Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành thành công công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, là
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
- -
NGUYỄN THỊ THU
CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI” CỦA V.I LÊNIN
VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 02 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Hoàng Anh
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 2015
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Doãn Thị Chín
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Hoàng Anh Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: “CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI” (NEP) CỦA V.I LÊNIN – CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP QUYẾT ĐỊNH SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG KINH TẾ HỒ CHÍ MINH 10
1.1 Bối cảnh nước Nga Xô viết và sự ra đời “Chính sách kinh tế mới” 10
1.2 Nội dung cơ bản của “Chính sách kinh tế mới” (NEP) 15
1.3 Quan điểm cơ bản về phát triển kinh tế trong “Chính sách kinh tế mới” của V.I Lênin – cơ sở trực tiếp của việc hình thành và phát triển tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh 22
CHƯƠNG 2 : HỒ CHÍ MINH KẾ THỪA NHỮNG GIÁ TRỊ TRONG “CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI” CỦA V.I LÊNIN VÀO HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG KINH TẾ VÀ GIÁ TRỊ VẬN DỤNG HIỆN NAY 42
2.1 Hồ Chí Minh kế thừa những giá trị trong “Chính sách kinh tế mới” của V.I Lênin vào xây dựng tư tưởng kinh tế của Người 42
2.2 Những giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh vào xây dựng và phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay 63
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
TÓM TẮT LUẬN VĂN 102
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và tự do thương mại là xu thế nổi bật của thế giới hiện nay Sự phát triển của Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế phát triển chung Toàn cầu hóa đang đặt các quốc gia, dân tộc trước những thực tế và những bài toán phức tạp, chưa từng có trong tiền lệ, đòi hỏi vừa có tầm nhìn tổng thể, biện chứng, vừa có khả năng dự đoán xa, vừa có khả năng điều chỉnh và thích nghi linh hoạt với những điều kiện thực tế đang có của mỗi quốc gia, dân tộc
Việt Nam đã gia nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 11/01/2007 Đây
là kết quả tất yếu trong sự lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam, là sự công nhận và đánh giá của cộng đồng quốc tế về những thành tựu có ý nghĩa của sự nghiệp đổi mới của nhân dân Việt Nam Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành thành công công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, là bạn với tất cả các nước trên thế giới, Đảng luôn lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hoạt động lãnh đạo trên mọi lĩnh vực của đất nước, đặc biệt trong việc chuyển đổi nền kinh tế
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đổi mới toàn diện và đồng bộ, với những bước đi thích hợp Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,
Trang 7Qua gần 30 năm đổi mới, những thành tựu to lớn mà Việt Nam thu được khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đúng Tuy có không ít những những vấn đề phúc tạp, hậu quả nảy sinh do tác động của mặt trái của kinh tế thị trường nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm kiên trì phát triển đất nước theo “một kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên và được dẫn dắt, chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả
vững chắc từ tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh và V.I Lênin về “Chính sách kinh tế mới” (NEP), Đảng ta không ngừng đổi mới để có những nhận thức đúng và trúng, từ đó xây dựng chủ trương, chính sách và biện pháp hiệu quả triển khai trong thực tiễn
Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là sự nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là tư tưởng của V.I Lênin trong
“Chính sách kinh tế mới” (NEP) vào điều kiện thực tiễn đất nước ta NEP thừa nhận sự tồn tại và khả năng vận dụng các quan hệ thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga thời kỳ V.I Lênin: Vận dụng cơ cấu nhiều thành phần kinh
tế với vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước; vận dụng chính sách tự do buôn bán, kinh doanh, sử dụng quy luật giá trị và mối quan hệ hàng – tiền với
sự điều tiết của nhà nước,… Trong giai đoạn đổi mới, hội nhập đất nước sâu rộng, Việt Nam tiếp tục quá trình cải cách và xây dựng các thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiếp tục công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NEP và tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh càng có giá trị thiết thực, được Đảng và Nhà nước ta vận dụng triệt để trong hoạt động lãnh đạo, quản
lý, trong việc đề ra những chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội,… Vì vậy, những vấn đề trên luôn đòi hỏi được giải quyết trên cơ sở nhận thức đúng những nội dung cơ bản của NEP; phân tích vai trò của NEP với việc hình
Trang 8thành và phát triển tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh hiện nay
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đã phân tích, tác giả mạnh dạn lựa chọn
đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ Hồ Chí Minh học là: “Chính sách kinh tế
mới” của V.I Lênin với việc hình thành và phát triển tư tưởng kinh tế
Hồ Chí Minh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
“Chính sách kinh tế mới” (NEP) cần thiết cho nước Nga tiểu nông khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, chuẩn bị nền tảng xây dựng chủ nghĩa xã hội Dưới ánh sáng tư tưởng của V.I Lênin trong “Chính sách kinh
tế mới”, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và thành công vào công cuộc bảo
vệ, xây dựng nền kinh tế, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam NEP và
tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị vận dụng trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển mạnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển và hội nhập quốc tế Vì vậy, đã có rất nhiều học giả, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu NEP và tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh
2.1 Các công trình khoa học nghiên cứu “Chính sách kinh tế mới” của V.I Lênin
Tập thể tác giả nhà xuất bản Sự thật biên tập cuốn sách chuyên đề
C Mác – Ph Ăng-Ghen – V.I Lênin – J Sta-Lin “Bàn về Kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971 Nội dung chủ yếu của chuyên
đề nói lên hai tiền đề của kế hoạch hóa; các quy luật kinh tế khách quan xã hội chủ nghĩa và vấn đề kế hoạch; những nguyên tắc và nội dung của việc kế hoạch nền kinh tế quốc dân; về mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp Nhìn toàn bộ, cuốn sách này đã phản ánh rõ kế hoạch hóa gắn liền với xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, với việc củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa
Trang 9Ambarơxumốp E “Chính sách kinh tế mới qua lăng kính của thời đại hiện nay”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989 Trương Minh Dục “Những quan điểm của V.I Lênin về sự phát triển cơ cấu xã hội, giai cấp trong điều kiện NEP”, tạp chí Nghiên cứu lý luận, 05 – 1991; Vũ Trọng Dung “Chính sách kinh tế mới của V.I Lênin – Biện chứng của thực tiễn và lý luận cách mạng”, Tạp chí Giáo dục lý luận, 02-1995; Lương Minh Cừ “Những quan niệm của của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin về sở hữu trong chủ nghĩa xã hội”, luận án
phó tiến sĩ khoa học triết học, Viện Triết học, Hà Nội, 1995; Phạm Ngọc Đỉnh
“Quá trình hình thành và phát triển quan niệm của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin về chủ nghĩa xã hội”, luận án phó tiến sĩ khoa học triết học, Viện triết học, Hà Nội, 1995; Phạm Như Cương “Tư tưởng của V.I Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước và sự nghiệp đổi mới ở nước ta” trong “Đổi mới phong cách tư duy”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999
