1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo chí bắc ninh với vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh hiện nay (khảo sát báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử thời gian tháng 62013 đến tháng 62014)

129 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 912 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo những tài liệu nghiên cứu, công trình khoa học và nhiều cuộc hội thảo bàn về công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh,

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRƯƠNG ĐỨC CƯỜNG

BÁO CHÍ BẮC NINH VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THÔNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HIỆN NAY

(Khảo sát: Báo in, Phát thanh, Truyền hình, báo Điện tử

Thời gian: tháng 6/2013 đến thán 6/2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRƯƠNG ĐỨC CƯỜNG

BÁO CHÍ BẮC NINH VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THÔNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HIỆN NAY

(Khảo sát: Báo in, Phát thanh, Truyền hình, báo Điện tử

Thời gian: tháng 6/2013 đến thán 6/2014)

Chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Nguyễn Thị Minh Thái

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày…… tháng… năm 2016

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

Tôi xin cam đoan luận văn “Báo chí Bắc Ninh với vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh hiện nay”

(Khảo sát: Báo in, Phát thanh, Truyền hình, báo Điện tử Thời gian: từ tháng

06/2013 đến tháng 6/2014) là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới dự

hướng dẫn khoa học của PGS, TS Nguyễn Thị Minh Thái Các số liệu và

dẫn chứng trích dẫn, sử dụng trong luận văn rõ ràng, trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả

Trương Đức Cường

Trang 5

Luận văn “Báo chí Bắc Ninh với vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh hiện nay” (Khảo sát: Báo in, Phát

thanh, Truyền hình, báo Điện tử Thời gian: từ tháng 06/2013 đến tháng

6/2014) là kết quả quá trình học tập của tôi tại Học viện Báo chí và Tuyên

truyền, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo

đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS, TS Nguyễn Thị Minh Thái người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình

nghiên cứu đề tài, hoàn chỉnh luận văn

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo đóng góp ý kiến, bổ sung để luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tác giả

Trương Đức Cường

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: VĂN HÓA BẮC NINH TRONG VÙNG VĂN HÓA BẮC BỘ 9

1.1 Khái niệm văn hóa và những khái niệm liên quan 9

1.2 Phân vùng văn hóa Việt Nam 15

1.3 Giáo sư Trần Quốc Vượng phân vùng văn hóa Việt Nam 19

1.4 Văn hóa làng nghề truyền thống một nét trong văn hóa Bắc Ninh 25

1.5 Báo chí tỉnh Bắc Ninh và nhiệm vụ truyền thong văn hóa làng nghề truyền thống 28

Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRÊN BÁO CHÍ BẮC NINH (6.2013 - 6.2014) 32

2.1 Văn hóa làng nghề truyền thống và việc truyền thông trên báo chí Bắc Ninh 32

2.2 Văn hóa làng nghề trên báo Bắc Ninh 35

2.3 Văn hóa làng nghề truyền thống trên sóng Đài PT&TH Bắc Ninh 57

2.4 Báo điện tử 79

Chương 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KINH NGHIỆM, PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG VỀ VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN BÁOCHÍ BẮC NINH 88

3.1 Bài học kinh nghiệm 89

3.2 Giải pháp về việc truyền thông văn hóa làng nghề trên báo chí Bắc Ninh 94

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 114

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dẫu gọi tên Xứ Bắc – Kinh Bắc hay Bắc Ninh thì hàng nghìn năm qua, vùng đất này vẫn được sử xanh, bia đá tạc vào thời gian như một vùng đất tổ,

là một trong những chiếc nôi sinh thành của dân tộc Việt Nam Nơi đây, chốn địa linh lắng hồn thiêng non nước, hội tụ tinh hoa linh khí núi sông, sản sinh người con ưu tú Lý Công Uẩn, người sáng lập vương triều Lý, khai sáng kinh

đô Thăng Long – Hà Nội Hào quang triều đại nhà Lý vũ công, văn trị lẫy lừng với bản hùng ca giữ nước Nam quốc sơn hà đến hôm nay vẫn vang vọng, vẫn rạng rỡ và tỏa sáng trong mỗi trái tim người dân nước Việt Vùng đất Bắc Ninh - Kinh Bắc là nơi nảy mầm Phật – Nho - Đạo, hoà hợp trong tính thống nhất cùng tín ngưỡng dân gian, tạo nên nét bản sắc văn hóa độc đáo Những di tích vật chất hiện hữu như: chùa chiền, lăng đền, thành trì qua bao hưng phế triều đại, bao mưa nắng thời gian, đến hôm nay đã trở thành những di sản kiến trúc tiêu biểu bậc nhất không chỉ riêng trên vùng đất này Bắc Ninh vùng đất của trăm nghề cổ truyền như Tranh dân gian Đông Hồ, Gốm Phù Lãng, Đúc Đồng Đại Bái, giấy Dó Đống Cao, phường rối nước Đồng Ngư, phường nghề Tuồng Tấn Bào, Đồng Kỵ, phường Chèo Bắc Thất Gian và nhiều phường nghề khác đã trở thành giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu, gắn với quá trình hình thành của dân tộc Việt

Theo những tài liệu nghiên cứu, công trình khoa học và nhiều cuộc hội thảo bàn về công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đều cho thấy sự chung tay vào cuộc của các cấp lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở, đã tạo ra sự đồng thuận nhằm tạo dựng một

số sản phẩm đã có thương hiệu và sự cần thiết trong việc truyền thông trên báo chí đối với vấn đề bảo tồn giá trị văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn

Trang 8

tỉnh Bắc Ninh là hành động cần thiết, có ý nghĩa sâu sắc, xứng đáng với tiềm năng sẵn có, tạo động lực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Bên cạnh những làng nghề truyền thống đã khẳng định được giá trị văn hóa thông qua các sản phẩm có thương hiệu, thì vẫn còn nhiều làng nghề đang truyền thống đang dần bị mai một, chìm vào quên lãng như giấy Gió Phong Khê, tranh Đông Hồ, Làng nghề múa rối nước Đồng Ngư…vv Làm thế nào

để bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống tiêu biểu của vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh trước xu thế hội nhập, Toàn cầu hóa như hiện nay chính là vấn đề đặt ra nghiên cứu của Luận văn “Báo chí Bắc Ninh với vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh hiện nay”

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, đã có nhiều luận văn, luận án, đề tài khoa học nghiên cứu vấn đề duy trì,quy hoạch, phát triển các làng nghề truyền thống, xây dựng các khu công nghiệp làng nghề truyền thống, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề, song những công trình nghiên cứu này mới dừng lại trên góc độ vật chất, kinh tế và phát triển kinh

tế xã hội của làng nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người dân tại các làng nghề truyền thống Làm thế nào để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống trong thời kỳ hội nhập, toàn cầu hóa như hiện nay đang đặt ra thành vấn đề cấp thiết của chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói chung Có thể điểm qua các công trình nghiên cứu như:

- Luận án “Quá trình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ” của

TS Mẫn Bá Đạt bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2009

- Luận án “Thực trạng và giải pháp của các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” của Tiến sỹ Nguyễn Quốc Chung bảo vệ tại Đại

học Kinh tế Quốc dân năm 2009

Trang 9

- Luận văn “Phát triển bền vững làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” của Thạc sỹ Nguyễn Việt Sáng bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân

Thương 2010

Bên cạnh những luận án, luận văn đã được nghiên cứu một cách khoa học, bài bản và cụ thể trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũng

có không ít bài viết, tài liệu, công trình nghiên cứu, khảo sát thực tế làng nghề

như: Hội thảo phát triển du lịch làng nghề Bắc Ninh do Sở Thương mại và

Du lịch tỉnh Bắc Ninh thực hiện năm 2007, Cẩm nang du lịch và đầu tư Bắc Ninh do UBND tỉnh Bắc Ninh xuất bản năm 2013 Những bài viết, tài liệu,

công trình nghiên cứu, các bài báo và chương trình phát thanh, truyền hình đã đăng tải thực trạng, đề ra các giải pháp tháo gỡ và định hướng phát triển trong những năm 2007 – 2015 và tầm nhìn 2030 Điều đó cho thấy, sự nhìn nhận, quan điểm của lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh với việc phát huy tiềm năng của các làng nghề truyền thống vốn là thế mạnh của địa phương trong nhiều năm qua

