cần được nhìn nhận, nghiên cứu và giải quyết một cách toàn diện, đó chính là: mối quan hệ giữa tăng trưởng doanh thu và chức năng, nhiệm vụ chính trị của Đài Truyền hình; mối quan hệ giữ
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Thị Thu Hằng
HÀ NỘI – 2019
Trang 3CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS LƯU VĂN AN
Trang 4Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Đinh Thị Thu Hằng Đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố trong và ngoài nước Các kết quả công bố trong luận văn là chính xác và trung thực Các tham khảo, trích dẫn đều rõ nguồn Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm
HOÀNG THỊ NGỌC ANH
Trang 5Trước hết, xin chân thành cảm ơn PGS TS Đinh Thị Thu Hằng, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài “Quản lý các hoạt
động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình của ANTV”(Khảo sát
chương trình “Bảo vệ pháp luật” “Người giấu mặt”, “Giải mã tâm lý tội phạm”, “An toàn sống”, “Nhận diện tội phạm” từ tháng 4/2018 - tháng 9/2018)”
Xin chân thành cảm ơn các giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các nhà khoa học, các nhà báo và đồng nghiệp đã hướng dẫn, cung cấp tư liệu, trả lời phỏng vấn và đóng góp ý kiến quý báu cho luận văn của tôi
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
HOÀNG THỊ NGỌC ANH
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 14
1.1 Một số khái niệm cơ bản 14
1.2 Các yếu tố của quản lý hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình 25
1.3 Vai trò của quản lý hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình 31
1.4 Yêu cầu đối với quản lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình 33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TẠI ANTV 39
2.1 Giới thiệu kênh Truyền hình Công an Nhân dân và các chương trình thuộc diện khảo sát 39
2.2 Khảo sát quản lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình trên kênh ANTV 45
2.3 Đánh giá thành công, hạn chế và nguyên nhân 66
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TẠI ANTV 76
3.1 Các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình tại ANTV 76
3.2 Một số kiến nghị đối với ANTV 88
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHụ LụC 103
Trang 7Hình 1.1 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình 19
Hình 2.1 Giao diện chương trình Bảo vệ pháp luật 41
Hình 2.2 Giao diện chương trình Nhận diện tội phạm 41
Hình 2.3 Giao diện chương trình An toàn sống 42
Hình 2.4 Giao diện chương trình Người giấu mặt 43
Hình 2.5 Giao diện chương trình Giải mã tâm lý tội phạm 44
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Phân công công việc giữa các bên hợp tác 48
Bảng 2.2 Đánh giá thông điệp truyền tải của 5 chương trình khảo sảt 50
Bảng 2.3 Quy trình phát sóng các chương trình liên kết của ANTV 51
Bảng 2.4 Thống kê số lượng 5 chương trình Khảo sát 52
DANH MỤC BIỂU Biểu đồ 2.1 Đánh giá về chất lượng nội dung của 5 chương trình khảo sát 49
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ rating chương trình Nhận diện tội phạm 59
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ rating chương trình An toàn sống 59
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ rating chương trình Người giấu mặt 60
Nguồn: Ninh An 60
Trang 8ANQG An ninh quốc gia
Bộ TT&TT Bộ Thông tin & Truyền thông
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của báo chí là sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các công ty truyền thông Đặc biệt, trong lĩnh vực PT-TH, mối quan hệ hợp tác giữa cơ quan báo chí và các đơn vị đối tác trong sản xuất nội dung đang ngày càng trở nên mạnh mẽ khi nhà nước khuyến khích thực hiện xã hội hóa sản xuất nội dung chương trình Quản lý PT-TH và Báo mạng điện tử theo đúng quy định của pháp luật
Các đài truyền hình trong cả nước cũng đã từng bước thay đổi nhận thức, tư duy bao cấp, vận dụng chính sách mới về hợp tác, liên kết vào quá trình sản xuất truyền hình với những mô hình liên kết mới mang lại hiệu quả cao hơn Hiện nay
số lượng kênh của các Đài truyền hình ở Việt Nam rất nhiều, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính cũng được cải thiện đáng kể, xu hướng liên kết sản xuất chương trình truyền hình sau đó ở mức cao hơn là kênh truyền hình đang tiếp tục phát triển nhanh và phổ biến trong ngành truyền hình tại Việt Nam
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 06/2016/NĐ-CP quy định quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình thì hoạt động liên kết sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình được định nghĩa là hoạt động hợp tác để thực hiện việc sản xuất chương trình, kênh chương trình trong nước giữa đơn vị có Giấy phép sản xuất kênh chương trình trong nước
và đối tác liên kết thông qua hợp đồng liên kết Thực tế, liên kết sản xuất các chương trình truyền hình giúp các nhà Đài, các kênh có thêm nguồn vốn xã hội hóa cũng như hợp tác mở rộng quy mô, phạm vi sản xuất, giảm bớt các chi phí trong bối cảnh tự chủ nguồn tài chính Song song với những hiệu quả tích cực, quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa tức là thực hiện các mô hình liên kết với đối tác bên ngoài sản xuất chương trình truyền hình của ngành truyền hình nói chung đã bắt đầu bộc lộ rõ nét những vấn đề bất cập
Trang 10cần được nhìn nhận, nghiên cứu và giải quyết một cách toàn diện, đó chính là: mối quan hệ giữa tăng trưởng doanh thu và chức năng, nhiệm vụ chính trị của Đài Truyền hình; mối quan hệ giữa vai trò, trách nhiệm của Đài Truyền hình-
cơ quan báo chí nhà nước và các công ty truyền thông tư nhân trong quá trình liên kết, hợp tác sản xuất chương trình truyền hình; mối quan hệ tác động giữa Đài Truyền hình, công ty truyền thông tư nhân và công chúng liên quan đến công tác quản lý và định hướng nội dung, tiêu chí kênh truyền truyền hình…Trên thực tế, trong thời gian qua đã xảy ra không ít sai phạm về nội dung trong các chương trình liên kết và đã bị cơ quan quản lý xử phạt, nhắc nhở Điều này đặt ra yêu cầu trong liên kết sản xuất chương trình truyền hình, các đài PT-TH phải có giải pháp để kiểm soát nội dung chương trình vừa đảm bảo tăng nguồn thu, đa dạng hóa nội dung vừa đảm bảo không bị đối tác liên kết chi phối
Nếu như trước đây, hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình ở Việt Nam được Bộ TT&TT cấp phép một cách dễ dàng thì hiện nay, từ ngày 15/3/2016, Bộ sẽ xóa bỏ không thực hiện cấp phép cho các chương trình liên kết, khi thực hiện liên kết các cơ quan báo chí phải tự chịu trách nhiệm Việc xóa bỏ cấp phép, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong quản lý chương trình liên kết
Bộ TT&TT sẽ thực hiện hậu kiểm và xử lý sai phạm khi cơ quan báo sai phạm, giống như trong quản lý hoạt động xuất bản, nhà nước sẽ không kiểm duyệt nội dung trước nhưng nếu sai phạm sẽ xử lý
Ở truyền hình ANTV cũng vậy, trước quy định mới của Bộ TT&TT, hoạt động liên kết các chương trình truyền hình đã được nghiên cứu lại một cách bài bản, tổng thể và khoa học Trong đó, ban lãnh đạo kênh đã định ra những quy định mới nhằm quản lý một cách hiệu quả các chương trình liên kết, tránh những sai phạm ảnh hưởng tới uy tín của kênh Theo đó, với những chương trình liên kết, ANTV đã thống nhất quy định ngay trong hợp đồng