Trong cuốn sách của Lê Thanh Sinh “Chính sách kinh tế mới của V.I Lênin với công cuộc đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000, tác giả phân tích thực chất và nội dung cơ bản của “Chính sách kinh tế mới”: Bối cảnh ra đời, tính thiết yếu, cơ sở lý luận và nội dung cơ bản của NEP; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn do NEP đặt ra như vấn đề xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và xử lý mối quan hệ đan xen giữa các thành phần kinh tế ấy, vấn đề sử dụng những hình thức “trung gian”, những biện pháp “quá độ” để xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề hướng sự phục hồi chủ nghĩa tư bản theo con đường của chủ nghĩa tư bản Nhà nước, vấn đề nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, chống chủ nghĩa quan liêu Trên cơ sở phân tích nội dung cơ bản của NEP, tác giả Lê Thanh Sinh khái quát ý nghĩa quốc tế
và tính thời sự của NEP; đồng thời chỉ ra những vấn đề đặt ra khi vận dụng NEP vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam trên tư cách là cơ sở lý luận về con
Trang 10đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ của NEP với vấn đề
xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa 2.2 Các công trình nghiên cứu về tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh
Nhiều tác phẩm nghiên cứu về tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, tiêu biểu
như: Phạm Ngọc Anh “Quan niệm của Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Lịch sử Đảng,
số 03-1997; Nguyễn Khánh Bật “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, lãng phí, quan liêu”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12-1997; Trần Minh Châu
“Hồ Chí Minh với vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp”, Tạp chí Lịch sử Đảng,
số 11-1999; Nguyễn Quang Trung “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò
và biện pháp quản lý kinh tế”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 01-2001; Hội
đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003
Phạm Ngọc Anh (chủ biên) nghiên cứu, xuất bản cuốn sách “Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2003 Cuốn sách đã giúp độc giả hiểu thêm về tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh qua các thời kỳ của cách mạng Việt Nam thông qua ba nội dung chính: Quá trình thành, phát triển và đặc điểm bản chất của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh; Những nội dung chủ yếu của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh: Những đặc điểm kinh tế của Việt Nam sau khi giành được độc lập dân tộc tiến dần lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; quan điểm của
Hồ Chí Minh về lựa chọn cơ cấu kinh tế, về quản lý kinh tế, về đẩy mạnh sản xuất thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, về phát huy các động lực trong xây dựng và phát triển kinh tế, về hợp tác quốc tế, về công bằng xã hội Trên cơ sở đó, vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Trang 11Tác giả Cao Ngọc Thắng: “Tư duy kinh tế Hồ Chí Minh”, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2007 đã phản ánh những luận điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền kinh tế độc lập – tự chủ cơ bản trong phát triển, đồng thời tác giả phân tích những khía cạnh cơ bản của tư duy kinh tế
Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước như: Không
có độc lập dân tộc thì không có nền kinh tế tự chủ; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Thực hiện đời sống mới; Xây dựng một nền kinh tế mở; Chiến lược con người, vì con người; Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; Xác định điểm xuất phát để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; Nhiều, nhanh, tốt, rẻ; Về tổ chức và quản lý sản xuất; Sử dụng các đòn bẩy kinh tế - Thực hành công bằng xã hội; Cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh
Ngô Văn Lương chủ biên: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế”, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Từ sự phân tích cơ sở hình thành tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, cuốn sách tập trung phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn; Về sở hữu các thành phần kinh tế ở Việt Nam; Về quản lý kinh tế; Về mục tiêu, động lực và nhân tố con người trong xây dựng và phát triển kinh tế; Về phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân; Về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm; Về kinh tế đối ngoại, thu hút ngoại lực đề phát huy nội lực; Về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân
Song Thành “Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2009; Nguyễn Thị Thảo “Một số mâu thuẫn trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Báo chí & Tuyên truyền, Hà Nội, 2011; Nguyễn Tiến Nghĩa “Tăng cường đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam”, luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Báo chí & Tuyên truyền, Hà Nội, 2011; Nguyễn Thị Bích “Sự biến đổi của quan hệ sản xuất trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”, luận văn
Trang 12thạc sĩ triết học, Học viện Báo chí & Tuyên truyền, Hà Nội, 2012; Hoàng Anh
“Từ “Chính sách kinh tế mới” của Lênin đến tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh
và giá trị vận dụng cho Việt Nam trong đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế” trong sách “90 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Nga”, Nxb Thanh
niên, 2013, tr 516; v.v…
Các công trình, tác phẩm nghiên cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ các phương diện khác nhau về chính sách kinh tế mới của Lênin, sự kế thừa vận dụng sáng tạo NEP vào trong quá trình hình thành tư tưởng kinh tế đặc sắc của Hồ Chí Minh Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu khoa học của các học giả đi trước, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ nội dung, mối quan hệ mật thiết giữa NEP của Lênin với việc hình thành và phát triển tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh và giá trị vận dụng trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế của Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn phân tích nội dung cơ bản của “Chính sách kinh tế mới” của
V I Lênin; làm rõ những tư tưởng về kinh tế mà Hồ Chí Minh kế thừa NEP trong xây dựng tư tưởng kinh tế của Người và giá trị vận dụng hiện nay cho Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn phải thực hiện giải quyết các
nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Góp phần phân tích nội dung cơ bản trong “Chính sách kinh tế mới” (NEP)
- Phân tích rõ sự vận dụng sáng tạo “NEP” của V.I Lênin của Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng và phát triển tư tưởng kinh tế của Người
- Trên cơ sở khát quát thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay, phân tích giá trị vận dụng của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh vào quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự vận dụng những giá trị trong “Chính sách kinh tế mới” của V.I Lênin của Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng và phát triển tư tưởng kinh
tế của Người
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không trình bày toàn bộ các vấn đề của tư tưởng V.I Lênin
về kinh tế mới, quan điểm Hồ Chí Minh về kinh tế mà chỉ tập trung phân tích thực chất, nội dung cơ bản của “Chính sách kinh tế mới” với việc hình thành, phát triển tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh và sự vận dụng vào phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế Đồng thời có tham khảo một số công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí liên
quan đến nội dung được đề cập trong luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp lôgíc và khoa học
lịch sử, so sánh và thống kê và tổng kết thực tiễn
6 Đóng góp về khoa học của đề tài
- Luận văn tập trung phân tích sự kế thừa và vận dụng sáng tạo NEP của V.I Lênin vào quá trình xây dựng tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Khái quát thực trạng nền kinh tế Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới đất nước, và đề xuất các giải pháp vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh vào xây dựng đất nước thời kỳ hội nhập quốc tế
Trang 147 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần nghiên cứu nội dung cơ bản của NEP, tư tưởng kinh tế
Hồ Chí Minh và chỉ ra giá trị vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh vào xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