Thực tế đã khẳng định, làng nghề truyền thống có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa đối với tỉnh Bắc Ninh, là nền tảng vững chắc

Trang 10

trong việc ổn định đời sống, nâng cao mức thu nhập và xây dựng nông thôn mới Đã có những làng nghề trở thành điểm nhấn, thành mô hình kinh tế trọng điểm cần phát huy để phát triển kinh tế tại địa phương và của tỉnh như: Làng nghề đồ gỗ tại Đồng Kỵ, Sắt thép Châu Khê, Giấy Đống Cao, Đồng Đại Bái

và nhiều làng nghề khác đã được tổng kết, nhân rộng điển hình trong bối cảnh hiện nay

Việc quảng bá, bảo tồn và phát huy các sản phẩm của làng nghề truyền thống không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà là việc làm có tầm nhìn chiến lược,

có tính lâu dài nhằm bảo tồn những sản phẩm độc đáo của vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh, bảo tồn nét văn hóa truyền thống được lưu giữ trải qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc

Luận văn “Báo chí Bắc Ninh với vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh hiện nay” đặt ra vấn đề mới, chưa

từng được nghiên cứu, đề cập, nhằm tạo ra sự đồng thuận cao của các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa của người dân tại các làng nghề truyền thống nói riêng và toàn xã hội nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Bắc Ninh có 63 làng nghề truyền thống, trong đó có nhiều làng nghề được vinh danh không chỉ trong tỉnh, trong nước mà còn trên các diễn đàn quốc tế như Gốm Phù Lãng, tranh dân gian Đông Hồ, Đồng Đại Bái và một

số làng nghề tiêu biểu khác Để khai thác tối ưu các nguồn lực hiện có của các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt đối với những sản phẩm đã được khẳng định thương hiệu, mang lại giá trị kinh tế cao thì ngoài việc quy hoạch, xây dựng chiến lược phát triển trong thời gian trước mắt cũng như tầm nhìn lâu dài thì việc quảng bá, tuyên truyền, trên báo chí truyền thông cho các sản phẩm của các làng nghề truyền thống đã đặt ra những bài toán cần có lời giải một cách hiệu quả và thực tế

Trang 11

Luận văn “Báo chí Bắc Ninh với vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh hiện nay” nhằm mục

đích nghiên cứu, đánh giá về vai trò của báo chí Bắc Ninh với việc tuyên truyền, quảng bá, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh tế tại các vùng có làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Qua đó nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền của các phương tiện thông tin đại chúng (báo Bắc Ninh, đài PT&TH Bắc Ninh Ninh, báo Điện tử) Thông qua Luận văn này giúp cho các cơ quan nghiên cứu, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình và đội ngũ nhà báo, phóng viên, những người làm công tác tuyên truyền nhận thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tuyên truyền về vấn đề quảng bá, bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh, theo đúng chủ trương và thực tiễn đang diễn ra

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa một số quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với sự phát triển của các làng nghề truyền thống và của báo chí trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay như Nghị quyết số 04 – NQ/TU về phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Đồng thời, khẳng định việc Nghị quyết đã đi vào cuộc sống như việc xây dựng, quy hoạch nhiều cụm công nghiệp làng nghề Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ 18 đã đề ra mục tiêu là tăng GDP bình quân hàng năm đạt 15 – 16% trong đó kinh tế làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề cần được quan tâm phát triển

Khảo sát, đánh giá, phân tích vai trò của báo chí Bắc Ninh (Báo Bắc Ninh, Đài PT&TH Bắc Ninh Ninh) trong việc bảo tồn, phát triển giá trị văn hóa của các làng nghề truyền thống, chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế trong công tác tuyên truyền về lĩnh vực này

Trang 12

Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của báo chí Bắc Ninh trong việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa làng nghề truyền thống tại Bắc Ninh và cả nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Để làm rõ vai trò của Báo chí Bắc Ninh trong việc tuyên truyền, quảng bá, bảo tồn các sản phẩm của làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là các bài báo trên báo Bắc Ninh, các chương trình phát thanh, truyền hình, báo điện tử Bắc Ninh đã viết hay sản xuất, giới thiệu về các làng nghề truyền thống trên địa bàn thời gian từ 6.2013 đến 6.2014

Các quan điểm của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và XI, chiến lược phát triển báo chỉ 2010 – 2020

Trang 13

Các quan điểm, chủ trương của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Bắc Ninh đối với việc phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Luận văn văn cũng được thực hiện trên cơ sở lý luận báo chí, quan điểm của Đảng ta về nguyên tắc, vai trò, chức năng của báo chí trong xã hội Việt Nam hiện đại

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu luận văn này:

Phương pháp thu thập tài liệu

Khảo sát thực tế

Điều tra xã hội học

Tổng hợp, so sánh, thống kê, phân tích

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng được thực hiện nghiên cứu, đánh giá trên cơ sở tổng hợp các dữ liệu từ các tác phẩm báo in, báo điện tử các chương trình phát thanh, truyền hình trong thời gian từ tháng 6.2013 đến tháng 3.2014 Thông qua công tác nghiên cứu đã cho thấy một góc nhìn thực

tế, mới mẻ của những người làm báo đối với các sản phẩm của làng nghề truyền thống trên địa bàn hiện nay Chính vì vậy, luận văn có ý nghĩa thực tiễn, sâu sắc:

Hệ thống hóa các quan điểm, cách tiếp cận và khả năng ứng dụng của vấn đề nghiên cứu, nhằm góp phần từng bước tham gia tổng kết thực tiễn, góp phần đánh giá vai trò của báo chí trong đời sống xã hội Trên cơ sở đó, bổ sung vào nghiệp vụ của lý luận báo chí

Luận văn không chỉ có giá trị đối với các nhà nghiên cứu mà còn giúp ích cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa tiêu biểu của các làng nghề truyền thống Bên cạnh đó, đề tài

Trang 14

còn giúp cho các nhà báo trang bị cho mình những kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình tác nghiệp

Luận văn sẽ là tài liệu quan trọng để Báo Bắc Ninh, Đài PT&TH Bắc Ninh sử dụng làm tư liệu, cơ sở đánh giá chất lượng các tác phẩm báo in, phát thanh, truyền hình đang xuất bản và phát sóng, thông qua đó không ngừng đổi mới, tuyên truyền trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố trí theo 3 chương, 11 tiết và 110 trang

Trang 15

Chương 1 VĂN HÓA BẮC NINH TRONG VÙNG VĂN HÓA BẮC BỘ

1.1 Khái niệm văn hóa và những khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó

có những định nghĩa khác nhau về Văn hóa

Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc

sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”

Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô

cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị:

tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm

Trang 16

và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đƣa ra một loạt quan niệm về văn hóa:

-Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do

con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử -văn hóa là một hệ thống hữu

cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sng1 tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội

-Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát);

-Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);

-Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; -Văn hóa còn là cum từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử

cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn

Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa

và NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa –

vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa

Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc

Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh

thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình

Trang 17

Trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh do Nhà

xuất bản văn học phát hành cho rằng “Văn hóa tức là sinh hoạt” từ khái niệm này chỉ ra “Không kể là dân tộc văn minh hay dã man đều có văn hóa riêng của mình, chỉ khác nhau về trình độ cao thấp mà thôi”

Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa

hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng

diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…” còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”

Từ những khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng, văn hóa là quá trình ứng xử của con người đối với hai đối tượng chính là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong đó con người là trung tâm, là chủ thể quyết định đến việc hình thành nên nét văn hóa đặc trưng theo khu vực địa lý hay dân tộc nhất định Chính vì những điều kiện tự nhiên về địa lý khiến mỗi dân tộc sinh hoạt ở trên cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng hình thành khác nhau Bởi thế muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải xem dân tộc ấy sinh trưởng ở những điều kiện địa lý thế nào

Thực tế cho thấy, các điều kiện địa lý có ảnh hưởng lớn đối với cách sinh hoạt của người ta, cách sinh hoạt cũng vì thế mà cũng biến chuyển khiến văn hóa cũng biến chuyển theo Nghiên cứu xem sự hoạt động để sinh hoạt về các phương diện của một dân tộc xưa nay biến chuyển thế nào, tức là nghiên cứu văn hóa sử của dân tộc ấy Để là rõ khái niệm về văn hóa làng nghề truyền thống, học viên đã tìm hiểu, nghiên cứu các khái niệm liên quan đến

