1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành ngữ có từ chỉ tứ chi người trong tiếng nga, tiếng anh và tiếng việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ văn hóa học

93 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 8,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nắm vững tiếng Nga, tiếng Anh như một như một ngoại ngữ, ngoài việc học để sử dụng chúng trong giao tiếp cần nghiên cứu để có những hiểu biết cần thiết về nền văn hoá Nga, nền văn hoá

Trang 1

H ộ c VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

KHOA NGOẠI NGỮ

ĐÈ TÀI CÁP C ơ SỞ TRỌNG ĐIẺM NĂM 2010

THÀNH NGỬ CÓ TỪ CHỈ TỨ CHI NGƯỜI TRONG

GÓC Đ ộ NGÔN NGỬ-VĂN HÓA HỌC

c ơ QUAN CHỦ TRÌ : KHOA NGOẠI NGŨ CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS NGUYÊN THỊ THU

HÀ N Ộ I-2010

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYÈN

KHOA NGOAI NGỮ

ĐỀ TÀI CÂP C ơ SỚ TRỌNG ĐIỂM 2010

THÀNH NGỮ CÓ CHỨA TỪ CHỈ TỨ CHI NGƯỜI TRONG TIẾNG NGA, TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ GÓC Đ ộ NGÔN NGỮ - VĂN HÓA HỌC

họcviệnbẩochí&tuyễntrũyễ’nỊ

Chủ nhiệm đề tài: TS NGUYÊN THỊ THU Những người thực hiện:

1 TS NGUYÊN THỊ THU

2 PGS TS NGUYÊN XUÂN HÒA

HÀ N Ộ I-2 0 1 0

Trang 3

MỤC LỤC

trong tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt

Nga, tiếng Anh và tiếng Việt

2.2 Nội dung thành ngữ có từ chỉ tứ chi người trong tiếng 30 Nga, tiếng Anh và tiếng Việt

tiêng Nga, tiêng Anh và tiêng Việt từ góc độ ngôn ngữ-văn

Trang 4

M ỞĐẲU

O.l.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tiêng Nga, tiêng Anh và tiêng Việt khác nhau vê loại hình ngôn ngữ Tiếng Nga và tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, còn tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập; do đó người Việt Nam học tiếng Nga, tiếng Anh gặp nhiều khó khăn

Để nắm vững tiếng Nga, tiếng Anh như một như một ngoại ngữ, ngoài việc học để sử dụng chúng trong giao tiếp cần nghiên cứu để có những hiểu biết cần thiết về nền văn hoá Nga, nền văn hoá Anh, trong đó cần đặc biệt chú ý đến thành ngữ, vì thành ngữ là một trong những mặt phức tạp nhất trong học tiếng nước ngoài liên quan đến phong tục, tập quán, nếp sống của nền văn hóa mỗi cộng đồng người bản ngữ Nghiên cứu thành ngữ là khâu cần thiết trong việc nắm vững một ngôn ngữ cũng như trau dồi trình độ ngôn từ

Thành ngữ tiếng Nga, thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có chứa từ chỉ tứ chi người chiếm vị trí đáng kể trong kho tàng thành ngữ của mỗi dân tộc Đến nay, lớp thành ngữ này trong ba ngôn ngữ chưa được nghiên cứu thấu đáo, nhất là còn ít chú ý đến những đặc điểm văn hóa để lại dấu ấn trong thành ngữ Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ ba ngôn ngữ này nhìn từ góc độ ngôn ngữ-văn hóa chưa trở thành đối tượng khảo sát trong các công trình khoa học cụ thể Tập thể tác giả công trình này cho rằng, thiếu sự hiểu biết sâu sắc đặc thù văn hóa chửa đựng trong lớp thành ngữ này thì không thể thu được kết quả cao trong dạy/học tiếng nước ngoài (ở đây là tiếng Nga, tiếng Anh) Đây chính là tính thời sự của đề tài nghiên cửu

0.2 Nét mới của đề tài

Nét mới của công trình khoa học này thể hiện ở chỗ: các tác giả xem xét thành ngữ có chửa những từ chi tứ chi người theo các tiêu chí ngôn ngữ khác nhau; vạch ra nét đặc thù văn hoá dân tộc của các thành ngữ ; tìm ra các thành ngữ tương đương và các ô trống ngôn ngữ

Trang 5

0.3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đặt mục đích nghiên cứu thành ngữ tiếng Nga có từ рука và từ

нога, thành ngữ tiếng Anh có từ hand và fo o t có đối chiếu với các thành ngữ

tiếng Việt có từ tay và chân nhìn từ góc độ ngôn ngữ-văn hoá học.

0.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

1) Xem xét các thành ngữ tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt có từ chỉ

tứ chi người về hình thức và nội dung ngữ nghĩa

2) Làm sáng tỏ sự tương đồng và khác biệt của các thành ngữ tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt có những từ chỉ tứ chi người về đặc trưng văn hoá Nga, văn hóa Anh và văn hoá Việt Nam thể hiện trong các thành ngữ đó

0.5 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong công trình này là thành ngữ tiếng Nga, thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có từ chỉ tứ chi người nhìn từ

góc độ ngôn ngữ-văn hoá học

0.6 Phương pháp nghiên cứu

Công trình sử dụng các phương pháp nghiên cứu: so sánh, đối chiếu, phân tích các thành tố, thống kê Phương pháp đối chiếu là phương pháp

ba ngôn ngữ Nga, Anh, Việt

Trang 6

Những kết quả trong công trình này giúp những người nghiên cứu tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Việt hiểu thêm những đặc điểm ngôn ngữ đáng chú ý của lớp thành ngữ có chứa từ chỉ tứ chi người trong ba ngôn ngữ này, qua đó hiểu rõ hơn sự tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hóa Nga, văn hóa Anh và văn hóa Việt Nam.

0.7.2 Giá trị thực tiễn

Tư liệu thu thập được trong công trình này là những tư liệu bô ích và có

thể được sử dụng trong việc dạy/học theo chương trình môn học Từ vựng học

tiếng Nga hiện đại và Thành ngữ học tiếng Nga hiện đại cũng như môn học

Từ vựng học tiếng Anh hiện đại cho sinh viên chuyên ngữ Việt Nam học

tiếng Nga và tiếng Anh có đối chiếu với tiếng Việt

0.8 Cấu trúc:

Công trình khoa học gồm Dần luận, 3 chương, Kết luận, danh mục tài

liệu tham khảo và 4 Phụ lục.

Chương 1 nêu tổng quan về nghiên cứu thành ngữ

Chương 2 xem xét, đối chiếu các thành ngữ tiếng Anh, tiếng Nga và

tiếng Việt có từ chỉ tứ chi người

Chương 3 đối chiếu thành ngữ có chứa từ chỉ tứ chi người trong tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng việt từ góc độ ngôn ngữ-văn hóa học

Kết luận đưa ra những tổng kết cơ bản, đặc trưng của thành ngữ tiếng

Anh, tiếng Nga và thành ngữ tiếng Việt nói chung, thành ngữ tiếng Anh, tiếng Nga và thành ngữ tiếng Việt có từ chỉ tứ chi người nói riêng

Phụ lục gôm có:

1 Thành ngữ tiếng Nga có từ РУКА và nghĩa tiếng Việt

2 Thành ngữ tiếng Nga có từ НОГА và nghĩa tiếng Việt

3 Thành ngữ tiếng Anh có từ HAND và nghĩa tiếng Việt

4 Thành ngữ tiếng Anh có từ FOOT và nghĩa tiếng Việt

Trang 7

CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐÈ CHUNG VÈ NGHIÊN c ứ u THÀNH NGỮ TRONG TIẾNG NGA, TIÉNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

1.1 về tình hình nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Nga, tiếng Anh

và tiếng Việt

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Nga

Thành ngữ tiếng Nga thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu như

M V.Lomonosov, v.v Vinogradov, N M Shanskij và các học trò của họ Vấn đề thành ngữ học là một bộ phận của ngôn ngữ học đã được đặt ra từ những năm 20-30 của thế kỷ 20 Thành phần cấu tạo của thành ngữ đã được nghiên cứu kỹ từ trước những năm 40 Cơ sở của thành ngữ học như một bộ môn của ngôn ngữ học, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu thành ngữ đã được xác định rõ trong các công trình của v.v Vinogradov từ năm 1945 Dựa vào tính hoà kết ngữ nghĩa các thành tố của thành ngữ, v.v Vinogradov đã phân

chia thành ngữ làm 3 loại: thành ngữ tổng hợp hay thành ngữ kết dính {из рук

вон - xấu/ tồi tệ), thành ngữ tổng hợp (отдавать/ отдать руку кому-либо -

gả chông), và thành ngữ tổ hợp {закадычный друг - người bạn nôi khô).

N M Shanskij bổ sung thêm loại thành ngữ tổ hợp Trong lịch sử nghiên cứu thành ngữ, một số nhà ngôn ngữ thử đưa ra cách phân loại ngữ nghĩa thành ngữ mới, nhưng hầu hết các cách phân loại này đều giống như cách phân loại

của v.v Vinogradov và N.M Shanskij

Khái niệm về thành ngữ trong tiếng Nga: Mỗi ngôn ngữ đều mang tính

đặc ngữ Trong mỗi ngôn ngữ, ngoài những từ riêng lẻ, những tổ hợp từ thông thường, còn có những ngữ đoạn mà các thành tố tạo nên chúng không có nghĩa từ vựng riêng; ngữ nghĩa của các tổ hợp từ này không phải là tổng nghĩa của các thành tố cộng lại Những cấu trúc này được gọi là thành ngữ Trong công trình này chúng tôi dựa vào định nghĩa thành ngữ của L.A Novikov (I960): “Thành ngữ là đơn vị được tái hiện lại trong lời nói, thường

Trang 8

tương đương với một từ, có ý nghĩa trọn vẹn, có cơ cấu các thành tố cố định

- Thành ngữ và từ: Thành ngữ và từ có điểm chung là đều có ý nghĩa

từ vựng và các phạm trù ngữ pháp Giống như từ, thành ngữ có quan hệ đồng

nghĩa và trái nghĩa Thành ngữ là những đơn vị phức tạp hơn từ vê câu trúc và ngữ nghĩa Tuy nhiên, thành ngữ có chức năng giống như từ và tương đương

với từ; ví dụ: не слыша ног tương đương về nghĩa với từ быстро.