Trang 11Đối với chương trình phim truyện, đối tác liên kết có nghĩa vụ cung cấp danh mục phim, băng mẫu và những thông tin cần thiết theo yêu cầu của ANTV theo từng quý Phim được dịch, thuyết minh bằng tiếng Việt và có bản quyền phát sóng, chất lượng âm thanh hình ảnh phải tốt, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật phát sóng của ANTV Đối với các chương trình chuyên đề giải trí, văn hóa, thể thao, đối tác liên kết có trách nhiệm sản xuất chương trình hoàn chỉnh, đảm bảo nội dung, hình ảnh đủ tiêu chuẩn phát sóng theo yêu cầu nội dung và chất lượng kỹ thuật của ANTV, đảm bảo về pháp lý bản quyền chương trình Sau khi nhận được chương trình, ANTV được quyền từ chối phát sóng những nội dung không đúng quy định pháp luật, không phù hợp tình hình chính trị, xã hội thời điểm phát sóng hoặc chất lượng chương trình không đạt yêu cầu Quá trình đó đặt ra những vấn đề cần nghiên cứu và có sự đánh giá lại những mặt được và chưa được của quá trình hoạt động quản lý nội dung các chương trình truyền hình liên kết của ANTV, để từ đó có nghiên cứu đề xuất phù hợp, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước cũng như hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình; nâng cao chất lượng các chương trình, tạo
ra nguồn sản phẩm phong phú, vừa đúng đường lối, chủ trương, phù hợp với luật pháp, vừa là món ăn tinh thần bổ ích cho nhân dân Để nghiên cứu vấn đề này một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn, tác giả lựa chọn đề tài:
“Quản lý các hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình của
ANTV”(Khảo sát chương trình “Bảo vệ pháp luật”, “Người giấu mặt”,
“Giải mã tâm lý tội phạm”, “An toàn sống”, “Nhận diện tội phạm” từ tháng 4/2018 - tháng 9/2018)”
Đây sẽ là một đề tài nghiên cứu có ý nghĩa lý luận, đặc biệt có tính ứng dụng cao
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
Qua khảo sát, tác giả nhận thấy đề tài được nghiên cứu dưới nhiều góc
độ tiếp cận khác nhau như:
Trang 122.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý báo chí
Hiện nay, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập tới vấn đề quản lý báo chí nói chung Liên quan đến khái niệm quản lý thông tin báo chí, một số cuốn
sách, bài viết đã xuất bản trong thời gian qua Bài viết “Một số vấn đề của lãnh đạo, quản lý báo chí trong tình hình hiện nay” đăng trên Tạp chí Cộng sản (2007), tác giả Trần Đăng Tuấn đã nêu: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các
sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử Cần nâng cao tính chủ động không chỉ trong chỉ đạo nội dung thông tin, mà cả trong quản
lý nhà nước đối với báo chí - truyền thông” [54]
Cuốn “Quản lý Nhà nước và pháp luật về báo chí” (2009) của Lê Thanh
Bình, Phí Thị Thanh Tâm Đây là sách chuyên khảo dành cho học viên ngành báo chí truyền thông, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Các tác giả nghiên cứu trọng tâm vào vấn đề hành lang pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về báo chí, những bất cập của hệ thống các văn bản pháp luật về báo chí ơ nước ta ta hiện nay Từ đó tác giả cuốn sách đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản lý báo chí
Lê Minh Toàn (chủ biên- 2009): “Quản lý Nhà nước về thông tin và truyền thông” (sách chuyên khảo dành cho cán bộ, viên chức, học viên, sinh viên) –
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung của cuốn sách không chỉ đề cập riêng về vấn đề quản lý nhà nước về báo chí mà cung cấp các kiến thức cơ bản có liên quan đến quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin bao gồm: hệ thống cơ quan quản lý, quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, internet, thanh tra và xử lý
vi phạm về thông tin và truyền thông
Hoàng Quốc Bảo (chủ biên) (2010) với “Lãnh đạo và quản lý hoạt động
báo chí ở Việt Nam hiện nay”, NXB Lý luận chính trị Cuốn sách đã khái quát
Trang 13quan điểm của Đảng về lãnh đạo và quản lý báo chí, cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí và thực trạng hoạt động báo chí và lãnh đạo, quản
lý hoạt động báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước Từ những nghiên cứu trên thực tiễn cuốn sách đã đưa ra những vấn đề đặt ra đối với hoạt động báo chí và quản lý hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay Như vậy cuốn sách đã cung cấp những kiến thức trong công tác lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý báo chí nói chung trong sự nghiệp đổi mới đất nước chứ chưa đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước
Cuốn sách“Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam” của nhà
báo Đỗ Quý Doãn, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin và nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông do Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông ấn hành năm 2015, với hai phần: Báo chí dưới góc nhìn quản lý nhà nước, Báo chí dưới góc nhìn người làm báo đã cung cấp những vấn đề bức thiết đặt ra trong công tác quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí Việt Nam Cuốn sách là những kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn hoạt động không chỉ trên cương vị quản lý mà còn là một nhà báo với gần 40 năm hoạt động trong lĩnh vực báo chí Mỗi bài viết trong cuốn sách là những dấu ấn đáng ghi nhớ của một người làm công tác báo chí Trong đó, nhiều bài viết có thể được xem như là sự đánh dấu tiến trình phát triển của hoạt động báo chí nước nhà nói chung và công tác quản
lý báo chí Việt Nam nói riêng
Công trình của Nguyễn Đức Lợi và Lưu Văn An (đồng chủ biên), “Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý”, Nhà xuất bản Thông tấn, 2017 làm
rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn vai trò của thông tin báo chí trong công tác lãnh đạo, quản lý và vai trò của công tác lãnh đạo, quản lý đối với thông tin báo chí ở Việt Nam, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm mọt số nước trên thế giới Phần đánh giá công tác quản lý thông tin báo chí được trình bày cụ thể
Tác giả Đỗ Thị Thu Hằng (2018), trong bài báo khoa học “Cách mạng công nghiệp 4.0: Vấn đề đặt ra và giải pháp đối với công tác quản lý truyền
Trang 14thông ở Việt Nam hiện nay” đã đề xuất 4 giải pháp và kiến nghị về quản lý
báo chí – truyền thông ở các cơ quan báo chí trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó nhấn mạnh việc đổi mới quy trình tổ chức sản xuất, nội dung và phương pháp quản lý nội dung… ở các cơ quan báo chí, đồng bộ hóa
cơ sở vật chất – kỹ thuật, công nghệ, quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí – truyền thông, mô hình tòa soạn hội tụ, quản trị kinh doanh, phát hành, công tác xã hội trong cơ quan báo chí
Tác giả Hà Huy Phượng (2018), trong bài báo khoa học “Lãnh đạo, quản lý báo chí - truyền thông trong thời đại công nghiệp 4.0”, nhấn mạnh
mô hình tòa soạn và phương thức tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí – truyền thông truyền thống dần trở nên lạc hậu Thay vào đó sẽ là những tòa soạn báo chí, cơ quan truyền thông thông minh, có khả năng kết nối hệ thống, sản xuất sản phẩm truyền thông bằng dẽ liệu số hóa, trí tuệ nhân tạo
Ngoài ra, còn có một số công trình là sách tham khảo, chuyên khảo dành cho sinh viên, học viên ngành báo chí hoặc phục vụ cho cán bộ quản
lý nhà nước ngành thông tin và truyền thông nắm bắt tổng quan hệ thống
quản lý báo chí truyền thông: Nguyễn Vũ Tiến (2005), “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí trong thời kỳ đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, Nguyễn Duy Bắc - Chủ nhiệm (2009), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác báo chí xuất bản trong thời kỳ đổi mới”, Nguyễn Thế Kỷ (chủ biên