Trang 18

văn hóa Việt Nam, từ đó đi sâu vào nghiên cứu văn hóa vùng đồng bằng Bắc

Bộ, văn hóa vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc, từ đó chúng ta có thể thấy một mô hình chung nhất về văn hóa Việt Nam

XÃ HỘI NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

LỰC LƯỢNG QUẢN LÝ

LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG KỸ THUẬT

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

PHƯỜNG NGHỀ, PHỐ NGHỀ TRUYỀN THỐNG

1.1.2 Khái niệm văn hóa làng nghề

Trong cuốn “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” của GS Trần

Quốc Vượng do Nhà xuất bản Hội nhà văn phát hành năm 2000 Ông đã thử đưa ra định nghĩa về văn hóa làng nghề truyền thống, nhưng thực chất đây là một định nghĩa đầy đủ nhất từ trước đến nay Trước hết, định nghĩa này đã khẳng định làng nghề là một thành tố quan trọng trọng trong xã hội tiểu nông,

có những làng gắn với nông nghiệp và có những làng gắn với chuyên môn hóa Trong đó, chúng ta có thể thấy rất rõ ở các làng nghề chuyên môn hóa thường gắn liền với cư dân sống ở đô thị, kinh đô hay ở các trung tâm Đặc điểm của các làng chuyên môn hóa đó là thường có những người thợ lành nghề, có chuyên môn cao, có cơ cấu chặt chẽ theo kiểu phường hội

Về cơ bản, đặc trưng của văn hóa làng nghề truyền thống gồm những yếu tố cấu thành như:

Trang 19

- Cơ cấu tổ chức: Diện mạo làng xã, dòng họ, phe phái, các hội đồng niên

- Văn hóa vật thể: Đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ

- Văn hóa Phi vật thể: Luật tục, phong tục, tập quán, ứng xử xóm làng,

lễ hội tín ngưỡn dân gian

Do nguồn sống chủ yếu dựa vào các sản phẩm của nghề thủ công và việc trao đổi buôn bán, cộng thêm sự tác động của di dân nên làng nghề truyền thống cũng có những yếu tố mở khác với làng nông nghiệp như:

- Cơ cấu tổ chức: Phường, hội nghề, mối quan hệ làng xóm, dòng họ, gia đình, thợ thủ công

- Một số hình thái văn hóa: Nghề và tín ngưỡng tổ nghề, ứng xử mang tính tiểu thương, bí quyết và kỹ xảo nghề, các tập tục riêng biệt của làng nghề

Với những nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy Văn hóa làng nghề là

“Tế bào sống của xã hội Việt Nam, là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình cộng cư, định cư của người Việt” Vì vậy, khi nghiên cứu văn hóa làng nghề thì sự cần thiết phải nghiên cứu tổng thể những yếu tố cấu thành nên văn hóa làng và văn hóa của nghề

1.1.3 Làng nghề truyền thống

Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống có giá trị về thời gian còn hiện hữu đến hôm nay Trong đó nổi bật nhất là khu vực Đồng bằng châu thổ sông Hồng Với những nét đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp và chế độ quần cư theo kiểu làng xã, vì vậy nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền với lịch sử thăng trầm của dân tộc Cùng với sự phát triển của con người, xã hội các làng nghề truyền thống đã có sự phát triển để phù hợp với thực tiễn của cuộc sống Các làng nghề được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với xã hội, đời sống của cộng đồng, dần dần được quy về các khái niệm như nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia truyền, nghề phụ, nghề thủ công…Những khái niệm này tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ khác song vẫn có những đặc điểm giống nhau về cơ

Trang 20

bản, đặc biệt xét từ góc độ văn hóa có thể sử dụng chung một khái niệm đó

là làng nghề Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để tạo ra các sản phẩm có bề dày lịch sử và được lưu truyền trong dân gian Chúng ta có thể hiểu và đưa ra những khái niệm theo cách nhìn văn hóa như:

Là một địa danh gắn liền với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ

Ổn định về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm

Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau

Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân tư và quan trọng hơn là nó mang những giá trị vật thể, phi vật thể phản ánh được lịch sử văn hóa và xã hội liên quan tới chính họ

Từ những khái niệm, góc nhìn mang tính văn hóa được tổng kết trên đây, chúng ta có thể thấy những đặc điểm, bản chất, giá trị văn hóa của các làng nghề truyền thống được tồn tại và phát triển thông qua quá trình lao động sản xuất của một tập thể hay cả xã hội trong một không gian lãnh thổ nhất định Các sản phẩm của làng nghề truyền thống đã thể hiện sự sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất, đồng thời là sản phẩm phản ánh

rõ nét giá trị văn hóa truyền thống phi vật thể mà đến ngày nay vẫn được giữ gìn và phát huy

Theo con số thống kê chưa đầy đủ thì nước ta hiện nay có khoảng trên

2000 làng nghề truyền thống, trong đó khu vực phía Bắc, chủ yếu tập trung khu vực Châu thổ sông Hồng chiếm khoảng 1594 làng nghề (79%), Miền Trung có 312 làng nghề (15,5%), Miền Nam 111 làng nghề (5,5%)

Trang 21

Nhìn trên biểu đồ chúng ta có thể thấy các làng nghề chủ yếu tập trung

ở khu vực phía Bắc, trong đó tập trung ở các tỉnh như: Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Hà Nội và một số tỉnh có hệ thống sông Hồng, Thái Bình, sông Đuống và một số tuyến sông khác trong khu vực

1.2 Phân vùng văn hóa Việt Nam

1.2.1 Không gian văn hóa

GS Ngô Đức Thịnh cho rằng “Không gian văn hóa theo hai nghĩa cụ thể

và trìu tượng Nếu hiểu theo nghĩa cụ thể, chúng ta coi không gian văn hóa theo không gian địa lý xác định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống”

Theo ý nghĩa trìu tượng “Không gian văn hóa như một “trường” để chỉ một

hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng có khả năng tiếp nhận và lan tỏa tạo cho nền văn hóa đó một không gian văn hóa rộng hay hẹp khác nhau” Theo cách

hiểu về khái niệm khu vực theo tiêu chí không gian - chức năng, người ta có thể xác định được các cấp độ khác nhau từ nhỏ đến lớn của không gian văn hóa và được chia thành các nhóm như sau: Văn hóa địa phương/văn hóa sắc tộc, Văn hóa dân tộc, Văn hóa khu vực nhỏ (tiểu vùng), Văn hóa khu vực mở rộng

1.2.2 Vùng văn hóa

Vùng văn hóa là những giá trị văn hóa được tạo ra bởi các tộc người trên một không gian địa lí nhất định Những nhóm tộc người khác nhau ở vị trí khác nhau tạo ra sự đa dạng của bức tranh văn hóa dân tộc Mỗi vùng văn hóa là sự kết tinh của quá trình phát triển, đấu tranh, chinh phục của con

người với thiên nhiên nơi họ sinh sống Theo Nhà sử học Trần Quốc Vượng

sự phân chia văn hóa vùng miền của nước ta khá đa dạng vào theo từng khu vực cụ thể như: Vùng văn hóa Tây Bắc, Vùng văn hóa Việt Bắc, Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, Vùng văn hóa Trung Bộ, Vùng văn hóa Trường sơn – Tây nguyên, Vùng văn hóa Nam Bộ

Trang 22

Về cơ bản, những đặc điểm văn hóa của người Việt tại các khu vực vẫn được lưu giữ, bảo tồn trước sự sâm lấn của văn hóa phương Tây du nhập Cùng với sự chiếm lĩnh về chính quyền, địa giới hành chính, Thực dân Pháp

đã truyền bá, lan tỏa nhiều luồng văn hóa ngoại lai vào Việt Nam nhằm thống trị về mặt từ tưởng, đồng hóa các giá trị văn hóa Đây là thời kỳ văn hóa Việt Nam chịu nhiều tác động, song nó cũng tạo ra sự mở mang, tiếp thu luồng văn hóa mới từ nông nghiệp truyền thống đang chuyển dần sang công nghiệp hiện đại Đây là một thời kỳ đầy biến động cả về văn hóa vật chất, văn hóa xã hội

và văn hóa tinh thần Từ chế độ Phong Kiến chính quyền Pháp đã chuyển sang bộ máy kiểm soát mới từ trung ương đến các làng xã, báo chí ra đời, giáo dục khác về chất so với trước, văn học phát triển, tiếng Việt khoa học ra đời, chữ quốc ngữ được sử dụng rộng dãi Từ thực tiễn như vậy đã khiến văn hóa cũng có sự chuyển biến tạo ra bức tranh đa sắc, bên cạnh những yếu tố mới, yếu tố cũ được vỡ ra, vẫn còn những yếu tố được bảo lưu Cái mới tuy không chiếm ưu thế về số lượng nhưng có sức lan tỏa mạnh mẽ theo thị hiếu, yếu tố cũ được bảo lưu, ẩn sâu vào tiềm thức của người dân mà không dễ làm phai nhạt

