Vì vậy việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một trong những nhiệm vụ quan trọng để thực hiện mục tiêu: N - - Tổ ố ì ụ ê ô ằ Với vai trò là một kênh thông tin quan trọng, đáp
Trang 1BÁO ĐẢNG TÂY BẮC VỚI VẤN ĐỀ GIỮ GÌN,
QUẢNG BÁ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG
(Khảo sát báo Lai Châu, Sơn La và Lào Cai năm 2014 - 2015)
Ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Văn Dững
HÀ NỘI - 2016
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS, GVCC Nguyễn Văn Dững Tài liệu và số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực
và đáng tin cậy Kết quả không trùng lặp với những công trình được nghiên cứu trước đây
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Ngọc Hà
Trang 44
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tần suất xuất hiện bài viết về bản sắc văn hóa dân tộc Mông trong tổng số bài viết về văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tại địa phương
trên báo Đảng trong khu vực……… ………36
Bảng 2.2 Tần suất xuất hiện các tác phẩm về giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông ……… ……… 37
Bảng 2.3 Số lượng tác phẩm về bản sắc văn hóa dân tộc Mông ở cả mặt văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể……… 38
Bảng 2.4 Thống kê tác giả các bài viết……….……… …39
Bảng 2.5 Số lượng tác phẩm, thể loại trên Báo Lai Châu ……….… … 60
Bảng 2.6 Số lượng tác phẩm, thể loại trên Báo Lào Cai………60
Bảng 2.7 Số lượng tác phẩm, thể loại trên Báo Sơn La…….……… 60
Bảng 3.1 Để nâng cao chất lượng nội dung và hiệu quả tuyên truyền về bản sắc văn hóa dân tộc Mông trên báo Sơn La có cần tăng số lượng các bài viết không? 86
Bảng 3.2: Vấn đề tuyên truyền bản sắc văn hóa dân tộc Mông trên báo Lào Cai hiện nay như thế nào? 86
Bảng 3.3: Theo anh (chị), báo Lào Cai có cần có thêm ấn phẩm sử dụng chữ viết và tiếng dân tộc Mông không? 87
Bảng 3.4: Theo anh (chị) báo Sơn La có cần phải xây dựng các chuyên mục, chuyên trang định kỳ dành cho vấn đề giữ gìn, bản sắc văn hóa dân tộc Mông không ? 88
Bảng 3.5: Theo anh (chị) nội dung và hình thức giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông ở Báo Lai Châu hiện nay ra sao? 89
Bảng 3.6: Phóng viên có cần phải nâng cao kiến thức và tìm hiểu sâu về bản sắc văn hóa dân tộc Mông hay không? 91
Trang 55
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ BÁO ĐẢNG KHU VỰC TÂY BẮC GIỮ GÌN, QUẢNG BÁ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG 9
1.1 Các khái niệm cơ bản 9 1.2 Cơ sở chính trị - pháp lý về giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông 33
Chương 2: THỰC TRẠNG BÁO ĐẢNG KHU VỰC TÂY BẮC GIỮ GÌN, QUẢNG BÁ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG 30
2.1 Giới thiệu báo Đảng khu vực Tây Bắc và đơn vị khảo sát 30 2.2 Nội dung và phương thức giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông 49 2.3 Một số hạn chế trong giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông 64
Chương 3: VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO ĐẢNG KHU VỰC TÂY BẮC VỚI VIỆC GIỮ GÌN, QUẢNG BÁ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG 68
3.1 Vấn đề đặt ra với báo Đảng khu vực Tây Bắc trong giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông 68 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng báo Đảng khu vực Tây Bắc trong giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông 73
KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6là trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia, dân tộc đều có cơ hội
và điều kiện để phát triển, nhưng đồng thời c ng đứng trước không ít thách thức, đặc biệt là những thách thức trong việc giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống
Khu vực Tây Bắc bao gồm các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, H a Bình, Yên Bái, Lào Cai, ở phía Tây của miền Bắc nước ta Đây là vùng có vị trí chiến lược trong an ninh - quốc ph ng, được coi là “phên dậu” của Tổ quốc Tây Bắc còn là vùng đất có nền văn hóa cội nguồn đa dạng, độc đáo của gần 30 dân tộc anh em được kết tinh từ đời này sang đời khác Trong đó, người Mông có 2 triệu người, chiếm tới 60,12% tổng số người Mông cư trú ở toàn quốc Trong đó, ở Lai Châu có 871.679 người, Lào Cai 130.000 người, Sơn La 118.000 người, Yên Bái 7.000, Hòa Bình trên 2.300 người, Điện Biên
có trên 120.000 người Địa bàn cư trú của người Mông là các dãy núi cao, nơi
có những kiến tạo độc đáo của thiên nhiên qua hàng nghìn năm đã góp phần tạo cho dân tộc này một không gian văn hóa đa dạng, độc đáo, giàu bản sắc
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ
Trang 72
và đồng bộ hơn và phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ” Vì vậy việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một trong những nhiệm vụ quan trọng để thực hiện mục tiêu:
N
- -
Tổ ố ì ụ ê ô ằ
Với vai trò là một kênh thông tin quan trọng, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy
sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng
bộ, chính quyền các tỉnh khu vực Tây Bắc, hệ thống báo Đảng đã có những đóng góp tích cực trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân Qua đó, góp phần đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân các dân tộc, nhất là trong công tác giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông
Tuy nhiên, việc giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông trên hệ thống báo Đảng khu vực Tây Bắc thời gian qua có lúc, có nơi c n hạn chế như: Số lượng tác phẩm tuyên truyền chưa nhiều; nội dung thể hiện chưa phong phú, đa dạng; hình thức tuyên truyền chậm đổi mới, chưa thực sự hấp dẫn; đội ng phóng viên, biên tập viên có chuyên môn sâu chưa nhiều, nhất là sự am hiểu về văn hóa dân tộc Mông có mặt còn bất cập Trong khi
đó, hầu hết các tỉnh trong khu vực Tây Bắc còn nghèo Cùng với quá trình phát triển kinh tế, xã hội kéo theo sự giao thoa về văn hóa giữa các dân tộc, vùng miền, nhiều nét bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Mông có nguy cơ bị mai một, đồng hóa, từ nghi thức sinh hoạt, tập quán tín ngưỡng đến trang phục truyền thống Mặt khác, người Mông sống tách biệt trên những đỉnh núi, đỉnh đ o; đời sống xã hội có tính khu biệt, còn nhiều khó
Trang 83
khăn nên dễ hấp thu yếu tố văn hoá lạ Những năm gần đây, Đạo Tin Lành phát triển mạnh vào cộng đồng người Mông đã làm cho văn hóa truyền thống có phần bị “tổn hại” Người Mông theo Tin Lành đã từ bỏ hầu hết những sinh hoạt văn hóa truyền thống, kể cả việc thờ cúng ông bà, tổ tiên Vai tr của già làng, trưởng bản bị coi nhẹ Mặt khác còn tạo nên sự kỳ thị giữa người Mông với người các dân tộc khác trong vùng dẫn đến nguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội
Minh chứng rõ nhất là xã hội người Mông vùng Tây Bắc xáo động trước biến cố phong trào "Xưng vua đón chúa" và theo đạo Tin Lành Một
bộ phận không nhỏ người Mông bỏ văn hoá truyền thống, bỏ bàn thờ tổ tiên, nguy cơ mất bản sắc văn hoá dân tộc đang diễn ra
Chính vì vậy,“ ì ố
ụ ố ;
í ô í ỡ ” là một trong những nhiệm vụ quan trọng
mà nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) đề cập tới Với báo Đảng địa phương, việc giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông khu vực Tây Bắc làm cho người dân nhận thức, hiểu rõ giá trị và tự nguyện bảo vệ bản sắc văn hoá của dân tộc mình không chỉ có ý nghĩa đối với việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Mông mà còn khẳng định vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh
tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc Mông Đặc biệt là tạo cánh cửa vững chắc để người dân tự bảo vệ trước những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực Tây Bắc hiện nay
Vì lý do đó, tôi chọn đề tài Báo Đảng khu vực Tây Bắc với vấn đề
giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông với mong muốn góp thêm
tiếng nói giáo dục và vận động đồng bào Mông gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đoàn kết chung tay cùng 30 dân tộc anh em bảo vệ vững chắc dải đất biên cương của Tổ quốc
Trang 94
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa đã có nhiều công trình nghiên cứu và tìm hiểu, nhưng ở mỗi góc độ, mỗi nhà khoa học lại
có cách nhìn và tiếp cận vấn đề khác nhau
Nghiên cứu dưới góc độ b n s c có những tác phẩm tiêu biểu như: "S ĩ b n s c", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia, 1994 "Tìm v b n s t Nam", PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 "B n s t Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002 "Xây d ng và phát tri n n
Vi t Nam tiên ti ậ n s c dân t ” Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên)
"B n s ” Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2003 Công trình nghiên cứu của Phan Ngọc (2002): B n s t Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội; Trần Ngọc Thêm (1996): Tìm hi u v b n
s t Nam, Nxb thành phố Hồ Chí Minh; Trần Văn Bính (2004):
c Tây B c- Th c tr ng và nh ng v ặt ra,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Hoàng Vinh (1997): M t số v v b o tồn và phát tri n di s c, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Hoàng Nam (1998): B u tìm hi t Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; …
- Công trình nghiên cứu: “Dân t c Mông Vi N ” Cư Hoà Vần -
Hoàng Nam , 1994, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội “ c Mông
H ” Trường Lưu - Hùng Đình Quý, Sở văn hoá - Thông tin - Thể thao, Hà Giang, 1996 “ H' ô ” Trần Hữu Sơn, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội " i Mông Vi t Nam truy n thống và hi n i", Nxb Văn hóa thông tin và Viện văn học, Hà Nội, 2005 “Những đỉnh
núi du ca, một lối tìm về cá tính Mông”, Nguyễn Mạnh Tiến, Nxb Thế giới,
2014. “Dân ca M o”, Doãn Thanh, NXB Văn học, Hà Nội, 1967; “Âm nhạc dân tộc Mông”, Hồng Thao, Nxb Văn hóa dân tộc, 1997
Trang 105
- M t số luậ i h i h c có ê n tài:
Giàng Seo Pùa năm (1994): Nh u c ơ ì phát thanh ti Mô (Đ T ng nói Vi t Nam), Ti ng phát tri ” Luận văn tốt nghiệp đại học, Hà Nội
Đỗ Thanh Phúc (2005): “ V b o tồn b n s c thi u số trên sóng truy n hình c Đ P - Truy n hình tỉnh Hòa Bình”, Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng
Trịnh Liên Hà Quyên (2006): “ B i v b o tồn và phát huy di s n hi n nay”, Luận văn thạc sỹ truyền
thông đại chúng
Nông Văn Lưu (1994) Gi i quy t v dân t c qua vi c th c hi n t
í ỡng tôn giáo vùng dân t c Mông hi n nay, Luận án tiến sỹ
Phan Viết Phong (2003), V o Tin Lành trong dân t c Mông các tỉnh mi n núi phía B c ta hi n nay, Luận án tiến sĩ
Nguyễn Văn Dững (2000) trong bài Báo chí v i v phát tri hóa, giáo dục đã bước đầu hình thành khung lý thuyết, xây dựng nội hàm
khái niệm vai trò của báo chí trong phát triển văn hóa, giáo dục; nêu ra các cấp độ, các bình diện nội dung, phương thức
Các công trình trên đã tạo nên một cái nhìn tổng quan về văn hoá các dân tộc Nhiều công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân tộc Mông ở nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán c ng như cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Mông Một số đề tài, công trình c ng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhưng chưa có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề báo Đảng địa phương khu vực Tây Bắc - nơi đa
số dân số người Mông sinh sống với việc giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc này một cách có hệ thống Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu
Trang 11văn hóa tộc người này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Hệ thống hóa vấn đề lý luận, hình thành khung lý thuyết báo Đảng khu vực Tây Bắc giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông
- Trên cơ sở khung lý thuyết nêu trên, luận văn khảo sát thực tiễn báo Đảng địa phương khu vực Tây Bắc thực hiện vấn đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông
- Từ khảo sát thực tiễn, luận văn nêu ra một số vấn đề, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông trên hệ thống báo Đảng khu vực Tây Bắc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là báo Đảng khu vực Tây Bắc với vấn đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông
- Phạm vi nghiên cứu, khảo sát thực tế báo Lai Châu, Sơn La, Lào Cai
- Thời gian nghiên cứu khảo sát: Năm 2014, 2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; những
Trang 12- Lý thuyết, đặc điểm của văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc Mông trên hai phương diện văn hóa vật thể và phi vật thể
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được dùng để hệ thống hóa các vấn
đề lý luận, xây dựng khung lý thuyết làm cơ sở cho việc khảo sát thực tế;
- Phương pháp thống kê – phân loại được dùng để nghiên cứu tần suất, mức độ hiện các tác phẩm báo chí về các nội dung nghiên cứu;
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi anket để tìm hiểu thông tin định lượng đối với nhóm công chúng các báo thuộc diện khảo sát;
- Phương pháp phỏng vấn sâu, xin ý kiến các nhà quản lý và những người quan tâm vấn đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông khu vực Tây Bắc
6 Đóng góp của đề tài
Đây là công trình đầu tiên về báo Đảng địa phương khu vực Tây Bắc với vấn đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông, cho nên sẽ giúp lãnh đạo, quản lý cơ quan báo Đảng hiểu hơn về vai trò, vị trí, thực trạng của
hệ thống báo Đảng trong giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương Qua đó có những chính sách phù hợp nhằm lãnh đạo, quản lý hiệu quả hơn
Đề tài c ng có thể là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông
Trang 13Hệ thống giải pháp thiết thực của đề tài sẽ góp phần thực hiện tốt công tác tuyên truyền trên báo Đảng c ng như nâng cao nhận thức của cộng đồng
về giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương
Trang 149
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ BÁO ĐẢNG KHU VỰC TÂY BẮC GIỮ GÌN, QUẢNG BÁ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Báo Đảng và Báo Đảng khu vực Tây Bắc
1 1 1 1 B Đ
Theo Hiến pháp nước Cộng h a xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Báo chí thì Báo chí nước Cộng h a xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh C.B đã viết bài: “Cần phải xem báo Đảng” trên Báo Nhân dân số 197 ra ngày 24-6-1954 chỉ rõ:
“Đảng ta mạnh vì Đảng ta có tư tưởng nhất trí suốt từ trên xuống dưới Tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất”… “Tờ báo Đảng là như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp, nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác Hằng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta”
Qua đó có thể khẳng định, báo Đảng là một đơn vị cấu thành hệ thống báo chí cả nước, có vai tr chức năng chung với báo chí cả nước, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa
Báo Đảng là cơ quan ngôn luận của Đảng, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, chính quyền và là diễn đàn của nhân dân, là một trong những phương tiện quan trọng nhất để hướng dẫn dư luận và chỉ đạo công tác của Đảng, Nhà nước và chính quyền ở các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương
Báo Đảng có ưu thế là tác động trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, cổ v , động viên phong trào cách mạng
Trang 1510
của quần chúng, là cơ sở tạo nên yếu tố tinh thần, bản chất cách mạng cho cán
bộ, đảng viên và nhân dân
1 1 1 2 B Đ T B
Từ khái niệm báo Đảng, thì báo Đảng khu vực Tây Bắc là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ; tiếng noí của Đảng, chính quyền, nhân dân các dân tộc các tỉnh Tây Bắc
Báo Đảng khu vực Tây Bắc gồm có 6 đơn vị: Báo Lai Châu, báo Điện Biên, báo Hòa Bình, báo Yên Bái, báo Lào Cai và báo Sơn La
Với chức năng nhiệm vụ, những năm qua, Báo Đảng trong khu vực đã luôn bám sát nhiệm vụ chính trị; đảm bảo tôn chỉ mục đích của báo Đảng địa phương, tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, định hướng, hướng dẫn dư luận, biểu dương tập thể,
cá nhân điển hình tiên tiến trên các mặt của đời sống xã hội, phê phán các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu góp phần làm lành mạnh xã hội, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc…
1.1.2 Văn hóa và bản sắc văn hóa
1.1.2.1 : Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong
phú Mọi sự vật hiện tượng, mọi quá trình trên thế giới đều có mối liên hệ với con người, được con người tìm hiểu, nhận thức, tác động và ảnh hưởng trở lại con người đều có khía cạnh văn hóa của nó Để có hướng tiếp cận ở góc độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về văn hóa với đặc điểm một lĩnh vực mang tính bao trùm chúng ta cần tiếp thu ý kiến của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm bản chất văn hóa thể hiện trong mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội: "Bản chất của con người không phải là cái gì trìu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội" [27, tr.11] C.Mác gọi hoạt động sống của con người là những hoạt động thể hiện quan
Trang 16Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa thế giới đã đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái quát về văn hóa: Vì lẽ sinh tồn, c ng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đ i hỏi của sự sinh tồn [25, tr.231] Định nghĩa này đã xác định văn hóa là sự phát triển tất yếu, mang tính xã hội cao,
là phương thức sống, hoạt động và không ngừng được nâng cao theo đà phát triển của xã hội Sáng tạo và giá trị nhân văn là nội dung cốt lõi của văn hóa
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp (21/1/1987), Tổng thư ký UNESCO định nghĩa: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, c ng như đang diễn
Trang 1712
ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai tr điều tiết xã hội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác
Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam c ng đưa nhiều định nghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [14, tr.11] Định nghĩa này nhấn mạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các hệ thống giá trị các mẫu mực xử thế và các hệ thống hành vi
Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch
sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi là văn hóa
Từ cách tiếp cận trên, chúng ta có thể hiểu: c sáng
Trang 1813
Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, c ng như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quán riêng biệt được hình thành trong lịch sử của tộc người đó ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của nó Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã được tích l y lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình Chính quá trình đó đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ Cộng đồng sẽ bền vững khi nó trở thành dân tộc Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [9, tr.13] Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình, một nền văn hóa có tính dân tộc là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc Đúng như Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã khẳng định:
Ngày nay văn hoá được coi là một yếu tố nội sinh, không phải chỉ là kết quả mà còn là nguyên nhân của sự phát triển xã hội, phải đặt trên nền tảng văn hoá mang bản sắc dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị tinh hoa của loài người Văn hoá phải kết tinh thành trí tuệ của cả dân tộc, được thừa kế, phát triển qua nhiều thế hệ, tạo ra sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn của toàn dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [24, tr 54-55]
1.1.2.2 B n s
Dân tộc nào c ng có nền văn hóa truyền thống Đó là tổng hợp những hiện tượng văn hóa - xã hội bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu
Trang 1914
văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục tập quán, các lễ nghi, thiết chế xã hội được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong các hoạt động sống của con người và nó được in dấu mọi mặt của đời sống xã hội thuộc một dân tộc nhất định, của một cộng đồng riêng biệt, chúng ta gọi là “bản sắc dân tộc của văn hoá” hay “bản sắc văn hoá dân tộc”
Bản sắc theo nghĩa ban đầu “bản” là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi; còn
“sắc” là cái biểu hiện ra bên ngoài của sự vật Theo từ điển Tiếng Việt bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành phẩm cách đặc biệt của một vật [40]
Ở Việt Nam có nhiều định nghĩa như tính chất dân tộc, hình thức dân tộc, đặc điểm, cốt cách, bản lĩnh, sắc thái dân tộc Nhưng khái niệm "Bản sắc văn hóa dân tộc" phản ánh được nét cô đọng nhất, là sắc thái gốc, riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho dân tộc này không thể lẫn với dân tộc khác Nó là hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này qua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc dù biểu hiện có thay đổi nhưng giá trị bản sắc văn hoá vẫn duy trì
Bản sắc văn hoá dân tộc còn là gương mặt tinh thần, là tiêu chí để nhận biết được các giá trị phẩm chất của một dân tộc, vì văn hoá truyền thống là nền tảng, là pháo đài, điểm tựa cho sự giao lưu văn hoá quốc tế Có thể coi:
“Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào c ng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [39, tr.13]
“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [38, tr 37]
Nguồn gốc tạo thành bản sắc dân tộc có thể do nhiều yếu tố như: hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lý, phương thức hoạt động
Trang 2015
kinh tế Nhưng bản sắc văn hoá dân tộc, không thể xuất phát từ những yếu tố tạo thành dân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở Nó không chỉ là hình thức mà còn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc Việt Nam Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã chỉ rõ:
Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự bất biến, cố định hoặc khép kín mà
nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập những yếu tố mới để thích nghi với đ i hỏi của thời đại Truyền thống c ng không phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từ bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc Một dân tộc nếu như đánh mất bản sắc văn hoá, thì thực chất dân tộc ấy đã đánh mất chính mình Một nền văn hoá có tính dân tộc, là nền văn hoá mang đầy đủ bản sắc của dân tộc mình Chính vì vậy, việc kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với
