1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận bắc từ liêm, thành phố hà nội hiện nay

136 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra là công tác tổ chức và quản lý đã phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, phong tục tập quán địa phương cũng như giữ gìn, phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống v

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 3

Hà Nội, ngày tháng năm 2019 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Nguyễn Duy Bắc

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Trang 5

Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự

nỗ lực của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, đồng nghiệp và bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn Thạc sĩ

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới PGS, TS Nguyễn

Vũ Tiến, người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Khoa Nhà nước và Pháp Luật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã

hỗ trợ em rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho em những

ý kiến đóng góp quý báu để hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do kiến thức còn hạn chế và thời gian nghiên cứu ngắn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của qúy Thầy Cô, đồng nghiệp, bạn bè để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Trang 6

TN&MT Tài nguyên và môi trường

VH&TT

QLNN

Văn hoá và thông tin Quản lý Nhà nước

Trang 7

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 6

1.1 Lễ hội và quản lý hoạt động lễ hội truyền thống 6

1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý hoạt động lễ hội truyền thống 19

Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ỞQUẬN BẮC TỪ LIÊM , THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 34

2.1 Yếu tố tác động đến quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay 34

2.2 Ưu điểm và hạn chế quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội 38

Chương 3:PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝHOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 74

3.1 Phương hướng tăng cường quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thời gian tới 74

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thời gian tới 77

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHụ LụC 103

TÓM TẮT LUẬN VĂN 129

Trang 8

Ngày nay, lễ hội truyền thống đang được tổ chức ngày càng nhiều để đáp ứng những đòi hỏi trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân Việc tham dự các lễ hội truyền thống là nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thỏa mãn khát vọng hướng về cội nguồn, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần tạo nên sự đa dạng của văn hóa Lễ hội truyền thống tồn tại đến hôm nay đều là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa lâu dài Quá trình tiếp biến ấy khiến cho lễ hội luôn mang dáng vẻ của thời đại mà vẫn không mất đi diện mạo ban đầu, cái cấu trúc hai mảng lễ và hội của nó

Hiện nay, người dân đã có khả năng và điều kiện làm chủ bản thân thì niềm tin vào sự linh thiêng của thần thánh chuyển hóa dần nhường chỗ cho những tình cảm thiêng liêng nhớ về cội nguồn, lòng tôn kính và biết ơn tổ tiên, tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước trở thành cảm hứng chủ đạo của lễ hội truyền thống Vì vậy, chức năng tín ngưỡng của lễ hội có phần giảm thiểu, chức năng vui chơi, giải trí của phần hội được tăng lên Các trò chơi dân gian, những làn điệu dân ca, dân vũ được khai thác thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia

Trang 9

Vấn đề đặt ra là công tác tổ chức và quản lý đã phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, phong tục tập quán địa phương cũng như giữ gìn, phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống và giải quyết tốt những vấn đề phát sinh trong khi lễ hội diễn ra chưa Do đó, cần phải nghiên cứu, tìm hiểu về công tác tổ chức và quản lý lễ hội để góp phần làm phong phú thêm kho di sản văn hóa Việt Nam trong thời đại hiện nay

Trong thời gian qua, mặc dù công tác quản lý hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào thành tích chung của Quận Tuy nhiên, những năm gần đây, khi nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân ngày càng cao, sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ khiến cho nhiều hiện tượng văn hóa có sự biến đổi nhanh chóng Xu hướng thương mại hóa lễ hội, hiện tượng lợi dụng niềm tin tôn giáo để mưu lợi, tổ chức các trò chơi thiếu lành mạnh, mang tính ăn thua như: cờ bạc, cá độ, xóc thẻ, bói toán… Việc xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, bày bán hàng rong gây mất an ninh trật tự, vấn đề an toàn thực phẩm, là những hình ảnh xấu, góp phần tác động tiêu cực và làm mất đi không gian văn hóa của

lễ hội, làm ảnh hưởng tới ý nghĩa thiêng liêng trong lễ hội, từ đó khiến việc quản

lý lễ hội trở thành một vấn đề cần được quan tâm Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống quận Bắc Từ Liêm cho tốt, vừa làm hài lòng du khách thập phương, vừa quản lý, bảo vệ, bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị tâm linh mà di tích mang lại

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay” làm luận văn thạc sĩ ngành Chính trị học, chuyên ngành Quản lý xã hội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về quản lý lễ hội truyền thống không phải là đề tài mới, đã

có nhiều những luận văn, luận án, bài báo hay cách nghiên cứu khác nhau từ

Trang 10

nhiều tác giả, nội dung nghiên cứu hoặc cách tiếp cận cũng trở nên phong phú làm cho quá trình nghiên cứu quản lý lễ hội truyền thống văn hóa Việt Nam ngày càng trở nên sâu sắc Tuy nhiên, với một nền văn hóa của 54 dân tộc anh, em như ở nước ta thì các công trình nghiên cứu về quản lý lễ hội truyền thống đó vẫn không dừng lại mà ngày một nhiều hơn, bổ sung vào kho tàng nghiên cứu văn hóa Việt Nam những phát hiện mới trong việc nghiên cứu về văn hóa, về con người

Chính vì thế luận văn này hoàn thành góp phần bổ sung vào kho tàng nghiên cứu về quản lý lễ hội truyền thống Bên cạnh đó tham khảo những công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đi trước để học hỏi những kinh nghiệm từ thành quả mà các tác giả để lại như: Luận văn thạc sĩ: Di tích, lễ hội đình làng Kim Thao ( xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) của tác giả Vũ Thanh Tùng ( 2014); Luận văn thạc sĩ: Di tích và lễ hội chùa Tam Thanh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn của tắc giả Nông Đức Kiên ( 2014); Luận văn thạc sĩ: Di tích và lễ hội Đền Xa Lộc ( Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ) của tác giả Nguyễn Tiến Bình ( 2015); Luận văn thạc sĩ: Quản

lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ của tác giả Hoàng Trung Đức ( 2017); Luận văn thạc sĩ: Quản lý lễ hội truyền thống Phủ Quảng Cung, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định của tác giả Đào Tiến Trọng ( 2017); Luận văn thạc sĩ: Quản lý lễ hội truyền thống Quán Giá, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội của tác giả Đỗ Thị Phương ( năm 2017)

Nghiên cứu về quản lý hoạt động văn hóa trên địa bàn huyện Từ Liêm trước đây và quận Bắc Từ Liêm ngày nay đã có nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về đề tài này Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Vì vậy, luận văn này sẽ là công trình nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động lễ hội truyền thống của Quận nhà trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý hoạt động lễ hội truyền thống; đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố

Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2014 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về văn hóa và quản lý văn hóa

Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp logic lịch sử, phương pháp so sánh và các phương pháp quan sát khác

Trang 12

6 Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động lễ hội

truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Chỉ ra thực trạng quản lýhoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay và rút ra một số bài học kinh nghiệm

- Đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận:

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề

lý luận và thực tiễn về lễ hội truyền thống, quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

7.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng ở quận Bắc

Từ Liêm làm công tác quản lý xã hội liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động

lễ hội tại địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG

1.1 Lễ hội và quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

1.1.1.Lễ hội và lễ hội truyền thống

1.1.1.1 Lễ hội

Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng "Lễ"

là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống

Lễ hội là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể, là một hình thức diễn xướng tâm linh tổng thể của lễ hội không phải là thực thể “chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử hay một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hoá phát sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp

Lễ hội là sinh hoạt văn hóa gắn với đời sống tinh thần của cư dân sống trên dải đất Việt Nam hàng ngàn năm nay Trong một năm, thường vào những thời khắc nhất định thuộc mùa xuân và mùa thu, khắp nơi tưng bừng không khí lễ hội Dù ở miền núi cao, đồng bằng hay hải đảo xa xôi, mỗi khi cộng đồng tổ chức lễ hội là dịp người người, nhà nhà náo nức đón chờ và hưởng ứng Đồng bào các dân tộc thiểu số hay người Kinh, cũng đều có chung tâm trạng hưng phấn cộng đồng này Lễ hội cũng có thể diễn ra ở những nơi cụ thể nào đó vào mùa hạ hoặc mùa đông Tuy nhiên, những thời điểm đó không phổ biến bằng lễ hội mùa xuân, mùa thu Cổ nhân đã tổng kết quy luật gắn với

tứ thời bát tiết trong năm: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn, cũng cho ta những thông tin gần gũi với vòng quay mùa màng, chu trình sinh

Trang 14

trưởng của cây trồng (và phần nào đúng với vật nuôi, vạn vật ở lớp nghĩa khác) Hiểu theo nghĩa rộng, tổng kết trên cũng chẳng xa với vòng đời của mỗi người có sinh, trụ, dị, diệt hay sinh, lão, bệnh, tử Và, thời gian trôi đi, không gian thay đổi, nhưng vòng tuần hoàn vũ trụ vẫn chuyển luân và mùa đến, mùa đi, kế nối dài vô cùng vô tận Bởi thế, khát vọng trường sinh, sự tưng bừng náo nhiệt sẽ mãi mãi xoay vòng cùng con người và đất trời, để cho

lễ hội cứ đến hẹn là gặp, cứ đến dịp là vui mừng náo nức y như ngày xửa ngày xưa cho tới tận bây giờ và mai sau

Thời gian lễ hội là thời gian thư giãn nghỉ ngơi, nhịp dừng thú vị để chu

kỳ mới được hình thành Lễ hội, theo quan niệm của đồng bào Tây Nguyên là mùa Ning Nơng, được Ăn năm uống tháng Người Việt cổ truyền cũng quan niệm rằng “Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà” Lễ hội mùa xuân tuy trời vẫn còn chút se lạnh của mùa đông, nhưng đã tràn đầy cái nồng nàn ấm áp của một mùa mới, năm mới đầy hứa hẹn

Tháng tám mùa Thu, gió heo may, cây trái cho thu hoạch, quả ngọt trĩu cành, nắng vàng óng ả, mùa cốm mới, trẻ em trông trăng đón Trung Thu, người già trông trăng nhìn thời tiết đoán kết quả thu hoạch mùa màng, trai gái vui đối đáp giao duyên tất cả đều hòa chung với đất trời mênh mang rộng mở Bởi thế chăng, mà mùa thu lễ hội cho ta không khí gần gũi, thấm đượm, hữu tình!

Lễ hội được đánh giá là hoạt động cộng đồng đa màu sắc, hấp dẫn lâu bền nhất trong tất cả các sinh hoạt chung của mọi người dân Tính tổng hợp, đa diện,

đa dạng của các sinh hoạt gồm chứa trong hoạt động lễ hội được các nhà nghiên cứu văn hóa gọi đó là tính nguyên hợp của văn hóa dân gian/văn hóa dân tộc Việt Nam Ấy là bởi những tinh túy, tinh hoa của Đất và Người đều tụ hội về dịp

lễ hội Ấy là bởi vì lễ hội nào cũng chứa trong nó hạt nhân thiêng liêng với nhiều ước vọng con người muốn gửi gắm tới tầng trên cao xanh đầy huyền bí và gắn với lịch sử mấy ngàn năm dựng nước, giữ nước của các thế hệ con người Việt Nam Tính thiêng trong lễ hội trở thành hạt nhân quan trọng gắn kết cộng đồng thành một khối thống nhất cùng chung ước vọng

Trang 15

Ngày địa phương mở hội là ngày quan trọng của cộng đồng, được gọi

là vào đám, đóng đám Về cơ bản lễ hội truyền thống bao gồm phần lễ và phần hội Phần lễ thường diễn ra ở những nơi trang nghiêm như: trong hoặc trước cửa đình, đền miếu, chùa, mục đích là để giao tiếp với thần linh sông núi, các vị thần tổ nghề, anh linh các vị anh hùng dân tộc, mời tổ tiên các dòng họ về dự hội với dân làng Lễ hội làng hội tụ sức mạnh thiêng liêng của

cả trời đất, non sông, tổ tiên và con cháu Bởi thế, trong dịp lễ hội, thông qua các nghi thức tín ngưỡng tôn giáo để ước mong nối sợi dây giao cảm giữa Thần - Người - Cộng đồng và thể hiện nguyện vọng của họ trong không gian

và thời gian thiêng liêng

Phần hội về cơ bản diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí và sáng tạo văn hóa của con người thông qua các trò chơi dân gian, địa điểm diễn ra thường ở những bãi đất trống, vạt rừng, trên mặt nước ao, hồ, sông, những nơi rộng rãi,

Lễ hội rất có ý nghĩa trong đời sống xã hội Thông qua lễ hội, các giá trị truyền thống của làng quê như ý thức về cội nguồn, tổ tiên dân tộc, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, ; ý thức về đồng loại, cố kết con người trong cộng đồng, ý thức giữ gìn nét đẹp thuần phong mỹ tục của cộng đồng được gia tăng, củng cố Con người trong thời điểm diễn ra lễ hội dường như hòa đồng, xích tại gần nhau hơn, giao lưu cởi mở chân thành hơn Lễ hội cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, là sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo thu hút du khách gần xa

Tóm lại, đối với người dân, tổ chức lễ hội hằng năm là nhu cầu thiết yếu, một đòi hỏi tinh thần nhằm đến đích:

Tưởng nhớ công đức các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, các liệt sĩ, các bậc tiền bối đã có công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Trang 16

Đáp ứng nhu cầu văn hóa, tín ngưỡng, tham quan các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc nghệ thuật, cảnh quan thiên nhiên và các nhu cầu đa dạng chính đáng khác của nhân dân

Tuy thế, lễ hội cũng có những hạn chế nhất định, đó là những hệ lụy phát sinh do chúng ta nhận thức chưa đúng về lễ hội khiến giá trị đích thực của lễ hội bị mất đi hoặc giảm sút, sai lệch, méo mó Xu hướng thương mại hóa lễ hội, lãng phí, thậm chí dung tục hóa lễ hội đi cùng với tệ nạn bói toán,

cờ bạc, hiện đại hóa lễ hội vô căn cứ, lợi dụng lễ hội để trục lợi diễn ra khá thường xuyên ở những mức độ khác nhau gây ra sự ô nhiễm môi trường nhân văn và môi trường sinh thái ở phạm vi rộng lớn

1.1.1.2 Lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống được hình thành từ phong tục tập quán, tín ngưỡng

và nhu cầu đời sống nhân dân, vui chơi giải trí của nhân dân và xuất phát từ quy định của thể chế chính trị đương thời