- Thành ngữ và cụm từ tự do: Thành ngữ và cụm từ tự do vê câu tạo

đều gồm có 2 hay nhiều từ Cụm từ tự do gồm các đơn vị từ vựng là những từ

có ý nghĩa từ vựng cụ thể Ngược lại, thành ngữ không cấu tạo bởi những đơn

vị từ vựng là những từ, nhưng tự thân thành ngữ là đơn vị độc lập của ngôn ngữ có ý nghĩa từ vựng cụ thể

1.1.2 Tinh hình nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Anh

Cho đến thập niên cuối của thế kỷ 20 đến đầu những năm của thế kỳ

21, theo Trần Thị Lan (2002), thì có thể nói, thành ngữ các thứ tiếng Nga và

tiêng Anh đã được nghiên cứu khá hệ thông với các cách tiêp cận khác nhau, phong phú và đa dạng Đặc biệt, các nhà nghiên cứu thành ngữ tiêng Anh đã phát triển hướng đi của mình là nghiên cửu thành ngữ từ góc độ ngôn ngữ học chức năng, khác hẳn với lối đi truyền thống của các nhà nghiên cứu thành ngữ tiếng Nga cũng như thành ngữ tiếng Việt Thành ngừ tiếng Anh được các nhà nghiên cứu quan tâm với những ý kiến khác nhau về khái niệm, cấu trúc, và phân lo ạ i Trên thực tế, đại đa số các tác giả (Wood, 1986; Cowie et al 1975,

1983; Long et al., 1979; Smith, 1925; Malkiel, 1959; Weinreich, 1969; Makkai, 1972; Fernando và Flavell, 1981; Strassler, 1982; Pawley và Syder, 1983; Pawley, 1986) cho rằng thành ngữ là một biểu ngữ đa từ (multiword

Trang 9

expression) với những đặc điểm ngữ nghĩa ngữ pháp khác hẳn với các cụm từ

tự do khác đó là tính thành ngữ, hay còn gọi là tính thống nhất về nghĩa (semantic unity) và tính cố định hoặc tương đối cố định của các từ thành phần Nói cách khác một tập hợp từ càng có ít khả năng thay đổi một trong các từ thành phần bao nhiêu thì tập hợp từ đó càng có nhiều khả năng là thành ngữ bây nhiêu Một sô những đặc điêm khác nhau nữa là biêu ngữ đa từ có sô lượng từ hạn chế, trong khi đó, cụm từ tự do có số lượng mở rộng không hạn định Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thành ngữ có thể hiểu theo hai cách

cả nghĩa bóng và nghĩa đen Ví dụ spill the beans (làm vãi đỗ (nghĩa đen) và

để lộ bí mật) Những thành ngữ như thế này được Makkai (1972) gọi là những thành ngữ giải mã (decoding idioms), nghĩa là có tính mơ hồ, dễ gây hiểu sai Những loại khác Makkai gọi là mã hoá (encoding) Ví dụ barking dog seldom bite (“những con chó sủa hiếm khi cắn” 一 thùng rỗng kêu to, giơ cao đánh khẽ); a bird in the hand (“một con chim ở trong tay” 一 cầm chắc trong tay/ chắc ăn (cái đã) [Trần Thị Lan (2002); tr 43-44]

Còn theo Phan Văn Quế (1996) thì ở Tây Âu và Mỹ thành ngữ - tục ngữ Anh chủ yếu được xử lý từ góc độ thực hành phục vụ cho việc biên soạn

từ điển, sổ tay, cẩm nang Ở các nước khác (Liên Xô, Nhật, Trung Quốc, Việt Nam .) cũng có nhiều từ điển về thành ngữ - tục ngữ Anh được xuất bản

Trong Anh ngữ học, về mặt lý thuyết thành ngữ - tục ngữ, những thành tựu đáng kể lại thuộc về các nhà nghiên cứu xô viết Những tư tưởng và thành tựu của họ (v.v.Vinogradov, A.I.Smimickij; O.S.Akhmanova, N.N Amosova, A.V.Kunin ) có ảnh hưởng lớn đến việc nghiên cứu và giảng dạy thành ngừ - tục ngữ Anh ở Liên Xô trong nhiều thập kỳ trong địa hạt ngữ cú học Anh hoặc từ vựng học Anh [Phan văn Quế (1996); tr.6]

Trong tiếng Anh có nhiều thuật ngữ tương đương với “thành ngữ” của tiếng Việt (set-expression, set-phrase, phrase, fixed word - group, collocation, idiom) Riêng “ idiom” cỏ thể chỉ là một từ (bookworm, copycat, chicken )

Trang 10

Đôi với A.V.Kunin, “idiom” còn gôm cả quán ngữ (after all, ỉn a w ord ), tục ngữ - ngạn ngữ nữa.

Trong tiếng Việt có tới bốn thuật ngữ liên quan, xen cài nhau: “tục ngữ”,“ngạn ngữ”, “phương ngôn”,“cách ngôn” Tương ứng, tiêng N ga có hai

từ: “пословица", “поговорка” Tiếng Anh có năm từ “saying”, “proverb”,

“maxim”, “adage”, “dictum”

1.1.3 Tình hình nghiên cửu thành ngữ trong tiếng Việt

Lịch sử nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt chia làm 2 giai đoạn: trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Công trình nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt đầu tiên có thể coi là bản báo cáo của Phạm Quỳnh đăng trong tạp chí

Nam Phong vào năm 1921, tiếp theo vào có công trình Thành ngữ so sánh

tiếng Việt (Les expressions comparatives de la langue ananmite, Quy Nhơn,

1925) của V Barbier, một tác giả người Pháp Cuốn sách “Tục ngữ phong

giao'' của Nguyễn Văn Ngọc, ấn hành năm 1928, được xem là tuyển tập có

nội dung đầy đủ nhất thời bấy giờ Trong cuốn sách này có rất nhiều thành ngữ [Dần theo Nguyễn Văn Hằng (1999); tr 11] Đến năm 1933 tác giả cẩm

Giang có bài viết Phê bình sách thành ngữ của Bửu Cân đăng trên tờ Nam

Phong số 190, và mười năm sau Dương Quảng Hàm có bài viết đưa ra nhận

xét có sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các nhà ngôn ngữ học, những người nghiên cứu văn học, những giáo viên dạy văn học, những người nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam ở những mửc độ khác nhau đều quan tâm đến

thành ngữ, tục ngữ và ngạn ngữ Có thể kể đến các tác phẩm của họ như: “Tục

ngữ, ca dao, dân ca Việt N anỉ' của Vũ Ngọc Phan Năm 1973 có cuốn về

khái niệm thành ngữ tiêng Việt của Nguyên Thiện Giáp, sau đó có cuôn Từ

điển Thành ngữ tiếng Việt (1978) của Nguyễn Lực và Lương Văn Đ ang…

Các nhà nghiên cứu đã tập trung chú ý vào đặc điểm cấu trúc hình thái của

tiếng Việt Quan điểm này thể hiện trong các công trình: “Từ vựng tiếng Việt

hiện đ ạ r của Nguyễn Văn Tu (1976), “Hoạt động của từ tiếng Viêt'' của Đái

Trang 11

Xuân Ninh (1978), “Kể chuyện thành ngữ tục ngư1' của Hoàng Văn Hành (1999) gần đây là Tuyển tập ngôn ngữ học của Hoàng Văn Hành (2010),

trong đó có tập hợp một số bài viết riêng về thành ngữ tiếng Việt

Những nhà Nga ngữ học Việt Nam nghiên cứu thành ngữ tiếng Nga và

thành ngữ tiếng Việt: Giáo sư Trương Đông San là một trong những nhà Nga

ngữ học Việt Nam đầu tiên đã đối chiếu thành ngữ tiếng Nga với thành ngữ tiếng Việt Công trình khoa học quan trọng của ông về đối chiếu thành ngữ

Nga-Việt là luận án Phó tiến sĩ với đề tài фразеологические обороты в

русском языке и способы их передачи на вьетнамский язык (Москва,

1972) Ngoài ra, có thể kể đến các công trình của các nhà Nga ngữ Việt Nam

khác như bài báo Đổi chiếu thành ngữ Nga-Việt về mặt ngữ nghĩa và các

phương thức chuyển dịch củâ Nguyễn Ngọc Bội [Nội san Ngoại ngữ, 3-

1974], luận án PTS ngữ vẫn^Đối chiếu thành ngữ Nga-Việt trên bình diện

giao tiếp” (1996) của Nguyễn Xuân Hòa, luận án TS ngữ văn Nga Русские фразеологизмы со значением характера человека с позиции носителя вьетнамского языка (2001) của Đinh Thị Thu Huyền và nhiều công trình

khoa học khác Nghiên cứu thành ngữ tiếng Nga có đối chiếu với thành ngữ

tiếng Việt đang thu hút nhiều sự chú ý của các nhà Nga ngữ học Việt Nam

1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

Chức năng quan trọng nhất của egôn ngữ đó là công cụ giao tiếp của con người Ngoài ra ngôn ngữ có chức năng khác không kém phần quan trọng

- đó là chức năng phản ánh và chuyển tải văn hóa liên quan đến nền văn hóa, phong tục tập quán của mỗi cộng đồng người bàn ngữ, chức nàng tích luỹ

kinh nghiệm của người bản ngữ, bởi lẽ ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, đồng thời nó là một bộ phận cấu thành của nền văn hoá Nhờ có chức năng tàng trữ, ngôn ngữ lưu giữ nền văn hoá đồng thời đảm bảo được sự nối kết giữa các thế

hệ, không những kết nối quá khứ với hiện tại mà còn kết nối giữa hiện tại và

Trang 12

tương lai Như vậy thành ngữ được xem như thành tố cấu thành nền văn hoá,

do đó có thể xem mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá như mối quan hệ

giữa bộ phận với toàn thê Mặc dù ngôn ngữ là thành tô câu thành của nên

văn hoá, nhưng ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu độc lập, nghĩa là ngôn ngữ hoạt động độc lập với văn hoá nhưng lại phản ánh nền văn hoá và luôn luôn có mối quan hệ qua lại với văn hoá Như vậy, ngôn ngữ là thành tố cẩu thành của văn hoá, đồng thời là công cụ và diện mạo của văn hoá