sự tồn vong của mỗi dân tộc
1.1.3 Giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa
1.1.3.1 ì
Theo Từ điển Tiếng Việt là giữ cho được lâu hoặc để chống tai hại, thiệt th i Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là giữ gìn cốt cách dân tộc trong
quá trình phát triển của dân tộc
Theo nghĩa Hán - Việt cốt là xương, cách là tiêu chuẩn, phạm vi, quy định Nói tới cốt cách của con người là nói đến nét đặc sắc, đặc trưng về tính cách của một con người hoặc của một tầng lớp xã hội Chẳng hạn, người ta nói tới cốt cách nhà Nho, cốt cách nhà tri thức, cốt cách nhà văn Nói tới cốt cách của một dân tộc thì không chỉ nói tới những nét đặc sắc, đậm đà được
Trang 2116
biểu hiện qua tính cách mà c n thông qua đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Cốt cách dân tộc là cái tương đối ổn định, bền vững bởi nó được hình thành, tạo dựng và khẳng định trong lịch sử phát triển của dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc là biểu hiện sống động của cốt cách dân tộc đó
Một nền văn hóa giữ được cốt cách dân tộc sẽ là một nền văn hóa có đủ
"sức khỏe" để đề kháng, chống lại sự "ô nhiễm văn hóa" hay "xâm lăng văn hóa" một cách vô thức hay có chủ định Đây là một điều kiện cơ bản để "tiếp biến" văn hóa trước sự tác động nhiều chiều, phức tạp của khách quan được thực hiện một cách chủ động, tích cực Giữ được cốt cách dân tộc sẽ giúp dân tộc thích ứng được với những cái mới và "dân tộc hóa" cái mới để biến nó thành tài sản của dân tộc, mang hồn của dân tộc Lịch sử đã chứng minh sự tiếp biến kỳ diệu của nền văn hóa Việt Nam trong điều kiện bị ngoại xâm Đó
là sự tiếp biến giữ được cốt cách dân tộc, đồng thời phát triển được bản sắc dân tộc trước những thách thức của lịch sử Đây là "cốt cách dân tộc" cần được phát huy trong điều kiện hiện nay
1.1.3 2 Q
Quảng là rộng lớn, bá là làm bung ra, vung ra Quảng bá từ tiếng Hán
có nghĩa khuếch tán, làm lan rộng ra một việc gì đó hay ý tưởng nào đó
Như đã nói ở trên, văn hóa là con người, bản sắc văn hóa là cái cốt lõi nhất trong đời sống vật chất tinh thần của con người … Mỗi người mang trong mình bản sắc văn hóa của nơi sinh ra, lớn lên và trưởng thành, đó là tấm gương phản chiếu bản lai diện mục hay tính đồng nhất văn hóa của mỗi cá nhân Trong giao tiếp hàng ngày, mỗi người mang trong mình vốn văn hóa ấy, nét bản sắc ấy tiếp xúc với cộng đồng làm cho các nét văn hóa thuộc về bản sắc được bung ra, được lan tỏa
Vì thế, quảng bá bản sắc văn hóa trước hết là một hành động văn hóa,
là tấm bảng quảng cáo lớn nhất về một nền văn hóa mang những yếu tố khả dĩ
được thừa nhận vào trong gia sản văn minh nhân loại
Trang 22Là dân tộc có truyền thống văn hoá độc đáo, có bề dày lịch sử hàng nghìn năm trước đây và trên 300 năm sau khi Trung Quốc sang định cư ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Về tộc danh của dân tộc này có nhiều cách nhìn, cách lí giải khác nhau Những tài liệu từ thế kỷ thứ VII - trước Công nguyên trong biên niên sử
Trung Quốc đã xuất hiện từ "Tam miêu" để chỉ một quốc gia đó có một bộ lạc
hợp nhất lại Kinh thư của Khổng Tử có chép rằng: ở vùng Hồ Động Đình thiên niên kỷ thứ II - trước công nguyên đã có những bộ hợp nhất mang tên
"Tam miêu" Gọi là Tam miêu là căn cứ vào 3 màu sắc trang phục của người
Mông lúc đó (Hồng miêu, Bạch miêu, Thanh miêu)
Sách chiến quốc ghi "Nước Tam miêu xưa ở phía tả có Hồ Động Đình, phía hữu có Hồ Bành Lãi, phía Nam là núi Màn Sơn, phía Bắc là núi Hoành Sơn Vì chính trị không tốt nên Vua V đuổi"
Căn cứ vào cấu tạo chữ Miêu, trên là bộ thảo, dưới là chữ điền mà nhiều học giả suy đoán tên gọi này có thể do người Hán đặt để chỉ một dân tộc biết làm ruộng Khi phiên âm chữ Miêu ta phiên âm thành chữ Mieo, quen gọi là M o Khi du cư đến Việt Nam, tộc danh này ngẫu nhiên trùng với tên con mèo của người Việt Vì vậy, phần lớn người Mông không thích nên
đề nghị Chính phủ cho được gọi theo cách bà con tự gọi mình là người Mông Tại hội nghị cốt cán dân tộc Mông năm 1978 do Uỷ ban dân tộc của Chính phủ chủ trì đã thống nhất gọi là dân tộc Mông
Trang 2318
Các nhà khảo cổ học sau khi nghiên cứu hiện vật Nam Kinh - Động Đình
đã kết luận các bộ lạc Mông đã xuất hiện ở đây vào thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên Các nhà dân tộc học như: R.F.l (Nga) RMO SE (Anh), KHSEAN (Nga), TORIDDI (Nhật), DINH SDIAU (Trung Quốc) PGS Hoàng Nam; Nguyễn Đình Khoa đều thống nhất nhận định tỉnh Quý Châu (Trung Quốc) là cái nôi của người Mông Bản thân người Mông ở Đông Nam
á đều coi tỉnh Quý Châu là nơi chôn rau cắt rốn của tổ tiên mình
Nguyên nhân dẫn đến các cuộc thiên di lớn của người Mông xuống vùng Đông Nam á là bắt nguồn từ chính sách áp bức hà khắc của các triều đại phong kiến Trung Quốc Lịch sử Trung Quốc từ thời Nghiêu (2357 - 2258 TCN) và thời Thuấn (2255 - 2208 TCN) đã có chiến tranh giữa người Miêu
và người Hoa Sau các cuộc chiến tranh này đến nhà Hạ (2205 - 1706 TCN) người Mông chạy dạt xuống phía Nam Đến năm 1872 phong trào đấu tranh của người Mông bị thất bại, đại bộ phận người Mông phải di cư lánh nạn, đây
là đợt thiên di lớn nhất của người Mông vào Việt Nam, cách đây khoảng 100
-120 năm
1.1.4.2 B n s t i
Người Mông vùng Tây Bắc sống trên núi cao, cao nhất đến hơn 1.700m và thấp nhất không dưới 800m Núi gắn bó với mọi sinh hoạt, tập tục, tình cảm và tâm linh Trải qua nhiều đợt di cư nhưng họ vẫn mang trong mình những nét bản sắc văn hoá riêng, độc đáo
* V ật th
Một trong những biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc Mông ở Tây Bắc là kiến trúc ngôi nhà trình tường bằng đất, có 3 gian, 2 cửa Trong nhà bao giờ c ng có sàn gác để cất giữ đồ đạc, lương thực, thực phẩm, xung quanh xếp đá làm hàng rào che chắn Các ngôi nhà không được làm đính sát vào nhau kể cả anh em ruột Hiện nay do cơ chế thị trường tràn vào các thôn bản đã làm vắng bóng những ngôi nhà trình tường, thay vào đó là nhà được
Trang 2419
xây bằng gạch bi, lợp bằng tấm lợp ưu điểm của kiến trúc nhà mới này là chắc chắn, không tốn thời gian nhiều Tuy nhiên có điểm yếu là đã xoá mất dáng vẻ hoàn mỹ của nếp nhà truyền thống, mang bản sắc văn hoá tộc người Giờ đây, ngôi nhà trình tường hiện chỉ còn lại rải rác ở các bản người Mông, được làm từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước
Nếu như cách thức làm nhà của người Mông tương đối thống nhất, thì trang phục cổ truyền lại muôn hình, muôn vẻ, nhất là trang phục của nữ giới với chất liệu vải lanh, đường nét hoa văn tinh tế Trước đây đến bản người Mông sinh sống hay gặp hình ảnh người phụ nữ Mông ngồi dệt vải, thêu thùa,
se lanh lấy sợi thì giờ đây chỉ những người trung tuổi biết dệt vải, giới trẻ thì hầu như ngại làm, thậm chí không biết làm Hoặc nếu dệt vải thì sử dụng các loại sợi công nghiệp mua sẵn, vì thế trang phục của người Mông đã có sự thay đổi lớn Sự thay đổi này một mặt do chất lượng cuộc sống, do nền kinh
tế thị trường Do vậy, trang phục của người Mông chỉ còn lại ở vùng sâu, vùng xa; cán bộ, công chức người Mông, những bản Mông gần thị trấn, thị tứ, con em cán bộ người Mông thì chỉ trang phục dân tộc mình trong ngày lễ, hội Nguyên nhân là do sự lan tràn của đồ may mặc sẵn, bên cạnh đó thì tâm