Lễ hội truyền thống là các lễ hội như hội đền, hội đình, hội chùa, là sinh hoạt cộng đồng về văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo được hình thành trong lịch sử từ xa xưa, được truyền lại trong cộng đồng nông nghiệp với tư cách một phong tục Để đảm bảo tính truyền thống, phần lễ nhất thiết phải mang tính khuôn mẫu, nghiêm trang, đúng ý nghĩa thiêng liêng Nội dung buổi nghi

lễ phải được cân nhắc đối chiếu kỹ lưỡng Phần Hội tuy có phần nào biến đổi theo thời gian nhưng phải có các trò chơi dân gian, giải trí, sinh hoạt cộng đồng Dù sử dụng định nghĩa nào thì một lễ hội truyền thống cũng phải đảm bảo đủ các yếu tố: là một hình thức sinh hoạt văn hóa, có tính chất thiêng liêng, tính cộng đồng, khuôn mẫu và được diễn ra theo chu kỳ

Đặc trưng cơ bản của lễ hội truyền thống là gắn với đời sống tâm linh tôn giáo tín ngưỡng, sự kiện và nhân vật lịch sử, mang tính thiêng liêng, ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, là hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm sinh hoạt nghi lễ, nghi thức, phong tục, tập quán, là nơi giao tiếp, gắn kết xã hội, tổ chức các cuộc thi tài, vui chơi giải trí, buôn bán, chủ thể của lễ hội truyền thống là toàn thể cộng đồng

Trang 17

Lễ hội truyền thống, bản thân nó đã là một giá trị văn hóa lớn trong đời sống truyền thống và hiện đại Tuy nhiên, phân tích sâu hơn nữa, người ta đã tìm

ra những giá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội truyền thống, một hiện tượng văn hóa mang tính trội mà tiêu biểu nhất là tính cộng đồng Ngoài ra, nó còn là biểu hiện rõ nét của tính chất tự quản, tinh thần dân chủ, nội dung nhân dân bàn

Lễ hội truyền thống là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế

hệ này sang thế thệ khác bằng truyền miệng, trình diễn và các hình thức khác

Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống

đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹp trong phục hồi và phát huy lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội đương đại, thì cũng không ít các vấn đề nảy sinh khiến xã hội cần phải nhìn nhận lại và tìm cách khắc phục để những mặt tinh hoa của lễ hội truyền thống được đẩy mạnh và phát huy, khắc phục dần các hạn chế, tiêu cực Và bao giờ cũng thế, mọi hành động của con người đều bắt đầu từ nhận thức, chỉ khi chúng ta có nhận thức đúng về lễ hội truyền thống thì việc phục hồi và phát huy nó trong đời sống xã hội đương đại mới mang lại hiệu quả mong muốn

Lễ hội là một trong những “hoạt động văn hoá cao”, “hoạt động văn hoá nổi trội” trong đời sống con người Hoạt động lễ hội là hoạt động của cộng đồng hướng tới “xử lý” các mối quan hệ của chính cộng đồng đó Hoạt động này diễn ra với những hình thức và cấp độ khác nhau, nhằm thoả mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt và lâu dài của các tầng lớp người; thoả mãn những nhu cầu của các cá nhân và tập thể trong môi trường mà họ sinh sống

Môi trường của lễ hội truyền thống Việt Nam về cơ bản chính là nông thôn, làng xã Việt Nam Lễ hội là môi trường thuận lợi mà ở đó các yếu tố

Trang 18

văn hoá truyền thống được bảo tồn và phát triển Những yếu tố văn hoá truyền thống đó không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, vận hành cùng tiến trình phát triển lịch sử của mỗi địa phương trong lịch sử chung của đất nước Nó chính là hệ quả của cả quá trình lịch sử của không chỉ một cộng đồng người Đây chính là tinh hoa được đúc rút, kiểm chứng và hoàn thiện trong dọc chiều dài lịch sử của bất cứ một cộng đồng cư dân nào Lễ hội có sức lôi cuốn, hấp dẫn và trở thành nhu cầu, khát vọng của người dân cần được đáp ứng và thoả nguyện qua mọi thời đại Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong xã hội ở từng giai đoạn của lịch sử

Hiện tại ở nước ta có nhiều loại lễ hội, bên cạnh lễ hội truyền thống còn

có Lễ hội mới, (lễ hội hiện đại, gắn với các sự kiện lịch sử hiện đại, cách mạng), lễ hội sự kiện (gắn với du lịch quảng bá du lịch, Lễ hội nhân kỷ niệm những năm chẵn thành lập thành phố, tỉnh, huyện)…, trong đó lễ hội truyền thống có số lượng nhiều nhất (khoảng trên 7000 lễ hội trong tổng số gần 9000

lễ hội), phạm vi phân bố rộng (cả nông thôn, đô thị, vùng núi các dân tộc), có lịch sử lâu đời nhất Người ta có thể phân loại lễ hội truyền thống theo thời gian các mùa trong năm, trong đó quan trọng nhất là mùa xuân, mùa thu (xuân thu nhị kỳ), phân chia theo phạm vi lớn nhỏ: Lễ hội làng, lễ hội vùng, lễ hội quốc gia Phân loại theo tính chất của lễ hội: Lễ hội nghề nghiệp (nông, ngư, nghề buôn…), lễ hội tôn vinh anh hùng dân tộc, người có công với quê hương, đất nước, lễ hội gắn với các tôn giáo tín ngưỡng cụ thể như lễ hội của Phật, Kitô, Tín ngưỡng dân gian…

Lễ hội truyền thống là những mốc đánh dấu chu trình đời sống sản xuất

và đời sống xã hội của mỗi cộng đồng người, mà một khi cái mốc mang tính

lễ nghi đó chưa được thực hiện thì các quá trình sản xuất và quá trình xã hội

đó sẽ bị đình trệ, sự sinh tồn và các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ Ví dụ, nếu người Việt và người Tày chưa thực hiện nghi lễ “Hạ điền”, “Lồng tồng” thì việc gieo hạt đầu mùa sẽ không thể thực hiện, đứa trẻ sinh ra nếu chưa được

Trang 19

thực thi nghi lễ “thổi tai”, đặt tên thì nó chưa thể trở thành con người, một chàng trai đến tuổi trưởng thành mà chưa trải qua nghi lễ thành đinh, cấp sắc thì chưa thể trở thành một thành viên thực sự của cộng đồng, một đôi nam nữ thanh niên chưa làm lễ tơ hồng, lễ trình gia tiên thì không thể trở thành vợ chồng, một người chết nếu chưa được thầy Tào của người Tày chưa đến thực hiện nghi lễ gọi hồn đưa hồn thì nghi lễ mai táng sẽ không được thực thi Do vậy, một nghi lễ, lễ hội bao giờ cũng mang tính chuyển tiếp của một chu trình sản xuất vật chất hay xã hội nhất định

Trong số hơn 7000 lễ hội truyền thống của nước ta, xét về nguồn cội đều là lễ hội nông nghiệp, quy mô ban đầu là hội làng Tuy nhiên, trong tiến trình lịch sử, các lễ hội nông nghiệp này dần biến đổi, làm phong phú hơn bằng những nội dung lịch sử (nhất là lịch sử chống ngoại xâm), nội dung xã hội (nhất là các quan hệ cộng đồng), nội dung văn hóa tạo nên diện mạo vô cùng phong phú và đa dạng như ngày nay