7.2 Giá trị thực tiễn
Đề tài là tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động học tập, nghiên cứu, giảng dạy về tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Trang 15CHƯƠNG 1
“CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI” (NEP) CỦA V.I LÊNIN –
CƠ SỞ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP QUYẾT ĐỊNH SỰ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
1.1 Bối cảnh nước Nga Xô viết và sự ra đời “Chính sách kinh tế mới”
Nước Nga Xô viết bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng sau 4 năm chiến tranh đế quốc (1914 – 1918) và 3 năm nội chiến (1918 - 1920) với rất nhiều khó khăn trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội
1.1.1 Khủng hoảng kinh tế - xã hội
Chiến tranh tàn phá nước Nga nặng nề Tính chung thiệt hại về vật chất do đế quốc và bạch vệ gây ra là một phần tư tài sản quốc dân bị tiêu hủy, hơn 20 triệu người chết, 4,4 triệu lao động nam và nữ bị tàn phế, tất cả các
Năm 1920, sản xuất công nghiệp giảm 7 lần so với năm 1913, khai thác than đá và dầu mỏ giảm 2,5 - 3 lần, sản lượng gang giảm 30 lần Do thiếu nguyên liệu và nhiên liệu, đại đa số các xí nghiệp công nghiệp ở tình trạng đình đốn, ngừng hoạt động, đặc biệt là các ngành công nghiệp nặng Ngành giao thông vận tải lâm vào tình trạng tê liệt hoàn toàn với 7 vạn kilômét đường sắt và một nửa số đầu máy xe lửa bị phá hủy, khiến cho nền kinh tế nước Nga đang ở tình trạng tổn thất nặng nề càng thêm nghiêm trọng[89, tr 136]
Nông nghiệp cũng bị tàn phá nặng nề Sản lượng nông nghiệp chỉ còn bằng khoảng một nửa so với thời kỳ trước chiến tranh Do không có đủ bánh
mì và các thực phẩm thiết yếu khác, các thành phố và trung tâm công nghiệp
đã lâm vào nạn đói trầm trọng
Lương thực, thực phẩm, nhiên liệu không đủ cung cấp dẫn tới một loạt các hệ lụy như: Tình trạng phần lớn dân cư ở các thành phố lâm vào cảnh
Trang 16sống vất vưởng, nhiều người, trong đó cả những công nhân lành nghề lũ lượt kéo về nông thôn Một bộ phận đội ngũ những người vô sản đã xuất hiện hiện tượng tha hóa, biến chất và tỏ ra bất mã với chính quyền Xô viết Tình trạng phải đóng cửa tạm thời của nhiều xí nghiệp, công nhân công khai bày tỏ nguyện vọng đòi chính quyền Xô viết cắt giảm bớt những hạn chế đối với việc công khai buôn bán và trao đổi sản phẩm, bãi bỏ hoặc hạn chế hoạt động của các đội kiểm soát cản trở việc đại diện các tập thể lao động và tư nhân chuyên chở sản phẩm nông nghiệp vào thành phố để đổi lấy hàng hóa công nghiệp Khi đó, tại một số xí nghiệp ở Pêtơrôgrát và một số thành phố khác diễn ra các cuộc biểu tình bãi công của công nhân
Khi nội chiến vừa kết thúc, chế độ trưng thu lương thực thừa mà chính quyền Xô viết đã ban hành và thực hiện vào đầu năm 1919 đã không còn chấp nhận được Sản xuất nông nghiệp bắt đầu suy sụp Với số nông phẩm làm ra bị trưng thu hầu hết, người nông dân không còn muốn sản xuất Không ít nông dân công khai bày tỏ dự định không mở rộng sản xuất, thậm chí có người tỏ ra lo sợ chế độ trưng thu lương thực thừa và có ý định ngừng sản xuất
Sự bất mãn của những người nông dân với chế độ trưng thu lương thực thừa biến thành những cuộc bạo loạn như cuộc bạo loạn ở Tambốp – tỉnh sản xuất lúa mì chủ yếu của nước Nga lúc bấy giờ Đỉnh cao là cuộc bạo loạn của các thủy thủ tại căn cứ hải quân Crônstát vào tháng 03 năm 1921 Điều đáng nói là, chính các binh sĩ đã từng anh dũng bảo vệ Chính quyền Xô viết khỏi tay bọn phản cách mạng nay được giải ngũ lại đứng vào hàng ngũ những người bạo loạn vì họ bất mãn với chế độ trưng thu lương thực thừa đối với gia đình họ ở nông thôn Tất cả các cuộc bạo loạn đều đưa ra khẩu hiệu đòi bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa, thực hiện chế độ tư do buôn bán sản phẩm, trước hết là lúa mì Các cuộc bạo loạn được chính quyền Xô viết dẹp tan
Trang 17Khi nhìn nhận, đánh giá về hiện trạng của chính quyền Xô viết non trẻ, nội bộ Đảng Bônsêvích đã diễn ra một cuộc đấu tranh gay gắt với nhiều quan điểm đối lập nhau, nhất là khi phân tích nguyên nhân trực tiếp của nó V.I Lênin coi nguyên nhân cơ bản làm cho cuộc khủng hoảng ở nước Nga đầu năm 1921 ngày trở nên trầm trọng hơn là do chính quyền Xô viết đã đánh giá không đúng tình hình và chuyển quá nhanh từ chiến tranh sang hòa bình
Từ đó, V.I Lênin yêu cầu chính quyền Xô viết phải nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những điều kiện của bước quá độ từ chiến tranh sang hòa bình, hiểu rõ những hình thức biểu hiện về mặt kinh tế sự bất mãn của những người tiểu nông V.I Lênin còn nhận thấy nguyên nhân sâu xa hơn, chủ yếu hơn của nó
là ở việc thực hiện chế độ trưng thu lương thực thừa và thi hành chính sách
“Cộng sản thời chiến”
Không dừng lại ở đó, V.I Lênin luôn trăn trở và suy nghĩ tìm ra giải pháp hữu hiệu khắc phục tình trạng hiện thời của nước Nga lúc bấy giờ Trước khi diễn ra bạo loạn ở Crônxtát, V.I Lênin bắt đầu soạn thảo và đề xuất hệ thống các biện pháp mà thực chất là xem xét lại chính sách kinh tế trước đây của chính quyền Xô viết - chính sách “Cộng sản thời chiến” – chính sách đã từng mang lại những hiệu quả đáng kể cho nước Nga trong thời kỳ nội chiến Chiến thắng ấy và với sự sụp đổ dường như hoàn toàn của chế độ
tư sản khiến cho người dân Nga khi đó đã ngộ nhận việc tổ chức sản xuất tập thể, phân phối sản phẩm theo nguyên tắc bình quân, xóa bỏ quan hệ hàng hóa – tiền tệ là điều có thể thực hiện được V.I Lênin đã thừa nhận “Chúng ta chưa tính toán đầy đủ mà đã tưởng là – có thể trực tiếp dùng pháp lệnh của nhà nước vô sản, để tổ chức theo kiểu cộng sản chủ nghĩa, trong một nước tiểu nông, việc nhà nước sản xuất và phân phối sản phẩm Đời sống thực tế đã
Trang 18Khi thực hiện chính sách “Cộng sản thời chiến” đã dẫn tới quá trình nhà nước hóa toàn phần Nhưng trong bối cảnh nội chiến còn đang tiếp diễn, quá trình này được coi là tất yếu và thiết thực; sự độc quyền của Nhà nước về sản xuất, phân phối sản phẩm được coi là không tránh khỏi Nhưng thực tiễn
để lại những hậu quả trầm trọng với nước Nga thời thi hành chính sách “Cộng sản thời chiến” Chính sách “Cộng sản thời chiến” đã xóa bỏ hết những kích thích kinh tế - cái bị coi là tàn dư của chủ nghĩa tư bản
Chính quyền vô sản đã trưng thu toàn bộ số lương thực thừa và cả một phần lương thực cần thiết cho sự sinh sống của người nông dân Vì vậy, người nông dân Nga không muốn mở rộng sản xuất, diện tích gieo trồng lúa mì giảm đi một cách đáng kể, việc gieo trồng những cây công nghiệp thì hoàn toàn không còn nữa Nguyên tắc phân phối theo lao động bị vi phạm, kỷ luật lao động bị phá vỡ, sản xuất công nghiệp đình đốn, v.v… Thực tiễn đó cho thấy chính sách “Cộng sản thời chiến” không phải và không thể là chính sách đáp ứng được những đòi hỏi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Nó chỉ
là một giải pháp mang tính nhất thời, bắt buộc phải thực hiện trong bối cảnh nước Nga Xôviết non trẻ đang đứng trước bờ vực thẳm của cuộc nội chiến khốc liệt Thực tiễn đặt ra vấn đề cần có một chính sách mới, một bước đi mới khắc phục những tồn tại mà chính sách “Cộng sản thời chiến” đã để lại
1.1.2 Khủng hoảng chính trị - xã hội
Bên cạnh những khó khăn về kinh tế, từ mùa xuân năm 1921 phát sinh những khó khăn có tính chất nghiêm trọng về chính trị Trong đội ngũ giai cấp công nhân, nhiều người thiếu công ăn việc làm buộc phải tìm đường trở
về nông thôn đã làm cho giai cấp vô sản Nga vốn ít về số lượng bị lâm vào tình trạng phân tán, một bộ phận bị mất gốc giai cấp Tình hình đó làm suy yếu cơ sở xã hội của chuyên chính vô sản, đe dọa sự tồn tại của chính quyền
Xô viết Ở các vùng nông thôn rộng lớn, nông dân bất mãn với chế độ trưng thu lương thực thừa, đời sống của người nông dân càng thêm khốn quẫn làm
Trang 19cho sự bất mãn ngày càng tăng Tình trạng xã hội nước Nga lúc đó càng thêm căng thẳng Thêm vào đó, sự trỗi dậy của những phần tử còn sót lại trong hàng ngũ của các thế lực phản cách mạng cũng gây ra không ít khó khăn cho chính quyền Xô viết Chúng lợi dụng sự bất mãn của nông dân, sự dao động của những người cộng sản không kiên định lập trường cách mạng để chống phá, phá hoại công cuộc xây dựng kinh tế khi đất nước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình
Trên thực tiễn diễn ra là biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn gay gắt giữa chính sách “Cộng sản thời chiến” với những điều kiện mới của công cuộc xây dựng kinh tế khi đất nước hòa bình Không phủ nhận vai trò quan trọng của chính sách “Cộng sản thời chiến”, V.I Lênin đã kêu gọi giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động nước Nga phải nhận thức rõ thực tiễn lịch sử khi đó Tại Đại hội X Đảng cộng sản (b) Nga, V.I Lênin thừa nhận: Với chính sách đó, cụ thể là chính sách “trưng thu lương thực thừa”, nước Nga thoát khỏi tình trạng nặng nề của cuộc nội chiến để rồi lại bước vào tình trạng của một cuộc khủng hoảng khác – đất nước lâm vào nạn đói, nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, thái độ bất bình của các tầng lớp nhân dân, nhất
là nông dân ngày càng gia tăng, sự trỗi dậy của các “thế lực tự phát tiểu tư
Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế trong bối cảnh đó đòi hỏi phải có hàng loạt các biện pháp thích hợp V.I Lênin luôn căn nhắc những người lãnh đạo của Đảng Bônsơvích không được làm ngơ trước những khó khăn và cũng không cho phép cho rằng lực lượng đông đảo là giai cấp vô sản với nhiệt tình cách mạng của họ thì muốn làm gì cũng được, mà phải thấy rằng giai cấp vô sản là một việc; xây dựng và phát triển kinh tế, đẩy nhanh tốc
độ sản xuất là một việc khác Đồng thời cũng không được quên rằng nước Nga Xô viết có những giai cấp khác nhau, rằng cuộc phản cách mạng tiểu tư
Trang 20sản vô chính phủ là một nấc thang chính trị dẫn đến chính quyền của bọn bạch
vệ Bởi vậy, việc nhìn nhận thẳng thắn, tỉnh táo, phải hiểu rõ tình trạng khủng hoảng và tạo đà cho sự phát triển tiếp theo, phải tạo ra sự đoàn kết, thống nhất, sự bình tĩnh, kỷ luật đến mức tối đa trong Đảng là rất cần thiết cho nước chính quyền non trẻ lúc này
Trước tình trạng khủng hoảng đó, một chính sách mới – “Chính sách kinh tế mới” (NEP) – với tư cách là đường lối xây dựng và phát triển kinh tế, tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ra đời do V.I Lênin là người đề xướng và soạn thảo Tại Đại hội III Quốc tế Cộng sản, V.I Lênin đã nói: “chúng tôi thay đổi chính sách kinh tế là hoàn toàn căn cứ vào những
chính thức được tuyên bố tại Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga (từ ngày 08 đến ngày 16 tháng 03 năm 1921) và được Đại hội nhất trí thông qua với tư cách là chính sách duy nhất đúng với nước Nga Xô viết trong bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội Tiếp sau đó, trong các bài phát biểu tại Đại hội cũng như trong các tác phẩm viết sau Đại hội, đặc biệt trong tác
phẩm Bàn về thuế lương thực, V.I Lênin đã nhiều lần luận chứng cho sự cần
thiết của NEP và vạch rõ thực chất, ý nghĩa lớn lao của NEP
1.2 Nội dung cơ bản của “Chính sách kinh tế mới” (NEP)
Đại hội X (từ ngày 08 đến ngày 16/03/1921) của Đảng Bônsêvích
nhất trí thay thế chính sách “Cộng sản thời chiến” và thông qua “Chính sách kinh tế mới” (NEP) của V.I Lênin về: Vai trò của NEP trong hoàn cảnh lịch
sử cụ thể của nước Nga Xô viết; phương pháp và phương thức cụ thể cần thiết thực hiện thay chế độ trưng thu lương thực thừa bằng thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán và sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước Đảng Cộng sản
(b) Nga cho xuất bản tác phẩm Bàn về thuế lương thực nhằm công bố rộng rãi
tính thiết yếu của NEP và nội dung cơ bản của nó Tác phẩm trình bày súc
Trang 21tích nội dung cơ bản của NEP, V.I Lênin viết: “Một trong những điều sửa đổi
đó là thay chế độ trưng thu bằng thuế lương thực, do đó có tự do buôn bán…”
[62, tr 263-264]
“Chúng ta hãy tổng kết lại
Thuế lương thực là một bước quá độ từ chế độ cộng sản thời chiến
đến chế độ trao đổi xã hội chủ nghĩa bình thường về sản phẩm
Sự tàn phá hết sức nặng nề, lại bị mất mùa năm 1920 làm cho trầm trọng thêm, đã làm cho bước quá độ ấy trở thành cần thiết và cấp bách vì không thể khôi phục được nhanh chóng nền đại công nghiệp
Do đó trước hết cần phải cải thiện đời sống của nông dân Biện pháp là thuế lương thực, phát triển sự trao đổi giữa nông nghiệp và công nghiệp, phát triển tiểu công nghiệp
Trao đổi, tức là tự do buôn bán, tức là chủ nghĩa tư bản Nó có lợi cho
chúng ta trong chừng mực nó giúp chúng ta chống lại tình trạng phân tán của
tr 294]
Như vậy, nội dung chủ yếu của “Chính sách kinh tế mới” là:
- Thay chế độ trưng thu lương thực bằng thuế lương thực
- Cho phép tự do buôn bán
- Sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước
“Chính sách kinh tế mới” là chính sách duy nhất đúng với nước Nga Xô viết trong bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội Với ba nội dung cơ bản trên, “Chính sách kinh tế mới” nhằm khắc phục tình trạng rối loạn, thiết lập những cơ sở của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, đẩy lùi và tiến tới thủ tiêu những thành phần tư bản chủ nghĩa, vì thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
1.2.1 Thay chế độ trưng thu lương thực bằng thuế lương thực
Trang 22Trong bối cảnh đất nước hòa bình phát triển kinh tế, chế độ trưng thu lương thực không còn kích thích được người nông dân hăng hái sản xuất Do vậy, để thực hiện được nhiệm vụ khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất, cần thiết có những sửa đổi căn bản trong chính sách lương thực
V.I Lênin thừa nhận rằng do chiến tranh chính quyền Xô viết buộc phải thi hành chính sách “Cộng sản thời chiến”, chính sách trưng thu lương thực thừa Chính sách đó chỉ là một biện pháp tạm thời trong một hoàn cảnh bắt buộc và đối với giai cấp vô sản đang thực hiện quyền chuyên chính của mình trong một nước tiểu nông thì chính sách đúng đắn là phải tổ chức trao đổi sản phẩm công nghiệp cần thiết cho nông dân, để lấy lúa mì của nông dân Tuy nhiên, khi nước Nga Xô viết bước vào hòa bình thì chính sách “Cộng sản thời chiến” không còn phù hợp
Việc thay thế chế độ trưng thu lương thực thừa bằng thuế lương thực
là cần thiết Vì thực chất chế độ trưng thu lương thực thừa là lấy tất cả lương thực thừa của nông dân, thậm chí lấy cả phần lương thực cần thiết cho đời sống sinh hoạt của họ cung cấp cho quân đội Nó chỉ phù hợp trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh khốc liệt Bởi thế, chính quyền Xô viết cần đặt ra thuế lương thực, nghĩa là dưới danh nghĩa thuế một lượng lúa mì tối thiểu, cần thiết; phần còn lại sẽ được đổi bằng các sản phẩm công nghiệp Hay nói cách khác, Nhà nước sẽ không trưng thu tất cả số lương thực thừa của người nông dân, mà chỉ thu một số thuế, thêm vào đó, số thuế này được ấn định trước, nên người nông dân tích cực sản xuất hơn Đây chính là đòn bẩy kinh tế khuyến khích, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của người nông dân Vậy nên, khi chuyển sang NEP, thuế lương thực được V.I Lênin coi là khâu đầu tiên, là một trong những “biện pháp cấp tốc, cương quyết nhất để cải thiện đời sống
Trang 23Có thể nói việc thay thế chế độ trưng thu lương thực thừa bằng chế độ thuế lương thực ổn định đã tạo điều kiện cho việc tăng tích lũy kinh tế ở nông thôn Hơn nữa, nhờ đó mà một hình thức kinh tế mới đã được hình thành một cách tự nhiên và tỏ ra thích hợp với nước Nga khi đó là hình thức kinh tế nông dân kiểu gia trưởng và sản xuất hang hóa nhỏ
Hình thức kinh tế này cùng với việc người nông dân được tự do phát triển sản xuất, sử dụng các kích thích kinh tế và đình chỉ đường lối nhà nước hóa và ràng buộc chặt chẽ về mặt hành chính đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung trên phạm vi cả nước, thúc đẩy việc nâng cao mức sống cho nhân dân, kiến lập được sự liên minh giữa nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế nông dân
Nhờ thi hành chính sách thuế lương thực mà người nông dân đã quan tâm hơn đến việc phát triển sản xuất và qua đó, đời sống của họ đã được cải thiện, việc cung cấp lương thực cho thành phố, quân đội được đảm bảo và ngũ cốc của nước Nga lần đầu tiên sau Cách mạng Tháng Mười lại xuất hiện trên thị trường quốc tế Sau gần hai năm thi hành chính sách này, tại Đại hội IV Quốc tế Cộng sản, V.I Lênin đã xác nhận: “trong vòng một năm, nông dân chẳng những đã thắng được nạn đói, mà còn nộp thuế lương thực đến mức là chúng tôi đã thu được hàng trăm triệu pút, mà gần như hoàn toàn không phải