Bản thân ngôn ngữ của một dân tộc là tấm gương phản ánh tâm tư, tình cảm và cách tư duy của dân tộc ấy, trong đó thành ngữ với nghĩa hình tượng được tách riêng ra trong hành chức có khả năng phản ánh một cách “cô đặc” một sự vật, một hiện tượng, cách đánh giá sự vật, thái độ cư xử của con người trong thực tế xã hội của một cộng đồng mỗi người bản ngữ Vì vậy thông qua ngôn ngữ - mà rõ nét hơn ở thành ngữ và tục ngữ - có thể cảm nhận được hình ảnh đặc thù của mỗi cộng đồng thể hiện ở nghĩa hình tượng đậm đà bản sắc

vần hoá dân tộc

Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đồng thời là một thành tố văn hoá

2nên nó mang trong mình những đặc trưng văn hoá dân tộc, những biêu tượng dân tộc Ở phương diện này thành ngữ được coi như một thực thể văn hoá, trong đó yếu tố làm bộc lộ rõ nhất đặc trưng văn hoá dân tộc là nét nghĩa (nghĩa tố) tàng trữ phản ánh những mối liên tưởng với hiện thực đời sống của mỗi cộng đồng thường ăn sâu vào tiềm thức, trí não người bản ngữ (cả người nói và người nghe) Đây chính là chất “xúc tác” cơ bản gắn kết nghĩa trực tiếp của thành ngữ với hiện thực bên ngoài để tạo nên nghĩa đặc ngữ của thành ngữ

Theo V.A.Maslova (2001) ngôn ngữ gắn bó chặt chẽ với văn hóa, nó phát triển trong văn hóa và thể hiện nền văn hóa ấy Ngôn ngữ là phương tiện tích lũy và lưu giữ những thông tin có giá trị văn hóa Trong một số đơn vị từ thì thông tin văn hóa này là hàm ẩn (implicit) đối với người bản ngữ hiện nay nhưng nó có thể được bộc lộ ra một cách gián tiếp [V А Маслова (2001); tr

Trang 13

9-11] Theo cách luận giải này ta thấy, đại đa số từ ngữ và thành ngữ đều có ghi lại dâu vêt nhât định của nên văn hóa dân tộc Vì vậy nghiên cứu đôi

chiếu thành ngữ là phải tìm hiểu, giải mã và làm sáng tỏ nghĩa hàm ẩn của

thành ngữ có chứa đựng những dấu ấn văn hóa, lưu giữ những phong tục, tập quán và tâm lý thời đại của mỗi dân tộc, nói khác đi, cần phải nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Nhấn mạnh đến vai trò ngôn ngữ của cộng đồng mỗi dân tộc trong quan hệ qua lại với phong tục tập quán, F de Sausure

đã từng viết: “Phong tục của một dân tộc có tác động đến ngôn ngữ, và mặt

khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc”

[F De Saussure (1973) Giáo trình ngôn ngữ học đại cương NXB KHXH,

Hà Nội; 47] Theo cách hiểu này, ngôn ngữ chính là cái làm nên cốt cách, bản lĩnh riêng của một dân tộc với chức năng không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn lưu giữ trường tồn bản sắc văn hoá dân tộc

Quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hóa gắn bó một cách hữu cơ, bởi

lẽ ngôn ngữ gắn liền với đời sống con người trong hoạt động văn hóa của họ

Có thể nêu tóm lược những luận điểm cơ bản của V Humboldt (1985) về

quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa như sau: ỉ) Văn hóa vật chât và tinh thân được thể hiện trong ngôn ngữ; 2) Bất kỳ nền văn hóa nào cũng mang đặc điểm dân tộc, đặc điểm dân tộc của văn hóa được biểu hiện trong ngôn ngữ thông qua cách nhìn nhận đặc biệt về thế giới; hình thức bên trong đặc thù đối với mỗi dân tộc là cái vốn có của ngôn ngữ; 3) Hình thức bên trong của ngôn ngữ là sự biểu hiện của “tinh thần dân tộc’’ và văn hóa dân tộc; 4) ngôn ngữ là mắt xích gián tiếp giữa con người và thế giới xung quanh [Dần theo V.A

Maslova, tr 58]

Quan điêm vê quan hệ qua lại giữa ngôn ngừ và văn hóa trên đây của

V Humboldt đã được nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp nhận và lý giải theo cách

riêng, như trong công trình Мысль и язык của A.A Potebnja, hoặc trong các

công trình của Ch Bally, I.A Boduen de Courtene, R.o Jakobson

Trang 14

Tiếp nhận và vận dụng quan điểm của V Humboldt theo cách luận giải của V.A Maslova, trong khi thực hiện đề tài này chúng tôi tán đồng quan điểm của V.A Maslova cho rằng: “Ngôn ngữ là một sự kiện của văn hóa, bởi lẽ: 1) ngôn ngữ là một bộ phận cấu thành của văn hóa mà chúng ta thừa kế từ cha ông chúng ta; 2) ngôn ngữ là công cụ chủ yếu mà thông qua đó chúng ta hiểu được nền văn hóa; 3) ngôn ngữ là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của trật tự văn hóa, vì rằng nếu muốn hiểu thực chất của văn h ó a - khoa học, tôn giáo, văn học - thì chúng ta phải nghiên cứu những hiện tượng này, chẳng hạn nghiên cứu các mã được hình thành nhờ có ngôn ngữ, bởi lẽ ngôn ngữ tự nhiên có một mô hình được hoàn thiện hơn cả [B.A Маслова(2001); tr 61], qua đó, theo V.A Maslova, có thê thây:

1) Đại đa số thành ngữ (фразеологизмы) cỏ “dấu vết” của nền văn hóa

dân tộc cân được làm sáng tỏ;

2) Thông tin về văn hóa được bảo tồn trong nội hàm của thành ngữ do thông tin này là ý niệm bằng hình ảnh về thế giới nên nó làm cho thành ngữ mang bản sắc văn hóa dân tộc;

3) Điều căn bản khi chỉ ra đặc thù văn hóa dân tộc là khám phá ra ý

nghĩa hàm ẩn về văn hóa dân tộc chứa đựng trong thành ngữ.

Với cách hiểu như trên về mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn hóa các tác giả công trình này tiến hành nghiên cứu thành ngữ tiếng Nga, thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có chứa từ chỉ tứ chi người nhìn

từ góc độ ngôn ngữ-văn hóa học và cho rằng, “ngôn ngữ, trong đó có thành ngữ, là bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc, gắn bó khăng khít với nó Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ hai ngôn ngữ ở bình diện giao tiếp trước hết

là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với những nhân tổ văn hóa-xã hội

ngoài ngôn ngữ tác động đến liên chủ thể nói khi sử dụng ngôn ngừ (ở đây là

thành ngữ) trong hoạt động giao tiếp ở cấp độ phát ngôn Điều này đòi hỏi khi đổi chiếu ngôn ngữ trước hết phải đối chiếu hai nền văn hóa, những bối cảnh

Trang 15

ngôn ngữ trong đó còn lưu giữ trong tiềm thức người bản ngữ những nhân tố con người và xã hội” [Nguyễn Xuân Hòa (1996); tr.15].

1.3 Bức tranh ngôn ngữ và ý niệm vê thê giới

Con người cảm nhận về thế giới theo cách của mình, thông qua lăng kính tiếng mẹ đẻ, có nghĩa là nếu như mỗi ngôn ngữ phản ánh hiện thực theo phương thức vốn có của riêng mình, thì các ngôn ngữ được phân biệt bởi các bức tranh ngôn ngữ thê giới Bức tranh ý niệm găn với bức tranh ngôn ngữ thế giới, bởi vì bức tranh ngôn ngữ thế giới thể hiện trước hết tất cả những gì

đã được phản ánh trong nhận thức của con người, bức tranh ý niệm không thể tồn tại nếu không có phương tiện biểu đạt quan trọng nhất là ngôn ngữ Các thành tố của bức tranh ý niệm về thế giới là những hình ảnh, những khái

niệm, những biểu tượng, tức là những ỷ niệm (concepts) Ý niệm được hiểu là

những đơn vị bản thể khác nhau của nhận thức như những quan niệm, những hình ảnh, những khái niệm Thành ngữ đóng vai trò đặc biệt trong việc tạo ra bức tranh ngôn ngữ thế giới, bởi vì chúng phản chiếu hiện thực khách quan của dân tộc Bản chât nghĩa thực tại của thành ngữ găn liên với tri thức nên, với truyền thống lịch sử của nền văn hoá, phong tục tập quán của người bản ngữ

1.4 Nhiệm vụ của nghiên cứu đối chiếu thành ngữ nhìn từ góc độ ngôn ngữ-văn hoá học

Một là, nhiệm vụ của công trình này là nghiên cứu mối quan hệ tương

tác giữa ngôn ngữ và văn hoá trên cơ sở ngôn ngữ-văn hoá học thể hiện trong các đặc điểm của ngôn ngữ, trong đó cần phải dựa vào cấu trúc tri nhận trực tiếp gắn với nhận thức của con người để khám phá tinh thần và đặc thù văn

hoá của dân tộc thông qua ngôn ngữ (ở đây là thành ngữ)

Hai /ờ, khi nghiên cứu thành ngữ Nga, thành ngữ Anh có chứa từ chỉ

tứ chi người có đối chiếu với thành ngữ Việt cần làm sáng tỏ nghĩa hàm ẩn

văn hoả chìm sâu bên trong vỏ ngữ âm của cấu trúc bề mặt đơn vị thành ngữ.

Trang 16

Các thành tố văn hoá được rút ra từ ý nghĩa biểu niệm của từ hay đặc ngữ, thành ngữ, nhưng nhất thiết phải “được chắt lọc” thông qua phông nền văn hoá, tức thông qua sự liên tưởng của người bản ngữ.

