1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vov1, đài tiếng nói việt nam với vấn đề bảo vệ môi trường (khảo sát các chương trình môi trường và phát triển, thời sự, nông nghiệp và nông thôn, chính phủ với người dân năm 2015)

147 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của các loại hình báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đòi hỏi phải có sự đổi mới về cách thức thông tin tuyên truyền, cũng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trần Bá Dung

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “VOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam với vấn đề bảo vệ môi trường” được hoàn thành tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập, có tính kế thừa những kết quả nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu khoa học cũng như sách, báo có liên quan

Đây là sản phẩm nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công

bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào

Tác giả

Nguyễn Thúy Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 9

1.1 Một số khái niệm 9

1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ môi trường 14

1.3 Vai trò và thách thức của vấn đề bảo vệ môi trường trên báo chí hiện nay 20

1.4 Vai trò của Đài TNVN trong việc thông tin, tuyên truyền về bảo vệ môi trường 28

Chương 2: THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN HỆ THỜI SỰ CHÍNH TRỊ TỔNG HỢP VOV1 40

2.1 Vài nét về Đài Tiếng nói Việt Nam và Hệ thời sự chính trị tổng hợp VOV1 40

2.2 Thực trạng tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường trên VOV 1 47

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN CỦA HỆ VOV1 VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 87

3.1 Đánh giá về việc tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường trên Hệ VOV1 87

3.2 Các giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường trên Hệ VOV1 93

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 116

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BĐKH : Biến đổi khí hậu

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CT : Chương trình

ĐDSH : Đa dạng sinh học

NXB : Nhà xuất bản

TNVN : Tiếng nói Việt Nam

VOV1 : Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp, Đài Tiếng nói Việt Nam VOV2 : Hệ Văn hoá - Đời sống - Khoa giáo

VOV3 : Hệ Âm nhạc - Thông tin - Giải trí

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Tỷ lệ người nghe chương trình VOV1 43

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nghe những thông tin về vấn đề bảo vệ môi trường qua các chương trình trên VOV1 47

Biểu đồ 2.3: Nội dung tuyên truyền về vấn đề bảo vệ môi trường 49

Biểu đồ 2.4 Nội dung quan tâm trong công tác bảo vệ môi trường 69

Biểu đồ 2.5 Biểu đồ phân chia các thể loại báo chí 78

Bảng 3.6 Hiệu quả của các thông tin tuyên truyền về bảo vệ môi trường 90

Sơ đồ 3.7 Sự cần thiết tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường trên VOV1 94

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người Cuộc sống của chúng ta luôn gắn bó mật thiết với môi trường: môi trường tạo không gian sinh sống, cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho sự sống và hoạt động sản xuất Đồng thời là nơi chứa đựng, hấp thụ và trung hòa các chất thải ra từ quá trình sinh sống và sản xuất của con người… Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng môi trường ô nhiễm đang ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp tồn tại nhiều vấn đề bức xúc và nan giải trên phạm vi toàn cầu Tình trạng

lũ lụt, nắng nóng, rét kỷ lục, nước biển dâng… xảy ra nhiều tại nhiều quốc gia trên thế giới trong những năm gần đây đã gây lên nhiều tác động tiêu cực đến đến môi trường sống và con người

Ở nước ta vấn đề về tài nguyên thiên nhiên và môi trường cũng đang đứng trước những thách thức to lớn, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ nghiêm trọng, biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, môi trường, không khí, nước mặt và đất đang bị ô nhiễm Đặc biệt, trong những diễn biến gần đây nhất ở nước ta là tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn tại khu vực Tây nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long… đang gây thiệt hại nặng nề cho bà con nói riêng và ảnh hưởng lớn tới an ninh lương thực, an sinh

xã hội cũng như an ninh quốc phòng Trong vòng 50 năm qua nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,5 độ C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ, mực nước biển đã dâng hơn 20cm Theo kịch bản được công bố mới đây: vào cuối thế kỷ 21 nhiệt độ trung bình của Việt Nam tăng từ 2 độ C đến 3 độ C; lượng mưa năm tăng trên hầu hết khắp lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2% đến 7%, nước biển dâng trung bình vào khoảng từ 57cm đến 73cm… cho thấy các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số… dẫn

Trang 8

đến việc biến đổi khí hậu đã và đang tạo ra nhiều áp lực, ảnh hưởng đến môi trường và tài nguyên Bảo vệ môi trường sinh thái hiện nay không còn là vấn

đề của mỗi quốc gia, một dân tộc mà trở thành một vấn đề toàn cầu

Đài Tiếng nói Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam, với chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình phát thanh 70 năm qua, Đài Tiếng nói Việt Nam luôn

là một trong những cơ quan báo chí đi đầu trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) là Hệ phát thanh quan trọng của Đài TNVN được phát sóng từ 4h45 phút đến 24 giờ hàng ngày Đây là kênh phát sóng đặc biệt quan trọng, luôn đi đầu về tuyên truyền kịp thời, hấp dẫn, nhiều chủ trương, đường lối cũng như lên án, cảnh báo những tác động làm ảnh hưởng đến môi trường sống hiện nay Để thực hiện việc tuyên truyền

về môi trường ngày càng hiệu quả, điều tất yếu các chương trình này cần đổi mới và nâng cao chất lượng

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của các loại hình báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đòi hỏi phải có sự đổi mới về cách thức thông tin tuyên truyền, cũng như phải không ngừng nâng cao chất lượng nội dung các chương trình phát thanh về công tác bảo vệ môi trường nhằm thu hút được sự quan tâm, chú ý của đông đảo thính giả

Từ đó nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường sinh thái hiện nay trong bối cảnh đất nước đang trên con đường phát triển công nghiệp hóa, hiện đại

hóa Đây chính là lý do để tác giả quyết định chọn vấn đề “VOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam với vấn đề bảo vệ môi trường” làm đề tài nghiên cứu

cho luận văn của mình

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về Hệ VOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam cụ thể như:

Luận văn thạc sĩ “Đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình Thời sự

của Đài Tiếng nói Việt Nam” của Đồng Mạnh Hùng (2006) Cơ sở đào tạo:

Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tác giả đã khảo sát thực trạng và nêu những giải pháp nâng cao hiệu quả các chương trình Thời sự của Hệ VOV1 Những nhận định, giải pháp mà tác giải nêu ra là cơ sở đề chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn của mình Tuy nhiên, luận văn mới chỉ đi sâu nghiên cứu chương trình Thời sự

mà chưa đề cập đến các chương trình chuyên đề, chương trình tổng hợp của

Hệ VOV1; giải pháp tác giả đưa ra chưa có tính khái quát

Ngoài ra còn có luận văn “Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp của Đài Tiếng nói Việt Nam” của Tạ Toàn (2004), Cơ sở đào tạo: Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam” của Trần Thị Minh Tâm

(2006), Cơ sở đào tạo: Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã

hội và Nhân văn … Nhìn chung các công trình khoa học này đã nghiên cứu một cách cơ bản về những thành tựu và những vấn đề cần đổi mới đáp ứng xu hướng mới của công chúng Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào chuyên sâu nghiên cứu về vấn đề tuyên truyền bảo vệ môi trường trên Hệ VOV1

Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài này, tác giả vấp phải những khó khăn nhất định, không được kế thừa thành tựu của các đồng nghiệp đi trước Do đó luận văn về “VOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam với vấn đề bảo vệ môi trường” của tác giả là công trình khoa học mới, độc lập, mang tính thời sự Luận văn còn kế thừa kết quả nghiên cứu của các đề tài và công trình khoa học cũng như sách, báo, tạp chí có liên quan, việc nghiên cứu đề tài này sẽ đóng góp thiết thực vào việc nâng cao chất lượng công tác thông tin về bảo vệ môi trường trong thời gian tới của Hệ VOV1- Đài Tiếng nói Việt Nam

Trang 10

Luận văn “Tổ chức đội ngũ cộng tác viên tạp chí ngành tài nguyên và môi trường” (Khảo sát Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Tạp chí Môi

trường, Tạp chí Khí tượng Thuỷ văn, Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ,

Tạp chí Địa chất) của Kiều Đăng Tuyết (2012), Cơ sở đào tạo: Học viện Báo

chí và Tuyên truyền Đề tài được thực hiện nhằm hướng đến việc nâng cao hoạt động tổ chức đội ngũ cộng tác viên, góp phần nâng cao chất lượng các tạp chí ngành Tài nguyên và Môi trường, đặc biệt là Tạp chí Tài nguyên và Môi trường hiện nay…

Luận văn “Vấn đề bảo vệ môi trường trên báo in hiện nay” (Khảo sát

báo Tài nguyên Môi trường, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Lao động) của

Phạm Thị Minh Thắm (2011), Cơ sở đào tạo: Học viện Báo chí và Tuyên

truyền Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về môi trường tự nhiên và vai trò của báo chí đối với bảo vệ môi trường tự nhiên; Khảo sát thực trạng phản ánh của một số tờ báo tuyên truyền về bảo vệ môi trường tự nhiên Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin báo chí, góp phần nâng cao vai trò của báo chí đối với bảo vệ môi trường tự nhiên trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài

Bên cạnh đó cùng đề tài nghiên cứu về môi trường còn có Luận văn

"Đề tài môi trường trên báo chí hiện nay" của Mai Thị Dung (2006), Cơ sở đào tạo: Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Luận văn “Đánh giá tác động của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh” của Trần Việt Phương (2009), Cơ sở đào tạo: Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Tuy nhiên, các luận văn này đều đề cập đến đề tài môi trường trên báo

in mà không đề cập đến báo phát thanh

Về sách có các tác phẩm như: Nhà báo môi trường thời toàn cầu hoá, Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam (Nxb Hà Nội, 2005); Quy hoạch môi trường phát triển bền vững, Những quy định về môi trường đô thị, Nguyễn Thị Thu Hương (Nxb Lao động năm 2003); Ảnh hưởng của ô nhiễm

Trang 11

môi trường ở một số khu công nghiệp phía Bắc tới sức khỏe cộng đồng, Trần Văn Tùng, (Nxb Khoa học xã hội Hà Nội năm 2005)…

Cuốn “Nhà báo môi trường thời toàn cầu hóa” giống như một cuốn cẩm nang hướng dẫn cụ thể quy trình, những vấn đề thường gặp phải của những nhà báo viết về môi trường trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Một số sách về phát thanh như:

- Đức Dũng, (2003), Lý luận báo phát thanh, NXB Văn hóa-Thông tin;

- Đức Dũng (2004), Phóng sự báo chí hiện đại, NXB Thông tấn, Hà Nội

- Nguyễn Đình Lương, (1993), Nghề báo nói, NXB Văn hóa-Thông tin

- Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), (2006), Tác phẩm báo chí (tập 2), NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội

- V.V.Xmirnốp, Các Thể loại báo chí phát thanh, NXB Thông Tấn,

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận; phân tích những ưu thế và hạn chế thông tin, tuyên truyền với vấn đề bảo vệ môi trường trên Hệ VOV1- Đài Tiếng nói Việt Nam, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

Trang 12

hiệu quả trong việc thông tin, tuyên truyền về vấn đề bảo vệ môi trường thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận, các khái niệm liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường

- Nghiên cứu vấn đề tuyên truyền bảo vệ môi trường qua 4 chương

trình cụ thể: Thời sự, Môi trường và phát triển, Nông nghiệp và nông thôn, Chính phủ với người dân thuộc Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1)

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề tuyên truyền bảo vệ môi trường trên hệ VOV1 nói riêng và các chương trình phát thanh nói chung

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vấn đề tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường trên các chương trình: Thời sự, Môi trường và phát triển, Nông nghiệp

và nông thôn, Chính phủ với người dân, thuộc Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1)

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào việc tuyên truyền vấn

đề bảo vệ môi trường trên Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp, Đài Tiếng nói Việt Nam Thời gian khảo sát năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước; lý luận về báo chí đối với việc tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp khảo sát thực tiễn, phân tích nội dung các chương trình phát trên VOV1; Phương pháp điều tra xã hội học: tác giả luận văn khảo sát đại bàn 4 xã, thị trấn tại thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh,

cụ thể: xã Kim Hoa, thị trấn Quang Minh, Thành phố Hà Nội; Phường Đồng

Kỵ, Khu phố Đa Hội, Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh Thời gian từ tháng 11

Trang 13

và tháng 12 năm 2015 Qua các phương pháp thực hiện, luận văn sẽ đưa ra

những đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường trên Hệ VOV1

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài nghiên cứu góp phần vào việc khẳng định vai trò của báo chí đối với công tác bảo vệ môi trường Đây là bước tiếp cận việc tuyên truyền về bảo vệ môi trường trên báo chí nói chung và báo phát thanh nói riêng Từ đó kết quả nghiên cứu của luận văn bổ sung vào hệ thống tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp cái nhìn khái quát về công tác tuyên truyền về bảo

vệ môi trường trên VOV1 Trên cơ sở đó, luận văn đánh giá các chương trình của Hệ VOV1 với vấn đề bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả tuyên truyền về đề tài này trên sóng phát thanh

Qua đây, những người thực hiện các chương trình trên VOV1 có thể nhìn nhận được những mặt được và những mặt còn hạn chế trong công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường, từ đó có hướng điều chỉnh cho phù hợp Đồng thời, những người làm phát thanh nói chung cũng sẽ có những bài học

cụ thể để thực hiện tốt hơn công tác tuyên truyền

7 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

Hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường trên báo chí

Luận văn sẽ chỉ ra những chỗ trống hoặc thiếu sót, hạn chế trong việc tuyền truyền về vấn đề bảo vệ môi trường của các chương trình được khảo sát trên Hệ VOV1- Đài Tiếng nói Việt Nam Từ đó, đề xuất phương hướng, giải

Trang 14

pháp, kiến nghị mang tính khả thi để giúp nâng cao hơn hiệu quả việc tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường trên Hệ VOV1

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận về báo chí với vấn đề bảo vệ môi trường Chương 2: Thực trạng tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường trên Hệ

Thời sự chính trị tổng hợp VOV1

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng tuyên

truyền của Hệ VOV1 về vấn đề bảo vệ môi trường

Trang 15

Theo nghĩa rộng, tuyên truyền có nghĩa là truyền bá những quan điểm, những tư tưởng về chính trị, về triết học, về khoa học, nghệ thuật mà mục đích là biến những quan điểm tư tưởng đó thành ý thức xã hội và nâng cao tính tích cực trong hoạt động thực tiễn của quẩn chúng

Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tiễn phù hợp với thế giới

Trong cuốn sách “Nguyên lý công tác tư tưởng” - PGS TS Lương Khắc Hiếu (chủ biên) cho rằng:

Tuyên truyền là một hình thái của công tác tư tưởng, nhằm truyền bá hệ

tư tưởng và đường lối, chiến lược, sách lược của giai cấp trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ hệ tư tưởng, bồi dưỡng tình cảm, củng cố niềm tin và tập hợp, cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó [26, tr 15]

Trang 16

TS Nguyễn Quốc Bảo, tác giả của cuốn sách “Học tập Phương pháp Tuyên truyền Cách mạng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia (2006) đưa

ra khái niệm như sau:

Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một tư tưởng, một học thuyết, một quan điểm nào đó, nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ và tính tích cực của con người trong thực tiễn xã hội [1, tr.15]

Theo PGS TS Tạ Ngọc Tấn trong giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí” Nxb Văn hoá - Thông tin (1992) thì:

Tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bá trong quần chúng nhân dân những tư tưởng nền tảng, những quan điểm chính yếu của hệ tư tưởng, của chế độ nhằm hình thành một bức tranh đặc trưng về thế giới và lịch sử vận động của xã hội” [47, tr.94]

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tuyên truyền như sau:

Tuyên truyền là một hoạt động có mục đích của một chủ thể đến các khách thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng

đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm, cổ vũ các khách thể hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra

1.1.2 Bảo vệ môi trường

Môi trường

Về khái niệm môi trường hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, môi trường là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người Môi trường cũng là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên cần thiết cho quá trình sản xuất ra của cải vật chất Trong quá trình khai thác tài nguyên, nếu như mức độ khai thác nhanh hơn mức độ tái tạo thì gây ra tình trạng khan hiếm, cạn kiệt về môi trường

Trang 17

Quan điểm thứ hai cho rằng, môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một sự vật nào đó Đối với cơ thể sống thì môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể Tương tự như vậy, môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống, sự phát triển của từng cá nhân

và toàn bộ cộng đồng người Thuật ngữ "môi trường" thường dùng với nghĩa này bởi ở định nghĩa này môi trường được đề cập một cách toàn diện hơn với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó, bao quanh mọi cơ thể sống Môi trường

có quan hệ với sự sống, gắn chặt với sự sống

Quan điểm thứ ba cho rằng, môi trường ở thời điểm nhất định là tập hợp các nhân tố vật lý, hóa học, sinh học và xã hội gây nên tác động gián tiếp hoặc trực tiếp, trước mắt hoặc lâu dài tới các loài vật sống và hoạt động của con người

Theo cuốn “Hỏi đáp về bảo vệ môi trường” của Sở Khoa học, Công

nghệ và Môi trường tỉnh Đồng Nai, Nxb Tổng hợp Đồng Nai (1999):

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất, tạo quan

hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên” [29, tr 12,13]

Theo PGS.TS Trần Hữu Uyển, PTS Trần Đức Hạ tác giả cuốn “Bảo vệ nguồn nước chống ô nhiễm và cạn kiệt”, Nxb Nông nghiệp (1995):

Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật Mọi vật thể, mỗi sự kiện đều tồn tại và diễn biến trong một môi trường” [57, tr 11]

Giáo trình “Dân số, môi trường, tài nguyên” của Bộ Giáo dục đào tạo,

Nxb Giáo dục (1998) đưa ra định nghĩa:

Trang 18

Môi trường là vùng vật lý và sinh học xung quanh loài người Con người cần đến sự hỗ trợ của môi trường xung quanh để sống Mối quan hệ giữa loài người và môi trường xung quanh khăng khít đến mức sự phân biệt giữa cá thể và môi trường bị xóa mờ đi Tuy nhiên, chúng ta hiểu môi trường là sinh quyển bao gồm không khí, nước, đất đai, và hệ sinh sống có ảnh hưởng đến cuộc sống của con người Có thể nhìn nhận môi trường bao gồm hai mặt chủ yếu sau: sinh- vật lý và kinh tế - xã hội Mặt thứ nhất bao gồm, các yếu tố vật chất, sinh học và là phương tiện cho mặt thứ hai bao gồm, các hoạt động kinh tế, chính trị, trí tuệ của con người [8, tr 162,163]

Theo “Những quy định phát luật về môi trường đô thị”, Nxb Lao

động (2003):

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên [39, tr 17]

Luật bảo vệ môi trường 2014 được Quốc hội khóa 13 thông qua vào kỳ họp thứ 7 ngày 23/6/2014 và có hiệu lực từ 1/1/2015: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật

Như vậy, theo khái niệm môi trường tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: “Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố vật chất bao quanh con người, sinh vật, ảnh hưởng và tác động đến các hoạt động sống của con người, sinh vật Các yếu tố vật chất này gồm các nhân tố tự nhiên, không do con người tạo ra như đất, nước, không khí… và các nhân tố nhân tạo do con người tạo nên như các khu đô thị, công viên nhân tạo… Các nhân tố này không tồn tại một cách độc lập mà

Trang 19

có sự đan xen lẫn nhau, thay thế cho nhau tạo nên môi trường sống

đa dạng, phong phú của con người và sinh vật” [29, tr.7, 8]

Bảo vệ môi trường

Là tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp

lý sinh giới (sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, khí hậu…) Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học

Trong “Mô hình phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường” của Phan Công Chung nêu định nghĩa bảo vệ môi trường là:

Bảo vệ môi trường sinh sống của loài người khỏi bị ô nhiễm Đồng thời các loài sinh vật trong thế giới tự nhiên được bảo vệ Do đó, cần phải loại trừ những nhân tố bất lợi phá hoại môi trường, ảnh hưởng xấu tới đời sống và sinh tồn của loài người [5, tr 65, 66]

Trong “Những quy định phát luật về môi trường đô thị” nêu định nghĩa:

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên” [39, tr 17]

Theo điểm 3, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014:

Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác,

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành [29, tr.9]

Trang 20

1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ môi trường

1.2.1 Quan điểm của Đảng về công tác bảo vệ môi trường

Trong xu thế hội nhập và phát triển sâu rộng với thế giới, nước ta có nhiều cơ hội nhưng cũng phải đang phải đối mặt với không ít những thách thức, tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước, đi kèm với ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Do đó, quan điểm nhất quán xuyên suốt trong các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về bảo vệ môi trường đó là: Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ

và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta và đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững

Đại hội IX đưa ra quan điểm phát triển:

Phát triển kinh tế- xã hội gắn chặt với bảo vệ môi trường và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học Chủ động phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên nhiên, của sự biến động khí hậu bất lợi và tiếp tục giải quyết hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường Bảo vệ và cải tạo môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, tăng cường quản lý nhà nước đi đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân Chủ động gắn kết yêu cầu cải thiện môi trường trong mỗi quy hoạch, kế hoạch, chương trình dự án phát triển kinh tế, xã hội, coi yêu cầu về môi trường là một tiêu chí quan trọng đánh giá các giải pháp phát triển [53, tr.163-164]

Đến Đại hội X, lần đầu tiên trong báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 trình Đại hội đưa ra chỉ tiêu về môi trường (độ che phủ rừng; tỷ lệ dân cư được dùng nước sạch; chỉ tiêu về xử lý

Trang 21

chất thải và “tăng cường bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” được xác định là một trong sáu nhiệm vụ thuộc định hướng phát triển ngành, lĩnh vực và vùng) Cụ thể:

Đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 42-43%; 95% dân cư thành thị và 75 dân

cư ở vùng nông thôn được sử dụng nước sạch 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 50% các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; 100% số đô thị loại