Thời kỳ Pháp thuộc là giai đoạn bắt đầu cho sự pháp triển về KHKT, công nghiệp, nhiều thành tựu KHKT phương Tây bắt đầu du nhập vào Việt Nam như ô tô, tầu lửa, điện và hàng loạt sản phẩm công nghiệp nhẹ Điều này

đã góp phần thay đổi về mặt nhận thức của nhiều người dân thành thị bởi sự

Trang 23

hiện đại hơn trong đời sống, có ô tô để đi, có điện để dùng và đi lại từ các tỉnh

xa xôi bằng tầu lửa đã thuận tiện hơn Nhưng có một điều chúng ta dễ nhận thấy đó là văn hóa thì chịu ít ảnh hưởng hơn khi nền văn hóa đậm đà bản sắc

đã được bén dễ vào đời sống nhân dân trong một quá trình lâu dài Điều đó cho thấy, văn hóa có sức sống bền lâu, là gốc của cả một dân tộc

Bằng cuộc khởi nghĩa mùa thu 1945, những người con ưu tú của dân tộc dưới sự chỉ đạo của Hồ Chủ Tịch đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, chấm rứt giai đoạn Pháp thuộc, dân tộc ta đứng lên làm chủ vận mệnh nước nhà

1.2.4 Thời kỳ sau Hiệp định Giơnevơ (1954)

1.2.4.1 Bối cảnh lịch sử

Hiệp định Giơnevơ (Genève) năm 1954, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương Thời kỳ này, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền tại Vĩ tuyến 17 tỉnh Quảng Trị Ở miền Bắc, sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân căn bản hoàn thành, Đảng chủ trương chuyển sang xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ở miền Nam, Quân Pháp rút toàn bộ khỏi miền Nam Việt Nam trút

bỏ trách nhiệm thi hành những điều khoản còn lại của Hiệp định cho Diệm, người kế tục chúng ở miền Nam Đế quốc Mỹ ra sức thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương Ngày 25-6-1954 Mỹ đã ép được Pháp đưa Ngô Đình Diệm (người của Mỹ) thay Bửu Lộc (người của Pháp) lên làm Thủ tướng Chính phủ

Mỹ-bù nhìn miền Nam Việt Nam Chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ

và có sự chỉ đạo của Mỹ, ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc tổ chức tổng tuyển

Trang 24

cử tự do trong cả nước để thống nhất Việt Nam trong thời hạn hai năm theo điều khoản của Hiệp định Đến hạn hai năm, tháng 7-1956, Diệm tuyên bố

"Sẽ không có hiệp thương tổng tuyển cử, vì chúng ta không ký Hiệp định Giơnevơ, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi Hiệp định đó" Bằng một loạt hành động trái với hiệp định, như bầy trò "trưng cầu dân ý" để phế truất Bảo Đại rồi suy tôn Ngô Đình Diệm làm Tổng thống (tháng 10-1955), tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (tháng 5 -1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là "Việt Nam cộng hoà" (tháng 10-1956), Diệm đã trắng trợn từ chối và phá hoại việc thống nhất Việt Nam Cùng với sự giúp đỡ dưới hình thức "viện trợ" quân sự, chính trị, kinh tế, miền Nam Việt Nam được xây dựng thành căn cứ quân sự, thành cơ sở kinh

tế thực dân kiểu mới của Mỹ Tất cả việc làm trên của Mỹ - Diệm không ngoài mục đích tách hẳn một phần lãnh thổ của Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để lập ra một quốc gia riêng biệt, thậm chí là một phần lãnh thổ của nước

Mỹ Tháng 5-1957, Ngô Đình Diệm tuyên bố tại Washington "Biên giới Hoa

Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17 "

1.2.4.2 Sự biến đổi về văn hóa

Trước những diễn biến về mặt chính trị, vị trí địa lý có sự dịch chuyển, nước ta từ chế độ quản lý hành chính ba vùng nay được chuyển thành hai vùng Miền Bắc và Miền Nam, dẫn đến văn hóa cũng có sự thay đổi Ở miền Bắc, nhân dân đang hăng hái thi đua lao động sản xuất, xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến Sự tiếp nối văn hóa mới trong giai đoạn Pháp thuộc tiếp tục được phát huy, người dân đã tiếp cận ngày một sâu với khoa học kỹ thuật (KHKT) đã góp phần làm thay đổi đời sống xã hội thời kỳ này

Miền Nam nhân dân sống dưới chế độ bù nhìn, tay sai của Nhà nước Việt Nam cộng hòa, sự xuất hiện của lính đánh thuê từ Mỹ, Anh và các nước chư hầu đã tạo ra sự xáo chộn so với thời gian trước Lỗi sống Tây hóa được

Trang 25

du nhập rộng dãi, khiến văn hóa bản địa đang bị xâm lấn, những nét văn hóa

cổ truyền bị đẩy ra khỏi cuộc sống thành thị, thay vào đó là cuộc sống xa hoa, trụy lạc, ưa hưởng thụ từ những đồng Đô la được viện trợ

Đất nước tạm thời bị chia cắt bởi Vĩ tuyến 17, chúng ta thấy rõ sự khác biệt của hai vùng văn hóa miền Bắc và miền Nam một cách rõ rệt Lối sống theo phong cách truyền thống vẫn được người dân miền Bắc gìn giữ, những cốt cách của dân tộc được bảo tồn, lưu truyền tạo ra nét văn hóa đậm đà bản sắc Ngược lại với miền Bắc, miền Nam với những nét văn hóa pha trộn, nhiều nét văn hóa truyền thống đã dần mai một, thay vào đó là nhiều nét văn hóa phương Tây được du nhập đối với bộ phận không người dân Sài Gòn thời bấy giờ

1.3 Giáo sư Trần Quốc Vượng phân vùng văn hóa Việt Nam

Trong các thời kỳ phân vùng văn hóa như chúng ta đã biết, Việt Nam được chia thành nhiều vùng văn hóa khác nhau theo từng thời kỳ lịch sử Nếu thời kỳ Pháp thuộc Việt Nam được nhà cầm quyền chia thành ba vùng hành chính Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ thì thời điểm này văn hóa bị ảnh hưởng và cũng chia thành ba vùng theo bản đồ quản lý hành chính Đến thời điểm sau Hiệp định Giownevo 1954, đất nước ta được chia làm hai miền bởi vĩ tuyến 17

là miền Bắc và miền Nam, thời kỳ này văn hóa lại có di biến trở lại hai vùng theo chế độ miền Bắc XHCN và miền Nam dưới chế độ Việt Nam cộng hòa Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước, văn hóa Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu chia thành nhiều vùng khác nhau, nhưng đầy đủ cơ sở và được nhiều người công nhận nhất chính là cách phân vùng văn hóa theo Nhà sử học Trần Quốc Vượng, với sáu vùng văn hóa cơ bản như sau:

1.3.1 Vùng văn hóa Tây Bắc

- Địa lý: gồm hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn sông Hồng kéo dài tới bắc Thanh Nghệ

- Dân tộc: có trên 20 tộc người cư trú, các tộc Thái, Mường có thể xem

là đại diện

Trang 26

- Biểu tượng văn hóa là hệ thống mương dẫn nước vào đồng ruộng, nghệ thuật trang trí trên trang phục: khăn, váy Mường, H’Mông, âm nhạc: nhạc cụ bộ hơi (khèn, sáo…), những điệu múa xòe

Về nhà ở và nề nếp gia đình

- Nhà ở và quan hệ sinh hoạt trong không gian gia đình của người Thái như đại diện tiêu biểu cho nghệ thuật và kỹ thuật xây dựng, kiến trúc nơi cư trú và truyền thống gia phong của đồng bào các dân tộc trong vùng