áp dụng đến biện pháp cưỡng bách nào cả Những cuộc bạo động nông dân, trước 1921, có thể nói là một việc phổ biến ở Nga, hiện nay hầu như chấm dứt Nông dân lấy làm hài lòng với tình hình của họ hiện nay Chúng tôi có
Không chỉ đời sống của người nông dân mà đời sống của quần chúng nhân dân lao động trong cả nước được cải thiện Việc nâng cao đời sống cho nhân dân đã kết hợp được với việc phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, khối liên minh công – nông – cơ sở vững chắc của cách mạng xã hội chủ
Trang 24nghĩa – được củng cố, khả năng thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội đã được thừa nhận là cái đang trở thành hiện thực
1.2.2 Cho phép tự do buôn bán
Cùng với thuế lương thực, việc thực hiện chế độ tự do trao đổi hàng hóa, tự do buôn bán, kinh doanh là nội dung quan trọng của NEP Hơn thế nữa, V.I Lênin coi vấn đề tự do trao đổi hàng hóa, tự do buôn bán, kinh doanh là vấn đề cần “đặt lên hàng đầu” của “Chính sách kinh tế mới”, là cái
để kiến lập vững chắc một liên minh kinh tế vững chắc giữa giai cấp vô sản
và giai cấp nông dân, là cái “cần thiết” đề người nông dân mở rộng sản xuất
và cải thiện đời sống của họ Ông yêu cầu nhà nước vô sản phải coi đó là vấn
đề kinh tế và chính trị quan trọng nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông
Khi phân tích những hậu quả kinh tế trong những năm thực hiện chính sách “cộng sản thời chiến” V.I Lênin đã nhận thấy việc Nhà nước vô sản đã đi quá xa trong việc quốc hữu hóa thương nghiệp và công nghiệp, đình chỉ sự trao đổi địa phương Nhưng trong thời kỳ quá độ của một nước nông nghiệp với dân cư đa phần là tiểu nông thì họ vẫn cần đến sự thúc đẩy đối với nền kinh tế của họ Vì vậy, chính quyền Xô viết cần phải cho phép nông dân được tự do lưu thông ở một mức độ nào đó trong địa phương, thậm chí trong một phạm vi khá lớn
Để thực hiện được điều đó, V.I Lênin khẳng định phải áp dụng cơ chế thị trường, sử dụng mối quan hệ tiền – hàng “để thực hiện được trao đổi hàng hóa và không bị thị trường tự do đánh gục, thì chúng ta cần hiểu rõ nó, cần phải thử sức với nó và lấy chính con chủ bài của nó để đánh gục nó,…; muốn thế cần phải hiểu rõ nó…, phải tính đến những điều kiện buôn bán, chúng ta cần phải hiểu biết một cách chính xác những điều kiện đó, phải biết
Trang 25Lênin nhìn thấy sự phục hồi của chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, song theo ông điều đó không có gì đáng sợ, thậm chí nó còn có lợi, đặc biệt có lợi trong việc chống lại tình trạng phân tán của những người sản xuất nhỏ Trong điều kiện giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo thì: “Không việc gì phải sợ điều đó… Nhà nước… có trong tay đầy đủ phương tiện để cho phép những quan
hệ đó – những quan hệ hiện đang có ích và cần thiết trong hoàn cảnh sản xuất nhỏ - phát triển có chừng mực và nhất định để kiểm soát những quan hệ đó”[62, tr 331]
Như vậy, thực hiện NEP với việc cho phép tự do buôn bán thực chất
là phục hồi ở một mức độ nào đó các phần tử tư bản chủ nghĩa Đó là mối nguy hiểm nhất định, trực tiếp đe dọa sự tồn vong của chính quyền Xô viết và
do vậy không thể không tính tới Nhận thức rõ điều này hơn ai hết, V.I Lênin cho rằng, việc thực hiện NEP không có nghĩa là cho phép hoàn toàn tự do buôn bán Chính quyền Xô viết có nhiệm vụ điều tiết việc tự do buôn bán đó bằng việc mở rộng thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp hợp tác xã
1.2.3 Sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước
Thi hành NEP là thực hiện nhiệm vụ cải tạo nền sản xuất tiểu nông, giai cấp công nhân, những người sản xuất nhỏ, cải tạo thành phần kinh tế tư bản tư nhân và giai cấp tư sản mới hình thành V.I Lênin cho rằng chính sách hợp lý nhất cần áp dụng khi chủ nghĩa tư bản phục hồi đối với một nước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội từ nền sản xuất nhỏ và nông dân chiếm đa số không phải là tìm cách ngăn cấm hay ngăn chặn sự phát triển của thành phần kinh tế
tư bản chủ nghĩa này, mà tìm cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước
V.I Lênin nhận thức rõ tầm quan trọng, sự cần thiết và ý nghĩa lớn lao của chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là một biện pháp “quá độ đặc biệt” trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông với nền
Trang 26sản xuất nhỏ là phổ biến Vì chủ nghĩa tư bản nhà nước chính là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất, đưa chúng ta đến chủ nghĩa xã hội bằng con đường ngắn nhất, đảm bảo cho chủ nghĩa xã hội được củng cố và hoàn thiện Song, V.I Lênin cũng cho rằng việc dần cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước tuyệt nhiên không phải là sự phát triển hòa bình của chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa xã hội, mà
sự cải tạo đó phải thực hiện dưới một hình thức đấu tranh độc đáo giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản
Để thực hiện phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I Lênin yêu cầu chính quyền Xô viết tổ chức và sử dụng nhiều hình thức khác nhau của nó, như hình thức tô nhượng trong công nghiệp, hình thức hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ, hình thức tư nhân làm đại lý cho nhà nước trong thương nghiệp, hình thức cho tư nhân thuê nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, v.v… Trong đó, ông rất coi trọng hình thức hợp tác xã của những người sản xuất
nhỏ (trong Bàn về thuế lương thực, ông coi nó là một hình thức của chủ nghĩa
tư bản nhà nước) Nhưng thực tiễn thực hiện NEP đặt ra cho V.I Lênin một
sự quan tâm đặc biệt cho hình thức tô nhượng, hình thức cho tư bản nước ngoài thuê lại các xí nghiệp thuộc sở hữu nhà nước Vì nó chẳng những có khả năng đảm bảo mức sống khá giả cho bộ phận nào đó, dù là nhỏ, của giai cấp công nhân hiện đang làm việc tại các xí nghiệp tô nhượng ấy, mà nó còn giúp cho giai cấp công nhân Nga học tập cách quản lý hợp lý, đẩy nhanh việc khôi phục kinh tế, củng cố nền hòa bình đang đòi hỏi bức thiết với chính quyền cộng hòa non trẻ lúc đó
Với quan điểm đó, V.I Lênin chủ trương cho tư bản nước ngoài thuê không các xí nghiệp sản xuất, mà cả những khu rừng ở cực Bắc, những vùng đất màu mỡ ở lưu vực sông Uran, Bắc Cápcadơ và Tây Xibiri, những tài nguyên khoáng sản ở Xibiri Ông cho rằng, tuy những người được hưởng một phần tài nguyên quý giá nhưng “miễn sao khôi phục nền đại công nghiệp của
Trang 27chúng ta được nhanh chóng hơn và cải thiện đời sống công nhân được nhiều”[63, tr 10]
Nhiều đảng viên cộng sản có thái độ nghi ngờ hình thức tô nhượng sẽ dẫn đến nạn đầu cơ trên thị trường, nền kinh tế Nga sẽ bị phá hủy bởi chủ nghĩa tư bản, V.I Lênin khẳng định: “Về mặt kinh tế, nếu ta đặt vấn đề xét xem tô nhượng có lợi hay không có lợi, thì hiển nhiên rằng tô nhượng là có lợi Không có tô nhượng, chúng ta sẽ không thể thực hiện chương trình của chúng ta, không thể thực hiện công cuộc điện khí hóa nhà nước; không có tô nhượng, thì không thể khôi phục nền kinh tế của chúng ta trong mười năm
những xí nghiệp lớn ngang trình độ của chủ nghĩa tư bản tiên tiến hiện đại Trong các xí nghiệp tô nhượng, V.I Lênin đánh giá cao kiểu xí nghiệp theo lối công ty liên doanh
Những thành phần kinh tế đó là những hình thức nhất định trong chính sách kinh tế mới của nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm sử dụng và điều tiết đúng hướng chủ nghĩa tư bản tư nhân, hướng chúng vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước vì lợi ích của chủ nghĩa xã hội
Với nội dung cơ bản trên, có thể khẳng định NEP là sự vận dụng linh hoạt học thuyết Mác trong bối cảnh hiện thực nhiều biến động, ở sự vận dụng và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biến chứng, sự tác động qua lại giữa mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao trình độ phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng chế
độ xã hội mới, cải thiện đời sống nhân dân lao động NEP là giải pháp mang tính chiến lược, hữu hiệu để tăng cường quyền lực nhà nước, củng cố vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Nga đã chứng minh giá trị của NEP và những luận điểm này còn nguyên giá trị đến hiện nay
1.3 Quan điểm cơ bản về phát triển kinh tế trong “Chính sách