Một vấn đề đặt ra là phải đối chiếu hai nền văn hoá khi tiến hành đối chiếu thành ngữ, vì rằng “Xét về phương diện văn hoá dân tộc, cấu trúc ngữ

nghĩa của thành ngữ là một cơ tầng văn hoá sâu; ở đây tuỳ theo cảnh huống

giao tiếp, những yếu tố văn hoá liên quan đến thành ngữ sẽ được bộc lộ ra nhiều hay ít như là những dự đoán tiềm ẩn mà người nghiên cứu cần tiếp cận, giải mã và nhận thức đầy đủ thông qua việc đối chiếu một cách chọn lọc hai nền văn hoá” [Nguyễn Xuân Hoà (1996); tr 23] về vấn đề này, B A Maslova cũng viết: “Nguồn tiềm tàng của hệ thống định danh ngôn ngữ thể hiện trong nghĩa hàm ẩn, bời vì từ mang nghĩa hàm ẩn không những có khả năng tạo ra mà còn ghi lại ý nghĩa ở cơ tầng sâu nằm trong mối quan hệ phức tạp với ngữ nghĩa của từ và củng cố nó trong ngôn ngữ, và do đó tạo nên bức tranh ngôn ngữ văn hoá dân tộc” [B.A Маслова (2001); tr 56] Trong công trình này chúng tôi thấy rằng cần phải chỉ ra ý nghĩa hàm ẩn ở cơ tầng sâu của thành ngữ khi đối chiếu ngôn ngữ (ở đây là thành ngữ Nga, Anh, Việt), c ấ u trúc tri nhận giúp cho các nhà nghiên cứu nhận rõ ý nghĩa ở cơ tầng sâu của

từ, của thành ngữ Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ-văn hoá học cần phải đưa ra những tư liệu về nghĩa hàm ẩn vãn hoá và những dự đoán nghĩa hàm

ẩn khi phân tích ý nghĩa của thành ngữ

Chính vì vậy, làm sáng tỏ sự tương đồng và sự khác biệt trong hệ thống các khái niệm trong các ngôn ngữ đưa ra đối chiếu là rất quan trọng, vì rằng

khi đối chiếu các đơn vị ngôn ngữ thuộc hai nền vãn hoá, trong đó có thành ngữ, cần phải làm sáng tỏ những đặc thù dân tộc, những yếu tố không thể trộn

lẫn được trong các nền văn hoá

1.4 ỉ Giải thích nghĩa thực tại của một số thành ngữ tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ-văn hóa học

Trang 17

Thành ngữ tiếng Nga ходить по рукам có hai nghĩa: 1) chuyền tay

nhau/ chuyền cho nhau xem; 2) đi lại, chung chạ với nhiều người (hàm ý phụ

nữ có quan hệ với nhiều người đàn ông) Ở đây, trong trường hợp thứ nhất, thành ngữ chứa đựng hình ảnh “chuyền từ người này sang tay người khác, phổ biến (thường nói về sách báo, các bản thảo hoặc thư từ)” Trong tiếng

Nga ý niệm này được thê hiện bởi động từ ходить, trong khi đó trong tiêng Việt ý niệm “chuyền tay nhau” không có từ vị đi (ходить) để truyền đạt hình

ảnh “chuyên từ người này sang tay người khác” Như vậy trong tiêng Nga

thành ngữ ходить по рукам ghi nhận tính cố định của thành ngữ, trong khi

đó trong tiếng Việt “chuyền tay nhau” chỉ là một cụm từ Hai ngữ ходить no

рукам và chuyền tay nhau đều được sử dụng với nghĩa trung hòa Điều này

giải thích rằng động từ ходить trong thành ngữ ходить по рукам có nghĩa tương ứng với nghĩa của động từ chuyền tay nhau, phổ biến rộng Ở nghĩa thứ hai, thành ngữ Nga ходить по рукам được sử dụng với hàm ý khinh bỉ, coi

thường tựa như thái độ coi khinh đổi với những cô gái điếm Trong tiếng Việt

cụm từ “qua tay nhiều n g ư ờ r/ “chung chạ với nhiều n g ư ờ r thường được sử

dụng để đánh giá hành vi xấu xa, thiếu đứng đắn của các cô gái hoặc những phụ nữ không phải là những gái điếm

Người Anh và người Việt có sự liên tưởng gần giống nhau về sự tự lực

cánh sinh của con người: stand on o n e ’s oyvn two fe e t đi bằng đôi chân của

mình = tự thân vận động.

4tMakes no diference what they did or didn't do You just stand on your

own two feet The world belongs to you as much as to the next fella so don’t

give it up An try not to be scared of people not liking you Just you try liking them Just keep your faith and your courage and you’ll tủn out all right” (stageagent.com) - Không có sự khác nhau giữa việc họ làm hay không làm

Bạn chỉ cần đứng vững trên đôi chân của chính mình Thế giới này thuộc về

bạn nên bạn đừng lìa xa nó Và đừng sợ những người không thích bạn Chỉ

Trang 18

cần bạn gắng thích họ Chỉ cần bạn giữ được lòng tin và dũng khí và bạn sẽ thấy là bạn đúng.

Người Nga và người Việt có sự liên tưởng khác nhau vê hành động

chạy thật nhanh của con người Cả hai thành ngữ ноги в руки và vắt chân lên

cồ đều có ý nghĩa chung là chạy rất nhanh Chúng ta có thể đưa chân lên bàn

tay một cách không khó khăn, nhưng lại rất khó khi đưa chân lên cổ

1.4.2 Những nghĩa hàm ân

Những nghĩa hàm ẩn trong các thành ngữ có chứa từ chỉ tứ chi người trong ba ngôn ngữ có thể tìm thấy được nếu ta chú ý đến những “dấu vết” của nền văn hóa mỗi dân tộc còn ghi lại trong tiềm thức của người bản ngữ Thông thường trong giao tiếp người bản ngữ quen dùng nghĩa hàm ẩn thông qua sự liên tưởng, so sánh với hiện thực khách quan xung quanh mình Ví dụ:

Trong tiêng Nga:

- большая рука (tay to) — người có vai vế, ông cốp; легкая рука (cánh

tay nhẹ nhàng) - mát tay; просить руки (xin nâng bàn tay) - cầu hôn, hỏi vợ

Trong các thành ngữ trên рука không mang nghĩa “bộ phận cơ thể người ’’ mà

đã chuyển nghĩa khác khi tổ hợp với các thành tố ^большая'', “легкая” và

íírìpocumb>, để tạo ra nghĩa thực tại được dùng trong giao tiếp.

Trong tiêng Anh:

- a big hand fo r (bàn tay to) - xin một tràng pháo tay (đê): A big hand

for Toby Tootaill, the greatest circus acrobat of all time/ Xin một tràng pháo

tay hoan nghênh Toby Tootaill, nghệ sĩ xiếc vĩ đại của mọi thời đại [Martin

H Manser Từ điển thành ngữ nói thường ngày trong tiếng Anh, Trần Tất

Thắng dịch và chú giải Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr 118]; Put your hand no

further than your sleeve will reach (đừng với tay quá tầm) - liệu cơm gắp mắm, biết thân biết phận', to bite the hand that feeds one (cắn vào tay đã nuôi

Trang 19

dưỡng mình, làm hại người đã đối xử tốt với mình) - ăn cháo đá bát, vô ơn

bạc nghĩa - ungrateful.

Trong tiếng Việt'.

Thành ngữ chăn cứng đá mềm có nghĩa trực tiếp “khỏe và dẻo dai” về

mặt thể chất, nhưng trong giao tiếp người Việt lại dùng nghĩa hàm ẩn như một

lời chúc người đi xa sẽ vượt qua được những khó khăn trở ngại trên bước

đường công tác, học hành, lập nghiệp, v.v ; thành ngữ chân trong chân

ngoài không dùng với nghĩa trực tiêp của nó mà nói vê thái độ với hàm ý chê

bai ai đó không yên tâm công tác, nửa muôn ở nửa muôn đi hoặc làm việc ở

chỗ này nhưng mặt khác vẫn để tâm trí làm việc thêm ở nơi khác hoặc chờ cơ

hội thuận tiện xin chuyển công tác Thành ngữ chân ngoài dài hơn chân trong

được suy ra từ đó cũng được dùng trong giao tiếp để phê phán thái độ làm

việc cầm chừng, chiếu lệ của công chức ở nơi mình công tác trong khi lại tích

cực làm việc ở bên ngoài vì lợi ích riêng

Việc làm sáng tỏ sự tương đồng và khác biệt trong hệ thống các ý niệm

trong các ngôn ngữ đưa ra đôi chiêu là rât quan trọng Như vậy khi đôi chiêu

các ngôn ngữ, trong đó có thành ngữ, thuộc các nên văn hóa khác nhau cân

phải làm sáng tỏ những đặc thù dân tộc, những nghĩa hàm ân chìm sâu trong

câu trúc hình thức các thành ngữ đê hiêu đúng nghĩa thực tại được người bản

ngữ sử dụng trong giao tiếp

Trang 20

CHƯƠNG 2 THÀNH NGỮ CÓ CHỨA TỪ CHỈ TỬ СШ NGƯỜI TRONG

TIÉNG NGA, TIÉNG ANH VÀ TIÉNG VIỆT

2.1 Hình thức thể hiện của thành ngữ

Trong phạm vi công trình này, đôi chiêu vê hình thức là xem xét và so sánh cấu trúc các thành tố, việc sử dụng cấu trúc số lượng các thành tố và các biến thể trong các thành ngữ đang xét trong tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt

“Are you bringing any complaint against the police? - ‘T11 bring my

complaint against the police in good time when my solicitor has the matter in

hand’ (D.Cusack, “Black, lightning”,part in ) - Ông có điều gì than phiền về

cảnh sát không?- Tôi sẽ than phiền về họ khi nào luật sư của tôi có hồ sơ trong

tay.

