩnh vực liên kết sản xuất Như vậy khái niệm xã hội hóa sản xuất chương trình phát thanh có phạm vi rộng hơn và bao hàm cả khái niệm liên kết sản xuất chương trình phát thanh

1.1.3.4 Quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất

Từ những phân tích ở trên, ta có thể khái quát: Quản lý chương trình

Trang 36

phát thanh liên kết sản xuất là sự tác động của các chủ thể quản lý như lãnh đạo Đài/Kênh phát thanh, lãnh đạo phòng/ban đến các hoạt động liên quan tới chương trình phát thanh liên kết sản xuất như, tổ chức sản xuất, nhân lực, nội dung chương trình, hạ tầng cơ sở vật chất nhằm ra mắt công chúng chương trình phát thanh có chất lượng, thu hút đông đảo thính giả nghe đài

Điều 37, Chương IV, Luật Báo chí 2016 quy định: Người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động liên kết trong lĩnh vực báo chí theo quy định của pháp luật Điều này có nghĩa là việc quản lý hoạt

động liên kết sản xuất các chương trình phát thanh do Tổng Giám đốc, Giám đốc các đài hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất cần phải được thực hiện theo từng bước và từng cấp rất rõ ràng, cụ thể Ngay từ khâu lên ý tưởng, đến viết kịch bản, duyệt kịch bản, tổ chức sản xuất, cho đến khi có sản phẩm hoàn thiện, xét duyệt trước khi phát sóng đều phải được tiến hành chặt chẽ

1.2 Vai trò quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất

Việc quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả nhà đài và đối tác liên kết sản xuất Đặc biệt, việc quản lý chặt chẽ, đúng quy trình sẽ hạn chế thấp nhất các sai sót có thể xảy ra đối với chương trình liên kết sản xuất khi phát sóng

Đối với nhà đài, việc quản lý chặt chẽ các chương trình liên kết sản xuất trước hết sẽ tạo nên sự đồng đều trong các chương trình của cả kênh phát thanh và rộng hơn là toàn đài Từ đó tạo nên thương hiệu, uy tín của chương trình, của kênh và của toàn đài Thực tế cho thấy, hiện nay, trước sự cạnh tranh khốc liệt của các phương tiện truyền thông và đặc biệt là của mạng xã hội và báo điện tử, nếu các đài không quản lý chặt chẽ các chương trình nói chung, chương trình liên kết sản xuất nói riêng sẽ rất dễ bị mất đi vị thế, bị

hòa tan và đương nhiên khi đó thính giả sẽ quay lưng lại với đài “Bên cạnh

Trang 37

phải cạnh tranh về nội dung thông tin, cách thức đăng tải, phát thanh còn phải chịu sức ép nặng nề về thời gian đưa tin Khi mà thông tin trên báo điện

tử, mạng xã hội có thể được cập nhật tính bằng phút, bằng giây thì thông tin trên làn sóng phát thanh sẽ dễ trở nên lỗi thời nếu không có một quy trình sản

xuất linh động, hiện đại” [33; tr.35]

Quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất cũng có vai trò tạo ra sự thống nhất giữa nhà đài với đối tác liên kết Điều này là vô cùng quan trọng Vì để có được chương trình liên kết tốt thì từ khâu lên ý tưởng đến quá trình triển khai thực hiện đều phải có sự thống nhất giữa các bên để tránh tình trạng sản phẩm, chương trình làm ra nhưng không thể sử dụng do sai tôn chỉ, mục đích hoặc không đúng với mục đích hướng tới của chương trình, của đài

Quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất còn có vai trò tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân, tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt được mục tiêu quản lý Mục tiêu quản lý ở đây là chất lượng chương trình liên kết sản xuất Việc quản lý chính là tạo ra sự thống nhất về các tiêu chí đánh giá đối với sản phẩm liên kết trước khi phát sóng Điều này vô cùng quan trọng vì nếu quản lý không tốt, không rõ ràng thì rất dễ tạo nên sự bất định, sự vênh nhau giữa nhà đài và đơn vị liên kết sản xuất, điều này sẽ tạo nên tính thiếu bền vững trong liên kết

Việc quản lý các chương trình liên kết sản xuất nhằm tạo môi trường, động lực để cho mọi cá nhân trong tổ chức phát huy vai trò, trách nhiệm, sức sáng tạo của mình trong thực hiện nhiệm vụ Điều này có vai trò tác động tới

cả nhà đài và đối tác liên kết Đặc biệt là đối với các chương trình liên kết theo hình thức phối hợp thực hiện rất cần có sự phân công, phân định rõ ràng,

sự quản lý sẽ giúp các bộ phận phát huy tối đa khả năng của mình, đồng thời nhà quản lý đánh giá được sự đóng góp của từng bộ phận, từng con người

Đặc biệt, việc quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất sẽ

Trang 38

góp phần quan trọng định hướng nội dung chương trình, tránh sai sót, nhất là sai sót về chính trị Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì phát thanh là kênh truyền thông đại chúng với tính chất định hướng dư luận xã hội, tính chính thống của thông tin Sự tồn tại và phát triển của phát thanh có vai trò quan trọng, sống còn của vấn đề này Do đó, nếu quản lý không tốt về nội dung thông tin thì sớm hay muộn cũng mất đi tính chính thống, và đương nhiên phát thanh sẽ mất vai trò, vị trí của mình trong làng công chúng