kinh tế mới” của V.I Lênin – cơ sở trực tiếp của việc hình thành và
Trang 28phát triển tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh
1.3.1 Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo, chú trọng mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp – nông nghiệp
Thứ nhất, với nền kinh tế tiểu nông, V.I Lênin xác định nước Nga
Xô viết quá độ lên chủ nghĩa xã hội bằng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Bao gồm:
“1 Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên;
2 Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì);
3 Chủ nghĩa tư bản tư nhân;
4 Chủ nghĩa tư bản nhà nước;
Tuy nhiên, V.I Lênin lưu ý không phải là xác định xem có bao nhiêu thành phần trong nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà là theo dõi xu hướng phát triển của mỗi thành phần trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, từ đó xác định thành phần kinh tế chiếm ưu thế Thực hiện NEP với điểm xuất phát nhằm đáp ứng những lợi ích kinh tế của đa số nông dân – lực lượng chủ yếu của nước Nga Xô viết, V.I Lênin phân tích rõ mối quan hệ giữa việc đáp ứng được những lợi ích kinh tế căn bản của người nông dân và việc kích thích phát triển sản xuất Bởi vậy, V.I Lênin xác định trong khi xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cần chú ý tới thành phần kinh tế chủ đạo là nông nghiệp, chú trọng mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp – nông nghệp
Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nước Nga trong bối cảnh hiện thực rơi vào thảm cảnh khủng hoảng trầm trọng Đời sống của giai cấp nông dân,
Trang 29công nhân và toàn bộ các lực lượng khác trong xã hội ở tình trạng khó khăn, thiếu thốn Để thoát khỏi hậu quả nặng nề của chiến tranh, V.I Lênin nhận thấy vai trò quan trọng của giai cấp nông dân và nền kinh tế tiểu nông ở một nước tiểu nông muốn đi lên chủ nghĩa xã hội Ông viết: “trong thời kỳ quá độ này, trong một nước mà nông dân chiếm đa số, chúng ta phải biết chuyển sang những biện pháp nhằm bảo đảm những yêu cầu của nông dân về mặt kinh tế, biết tiến hành đến mức tối đa những biện pháp để cải thiện tình cảnh kinh tế của nông dân Trong khi chúng ta chưa cải tạo được nông dân, trong khi cơ khí lớn chưa cải tạo nông dân thì phải đảm bảo cho nông dân được tự do
1921), ông đã yêu cầu chính quyền Xô viết tập trung chú trọng phát triển nền sản xuất tiểu nông, vạch ra biện pháp cụ thể và hợp lý khuyến khích kinh tế nông dân cá thể phát triển theo quỹ đạo chủ nghĩa xã hội với quy mô hợp lý
Từ những quan sát trực tiếp đời sống xã hội của quần chúng nông dân, V.I Lênin lưu ý trên con đường chuyển lên chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất và canh tác tập thể, nước Nga Xô viết cần tuân thủ nghiêm ngặt những bước trung gian cần thiết cải tạo nông thôn, chuyển đổi kinh tế tiểu nông, đưa người nông dân cá thể dần đi vào nền sản xuất tập thể theo tuần tự
và có sự kế thừa Đây là quá trình chịu sự quy định của cơ sở vật chất – kỹ thuật trang bị cho nông thôn, phong tục tập quán canh tác lâu đời của nông dân Nga, đặc biệt đòi hỏi trình độ giác ngộ cao, khả năng tổ chức độc lập của quần chúng nông dân lao động
Bằng những kết quả V.I Lênin tổng kết từ trong thực tiễn nền kinh tế tiểu nông của nước Nga, ông nhận thấy vấn đề xây dựng nông trang tập thể, nông trường quốc doanh là chưa đủ điều kiện chủ quan và khách quan: “Tôi biết rằng các nông trang tập thể còn tổ chức rất tồi và còn ở trong tình trạng hết sức thảm hại khiến người ta có lý khi gọi đó là những viện dưỡng lão”
Trang 30[61, tr 223] Và khẳng định: “Chúng ta phải dựa vào nông dân cá thể; họ vẫn
cần phải tận dụng hết khả năng tiềm tàng, tiến bộ của kinh tế nông dân cá thể
Vì vậy, V.I Lênin cho rằng trong thời điểm hiện tại, khẩu hiệu: “Hãy thành lập các hợp tác xã!” là xáo rỗng mà việc cần làm là phải chỉ ra một cách cụ thể xem kinh nghiệm thực tiễn của hợp tác hóa là gì và cần giúp đỡ công việc hợp tác hóa như thế nào
Thứ hai, V.I Lênin xác định nông nghiệp là thành phần kinh tế chủ đạo Những kết quả kinh tế của hình thức canh tác tập thể thông qua số liệu thông báo chính thức về tình trạng tan rã của các nông trang tập thể trong thời điểm hiện tại, V.I Lênin tỏ ra có thái độ thận trọng với nền sản xuất tập thể Đồng thời, nó là cơ sở vững chắc giúp ông khẳng định tính đúng đắn của chính sách kinh tế mới trong việc nhìn nhận lại vai trò của nông nghiệp với nước Nga Xô viết ở bối cảnh là một nước tiểu nông trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cuối năm 1922, nền nông nghiệp nước Nga lao vào sản xuất với một nhiệt tình phi thường và một phần nhờ sự trợ giúp của nhà nước, người nông dân Nga đạt được những thành tựu to lớn, họ đã nộp thuế cho nhà nước một cách thoải mái, lạ thường và hầu như không gò ép với một số lượng thuế lên đến hàng trăm triệu pút lúa V.I Lênin khẳng định: “đại đa số dân cư
mà sản xuất có quy mô rất nhỏ hẹp và nằm trong tay tư nhân, đem lại những
số lãi to lớn nhất Toàn bộ nền sản xuất nông nghiệp của nông dân là như thế”[64, tr 310]
Như vậy, kinh tế nông dân cá thể giữ vị trí quan trọng giúp những người nông dân Nga thoát khỏi tình trạng đói kém trong thời điểm hiện tại, khôi phục mọi hoạt động của nhà nước Nga Xô viết non trẻ Song, về lâu dài nhà nước cần phải dẫn dắt quần chúng nông dân lao động đi theo con đường chủ nghĩa xã hội trong chế độ sản xuất tập thể, hình thức quản lý hợp tác xã
Trang 31Đến những năm cuối đời, V.I Lênin khẳng định ở điều kiện thuận lợi việc xây dựng chế độ hợp tác xã trong khi vẫn duy trì nền kinh tế nông dân cá thể
sẽ càng làm cho nó quan tâm một cách thiết thực tới lợi ích vật chất của người nông dân và tạo ra đòn bẩy kinh tế để đưa họ đi theo con đường của chủ nghĩa
xã hội
Đáp ứng được lợi ích kinh tế của nông dân, kích thích họ phát triển sản xuất, khi sản xuất phát triển thì việc cung cấp lương thực được đảm bảo cho mọi hoạt động của chính quyền Xô viết V.I Lênin nhấn mạnh phải bắt đầu từ nông dân, trước mắt phải tập trung vào phát triển nông nghiệp, NEP chính là cái thuận lợi cho nông dân – nông nghiệp; nhiệm vụ khôi phục và phát triển công nghiệp trong thời điểm hiện tại cần phải hoãn lại trong một thời gian, đưa xuống hàng thứ yếu Nhưng về chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga Xô viết - một nước mà nông dân chiếm ưu thế thì phải được xây dựng vững chắc dựa trên cơ sở tư tưởng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân Vì vậy, chú trọng phát triển nông nghiệp đồng thời cũng phải quan tâm phát triển công nghiệp
Thứ ba, V.I Lênin khẳng định Chú trọng phát triển công nghiệp – nông nghiệp là bước đi cần thiết khi xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông Từ năm 1920, V.I Lênin sớm nhận rõ và tuyên bố: “Thực ra, nhà nước của chúng ta không phải là nhà nước công nhân, mà là nhà nước công
nông dân sẽ tránh cho nước Nga Xô viết nguy cơ hoàn toàn có thể xảy ra với Đảng và đất nước những bất hòa nghiêm trọng, ngăn chặn kịp thời mưu toan đưa ngay vào nông thôn tư tưởng thuần túy cộng sản chủ nghĩa mà khi đó họ chưa thể tiếp thu được một cách dễ dàng Nói cách khác, NEP thực hiện dựa trên thuộc tính độc lập của thành phần nông dân trong xã hội Xô viết nhưng
Trang 32không lãng quên mối quan hệ chặt chẽ với giai cấp công nhân – lực lượng chủ chốt thực hiện sứ mệnh đưa nước Nga Xô viết tiến lên chủ nghĩa xã hội
Ngay từ buổi đầu thi hành NEP, V.I Lênin kêu gọi chính quyền Xô viết cần sử dụng mọi phương tiện, biện pháp làm sống động sự giao lưu giữa công nghiệp với nông nghiệp theo phương thức lưu thông, trao đổi hàng hóa
Từ đây, hình thức kinh doanh hàng hóa nhỏ - hình thức chiếm ưu thế trong lĩnh vực kinh tế tư bản tư nhân - hình thức kinh doanh công nghiệp với một quy mô hạn chế được phép tồn tại và khuyến khích Và cũng nhờ chính sách kinh tế mới mà những xí nghiệp vừa và nhỏ không thuộc sở hữu nhà nước hoặc đã chuyển sang sở hữu nhà nước trong những năm thực hiện chính sách