- Các thành ngữ có từ chỉ tứ chi người trong tiếng Nga và tiếng Anh do

nhiều thành tố tạo thành : связывать по рукам и по ногам - trói buộc chân tay; tie smb’s hand anh foot - trói buộc chân tay; ask fo r a lady's hand - cầu hôn,

Thành ngữ tiếng Việt do 3 hoặc nhiều thành tố tạo thành không phụ thuộc

vào việc các thành tố này là thực từ hay hư từ : phỗng tay trên, tay năm tay

mười, chân thấp chân cao, tay bắp cày chân bàn cuốc, v.v “Mày đề lơ mơ thì

Trang 21

trung úy phỗng tay trên sao.’’(Hồng Khanh - Phương Nam, Hoa tứ quý) Thành

ngữ này được sử dụng với nghĩa "giành được mối lợi, mà đáng lẽ phải là của người khác, một cách nhanh gọn"

Phần lớn các thành ngữ tiếng Việt có từ tay và chân do 4 thành tố tạo thành: chân lấm tay bùn, chân trong chân ngoài, tay bắt mặt mừng, tay bế tay

bồng, tay đứt ruột xót, tay đã thành chai ", tay đấm chân đá, tay hòm chìa khóa, chậm chân lỡ bước, ba chân tám căng, chân chỉ hạt bột, chăn đông vai săt, chân hán chân hài, chân trong chân ngoài, chân ngoài dài hơn chân trong, chân đi miệng đi, v.v

“Mới chỉ ít năm trước thôi, người dân ở làng ai cũng mong được thoát

ly lên thành phố làm công nhân hay bất cứ việc gì khác, mong sao ra khỏi vài

sào ruộng khoán để tránh cảnh chân lấm tay bùn” (Trần Liên Anh, Canh cánh

nỗi lo cơm áo, tinmoi.vn)

2.1.2 Các dạng cấu trúc được sử dụng

Cấu trúc các thành tố trong thành ngữ có thể khác nhau Một sổ thành ngữ trong tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Việt có thể được sử dụng với cấu trúc đầy đủ

hoặc không đầy đủ, có nghĩa là các thành tố riêng này có thể có trong trường hợp

này, mà trong trường hợp khác lại có thể bỏ qua

Ví dụ : + Trong tiêng Nga: предлагать руку (и сердце) - câu hôn

Полгода спустя он объяснился Варваре Павловне и предложил ей руку Предложение его было принято (Тургенев, Дворянское гнездо) Nửa

năm trôi qua, chàng đã thổ lộ tình yêu với Varvara Pavlovna và cầu hôn với

nàng Lời câu hôn của chàng đã được châp nhận:

Если бы я не был в таком невыгодном положении, как сейчас, я бы сам предложил вам руку и сердце (Симонов, Под каштанами Праги) - Giá

như anh không bị rơi vào tình trạng bất lợi như hiện nay, thì anh đã cầu hôn với

em rồi

Trang 22

- Trong tiêng Anh: Lay f± one’s) hands on sb or sth - tìm thây, kiêm

được, nhận, cướp được

“ I read every thing I could lay my hands o n ” (W.s Maugham, The

Summing up ch.21).- Tôi đọc mọi thứ tôi có thê kiêm được;

“After the death of young Bossinney he had heard that she had left

Soames at once One thing was certain - Soames had never been able to lay

hands on her again” (J Galsworthy, Indian Summer o f a Forsyte, ch 1)- Ong ta

nghe nói răng sau khi Boxini qua đời cô ây đã bỏ Xôm ngay lập tức Có một điều chắc chắn là Xôm không bao giờ có thể cướp được cô nữa

- Trong tiếng Việt: Trong thành ngữ tiếng Việt cũng có hiện tượng sử

dụng cấu trúc số lượng các thành tố như vậy Ví dụ, người Việt khi nói về thói

lật lọng, hay tráo trở, nay thế này mai thế khác thường dùng thành ngữ trở mặt

như ( ± trở) bàn tay, hoặc giở mặt như (± giở) bàn tay.

“ Lão ta trở mặt như trở bàn tay Vừa ngọt ngào dỗ dành như sẻ cửa sẻ

nhà đấy, thế mà lúc mình chối, lão ta nói sẵng rồi doạ nạt ngay được" (Nguyễn

Công Hoan, Hỗn canh hỗn cư);

‘‘Sao cũng là hai chị em, mà tôi thì chẳng biết thớ lợ cái gì Thảo nào bà

ấy đi lấy Tây được, hết chồng này đến chồng khác được Làm gì chẳng giở mặt

như bàn íạy’’(Nguyễn Huy Tưởng, Truyện Anh Lục).

2.1.3 Hiện tượng biến thể

Nhìn chung, thành ngữ có cấu trúc các thành tố cố định Có thể nói rằng,

từ và thành ngữ là những vật liệu kiến trúc cơ bản của ngôn ngữ Nhiều thành ngữ là những cụm từ không biến hóa về hình thái, là những đơn vị ngôn ngữ độc lập về mặt quan hệ ngữ pháp trong câu Một số thành ngữ có thể biến đổi theo sự chi phổi của các từ khác hoặc theo luật biến đổi từ loại, theo số, theo cách, theo thể, theo thời gian v.v của bản thân các từ trong thành ngữ Dưới đây chúng ta

hãy xem xét những biên thê của thành ngữ từ các góc độ khác nhau

Trang 23

a Biến thể hình thái

Trong tiếng Việt thành ngữ không có biến thể hình thái vì tiếng Việt là ngôn ngữ định hình Trong tiếng Nga và tiếng Anh, biến thể hình thái của các từ trong thành ngữ thường được thê hiện băng sự thay đôi hình thức của phạm trù này hay phạm trù khác

- Trong tiếng Nga :

Thành ngữ có thể có sự biến đổi về thể của động từ Tùy theo mục đích thông báo, người ta có thể sử dụng động từ hoàn thành thể hay chưa hoàn thành thể

Поднимать (поднять) Hâ кого? ' định đánh ai, đánh ai; định giết

г ai; mưu sát ai; đâu tranh, bài bác, chê bai

“А мы хотим с ними покончить! Это же и твои враги Почечу же ты

боишься поднять руку на них? Где же твоя совесть?” (Н Островский,

Рождённые бурей ).- Còn chúng tôi thì muốn kết liễu đời chúng Đó chính là

kẻ thù của cậu Tại sao cậu lại sợ giết chúng hả? Thế lương tâm của cậu ở đâu rồi?;

“Я долго молчал Может быть, слишком долго молчал Авторитет Ивана Ильича, личные связи, семейная этика Мне очень нелегко

поднимать руку на профессора Бородин” (А Афиногенов, Страх} Tôi im

lặng đã lâu, có thê là đã quá lâu Uy tín của Ivan Ilich, những môi quan hệ riêng

tư, đạo lý gia đình Những cái đó khiến tôi không dễ dàng đấu tranh với giáo sư Bôrôđin

Thành ngữ có thể có sự biến đổi về số của danh từ Ví dụ: греть руку

/руки - làm giàu không hợp pháp, bất lương Trong thành ngữ này có sự biển đổi

г

phạm trù sô của danh từ

“Было бы большой ошибкой утверждать, что все в Ленинграде выдержали испытание войной Нашлись эгоисты и лихоимцы,

испытавшиеся погреть руки на народном несчастье’,(И Соловьев, Будни

милиции) - Khẳng định rằng, tất cả mọi người ở Lêningrat phải chịu đựng thử

Trang 24

thách của cuộc chiến tranh ắt là một sai lầm lớn Có những kẻ ích kỷ, có những

kẻ ăn hối lộ cố làm giàu trên nỗi đau khổ của nhân dân;

“Он честен был, читал, любил науку, поэзию - себе не грел он руку чужим добром, когда и случай был” (Бенедиктов, После похорон A.A.K.Ỵ-

Ông ta trung thực, thích đọc, yêu khoa học, thơ ca; ngay cả khi có cơ hội cũng

không làm giàu bất chính cho mình bằng tiền của của người khác.

- Trong tiêng Anh :

Sự biến thể hình thái của từ trong thành ngữ tiếng Anh thể hiện qua việc thay đổi phạm trù số của danh từ Trong một số thành ngữ tiếng Anh có từ

“hand”, danh từ “hand” cỏ thề sử dụng ở dạng số ít hoặc số nhiều Ví dụ: “Come

to hand/ hands''1 - tới tay, đến nơi, đa nhận được (được sử dụng nhiều nhất khi

nói vê việc nhận thư từ)

“Mean while as Jose, whose arm was pierced by a broken bamboo, insists

upon returning, I send this letter back in his charge, and only hope that it may

eventually come to hand” (A c Doyle, The Lost World, ch.vni) - Trong khi

Giô đang nằng nặc đòi về vì bị một cành tre gãy đâm vào cánh tay, thì tôi gửi trả

lại cho anh ấy lá thư này Và tôi chỉ còn biết hy vọng là cuối cùng thì thư cũng sẽ

tới nơi;

“It was not often that a letter demanding decision came to her hands

past the kind and just censorship of Horace Pendyce” (J Galsworthy, The

country house, part I, ch VII) - Những bức thư đòi hỏi phải thông qua quyết

định có qua sự kiểm duyệt thiện chí và cẩn thận của ông Hôra tới được tay cô

không thường xuyên lắm

- Trong tiếng Việt :

Các từ trong thành ngữ tiếng Việt nói chung và trong thành ngữ có từ chỉ

tứ chi người nói riêng không có sự biến thể hình thái vì tiếng Việt là ngôn ngữ

định h ìn h

Trang 25

b Biển thể cú pháp (trật tự từ)

r

- Trong tiêng Nga :

Các thành ngữ được nghiên cứu có đặc trưng là trật tự các thành tô cô

định Tuy nhiên, trong một sô thành ngữ, có thê hóan vị các thành tô mà không thay đổi ngữ nghĩa của chúng Ví dụ: руки опускаются (отнимаются) /

г г

предпринять” (Куприн, Чёрная моиия) - Đôi khi tôi mât hêt khả năng hành

động Trong quyên hạn của mình công việc của tôi đang lúc tuyệt vời nhât,

thuận lợi nhất, thế mà tôi bị trói buộc, tôi không được cả gan quyết định làm cái

gì cả

“Так и в передовых колхозах можно развалить дело, у лучших

колхозников опускаются руки', да что же мы, обязаны век трудиться за

лодырей"(В Овечкин, Районные будни) - Như vậy là trong các nông trang

tiên tiên cũng có thê làm hỏng việc Những nông trang viên giỏi nhât cũng mât

hết hy vọng: chẳng lẽ chúng ta phải có trách nhiệm lao động suốt đời cho những

kẻ chây lười hay sao?