3 trở lên, 50% số đô thị loại 4 và tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải; 90% chất thải rắn thông thường, 80% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế được thu gom

và xử lý tiêu chuẩn môi trường [54, tr 190]

Đại hội XI đã đặt vấn đề “Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai” thành một định hướng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -

2020, là một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch 5 năm 2011 -

2015 gắn với phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức Cụ thể:

Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế- xã hội Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án Các dự án đầu tư xây dựng mới phải đảm bảo yêu cầu về môi trường Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý

các cơ sở gây ô nhiễm môi trường [55, tr.123-124]

Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên Quản lý, khai thách và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, nước,

Trang 22

khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác Hạn chế và tiến tới không xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên chưa chế biến Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững, từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, xử lý chất thải Đẩy mạnh công tác nghiên cứu,

dự báo khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và đánh giá tác động để chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng chống thiên tai và Chương trình quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế [55,

tr 124-125]

Tại Hội nghị Trung ương 7 Khóa XI đã ban hành Nghị quyết NQ/TW về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” Quan điểm về bảo vệ môi trường một lần nữa được khẳng định “Môi trường là vấn đề toàn cầu Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững Tăng cường bảo

24-vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hoà với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo

vệ sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng Đầu tư cho bảo

vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững”

Đại hội XI cũng đưa ra mục tiêu:

Cải thiện chất lượng môi trường đến năm 2020, tỷ lệ che phủ rừng đạt 45% Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh Các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô

Trang 23

nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện

có đạt tiêu chuẩn về môi trường Các đô thị loại 4 trở lên và ở tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại

và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu nhất là nước biển dâng [55, tr 97]

1.2.2 Chính sách phát luật của Nhà nước về công tác bảo vệ môi trường

Chính sách môi trường cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường (trong nước) và các Công ước quốc tế về môi trường Mỗi cấp quản lý hành chính đều có những chính sách môi trường riêng Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương Sự đúng đắn và thành công của chính sách cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp trung ương Cụ thể:

Theo “Luật bảo vệ môi trường và một số quy định hướng dẫn thi hành”, Nxb Lao động (2009) chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường được

quy định:

Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Ðẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử

lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi

Trang 24

trường đô thị, khu dân cư Ðầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và

bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành

và phát triển ngành công nghiệp môi trường Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại [36, tr 9]

Theo “Những quy định pháp luật về môi trường đô thị”, Nxb Lao

động (2003):

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân: tổ chức, cá nhân phải

có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Tổ chức cá nhân, nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ theo pháp luật Việt Nam

về bảo vệ môi trường Tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy thoái môi trường, gây

sự cố môi trường.[39, tr 20-21]

Tại Điều 5, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 quy định:

Trang 25

Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Tuyên truyền giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế và biện pháp khác để xây dựng kỷ cương và văn hóa bảo vệ môi trường Bảo tồn

đa dạng sinh học, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải Ưu tiên xử lý vấn

đề môi trường bức xúc, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường nguồn nước; chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư; phát triển hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường’’

Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường được quản lý thống nhất và ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực trọng điểm trong bảo vệ môi trường Ưu đãi, hỗ trợ về tài chính, đất đai cho hoạt động bảo vệ môi trường, cơ sở sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường Phát triển khoa học, công nghệ môi trường; ưu tiên nghiên cứu, chuyển giao và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường; áp dụng tiêu chuẩn môi trường đáp ứng yêu cầu tốt hơn về bảo vệ môi trường Gắn kết các hoạt động bảo vệ môi trường bảo vệ tài nguyên với ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường Nhà nước ghi nhận, tôn vinh cơ quan tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có đóng góp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường Mở rộng tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường; thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế

về bảo vệ môi trường.[29, tr 14-15]

Trang 26

Thực tế cho thấy, tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần có sự quản

lý của nhà nước và môi trường cũng không là ngoại lệ Hơn thế, bảo vệ môi trường còn là một hoạt động, nhiệm vụ phức tạp bởi môi trường là phạm vi rộng lớn và có kết cấu phức tạp nên rất cần có hệ thống tổ chức quản lý phù hợp, hiệu quả Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý để làm nền tảng đảm bảo hoàn thành tốt công tác quản lý Nhà nước đối với môi trường Do đó, Đảng ta nhấn mạnh:

Hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo vệ môi trường, xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm Khắc phục suy thoái bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái nâng cao chất lượng môi trường [55, tr.124]

1.3 Vai trò và thách thức của vấn đề bảo vệ môi trường trên báo chí hiện nay

1.3.1 Vai trò của công tác bảo vệ môi trường

Con người và môi trường tự nhiên có mối quan hệ rất chặt chẽ Sự tác động qua lại giữa con người với môi trường sẽ quyết định nên hình thái, môi trường sống cho con người Do đó, môi trường tự nhiên phải được bảo vệ một cách tốt nhất, phải tiết kiệm các nguồn tài nguyên, nâng cao tỷ lệ sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả, làm cho hệ sinh thái được tái sinh thường xuyên

Chính vì lẽ đó, Nghị quyết số 41 ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nêu rõ bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đất nước Đặc biệt, với quan điểm đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững, Nghị quyết số 24 ngày 3-6-2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo

vệ môi trường cũng khẳng định quan điểm bảo vệ môi trường kết hợp kiểm

Trang 27

soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường

Năm 1987, Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp quốc đưa ra khái niệm phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngưỡng sống của họ” Tuy nhiên, bước vào thế kỷ 21, chúng ta luôn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra như thủng tầng ozone, các bệnh dịch, không khí ô nhiễm… đây là hệ quả chúng ta phải hứng chịu do công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức

Tại Việt Nam, trong báo cáo "Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020", Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: "song song với phát triển kinh tế, Chính phủ chủ trương phát triển sản xuất sạch hơn nhằm bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và đầu tư lớn cho những giải pháp, công nghệ tiên tiến" Tuy nhiên, một thách thức lớn hiện nay là cần có nguồn lực đầu tư rất lớn để cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật bảo

vệ môi trường và trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường ở các cơ sở sản xuất, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Do đó, Việt Nam vẫn đang phải hứng chịu những tác động xấu từ môi trường mà do chính con người gây ra

1.3.2 Thách thức trong công tác bảo vệ môi trường

Thực tiễn cho thấy, môi trường đang tiếp tục xuống cấp và các vấn đề môi trường toàn cầu vừa nêu, đây là những thách thức nghiêm trọng đối với môi trường của nước ta trong thời gian tới Cụ thể là:

1.3.2.1 Nhiều vấn đề môi trường bức xúc chưa được giải quyết hiệu quả

Việt Nam đang đứng trước nguy cơ cao trở thành bãi thải công nghệ sản xuất của thế giới do công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm hiệu quả Đơn cử như việc tồn đọng 5400 container rác thải công nghiệp tại các

Trang 28

cảng biển của cả nước chưa có hướng xử lý; Công nghệ sản xuất lạc hậu, tiêu tốn nhiều tài nguyên; Nhiều khu vực bị nhiễm độc hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật sử dụng tràn lan… Nguy hại hơn về tình trạng tàn phá rừng đang gây mất cân bằng sinh thái, thu hẹp nơi cư trú của nhiều loài sinh vật dẫn đến nguy cơ cao mất đi nhiều loài sinh vật quý hiếm, được ưu tiên bảo vệ, các loài động vật hoang dã