lý của một số người trẻ cảm thấy mặc cảm vì là người dân tộc nên họ từ bỏ trang phục truyền thống Nhất là những bản Mông ở Tây Bắc gần các cửa khẩu, thuận lợi cho việc giao thương; trong khi trang phục của Trung Quốc bán tràn lan phù hợp với túi tiền của người dân dẫn đến sự thất thoát, mai một nét văn hóa truyền thống
Đồ dùng sinh hoạt của người Mông nhìn chung rất đơn giản, trong đó
chiếc “lù cở” và con dao quắm là những vật dụng độc đáo nhất Mặc dù bị
ảnh hưởng bởi kinh tế thị trường nhưng hiện nay người Mông vẫn lưu giữ được nét truyền thống của dân tộc mình Tuy nhiên, các dụng cụ khác như muôi, thìa, chậu làm bằng gỗ thì chỉ còn rải rác ở một số gia đình có người già, các gia đình trẻ hầu như không c n Những đồ dùng này do người dân tự
Trang 2520
làm bằng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên, thể hiện sự khéo léo, nhưng mất nhiều thời gian Vật dụng của ngành công nghiệp dễ dàng thay thế vì giá thành rẻ đã làm cho nét đặc trưng riêng của người Mông bị giảm đi rất nhiều
Ăn uống không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh tồn mà còn chứa đựng những tập tục, khẩu vị làm nên sắc thái độc đáo của mỗi dân tộc Nhờ sản xuất phát triển, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên cuộc sống của người Mông ngày càng cải thiện rõ rệt Nếu trước đây người Mông có món ăn chính là bột ngô xay, đồ lên thì giờ đã dùng gạo để ăn, chỉ còn số ít hộ gia đình vẫn ăn bột
ngô Một "đặc sản" không thể thiếu đó là món th ng cố, gồm cả thịt, xương,
lòng của ngựa, dê, trâu với các loại gia vị gừng, ớt, thảo quả ninh nhừ Giờ đây món này vẫn tồn tại ở các phiên chợ, dịp lễ tết của người Mông
Văn hóa vật thể chủ yếu thể hiện trong đời sống sinh hoạt, canh tác, chăn nuôi, làm nhà Về mặt sinh hoạt vật chất người Mông quan niệm đơn giản, không cầu kỳ, nhưng những giá trị văn hóa độc đáo, đặc trưng của một tộc người c ng là một trong những điểm mạnh cần phải được phát huy, nhất
là trong điều kiện hiện nay bởi những giá trị văn hoá ấy là những minh chứng cho bản sắc và bản lĩnh trường tồn của một dân tộc
Người Mông rất coi trọng mối quan hệ gia đình Gia đình người Mông mang tính phụ quyền cao.Trong gia đình thường có nhiều thế hệ cùng sinh
Trang 2621
sống (gồm 2 vợ chồng, con cái và bố mẹ chồng; vợ chồng con cái, bố mẹ, ông
bà, cháu chắt) Tuy nhiên hiện nay, phổ biến nhất hiện nay là kiểu gia đình gồm 2 thế hệ cùng chung sống với nhau (gồm bố mẹ và con cái) Các quan hệ trong gia đình c ng đã có sự thay đổi và bắt đầu có sự đan xen về quan hệ lợi ích, do sự tác động của kinh tế thị trường
* V phi vật th
Người Mông có một nền văn hóa - tâm linh khá giàu có Sự giàu có này không chỉ toát ra ở tập quán sinh hoạt, canh tác, chăn nuôi, trang trí nhà cửa, trang phục, mà còn trong tập quán, lễ nghi, lễ hội, hôn nhân, tang ma, giao tiếp, ứng xử, sinh hoạt gia đình, d ng họ, làng bản Có thể coi những gì mà người Mông có, về mặt văn hóa dân gian là một rừng tài nguyên đã được khai thác ít nhiều, song vẫn còn khá nguyên sinh Do vậy báo chí cần tích cực vào cuộc để quảng bá cái nguyên sinh đó và nâng nó lên một tầm cao mới cho phù hợp với xu thế hiện nay
Người Mông sống mộc mạc, chân chất và đánh giá cao tình cảm cộng đồng Có nhiều lý do khiến cho tình cảm cộng đồng ngày càng sâu nặng, trong đó có sự cần thiết phải gắn bó với nhau trong lúc hoạn nạn, khi thiên di suốt chiều dài lịch sử tộc người Nguyên nhân nữa là sự kết hợp giữa tính tự tôn, niềm tự hào về một quá khứ huy hoàng với mặc cảm tự ti, bị kém cỏi so với các tộc người khác đã khiến họ ngày càng khép kín, ít giao lưu văn hóa Điều này có ưu điểm là bảo lưu được trọn vẹn bản sắc văn hóa của tộc mình xong c ng không học tập được những cái tinh túy của tộc người khác
Người Mông ở Tây Bắc có một cuộc sống văn hóa tinh thần phong phú, có hệ thống lễ nghi, tín ngưỡng đa dạng và chặt chẽ liên quan đến cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng dòng họ Tết nguyên đán là một lễ hội lớn, ngày tết không chỉ để nghỉ ngơi, ăn uống mà còn là dịp cho gia đình gặp gỡ, những người đi xa trở về, con cháu làm lễ cúng tổ tiên, chào mừng ngày âm dương h a hợp với mong muốn mọi sự bình an, tốt đẹp C ng trong ngày tết, người Mông
tổ chức hội vui ném pao, đu quay, chơi quay, hội hát giao duyên
Trang 27vợ khác, chồng khác đều gặp gỡ, tâm tình Tan chợ, dù quyến luyến thì lại ai
về phận sự của người đó và đợi ngày này năm sau Đây là một hình thức sinh hoạt độc đáo và đầy tính nhân văn Ngoài ra, “chợ tình” thực sự trở thành tụ điểm sinh hoạt văn hóa với múa kh n, múa ô, đua ngựa; tiếng kh n, đàn môi, tiếng hát hòa quyện với những gam sắc rực rỡ của trang phục, của núi rừng, tạo thành bức tranh tràn đầy sức sống
Hôn nhân của người Mông theo chế độ một vợ một chồng Hôn nhân được tiến hành ba giai đoạn chính: 1) Dạm ngõ; 2) Lễ ăn hỏi; 3) Lễ cưới Một đặc điểm đặc sắc trong tình yêu - hôn nhân của người Mông là tục “kéo vợ” Tục này diễn ra khi con gái đã đến tuổi trưởng thành và tự do tìm hiểu bạn đời, nhưng không được sự đồng ý của hai bên gia đình, hình thức “kéo vợ” để chống lại quyền áp đặt của cha mẹ và dòng họ về hôn nhân Tục này, ở một mức độ nào đó phản ánh tự do trong hôn nhân Ngày nay, tục “kéo vợ” đã chuyển sang một hướng tích cực hơn, các cuộc “kéo vợ” là do thoả thuận trước của các chàng trai, cô gái để khẳng định cho tình yêu mãnh liệt, khát vọng gia đình hạnh phúc của trai gái Mông
Người Mông quan niệm rằng tang ma không phải là một cái gì quá đau đớn mà là nơi mọi người có thể gặp gỡ nhau, ăn uống, giao tiếp, thăm hỏi gia đình người đã khuất và thăm hỏi lẫn nhau bởi quan niệm chết mới thực sự là được sống một kiếp khác
Người Mông có kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian với các nhạc cụ, các làn điệu dân ca, dân v , truyện kể, thần thoại, truyền thuyết Các nhạc cụ (khèn, sáo, đàn môi, kh n lá ) chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống hàng ngày, nhất là vào những dịp hội hè, hiếu, hỷ
Trang 2823
Ở các tỉnh Tây Bắc, các loại nhạc cụ, các điệu dân ca, dân v Mông được chú ý bảo tồn và phát triển Hàng năm, các tỉnh đều tổ chức ngày hội văn hoá thể thao dân tộc Mông, góp phần phát huy bản sắc văn hoá Thông qua các lễ hội, bản sắc văn hoá tộc người c ng được khôi phục Một sự biến đổi trong lễ hội của người Mông hiện nay là phần nghi lễ ngày càng được đơn giản hoá, không còn cúng tế kéo dài gây tốn kém và ảnh hưởng đến sản xuất như trước đây; phần hội có xu hướng tăng lên và đóng vai tr chủ đạo, tạo bước chuyển lớn trong đời sống tinh thần Bên cạnh đó c ng phải kể đến ảnh hưởng của một số yếu tố văn hoá ngoại lai không phù hợp với truyền thống văn hoá của dân tộc đang thẩm thấu vào văn hoá dân tộc Mông Điều này gây cản trở đến việc giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hoá của tộc người
1.2 CƠ SỞ CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ VẤN ĐỀ GIỮ GÌN, QUẢNG BÁ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG
1.2.1 Quan điểm của Đảng về giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông
Từ nhận thức tầm quan trọng và vị trí vai trò của văn hóa truyền thống của dân tộc ta với tinh hoa văn hóa nhân loại, quá trình lãnh đạo cách mạng trong kháng chiến c ng như xây dựng đất nước, Bác Hồ, Đảng và nhà nước
ta luôn coi trọng và phát huy cao độ vai trò của văn hóa Ngay từ năm 1943, Tổng Bí thư Trường Chinh đã viết đề cương văn hóa, với phương châm “ dân tộc - khoa học - đại chúng”