Trong tiêng Anh:

Ta gặp các thành ngữ at sm b’s hand/at the hands/of smb - trong tay ai;

"give smb the glad hand/give the glad hand to smb” - đón tiếp (ai) nồng nhiệt,

“tie smb's hand/tie the hand o f sm b:’ - bó buộc chân tay v.v

“But I am no beggar: I look for no favours at your hands” (R.L Stevenson, Kidnapped, ch.III) - Nhưng tôi không phải là kè ăn xin, tôi không hy vọng vào đặc ân cùa ông đâu.

Trang 26

“Almost no one wanted Robert Millhouser to undergo any punishment at

the hands o f the law (J.o Hara, Ourselves to know) - Hâu như không ai muôn Rôbớt Mihauxơ phải chịu đựng ■SỊT trừng phạt của pháp luật.

Trong tiếng Việt'.

có các thành ngữ chân lâm tay bùn/chân bùn tay lâm ", tay thây tay

thợ/tay thợ tay thầy, v.v…

Khi nói về nỗi vất vả cực nhọc trong công việc đồng áng, lao động chân

tay ngoài trời, người Việt Nam hay dùng thành ngữ chân lâm tay bùn/chân bùn

tay lấm (lấm: bùn ở chân ruộng mới cày bừa):

“Thử biết trước rằng khi về nhà Đích, y sẽ gặp được nhiều điều khác xa những cái y thường tưởng tượng Trước hết là nhà Đích chỉ có cái mẽ bề ngoài,

chứ thật ra cũng không giàu Thế mà hai ông bà đặc nhà quê, quanh năm phải

đầu đội vai mang, chân lấm tay bùn” (Nam Cao, sống mòn).

“Trước phải khó nhọc cày bừa, chân bùn tay lẩm, làm cho lúa tốt mới có

gạo ăn” (Hồ Chí Minh, Con người xã hội chủ nghĩa').

2.1.4 Hiện tượng biên thê từ vựng

Hiện tượng biến thể từ vựng là sự thay thế một thành tố của thành ngữ bằng một từ khác mà không làm thay đổi nghĩa của thành ngữ Hiện tượng này

có cả trong thành ngữ tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt

- Trong tiêng Nga :

Nhiều thành ngữ tiếng Nga có từ chỉ tứ chi người có hiện tượng biến thể

từ vựng: лизать руки / ноги / пятки - liếm gót giầy, quỵ lụy, bợ đỡ',

накладывать руку / лапу - chiếm đoạt, cướp lấy ; связывать/ связать

(спутывать/спутать) по рукам и (по) ногам - ràng buộc, gò bó, hạn chế hoạt

động = Trói chân trói tay (ai) = Bó chân bó tay, v.v

- в руки просится / плывёт / идёт - đạt được một cách dễ dàng, d ễ như trở bàn tay (có thể thay просится bằng плывёт hoặc идёт).

Trang 27

“(Городничий) Вот что он пишет: “".я знаю, что за тобою, как за всяким, вводятся грешки, потому что ты человек умный и не любишь

пропускать того, что плывёт в р уки ” (Гоголь, Ревизор) -“(Garôtnhichi)

Anh ta viết thế này : “…Tôi biết rằng, cậu có những nhược điểm như thế, bởi vì

cậu là người thông minh và không thích bỏ qua những gì lấy được một cách dễ

give / lend smb a helping hand - giúp đỡ ai; bind/tie sm b’s hand and f o o t -

trói buộc chân tay; a crack/good/great/rare hand at smt/yvith smt- bàn tay vàng,

người lành nghề, người điêu luyện

“They tell me you are a good hand with a truck”,said Tom (J

Steinbeck, “The grapes of Wrath”,ch.VIII) - Tôm nói: “Người ta nói với tớ là cậu lái xe tải rất giỏi”

“Michael, at the age of fourteen, was a rare hand with the pencil” ( s o ’ Casey, “I knock at the door”)-Ngay từ lúc mới 14 tuổi Misel đã vẽ rất giỏi

- Thành ngữ tiêng Việt cũng có hiện tượng biên thê từ vựng tương tự như

thành ngữ tiếng Nga và tiếng Anh Ví dụ:

Khi bắt được quả tang kẻ xấu, khiến chúng không chối cãi vào đâu được,

người ta thường dùng thành ngữ: Bắt tận tay day tận cảnh/ bắt tận tay day tận

tóc, băt tận tay day tận trán:

‘‘Bà kề cỏ đến tám chín vụ Quơi lấy cắp bị bà bắt tận tay day tận cảnh "

(Lê Tri Kỉ, Những tiếng nói thầm);

Trang 28

tcNếu lão càu nó chuồn được, thì cũng có khó khăn, vì hắn có thể chối

Đằng này cả hai đứa đều bị ta bắt tận tay day tận tóc” (Văn Trọng, Em Sao).

Khi nói về sự chi dùng quá hoang phí, không có chừng mực có thể dùng

thành ngữ vung tay quá trán/ giơ tay quá trán.

Khi nói về tình nghĩa ruột thịt, biết thương xót nhau khi gặp hoạn nạn,

tai biến, ta có thể dùng thành ngữ tay cắt ruột xót/tay đứt ruột xót/tay đứt dạ

xotf •••

“Con hãy xem anh đau như mình đau, tay cắt ruột x ó f' (Nhiều tác giả,

Dũng s ĩ núi Chư Pông).

“Lần này cả khám đều hay Tay đứt dạ xót, suốt đêm có mấy ai nằm nhắm mắt được” (Phạm Hữu Tùng, Ngẩng lên).

“Bà Phúc oán đứa nào rủ rê nó, rồi cuồng lên là chửi những người không

có con chết như bà, không biết tay đứt ruột Х0Г (Chu văn, Đất mặn).

2.1.5 Hình thái biển hóa hệ hình của các thành ngữ có từ chỉ tứ chi người trong tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Việt

- Trong tiêng Nga và tiêng Anh'.

Xét theo khả năng biến đổi về hình thái, các thành ngữ tiếng Nga và tiếng

Anh chia làm 2 loại:

капитана) - Ông già của chúng ta ở đó ra sao? Chính chúng tôi thiếu ông cứ

như là cụt cả hai tay ây.

Trang 29

Những thành ngữ thuộc loại có một hình thái thường là thành ngữ thán từ:

руки прочь - không được can dự vào; с рук долой - Thế là xong, nhẹ cả người

v.v ; thành ngữ trạng từ : по руке - vừa vặn, tiện, phù hợp, рукой подать - gân

kề, rất gần, ngay bên cạnh, v.v ; một số thành ngữ tính từ : как без рук - như bị

cụt cả hai tay, большой руки - quá quăt, bât trị, NN

- Các thành ngữ một hình thái trong tiêng Anh cũng chiêm một sô lượng

đáng kế: - hand in hand - liên kết, gắn bó chặt chẽ; hands o ff - đừng đụng vào,

đừng can thiệp vào; to hand - trong tâm tay, có săn, đã nhận được, đã đên tay', hands down - d ễ dàng, dễ như trở bàn tay, v.v

“She can get â divorce? - Hands down " (R Aldington, Very Heaven,

Part in , ch.4) - Chị ấy có thể ly dị chứ? - Rất dễ/ D ễ như trở bàn tay.

mắt, hay ăn cắp vặt, тяжел (тяжелый) на ногу (ноги) - chân nặng như chì,

chân nặng như đeo đ á

- Я с большим удовольсвием прочёл вашу статью о женщинах и

обеими руками подписываюсь под её выводом (Л Толстой, Письмо н.н

Страхову, 19 марта 1870) - Tôi đã say sưa đọc bài báo của anh viết về phụ nữ

và tôi hoàn toàn nhất trí với kết luận của bài báo.

Ở thành ngữ này, động từ подписываться được sử dụng ở các thời khác

nhau tùy theo văn cảnh; trong câu trên nó được sử dụng ở thời hiện tại

Trang 30

- Thành ngữ nhiều hình thái có từ hand trong tiếng Anh gồm các thành

ngữ động từ: come to (smb’s) hands - tới tay, đên nơi, đã nhận được' give/lend

smb a helping hand- giúp đỡ ai, v.v…

“If everything else fails, I think I’ll go into the green line You couldn’t

give me a helping hand, could you, Mr Snape?” (A.Trollope, The three Clerks

ch.XIII) - Nếu mọi cái bị thất bại, tôi nghĩ rằng tôi sẽ đi buôn bán rau quả, liệu

ông có giúp đỡ tôi không, ông Xnap?

Động từ “give” có thể sử dụng ở các dạng thức khác nhau tùy theo thông

báo; ở đây nó được dùng ở dạng nguyên thể không có “to”

So với tiếng Nga, thành ngữ nhiều hình thái tiếng Anh có số lượng ít hơn,

vì tính từ và danh từ tiếng Anh không có phạm trù giống, cách như tính từ và

danh từ tiếng Nga Ví dụ : danh từ “hand” được dùng hoặc ở dạng số ít : by hand

- bằng tay, hoặc ở dạng số nhiều : hands down - dễ dàng, dễ như trở bàn tay; sweet o ff one's fe e t - làm(ai) cảm kích vô cùng, chinh phục tình cảm; put one's fo o t down - kiên quyết, nhất quyết, phản đối kịch liệt, v v

- Trong tiếng Việt:

Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên thành ngữ tiếng Việt nói

chung và thành ngữ có chứa từ chỉ tứ chi người nói riêng không có hình thái biến

hóa hệ hình Trong tiếngViệt, phương thức thể hiện các quan hệ ngữ pháp và

môi liên hệ giữa thành ngữ với các từ trong câu là phương thức dùng hư từ và

trật tự của thành ngữ và các từ kết hợp với nó Ví dụ :

“Thằng Ca ở ngoài cầu Lương thậm thọt về nhà luôn Nhưng lần nào nó

cũng chỉ ngồi nhà được một lúc, hễ nghe tiếng còi tàu hỏa từ Hải Dương là chân

trước chân sau chạy biến” (Nguyễn Đình Thi, Vỡ bờ).