- Nề nếp quan hệ trong gia đình, tính hiếu khách, sống chân thật, văn minh và hòa thuận với láng giềng, tôn trọng người già, thương yêu con trẻ, giúp đỡ nhau… được quý trọng và học tập

Về sinh hoạt nghệ thuật trình diễn

- Xòe là đặc trưng nghệ thuật múa Thái (32 điệu) Bên cạnh là khăn Piêu, túi thổ cẩm,nhạc cụ được chế tác bằng tre, bằng đồng hay bằng bạc như

- Hội Xéc bùa (cồng chiêng), lễ cầu mát của người Mường

- Hội Mừng măng mọc, Cầu mùa của các dân tộc La Hủ, Khơ Mú, Mảng

- Hội Pin Pang người Thái trắng, lễ cúng bản người Cống, hội tung còn người Tày, hội đền Bản Phủ, lễ hội kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ

Trang 27

Về bản sắc trong văn hóa nghệ thuật

- Vùng văn hóa Tây Bắc là quê hương của các truyện thơ dân gian (đa dạng về thể loại, phong phú trong cách diễn xướng hoặc các lời cầu khấn, các bài văn vần truyền dạy đạo đức cho con cái, các thần thoại, đồng dao, cổ tích…), là quê hương của các bản trường ca và những tập dân

ca đồ sộ: Táy pú xớc (Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha) kể về quá trình lịch sử của người Thái vào vùng đất này, Tẻ tất tẻ nác (Đẻ đất đẻ nước) của người Mường, Xống chụ xôn xao (Tiễn dặn người yêu) của người Thái, Tiếng hát làm dâu của người Mông,…

Về các trò chơi dân gian

Sự phong phú của các lễ hội vùng Tây Bắc là minh chứng cho sự sinh tồn đa dạng của các trò chơi dân gian của con người các dân tộc, từ ném còn, đánh đu, đánh mảng, đến hàng loạt trò chơi khác vô cùng sinh động, thông minh, hấp dẫn ở các làng bản

Về các nghề thủ công

- Sự thông minh, khéo tay của người phụ nữ trong việc thêu thùa và thuần thục bên khung cửi (qua những bộ trang phục, trang sức, các đồ gia dụng như chăn, màn, túi xách…)

- Nổi bật là nghề dệt của người Thái và người Mường (chiếc khăn Piêu, túi thổ cẩm Cạp váy hoa văn Mường đã thành đề tài nghiên cứu của nhà dân tộc học Từ Chi, trở thành công trình khoa học có giá trị

1.3.2 Vùng văn hóa Việt Bắc

- Địa lý: gồm hệ thống núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng

- Dân tộc: cư dân vùng này chủ yếu là người Nùng, Tày

- Biểu tượng văn hóa: trang phục giản dị, lễ hội: lễ hội lồng tồng, hệ thống chữ Nôm Tày

Về những lễ hội tiêu biểu

Trang 28

- Lễ hội Lồng tồng (xuống đồng), hội Lồng Shuông, hội Then, hội Mẹ Trăng, Xòe của người Tày ở Lạng Sơn

- Lễ Lập tịch (vào họ), hội Quá tang (cấp sắc), hội Đạp ca (giẫm cỏ non mùa xuân) của người Dao ở Thái Nguyên, Bắc Cạn

- Lễ hội Gầu tào (chơi đồng), hội Sán sải (chơi núi) của người Mông ở

Hà Giang, Tuyên Quang

- Lễ hội giao duyên mùa xuân của người Sán Dìu…

Về sinh hoạt nghệ thuật

Nổi tiếng là nghệ thuật múa lân, múa sư tử, hát Sli của người Tày, hát Lượn của người Nùng, hát Sình ca của người Sán Chay (Cao lan – Sán chí), hát gầu Plênh trữ tình của người Mông…

Về các trò chơi dân gian

Vùng Việt Bắc nổi tiếng với các sinh hoạt vui chơi, giải trí, rèn luyện thể chất thông qua các trò chơi dựng nêu, ném còn, ném pa páo, đua ngựa, bắn nỏ, đánh cờ người…

Về văn hóa chợ phiên của vùng Việt Bắc

- Là thời điểm của những cuộc giao lưu kinh tế và văn hóa, đặc biệt là những cuộc gặp gỡ, giao duyên của nam thanh nữ tú với sự sôi động của kỳ sinh hoạt ca hát dân ca, đi tìm bạn đời và những buổi chợ tình thấm đẫm chất nhân văn

- Người Việt Bắc tự hào về sự sôi động của những chợ Kỳ Lừa, chợ Đồng Đăng, chợ Đồng Mỏ, chợ Thất Khê,… Nổi bật là chợ tình Khau Vai (Hà Giang), mỗi năm họp một lần

Về các di tích lịch sử và truyền thống cách mạng của chiến khu Việt Bắc là mảnh đất lịch sử - cách mạng gắn liền với kháng chiến 9 năm chống Pháp Các địa danh: an toàn khu Việt Bắc (ATK), Thác bản Dốc, Hang Pác Pó, suối Lênin,…) đến khu Sơn Dương – Tuyên Quang với mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào và cụm di tích Đèo De của Định Hóa – Thái

Trang 29

Nguyên… như những địa chỉ hấp dẫn cho các thế hệ học sinh từ muôn nơi về tham quan, học tập

1.3.3 Vùng văn hóa Bắc Bộ

Đây là vùng đất trù phú, phì nhiêu, chủ yếu sống tập trung bên ba tuyến sông chính sông Hồng, sông Thái Bình và sông mã Nơi đây cư dân sống quần tụ, hình thành lên những làng xã với dân cư đông đúc, sống chủ yếu nhờ nông nghiệp và sản xuất các sản phẩm truyền thống với nguyên liệu sẵn có từ thiên nhiên như cây, cỏ, đất và một số nguyên liệu khác Vùng văn hóa chau thổ Bắc Bộ được xem là cái nôi văn hóa Đông Sơn thượng cổ, văn hóa Đại Việt thời trung cổ với những thành tựu rất phong phú về mọi mặt Nó cũng là cội nguồn của các vùng văn hóa Nam trung

Bộ và Nam bộ sau này

- Địa lý: có hình tam giác bao gồm vùng đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã

- Dân tộc: cư dân Việt sống quần tụ thành làng xã

- Biểu tượng văn hóa: cái nôi của văn hóa Đông Sơn thời thượng cổ, văn hóa Đại Việt thời trung cổ…

Trong không gian nghiên cứu của Luận văn, học viên tập trung tìm hiểu những nét điển hình của Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, bởi nó có liên quan chặt chẽ tới những nét văn hóa của cộng đồng dân cư, đời sống, các sản phẩm của làng nghề truyền thống trên vùng đất Bắc Ninh – Kinh Bắc Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ được tạo nên bởi ba vùng gồm Đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã Đây là vùng đất đai trù phú, cho nên nó được xem là cái nôi của văn hóa Đông Sơn thượng cổ, văn hóa Đại Việt thời trung cổ, với những thành tựu rất phong phú về mọi mặt Nó được xem là nguồn cội của văn hóa Nam trung Bộ và Nam Bộ sau này

Khi nói đến vùng văn hóa Bắc Bộ thì văn hóa vùng Kinh Bắc - Bắc

Ninh là một trong những vùng văn hóa lâu đời và phát triển nhất của người

Trang 30

Việt ở vùng đất phía Bắc Thăng Long, sông Hồng Đây là một trong những trung tâm của nền văn minh Việt cổ Thành cổ Luy Lâu ở xã Thanh Khương với các di tích dinh thự, phố chợ, đền đài, chùa tháp nguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương mại, trung tâm Phật giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên Về lịch sử phát triển văn hoá, Kinh Bắc cũng là một vùng có những đặc điểm tương đối riêng và nổi bật Khảo cổ học đã chứng minh vùng Kinh Bắc có sự tụ cư lần lượt của nhiều luồng cư dân từ lâu đời, trong đó yếu tố văn hoá Việt cổ giữ vai trò chủ thể Tiến trình phát triển văn hoá bản địa trên đất này không diễn ra êm ả, xuôi dòng, mà, đã đụng đầu trực diện với sự đồng hoá văn hoá gắn liền với mưu đồ sáp n hập lãnh thổ của một kẻ thù mạnh, kẻ thắng trận và đô hộ quê hương này, đất nước này, khi đứt, khi nối, hàng nghìn năm.Trong cuộc đụng đầu lịch

sử hàng nghìn năm ấy, kết quả lịch sử đã chứng minh: nền văn hoá bản địa trên quê hương này không những không bị đồng hoá, tiêu diệt mà ngược lại, nền văn hoá ấy vẫn tiếp tục phát triển giá trị, bản sắc riêng, để rồi, khi đất nước độc lập, vùng văn hoá dân gian xứ Kinh Bắc lại trở thành vùng văn hoá nền tảng của văn hoá, văn minh Thăng Long nước Ðại Việt, thế kỷ XI Cuộc thử thách lớn lao và kéo dài trong trận chiến giữ gìn, phát triển giá trị, bản sắc văn hoá, nghệ thuật quê hương, đã có những cống hiến lớn lao cho công cuộc xây dựng văn hoá đất nước, quê hương