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là mục tiêu cơ bản được đại hội VII của Đảng đề ra từ năm 1991 Mục tiêu này tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh tại đại hội VIII năm 1996 như một trong những quan điểm chỉ đạo cơ bản của sự nghiệp xây dựng văn hóa của đất nước trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội Đó là, coi trọng và bảo tồn phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới
về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Bảo tồn và phát
Trang 2924
triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ các dân tộc thiểu số học tập, sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Phát hiện bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học nghệ thuật là người dân tộc thiểu số
Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) đã chỉ rõ phương hướng chung của
sự nghiệp văn hóa nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau:
M t là, phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân
tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Hai là, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã
hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người
Ba là, phương hướng chung chỉ rõ mục đích của xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp; trình độ dân trí cao, khoa học phát triển Phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
Hiện nay để thực hiện tốt nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) cần quan tâm thực hiện đồng bộ các giải pháp về vấn đề văn hóa các tộc người, nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hóa, cho cán bộ và nhân dân các dân tộc thiểu số, xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp, phát triển văn hóa tộc người trong mối quan hệ kết hợp truyền thống và hiện đại, đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ văn hóa là người dân tộc thiểu số; đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, chống “Diễn biến h a bình’’ dưới nhiều hình thức trong đó có hình thức
“giao lưu” văn hóa, đồng hóa văn hóa
Trang 3025
1.2.2 Cơ sở pháp lý vấn đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông
Hiến pháp năm 1992 có 5 điều nói về văn hóa, xác định một lần nữa
nguyên tắc phát triển của nền văn hóa Việt Nam “ c - hi i - nhân ” nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng
Từ chương III Hiến pháp năm 1992 (Điều 30 – đến Điều 34), Hiến pháp năm 2013 đã tổng hợp thành Điều 60 gồm 3 khoản quy định tổng quát
về chế định văn hóa Trong đó tiếp tục nhấn mạnh vai tr của Nhà nước và xã hội trong việc chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại (khoản 1) Bên cạnh đó, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần và tiếp cận thông tin của người dân, Nhà nước và xã hội không ngừng chăm lo, phát triển văn học, nghệ thuật và các phương tiện thông tin đại chúng (khoản 2)
Nhận thức được vai tr to lớn của gia đình là cái nôi hình thành nếp sống văn hóa, Hiến pháp mới đã bổ sung một khoản quy định về việc Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu l ng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân (khoản 3)
Nghị định số 39/1998/CP-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “đẩy mạnh công tác văn hóa thông tin ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi” và Quyết định số 124/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở miền núi”
Ngày 29/6/2001, Quốc hội khóa X đã ban hành Luật Di sản văn hóa Theo
đó, di sản văn hóa Việt Nam chính là tài sản quý giá của cộng đồng 54 dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam từ hàng nghìn năm, là cốt lõi của bản sắc dân
tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Di sản văn hóa tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể Luật quy định: Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất, bao gồm những di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di
Trang 3126
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân ca, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về
trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Ngày 6/5/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1270/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu
số (DTTS) Việt Nam đến năm 2020" Trong đó nhấn mạnh, bảo tồn khẩn cấp văn hoá các dân tộc thiểu số rất ít người (dân số dưới 10.000 người), dân tộc thiểu số tại các khu vực tái định cư dự án thuỷ điện liên thông, kết nối toàn diện với các chương trình, dự án có liên quan; Xây dựng đời sống văn hoá và môi trường văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số Gắn kết chặt chẽ những hoạt động xây dựng đời sống văn hoá với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội phù hợp với từng khu vực, từng vùng, từng dân tộc, tôn giáo; Chủ thể văn hóa, cộng đồng kế thừa và thực hành văn hóa có một vai tr to lớn và là nhân
tố quyết định trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; Coi trọng và tổ chức thực hiện các chương trình về bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học, nghệ thuật, đặc biệt là hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số; Ưu tiên đầu tư cho việc giữ gìn và phát huy các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc thiểu số
1.3 VAI TRÕ CỦA BÁO ĐẢNG TÂY BẮC TRONG GIỮ GÌN, QUẢNG BÁ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG
1.3.1 Báo Đảng Tây Bắc tích cực tuyên truyền chủ trương, của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Mông nói riêng
Tại hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã quyết định về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Nghị quyết đề cập đến văn hóa tương
Trang 3227
ứng vai tr đặc biệt của nó đối với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Từ chức năng, vị thế chính trị của mình, các báo Đảng trong khu vực đã có những đóng góp quan trọng, làm cho các tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng, chiến lược của Nghị quyết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đặc biệt, các báo Đảng trong khu vực đã làm tốt công tác tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; Tích cực giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông thông qua việc phát hiện, biểu dương những tấm gương biết gạt
bỏ những hủ tục lạc hậu, phát huy bản sắc văn hóa; ủng hộ việc sưu tầm, phục dựng các lễ, hội, tr chơi dân gian c ng như thường xuyên cập nhật những nét văn hoá truyền thống của dân tộc Mông
1.3.2 Báo Đảng Tây Bắc tham gia phản ánh các hoạt động văn hóa Mông
Khu vực Tây Bắc có nền văn hóa đa dạng của 30 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có sắc thái riêng đã bổ sung cho nhau làm phong phú thêm cho nền văn hóa nước ta là nền văn hóa đa dạng mà thống nhất trong cộng đồng các dân tộc Báo chí chính là phương tiện để phản ánh và đăng tải các hoạt động văn hóa
Các hoạt động văn hóa dân tộc Mông rất phong phú như: phong tục tập quán, lễ hội, lễ nghi truyền thống như cưới hỏi, ma chay… diễn ra thường xuyên, liên tục Khi có những sự kiện văn hóa diễn ra, các báo đã thông tin nhanh, chính xác ngay khi sự kiện đó mới bắt đầu dự kiến Đồng thời có riêng chuyên mục, mục để phản ánh một cách khoa học cho độc giả dễ theo dõi
c ng như tiếp nhận
Bên cạnh việc phản ánh các mặt tích cực của các hoạt động văn hóa, các báo Đảng trong khu vực c ng vạch ra những thiếu sót, hạn chế, phê phán những hành vi thiếu văn hóa Thông qua đó giúp người dân hành động có suy nghĩ hơn, biết bảo vệ nền văn hóa của dân tộc mình không bị mai một theo thời gian