Một số cấp ủy, chính quyền địa phương sẵn sàng bỏ qua các vấn đề môi trường để ưu tiên cho các hoạt động đầu tư phát triển vì những lợi ích kinh tế trước mắt Hậu quả là chúng ta sẽ phải mất chi phí gấp nhiều lần cho việc khắc phục ô nhiễm môi trường đã xảy ra

1.3.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu với năng lực quản lý nhà nước

Biến đổi khí hậu diễn biến nhanh, phức tạp hơn so với dự báo, tác động nhiều mặt lên môi trường nước ta như: Các vấn đề môi trường theo lưu vực sông Mê Công, sông Hồng, các sông xuyên biên giới ngày càng phức tạp bởi chất thải của các quốc gia đầu nguồn đổ xuống lưu vực Ô nhiễm trên biển diễn biến phức tạp và chưa có biện pháp ứng phó hiệu quả, đặc biệt nổi lên là

ô nhiễm từ khai thác dầu mỏ, giao thông vận tải… Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm, suy thoái môi trường rất lớn Theo ước tính, nếu GDP Việt Nam trong

10 năm tới tăng gấp đôi mà không quan tâm đúng mức tới công tác bảo vệ môi trường thì ô nhiễm môi trường sẽ tăng lên 3 lần so với hiện nay, đến năm

2025 có thể gấp 4 đến 5 lần; GDP cứ tăng 1% thì thiệt hại do ô nhiễm môi trường sẽ làm mất đi 3% GDP

Trong khi đó, tổ chức chuyên môn về bảo vệ môi trường, đặc biệt tại một số địa phương còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phân cấp quản lý; hầu hết các Chi cục bảo vệ môi trường chưa có tổ chức thực hiện chức năng quản lý bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn Năng lực điều phối, giúp Chính phủ và chính quyền các cấp thống nhất quản lý nhà nước về môi trường của ngành tài nguyên và môi trường còn nhiều bất cập, lúng túng và chưa hiệu

Trang 29

quả do còn chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng Đặc biệt, tình trạng nhân lực đạt được trình độ chuyên môn sâu ở tất cả các cấp còn thiếu rất nhiều cả về chất

và lượng

Trước vấn đề trên đang đặt ra cho Việt Nam cần sớm nắm bắt xu thế và

có những bước đi phù hợp trong nỗ lực thích ứng với biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu trong đó cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường; xây dựng thị trường cácbon là vấn đề cấp bách để mang lại môi trường than thiện hơn; tăng cường đào tạo chuyên môn sâu cho đội ngũ cán bộ môi trường…

1.3.3 Vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường

Đối với vấn đề môi trường, báo chí có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh loại bỏ thói quen xấu và xây dựng một lối sống văn minh, lành mạnh về mặt môi trường, nhất là góp phần tạo thành công luận đấu tranh với những việc làm sai trái, ủng hộ những đóng góp tích cực của tập thể, cá nhân trong công cuộc bảo vệ môi trường Báo chí tham gia vào công tác bảo vệ môi trường thực hiện mục tiêu phát triển bền vững cụ thể như sau:

1.3.3.1 Báo chí cung cấp thông tin, kiến thức nhằm nâng cao nhận thức

về bảo vệ môi trường cho công chúng

Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình Thông tin trở thành cầu nồi giữa công chúng và báo chí Mỗi khi có các hiện tượng tiêu cực về môi trường hay những gương điển hình trong việc bảo vệ môi trường, các cơ quan thông tấn báo chí là những nguồn thông tin nhanh chóng, kịp thời chuyển tải đến công chúng Qua đó, cung cấp bức tranh hiện thực về thực trạng môi trường Hoạt động này đòi hỏi báo chí phải năng động, nhạy bén, luôn có mặt nhanh nhất ở những điểm nóng để nắm tình hình, phát hiện những vấn đề mới, có ích, cũng như lên án những hành động đi ngược lại sự phát triển để phân tích và phản ánh kịp thời

Trang 30

Trong những năm qua, với những lợi thế khác nhau về cách truyền đạt thông tin, báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về thiên nhiên và môi trường, về các chính sách của Nhà nước ta và các hoạt động trong công tác bảo vệ môi trường điển hình như một số tác phẩm: Lâm tặc tấn công kiểm lâm ở Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Lâm tặc tấn công kiểm lâm tẩu tán gỗ lậu ở huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định), một số rừng phòng hộ bị "biến mất" hoặc bị chặt phá để xây khách sạn, cán bộ nhà nước chỉ đạo phá rừng Báo chí có những tiếng nói của dân trong việc xác định chủ trương, góp phần uốn nắn tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách đó, như việc đưa Luật Môi trường vào cuộc sống, xử phạt những đối tượng có những hành vi tàn phá môi trường thế nào cho phù hợp

1.3 3.2 Báo chí cung cấp kiến thức pháp luật và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường

Báo chí có trách nhiệm thông tin đến người dân những thông tin, kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường như là một nội dung quan trọng trong nhiệm vụ hiện nay Đặc biệt là các hành động gây ô nhiễm môi trường đang ngày càng nhiều, trong khi chính sách pháp luật của nhà nước về môi trường nước ta đang trong giai đoạn hoàn thiện Do đó, báo chí cung cấp kiến thức về môi trường đến người dân khi được người dân tiếp nhận sẽ giúp tự bản thân

họ chuyển biến về nhận thức để không có những hành vi gây hại đến môi trường và từ đó hình thành ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng

Trên thực tế đời sống xã hội cho thấy, có nhiều vụ việc ô nhiễm môi trường, phá hoại môi trường là do người dân phát hiện thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Nhưng để cho người dân có thể phát hiện, ngăn ngừa

từ sớm các hành động gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi bản thân người dân phải có kiến thức cơ bản và kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường Với phạm vi, tầm ảnh hưởng sâu rộng đến từng người dân trong xã hội, báo chí là phương tiện hữu hiệu nhất để cung cấp kiến thức cho người dân về vấn đề bảo

vệ môi trường

Trang 31

Đối với vấn đề bảo vệ môi trường, báo chí có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đấu tranh loại bỏ thói quen xấu và xây dựng một lối sông văn minh lành mạnh về môi trường, nhất là góp phần tạo thành công luận đấu tranh với những việc làm sai trái, ủng hộ những đóng góp tích cực của tập thể,

cá nhân trong công cuộc bảo vệ môi trường

Từ những hiện tượng, sự kiện nhỏ lẻ, nhưng qua phân tích dự báo khả năng phát triển tương lai, báo chí đã chỉ ra được những thiếu sót, tồn đọng hay những hành động đáng tuyên dương trong những hoạt động vì môi trường Đôi khi những phong trào chỉ phát sinh trong một khu vực nhỏ bé nhưng sau khi báo chí tuyên truyền nó đã trở thành một phong trào sâu rộng trong cả nước, thậm chí trên toàn cầu Với việc bám sát, phản ánh hơi thở của cuộc sống, báo chí đã kịp thời phát hiện những hành động gây ô nhiễm môi trường Qua các phát hiện, phản ánh của các cơ quan báo chí mà nhiều vụ việc tiêu cực gây ô nhiễm môi trường đã bị phanh phui, nhiều đơn vị vi phạm

bị xử lý Với chức năng dự báo, báo chí đã có định hướng dư luận cũng như nhiều cơ quan chức năng về những vấn đề môi trường sẽ phát sinh