1.3.4 Vùng văn hóa Trung Bộ

- Địa lý: một dải đất hẹp chạy dài theo ven biển từ Nghệ An tới Bình Thuận Khí hậu khắc nghiệt, đất đia khô cằn nên con người ở đây đặc biệt cần

cù, hiếu học

- Dân tộc: trước khi người Việt đến sinh sống, nơi đây từng là địa bàn

cư trú của người Chăm

- Biểu tượng văn hóa: một nền văn hóa Chăm đặc sắc, đến nay vẫn còn sừng sững những tháp Chăm

Trang 31

Tiểu vùng văn hóa xứ Huế

Tiểu vùng văn hóa xứ Quảng

Tiểu vùng văn hóa xứ Tháp Chàm

1.3.5 Vùng văn hóa Trường Sơn- Tây Nguyên

- Địa lý: nằm trên sườn đông của dải Trường Sơn

- Dân tộc: ở đây có trên 20 tộc người cư trú, ngôn ngữ Môn – Khmer và Nam Đảo

- Biểu tượng văn hóa: vùng văn hóa đạc sắc với những trường ca, lễ hội, cồng chiêng

1.3.6 Vùng văn hóa Nam Bộ

- Địa lý: nằm trong khu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long Khí hậu hai mùa (khô, mưa), sông nước và kênh rạch

- Dân tộc: Việt, Hoa, Khmer, Chăm, Mạ, Xtiêng, Chơro, Mnông…

- Biểu tượng văn hóa: nhà ở trải dài ven kênh, ven lộ, bữa ăn giàu thủy sản, tính cách con người phóng khoáng, tín ngưỡng tôn giáo hết sức phong phú và đa dạng, sớm tiếp cận và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập văn hóa phương Tây

1.4 Văn hóa làng nghề truyền thống một nét trong văn hóa Bắc Ninh

Từ rất lâu đời, cư dân Kinh Bắc là cư dân nông nghiệp cấy lúa Cùng với nông nghiệp, họ cũng sớm có những làng nghề thủ công chuyên sản xuất một mặt hàng thủ công nghiệp: nghề gốm ở Thổ Hà, Phù Lãng, nghề đúc và

gò đồng ở Ðại Bái, Lãng Ngâm, Quảng Phú, nghề rèn sắt ở Quế Nham, Ða Hội, Nga Hoàng, nghề nhuộm ở Ðình Bảng, Phù Lưu, nghề đóng đồ miếu ở Ðình Cả, Làng Tiêu, nghề kim hoàn, chạm vàng, chạm bạc, khảm trai ở Thị Cầu, nghề làm tranh dân gian và hàng mã ở Ðông Hồ v.v Với ưu thế là các làng nghề truyền thống với lịch sử tồn tại, phát triển hàng trăm năm nay, được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu Với mật độ dân số đông thứ 3 cả nước, diện tích nhỏ nhất nước, tài

Trang 32

nguyên thiên nhiên, khoáng sản hầu như không có thì việc bảo tồn và phát triển dựa trên yếu tố lịch sử, văn hóa, làng nghề truyền thống là nên tảng và chiến lược lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong việc tìm hướng đi bền vững cho việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong trước mắt và lâu dài là nhiệm vụ quan trong được đặt ra

Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh Bắc Ninh có trên 60 làng nghề, được tạm phân thành các nhóm nghề theo loại hình như: Hàng dân dụng, sản phẩm

mỹ nghệ, dệt chiếu, làm gốm, làm nón, đan lát, rèn, đúc, cơ kim khí, làm nhang, dệt, sản xuất vật liệu xây dựng, đồ thủ công mỹ nghệ Các làng nghề đã tạo ra việc làm ở nông thôn, thu hút lực lượng lao động đáng kể, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát huy những nét văn hóa đặc sắc từ các làng nghề truyền thống Những khái niệm về loại hình nghề nghiệp nói trên tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ nọ, song vẫn có những điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là xét từ góc độ văn hóa, chúng ta có thể sử dụng chung khái niệm “làng nghề” Làng nghề, theo cách nhìn văn hóa bao gồm các nội dung cụ thể như:

Làng nghề phản ánh cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liền với cơ chế sản xuất mùa vụ, mang đặc trưng của chế độ làng xã, trong đó bao gồm cả yếu tố dòng họ Thực tế cho thấy, làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh gắn liền với các địa danh nông nghiệp cận vùng thị tứ, thương nghiệp và người nông dân làm nghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông nghiệp là mùa vụ Mặt khác, từ sản phẩm, chúng ta cũng nhận thấy gốc tích nông nghiệp như nguyên vật liệu, công cụ chế tác, giá trị sử dụng

và đặc biệt là tính chuyên dụng, sinh hoạt cộng đồng của cư dân nông nghiệp trên các sản phẩm đó Nhìn vào những nghề thủ công nổi tiếng của tỉnh Bắc Ninh như nghề đúc đồng, nghề rèn, nghề đúc Đồng, bún Khắc Niệm, Hương đen Choá Bến… Chúng ta thấy mỗi nghề gắn liền với mỗi cộng đồng cư dân được cư trú ổn định trong quy mô làng xã Nét đặc trưng này phản ánh sự

Trang 33

phong phú, đa dạng của làng nghề trong hệ thống làng xã nông thôn Bắc Ninh Tóm lại, đặc điểm này cho chúng ta nhận dạng các giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa phi vật thể, từ nguồn gốc và đặc trưng của xã hội nông nghiệp sản xuất mùa vụ, cơ cấu quy mô thông qua đặc thù chế độ làng xã ở Bình Định

Làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là những làng được cư dân khai hoang lập làng từ những ngày đầu trong diễn trình lịch sử làng xã người Việt Có làng nghề lâu đời dựa trên hai yếu tố rất cơ bản là vùng nguyên liệu và điều kiện giao thông Làng đúc đồng Đại Bái, làng gốm Phù Lãng, tranh Đông Hồ, giấy Dó Đống Cao đều có liên đại trên 100 năm

Điều này phản ánh đúng lô gíc lịch sử vì nó đáp ứng yêu cầu của sản xuất và nhu cầu của con người Do ở thời nào con người cũng cần công cụ lao động, cần ăn, ở, mặc, đi lại và các hoạt động văn hóa khác Khẳng định tính truyền thống của nghề thủ công và để khẳng định sự tồn tại của nó qua các hình thái kinh tế xã hội hay các phương thức sản xuất khác nhau, là rất cần

thiết, để góp phần khẳng định các giá trị văn hóa đích thực và “ngôi vị” lịch

sử của nó trong quá trình tồn tại, phát triển của dân tộc

Làng nghề Bắc Ninh không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa “nghề” với

“nghiệp”, mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác Hầu như làng nghề nào cũng có tục thờ cúng tổ nghề và gắn liền với lễ hội cùng với các hoạt động văn hóa dân gian khác Gắn với nghi thức hành lễ tổ tại đền thờ, các gia đình cũng tổ chức nghi lễ giỗ tổ tại gia đình với một tinh thần trang nghiêm, trong

sạch từ “tâm” ra, cầu mong nhiều điều tốt lành cho năm đến, cùng với nhiều

mảng màu sắc dân gian được diễn ra trong dịp lễ hội truyền thống của làng nghề Như vậy, ở làng nghề, ngoài yếu tố sản xuất còn mang rất đậm yếu tố văn hóa và phần nào còn có những yếu tố tâm linh phù hợp Bởi làng nghề ngoài phạm vi đơn vị sản xuất và khái niệm khu biệt bởi địa lý, nhân văn, còn có đặc trưng riêng biệt là tính cộng đồng cư trú, cộng đồng lợi ích và cộng cảm rất cao