- 2012), “Công tác lãnh đạo và quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự
nghiệp đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Đề tài Nghiên cứu
khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh…
Một số tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về báo chí, truyền thông, về vấn đề lãnh đạo, quản lý đối với hoạt động báo chí, trong đó có đề cập đến truyền hình
Dương Xuân Sơn biên soạn cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình”, nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành, đã dành cả chương 7 để giới
Trang 15thuyết về “Phương thức sản xuất chương trình truyền hình”, cụ thể hóa ở từng loại hình chương trình
Trong chương 2 cuốn sách “Sản xuất chương trình truyền hình” của
Trần Bảo Khánh đã đi sâu vào các kỹ năng sản xuất chương trình Ở đây, tác giả chia các chương trình truyền hình thành hai nhóm theo phương thức phát sóng: trực tiếp và qua băng từ, từ đây, các bước tiến hành sản xuất chương trình được hướng dẫn tương đối chi tiết
2.2 Các công trình nghiên cứu về truyền hình, xã hội hóa truyền hình
Vấn đề liên kết sản xuất chương trình truyền hình không phải là một đề tài mới lạ Mà cách đây gần 10 năm, trước khi có thông tư số 19/2009/TT- BTTTT được ban hành ngày 28/5/2009, quá trình liên kết sản xuất chương trình truyền hình hay gọi chung là xã hội hóa truyền hình đã xuất hiện
Mặt khác, cùng với thực tiễn sôi động diễn ra ở các kênh, các Đài, hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình cũng được quan tâm và trở thành những đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
Có một số công trình tiêu biểu như sau:
Luận văn “Xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình hiện nay -
Khảo sát tại Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Tây 2004 - 2006” (Đại học
Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội,
2007) của tác giả Vũ Thu Hà Luận văn tập trung vào việc phân tích đặc điểm,
thực trạng, ưu, nhược điểm của hoạt động xã hội hóa truyền hình ở Đài PTTH
Hà Tây Những đúc rút đưa ra mới chỉ dừng lại ở quy mô, tính chất của một Đài PTTH địa phương, chưa bao quát được mọi lĩnh vực của vấn đề xã hội hóa của cả ngành truyền hình ở Việt Nam
Luận án tiến sĩ báo chí: “Nghiên cứu xu hướng phát triển của truyền hình
từ khiá cạnh nội dung” của tác giả Bùi Chí Trung (năm 2011) đã gợi mở nhiều
lý giải thú vị về xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam trong mối quan
hệ mật thiết với vai trò của kinh tế truyền thông Luận văn đề cập sâu đến các
Trang 16nguyên lý hoạt động của thị trường truyền thông, từ đó hoàn thiện cơ sở lý luận
về kinh tế học truyền hình trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam
Luận án được bảo vệ thành công vào cuối năm 2012 của nghiên cứu sinh
Đinh Thị Xuân Hòa về vấn đề “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay” đã khảo sát, thống kê, phân tích thực trạng hoạt động xã hội
hóa sản xuất chương trình truyền hình của 12 đài truyền hình trong cả nước Luận văn “Hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và định hướng phát triển” (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013) của Dương Thanh Tùng Một số luận điểm trong luận văn này bước đầu đã xác định được mục đích, tiêu chí, yêu cầu của xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Trong đó, đặc biệt là việc xác định năng lực sản xuất theo từng tiêu chí, nhiệm vụ cụ thể trong lộ trình và quy trình hợp tác sản xuất Song, các nội dung được đề cập trong luận văn còn giới hạn, chỉ nghiên cứu trong phạm
vi của một Đài truyền hình đó là Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó, một số công trình luận văn, luận án về đề tài xã hội hóa như
luận văn của Lê Thu Hà - “Đào tạo báo hình trong bối cảnh xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình”; luận văn của Nguyễn Triều Văn với đề tài
“Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại đài PT-TH Hà Nội” năm 2010; Luận văn của Lê Thị Thu Hòa với đề tài “Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam” (khảo sát kênh
VTV1-VTV3 từ tháng 1.2007 đến tháng 6.2008)
Qua những nghiên cứu khảo sát trên có thể thấy, đề tài đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên chưa có công trình nào trực tiếp bàn về vấn đề quản lý các chương trình truyền hình liên kết ở ANTV trong bối cảnh Bộ TT&TT siết chặt công tác quản lý như hiện nay Do vậy có thể khẳng định, đề tài luận văn là hoàn toàn mới, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã có
Trang 173 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng quản
lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình tại ANTV, tác giả luận văn đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình của ANTV trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình
- Thứ hai, khảo sát, đánh giá quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình của ANTV
- Thứ ba, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình của ANTV trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý các hoạt động liên kết sản
xuất các chương trình truyền hình của ANTV
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thông qua tư liệu của 5 chương trình gồm:
- Chương trình “Bảo vệ pháp luật”: là chương trình định hướng chủ đề
xây dựng hình ảnh người cán bộ kiểm sát và hình thức thể hiện, phương thức tiếp cận dưới 2 góc độ pháp lý và tâm lý xã hội Các mảng đề tài: dân sự, hôn nhân, gia đình, lao động, hành chính, kinh tế…
- Chương trình “Người giấu mặt”: chương trình tạo không gian để người
trong cuộc chia sẻ những tâm sự hay nói ra bức xúc đang bị dồn nén của mình
Trang 18trước những sự việc, vấn đề mà họ gặp phải, từ đó hướng đến việc giải quyết kịp thời các bức xúc trong đời sống, trả lại sự công bằng, nghiêm minh cho xã hội
- Chương trình “Giải mã tâm lý tội phạm”: là chương trình chuyên biệt,
phân tích tâm lý của con người trước - trong - và sau khi thực hiện hành vi phạm tội Từ đó, công chúng có cái nhìn khách quan hơn về nguyên nhân và diễn biến của vụ việc Mục đích là đấu tranh phòng ngừa tội phạm, được khai thác thủ pháp điện ảnh, kết hợp với phân tích của các chuyên gia uy tín về lĩnh vực Tội phạm học, mang đến người xem hiểu và tự rút ra cách để rèn luyện hoặc giáo dục con em phù hợp
Chương trình “An toàn sống”: là chương trình truyền hình hướng tới
thông tin, cảnh báo các nguy cơ gây hại tới sức khoẻ - tài sản – tinh thần của con người và trang bị kỹ năng ứng phó với những tình huống hiểm nguy do con người hoặc tự nhiên gây ra
- Chương trình “Nhận diện tội phạm”: là chương trình cảnh báo và tư vấn
cách phòng tránh khi các đối tượng phạm tội có ý đồ tấn công đe doạ an toàn tính mạng hoặc tài sản
Tác giả lựa chọn 5 chương trình này vì đây là những chương trình liên kết tiêu biểu trên Kênh ANTV có nội dung phong phú, cách thức thể hiện mới
mẻ, có hiệu quả tích cực trong công tác giáo dục ý thức phòng, chống tội phạm, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; các chương trình xã hội hoá đảm bảo kết hợp giữa thông tin tuyên truyền văn hoá, giải trí có định hướng, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân Thời gian khảo sát trong vòng 5 tháng, từ tháng 4/2018 đến tháng 9/2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến báo chí, quản lý báo chí, xã hội hóa, truyền hình Luận văn cũng dựa vào lý