So với các loại lễ hội khác, lễ hội cổ truyền mang 3 đặc trưng cơ bản sau:

Một là, Lễ hội truyền thống gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín

ngưỡng, nó mang tính thiêng, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng,

đối lập với đời sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò Trám (Phú Thọ) là điển hình

Tính tâm linh và linh thiêng của lễ hội nó quy định “ngôn ngữ” của lễ hội

là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của

đời sống thường ngày Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng, diễn xướng cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương) trong Hội Tản Viên… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này tạo nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội

Hai là,Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống

tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như

Trang 20

tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội truyền thống, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này

Ba là,Chủ thể của lễ hội truyền thống là cộng đồng, đó là cộng đồng

làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc Nói cách khác không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội

Ba đặc trưng trên nó quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ

chức, thái độ và hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội, phân biệt

với các loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, các loại Festival

Lễ hội cũng như bất cứ một hiện tượng văn hóa, xã hội nào cũng đều chịu sự tác động bối cảnh kinh tế - xã hội đương thời và nó cũng phải tự thích ứng biến đổi theo Tuy nhiên, với loại hình lễ hội truyền thống thì ba

đặc trưng nêu trên là thuộc về bản chất, là yếu tố bất biến, là hằng số, chỉ có

những biểu hiện của ba đặc tính trên là có thể biến đổi, là khả biến để phù hợp với từng bối cảnh xã hội Khẳng định điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc phục hồi, bảo tồn và phát huy lễ hội trong xã hội hiện nay Việc phục dựng, làm mất đi các đặc trưng trên của lễ hội truyền thống thực chất là làm biến dạng và phá hoại các lễ hội đó

Khi nước ta cũng như ở nhiều nước khác đã bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng lễ hội truyền thống vẫn tồn tại thậm chí còn bùng phát mạnh mẽ Phải chăng lễ hội cổ truyền vẫn thu hút và lôi cuốn con người xã hội hiện đại? Nói cách khác, lễ hội truyền thống vẫn đáp ứng nhu cầu của con người không chỉ trong xã hội cổ truyền mà cả xã hội hiện đại Có được điều

đó là do lễ hội truyền thống hội tụ các giá trị sau:

Trang 21

Một là, Giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng:

Lễ hội nào cũng thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc ( hội Đền Hùng - quốc tế ) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng

Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm)…

Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng

Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng định “cái cá nhân”, “cá tính” của mình thì không vì thế cái “cộng đồng” bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kết cộng đồng ấy

Hai là, Giá trị hướng về cội nguồn:

Tất cả mọi lễ hội truyền thống đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Chính vì thế,

lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - du lịch

Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá, toàn cầu hóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, môi trường; với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc

Trang 22

đáo đang bị mai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoà mình vào với môi trường thiên nhiên; trở về, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoá của mình trong cái chung của văn hoá nhân loại Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội truyền thống là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại

Ba là, Giá trị cân bằng đời sống tâm linh:

Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng - chân thiện mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong

đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó

là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu

Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp, các hoạt động của con người dường như được “chương trình hoá” theo nhịp hoạt động của máy móc, căng thẳng và đơn điệu, ồn ào, chật chội nhưng vẫn cảm thấy cô đơn Một đời sống như vậy tuy có đầy đủ về vật chất nhưng vẫn khô cứng về đời sống tinh thần và tâm linh, một đời sống chỉ có dồn nén, “trật tự” mà thiếu sự cởi mở,

xô bồ, “tháo khoán” Tất cả những cái đó hạn chế khả năng hoà đồng của con người, làm thui chột những khả năng sáng tạo văn hoá mang tính đại chúng Một đời sống như vậy không có “thời điểm mạnh”, “cuộc sống thứ hai”, không có sự “bùng cháy” và “thăng hoa”

Trở về với văn hoá dân tộc, lễ hội truyền thống con người hiện đại dường như được tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hoá dân

Trang 23

tộc, tận hưởng những giây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả - chân thiện mỹ, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng, con người có thể phô bày tất cả những gì là tinh tuý đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳn ngày thường Tất cả

đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực Nói cách khác, lễ hội đã thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục của đời sống hiện thực

Bốn là, Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa:

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng

ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong “thời điểm mạnh” của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hoà trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của mình

Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hội phát triển, khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của con người đã phần nào tách biệt

Đấy là chưa kể trong xã hội nhất định, một lớp người có đặc quyền có tham vọng “cướp đoạt” các sáng tạo văn hoá cộng đồng để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Đến như nhu cầu giao tiếp với thần linh của con người cũng tập trung vào một lớp người có “khả năng đặc biệt” Như vậy, con người, đứng từ góc độ quảng đại quần chúng, không còn thực sự là chủ thể của quá trình sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá một cách bình đẳng nữa Xu hướng đó phần nào xói mòn tinh thần nhân bản của văn hoá, làm tha hoá chính bản thân con người Do vậy, con người trong xã hội hiện đại, cùng

Trang 24

với xu hướng dân chủ hoá về kinh tế, xã hội thì cũng diễn ra quá trình dân chủ hoá về văn hoá Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội truyền thống là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá ấy

Năm là, Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa:

Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn

là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy

Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội,

mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi

“xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa

mở hội Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Tôi đã nhiều lần tự hỏi, nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan ; các điệu múa xanh tiền, con đĩ đánh bồng, múa rồng, múa lân ; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cải lương ; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, trò trám sẽ ra đời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua Và như vậy thì dân tộc và văn hoá dân tộc sẽ đi đâu, về đâu, sẽ còn mất ra sao?

Đã ai đó từng nói làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hoá truyền thống của dân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hoá Trong cái làng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó là lễ hội với “xuân thu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá đó Không có làng xã Việt Nam thì cũng không có văn hoá Việt Nam

Điều này càng cực kỳ quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ

Trang 25

hết, thì làng xã và lễ hội Việt Nam lại gánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc!

1.1.2 Quản lý hoạt động lễ hội

Quản lý hoạt động lễ hội là một lĩnh vực cụ thể của quản lý văn hóa Quản lý hoạt động lễ hội là quản lý nhà nước và xã hội đối với hoạt động của

lễ hội bằng công cụ pháp luật và các quy định phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, làm cho lễ hội vận hành theo đúng quy luật của văn hóa, mang lại lợi ích cho cộng đồng Quản lý lễ hội là tạo điều kiện cho lễ hội phát triển theo đúng định hướng phát triển của đất nước và phù hợp với thời đại Quản

lý lễ hội là nhu cầu khách quan để lễ hội phát triển

Theo tác giả Bùi Hoài Sơn thì: “Quản lý di sản nói chung, lễ hội nói riêng

là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của

lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung” [40, tr.15]