Thành ngữ ^Tayxảch nách m a n ^y có hai nghĩa:

- Nghĩa thứ nhất: "mang xách, vác đủ thứ với dáng vẻ tất bật, vất vả"

Trang 31

“ Hai Hòa tay xách nách mang, vai đeo túi dết tài liệu và khẩu AK47

nặng trữu, anh luồn chiếc ống xì đồng vào sau cổ áo xuống tận thắt lưng, đoạn trên vọt lên sau chiếc mũ tai bèo đã bạc màu, trông như cần ăng-ten của lính

Thông tin Tay anh xách một chùm chim sâu, cả mây chục cái đâu nhỏ xíu dốc ngược trông như mớ củ ấu vớt ở ao làng Hai Hòa cười tươi, trẻ trung như

đem niềm vui từ trạm giao liên về cử” (Đinh Quang Tỉnh, Anh Hai “Chúa

đảo" và chiếc ống "Xì đồng", Baomoi.com; tin gốc từ: tamnhin.net, ngày

2.1.1 Thành ngữ đơn nghĩa và thành ngữ đa nghĩa

Xét về mặt ngữ nghĩa ta thấy có các thành ngữ thành ngữ đơn nghĩa và

thành ngữ đâ nghĩa Để minh hoạ cho điều nhận xét trên chúng tôi đưa ra một số

ví dụ mà chúng tôi đã khảo sát được

- Trong tiếng Nga:

Thành ngữ рука не дрогнет - kiên quyết, dũng cảm - là thành ngữ đơn

nghĩa:

'Муравьев держал себе совсем просто, ниеаеой внешней важности

не напускал, но говорил всегда умно и содержательно и кроме того,

каждый чувствовал, что у этого человека не не дрогнет рука подписать,

что хотите’,(Н.Шегунов, Воспоминание) - Muravev sống giàn dị, không bao

gìờ ra vẻ quan trọng, nhưng lời nói của ông luôn tỏ ra thông minh và sâu sắc;

Trang 32

hơn nữa, mọi người đều cảm thấy ông là người kiên quyết đặt bút ký những gì

sinh viên

- Nghĩa thứ hai giành được, nắm được'

“Когда реакционеры взяли власть в свои руки, они утверждали, что

полная капитуляция - это елиственный путь спасения народа’’(г Брянцев,

Это было в Праге) - Khi bọn phản động đã giành được chỉnh quyên, chúng

khẳng định rằng đầu hàng vô điều kiện là con đường duy nhất cứu dân

- Trong tiêng Anh'.

Thành ngữ tiếng Anh bear/give (or lend) a hand (giúp đỡ) là thành ngữ

đơn nghĩa

“If we want to stop the growth of fascism, we’ve got to give a hand to the

Spanish people.” (Prichard, Winged seeds) - Nếu chúng ta muốn chấm dứt sự

tăng cường của chủ nghĩa phát xít, chúng ta phải giúp đỡ nhân dân Tây Ban Nha

Thành ngữ hands down có hai nghĩa: ”dễ dàng'' và utất yếu''.

“Scott is far and away the obvious Republican choise If the election were

today we would beat Lyman hands down'' (Knebel and Bailey, Seven days in

May) - Xcot xa lạ với sự lựa chọn chăc chăn của Đàng Cộng hoà Nêu cuộc bâu

cử diễn ra ngày hôm nay thì chúng ta sẽ thắng Liman một cách dễ dàng.

“My God, with our rating today, we’d lose hands down in any show -

down with Scott.” (Knebel and Bailey, Seven days in May) - Lạy Chúa, với sự

Trang 33

xếp hạng của chúng ta hôm nay, chúng ta sẽ tất yếu bị thua trong cuộc đọ sức bất

kì lần cuối với Xcot

- Trong tiếng Việt'.

Thành ngữ “chân ướt chân ráo” là thành ngữ đơn nghĩa: mới đến, chưa

kịp làm gì “Vừa chân ướt chân ráo trở về, chị liền bị bọn an ninh xã gọi lên cật

vấn” (Dân Hồng, Mở luồn).

Thành ngữ “chân trước chân sau” có 2 nghĩa:

1 nhấp nhổm, không yên “Thấy đồng chí tổ trưởng đang nói vậy, đã chân trước

chân sau chỉ chực về, không hỏi lại cho cặn kẽ, để đến bây giờ không biết đường

mà trả lời” (Nhiều tác giả, sống giữa người anh hùng).

2 vội vàng, nhanh chóng rời khỏi ‘‘Bà Cả ngân ngừ, thân mên nhìn chị Rẹo

về? Lại có cái nhẽ ấy Nó về thì nó đã về rồi, chứ nó có chân trước chân sau một cái là tếch ngay đâu mà bảo phải cuống lên” (Nhiều tác giả, Những con

người Hà Nội).

2.2.2 Thành ngữ đồng nghĩa:

- Trong tiêng Nga:

Thành ngữ cũng như từ, có thể có mối quan hệ đồng nghĩa với nhau Ví

dụ: брать- взять в свои руки đông nghĩa với thành ngữ овладевать собой,

тяжёл на руку - с тяжёлой рукой; сложа руки- поджавши руки: ôm chân

пар bóng, ôm chân liêm gót/ liêm gót giày đông nghĩa với nhau.

сложа руки đồng nghĩa với поджавши руки - khoanh tay ngồi nhìn, không làm gì cả, vô công rồi nghề.

“Hy, как сидеть весь век, поджавши руки? с тоски умрёшь!м

(Загоскин, Юрий Милославский) - “Chà, ngồi khoanh tay một đời mà được

hay sao? Sẽ chết mất vì buồn!’,i

Trang 34

“Мои спутники поняли, что если нам не удастся пересилить ветер, то

мы погибли Никто не сидел сложа руки, все гребли: кто лопатой, кто

доской, кто сломанным веслом и всем, что попало в руки” (Арсеньев, в

горах Сихотэ-Алиня) - Những người bạn đông hành của tôi đêu hiêu nêu chúng

tôi không mạnh hơn gió thì chúng tôi sẽ bị chết Không ai ngồi khoanh tay, tất cả

cùng chèo chống: người thì dùng xẻng, người thì dùng tấm ván, người thì dùng

mái chèo đã bị gãy và tất cả những gì họ vớ được

Xét theo sự giống nhau về ngữ nghĩa của các thành ngữ đựơc nghiên cứu

trong tiếng Anh, ta thấy có một số thành ngữ đồng nghĩa với nhau Ví dụ, thành

ngữ give/lend smb a helping hand đồng nghĩa với stretch out a helping hand to

smb - giúp đỡ ai, at second hand đồng nghĩa với at third hand - phong thanh

theo lời kể không trực tiếp; clean hands đồng nghĩa với one's hands are clean-

trong sạch, trung thực, chân thành

“With regard to the world of female fashion and it customs the present

writer, of course, can only speak at second hand’ (W Thackeray, Vanity fair, ch

37) - v ề thời trang phụ nữ của giới thượng lưu và phong tục tập quán của họ thì

một nhà văn đương thời chỉ có thê viêt theo lời kè lại mà thôi.

“Whispers, rumours, scandals came to US at second or third h a n đ \ (c.p

Snow, The Master's, ch 26) - Những lời xì xèo, những lời đồn đại, những vụ

bê bối đến tai chúng tôi là theo lời kể lại thôi.

Trong các thành ngữ tiếng Việt có những từ chỉ tứ chi người chúng tôi nhận thấy có các thành ngữ đồng nghĩa với nhau Thành ngữ ném đá giấu tay đồng nghĩa với ném đất giấu t a y - làm điều ác một cách lén lút, không dám công

khai lộ mặt, thường mượn tay kẻ khác thực hiện mưu đô xâu độc của mình, bê ngoài lại tỏ ra vô can với việc làm và hậu quà của nỏ

Thành ngữ dễ như thò tay vào túi đồng nghĩa với d ễ như trở bàn tay - dễ

dàng không có gì khó khăn vướng mắc

Trang 35

“Lính chiên như các cha cũng sướng một đời Đánh một trận vê , mặc

sức nghỉ ngơi, nhậu nhẹt Kiếm được gà tỗ dễ như thỏ tay vào túi vậy” (Dũng

Hà, Sao Mai).

“Chàng muôn xông vào muôn trùng giáo mác, chém tướng, giật cờ dê như

trở bàn taý' (Nguyễn Huy Tưởng, Lá cờ thêu sáu chữ vàng).

Như vậy, trong cả ba thứ tiếng đều có các thành ngữ có những từ chỉ tứ chi người đồng nghĩa với nhau

2.2.3 Thành ngữ trái nghĩa

Xét theo quan điểm chung về ngữ nghĩa, trong số các thành ngữ tiếng Nga

và tiếng Việt được nghiên cứu có một số thành ngữ trái nghĩa nhau Nghĩa trái ngược thường được thê hiện băng một trong sô các thành tô của thành ngữ hoặc bằng những cặp thành ngữ có nghĩa đối nhau Ví dụ:

развязать руки кому > < свяать руки кому, mạnh chân khoẻ tay >< yêu chân mêm tay

Trong tiếng Nga ta thấy có một số thành ngữ trái nghĩa như sau:

развязать руки кому > < свяать руки кому - cho tự do hành động, được thả

lỏng, không gò bó > < ràng buộc, gò bó, trói chân trói tay; просить руки >

Отказываться в руке - cầu hôn > < từ chối cuộc hôn nhân, từ hôn; рука не налегает > < рука не дрогнет - thiêu kiên quyêt, không có gan làm > < thăng

tay không thương tiếc, không run tay v.v

“(Налимов): Так вы решительно отказываетесь в руке вашей дочери?” (Некрасов, Петербургский ростовщик) - "Thê là ông quyêt định từ

chỏi cuộc hôn nhân cùa con gái ông à?"