Trang 19luận về báo chí, truyền thông hiện đại, lý luận về báo truyền hình và quản lý báo chí, trong đó có truyền hình
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Báo chí học với khoa học quản lý
- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên phương pháp luận
duy vật lịch sử, duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời quán triệt quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quản lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình cũng như hệ thống lý luận quản lý báo chí - truyền thông để khai thác những tư liệu cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản: Đọc, xem và phân tích các tài liệu
bằng văn bản về quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình nhằm thiết lập cơ sở lý luận quản lý tương tác trong chương trình liên kết Phương pháp này được sử dụng để phân tích các những số liệu của kết quả khảo sát, các tư liệu, thông tin, các bài báo, khóa luận, ý kiến, lời phát biểu… liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp phân tích nội dung: Được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá
về thực trạng quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình của ANTV thể hiện thông qua chất lượng nội dung và hình thức các chương trình liên kết
- Phương pháp quan sát có tham dự: Bản thân tác giả luận văn là một
trong những phóng viên, biên tập viên làm việc tại Kênh ANTV nên tác giả trực tiếp theo dõi và tham gia vào một số công đoạn của hoạt động liên kết chương trình trên sóng ANTV Tác giả cũng có cơ sở để nhìn nhận và đánh giá được sự thay đổi về nội dung và phương thức quản lý các chương trình liên kết qua những giai đoạn khác nhau, cũng như hiệu quả của hoạt động tương tác trong các chương trình này
Trang 20- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả tiến hành 04 cuộc phỏng vấn
lãnh đạo kênh ANTV và lãnh đạo công ty đối tác liên kết NINHAN nhằm lấy
ý kiến đánh giá về quy trình hoạt động liên kết hiện nay, định hướng về nội dung, kế hoạch thực hiện quản lý tương tác các chương trình liên kết trong thời gian tới
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả đã thực hiện khảo sát
công chúng thuộc nhiều nhóm đối tượng và độ tuổi khác nhau đánh giá về nội dung các chương trình liên kết trong 4 chương trình liên kết thuộc diện khảo sát Tác giả phát ra 150 phiếu, làm sạch bảng hỏi và tiếp tục bổ sung cho đến khi đạt được 150 phiếu đạt yêu cầu Kết quả điều tra công chúng về chất lượng chương trình liên kết là một thước đo hiệu quả quản lý hoạt động liên kết hiện nay của ANTV bởi quản lý tốt sẽ tạo ra chất lượng chương trình tốt Như vậy, đây là một kênh khách quan để đánh giá, nhìn nhận và đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong tương lai
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Về lý luận
Về mặt lý luận, luận văn hệ thống các khái niệm liên quan đến đề tài như quản lý, truyền hình, chương trình truyền hình liên kết; vai trò, yêu cầu đặt ra với quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình Từ đó góp phần
bổ sung lý luận vào vấn đề được nghiên cứu
Luận văn cố gắng không chỉ phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình của ANTV mà còn góp phần làm rõ những vấn đề mới phát sinh, đề xuất giải pháp, mô hình, những vấn đề cần giải quyết nhằm giúp các nhà quản lý có thêm dữ liệu, cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp luật, tăng cường trách nhiệm quản lý nội dung các chương trình truyền hình liên kết
6.2 Về thực tiễn
Trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từ năm 2011 đến năm 2020 nhằm phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã
Trang 21hội hài hòa với phát triển kinh tế đã tiếp tục đề cập đến yêu cầu đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn phát triển báo chí
Về mặt thực tiễn, thông qua việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình của ANTV, tác giả đề xuất các giải pháp hữu hiệu vào vấn đề trong thời gian tới Những đúc kết từ thực tiễn nghiên cứu và đề xuất giải pháp của luận văn còn có ý nghĩa nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm và chức năng của báo chí theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác báo chí Ngoài
ra, đây cũng có thể là một tài liệu tham khảo đối với những người quan tâm đến vấn đề liên kết sản xuất chương trình truyền hình
7 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Luận văn góp phần làm rõ khái niệm về công tác quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình nói chung và liên kết các chương trình trình trên kênh ANTV nói riêng, qua đó đưa ra những tiêu chí đánh giá về chất lượng công tác quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình hiện nay
Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp khả thi nhằm xây dựng mô hình hoạt động liên kết các chương trình truyền hình, qua đó tư vấn cho lãnh đạo các cơ quan báo chí nói chung và các đài truyền hình nói riêng điều chỉnh công tác quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình cho phù hợp với nhu cầu của thời đại công nghệ số đảm bảo sự hiệu quả trong công tác vận hành cũng như nâng cao công tác giám sát hoạt động tác nghiệp của đội ngũ phóng viên, đảm bảo đúng quy định pháp luật hiện hành và phù hợp với sự thay đổi của thời đại và nhu cầu của công chúng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương
Trang 22Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT
SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người Quản
lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vân động, biến đổi, phát triển Quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực lại phân tích cụ thể theo nhiều nghĩa khác nhau Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau
Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh) Trong thực tế, thuật ngữ “quản lý” và “quản trị” vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ
này đều có bản chất giống nhau Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình
“quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý”
là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”
Theo Harol Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu
đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động
của những người khác” [31; tr.167]
Theo Nguyễn Minh Đạo:“Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [13; tr.43]
Theo Vũ Hào Quang: Quản lý chính là sự tác động liên tục có tổ chức,
có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đạt ra” [43; tr.27]
Trang 23Theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là điều hành, chỉ đạo một hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định Nói cách khác, quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý; quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó và lúc đó có hoạt động chung của con người; mục đích, nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp với các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hành động thống nhất của tập thể để hướng đến mục tiêu đã định trước; quản
lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy nhằm đảm bảo sự phục tùng và tạo sự thống nhất trong quản lý
Nói đến quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí là nói đến những hoạt động của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được
ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho công dân được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền được tự do ngôn luận, tự do báo chí Nhà nước có trách nhiệm điều tiết
để đảm bảo báo chí phát triển, tuân thủ theo đúng định hướng, đáp ứng các nhu cầu thông tin của nhân dân, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác; là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất tiểm năng, cơ hội để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Như vậy, có thể hiểu, quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng nội dung và phương thức quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong môi trường luôn biến động Quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định: chủ thể quản lý (đưa ra
Trang 24quyết định quản lý) và khách thể quản lý (chịu sự tác động những quyết định
của chủ thể quản lý)
1.1.2 Khái niệm Sản xuất chương trình truyền hình
- Khái niệm Sản xuất
Theo Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “sản xuất” (production) được hiểu là:“tạo ra của cải vật chất nói chung”[48, tr.1129] Với cách lý giải này có lẽ
chưa thật đầy đủ, bởi xét về bình diện biểu hiện cũng như nội dung, nó chưa thể hiện hết ý nghĩa của từ
Cũng đồng quan điểm lấy yếu tố “vật chất” làm một trong những thuộc
tính của “sản xuất”, theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (quyển 3) thì “sản xuất” được hiểu là:“quá trình con người sáng tạo ra tư liệu vật chất (vật phẩm, năng lượng, dịch vụ) thích hợp với nhu cầu của con người và xã hội, là
cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người” [26; tr.725]
Mỗi góc nhìn, chúng ta đều nhận diện được cách lý giải riêng cho khái niệm “sản xuất” Tuy nhiên, sản xuất luôn có mục đích cụ thể của nó, đó là sản xuất cái gì, cho ai và sản xuất như thế nào? Bên cạnh đó cần chú ý các yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Những yếu tố này được xem là tất yếu ở mọi hoạt động trong cuộc sống của con người Do vậy, để giải thích khái niệm sản xuất, cần phải gắn nó vào một ngữ cảnh cụ thể đang nói tới
Ở đây, luận văn được nghiên cứu có liên quan đến sản phẩm truyền hình, chương trình truyền hình Vậy khi đặt vào ngữ cảnh này, sản xuất được hiểu
như sau: Sản xuất là quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ mới, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội
- Khái niệm Chương trình truyền hình
Hiểu một cách đơn giản, “chương trình truyền hình” là gồm tất cả nội
dung được lên lịch phát sóng hàng ngày, hàng tuần Nó dạng như một danh
mục (list) nội dung chương trình Người ta thường nói “chương trình hôm
Trang 25nay thế nào”- nghĩa là hôm nay có nội dung gì? … Hiểu theo nghĩa này, dù
phổ biến, nhưng chưa được khai thác đúng với bản chất của chương trình truyền hình
Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn trong cuốn Tập bài giảng môn Truyền hình của khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn:
“Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem Thông tin trong truyền hình gồm hình ảnh và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình có cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh” [47; tr.3]
Trong cuốn Truyền thông đại chúng, tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng:
“Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt đầu từ hai từ Tele có nghĩa là “ở xa” và Vision nghĩa là “thấy được”, tức
là “thấy được ở xa” [50; tr.143]
Theo quan niệm này, chương trình truyền hình được hiểu là toàn bộ nội dung phát đi trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng Với nghĩa này chương trình truyền hình là một sản phẩm hoàn chỉnh được sáng tạo ra từ nhiều công đoạn khác nhau Khi nói tới chương trình, bản thân nó bao hàm nhiều yếu tố như: nội dung, hình thức thể hiện, đối tượng hướng tới, kết quả đạt được Song, khi tham cứu thêm một số yếu tố như: đối tượng lao động, phương
thức tham gia sản xuất thì tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và cán bộ kĩ thuật, dịch vụ Đồng thời đó cũng chính là quá trình giao tiếp truyền thông giữa người làm truyền hình với công chúng xã hội” [50; tr.150]
Quan niệm này nhằm khẳng định sự khác biệt trong nhân sự làm nên một sản phẩm truyền hình Với góc nhìn mới này, về cơ bản nó vẫn đảm bảo được tính chất của chương trình truyền hình.,trong đó hội đủ các yếu tố: sự nhất
Trang 26quán giữa nội dung và hình thức, là tác phẩm mang tính tập thể cao, có thời lượng ổn định và được thực hiện theo định kỳ
Từ những quan niệm nêu trên và xem xét trên nội dung và hình thức các chương trình truyền hình mà các Đài truyền hình đang phát sóng, tác giả luận văn xin đưa ra một quan niệm của riêng mình về thuật ngữ “chương trình
truyền hình” để làm cơ sở cho nghiên cứu: chương trình truyền hình là sự kết nối nhất quán các nội dung (tin, bài, lời dẫn, tư liệu…)bằng hình ảnh và âm thanh theo một chủ đề, thời lượng nhất định, được phát có hậu kỳ hoặc trực tiếp theo định kỳ, đồng thời nóluôn là sản phẩm của tập thể
Như vậy, để làm nên một chương trình truyền hình cần sự kết hợp, đóng gói nhiều linh kiện đơn lẻ có thể là các tin, bài, phóng sự… cùng nhiều yếu tố khác như hình hiệu, hình cắt, lời bình, âm thanh, Chính vì có nhiều yếu tố cấu thành như vậy nên việc tổ chức sản xuất một chương trình bao giờ cũng phức tạp, cần tới sự chung sức của nhiều đầu mối cũng như đối tượng khác nhau Việc phát sóng định kỳ các chương trình truyền hình góp phần giúp công chúng dễ dàng trong thu xếp thời gian để tiếp nhận thông tin Tuy nhiên, thực
tế cũng có những chương trình không phát định kỳ, đó thường là những chương trình mang tính đột xuất nhằm đảm bảo tính thời sự và sự định hướng
về mặt thông tin, nhưng số lượng những chương trình như vậy thường ít
- Khái niệm Sản xuất chương trình truyền hình
Từ quan niệm về thuật ngữ “chương trình truyền hình” và thuật ngữ “sản xuất” đã được nêu và phân tích ở trên có thể thấy “sản xuất chương trình truyền hình” - đây là một hoạt động khá hay của loại hình báo chí truyền hình
Trang 27Hình 1.1 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình
Nguồn: Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay
của tác giả Đinh Thị Xuân Hòa Trong cuốn “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đinh Thị Xuân Hòa tổng kết, sản xuất chương trình
truyền hình có 6 công đoạn: 1 Ý tưởng; 2 Kịch bản; 3 Triển khai; 4 Tổng duyệt; 5 Lên sóng; 6 Hậu lên sóng trong đề tài này chúng tôi cũng đồng quan điểm, nhưng có phần thay đổi từ ngữ ở công đoạn 6 thành “phản hồi” [hình 1.1], vì tác giả muốn tập trung vào ý kiến khán giả đối với chương trình truyền hình đã được phát hơn là khâu “hậu phát sóng” để phải giải quyết một loạt vấn đề liên quan khác
Trong quy trình này, tuy phóng viên giữ vai trò chủ đạo, song với một chương trình truyền hình bao giờ cũng cần cả một êkíp mới có thể thực hiện Tùy vào quy mô, tính chất và phương thức thực hiện mà êkíp đó triệu tập số lượng người nhiều hay ít Mặt khác, còn tùy vào đặc thù và điều kiện của từng đơn vị sản xuất mà chức danh cũng có sự khác biệt Nhưng nhìn chung, những chức danh như: Tổng đạo diễn, chủ nhiệm, đạo diễn hình ảnh, người viết kịch bản, tổ chức sản xuất,… được xem là các thành phần nòng cốt trong
Trang 28quá trình sản xuất một chương trình truyền hình Yếu tố con người là yếu tố cốt yếu trong mọi lĩnh vực, trong đó có ngành truyền hình
Khi làm truyền hình, nếu không có phương tiện kỹ thuật thì chúng ta sẽ