Với những lợi thế khác nhau về cách truyền đạt thông tin, thời gian qua, báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về thiên nhiên và môi trường, về các chính sách của nhà nước và các hoạt động trong công tác bảo vệ môi trường Điều nổi bật và có tác dụng rõ rệt là, báo chí đã nêu nhiều vấn đề cụ thể và bức xúc có tính phản ánh thực tiễn, kể cả các trường hợp nghiêm trọng, như các vụ phá rừng, gây ô nhiễm nguồn nước, tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt gây ảnh hưởng mọi mặt của người dân… Qua những tác phẩm báo chí tạo ra những tác động cụ thể đối với các cơ quan chức năng quản lý nhà nước trong việc triên khai các biện pháp ngăn chặn các hoạt động gây ô nhiễm, những người có trách nhiệm để xảy ra ô nhiễm môi trường phải chịu xử lý kỷ luật

Trang 32

Ngày nay, bằng thông tin, báo chí tác động vào ý thức xã hội, hình thành tri thức, thái độ mới hay thay đổi nhận thức, thái độ cũ Sự thay đổi về ý thức xã hội sẽ dẫn đến hành vi xã hội và sau đó tạo ra hiệu quả xã hội Vì vậy, đối với vấn đề bảo vệ môi trường, báo chí là phưomg tiện hữu hiệu để tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của nhân dân

Cùng với việc tuyên truyền, cung cấp kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường, báo chí thông tin cho công chúng những quy định pháp luật mới nhất trong công tác bảo vệ môi trường cũng như các hình thức xử phạt khi có hành động tàn phá môi trường Đồng thời, tuyên truyền tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường cho người dân hiểu để từ đó bản thân mỗi người có trách nhiệm, có hành động thiết thực bảo vệ môi trường, ngăn chặn những hành vi

vi gây ô nhiễm môi trường Đây là biện pháp hữu hiệu nhất, mang lại hiệu quả bền vững nhất trong việc bảo vệ môi trường

1.3.3.3 Báo chí phát hiện, đấu tranh những hành động gây ô nhiễm môi trường

Thông qua chức năng giám sát, báo chí đã phát hiện kịp thời những vụ việc tiêu cực gây ô nhiễm môi trường Có thể kể ra hàng loạt các vụ việc tiêu cực liên quan đến môi trường trong thời gian vừa qua được các cơ quan báo chí phát hiện như: nguồn nước các sông bị ô nhiễm, ô nhiễm không khí tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, nhà máy xả thải gây ô nhiễm, ô nhiễm môi trường từ bãi xỉ thải của Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, Bình Thuận, làng quê bị ô nhiễm trầm trọng do các hoạt động thiếu ý thức của con người; Công

ty Trách nhiệm hữu hạn Vedan Việt Nam, Công ty Miwon Phú Thọ xả nước thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm môi trường sông, vấn đề ô nhiễm kênh Ba Bò Báo chí cùng chung tay với các cơ quan quản lý Nhà nước xử lý những sai phạm của doanh nghiệp, tổ chức như vụ vi phạm nhập khẩu rác thải của Công ty Tung Kuang (Hải Dương) …

Trang 33

Báo chí không chỉ phát hiện, thông tin kịp thời về những vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường mà thông qua đó tác động mạnh mẽ vào ý thức xã hội, vào các cơ quan quản lý nhà nước và chủ thể vi phạm để tạo sức ép dư luận khiến các cơ quan chức năng, những đối tượng vi phạm phải có hình thức điều chỉnh hành vi vi phạm Nhiều vụ việc tiêu cực có nguy cơ bị “chìm xuồng” nếu như không có sự vào cuộc kiên trì, kiên quyết của các cơ quan báo chí Về thực chất, báo chí không thể đóng vai trò phán xử đối với những

vi phạm, thế nhưng bằng thông tin trên báo chí đã tác động đến công chúng tạo thành một luồng dư luận mạnh mẽ ủng hộ những hành động tích cực và phản đối những hành động sai trái

Có thể nói rằng, hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng đang ngày càng phát huy sức mạnh như một binh lực khổng lồ, một lực lượng góp phần giám sát và kiểm soát sự phát triển không chỉ trên phạm vi quốc gia mà còn khu vực và thế giới Báo chí không chỉ là kênh truyền dẫn thông tin đến đông đảo công chúng xã hội, mà quan trọng hơn, qua đó khơi nguồn dư luận

xã hội, truyền dẫn, quảng bá và phát triển, định hướng và điều hòa dư luận xã hội Trong điều kiện công nghệ thông tin - truyền thông phát triển và toàn cầu hóa nhờ đặc tính và chức năng đặc thù này, báo chí thông qua khơi nguồn và phát triển dư luận xã hội để tập hợp, huy động và tổ chức nguồn lực sức mạnh của đông đảo nhân dân tham gia vào việc giải quyết vấn đề môi trường trong tiến trình phát triển

Báo chí với vai trò, chức năng của mình có khả năng to lớn trong việc bảo vệ môi trường bằng các hình thức như: cung cấp thông tin, kiến thức về môi trường cho người dân; thực hiện chức năng giám sát trong việc bảo vệ môi trường và phát hiện, ngăn ngừa các hành vi gây ô nhiêm môi trường Thông qua các hình thức đó, báo chí sẽ tác động vào xã hội góp phần làm thay đổi, nâng cao nhận thức, hành động của mọi người trong việc bảo vệ môi trường

Trang 34

Ngày nay, báo chí không chỉ phản ánh kịp thời những sự kiện, sự cố về môi trường, mà còn gióng lên một hồi chuông thức tỉnh những con người đang thờ ơ với môi trường hãy cùng chung tay bảo vệ, gìn giữ môi trường Thông tin về bảo vệ môi trường luôn được thể hiện thường xuyên, liên tục cập nhật, đa dạng trên các loại hình báo chí như báo in, báo phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử với lưu lượng, dung lượng khá lớn, phương thức truyền tải và cách thức thể hiện sinh động, hấp dẫn

Thống kê của Báo Tài nguyên và môi trường ngày 19/6/2015, tại địa chỉ (http://baotainguyenmoitruong.vn/) trung bình mỗi tháng trên các phương tiện thông tin đại chúng có hơn 1.000 tin, bài về tài nguyên môi trường, riêng lĩnh vực môi trường có trên 300 tin, bài; nhiều chuyên mục, chương trình trên báo, phát thanh, truyền hình được xây dựng các chương trình, trao đổi trực tiếp, chuyên trang, chuyên mục định kỳ về môi trường… Qua đó, nâng nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân ngày càng được nâng lên, mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt…

1.4 Vai trò của Đài TNVN trong việc thông tin, tuyên truyền về bảo

vệ môi trường

1.4.1 Khái niệm báo phát thanh

Báo phát thanh là một kênh truyền thông, một loại hình báo chí mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới quan âm thanh, phong phú, sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để truyền tải thông điệp nhờ sử dụng sóng điện

tử và hệ thống truyền thanh tác động vào thính giác công chúng

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững:

Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận Chất liệu chính của phát thanh là

Trang 35

nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc phản ánh cuộc sống Thông điệp được mã hóa truyền qua kênh phát thanh

và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp [11, tr.188]

Còn theo tác giả V.V Xmirnốp, phát thanh mở ra những khả năng to lớn trong việc tác động đến công chúng Lôgic của tư liệu, mối quan hệ bên trong giữa những đoạn của tư liệu, mối quan hệ bên trong giữa những đoạn của bản văn, hệ thống luận cứ phải được xây dựng theo các quy luật của ngôn ngữ âm thanh [56, tr.10]