Trang 34

Làng nghề hàm chứa trong nó những giá trị nhân văn, truyền thống

và tâm linh được lưu truyền từ đời này qua đời khác Ngoài những yếu tố

về việc phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm thường xuyên hay theo mùa vụ thì việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa làng nghề phục

vụ cho sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần NQTW5 đặt ra là nhiệm vụ và hướng đi phù hợp với thực tế hiện nay

1.5 Báo chí tỉnh Bắc Ninh và nhiệm vụ truyền thong văn hóa làng nghề truyền thống

Thông qua quá trình nghiên cứu thực tế từ các công trình khoa học, luận án, luận văn cho thấy giá trị to lớn của làng nghề truyền thống đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội hiện nay Nó không chỉ góp phần vào việc tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập của người dân làng nghề mà còn tạo ra nét văn hóa đặc sắc chỉ có tại vùng đất này Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống là việc làm quan trọng đối với báo chí Bắc Ninh trong giai đoạn trước mắt và lâu dài

Thực hiện theo tinh thần NQTW5 về việc xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Thực hiện NQ của tỉnh Đảng bộ lần thứ 18 năm 2010 về việc phát huy, bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Trong những năm qua báo chí Bắc Ninh đã góp phần vào việc tuyên truyền, quảng bá các giá trị văn hóa của các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh nhà Báo Bắc Ninh, Báo Điện tử Bắc Ninh, Đài PT&TH Bắc Ninh đã mở nhiều chuyên trang, chuyên mục, các chương trình phóng sự về thực trạng của các làng nghề truyền thống trên địa bàn, nhằm góp phần vào việc nêu nên thực trạng mai một của một số làng nghề truyền thống, đồng thời kích thích, cổ vũ sự phát triển của các làng nghề trong xu thế hiện nay

Trang 35

Về cơ bản báo chí Bắc Ninh đã tiếp cận tuyên truyền đúng định hướng góc độ bảo tồn và phát huy giá trị vật thể và phi vật thể, theo khía cạnh kinh tế

và văn hóa đã tạo ra những quan điểm mới mẻ trong việc thống kê, nghiên cứu, quy hoạch, bảo tồn và phát triển làng nghề trên địa bàn Làng nghề và làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là tiềm năng còn chưa được khai thác xứng tầm giá trị nội hàm của nó như, kho tàng kinh nghiệm,

kỹ thuật sản xuất, bí quyết nghề nghiệp của các nghệ nhân dân gian trong việc

sử dụng nguyên vật liệu, kỹ thuật chế tác đến sự thăng hoa trong sáng tạo tác phẩm của mỗi làng nghề Bởi đặc thù của các sản phẩm này là quá trình đúc rút kinh nghiệm, là kỹ thuật tay quen, là tình yêu mà họ thổi vào từng sản phẩm Tóm lại đó là tổng hợp của hai giá trị vật chất và tinh thần

Thông qua các tác phẩm báo chí, nhiều làng nghề, nghệ nhân đã được tôn vinh kịp thời qua đó để các cấp chính quyền, độc giả quan tâm tạo ra hiệu ứng truyền thông mạnh mẽ, góp phần vào việc phát hiện những giá trị tinh thần, văn hóa vô hình và đặc biệt là bàn tay khối óc, tâm hồn của người thợ tài hoa đang dần bị quên lãng

Báo chí Bắc Ninh đang góp phần mạnh mẽ vào việc nghiên cứu, phản ánh và bảo tồn tục thờ tổ nghề và các lễ hội gắn liền với sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt văn hóa tinh thần của các làng nghề trên địa bàn Từ phương pháp tuyên truyền này đã khơi dậy nét văn hóa truyền thống độc đáo chứa đựng nhiều ý nghĩa lịch sử, văn hóa và nghề về nghiệp về yếu tố bản địa, sự thiên

di hay khả năng lan tỏa của mỗi nghề hay làng nghề Như vậy, chúng ta có thể thấy được việc thờ tổ nghề và lễ hội là bộ phận văn hóa tạo nên bức tranh đầy

đủ về làng nghề, làng nghề truyền thống hiện nay

Trong xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ và sâu sắc đang diễn ra, truyền thông đại chúng nói chung và báo chí nói riêng đang có ưu thế trong vấn đề tuyên truyền, góp tiếng nói, góc nhìn và quan điểm thúc đầy các ngành liên

Trang 36

quan trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa nói chung và văn hóa làng nghề nói riêng Đó là vấn đề thời sự có tính cấp thiết không chỉ của ngành văn hóa, bảo tồn, bảo tàng mà cần sự chung tay của các cấp chính quyền và của mỗi nghệ nhân, người dân

Tỉnh Bắc Ninh có bốn loại hình báo chí chính là Báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử Mỗi loại hình đều có những thế mạnh và hạn chế riêng trong việc truyền thông về văn hóa làng nghề như: Báo in mạnh về ngôn ngữ miêu tả nhưng lại hạn chế đối với độc giả bởi thiếu sự trực quan, sinh động Phát thanh thiên về âm thanh, tiếng động giúp cho công chúng khán thính giả hấp thụ bằng âm và lời nói, thiếu đi cảm nhận từ thị giác Báo hình

đã có thể khắc phục những nhược điểm của báo in, phát thanh bằng những hình ảnh trực quan, sinh động, mầu sắc phong phú, hấp dẫn quấn hút người xem Nhưng truyền hình cũng cho thấy những nhược điểm về phương tiện tiếp nhận và thời gian tiếp nhận của khán giả Báo Điện tử có thể đã khắc phục được những nhược điểm của các loại hình báo chí truyền thống, đó là khả năng đa phương tiện, công chúng độc giả có thể vừa đọc, vừa nghe và xem hình ảnh một cách chi tiết, rõ ràng và cụ thể nhưng nó cũng có những hạn chế như cần phải có phương tiện, đường truyền, và giá của các sản phẩm này không thật phổ thông Với những khái quát trên đây chúng ta có thể thấy phần nào những ưu điểm, hạn chế của bốn loại hình báo chí trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh về việc tuyên truyền bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của

làng nghề truyền thống trên địa bàn hiện nay

Tiểu kết chương 1

Với những vấn đề đã được tìm hiểu, nghiên cứu trong Chương I của Luận văn, chúng ta có thể thấy được bản chất, giá trị của văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Những khái niệm về văn hóa, vùng văn hóa, không gian văn hóa, vùng văn hóa Bắc Ninh, đã được học viên sưu tầm, nghiên

Trang 37

cứu góp phần làm sáng tỏ thêm quá trình hình thành lên những làng nghề truyền thống trên địa bàn cả nước nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng

Làng nghề truyền thống với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

có giá trị được tồn tại và lưu truyền qua nhiều thế kỷ cho thấy, vùng đất cổ Bắc Ninh - Kinh Bắc chứa đựng những yếu tố nhân văn, những giá trị văn hóa truyền thống quý giá Ngoài những yếu tố kinh tế cần được nghiên cứu phát triển, thì làng nghề truyền thống còn là một đối tượng quan trọng để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phục vụ cho sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc và xây dựng đất nước Làng nghề truyền thống trên vùng đất Bắc Ninh không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa "nghề" với "nghiệp" mà còn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét, được phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng, lễ hội và nhiều quy định khác Điều đầu tiên phải nói đến đó là các

"qui lệ" của các làng nghề Qui lệ là các qui ước, luật lệ để gìn giữ bí quyết nghề, để bảo tồn nghề của dòng họ hay của cộng đồng làng xã

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, vấn đề bảo tồn các giá trị văn hoá bản sắc của mỗi quốc gia dân tộc đang là một vấn đề thời sự, trong đó vấn đề làng nghề và nghề thủ công truyền thống đang trở thành điểm quan tâm không chỉ của ngành bảo tồn bảo tàng mà còn là của nhiều lĩnh vực văn hoá khác Vì vậy, việc báo chí Bắc Ninh tham gia công tác truyền thông, bảo tồn những giá trị văn hoá phi vật thể của làng nghề là mục tiêu không thể thiếu và đang trở thành cấp bách Để thực hiện tốt nội dung này, Báo chí Bắc Ninh cần có những chủ trương, việc làm cụ thể từ việc xây dựng kế hoạch đến

tổ chức thực hiện các tác phẩm báo chí kịp thời phẩn ánh, thông tin trong việc quảng bá, truyền thông cho những làng nghề Báo in, phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử qua các góc nhìn, cách thể hiện và ưu thế riêng của từng loại hình báo chí, tác phẩm báo chí cần phân tích, nghiên cứu và sưu, tầm làm nổi bật giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể to lớn của làng nghề truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ

TRÊN BÁO CHÍ BẮC NINH (6.2013 - 6.2014)

2.1 Văn hóa làng nghề truyền thống và việc truyền thông trên báo chí Bắc Ninh

2.1.1 Thực trạng làng nghề truyền thống tại Bắc Ninh

Làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay, được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh và hoạt động hầu hết ở các ngành kinh tế chủ yếu Trong những năm qua, nhất là khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì hoạt động làng nghề ở Bắc Ninh đã có bước nhảy vọt lớn, sôi động chưa từng thấy Đến nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng ; trong đó có 31 làng nghề truyền thống và 31 làng nghề mới, chiếm khoảng 10% tổng số làng nghề truyền thống của cả nước Các làng nghề tập trung chủ yếu ở 3 huyện Từ Sơn, Yên Phong và Gia Bình (3 huyện này có 42 làng nghề, chiếm gần 68% số làng nghề của tỉnh) Nhiều làng nghề của Bắc Ninh như: gỗ Đồng Kỵ, gốm Phù Lãng, đúc đồng Đại Bái, tranh Đông Hồ

có từ lâu đời và nổi tiếng cả trong và ngoài nước

Trong số 62 làng nghề ở Bắc Ninh, có thể phân thành 3 nhóm như sau: Số làng nghề phát triển tốt: có 20 làng nghề, chiếm 32%; gồm các làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, sắt, thép, đồng, giấy, dệt Những làng nghề này sản xuất các sản phẩm phù hợp với thị trường, luôn có sự đầu tư tăng cường năng lực sản xuất Số làng nghề hoạt động cầm chừng không phát triển được: 26 làng nghề, chiếm 42%, bao gồm những làng nghề sản xuất, chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp như chế biến từ gạo (mì, bún, bánh, nấu rượu ), nuôi trồng, chế biến tơ tằm, mộc dân dụng Số làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một, mất

Trang 39

nghề: 16 làng nghề, chiếm 26% Đây là những làng nghề mà sản phẩm làm ra không còn thích hợp với thị trường, do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm công nghiệp như gốm, dụng cụ cầm tay, tranh dân gian, mây tre đan

Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong tỉnh (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ) Tại các làng nghề, số người giàu và khá giàu ngày càng tăng, 100% số hộ đều có ti-vi, xe máy, mức thu nhập ở các làng nghề cao gấp từ 3 đến 4,5 lần so với các làng thuần nông, nhờ vậy góp phần giảm

tỷ lệ đói nghèo của tỉnh Đây còn là nơi cung cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh với kim ngạch từ 1.200 tỉ đến 1.500 tỉ đồng/ năm

2.1.2 Sự cần thiết của truyền thông đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Bên cạnh những lợi ích về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, tuy nhiên các làng nghề ở Bắc Ninh đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như sản xuất còn chưa ổn định, khả năng tổ chức quản lý, nguồn thiết bị, tài chính, kiến thức thị trường, kết cấu hạ tầng, công nghệ đều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Do đó chất lượng sản phẩm làm ra thấp, không cạnh tranh được thị trường trong và ngoài nước Ngoài ra, hầu hết các làng nghề trong tỉnh chưa được quy hoạch, vẫn còn mang tính tự phát Bắc Ninh

có số cơ sở sản xuất lớn, lực lượng lao động đông, nhưng quy mô của từng

cơ sở quá nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu, sản xuất thủ công là chính, nên sản phẩm đơn giản, năng suất, chất lượng chưa cao, ít có sản phẩm độc đáo mang tính văn hóa truyền thống, hoặc có phong cách hiện đại dẫn đến sức cạnh tranh yếu Cộng thêm, công tác quảng bá, tiếp thị sản phẩm, xây dựng thương hiệu yếu kém, vì vậy nhiều làng nghề rất bị động trong việc tiêu thụ sản phẩm Hơn lúc nào hết việc truyền thông về làng nghề truyền thống là nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài của báo chí Bắc Ninh, nhằm thúc đẩy việc giữ giìn và phát húy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống, thúc

Trang 40

đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất của người dân tại các làng nghề Vậy để làm được điều đó, báo chí Bắc Ninh cần thực hiện truyền thông sâu rộng những nhiệm vụ như:

Truyền thông vấn đề phát triển làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng thời, cần có chính sách đầu tư liên kết, hợp tác giữa các làng nghề với nhau, giữa làng nghề với cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và với các doanh nghiệp công nghiệp lớn để hợp tác gia công và tiêu thụ sản phẩm

Xây dựng kế hoạch tuyên truyền phát triển làng nghề nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng là góp phần tạo việc làm cho người lao động ngay tại địa phương, và thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo quan điểm "Ly nông bất ly hương"

Báo chí Bắc Ninh tham gia truyền thông vấn đề cần hình thành các khu sản xuất tập trung tại các làng nghề để tạo thuận lợi về kết cấu hạ tầng, mặt bằng cho các cơ sở sản xuất đầu tư mở rộng quy mô, phát triển sản xuất kinh doanh Phát triển làng nghề cần theo hướng đa dạng hóa hình thức sở hữu, mô hình tổ chức sản xuất, ưu tiên áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, kết hợp với công nghệ cổ truyền trong các làng nghề

Song song với việc truyền thông phát huy giá trị văn hóa làng nghề, cần đặc biệt quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, do đó cần tập trung đẩy mạnh tuyên truyền định hướng đến người dân tại các làng nghề truyền thống di dời các cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm (không khí, nước, tiếng ồn) nằm xen kẽ trong khu dân cư đến các khu sản xuất tập trung để xử lý vấn đề ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cộng đồng

Phát triển làng nghề phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, sản phẩm của làng nghề phải có sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu của nước ngoài

Ngày đăng: 24/11/2021, 22:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Khái niệm văn hóa Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm văn hóa
Nhà XB: NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004
2. Khái niệm văn hóa - Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm văn hóa
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
3. Khái niệm về văn hóa Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm về văn hóa
4. Phóng sự truyền hình – Nhà xuất bản Thông Tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự truyền hình
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông Tấn
5. Bùng nổ truyền thông – Nhà xuất bản Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùng nổ truyền thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa
7. Báo chí truyền hình – Nhà xuất bản Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền hình
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tấn
8. Lê Duẩn (1968) nắm vững đường lối cách mạng Xã hooijchur nghĩa tiến lên xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh – Nhà xuất bản Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: nắm vững đường lối cách mạng Xã hooijchur nghĩa tiến lên xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
9. Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn (2000 - tập 1 - 2) Nguyễn Văn Dững – Chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn
10. Chỉ thị 08 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII – Đảng cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 08 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1996) – Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2001) – Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2006) – Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
15. Báo chí những vấn đề lí luận và thực tiễn – GS Hà Minh Đức chủ biên (1994) tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lí luận và thực tiễn
16. Báo chí những vấn đề lí luận và thực tiễn – GS Hà Minh Đức chủ biên (1995) tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lí luận và thực tiễn
20. Hội nhà báo Việt Nam – Nghề nghiệp và công việc của nhà báo – Xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp và công việc của nhà báo –
21. Khoa báo chí MGU (1994) – Báo chí truyền hình, NXB Đại học Tổng hợp Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền hình
Nhà XB: NXB Đại học Tổng hợp Matxcơva
22. Khoa kinh tế phát triển – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, phân viện Hà Nội (1996), Một số vấn đề về quản trị kinh doanh – NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản trị kinh doanh
Tác giả: Khoa kinh tế phát triển – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, phân viện Hà Nội
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1996
23. PGS – TS Tạ Ngọc Tấn (2001) – Truyền thông đại chúng – NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
24. Tác phẩm báo chí (Tập 1,2) – NXB Giáo dục (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí (Tập 1,2)
Nhà XB: NXB Giáo dục (1994)
25. Luận án “Qúa trính phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ” của TS Mẫn Bá Đạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qúa trính phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w