“Cộng sản thời chiến” không hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả nay được trả lại cho chủ cũ, hoặc cho chủ cũ thuê lại Điều này giúp đảm bảo quyền sở hữu pháp lý của nhà nước, vừa khôi phục vận hành nhiều xí nghiệp, vừa đỡ gánh nặng cho ngân sách quốc gia Kết quả thu lại từ việc không quốc hữu hóa các xí nghiệp giúp cho nền kinh tế nước Nga có nhiều khởi sắc, khắc phục được tình trạng thiếu hàng tiêu dùng thiết yếu Với các xí nghiệp quốc doanh V.I Lênin chủ trương giải thể hệ thống tổng cục Hội đồng kinh tế quốc dân tối cao – hệ thống quản lý xí nghiệp quốc doanh, chuyển sang chế độ tự hoàn vốn, hoạch toán kinh tế, cho phép quan hệ buôn bán trực tiếp giữa các xí nghiệp quốc doanh, với các xí nghiệp tư nhân Nhờ đó, mối quan hệ giữa cơ quan Xô viết và cơ quan quản lý kinh tế địa phương được thiết lập
NEP giúp cho công nghiệp – mạch máu kinh tế chủ đạo luôn nằm trong tay chính quyền Xô viết, đồng thời cũng là đòn bẩy xây dựng nền công nghiệp lớn hiện đại đủ sức cải tạo cả nông nghiệp Vì vậy, V.I Lênin yêu cầu chính quyền Xô viết nhanh chóng xây dựng những cơ sở mới, những ngành công nghiệp mới Trước mắt phải bắt đầu từ công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm phục vụ nhu cầu của người nông dân và phát triển kinh tế nông dân Trong đó, các ngành sản xuất tư liệu sản xuất công nghiệp nặng được ưu
Trang 33tiên trong đường lối công nghiệp hóa Bên cạnh đó, ngành công nghiệp sản xuất công cụ lao động, công nghiệp nhẹ, đặc biệt là chế biến nông phẩm nằm trong nội dung quan trọng của NEP Từ năm 1921 đến năm 1923, nhịp độ tăng sản xuất trung bình hàng năm trong công nghiệp nặng đạt 48,3% so với 30,4% trong khu vực sản xuất vật phẩm tiêu dùng
V.I Lênin coi nền đại công nghiệp cơ khí là một cơ sở kinh tế vững chắc của chủ nghĩa xã hội Nhưng trong bối cảnh hiện tại, nước Nga chưa có
đủ cơ sở hạ tầng để bắt tay ngay vào thực hiện đại công nghiệp cơ khí thì việc tạo ra một nền công nghiệp nặng, xây dựng những nhà máy, xí nghiệp có quy
mô lớn là điều viển vông V.I Lênin buộc phải lựa chọn cho nước Nga Xô viết con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng cách kiến lập sự liên minh chặt chẽ, vững chắc giữa nền kinh tế mới có tính chất xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế nông dân Ông nhấn mạnh rằng sự liên minh giữa giai cấp công nhân – nông dân và sự kết hợp phát triển công nghiệp – nông nghiệp không phải là thu hút hoạt động sản xuất của người nông dân cá thể bằng hoạt động xã hội mang tính chất nhà nước, cũng không phải là sự thống nhất giữa hai nền kinh
tế đó Chính sự liên minh, kết hợp này sẽ đưa giai cấp công dân cùng quần chúng nông dân đi đến một mục đích chung là tiến lên chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông Bằng cách này, nước Nga Xô viết sẽ hoàn thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội chậm hơn nhưng đây là bước đi phù hợp, không gì ngăn cản nổi những người cộng sản và quần chúng nhân dân lao động Nga đoàn kết nắm tay nhau thực hiện thành công sự nghiệp vẻ vang đó
1.3.2 Hợp tác xã là hình thức “trung gian”, biện pháp “quá độ” cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội
Một là, V.I Lênin khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của chế độ hợp tác xã trong phát triển kinh tế đất nước Tuy đánh giá cao vị trí, vai trò của kinh tế nông dân cá thể, nhưng chưa bao giờ V.I Lênin coi chúng là hình thức quản lý kinh tế độc lập: “Qua “Chính sách kinh tế mới”, chúng ta đã
Trang 34nhượng bộ người nông dân được coi là thương nhân, nhượng bộ nguyên tắc thương hiệp tư nhân; chính do đó mà có … ý nghĩa lớn lao của chế độ hợp tác
Bên cạnh việc nhấn mạnh vai trò trung gian của nông dân và nhiệm
vụ phải ủng hộ và giúp đỡ họ trong sản xuất V.I Lênin luôn trăn trở tìm kiếm những con đường và hình thức mới cho việc cải tạo người nông dân và nền kinh tế tiểu nông Và đi đến một kết luận quan trọng được khẳng định trong
tác phẩm Bàn về chế độ hợp tác xã (tháng 01/1923): Tất cả những điều mà
chúng ta phải làm, dưới chế độ “Chính sách kinh tế mới”, là ở chỗ tập hợp những tầng lớp nhân dân Nga thật sâu rộng vào các hợp tác xã, vì hiện nay, chúng ta đã tìm ra được mức độ kết hợp lợi ích tư nhân, lợi ích thương nghiệp
tư nhân với việc Nhà nước kiểm soát và kiểm tra lợi ích đó, mức độ làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích chung, điều mà trước đây là nan giải đối với rất nhiều người xã hội chủ nghĩa Con đường đó được thực hiện bằng cách xây dựng những loại hình hợp tác xã khác nhau (từ hợp tác xã tiêu thụ, hợp tác xã cung ứng, hợp tác xã tín dụng đến xí nghiệp hợp tác xã) với mục đích giúp cho người nông dân không những tiêu thụ được những sản phẩm do họ làm ra một cách tốt hơn, thuận tiện hơn, mà còn tạo ra cho họ có khả năng mua được những sản phẩm công nghiệp thiết yếu và tập trung được mọi nguồn vốn có thể có để phát triển sản xuất Những hợp tác xã đó là những xí nghiệp kiểu xí nghiệp mới, xí nghiệp thứ ba – xí nghiệp hợp tác xã, vận động trong môi trường của sản xuất hàng hóa nhiều thành phần
Luận chứng về phương diện lý luận cho chế độ hợp tác xã, thực hiện kinh tế hợp tác trong thời kỳ nước Nga Xô viết tiến lên chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế tiểu nông nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá nặng nề , V.I Lênin khẳng định việc phân phối những tư liệu sản xuất chủ yếu, việc giai cấp vô sản
Trang 35nắm chính quyền và thiết lập sự liên minh vững chắc với hàng triệu tiểu nông, đồng thời nắm vững quyền lãnh đạo những người nông dân “chưa phải là xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, nhưng đó là tất cả những cái cần thiết và đầy đủ
ông kiên quyết yêu cầu chính quyền Xô viết thi hành chế độ hợp tác xã
Hai là, V.I Lênin coi hợp tác xã là con đường đúng đắn xây dựng chủ
nghĩa xã hội, ông khẳng định trong tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết (tháng 03 -1918): “vị trí hợp tác xã đã thay đổi căn bản về
nguyên tắc, từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, từ khi chính quyền nhà nước vô sản bắt đầu việc xây dựng một cách có hệ thống chế độ xã hội chủ nghĩa Ở đây lượng đã biến thành chất Hợp tác xã khi còn là hòn đảo nhỏ trong xã hội tư bản chủ nghĩa, thì là một cửa hiệu nhỏ Nhưng nếu hợp tác xã
đã được phổ cập trong toàn bộ một xã hội mà trong đó đất đai đã được xã hội hóa và các công xưởng, nhà máy đã được quốc hữu hóa, thì nó là chủ nghĩa
xã hội” [55, tr 197]
Khi ban hành và thực hiện NEP, V.I Lênin coi hợp tác xã là hình thức đặc biệt của chủ nghĩa tư bản nhà nước: “Các hợp tác xã cũng là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước nhưng ít đơn giản hơn, phức tạp hơn
và vì thế, trong thực tế, nó đặt chính quyền Xô viết trước những khó khăn lớn
cuốn được khối quần chúng nhân dân lao động đông đảo, nhổ tận gốc quan hệ
xã hội cũ phản kháng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Hợp tác xã tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hợp và tổ chức hàng triệu người, sau đó là toàn thể dân chúng và bước quá độ tương lai từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hình thức hợp tác xã của chủ nghĩa tư bản nhà nước giữ vị trí, vai trò quan trọng Trong điều kiện
Trang 36giai cấp vô sản nắm chính quyền và chế độ công hữu về tư liệu đã được thiết lập, hợp tác xã là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước Tuy là một hình thức phổ biến ở nước Nga nhưng hợp tác xã là hình thức phức tạp hơn các hình thức khác của chủ nghĩa tư bản nhà nước Hợp tác xã có vai trò quan trọng tạo ra những thuận lợi cho bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản nhà nước lên chủ nghĩa xã hội và mở ra con đường mới cho sản xuất nhỏ đi lên theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội
Ba là, điều quan trọng, V.I Lênin không chỉ coi hợp tác xã là hình thức quản lý “trung gian”, biện pháp “quá độ” mà còn khẳng định tính thiết yếu phải thực hiện với một nước tiểu nông trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Tư tưởng này đã được khẳng định ngay trong những năm còn đang thi hành chính sách “Cộng sản thời chiến”: “Trong mỗi thời kỳ đặc biệt, cần phải biết tìm cho ra cái mắt xích đặc biệt mà người ta phải đem toàn lực ra nắm lấy
để giữ vững được toàn bộ cái xích và chuyển bị để chuyển vững chắc sang mắt xích kế bên; hơn nữa trình độ nối tiếp, hình thức, mối liên hệ của các mắt xích , và những đặc điểm khác nhau của mắt xích này với mắt xích khác trong cái xích những sự biến lịch sử, đều không đơn giản, và cũng không phải sơ sài