Trang 3328
1.3.3 Báo Đảng Tây Bắc là diễn đàn giao lưu văn hóa
Thông qua tuyên truyền, báo Đảng trong khu vực đã quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông với các dân tộc, địa phương khác Theo đó, các báo làm chiếc cầu nối giữa nét đẹp trong bản sắc văn hóa của dân tộc Mông với dân tộc khác, giảm dần khoảng cách, đi đến xóa bỏ khoảng cách, làm cho văn hóa các dân tộc ngày càng có điều kiện giao lưu với nhau
Từ việc giao lưu, dân tộc Mông ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc mình và tiếp thu được những nét đẹp, những nhân tố tích cực và phê phán loại
bỏ những gì đi ngược với thuần phong mỹ tục của dân tộc
Cùng với đó, thông qua hệ thống báo Đảng, bản sắc văn hóa dân tộc Mông c ng được quảng bá rộng rãi với bạn bè quốc tế
1.3.4 Báo Đảng Tây Bắc góp phần lưu giữ, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông
Xác định được tầm quan trọng của văn hóa trong đời sống và giữ vai trò tích cực trong việc giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc tại địa phương, những năm qua, các báo Đảng trong khu vực luôn nỗ lực tìm ra những vấn đề mới qua từng góc cạnh của văn hóa dân tộc Mông, những nét đẹp của văn hóa dân tộc Mông đem đến cho bạn đọc bằng các tác phẩm tin, bài, ảnh Thông qua đó xã hội hóa công tác giữ gìn, bảo tồn những nét bản sắc trong văn hóa dân tộc Mông
Nhất là trong điều kiện hiện nay, cùng với giao lưu và phát triển đã xuất hiện xu hướng đồng hóa tự nhiên về văn hóa dân tộc Mông với các dân tộc khác
Từ nghi thức, ăn, mặc, ở, tập quán, tiếng nói bị pha trộn, âm nhạc, những bộ trang phục không còn hấp dẫn với thế hệ trẻ Vì thế hơn lúc nào hết, báo Đảng trong khu vực lại khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của mình, là một bộ phận không thể thiếu trong việc giúp dân tộc Mông, nhất là lớp trẻ hiểu được giá trị văn hoá của dân tộc mình, góp phần giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông
Trang 3429
Tiểu kết chương 1
Luận văn đã làm rõ được bản sắc văn hóa dân tộc Mông là tổng thể những giá trị vật chất, tinh thần cốt lõi nhất, tinh túy nhất, lắng đọng qua suốt chiều dài lịch sử, giúp cho dân tộc này tồn tại và phát triển, là những tiêu chí
để phân biệt dân tộc Mông với các dân tộc khác
Bản sắc văn hóa dân tộc Mông được biểu hiện toàn diện, sâu sắc trên tất
cả các lĩnh vực, như những lớp trầm tích được kết tinh qua quá trình lịch sử, ở lĩnh vực nào c ng lộ ra bản sắc văn hóa tộc người như: kiến trúc nhà ở; dụng
cụ sinh hoạt vật chất, tinh thần; y phục và nếp sống văn hóa gia đình, xã hội Hay từ quan niệm v trụ được con người sáng tạo ra, đề cao vai trò con người; quan tâm chăm lo đời sống tinh thần, tâm linh, giải tỏa, cân bằng tâm
lý trong suốt chu kỳ đời người, đến kiểu cách tư duy của người Mông, tín ngưỡng tôn giáo, đề cao sức mạnh và sự cố kết cộng đồng; những kinh nghiệm trong sản xuất, quản lý xã hội Đó là những bộ phận hữu cơ tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Mông đóng góp vào sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu, tính đến thời điểm này so với các dân tộc khác, người Mông ít bị đánh mất bản sắc nhất trong các dân tộc thiểu số Việt Nam Nhất là trong quan niệm về v trụ, phong tục tập quán, lễ hội, ngôn ngữ, trang phục, nhà ở Những giá trị văn hoá này đã góp phần đưa người Mông vượt khỏi những cam go của lịch sử, bảo vệ sự sinh tồn của tộc người Tuy nhiên, trước quá trình toàn cầu hóa và điều kiện kinh tế thị trường, vấn
đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Mông càng trở nên cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa văn hóa, mà c n về phương diện an ninh, quốc phòng
Trang 3530
Chương 2 THỰC TRẠNG BÁO ĐẢNG KHU VỰC TÂY BẮC
GIỮ GÌN, QUẢNG BÁ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG
2.1 GIỚI THIỆU CÁC BÁO THUỘC DIỆN KHẢO SÁT
2.1.1 Đặc điểm công chúng Báo Đảng khu vực Tây Bắc
Các dân tộc ở Tây Bắc cư trú xen kẽ nhau và phân tán ở nhiều vùng trong mỗi tỉnh Tình trạng cư trú xen kẽ này tạo điều kiện để các tộc người xích lại gần nhau, đẩy mạnh giao lưu trên các lĩnh vực, mặt khác c ng gây những khó khăn trong quản lý xã hội bởi sự khác nhau về phong tục, tập quán, lối sống .Mặt khác, tạo nên sự đa dạng trong bức tranh phân bố tộc người và cả những khó khăn phức tạp cần giải quyết trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhất là trong quản lý xã hội
Các dân tộc ở Tây Bắc có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời Truyền thống này đã được phát huy cao độ trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đang được phát huy cao độ trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, hiện nay giữa các dân tộc còn có sự chênh lệch lớn trên nhiều phương diện Về trình độ văn hóa, dân trí nói chung c n thấp, có sự chênh lệch lớn giữa các vùng trong một tỉnh, nhất là đồng bào vùng sâu, xa, vùng biên giới Bên cạnh những yếu tố tích cực trong phong tục tập quán, tâm
lý, lối sống thì vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố tiêu cực, lạc hậu với mức độ khác nhau ở các tộc người
Nhân dân các dân tộc khu vực Tây Bắc chất có l ng yêu quê hương nồng nàn, lối sống cởi mở, chân thành, giản dị; có tâm lý sùng bái các nhân vật thần thánh, những người có công với cộng đồng, có tập tục thờ cúng gia tiên, có tư tưởng phong phú dệt lên những truyền thuyết đầy màu sắc huyền
Trang 3631
thoại và sinh động Song mỗi dân tộc có ngôn ngữ, chữ viết riêng nên việc giao lưu học hỏi khó khăn, nhất là các dân tộc chủ yếu sống ở vùng sâu, vùng
xa, vùng còn nhiều khó khăn như dân tộc Mông
Đặc điểm quan trọng nữ là người dân thích hoạt động thực tiễn hơn tư duy dẫn đến khả năng tiếp nhận thông tin khoa học kỹ thuật, thông tin báo chí còn nhiều khó khăn Thậm chí, bản tính bảo thủ, cố hữu, cục bộ dân tộc địa phương, lòng tự tôn dân tộc thái quá đã khiến cho việc tiếp thu cái mới, tiến
bộ diễn ra rất chậm, nhiều thói quen lạc hậu không dễ thay đổi Tâm lý học hành không có chủ định vẫn tồn tại trong cộng đồng dân cư
Từ những việc làm cụ thể, báo Đảng trong khu vực đã đẩy mạnh thông tin về cơ sở để các dân tộc khu vực Tây Bắc nói chung và dân tộc Mông nói riêng được tiếp nhận thông tin đa dạng hơn Song thực tế trình độ nhận thức, tâm lý vẫn hạn chế, vì vậy, nhu cầu của đồng bào hiện nay đ i hỏi nhiều, sâu
về thông tin, c ng là đ i hỏi về phương pháp tuyên truyền đối với cơ quan
báo chí như chủ trương của Đảng ta đã chỉ rõ: Các dân tộc “Cù n” trên nguyên tắc: “Bì ẳ ơ ợ”
2.1.2 Giới thiệu các báo khảo sát
2.1.2.1 Báo Lai Châu
* Quá trình xây d ng và phát tri n
Báo Lai Châu tiền thân là tờ “Tin Lai Châu” Cơ quan Báo Lai Châu thành lập ngày 16/4/1964 Đến ngày 01/5/1994, tờ báo Lai Châu đổi tên thành
tờ báo Điện Biên Phủ Ngày 01/01/2004 tỉnh Lai Châu chia tách thành 2 tỉnh Lai Châu và Điện Biên, theo đó cơ quan Báo Lai Châu c ng được chia tách
và tái thành lập
Từ 1/1/2004, Báo Lai Châu tổ chức xuất bản và phát hành 2 ấn phẩm: báo Lai Châu thường kỳ và báo Lai Châu dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao Số báo ra đầu tiên được xuất bản và phát hành ngày 1/1/2004, đúng vào ngày Đảng bộ, chính quyền lâm thời tỉnh Lai Châu ra mắt, đi vào hoạt
Trang 3732