không thể “chuyển hóa ý đồ tư tưởng, nội dung thành thông tin hình ảnh, âm thanh sinh động trong mỗi chương trình” được Do vậy, kỹ thuật được xem là
yếu tố cơ bản, không thể thiếu khi sản xuất một chương trình truyền hình Cũng nhờ vào thành quả khoa học, ngành truyền hình đã tận hưởng đủ đầy các phương tiện kỹ thuật hiện đại, mà ngày nay người ta gọi là công nghệ truyền hình Nên, từ đó đã giúp truyền hình có sự khác biệt so với các loại hình báo chí khác Đây là đặc thù, đặc tính riêng biệt của truyền hình
Từ đây, trên cơ sở của những khái niệm nêu trên và kết hợp với quá trình tham khảo tài liệu, cùng việc khảo sát thực tế, trao đổi trực tiếp với các nhà báo có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất các chương trình truyền hình ở Đài Truyền hình Việt Nam nói chung và Đài Truyền hình Công an nhân dân – ANTV nói riêng, đồng thời kết hợp với những kinh nghiệm rút ra trong hoạt
động thực tiễn của bản thân, tác giả đề xuất khái niệm thuật ngữ “sản xuất chương trình truyền hình”như sau: sản xuất chương trình truyền hình là hoạt động tạo ra sản phẩm truyền hìnhnhằm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiếp nhận và những yếu tố như tài chính, con người và phương tiện kỹ thuật là những tác nhân chính tạo nên chất lượng cho sản phẩm truyền hình ấy
1.1.3 Khái niệm Liên kết sản xuất chương trình truyền hình
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, xuất bản năm 1998, tác giả Hoàng Phê (chủ biên) đã giải thích:“liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc
tổ chức riêng rẽ” [40; tr.547]
Từ khái niệm “liên kết” và “sản xuất chương trình truyền hình” nêu trên, có thể xâu chuỗi “liên kết sản xuất chương trình truyền hình” là sự phối hợp nhằm tạo ra sản phẩm truyền hình với mục đích cụ thể”
Trang 29Hiện nay, liên kết sản xuất là hoạt động được rất nhiều lĩnh vực áp dụng
vì liên kết sản xuất là để hướng đến mục đích tạo ra nhiều sản phẩm hơn, nâng cao chất lượng cũng như dịch vụ và sản phẩm Đồng thời, liên kết sản xuất ngoài mở rộng mối quan hệ đối tác, đây còn là quá trình thể hiện tiềm năng vươn xa và sự lớn mạnh vượt trội của xã hội nói chung, của từng ngành nghề nói riêng
Việc liên kết chỉ tồn tại khi có ít nhất 2 đối tác Ở Việt Nam việc sản xuất chương trình truyền hình là do các Đài truyền hình đảm nhiệm dưới sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước ở cấp phù hợp Vậy nên, liên kết sản xuất chương trình truyền hình có thể hiểu đó là việc phối hợp giữa các Đài với đối tác khác để làm nên sản phẩm truyền hình
Thực tế cho thấy, bản chất của việc liên kết sản xuất nói chung và sản xuất chương trình truyền hình nói riêng nhằm huy động nguồn lực ở bên ngoài Đài, qua đó tạo hiệu quả và chất lượng cho chương trình Việc liên kết sản xuất chương trình truyền hình còn giúp giảm bớt áp lực cho các Đài truyền hình về kinh tế và thời gian Kế nữa, nó giúp phong phú về mặt số lượng chương trình, nâng cao uy tín cũng như thương hiệu của các Đài truyền hình
Vì vậy, sau khi xâu chuỗi các yếu tố và điều kiện đã phân tích ở trên, tác giả xin được đưa ra khái niệm liên kết sản xuất chương trình truyền hình như
sau: Liên kết sản xuất chương trình truyền hình là sự phối hợp giữa một bên
là Đài truyền hình với một bên là đối tác liên kết, ở một hay nhiều phương diện trong hoạt động sản xuất nhằm tạo ra một phần hay toàn bộ sản phẩm truyền hình
1.1.4 Khái niệm quản lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình
Trên cơ sở phân tích các khái niệm nêu trên, tổng hợp và khái quát, tác
giả luận văn xin đưa ra khái niệm: Quản lý hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình là toàn bộ hoạt động của chủ thể quản lý (lãnh đạo
Trang 30Kênh ANTV, các lãnh đạo đối tác liên kết của ANTV và những người phụ trách sản xuất các chương trình) tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức lên hoạt động liên kết sản xuất thông qua những nội dung và phương thức quản lý để điều chỉnh và nâng cao hiệu quả liên kết sản xuất các chương trình truyền hình
Có thể nói, thông tư 19/2009/TT-BTTTT là văn bản pháp lý đầu tiên cho phép các đài phát thanh, truyền hình thực hiện hoạt động liên kết với các nội dung qui định khá cụ thể
*Về hình thức hoạt động liên kết:
- Trao đổi bản quyền chương trình hoàn chỉnh
- Trao đổi bản quyền định dạng chương trình;
- Tổ chức sản xuất chương trình, hoặc một phần chương trình
- Tổ chức sản xuất toàn bộ kênh chương trình
Các đài phát thanh, truyền hình, đối tác liên kết có thể lựa chọn một hoặc nhiều hình thức hoạt động liên kết
*Về phạm vi điều chỉnh và khái niệm liên kết:
Thông tư điều chỉnh hoạt động liên kết để thực hiện việc sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình mà trong đó quyền lợi của đối tác liên kết được trả bằng quyền lợi từ hoạt động quảng cáo, tài trợ hoặc từ nguồn thu
Trang 31phí phát thanh, truyền hình theo một phương thức nhất định khi phát sóng chính là sản phẩm liên kết của đài phát thanh, truyền hình
Hoạt động liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình là hình thức hợp tác giữa một bên là đài phát thanh, truyền hình với một bên là đối tác liên kết để tạo ra một phần hoặc toàn bộ sản phẩm liên kết
*Về các chương trình phát thanh, truyền hình không thực hiện hoạt động liên kết có những quy định cụ thể:
- Không thực hiện hoạt động liên kết đối với các chương trình phát thanh, truyền hình thời sự, chính trị
- Đối với các đài phát thanh, truyền hình có từ 02 kênh chương trình quảng
bá trở lên, phải xác định 01 kênh thời sự - chính trị tổng hợp
Các chương trình thực hiện hoạt động liên kết trong kênh thời sự - chính trị tổng hợp không được vượt quá 30% (ba mươi phần trăm) tổng thời lượng chương trình phát sóng lần 1 (một) của kênh này
*Quy định về đăng ký chương trình liên kết:
Đài phát thanh, truyền hình trước khi thực hiện hoạt động liên kết đối với các sản phẩm liên kết là kênh chương trình, chương trình định kỳ phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông
Hồ sơ đăng ký bao gồm các thông tin về tên, nội dung, định dạng chương trình, thời điểm, thời lượng, kênh phát sóng của sản phẩm liên kết; tên, địa chỉ và năng lực của đối tác liên kết, hình thức liên kết, quyền và nghĩa
vụ của các bên tham gia liên kết
Năm 2016, Quốc Hội ban hành Luật Báo chí, trong đó quy định rõ về
vấn đề liên kết trong hoạt động báo chí tại Điều 37:
*Đối tượng được tham gia hoạt động liên kết báo chí:
Cơ quan báo chí được phép liên kết trong hoạt động báo chí với cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết theo quy định của pháp luật
Trang 32Người đứng đầu cơ quan báo chí chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động liên kết trong lĩnh vực báo chí theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép liên kết khai thác hoặc mua toàn bộ bản quyền về măng sét, nội dung các ấn phẩm báo chí hợp pháp của Việt Nam để xuất bản tại nước ngoài;
- Sản xuất chương trình, kênh phát thanh, kênh truyền hình thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội;
- Sản xuất các sản phẩm báo in, báo điện tử thuộc các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội
Theo Luật Báo chí 2016 quy định: “Các chương trình liên kết trên kênh phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và kênh thời sự - chính trị tổng hợp không vượt quá ba mươi phần trăm tổng thời lượng chương trình phát sóng lần thứ nhất của kênh” [44]