Điều này có nghĩa là khi viết cho báo phát thanh không giống như viết cho các loại hình báo chí khác Thính giả phát thanh không thể tiếp nhận lượng thông tin quá dài, với nhiều con số phức tạp hay cách lý luận, giải thích phức tạp Mà người nghe dễ tiếp cận hơn về sự kiện theo lối dẫn chuyện đơn tuyến, theo quá trình phát sinh, phát triển tự nhiên của sự kiện, hiện tượng

Khi so sánh với những loại hình báo chí khác, phát thanh có thế mạnh

mà không phải loại hình báo chí nào cũng có được:

Thế mạnh của phát thanh là “tính tỏa khắp” Nhờ sự phủ sóng điện từ trên phạm vi rộng lớn với tốc độ của ánh sáng nên cùng một lúc, phát thanh tác động đến hàng triệu người, chi phối hàng triệu người trên khắp hành tinh, không phân biệt biên giới, quốc gia hay lãnh thổ

Thông tin phát thanh nhanh, tiếp nhận đồng thời Thế mạnh này giúp phát thanh có lượng thính giả đông đảo hơn so với báo in Bởi thông tin phát

đi hàng triệu người có thể tiếp nhận ngay và tác dụng định hướng dư luận hiệu quả hơn

Thông tin trong phát thanh rất sống động, riêng tư và thân mật Lời nói, tiếng động, âm nhạc tạo nên sự sống động trong thông tin phát thanh Bên cạnh đó, giọng nói truyền cảm, cách giao tiếp cởi mở của phóng viên, phát thanh viên tạo sự gần gũi cho người nghe Đồng thời, với những chương trình

Trang 36

phát thanh dành cho từng đối tượng khán giả cụ thể cũng tạo cảm giác thân mật, riêng tư giống như phát thanh viên chỉ nói cho một thính giả nghe

Phát thanh là kênh truyền thông rẻ tiền Điều này không thể phủ nhận, bởi với số tiền rất nhỏ, vài chục nghìn đồng người dân có thể mua một chiếc rađiô để thưởng thức nhiều chương trình phát thanh hay, hấp dẫn trên các kênh sóng của nhiều đài tiếng nói, đài phát thanh của trung ương và địa phương

Trong khi nghe phát thanh, thính giả còn có thể kết hợp làm những việc khác Đây là tiện ích đang được các đài phát thanh tận dụng trong thời điểm bùng nổ thông tin và cuộc sống ngày càng bận rộn, ít thời gian giải trí và tiếp nhận thông tin từ các phương tiện truyền thông như hiện nay Ví dụ, trong việc lưu thông trên đường, lái xe có thể nghe đài hay vừa làm việc nhà vừa nghe rađiô Tận dụng lợi thế này, phát thanh dần lấy lại vị trí của nó trong lòng công chúng và khẳng định loại hình báo chí phát thanh không biến mất trước sự phát triển như vũ bão của truyền hình và báo mạng internet như suy nghĩ của nhiều người

Ngoài ra, phát thanh còn những lợi thế khác như thông tin phát thanh đến với mọi đối tượng, người dân không phân biệt trình độ văn hóa, biết đọc hay không biết đọc Thông qua phát thanh góp phần vào việc giữ gìn ngôn ngữ, lời nói của các dân tộc Bên cạnh đó, hệ thống phát thanh, truyền thanh lan tỏa đến tận phường, xã, thôn xóm Đây là điều mà truyền hình hay báo mạng điện tử khó có thể làm được

Bên cạnh ưu thế nổi trội, phát thanh cũng có những hạn chế nhất định khiến số lượng công chúng của loại hình báo chí này giảm đi rõ rệt sau khi truyền hình và báo mạng điện tử ra đời Đó là do tác động theo tuyến tính thời gian nên có thể nghe đoạn đầu mà bỏ mất đoạn cuối, nếu không tập trung sự chú ý liên tục của thính giác Khả năng lưu giữ thông tin phát thanh kém hơn

so với loại hình báo chí khác Đối với thể loại phóng sự phát thanh khó hoặc ít khi thể hiện được những vấn đề phức tạp, sử dụng những câu văn có nhiều

Trang 37

mệnh đề hoặc sử dụng nhiều số liệu, chi tiết để minh họa, chứng minh cho luận đề mà nhà báo muốn đề cập tới

1.4.2 Các đặc tính của phát thanh

Các nhà nghiên cứu lý luận và những nhà thực hành phát thanh Việt Nam có quan điểm: truyền thông qua phát thanh có những đặc tính quan trọng chế định các nguyên tắc sản xuất chương trình

Đặc tính thứ nhất là tính quảng bá Phát thanh có độ phủ sóng rất

rộng Sóng phát thanh có thể phủ trên phạm vi rộng lớn của quốc gia hoặc quốc tế Một sự kiện được thông tin qua mạng lưới phát thanh có thể đến với hàng triệu người nghe ở những vùng địa lý khác nhau trong cùng một thời điểm Chính bởi vậy, thông số về độ phủ sóng của một đài phát trên một diện tích địa lý là yếu tố được chú trọng đầu tư Sóng phát thanh len lỏi vào những ngõ ngách mà nhiều khi truyền hình, báo in rất khó tiếp cận, chưa kể những phương tiện truyền thông khác còn nhiều hạn chế trong việc quảng bá đại chúng rộng rãi Có thể nói phát thanh là phương tiện thông tin mang tính tiện lợi và đại chúng nhất

Đặc tính thứ hai là tính đồng thời Khi sự kiện diễn ra, với phương tiên

thu gọn nhẹ, quy trình phát sóng tương đối đơn giản và năng động, phát thanh

có khả năng truyền thông tin về sự kiện tức thời tới người nghe Các chương trình phát thanh trực tiếp phát huy cao nhất đặc tính này Thời gian xảy ra sự kiện trùng với thời gian thông tin Đặc tính này góp phần tăng tính chân thực, hấp dẫn của thông tin phát thanh Tính tức thời của thông tin thể hiện sự nhanh nhạy của thông tin Phát thanh có khả năng truyền đạt thông tin ngay khi sự kiện đang diễn ra cùng lúc với diễn biến của nó đến đông đảo công chúng Tính tức thời rút ngắn khoảng cách không gian, khiến người nghe được trực tiếp tiếp xúc với thông tin nhanh nhất, đáp ứng tốt sự mong đợi

Đặc tính thứ ba là tính hướng tới thính giả Đối tượng tiếp nhận thông

tin của phát thanh là người nghe, trừ người khiếm thính Tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng là tâm lý của người tiếp nhận thông tin bằng thính

Trang 38

giác cùng với khả năng liên tưởng rất phong phú Với những chương trình mang tính tương tác cao như tọa đàm, khách mời trực tiếp, thính giả được tham gia đặt câu hỏi, bàn luận với chuyên gia, đặc tính này càng thể hiện rõ

1.4.3 Sử dụng lời nói, tiếng động, âm nhạc trong phát thanh

Lời nói:

Trong 3 yếu tố: Lời nói, tiếng động và âm nhạc, lời nói là phương tiện chuyển tải thông tin quan trọng nhất Lời nói tự nhiên là một phương tiện hoàn hảo nhất, tin cậy nhất và cũng đặc biệt người, đặc biệt xã hội trong giao tiếp thông tin… Tiếng động là ký hiệu âm thanh thứ ba trong phát thanh