động, kịp thời truyền tải thông tin về chia tách và thành lập tỉnh; bộ máy của Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tỉnh; dự báo những tiềm năng và thế mạnh phát triển của tỉnh nhà
Báo Lai Châu c ng tăng kỳ xuất bản các ấn phẩm báo in theo từng giai đoạn Báo Lai Châu thường kỳ từ 1 kỳ/tuần lên 5 ngày/kỳ những ngày đầu, sau đó 2 kỳ/tuần,đến nay 4 kỳ/tuần; Báo Lai Châu dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao từ 1 kỳ/tháng lên 3 kỳ/tháng Báo Lai Châu điện tử hòa mạng internet từ ngày 1/01/2011, ngoài chuyển tải thông tin chính xác, kịp thời đến bạn đọc còn giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất và người; tiềm năng, lợi thế, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa Lai Châu với các địa phương khác
* Cơ u tổ ch c
Với 6 cán bộ được điều động từ Báo Điện Biên Phủ sau khi chia tách
và thành lập, Tòa soạn vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị, vừa từng bước tổ chức củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy Đến nay, Báo Lai Châu có Ban Biên tập với 3 đồng chí và 4 phòng chức năng : Phòng Hành chính trị sự ; Phòng Phóng viên, Phòng Biên tập và Ph ng Báo điện tử
Tổng số 33 cán bộ, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên và nhân viên, trong đó, trên 85% cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, gần 60% cán bộ
có trình độ đại học Hiện nay Báo tiếp tục cử cán bộ đi đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành Báo chí để theo kế hoạch đến năm 2017 sẽ đạt trên 80% cán bộ có trình độ đại học, trên đại học Báo chí
Báo Lai Châu đã xây dựng được đội ng hơn 200 cộng tác viên ở các
cơ quan, đơn vị, địa phương Hàng năm tổ chức tập huấn về nghiệp vụ báo chí, hướng dẫn tổ chức hoạt động, nhờ đó tin, bài cộng tác với Báo Lai Châu ngày một nâng lên cả về chất lượng và số lượng
* Công tác in n, xu t b n, phát hành
Từ năm 2004 – 2013, do điều kiện chưa có nhà máy in, Báo Lai Châu sau khi duyệt phải in tại tỉnh Điện Biên Từ tháng 9/2014 đến nay, báo in tại Nhà máy in tỉnh Lai Châu
Trang 3833
Để công tác in ấn, phát hành thuận lợi và chất lượng, Báo Lai Châu đã phối hợp chặt chẽ với Nhà máy in Lai Châu, Bưu điện tỉnh Đến nay Báo Lai Châu thường kỳ, Báo Lai Châu cuối tuần phát hành gần 2500 tờ/kỳ, báo Lai Châu dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao phát hành 3600 tờ/kỳ
2 1 2 2 B Sơ L
* Quá trình xây d ng và phát tri n
Ngày 3.1.1964, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La đã ra quyết định chuyển tờ Tin thành tờ báo Đảng với tên gọi “Sơn La đổi mới” Ngày 3/2/1964 báo Sơn La đổi mới xuất bản số đầu tiên Tên gọi “Sơn La đổi mới”
có từ năm 1964 đến năm 1976 đây là thời kỳ tờ báo gắn liền với cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Thời kỳ này, Tòa soạn sơ tán cách thành phố 10 km, cơ quan có 6 người, chưa ai được đào tạo cơ bản về nghiệp
vụ báo chí, phóng viên vừa bám sát trận địa chụp ảnh, viết tin bài nêu các gương sáng, thông báo kịp thời tin thắng trận cho mỗi số báo, vừa kiêm biên tập, sửa mo rát tại nhà in Cùng với tờ “Sơn La đổi mới” có thêm một tờ được dịch và viết bằng chữa Thái cổ in theo phương pháp Paraphin trên bàn đá, phát hành tuần 1 kỳ, 400-600 tờ/kỳ, đây là nguồn động viên kịp thời phong trào thi đua sản xuất, chiến đấu của bộ đội, nhân dân các dân tộc
Năm 1975, Tòa soạn chuyển từ nơi sơ tán về thành phố, “Sơn La đổi mới” đổi tên thành Báo Sơn La
* Cơ u tổ ch c
Trụ sở chính của báo Sơn La tại 190-192 đường Tô Hiệu, thành phố Sơn La Ban Biên tập gồm có Tổng Biên tập và 3 phó Tổng biên tập Hiện nay 28/29 cán bộ phóng viên, biên tập viên của tòa soạn có trình độ đại học; 1 cán bộ có trình độ cao đẳng đang theo học đại học; 22 cán bộ có trình độ Cao cấp, Trung cấp lý luận chính trị Hàng năm Báo Sơn La có hàng trăm cộng tác viên, trong đó 30% là cộng tác thường xuyên với Báo
Trang 3934
* Công tác in n, xu t b n, phát hành
Cùng với báo thường kỳ, năm 1998, xuất bản thêm tờ Tin ảnh Sơn La, tháng 1 số với 2.500 tờ/kỳ Năm 2000, báo tăng 8 trang/kỳ Nâng kỳ phát hành tờ Tin ảnh Sơn La 1 tháng lên 2 số Năm 2003, báo tăng 3 kỳ/tuần, với 4/8 trang, in 2 màu Đến nay 8/8 trang in 2 màu Năm 2006, báo Điện tử Sơn
La chính thức hòa mạng Internet
Từ tháng 1.2003, Báo Sơn La phát hành 3 kỳ/tuần với số lượng 5.000 tờ/kỳ, tờ Tin ảnh phát hành 2 số/tháng, 3.200 tờ/kỳ Từ năm 2010 phát hành 4 kỳ/tuần, với 4.700 tờ/kỳ; Tin ảnh 2 số/tháng với 3.648 tờ/kỳ Từ năm 2015 đến nay, Báo Sơn La phát hành 5 kỳ/tuần, phát hành gần 9.000 bản, tờ Tin ảnh 2 kỳ/tháng, phát hành 3.648 tờ/kỳ
2.1.2.3 Báo Lào Cai
* Quá trình xây d ng và phát tri n
Tờ Tin Lào Cai – tiền thân của Báo Lào Cai được xuất bản và phát hành từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, xuất bản 10 - 15 ngày một
kỳ, hoạt động liên tục cho tới số 515, ra ngày 5/3/1963 Từ ngày 10/4/1963 tờ Tin Lào Cai được đổi tên thành tờ báo Lào Cai đổi mới
Ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang tạm thời bị chia cắt: Miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội, là hậu phương lớn chi viện cho đồng bào miền Nam anh d ng đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, giành thống nhất Tổ quốc, Báo Lào Cai đổi mới tập trung tuyên truyền đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao cảnh giác cách mạng, thi đua lao động sản xuất, góp sức người, sức của cho đồng bào miền Nam Góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, được Hồ Chủ tịch khen thưởng bằng hình thức gửi tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các gương người tốt, việc tốt tiêu biểu của tỉnh đã được Báo Lào Cai đổi mới biểu dương
Năm 1976, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá IV; ba tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ hợp nhất thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Ba tờ báo của
Trang 4035
ba Đảng bộ hợp nhất thành Báo Hoàng Liên Sơn với hơn 40 cán bộ, phóng viên, biên tập viên, nhân viên Ngày 5/6/1976, Báo Hoàng Liên Sơn số 1 ra mắt bạn đọc Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá VIII, ngày 1/10/1991, tỉnh Lào Cai được quyết định tái lập Ngày 1/11/1991, nhân kỷ niệm 41 năm Ngày giải phóng Lào Cai, Báo Lào Cai số 1 đã ra đời
Tháng 5/1994, Báo Lào Cai ra ấn phẩm báo ảnh dành cho đồng bào các dân tộc vùng cao; ngày 21/6/2005, báo Lào Cai cuối tuần số 1 ra mắt bạn đọc; ngày 1/12/2007, Báo Lào Cai điện tử được cấp phép đưa lên mạng internet Hiện nay, Báo Lào Cai xuất bản 4 ấn phẩm: Báo thường kỳ, Báo cuối tuần, Báo dành cho đồng bào các dân tộc và Báo Lào Cai điện tử
* Cơ cấu tổ chức
Từ 9 cán bộ ngày tái lập tỉnh (tháng 10/1991), chỉ 2 cán bộ có trình độ đại học, đến nay đã có 36 cán bộ, trong đó, biên chế 29 cán bộ; phần lớn có trình độ chuyên môn đại học trở lên, nhiều cán bộ có 2 bằng đại học
Từ 3 ph ng chuyên môn ban đầu, Báo Lào Cai hiện nay đã thành lập 7 phòng chức năng và Ban Biên tập theo Quyết định số 338-QĐ/TW ngày 26/11/2010 của Ban Bí thư
* Công tác in n, xu t b n, phát hành
Báo Lào Cai thường kỳ, Báo Lào Cai cuối tuần hơn 6.400 tờ/số; từ phát hành 2 số/tuần đã tăng lên 4 số/tuần; từ 8 trang/số in đen trắng đã tăng lên 12 trang/số, in nhiều màu trang 1+12 Báo Lào Cai dành cho đồng bào các dân tộc tăng từ 1 số/tháng lên 2 số/tháng, hiện nay là 3 số/tháng, từ trên 1.000 tờ/số lên 3.200 tờ/số Báo Lào Cai điện tử đã thay đổi giao diện, thêm nhiều chuyên mục mới, thu hút sự quan tâm theo dõi của bạn đọc, bình quân mỗi tháng có trên 500 nghìn lượt truy cập