Bên cạnh đó, môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp cũng ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào hoạt động xã hội hóa trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực báo chí truyền thông Ngày nay, thị trường truyền thông phát triển sôi động với sự ra đời của hàng loạt các công ty truyền thông tư nhân tham gia vào lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình Những yếu tố nêu trên là cơ sở pháp lý, tiền đề rất quan trọng, mở ra cơ hội cho các thành phần kinh tế tham gia, đóng góp vào
Trang 33quá trình phát triển kinh tế xã hội, trong đó có xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình
1.2 Các yếu tố của quản lý hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi đề cập tới các chủ thể quản lý trực tiếp ở cấp độ vi mô, đó là lãnh đạo các cơ quan báo chí; lãnh đạo kênh trên cơ
sở phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức nhà nước trong các cơ quan quản lý, cơ quan báo chí truyền hình và các cơ quan tham mưu
1.2.1.2 Khách thể quản lý
Khách thể quản lý đó là toàn bộ quá trình quản lý các kế hoạch, chương trình, các phương thức, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, nguồn nhân lực, tài chính của hoạt động liên kết sản xuất các chương trình trên kênh truyền hình ANTV Việc quản lý các đối tượng này là nhà quản lý thông qua nhân lực mà cụ thể ở đây là quản lý đội ngũ Phóng viên, Biên tập viên, Kỹ thuật viên của báo và các đối tác tham gia vào hoạt động liên kết các chương trình của kênh truyền hình
Khách thể quản lý còn là tổ chức, cá nhân liên quan đến các chương trình truyền hình được liên kết, công chúng quan tâm đến các chương trình
Trang 34của kênh truyền hình Trong đó công chúng là một bộ phận quan trọng, có thể tạo nên dư luận xã hội và biến thông tin thành hành động
Để vận hành hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình của Đài truyền hình, các hoạt động của chủ thể quản lý và khách thể quản lý ngoài những yêu cầu cơ bản, cần có kiến thức, kỹ năng, khả năng đáp ứng yêu cầu và khả năng tiếp nhận thông tin chuyên sâu về tình hình an ninh, pháp luật
Có các dạng thức liên kết sản xuất chương trình truyền hình như sau:
- Dựa vào đối tượng liên kết:
+ Liên kết giữa các Đài truyền hình: Đây là dạng liên kết tổng hợp Tùy vào hoàn cảnh, điều kiện mà mức độ, lĩnh vực liên kết mới được phân định rõ
Mục đích của liên kết này chủ yếu tạo sản phẩm truyền hình hấp dẫn, sinh động; thể hiện được đặc trưng, văn hóa địa phương; và mong tạo được sân chơi mới, môi trường hợp tác, trao đổi kinh nghiệp giữa các Đài truyền hình
Chương trình “Bảo vệ pháp luật” là chương trình liên kết giữa kênh Truyền
hình Kiểm sát nhân dân và kênh Truyền hình Công an Nhân dân ANTV theo dạng thức liên kết giữa các kênh/ đài với nhau
+ Liên kết giữa Đài truyền hình với cơ quan, tổ chức đoàn thể: Đây là
dạng liên kết khá phổ biến và hầu như rộng khắp đối với các Đài truyền hình
từ trung ương đến địa phương ở Việt Nam hiện nay Nguyên nhân cũng do tình hình khó khăn về tài chánh, nguồn lực chưa đủ đầy nên các Đài truyền hình tìm kiếm sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức đoàn thể để được trợ lực Đồng thời, phía đối tác là cơ quan ban ngành, đoàn thể thực chất cũng đang cần được quảng bá rộng rãi hơn, nên đây cũng là cơ hội để hai bên tiến hành dạng liên kết này
+ Liên kết giữa Đài truyền hình với các doanh nghiệp truyền thông:
Giải pháp tìm đến các doanh nghiệp truyền thông bên ngoài của các Đài truyền hình ngoài cân đối – hài hòa chức năng thông tin và giải trí thì nhiệm
vụ cụ thể hơn là tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng chương trình
Trang 35+ Liên kết giữa Đài truyền hình với cá nhân: Thời đại công nghệ điện tử
- viễn thông đã làm hoạt động truyền thông trở nên sôi động, mỗi cá nhân đều
có thể nắm bắt công nghệ để trở thành “nhà báo” Nhà Đài có tư tưởng tận dụng nguồn lực này để tìm kiếm thông tin mới, lạ, nhanh
Luận văn này giới hạn nghiên cứu, khảo sát hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình đối với các đối tác là các tổ chức có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh đang hoạt động theo pháp luật Việt Nam
- Dựa vào mức độ liên kết:
+ Liên kết một phần chương trình: Để hoàn thành một tác phẩm truyền
hình cần trải qua nhiều công đoạn Do đó, khi bàn đến liên kết sản xuất một phần chương trình thì có nghĩa là mỗi bên sẽ tham gia một hoặc có thể nhiều hơn công đoạn được thiết lập trong quy trình sản xuất chương trình truyền hình Đối tác THKSND, NINHAN và ANTV tiến hành liên kết một phần đối
với một số chương trình như “Bảo vệ pháp luật” “Nhận diện tội phạm”, “An toàn sống”,
+ Liên kết một chương trình hoàn chỉnh: Liên kết sản xuất cả chương
trình có thể hiểu là quá trình thực hiện trọn gói một chương trình Khi liên kết dạng này các bên tham gia sẽ phải chịu trách nhiệm từ đầu đến cuối đối với sản phẩm truyền hình Chất lượng sản phẩm sẽ đánh giá khả năng sản xuất chương trình của các bên đối tác
+ Liên kết nhiều chương trình cho cả kênh: Thực hiện hình thức này,
yêu cầu bên đối tác của Đài phải hội đủ điều kiện về nhân sự, trang thiết bị kỹ thuật, đồng thời họ phải nhạy bén trong tìm kiếm ý tưởng, khả năng tổ chức chuyên nghiệp
- Dựa vào hình thức liên kết
+ Đặt hàng sản xuất: Hình thức này sẽ tạo sự thoải mái về mặt quản lý
trực tiếp lẫn nhau Nó sẽ tạo sự thuận lợi cho bên đối tác: công ty truyền thông, hãng phim hay cơ quan báo Đài bên ngoài
Trang 36+ Phối hợp sản xuất: Khác với hình thức đặt hàng sản xuất, phối hợp
sản xuất là hình thức cả hai hay nhiều phía cùng tham gia thực hiện Khi tham gia các bên đều có tôn chỉ và mục đích riêng, nhưng cuối cùng có thể gọi đây
là kiểu“hợp tác các bên cùng có lợi”
+ Trao đổi sản phẩm: Trao đổi sản phẩm là hình thức dùng sản phẩm
truyền hình của Đài mình sản xuất mang đi đổi với sản phẩm truyền hình của Đài khác Đây là hình thức liên kết với mục đích tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian và công sức của đơn vị mình, nhưng mỗi bên đều có những sản phẩm truyền hình mới để phát sóng
- Dựa vào lĩnh vực liên kết
+ Liên kết về nội dung: Để có những sản phẩm truyền hình dày đặc
thông tin nhưng tinh tế đòi hỏi các bên phải có sự thống nhất một cách tối đa Nội dung chương trình cần phải được thống nhất ,từ đó sẽ tiến hành các bước thực hiện một cách hợp lý Điều này đảm bảo sẽ góp phần nâng cao chất lượng chương trình và đáp ứng được nguyện vọng cho khán giả
+ Liên kết về kỹ thuật: Do giới hạn về kinh phí nên những phương tiện
máy móc, kỹ thuật ở các Đài chưa đủ để đáp ứng cho việc sản xuất chương trình Do vậy, việc các Đài mở rộng hình thức liên kết này để đón các đối tác
có nhiều điều kiện hơn về kỹ thuật để cùng làm nên những sản phẩm truyền hình hoàn hảo là điều cần thiết
+ Liên kết về tài chính: Tài chính được xem là điều kiện cần và trước
tiên so với những yếu tố khác Có tài chính mới có phương tiện kỹ thuật, có tài chính mới hội tụ được những nhân tài làm nên nội dung hay,… bằng hình thức tài trợ, phía Đài sẽ được nguồn kinh phí để đầu tư nhiều chương trình chất lượng hơn, còn phía đối tác sẽ có cơ hội quảng bá hình ảnh, qua đó thu
về những nguồn lợi kinh tế do chính quá trình đầu tư
Chung quy lại, việc phân chia thành các dạng thức liên kết như nêu trên chỉ mang tính tương đối Để đảm bảo hoạt động liên kết sản xuất diễn ra