Như vậy, quản lý hoạt động lễ hội gồm quản lý nhà nước và các hình thức quản lý khác đối với hoạt động của lễ hội Để quản lý tốt lễ hội cần có sự

hỗ trợ đắc lực của các hình thức quản lý đối với các đối tượng khác liên quan đến hoạt động văn hóa quản lý khác như: quản lý di tích, quản lý đất đai, quản

lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường nơi diễn ra lễ hội Sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành trong công tác tổ chức và quản lý, sẽ tạo hiệu quả cao trong công tác tổ chức và quản lý lễ hội lành mạnh và tiết kiệm Quản lý nhà nước về lễ hội được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý như: chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy vận hành, các nguồn lực,… để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội, bằng các phương thức tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách,

hệ thống các văn bản pháp quy của nhà nước đã ban hành nhằm mục đích duy

Trang 26

trì, bảo tồn và phát triển lễ hội theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước Tóm lại, quản lý lễ hội gồm quản lý nhà nước và các hình thức quản lý ở nhiều lĩnh vực khác nhau đối với hoạt động lễ hội, thông qua các công cụ quản lý như: chính sách pháp luật, văn bản pháp luật, nghị định, … làm thế nào vừa đảm bảo được đặc trưng văn hóa tâm linh, nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo; đảm bảo tính thiêng của các nghi lễ cổ truyền, giữ gìn được những giá trị tốt đẹp của lễ hội, đồng thời ngăn chặn được những lợi dụng niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội để mưu lợi bất chính và vi phạm pháp luật, biến lễ hội thành dung tục và mê tín dị đoan Bên cạnh đó phải làm sao cho các hoạt động hội hè đáp ứng được nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân, sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú, hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu công chúng, đảm bảo tính giáo dục, nhân văn, lành mạnh theo đúng luật pháp và nếp sống văn minh

1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

1.2.1 Nguyên tắc quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

Một là, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ

Nguyên tắc này có nghĩa là quản lý hoạt động lễ hội truyền thống dưới

sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Đảng, các cấp chính quyền ban hành các văn bản để triển khai thực hiện và dưới sự quản lý giám sát của nhân dân địa phương Tất cả tổ chức và hoạt động của lễ hội truyền thống đều phải phục vụ lợi ích của nhân dân địa phương, tất cả các quyết định, hành động của quản lý hoạt động lễ hội truyền thống đều phải xuất phát từ lợi ích đó Quản lý hoạt động lễ hội truyền thống phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong từng quyết định quản lý, trong mỗi hoạt động quản lý đều phải chứa đựng các yếu tố thể hiện đường lối, chủ trương của Đảng Điều này phản ánh đặc trưng về tính chính trị trong quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

Trang 27

Hai là, Tập trung dân chủ, phân định

Đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của lễ hội truyền thống Nó bảo đảm thống nhất của toàn xã hội thành một thể hữu cơ hoạt động nhịp nhàng Nguyên tắc này không có nghĩa là tập trung tất cả các vấn

đề quản lý vào trung ương mà nó còn đòi hỏi có những hình thức dân chủ trong cơ cấu tổ chức các cơ quan quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

Tập trung dân chủ khác tập trung quan liêu, nguyên tắc này đòi hỏi giải quyết mọi vấn đề của hoạt động lễ hội truyền thống trên cơ sở dân chủ Phải tập trung trên cơ sở dân chủ trong tổ chức và hoạt động của lễ hội truyền thống

Ba là, Bình đẳng giữa các lễ hội

Vấn đề lễ hội là một vấn đề hết sức tế nhị và phức tạp Không thể coi trọng lễ hội này mà coi thường lễ hội khác, phải nghiên cứu cụ thể các lễ hội của từng địa phương để có hướng chỉ đạo sát, trúng, phù hợp thực tế Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng và thống nhất giữa các lễ hội

Bốn là, Quản lý hoạt động lễ hội truyền thống đúng pháp luật

Nguyên tắc này có nghĩa tổ chức và quản lý hoạt động các lễ hội truyền thống phải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước: Thứ nhất, thực hiện sự điều chỉnh bằng pháp luật cả về mặt tổ chức và hoạt động quản lý của các lễ hội truyền thống Thứ hai, chấp hành và thực hiện nghiêm ngặt những đòi hỏi của pháp luật

Năm là, Quản lý theo lãnh thổ và theo ngành

Đây là nguyên tắc quyết định trong tổ chức quản lý hoạt động lễ hội truyền thống Phù hợp với nguyên tắc này, nhà nước được phân chia công tác quản lý hoạt động lễ hội truyền thống theo từng cấp: tỉnh, thành phố, huyện, xã… Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động quản lý lễ hội truyền thống với lễ hội hiện đại trên địa bàn lãnh thổ

Trang 28

Sáu là, Phân định quản lý hoạt động lễ hội truyền thống với lễ hội hiện đại

Quản lý hoạt động lễ hội truyền thống với lễ hội hiện đại bảo đảm được quản lý thống nhất theo quy định của Nhà nước Những vấn đề liên quan đến phạm vi quản lý hoạt động lễ hội truyền thống với lễ hội hiện đại từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp huyện; những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp huyện trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh; những vấn đề liên quan đến phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ có quy định khác Chính quyền địa phương được bảo đảm nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp

1.2.2 Nội dung quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

Một là, Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý

Để bảo tồn giá trị di sản văn hóa của các hoạt động lễ hội truyền thống, việc xây dựng quy hoạch chiến lược, kế hoạch nghiên cứu cụ thể là việc làm cần thiết và cấp bách

Chính phủ đã tiến hành đầu tư qua Chương trình Quốc gia có mục tiêu về văn hóa cho việc nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các giá trị văn hóa phi vật thể, nhờ đó, huy động sự quan tâm của cộng đồng đối với các hoạt động sinh hoạt văn hóa phi vật thể trong đó có lễ hội truyền thống Xét trên khía cạnh QLNN đối với các hoạt động lễ hội truyền thống, việc nghiên cứu phải được tiến hành

từ chỗ hiểu biết đầy đủ về các giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống nói chung của từng lễ hội nói riêng, các đặc trưng của mỗi lễ hội, từ đó tìm ra phương thức quản lý một cách hiệu quả nhất, vừa bảo tồn các giá trị truyền thống, vừa loại bỏ được các yếu tố lạc hậu, chắt lọc được tinh hoa văn hóa dân tộc

Trang 29

Hai là, Áp dụng pháp luật và các quy định phù hợp với địa phương

Các văn bản áp dụng pháp luật được ban hành cụ thể, rõ ràng từ cấp trung ương đến địa phương

Cấp trung ương: ban hành, hướng dẫn chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội, lễ hội truyền thống Các văn bản quy phạm pháp luật này phải giữ nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và dân chủ hóa công tác quản lý, phải là các quyết định hành chính khả thi, tránh chồng chéo, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, tránh tình trạng nhiều đơn vị cùng có chức năng quản lý nhưng khi quy kết trách nhiệm không đơn vị nào đứng ra nhận hoặc văn bản thiếu cơ sở thực thi, triển khai không kịp thời

Cấp địa phương: tổ chức thực hiện, tham mưu với cấp trên các vấn đề

về QLNN đối với lễ hội truyền thống Việc tổ chức thực hiện rất quan trọng, quyết định hiệu lực, hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật Đồng thời, tại địa phương khi văn bản pháp luật đi vào đời sống sẽ bộc lộ ưu điểm, khuyết điểm, do đó cấp chính quyền địa phương cần có trách nhiệm tham mưu với cấp trên sửa đổi để hoàn thiện, chỉ đạo thực hiện hiệu quả