Trang 36

Trong tiếng Anh có một số thành ngữ trái nghĩa có chứa từ chỉ tứ chi

người, ví dụ như : Free, untie sm b’s hand>< tie sm b’s hand- cho tự do hành

động khônng gò bó > < không cho tự do hành động, gò bó, trói chân trói tay ,

strengthen sm b ’s hand > < weaken sm b’s hand - giúp đỡ, ủng hộ, củng cố địa vị

> < làm suy yếu, làm giảm địa vị ; at fis t hand > < a t second/ third hand thẳng,

trực tiếp > < gián tiếp V V""

“This new and decisive action by the senate strengthened Roosevelts

hand immeasurably … ” (R.E Sherwood, Roosevelt and Hopkins, ch 2 9 ) -

Hành động mới mẻ và kiên quyêt này của thượng nghị viện đã củng cô địa vị

của Rudơven cực kì chắc chắn

“I had no doubt at all that they had been timed to discredit me and

weaken my hand in any negotiations with the President” (M.West, The Ambassador, ch.in) - Tôi không chút nghi ngờ là họ đã sắp đặt thời gian để làm

mất uy tín của tôi và làm giảm địa vị của tôi trong bất kì một cuộc đàm phán nào

với tổng thống

Trong tiếng Việt cũng có các thành ngữ trái nghĩa có chứa từ chỉ tay, ví

dụ: mạnh chân khoẻ tay - khoẻ mạnh, sung sức, có thể gánh vác được việc nặng nhọc > < yêu chân mêm tay/ chân yêu tay mêm - yêu ớt không làm được việc nặng; con đầu gối, con cánh tay - bận b ịu , vất vả, khó nhọc vì sự bìu ríu của con cái > < tay rảnh chân rỗi/ rảnh chân rảnh tay - còn son rỗi; không vướng bận

chuyện con cái, chuyện gia đình v.v

“Tôi đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, con đầu gối con cánh tay khốn

đốn, tôi chịu tất để ông yên mà công tác Tiếng lành chẳng nghe đâu, chỉ tinh

tiếng thị p h i ' (Nguyễn Thị Ngọc Tú, Đất làng).

“Trên bờ kè này, tôi gặp một phụ nữ còn khá trẻ, tay dắt đứa bé chừng

7, 8 tuổi, tên chị là Nguyễn Thị Kiều Oanh, chồng đã đi ghe từ khuya, còn chị đang dắt con chờ chồng về: “Thẳng bé đã được theo ba nó thử mấy chuyến nhưng chưa đủ sức chịu đựng những con sóng lớn Nếu quen được việc tôi sẽ

cho nó theo ổng luôn để tôi được rảnh tay rảnh chân vá lưới, chắt bóp thêm

Trang 37

được đồng nào đỡ đồng nấy ’, (Nguyễn Bình, Những ''An Tiêm” đi gieo

chữ, giaoduc.edu.vn,ngày 4 tháng 9 năm 2009)

“Hạnh thấy mình vốn son rỗi, tay rảnh chân rỗi còn xa mới theo kịp được chị.” (Nhiều tác giả, D ũngsỹ núi Chư Pông).

2.2.4 Ngữ nghĩa tie vựng của thành ngữ

Con người, bằng lao động của mình, đã sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần cho mình và cho toàn xã hội Với đôi bàn tay của mình họ có thể làm được mọi việc: Từ việc tốt đến việc xấu, từ việc cao thượng đến việc thấp hèn

Có thể dùng các thành ngữ có từ chỉ tay để đánh giá phẩm chất của con người

Khi nói về những người khéo léo, biết làm tất cả mọi việc, người Nga dùng

thành ngữ золотые руки hay мастер на все руки; người Anh dùng thành ngữ

a crack / good / great hand at smth; người Việt Nam dùng thành ngữ khéo tay hay miệng hay khéo chân khéo tay Khi nói tới phẩm chất xấu xa của con người,

người ta sử dụng các thành ngữ нечист на руки - tắt mắt, hay ăn cắp vặt,

лизать руки - quị lụy, bợ đỡ, dirty / roil one's hand - làm bẩn thanh danh, hạ

thấp mình, chơi bẩn, (with) c a p /h a t in han d - quị lụy, khúm núm, xun xoe, luồn

cúi, "lật lọng như trở bàn tay", "ném đá dấu tay", "gắp lửa bỏ tay người" v.v Khi nói tới nhũng người có uy tín, có ảnh hưởng lớn mà ta có thể nhờ cậy sự

giúp đỡ hay khuyên bảo, chỉ dân có thê sử dụng các thành ngữ своя рука - người cùng tư tưởng, cùng chí hướng; большая рука - người có uy tín, người

có ảnh hưởng lớn; сильная рука - người bảo hộ có thế lực, có uy tín, have а

long hand - người có thế lực, có ảnh hưởng lớn, đánh chuông ra mặt, đánh giặc

ra tay, miệng nói tay làm v.v

Trong cuộc đấu tranh sinh tồn, con người phải chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện bản thân bằng đôi tay, đôi chân, khối óc của mình để làm ra cơm ăn áo mặc và các giá trị vật chất và tinh thần khác Xã hội nào và ở bất cứ nơi nào, dù ở Nga, ở Anh hay ở Việt Nam cũng đều có những người lao động hết mình, say mê, sáng tạo và cũng có những người chây lười, tìm mọi cách để trốn tránh lao động Khi nói về những người lao động giỏi, lao động hết

Trang 38

mình, có thể sử dụng các thành ngữ : скор на руки - nhanh nhẹn trong công việc; руки горят - khao khát làm việc; мозолить руки - lao động cật lực, luôn chân luôn tay; put in hand - bắt đầu làm việc, bắt tay vào; put one's hand to the

plough - bắt tay vào làm những việc lớn; tay năm tay mười, mau tay hay làm

v.v Khi nói về những người lười biếng, vô công rồi nghề, có thể sử dụng các

thành ngữ : поджавши руки - ngôi không, không làm gì; сложа руки - khoanh tay, không làm gì; fo ld one's hand - buông tay, không làm gì; chỉ tay năm ngón,

тот miệng đỡ chân tay, v.v

Con người không sống đơn độc, họ sống trong cộng đồng và có nhiều mối quan hệ khác nhau trong đời sông xã hội, họ tạo nên nên văn minh nhân loại, tạo

ra những tinh hoa văn hóa dân tộc, con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội Con người đã sáng tạo ra thành ngữ, trong đó có cả những thành ngữ có từ chỉ tử chi người để nói về mối quan hệ đăm thắm tình người, nhưng cũng có những mối quan hệ không tốt đẹp - một điều khó tránh khỏi trong cuộc sống:

рука с рукой - đoàn kết nhất trí, trên dưới một lòng, положа руки - chân thành/

thành thật / thành tâm, играть на руку кому - vạch đường cho hươu chạy, / nối giáo cho giặc, лизать руку - liếm gót giày / quị lụy / bợ đỡ, g iv e / lend smt the

glad and fo o d - phục vụ đến tận tay / phục dịch tối đa, stay smb.'s hand - cản trở

/ ngăn càn, "tay đứt ruột xót", "đầu gối tay kề", "vỏ quýt dày có móng tay nhọn",

"ném đá giấu tay" v.v…

Tay và chân cùng được sử dụng trong các thành ngữ : связывать по рукам и по ногам - ràng buộc / gò bó hành động / trói chân trói tay; отбиваится руками и ногами - ra sức chống lại / kiên quyết chống lại; b in d / tie smb's hand and fo o t - bó buộc chân tay; -wait smb hand and foot - phục vụ

đến tận tay / phục dịch tối đa; chân lấm tay bùn, chân tay rụng rời, chân yếu tay

mềm, khéo tay khéo chân, tay que rẽ, chân vỏng kiểng, tay rảnh chân rỗi, tay ống sậy, chăn ống đồng, v.v

Trang 39

Tiểu kết chương 2

Thành ngữ tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt có chứa từ chỉ tứ chi người

được xem xét trên bình diện nội dung và bình diện biêu đạt; chúng thê hiện đời sông vật chât và đời sông tinh thân của nhân dân Nga, nhân dân Anh và nhân dân Việt Nam theo cách riêng của mình

Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt do hai hoặc nhiều thành tố tạo thành, thành ngữ tiếng Việt do 3 hoặc nhiều thành tố tạo thành

Các thành ngữ có thể được sử dụng dạng cấu trúc đầy đủ hoặc tỉnh lược;

có những biến thể về hình thái (trừ thành ngữ tiếng Việt), trật tự từ và từ vựng; có thành ngữ đơn nghĩa và thành ngữ đa nghĩa; có thành ngữ đồng nghĩa và thành ngữ trái nghĩa

Trang 40

CHƯƠNG 3

ĐÓI CHIẾU THÀNH NGỮ CÓ CHỨA TỪ CHỈ TỨ CHI NGƯỜI

TRONG TIẾNG NGA, TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ

GÓC Đ ộ NGÔN NGỮ -VĂN HÓA HỌC

Trong chương này công trình đối chiếu trong giới hạn những thành ngữ

tương đương và thành ngữ không tương đương có chứa từ chỉ tứ chi người.

và người Việt đều dung hình ảnh như nhau “ký cả hai tay” Hai thành ngữ này tương đương nhau cả vê câu trúc các thành tô, hình ảnh thê hiện và văn phong

Ngoài những thành ngữ tương đương, trong sô các thành ngữ đưa ra nghiên cứu còn có những thành ngữ tương đương nhau về nghĩa, nhưng hình

thức thì khác nhau Ví dụ: мастер на все руки ~ khéo chân khéo tay (trong thành ngữ tiếng Nga không có thành tố chân; складывать р у к и - khoanh tay bó

gôi (trong thành ngữ tiêng Nga không có thành tô gôĩ).

Khi đối chiếu các thành ngữ có từ chỉ tứ chi người trong tiếng Nga, tiếng

Anh và tiếng Việt về mặt nội dung và hình thức, ta thấy có những thành ngừ

tương đương nhau : связывать спутывать по рукам ~ bind / tie smb.'s hand

a n d fo o t- bó chân bó tay được sử dụng khi ta bị ràng buộc, ta không được tự do

hành động; khi nói về những người giỏi giang, làm mọi việc khéo léo ta dùng

các thành ngữ: золотые руки - a crack / good / great hand at - khéo chân khéo

tay\ v.v

Ngày đăng: 24/11/2021, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w