Trang 37thuận lợi, kết cấu chương trình được đảm bảo và tuân thủ theo mục đích, kế hoạch đã đề ra…thì vai trò điều phối của bộ phận biên tập viên rất quan trọng Thực tế cho thấy, trong các chương trình được liên kết sản xuất có thể sử dụng linh hoạt, kết hợp nhiều dạng thức liên kết khác nhau nhằm làm tăng hiệu quả của chương trình
1.2.2 Về nội dung quản lý
Chủ thể quản lý phải tiến hành nhiều hoạt động quản lý khác nhau Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong hoạt động quản lý được gọi là chức năng quản lý Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung lao động của người quản lý Đây là cơ sở để phân công lao động quản lý, để hình thành và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý Chức năng quản lý xác định vị trí, mối quan hệ giữa các bộ phận, các khâu, các cấp trong hệ thống quản lý Mỗi hệ thống quản lý đều có nhiều bộ phận, nhiều khâu, nhiều cấp khác nhau, gắn liền với những chức năng xác định nào đó, nếu không có chức năng quản lý thì bộ phận đó không còn lý do tồn tại Từ những chức năng quản lý, chủ thể xác định các nhiệm vụ cụ thể, thiết kế bộ máy và bố trí con người phù hợp Đồng thời, chủ thể quản lý có thể theo dõi, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh sự hoạt động của mỗi bộ phận và toàn bộ hệ thống quản lý
Theo Tổ chức UNESCO, hệ thống chức năng quản lý bao gồm: Hoạch định (lập kế hoạch), Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra Bất kỳ một nhà quản lý nào đều thực hiện 4 chức năng kể trên Tuy nhiên, tùy vào từng mô hình tổ chức khác nhau trong xã hội, với những đặc thù nghề nghiệp riêng có những nội dung quản lý khác nhau
Trên cơ sở những phân tích trên, luận văn quản lý hoạt động liên kết chương trình được tiến hành nghiên cứu trên những nội dung quản lý sau:
Thứ nhất, quản lý việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng thông tin, chương trình cụ thể cũng như tổng thể của hoạt động
Trang 38liên kết các chương trình truyền hình Đây là chức năng quan trọng nhất trong quản lý, bởi nó xác định phương hướng hoạt động liên kết của chương trình truyền hình và xác định các kết quả cần đạt được trong tương lai, gắn liền với
sự lựa chọn chương trình hành động trong tương lai của cả Kênh
Thứ hai, quản lý quy trình, cách thức tổ chức thực hiện, chất lượng nội dung và hình thức thông tin của các chương trình truyền hình được liên kết
trong Kênh Quy trình quản lý phải được thực hiện liên tục, nhằm đảm bảo điều tiết, phối kết hợp hoạt động của các bộ phận chuyên môn nhịp nhàng để liên kết sản xuất những chương trình truyền hình có chất lượng tốt nhất
Thứ ba, quản lý các nguồn nhân lực, tài chính, kỹ thuật, công nghệ để thực hiện liên kết các chương trình Dựa trên năng lực của các cá nhân, Ban
lãnh đạo Kênh ANTV thực hiện việc phân công công việc cho từng cá nhân,
bộ phận một cách khoa học, hợp lý, hình thành nhóm chuyên môn hóa; Xác định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của từng phòng, ban, từng thành viên và thiết lập một hệ thống tổ chức một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức
1.2.3 Về phương thức quản lý
Chủ thể quản lý kết hợp những phương thức quản lý chủ yếu sau một cách linh hoạt, sáng tạo để đạt mục tiêu quản lý cao nhất:
Thứ nhất, quản lý bằng pháp luật và các quy định theo hợp đồng liên kết:
Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; bằng quyết định, nội quy, quy chế của cơ quan và các quy định được thỏa thuận trong hợp đồng liên kết Phương thức quản lý bằng pháp luật là sử dụng pháp luật của nhà nước thông qua các hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật
để điều chỉnh các hoạt động báo chí truyền hình nhằm đảm bảo trật tự và sự phát triển đúng định hướng của truyền hình, đồng thời, hài hòa với các lĩnh vực khác trong xã hội
Trang 39Việc quản lý bằng pháp luật giúp có căn cứ để xác định các BTV thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của nhà báo, mở ra cơ hội hoạt động báo chí – truyền hình tự do, cân bằng, công bằng cho tất cả các cán bộ phóng viên trong cơ quan
Thứ hai, quản lý bằng tài chính: Đây là một trong những phương thức
quản lý hiệu quả Căn cứ vào nguồn thu và chi trong cơ quan báo chí, tổng biên tập Việc quản lý bằng tài chính vừa khuyến khích được năng lực sáng tạo của cán bộ phóng viên, vừa đảm bảo công bằng trong cống hiến và hưởng thụ, góp phần gián tiếp nâng cao chất lượng, hiện quả của tờ báo
Thứ ba, quản lý bằng chế độ kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật:
Đây là phương thức quản lý nhằm theo dõi, đánh giá thực tế hoạt động, chất lượng thông tin, hiệu suất làm việc của nguồn nhân lực, khả năng đáp ứng của
cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ Điều này được thực hiện để đảm bảo không có những sai sót xảy ra trong nội dung thông tin phát sóng, trong các yếu tố nguồn lực Đồng thời, phương thức quản lý này giúp các chủ thể quản
lý đảm bảo việc vừa động viên khích lệ tinh thần làm việc, vừa thắt chặt kỷ luật của nguồn nhân lực
1.3 Vai trò của quản lý hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình
1.3.1 Đảm bảo việc xây dựng, vận hành và phát triển liên kết các chương trình truyền hình
Chiến lược phát triển của bất cứ một kênh truyền hình tự chủ kinh phí luôn đi cùng với mô hình tổ chức bộ máy của tổ chức đó Bộ máy cần phải phù hợp với chiến lược phát triển mà đơn vị theo đuổi mới mang lại hiệu quả cao nhất Việc quản lý một cách khoa học sẽ đảm bảo việc xây dựng, vận hành và phát triển liên kết các chương trình truyền hình, tạo được lợi thế cạnh tranh và chiếm được thị phần quảng cáo trên thị trường đang khốc liệt như hiện nay
Trang 401.3.2 Đảm bảo tính định hướng, thực hiện nhiệm vụ thông tin của Đài
Việc quản lý hoạt động liên kết các chương trình truyền hình giúp thực hiện tốt nhiệm vụ của báo chí được quy định trong Luật báo chí, đó là tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của các Bộ ngành tới đông đảo các tầng lớp quần chúng nhân dân trong nước và đồng bào xa tổ quốc trong việc gìn giữ và bảo vệ an ninh của
Tổ quốc Bên cạnh các bản tin, thời sự thông tin nhanh và kịp thời các chủ trương, chính sách mới, nhiều chương trình định kỳ cũng cần phải được liên kết tổ chức sản xuất, lựa chọn, biên tập và phát sóng, phân tích có chiều sâu
về nội dung, mục đích, đối tượng thụ hưởng… của các chính sách mới, giải thích cụ thể các văn bản pháp luật của Nhà nước
1.3.3 Đảm bảo các khách thể quản lý hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, đúng nguyên tắc, luật pháp
Việc tổ chức, thực hiện các quyết định hay cụ thể hơn đó là việc lập kế hoạch sản xuất, tổ chức thực hiện chỉ đạt chất lượng, hiệu quả khi việc lập kế hoạch, phân công điều động nhân lực, giám sát, kiểm tra hoạt động của đối tượng quản lý được thực hiện một cách chuyên nghiệp, bài bản, chủ động và hợp lý Đặc biệt trong hàng loạt công việc tổ chức thực hiện đó việc phân công nhân lực phù hợp với công việc có vai trò quan trọng Việc lựa chọn cán
bộ, nhân lực có trình độ, phẩm chất, năng lực đáp ứng nhiệm vụ luôn là ưu tiên số một của các Đài truyền hình, bởi chỉ có nhân lực giỏi mới có khả năng sáng tạo, linh hoạt trong thực hiện liên kết các chương trình, chuyên mục, tin tức hiệu quả Bên cạnh đó, việc bố trí hệ thống cán bộ, nhân viên thành một chỉnh thể thống nhất, đáp ứng các mối quan hệ lãnh chỉ đạo, tiếp nhận thông tin hiệu quả cũng là một trong những tiêu chí đánh giá việc quản lý nội dung chương trình liên kết
1.3.4 Góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin phong phú của nhóm công chúng