Bên cạnh đó, quản lý tốt các chương trình phát thanh liên kết sản xuất cũng sẽ tạo ra được nguồn tài chính đáp ứng cho sự phát triển của kênh, của đài Thực tế cho thấy, quản lý tốt chương trình liên kết sẽ tạo ra chất lượng chương trình tốt, qua đó thu hút được quảng cáo và đương nhiên nguồn kinh phí cũng từ đó mà thu về đài phục vụ cho công việc tuyên truyền tiếp theo Ngoài ra, quản lý tốt các chương trình liên kết sản xuất (trên lĩnh vực kỹ thuật) sẽ hạn chế việc phải đầu tư mua sắm phương tiện, kỹ thuật Đó cũng là vấn đề trong sự phát triển chung của các nhà đài và đối tác liên kết

1.3 Chủ thể, đối tượng, phương thức, nội dung và yêu cầu đối với quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất

1.3.1 Chủ thể và đối tượng quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất

1.3.1.1 Chủ thể quản lý

Để quản lý tốt các chương trình phát thanh liên kết sản xuất, chúng ta cần quan tâm tới hai phân hệ đối tượng, đó là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Sự tác động qua lại một cách tích cực, chủ động giữa chủ thể quản lý

và đối tượng quản lý sẽ giúp cho hoạt động quản lý đạt được mục tiêu đã đặt

ra Trong đó, chủ thể quản lý đóng vai trò quyết định còn đối tượng quản lý

có vai trò tác động trở lại mạnh mẽ, không thụ động

Ở cấp vĩ mô, chủ thể quản lý là các cơ quan quản lý nhà nước Theo quy định tại Luật Báo chí 2016, cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí bao gồm:

Trang 39

Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Các Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi đề cập tới các chủ thể quản lý trực tiếp ở cấp độ vi mô, đó là lãnh đạo các cơ quan báo chí; lãnh đạo kênh trên cơ

sở phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức nhà nước trong các cơ quan quản lý, cơ quan báo chí và các cơ quan tham mưu

Cụ thể trong luận văn này, tác giả đi sâu làm sáng rõ chủ thể quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất trên kênh VOV Giao thông và kênh VOV3 của Đài TNVN Trong đó, chủ thể chịu trách nhiệm sản xuất các chương trình liên kết là Ban Giám đốc kênh VOV Giao thông, lãnh đạo Ban

Âm nhạc VOV3 và Công ty cổ phần truyền thông Minhcom Chủ thể chịu trách nhiệm quản lý và vận hành trực tiếp các chương trình liên kết trên sóng kênh VOV Giao thông là Ban Giám đốc kênh VOV Giao thông Còn chủ thể chịu trách nhiệm quản lý và vận hành trực tiếp các chương trình liên kết trên sóng kênh VOV3 là lãnh đạo ban Âm nhạc VOV3 Các cấp quản lý, duyệt cao hơn là Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam

1.3.1.2 Đối tượng quản lý

Đối tượng quản lý là các chương trình phát thanh liên kết sản xuất được phát sóng trên kênh VOV Giao thông và kênh VOV3, Đài Tiếng nói Việt Nam Cụ thể là toàn bộ quy trình sản xuất, xét duyệt, phát sóng, nội dung, hình thức thể hiện, các trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, nguồn nhân lực, tài chính bảo đảm cho chương trình liên kết đạt được mục tiêu quản lý, với chất lượng tốt nhất cả về nội dung và hình thức thể hiện Với luận văn này, đối tượng quản lý là 4 chương trình liên kết sản xuất: “The One Radio”, “Giai điệu tuổi vàng” phát sóng trên kênh VOV3 và “FM sức khỏe”, “FM Bất động sản” phát sóng trên kênh VOV Giao thông

Đối tượng quản lý còn là tổ chức, cá nhân liên quan đến các chương

Trang 40

trình phát thanh được liên kết, công chúng quan tâm đến các chương trình của kênh VOV Giao thông và kênh VOV 3 của Đài Tiếng nói Việt Nam Trong

đó công chúng là một bộ phận quan trọng, có thể tạo nên dư luận xã hội và biến thông tin thành hành động

Để quản lý tốt các chương trình liên kết sản xuất, các hoạt động của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, toàn diện, không ngừng nghỉ, không tách rời, với mục tiêu: bảo đảm cho các chương trình liên kết được thực hiện một cách hiệu quả, chất lượng tốt nhất, đáp ứng yêu cầu của Đài phát thanh quốc gia và nhất là nhu cầu hưởng thụ và nắm bắt thông tin ngày càng cao của công chúng Việc quản lý các đối tượng này được nhà quản lý thực hiện thông qua các tổ chức, nguồn nhân lực, hệ thống pháp luật, quy chế, quy định cùng nhiều biện pháp sáng tạo khác nhau

1.3.2 Phương thức quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất

Phương thức quản lý các chương trình phát thanh liên kết sản xuất thực chất là cách thức và phương pháp quản lý để làm sao chương trình đạt được chất lượng tốt nhất, đáp ứng yêu cầu của nhà đài và phù hợp với nhu cầu thông tin ngày càng cao của thính giả Có nhiều cách thức và phương pháp quản lý, song với phạm vi luận văn này, tác giả xin được đề cập một số phương thức sau:

Thứ nhất, quản lý thông qua hệ thống tổ chức với cơ cấu nhân sự hợp

lý Đây vừa là phương thức nhưng cũng vừa là yêu cầu trong quản lý nói chung và quản lý chương trình phát thanh liên kết sản xuất nói riêng Thực tế cho thấy, nếu có một tổ chức hợp lý với đội ngũ nhân sự có đủ trình độ, kiến thức, kỹ năng, tâm huyết thì việc quản lý sẽ thuận lợi Đặc biệt là vai trò của người đứng đầu tổ chức càng cần phải có bản lĩnh chính trị, có kiến thức, kỹ năng, có kinh nghiệm quản lý Thông thường, quản lý chương trình phát thanh thì do Ban Biên tập, Giám đốc hay Tổng giám đốc chịu trách nhiệm

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:00

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w