Sau hai năm thực hiện NEP, V.I Lênin nhận thức rõ được chế độ hợp tác xã là một mẫu hình kinh tế - xã hội trong một nền kinh tế nông nghiệp Trên cơ sở của mối quan hệ tiền – hàng và bằng cách kích thích lợi ích vật chất của nông dân, hợp tác xã tạo ra đòn bẩy kinh tế và thực hiện “quá độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu
viên và tổ chức quần chúng nhân dân lao động tham gia vào các hợp tác xã
“chúng ta tổ chức được toàn thể nông dân vào hợp tác xã thì chúng ta đứng
Trang 37Từ nhận thức và thực tiễn sử dụng hợp tác xã với tư cách là hình thức trung gian, biện pháp quá độ trong thời kỳ thực hiện NEP, V.I Lênin yêu cầu chính quyền Xô viết và giai cấp vô sản “phải hiểu những đường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết để chuyển từ những quan hệ tiền
định sự thay đổi quan điểm của V.I Lênin về khả năng không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ở nước tiểu nông để tiến thẳng, trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội Với các nước kém phát triển, sản xuất nhỏ chiếm ưu thế không thể quá đô trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua hoàn toàn chủ nghĩa tư bản, mà phải trải qua những bước trung gian “quá độ đặc biệt” và các nước kém phát triển càng phải qua nhiều nấc thang trung gian quá độ kiểu đó
1.3.3 Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng bộ máy
quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò quản lý của nhân dân
Trước khi bắt tay vào chỉ đạo thực hiện NEP, V.I Lênin đã có những
dự đoán về nguy cơ và hậu quả của chủ nghĩa quan liêu đe dọa đến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết Ông nhận thức rõ ngồn gốc của chủ nghĩa quan liêu là do sự lạc hậu kinh tế và văn hóa, ở bộ máy quan liêu của chế độ cũ còn xót lại,… những cái không thể một sớm một chiều có thể khắc phục được Thực tiễn cho thấy bệnh quan liêu, tầng lớp quan liêu vẫn còn tồn tại và có khả năng thích nghi với bối cảnh mới ngay cả khi chuyên chính vô sản đã được thiết lập Khi đã trở thành hệ thống, phổ biến trong cơ quan đảng và chính quyền thì nó sẽ làm tê liệt toàn bộ máy từ trung ương xuống cơ sở Vì vậy, khắc phục và loại trừ chủ nghĩa quan liêu dưới chế độ mới càng được đặt ra gay gắt V.I Lênin luôn chú trọng đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga trong lĩnh vực xây dựng kinh tế, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, phát huy tính năng động và sáng tạo của quần chúng nhân dân chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu
Trang 381.3.3.1 Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng
V.I Lênin khẳng định nếu như trước đây, Đảng Cộng sản Bônsêvích lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Mười thì trong giai đoạn hòa bình xây dựng kinh tế, Đảng Cộng sản Bônsêvích có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng duy trì, củng cố và xây dựng chính quyền bảo vệ thành quả cách mạng, đưa công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế đến thắng lợi hoàn toàn Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng trở thành nguyên tắc thực hiện chuyên chính vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa và công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế V.I Lênin đưa ra hệ thống luận đề nguyên tắc toàn diện về Đảng vô sản, đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng Đảng về chính trị - tư tưởng và tổ chức
Xây dựng Đảng về chính trị - tư tưởng, với quan niệm cho rằng,
Đảng chỉ thực sự mạnh nhờ sự giác ngộ của mỗi đảng viên, sự đóng góp của
họ trong việc chuẩn bị, soạn thảo và thực hiện các Nghị quyết Tại các kỳ họp Đại hội của Đảng Bônsêvích đầu những năm 1920, NEP do V.I Lênin đề xuất đã trở thành nội dung chủ yếu trong sinh hoạt Đảng Bônsêvích Nga Thông qua các kỳ tranh luận, thảo luận dân chủ, NEP được thông qua với sự nhất trí cao và ngày càng phát triển, hoàn thiện Nhằm loại trừ các chương trình hành động có thể tạo ra các phe phái, V.I Lênin yêu cầu Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga thông qua Nghị quyết “về sự thống nhất của Đảng”, nêu lên phương pháp và những điều kiện cụ thể để các tổ chức đảng thảo luận đường lối chính trị - tư tưởng của Đảng trong Đại hội lần thứ X
Đối với các tổ chức Đảng, V.I Lênin yêu cầu sinh hoạt thường xuyên, nội dung sinh hoạt mang tính tư tưởng và phải luôn nhìn nhận lại những hoạt động của mình với tinh thần tự phê bình, sẵn sàng sửa chữa khuyết điểm, chủ động đề xuất và đưa ra thảo luận tập thể những vấn đề cấp thiết Với các cơ quan lãnh đạo Đảng phải biết lắng nghe ý kiến quần chúng, đảng viên, không được coi thường bất kỳ sự phê bình nào Đó là phương pháp
Trang 39công tác đảm bảo sự thống nhất và tránh mọi hoạt động bè phái trong những năm thực hiện NEP
Trên cơ sở phân biệt rõ ràng dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ thực hiện lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân, V.I Lênin coi tiền đề chủ yếu đối với Đảng để lãnh đạo chính trị - tư tưởng trong công cuộc khôi phục
và phát triển kinh tế theo tinh thần NEP là liên hệ hàng ngày, toàn diện với quần chúng nhân dân lao động “những người lãnh đạo không được tách rời khỏi quần chúng bị lãnh đạo, đội tiên phong không được tách rời khỏi toàn bộ
Trong đội ngũ cán bộ đảng xuất hiện những biểu hiện của tình trạng quan liêu V.I Lênin thẳng thắn chỉ rõ nguy cơ đối với Đảng: “những người cộng sản đã trở thành những tên quan liêu Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong
nặng hơn gấp ba lần so với người ngoài Đảng đối với những đảng viên lợi dụng địa vị, lơi lỏng trách nhiệm và vi phạm pháp luật Ngay từ khi bắt đầu thực hiện NEP, V.I Lênin kiên quyết yêu cầu đuổi ra khỏi Đảng những kẻ vào Đảng mưu cầu địa vị, quyền lợi: “trừng trị một cách không thương xót, kể
cả việc đem bắn, và nhanh chóng những kẻ lạm dụng chính sách kinh tế mới”[63, tr 486]
Xây dựng Đảng về tổ chức, trong những năm thực hiện NEP, việc
ngăn chặn tệ quan liêu trong tổ chức và cơ sở Đảng là nhiệm vụ cấp thiết, V.I Lênin yêu cầu đặc biết chú ý tới tính chất công – nông trong Đảng Bônsêvích Nga Ông khẳng định đây là nhiệm vụ cấp bách và các tổ chức Đảng “cần phải đề ra một số biện pháp nhằm làm cho đảng có thể gạt bỏ ra khỏi đảng một cách dễ dàng hơn những đảng viên nào hoàn toàn không phải là những đảng viên cộng sản hoàn toàn tự giác thực hiện chính sách của giai cấp vô
Trang 40thức của Đảng Đó chính là những phẩm chất ưu tú của giai cấp công nhân kết hợp với phẩm chất ưu tú của trí thức Nga hội tụ ở người đảng viên cộng sản: chủ nghĩa tập thể, tính kiên định cách mạng, kỷ luật nghiêm minh và nhận thức sâu sắc, đạo đức trong sạch, học thức cao
Tuy nhiên, những nhà cách mạng chuyên nghiệp được đào tạo căn bản
về lý luận và có phẩm chất của người cộng sản vô sản có nguy cơ giảm sút, V.I Lênin yêu cầu Đảng Bônsêvích Nga bổ sung thêm vào những người lãnh đạo đất nước, lãnh đạo công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế từ lớp thanh niên tỏ ra xứng đáng trong thời kỳ bảo vệ thành quả cách mạng ở những năm nội chiến Ở thời điểm hiện tại, theo V.I Lênin tăng số ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng từ 27 ủy viên chính thức và 19 ủy viên dự khuyết lên 50 – 100 người Nhưng vấn đề không phải là tăng số lượng ủy viên Trung ương, mà là
ở chỗ “cần thiết để nâng cao uy tín của Ban chấp hành trung ương, để tiến hành công tác một cách nghiêm túc nhằm hoàn thiện bộ máy của chúng ta…
Bên cạnh đó, V.I Lênin suy nghĩ rất nhiều đến biện pháp cải tiến bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước V.I Lênin đã đề cập đến biện pháp “kết hợp”, “hợp nhất” cơ quan đảng với cơ quan chính quyền như kết hợp Ban kiểm tra Trung ương với Bộ dân ủy thanh tra công nông: “Sự kết hợp linh hoạt của yếu tố chính quyền với yêu tố đảng… là một nguồn sức mạnh phi
hợp này là điều đảm bảo duy nhất cho sự hoạt động có hiệu quả của Đảng và Nhà nước Điều làm ông trăn trở là sự xuất hiện của những phần tử quan liêu trong các cơ quan Xô viết và cơ quan đảng khi hợp nhất V.I Lênin nhấn mạnh phải phân định rõ vai trò, chức năng của Đảng và Nhà nước: Đảng lãnh đạo hoạt động của các Xô viết song không thay thế các Xô viết, Đảng và các