Lời nói chuyển tải tư tưởng và cảm xúc của phóng viên Nhưng để lời nói phát huy hiệu quả thì cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn với lời nhân chứng, tiếng động, âm nhạc sẽ tạo nên sắc thái đa dạng của bài phóng sự phát thanh Lời nói của nhân vật được phỏng vấn trong tác phẩm cũng tạo nên những sắc thái khác biệt, tạo nên màu sắc cho tác phẩm Sự cộng hưởng của phóng viên-phát thanh viên thể hiện tác phẩm và của nhân vật sẽ tạo nên sức hút đặc biệt của phát thanh so với loại hình báo chí khác như báo in hay báo mạng điện tử Sự diễn tả, biểu cảm trong giọng đọc của phóng viên và nhân vật giúp tăng hiệu quả của bài báo mà tác giả muốn chuyển đến người nghe

Tiếng động

Tiếng động là những âm thanh của cuộc sống được thu giữ lại và phát sóng trong các chương trình phát thanh Tiếng động làm tăng tính chân thật, xác thực, qua đó thính giả có thể xác định được không gian, thời gian và hình dung ra bối cảnh của vấn đề, sự kiện… Tiếng động là ký hiệu âm thanh thứ hai, được sử dụng trong một số bài phản ánh, phóng sự của các chương trình, đặc biệt là những chỗ cần tạo hình ảnh và nâng cao tác động của chương trình Trong đó, chủ yếu sử dụng tiếng động nền, tiếng động hiện trường để minh họa

Trang 39

Thế mạnh của phát thanh là sử dụng lời nói, tiếng động, âm nhạc để chuyển tải thông điệp tới thính giả Nếu sử dụng chúng đúng cách, đúng thời điểm thì sẽ tạo ra hiệu ứng đặc biệt cho tác phẩm phóng sự phát thanh

Trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí” của Vũ Quang Hào cho rằng:

Khác và hơn cả văn học nghệ thuật, ngôn ngữ phát thanh đã có khả năng to lớn trong việc đưa đến cho thính giả vẻ đẹp của thanh âm, những thanh âm rất đỗi quen thuộc với họ: từ tiếng mưa, tiếng gió, tiếng sấm, đến tiếng lợn phá chuồng, tiếng gà cục tác, tiếng chân phì phọp trong bùn, tiếng thở dài não nuột Tiếng động nào cũng mang trong nó một giá trị thông tin nhất định, cho nên “trong chương trình phát thanh người biên tập nên dàn dựng, sử dụng tốt phương tiện tiếng động sẽ nâng cao được tính chân thực, sự cuốn hút của sự kiện [25, tr 167] Tác giả Vũ Quang Hào cũng lấy dẫn chứng về tầm quan trọng của tiếng động đối với báo phát thanh, đó là hai nhà điện ảnh tài liệu nổi tiếng người Đức là Hai-nốp-xki và Soi-man đã từng nói:

Đối với người làm báo phát thanh, chiếc máy ghi âm là vật bất ly thân Bằng chiến micrô, anh ta thể hiện cả một thế giới sinh động xung quanh [25, tr 168]

Tiếng động nền là những âm thanh phát ra tại nơi phóng viên đang đứng và được thu lại Tiếng động thường được sử dụng ở mở đầu bài viết cho sinh động, gây ấn tượng, kích thích trí tưởng tượng của người nghe Tiếng động hiện trường chứa đựng nhiều nội dung thông tin, vì vậy được phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam tận dụng khá hiệu quả trong các phóng sự phát thanh Đó là tiếng nước chảy khi phóng viên đến các khu vực vườn quốc gia, tiếng các loài động vật trong khu bảo tồn, tiếng động cơ ồn ào của nhà máy gây ô nhiễm môi trường…Tuy nhiên, tiếng động hiện trường ít khi đứng riêng

lẻ, độc lập mà gắn với từng chủ đề của tác giả và được ngôn ngữ lời nói và âm nhạc hỗ trợ để tạo nên hiệu quả thông tin tốt nhất

Trang 40

tố phụ trợ cho lời nói, giọng đọc mà cùng với lời nói “hòa tấu, nâng

Nhạc xen, nhạc cắt là yếu tố quan trọng xuất hiện giữa các bài, chuyên mục, thực hiện chức năng phân cách các chương trình thành các phần độc lập với chức năng giống như những đường kẻ trên mặt báo in Mặt khác, nhạc xen, nhạc cắt còn có ý nghĩa tạo ra sự ngưng nghỉ, giảm bớt căng thẳng cho người nghe Ví dụ trong chương trình Thời sự, trước khi chuyển sang thời sự quốc tế có đoạn nhạc cắt khoảng 5 giây Thường thì trong 10 phút chương

Ngày đăng: 24/11/2021, 22:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Bảo, (2006), “Học tập Phương pháp Tuyên truyền Cách mạng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập Phương pháp Tuyên truyền Cách mạng Hồ Chí Minh”
Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Kỷ yếu Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ III, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ III
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ IV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường – Cục Bảo vệ môi trường (2004), Nghiên cứu các quy định pháp luật về môi trường trong tiến trình hội nhập với các tổ chức quốc tế, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các quy định pháp luật về môi trường trong tiến trình hội nhập với các tổ chức quốc tế
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường – Cục Bảo vệ môi trường
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2004
5. Phan Công Chung (chủ biên), “Mô hình phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường”, Nxb Thanh Hóa (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường”
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa (2006)
8. “Dân số, môi trường, tài nguyên” (1998), Bộ Giáo dục đào tạo, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dân số, môi trường, tài nguyên”
Tác giả: “Dân số, môi trường, tài nguyên”
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
9. Mai Thị Dung (2006), “Đề tài môi trường trên báo chí hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài môi trường trên báo chí hiện nay”
Tác giả: Mai Thị Dung
Năm: 2006
10. Trần Bá Dung (2008), Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội, Luận án Tiến sĩ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội
Tác giả: Trần Bá Dung
Năm: 2008
11. Nguyễn Văn Dững, (chủ biên) (2012), Truyền thông-Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông-Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững, (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
12. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, NXB Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động Hà Nội
Năm: 2011
13. Nguyễn Văn Dững, (chủ biên) (2012), Truyền thông-Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông-Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững, (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
14. Đức Dũng (2003), Lý luận báo phát thanh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận báo phát thanh
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
15. Đức Dũng (2004), Phóng sự báo chí hiện đại , Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự báo chí hiện đại
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2004
16. Đức Dũng (2002), áng tạo tác phẩm báo chí , Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: áng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
17. Đài TNVN, Phân viện Báo chí tuyên truyền (2002), Báo phát thanh, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo phát thanh
Tác giả: Đài TNVN, Phân viện Báo chí tuyên truyền
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
18. Đài TNVN (2005), 6 năm Tiếng nói Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.19 . Đài TNVN, Nội san Nghiệp vụ phát thanh hàng tháng Sách, tạp chí
Tiêu đề: 6 năm Tiếng nói Việt Nam
Tác giả: Đài TNVN
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
20. Đài TNVN (2000), Nhịp cầu nối giữa Đảng và dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhịp cầu nối giữa Đảng và dân
Tác giả: Đài TNVN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
21. Đài TNVN (2003), Phương pháp điều tra thính giả, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp điều tra thính giả
Tác giả: Đài TNVN
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
6. Cổng thông tin điện tử của Trung tâm Tin, Đài Tiếng nói Việt Nam: http://trungtamtin.tnvn.vn; http://tinvov.vn Link
7. Cổng thông tin điện tử của VOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam: http://vov1.vov.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w