Ngày 12/7/2011, Chủ tịch nước ban hành hiệu lệnh số 09/2001/L-CTN

về việc công bố Luật di sản văn hóa, là cơ sở căn bản về luật pháp nhằm duy trì, đảm bảo sự QLNN đối với hoạt động lễ hội truyền thống Cùng với đó, nhiều nghị định hướng dẫn thi hành luật cũng được ban hành bảo đảm cho sự thực thi đúng luật và phù hợp với thực tiễn mỗi địa phương Theo đó, Bộ Văn hóa thông tin đã công bố quyết định số 39/2001/QĐ- BVHTT ngày 23 tháng 8 năm 2011 của Bộ trưởng về việc ban hành Quy chế Tổ chức lễ hội, thay thế Quy chế Lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 636/QĐ-QC ngày 21 tháng

5 năm 1994 của Bộ trưởng Bộ Văn Hóa - Thông tin nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy phạm về QLNN đối với các hoạt động tổ chức lễ hội truyền thống của dân tộc Ngày 18 tháng 1 năm 2006, Chính phủ thông qua Nghị định số 11/2006/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, có hiệu lực từ 15/02/ 2006

Trang 30

Năm 1994 ban hành Quy chế lễ hội, đến năm 2011 được sửa đổi, bổ sung và đổi tên thành Quy chế tổ chức lễ hội Như vậy, ngành văn hóa - thông tin đã nhấn mạnh tới công tác tổ chức lễ hội, chứ không quá nhấn mạnh đến việc điều chỉnh nội dung của các lễ hội: phần việc không khả thi ở qui mô quốc gia và tính đến mức độ đa dạng của các lễ hội ở Việt Nam Thay vì điều chỉnh một cách miễn cưỡng nội dung của lễ hội truyền thống - vốn đã thành phong tục, Ngành đã có sự điều chỉnh các văn bản cho phù hợp hơn, xác định vai trò của mình là quản lý công tác tổ chức lễ hội bằng những nguyên tắc, quy định chung Bên cạnh đó, Ngành cũng chủ trương giảm bớt những gánh nặng hành chính trong việc tổ chức lễ hội truyền thống Những lễ hội truyền thống đã được tổ chức thường xuyên, định kỳ không cần phải xin phép Điều này đã tạo điều kiện cho người dân tiến hành tổ chức lễ hội truyền thống một cách thuận tiện hơn

Ba là, Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức quản lý hoạt động lễ hội

Tổ chức lễ hội truyền thống phải dựa trên hai yếu tố cơ bản là di tích và hoạt động lễ hội truyền thống Quản lý hoạt động lễ hội truyền thống do đó cần phải chú ý đến cả hai nội dung: quản lý di tích và quản lý các khâu tổ chức lễ hội truyền thống Xét đến nội dung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ QLNN về hoạt động lễ hội truyền thống, ở đây tác giả xin chia ra làm hai nhóm đối tượng: nhóm quản lý di tích và nhóm tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống

Về nhóm đối tượng thứ nhất, cần phải nâng cao năng lực đội ngũ cán

bộ quản lý di tích Phần đông các địa phương coi việc quản lý di tích như mọi hoạt động hành chính giản đơn, nên nhận thức của cán bộ quản lý cũng như việc sắp xếp cán bộ quản lý còn hời hợt, nhiều địa phương, cơ quan bảo tàng trở thành nơi trú chân tạm thời của những cán bộ không đủ năng lực hoặc chờ nghỉ hưu Tuy nhiên, nếu việc quản lý di tích không cặn kẽ, chẳng những không hiểu được di tích mà còn không thể quản lý đúng di tích trên cả tầm vĩ

Trang 31

mô và vi mô Muốn thực hiện sưu tầm, bảo quản và trưng bày, phát huy tác dụng phải có trình độ am hiểu tường tận đến chi tiết phương pháp khoa học

kỹ thuật và khoa học xã hội, nhân văn, mới mong đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ Những yêu cầu đó đòi hỏi cán bộ quản lý di tích cần phải có những kiến thức về chuyên môn, chuyên tâm nghiên cứu để lĩnh hội những kiến thức

mà bè bạn trong và ngoài nước đã, đang đúc kết, thực hiện phát minh để áp dụng, thúc đẩy khoa học bảo tồn bảo tàng ở Việt Nam

Để giữ gìn các giá trị sáng tạo của quá khứ cần nắm vững các giá trị văn hóa quá khứ để lại, nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa đó là một cách khoa học, không làm biến dạng di tích, cũng không gìn giữ di tích một cách khô cứng, phiến diện Muốn đạt đến một ý tưởng như vậy, người làm công tác quản lý di tích một mặt phải học hỏi các kinh nghiệm, kỹ thuật truyền thống để bảo tồn các chất liệu truyền thống ở di tích Mặt khác cần học tập kiến thức từ các nước

và tổ chức quốc tế giàu kinh nghiệm tu bổ di tích Việc tu bổ, tôn tạo di tích phải đi đôi với việc phòng ngừa, bảo quản, chống xuống cấp của di tích

Về nhóm đối tượng làm công tác thực thi QLNN đối với hoạt động lễ hội truyền thống thuộc ngành văn hóa thường là công chức thuộc cơ quan chuyên trách của ngành, được phân công trách nhiệm, hoặc chuyên viên văn hóa cơ sở chính là chuyên viên văn hóa xã, phường Phẩm chất cần có của người làm công tác thực thi QLNN đối với hoạt động lễ hội truyền thống là:

Nắm chắc chính sách và luật pháp của nhà nước có liên quan tới lĩnh vực tác nghiệp

Có khả năng giao tiếp, kinh nghiệm làm việc với cộng đồng và có ý thức tích lũy kinh nghiệm

Hiểu biết về văn hóa nghệ thuật, nhất là văn hóa nghệ thuật truyền thống của dân tộc và địa phương mình Thường xuyên học hỏi để nâng cao trình độ

Hiểu biết sâu về lễ hội, nhất là những hình thức hoạt động lễ hội truyền thống diễn ra trên địa bàn

Trang 32

Có kiến thức về quản lý văn hóa nghệ thuật

Có tinh thần trách nhiệm cao đối với sự nghiệp

Có đạo đức trong sáng và lối sống tốt

Nhiệm vụ chủ yếu của thực thi QLNN đối với hoạt động lễ hội truyền thống là:

Là cầu nối giữa các bên liên quan trong hoạt động quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống

Thực thi chức năng hướng dẫn - kiểm tra - giám sát và phối hợp xử lý

vi phạm với tinh thần trách nhiệm cao, phù hợp với chính sách, luật pháp và các quy định của địa phương

Biết động viên, khuyến khích những việc làm tốt và ngăn ngừa những việc làm không tốt trong hoạt động lễ hội truyền thống

Làm đúng và làm tốt những nhiệm vụ công tác cụ thể được tổ chức giao phó Việc quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống cần sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức Nhà nước, các hội viên trong các đoàn thể chính trị - xã hội Nếu đội ngũ này thực sự gương mẫu chấp hành nghiêm chỉnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội, thì hoạt động lễ hội truyền thống tất sẽ chuyển biến tích cực, giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực nảy sinh Cán bộ, công chức cần phân biệt rõ rệt việc công, việc tư khi tham gia lễ hội truyền thống, không lợi dụng việc công vào hoạt động lễ hội truyền thống, gây phản cảm trước công chúng

Ngày nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của nguồn lực con người trong mọi hoạt động của đời sống Trong quản lý tổ chức các hoạt động của lễ hội truyền thống nói riêng, có thể coi các nhà tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống là yếu tố quan trọng tạo nên thành công của lễ hội truyền thống Họ là người chịu trách nhiệm chính trong việc huy động, kết nối, tổ chức và điều hành các nguồn để tạo ra một sản phẩm lễ hội truyền thống Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ

Trang 33

QLNN về hoạt động lễ hội truyền thống là việc cần được tiến hành khẩn trương và có hiệu quả thiết thực, đồng thời là kế hoạch lâu dài trong chiến lược QLNN đối với hoạt động lễ hội truyền thống

Bốn là, Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về lễ hội

Thường xuyên triển khai tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật

về quản lý di tích, lễ hội bằng nhiều hình thức khác nhau như: Thông tin, tuyên truyền trên các tạp chí, bản tin trong và ngoài ngành, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, các cuộc thi tìm hiểu Luật Di sản văn hóa cho các đối tượng có liên quan đến công tác này

Sau mỗi mùa lễ hội, đều tổ chức hội nghị tổng kết, đánh giá công tác quản lý, tổ chức lễ hội Chú trọng công tác quảng bá di sản văn hóa bằng việc biên soạn, xuất bản và phát hành rộng rãi các ấn phẩm giới thiệu về lễ hội, di tích, di sản văn hóa phi vật thể của địa phương

Năm là, Sử dụng các nguồn lực và hợp tác để bảo vệ và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống

Quản lý nhà nước thực hiện huy động, quản lý, sử dụng 02 nguồn lực

cơ bản là nguồn lực về vật chất và nguồn lực về con người

Nguồn lực vật chất bao gồm nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống từ ngân sách nhà nước, các khoản thu từ hoạt động tổ chức, phát huy giá trị lễ hội và tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu trong đó có các lễ hội truyền thống cấp nhà nước, cấp tỉnh và các lễ hội gắn với di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng cấp quốc gia

Nguồn nhân lực bao gồm nhân lực thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống và nhân lực tham gia hoạt động tổ chức lễ hội Công tác tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực quyết định hiệu quả quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống

Trang 34

Trên cơ sở các công ước quốc tế về Di sản mà Việt nam phê duyệt, quản lý nhà nước trong tổ chức, hợp tác quốc tế bao gồm xây dựng và thực hiện chương trình, dự án quốc tế, tham gia các tổ chức, điều ước quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; lễ hội truyền thống; Hợp tác trong việc bảo hộ di sản văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài; Đào tạo bồi dưỡng, trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa của di sản văn hóa phi vật thể nói chung và lễ hội nói riêng

Sáu là, Tổng kết, đánh giá quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

Liên quan đến việc cấp phép và báo cáo việc tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống, muốn mở hội, ngành văn hóa Quận cùng các tổ chức xã hội báo cáo kế hoạch tổ chức, nội dung và biện pháp chỉ đạo hội lên cơ quan văn hóa cấp trên, nếu được chấp nhận mới được mở hội Bộ Văn hóa quyết định việc

mở hội của các hội lớn, có phạm vi ảnh hưởng tới nhiều tỉnh Sau lễ hội truyền thống, ban tổ chức tổng kết đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm cho lần tổ chức tiếp theo, báo cáo bằng văn bản lên cơ quan văn hóa cấp trên

Quy chế tổ chức lễ hội 2001 quy định những hoạt động lễ hội truyền thống đã được tổ chức thường xuyên, liên tục, định kỳ, lễ hội lịch sử cách mạng tiêu biểu có ý nghĩa giáo dục truyền thống không phải xin phép, nhưng báo cáo bằng văn bản với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin trước thời gian tổ chức lễ hội 20 ngày về thời gian, địa điểm, nội dung, kịch bản và danh sách Ban tổ chức lễ hội truyền thống; lễ hội truyền thống do cấp xã tổ chức phải báo cáo với Phòng Văn hóa - Thông tin, lễ hội

do cấp huyện tổ chức phải báo cáo với Sở Văn hóa - Thông tin, lễ hội do cấp tỉnh tổ chức phải báo cáo với Bộ Văn hóa - Thông tin và sau khi nhận được báo cáo quy định tại khoản 2 điều này, cơ quan Văn hóa - Thông tin có trách nhiệm báo cáo với Uỷ ban Nhân dân cùng cấp Ngoài ra, lễ hội truyền thống

do làng, ban tổ chức không phải báo cáo với cơ quan Văn hóa - Thông tin, nhưng phải tuân theo những quy định có liên quan tại Quy chế này

Chỉ thị số 16/CT - BVHTTDL Ngày 03 tháng 02 năm 2010 của Bộ Văn

Trang 35

hóa Thể thao và Du lịch về việc tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích Bộ giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo với Lãnh đạo Bộ kết quả thực hiện Chỉ thị này địa phương theo quy định: Hoàn thành và gửi Báo cáo định kỳ về tổ chức tình hình tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tại các di tích ở địa phương trong dịp lễ hội đầu năm ( lễ hội Xuân ) trước ngày 30/4 hàng năm

Hoàn thành gửi báo cáo định kỳ tổng kết tình hình tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tại các di tích ở địa phương hằng năm trước ngày 30 tháng 10

Thực hiện báo cáo đột xuất với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và với Bộ VHTT&DL những trường hợp phức tạp liên quan đến việc tổ chức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tại di tích để được chỉ đạo và phối hợp giải quyết kịp thời

Bảy là, Thanh tra, kiểm tra hoạt động QLNN về lễ hội

Việc tổ chức thực hiện các hoạt động kiểm tra, thanh tra là công việc cần được thực hiện thường xuyên và sâu sát tới từng lễ hội Thông qua việc kiểm tra, thanh tra, các nhà tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống mới có thể phát hiện và xử lý kịp thời các tình huống xảy ra, các trường hợp vi phạm; biểu dương tôn vinh kịp thời những tập thể và cá nhân đóng góp tích cực; khuyến khích, nhân rộng những mô hình mới, những lễ thức mới tiến bộ mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc; đánh giá và rút kinh nghiệm qua các kỳ lễ hội Quyết định số 636/QĐ-QC ngày 21/5/1994 của Bộ Văn hóa - Thông tin được ban hành quy chế tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống đi kèm với việc kiểm tra, thanh tra, tổng kết, báo cáo việc thực thi quy chế hàng năm lên Bộ Văn hóa

Các tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện chức năng giám sát, quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên và các hội viên trong việc thực hiện Chỉ thị số 27 - CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về thực

Trang 36

hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và Kết luận 51 KL/TW của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 27 - CT/TW Đảng Thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, đối thoại giữa các nhà quản lý với các nhà nghiên cứu văn hóa và người dân tham gia trực tiếp hoạt động lễ hội truyền thống, để thống nhất đánh giá tình hình hoạt động lễ hội truyền thống, từ

-đó có biện pháp xử lý các vấn đề nảy sinh trong quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống Các cơ quan QLNN về văn hóa ở các cấp tiến hành sơ kết, tổng kết quản lý hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn, phát hiện vấn đề kịp thời điều chỉnh, bổ sung các quy định phù hợp với thực tiễn vào các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về hoạt động lễ hội truyền thống, làm cơ sở pháp lý để hướng dẫn và quản lý tốt hoạt động lễ hội truyền thống

Các văn bản pháp quy ngày càng hoàn thiện, cụ thể hơn về các quy định đối với việc nghiêm cấm một số hành vi tại nơi tổ chức lễ hội Quy chế

tổ chức lễ hội 2001 quy định chi tiết:

1 Lợi dụng hoạt động lễ hội truyền thống để tổ chức hoạt động chống phá lại Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, gây mất trật tự an ninh, tuyên truyền trái pháp luật, chia rẽ đoàn kết dân tộc

2 Tổ chức các hoạt động mê tín dị đoan, phục hồi hủ tục trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc

3 Tổ chức các dịch vụ sinh hoạt ăn nghỉ và dịch vụ tín ngưỡng trong khu vực nội tự

4 Đánh bạc dưới mọi hình thức

5 Đốt đồ mã

6 Những hành vi vi phạm pháp luật khác

Về nguyên tắc, những điều khoản này càng được quy định chi tiết, càng

dễ cho công tác thực thi ở cấp cơ sở Bên cạnh đó, việc ban hành Nghị định số 31/2001/NĐ-CP ngày 26/6/2001 và sau đó là Nghị định số 56/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hóa - thông tin

Trang 37

trong đó quy định những mức phạt cho các hành vi này Ngoài ra, Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa ban hành theo Nghị định số 11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ cũng đã tạo điều kiện cho việc thực thi quy chế trở nên dễ dàng hơn nhiều

Trong biện pháp tổ chức thực hiện các công văn, chỉ thị, quyết định của

Bộ, Bộ giao cho thanh tra Bộ phối hợp với thanh tra các tỉnh thành và các cơ quan chức năng của Bộ tiến hành kiểm tra, thanh tra, kịp thời sửa sai và đề xuất xử lý nghiêm minh tập thể, cá nhân vi phạm nội dung Chỉ thị số 27- CT/TW và Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg

Về công tác quản lý, tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống ở các địa phương, điều nổi bật nhất đó là hầu hết các Quận/Huyện đều nhận định Công điện 162/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có tác động trực tiếp tới lãnh đạo Quận ủy, UBND các Quận và ngành liên quan, giúp nâng cao nhận thức về công tác quản lý và tổ chức lễ hội

1.2.3 Phương pháp quản lý hoạt động lễ hội truyền thống

Một là, Phương pháp giáo dục, thuyết phục

Tích cực phối hợp với các phòng, ban, ngành của Quận trong việc quản

lý và tổ chức lễ hội truyền thống; định hướng tuyên truyền về giá trị, ý nghĩa giáo dục của lễ hội; vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện nếp sống văn minh khi tham gia lễ hội

Tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, nhân dân và du khách thập phương nghiêm túc thực hiện các quy định của Nhà nước về tổ chức lễ hội Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giới thiệu về nguồn gốc của lễ hội, di tích và các nhân vật được thờ phụng, tôn vinh; bảo tồn

có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc theo xu hướng lành mạnh, tiến bộ, tiết kiệm, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của địa phương, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân

Hai là, Phương pháp hành chính

Trang 38

Tuyệt đối chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, Quy chế và Thông tư của các Bộ, ngành; quy định của Thành phố liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động lễ hội; tiếp tục thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội

Có biện pháp chấn chỉnh, xử lý các vi phạm trong công tác quản lý, tổ chức lễ hội Không để xảy ra các hoạt động, hành vi phản cảm, đi ngược lại truyền thống văn hóa của dân tộc Đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong quy hoạch du lịch nhất là du lịch tâm linh Bảo đảm an ninh, an toàn cho nhân dân

và du khách khi tham gia lễ hội Bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội Tổ chức các hoạt động dịch vụ trong tổ chức lễ hội và hoạt động bảo

vệ di tích lịch sử

Rà soát việc xây dựng văn bản quản lý nhà nước về lễ hội; đề xuất xây dựng văn bản mới để kịp thời đáp ứng công tác quản lý trong thời kỳ mới Chủ động, kịp thời tham mưu cho lãnh đạo Quận ban hành các văn bản chỉ đạo về quản lý và tổ chức lễ hội

Chỉ đạo Ban Quản lý di tích, Ban Tổ chức lễ hội có phương án quản lý hòm công đức; sử dụng tiền công đức công khai, minh bạch và đúng mục đích Không đưa các linh vật ngoại lai, hiện vật lạ không phù hợp với thuần phong mỹ tục của Việt Nam vào các khu di tích, khu thờ tự, đảm bảo tính nguyên trạng của di tích theo đúng Luật di sản văn hoá và các văn bản hướng dẫn thi hành

Tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội, giảm tần suất, quy mô

tổ chức lễ hội, ngày hội Không cấp phép, tổ chức lễ hội tràn lan, vì mục đích thương mại, vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh Chỉ đạo dừng tổ chức đối với những lễ hội có nội dung phản cảm, bạo lực, gây bức xúc dư luận xã hội

Ba là, Phương pháp kinh tế

Trang 39

Quy hoạch, quản lý và tổ chức tốt các dịch vụ diễn ra trong lễ hội Đảm

bảo an ninh trật tự và công tác vệ sinh môi trường trước, trong và sau lễ hội

Xây dựng phương án phòng chống cháy nổ, bảo vệ di tích, cổ vật, tránh gây thất thoát, mất cắp hay hư hại các hiện vật có giá trị trong di tích; đảm bảo

về an ninh trật tự, không để ô nhiễm môi trường, hiện tượng cờ bạc, trộm cắp, chèo kéo khách, ép giá, đổi tiền lẻ, đặt nhiều hòm công đức, thu phí trông giữ phương tiện giao thông vượt quá mức quy định…

Bốn là, Phương pháp xã hội hóa

Làm tốt công tác xã hội hóa trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, du khách thập phương và nhân dân trên địa bàn các phường trong việc

tổ chức các hoạt động quản lý lễ hội truyền thống và tu bổ, tôn tạo các di tích

Công tác xã hội hóa quản lý và tổ chức lễ hội được thực hiện tốt, 100% kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nhân dân; các hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian như: vật, võ dân tộc, đánh đu, cờ người, thổi cơm thi, đua thuyền, bơi…được quan tâm khôi phục

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã tìm hiểu về cơ sở lý luận, đồng thời làm rõ một số khái niệm liên quan đến lễ hội và cơ sở lý luận về lễ hội, quản lý lễ hội truyền thống Bên cạnh đó tác giả cũng đề cập đến một số văn bản quản lý nhà nước liên quan đến lễ hội Tác giả cũng đã khái quát được quá trình hình thành, phát triển và phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa cũng như tổng quan

về di tích, lễ hội truyền thống của quận Bắc Từ Liêm Lễ hội truyền thống của quận Bắc Từ Liêm tái hiện và gắn liền với sinh hoạt nông nghiệp với nghi thức rước kiệu Mẫu, rước nước độc đáo thể hiện tín ngưỡng nông nghiệp của người dân địa phương đồng thời thể hiện lòng tri ân, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” của dân tộc ta Trong lễ hội có những trò chơi dân gian đặc sắc, các hình thức diễn xướng dân gian mang nhiều sắc thái và ý nghĩa khác nhau, qua đó lễ hội đã bảo tồn

và lưu giữ những nét văn hóa địa phương và mang lại nguồn thu nhập cho nhân dân Những vấn đề rút ra từ chương 1 là cơ sở để luận văn tiếp tục tìm hiểu, phân tích và đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động lễ hội truyền thống ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong chương 2

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm