Nhằm ngăn ngừa, kiềm chế tai nạn, ùn tắc giao thông; thiết lập kỷ cương giao thông và xây dựng văn hóa giao thông, một trong những giải pháp quan trọng mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VY THÖY HƯỜNG
BÁO CHÍ LẠNG SƠN VỚI VẤN ĐỀ AN TOÀN
GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
(Khảo sát Báo LạngSơn, Đài Phát thanh-Truyền hình Lạng Sơn
2 năm 2014, 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VY THÖY HƯỜNG
BÁO CHÍ LẠNG SƠN VỚI VẤN ĐỀ AN TOÀN
GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
(Khảo sát Báo LạngSơn, Đài Phát thanh-Truyền hình Lạng Sơn
2 năm 2014, 2015)
Chuyên ngành : Báo chí học
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quang Hòa
Hà Nội - 2016
Trang 3LUẬN VĂN ĐÃ ĐƢỢC CHỈNH SỬA THEO Ý KIẾN
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
HÀ HUY PHƢỢNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Báo chí Lạng Sơn với vấn đề an toàn
giao thông trên địa bàn tỉnh” (Khảo sát Báo Lạng Sơn, Đài Phát thanh -
Truyền hình Lạng Sơn 2 năm 2014, 2015) là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Nguyễn Quang Hoà Các số liệu, kết quả
và ý kiến nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
TÁC GIẢ
Vy Thúy Hường
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô Khoa Báo chí, Khoa Phát thanh - Truyền hình nói riêng; Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói chung đã cung cấp tri thức, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khoá học
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Quang Hoà - Giảng viên Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Trân trọng cảm ơn lãnh đạo các sở, ban, ngành, các
cơ quan, đơn vị trong tỉnh Lạng Sơn, đồng nghiệp Báo Lạng Sơn, Đài Phát thanh - Truyền hình Lạng Sơn đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân trong gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu để hoàn thành khoá học
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
TÁC GIẢ
Vy Thuý Hường
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATGT : An toàn giao thông CSGT : Cảnh sát giao thông GTVT : Giao thông - Vận tải PTTH : Phát thanh - Truyền hình
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số lƣợng tác phẩm về ATGT trên Báo Lạng Sơn 39 Bảng 2.2 Số lƣợng tác phẩm về ATGT của Đài PTTH Lạng Sơn 40 Bảng 2.3 Nội dung phản ánh về ATGT của 2 cơ quan báo chí 40 Biểu đồ 2.1 Sở thích đón nhận thông tin về ATGT của công chúng Lạng Sơn 41 Biểu đồ 3.1 Đánh giá nội dung thông tin, tuyên truyền ATGT của Báo Lạng Sơn 77 Biểu đồ 3.2 Đánh giá hình thức thông tin, tuyên truyền ATGT của Báo Lạng Sơn 77 Biểu đồ 3.3 Đánh giá nội dung thông tin, tuyên truyền ATGT của Đài PTTH Lạng Sơn 80 Biểu đồ 3.4 Đánh giá hình thức thông tin, tuyên truyền ATGT của Đài PTTH Lạng Sơn 80
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: BÁO CHÍ VỚI AN TOÀN GIAO THÔNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 12
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 12
1.2 Vai trò của báo chí với an toàn giao thông 21
1.3 Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của tỉnh Lạng Sơn trong tuyên truyền về ATGT 25
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: VẤN ĐỀ AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN BÁO CHÍ LẠNG SƠN 31
2.1 Đặc điểm tình hình giao thông trên địa bàn Lạng Sơn 31
2.2 Vài nét về Báo Lạng Sơn, Đài Phát thanh-Truyền hình Lạng Sơn 35
2.3 Vấn đề an toàn giao thông trên Báo Lạng Sơn, Đài Phát thanh - Truyền hình Lạng Sơn 38
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN AN TOÀN GIAO THÔNG CỦA BÁO CHÍ LẠNG SƠN 75
3.1 Một số nhận xét qua công tác truyền thông về an toàn giao thông của Báo Lạng Sơn, Đài Phát thanh – Truyền hình Lạng Sơn 75
3.2 Một số giải pháp đối với các cơ quan báo chí 85
3.3 Một số kiến nghị với Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an toàn giao thông 95
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
An toàn giao thông đã và đang là vẫn đề thời sự ở mỗi quốc gia, khu vực và trên thế giới Và ATGT cũng là một trong những nội dung quan trọng được đề cập trên truyền thông đại chúng, đặc biệt là báo chí Báo chí thông tin, phản ánh về ATGT trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng Với khả năng tác động rộng lớn, báo chí mang đến những thông tin nhanh nhất về kiến thức giao thông, tình hình giao thông, những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ATGT; phản ánh những bức xúc về tình hình ATGT; đề xuất những biện pháp về bảo đảm trật tự ATGT; phản ánh mong muốn của nhân dân; biểu dương những mô hình điển hình, những cách làm hay trong công tác bảo đảm trật tự ATGT; phê phán những hành vi, những cá nhân, tổ chức vi phạm Không dừng ở việc cung cấp thông tin, báo chí còn khơi nguồn, tạo lập dư luận xã hội; định hướng, hướng dẫn dư luận, cụ thể là định hướng nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng về ATGT Báo chí còn tham gia quản lý xã hội về lĩnh vực ATGT qua việc qua việc đăng tải, phổ biến, giải thích đường lối, chính sách, pháp luật về ATGT, giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật đó đồng thời tạo diễn đàn để nhân dân nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình về vấn đề ATGT
Chính vì báo chí có vai trò quan trọng trong thông tin, phản ánh về ATGT - lĩnh vực liên quan trực tiếp tới đời sống hàng ngày của người dân và
sự phát triển của quốc gia nên trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảm bảo trật tự ATGT, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của báo chí Theo báo cáo của Ủy ban ATGT Quốc gia, Tại Việt Nam, những năm qua tai nạn giao thông đã giảm liên tục cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết, số người bị thương) qua từng năm song chưa bền vững Sự bùng nổ về phương tiện giao
Trang 10thông, tốc độ đô thị hóa cao trong khi kết cấu hạ tầng giao thông còn bất cập
đã đặt ra nhiều thách thức cho công tác đảm bảo trật tự ATGT ở nước ta Nhằm ngăn ngừa, kiềm chế tai nạn, ùn tắc giao thông; thiết lập kỷ cương giao thông và xây dựng văn hóa giao thông, một trong những giải pháp quan trọng
mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang chỉ đạo các cấp, ngành, đoàn thể trong đó
có các cơ quan báo chí triển khai quyết liệt đó là đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về ATGT để từ đó nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông và nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, toàn xã hội đối với công tác đảm bảo trật tự ATGT
Đối với tỉnh Lạng Sơn, là một tỉnh miền núi, biên giới phía Đông Bắc của Tổ quốc, Lạng Sơn có vị trí chiến lược rất quan trọng về kinh tế, xã hội và
an ninh quốc phòng Đây cũng là một trong số ít các tỉnh miền núi phía Bắc
có mạng lưới đường giao thông phân bố tương đối đều và thuận lợi Với hơn
230 km đường biên giới tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc, lại nằm trên giao điểm của 4 quốc lộ là 1A, 1B, 4A, 4B, ngoài ra còn có tuyến đường sắt liên vận quốc tế, có 2 cửa khẩu quốc tế, 2 cửa khẩu quốc gia, 7 cặp chợ đường biên… nên Lạng Sơn đã trở thành cửa ngõ quan trọng để giao thương buôn bán với Trung Quốc đồng thời cũng là địa bàn thu hút một lượng lớn khách du lịch đến tham quan, mua sắm Từ thực tế đó, hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn Lạng Sơn khá sôi động, lưu lượng, mật
độ phương tiện tham gia giao thông cao, nhất là trên các tuyến quốc lộ; địa bàn thành phố Lạng Sơn, các thị trấn và đường ra các cửa khẩu
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, trong quá trình phát triển, Lạng Sơn đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác đảm bảo ATGT như: sự gia tăng các phương tiện giao thông; tốc độ đô thị hóa nhanh, song kết cấu hạ tầng giao thông còn bất cập, nhiều tuyến giao thông đã xuống
Trang 11cấp nhưng chậm được sửa chữa, khắc phục trong khi lưu lượng, mật độ người, phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng
Thời gian qua, các cấp, các ngành, đoàn thể của Lạng Sơn đã nỗ lực triển khai thực hiện các biện pháp bảo đảm trật tự ATGT Tuy nhiên, tình hình trật tự ATGT, nhất là giao thông đường bộ trên địa bàn vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp Tai nạn giao thông tuy đã được kiềm chế song chưa bền vững; ùn tắc giao thông tuy chưa nổi cộm như ở các tỉnh, thành phố lớn song đã xảy ra khá thường xuyên trên địa bàn, nhất là tại thành phố Lạng Sơn
và một số tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, đường ra cửa khẩu Đặc biệt, ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông còn hạn chế, ảnh hưởng rất lớn đến công tác bảo đảm trật tự ATGT trên địa bàn Điều này đã và đang đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới đối với công tác đảm bảo trật tự ATGT Chính
vì vậy, trong quá trình lãnh đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị, Tỉnh
uỷ, UBND tỉnh Lạng Sơn luôn quan tâm chỉ đạo các ngành, các cơ quan, đơn
vị đặc biệt là các cơ quan báo chí tăng cường thông tin, tuyên về ATGT nhằm góp phần nâng cao ý thức của người tham gia giao thông; huy động sự tham gia của các cấp, ngành, đoàn thể và cả cộng đồng trong việc giữ gìn trật tự ATGT trên địa bàn
Hiện nay, Lạng Sơn có 3 cơ quan báo chí địa phương gồm: Báo Lạng Sơn, Đài PTTH Lạng Sơn và Tạp chí Văn nghệ Xứ Lạng Các cơ quan báo chí Lạng Sơn đã tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quan điểm chỉ đạo, chủ trương, các giải pháp của tỉnh nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế -xã hội; kịp thời phát hiện, biểu dương những điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt; phê phán những tiêu cực, tệ nạn xã hội Đồng thời nắm bắt, phản ánh tâm
tư, nguyện vọng của nhân dân; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Là “kênh” quan trọng trong truyền thông về ATGT, thời
Trang 12gian qua, các cơ quan báo chí của Lạng Sơn đã tích cực tham gia đảm bảo ATGT Với thế mạnh riêng của từng loại hình, các cơ quan báo chí đã xây dựng các chuyên trang, chuyên mục thông tin, phản ánh về tình hình trật tự ATGT trên địa bàn; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ATGT và xây dựng văn hóa giao thông; thông tin về các văn bản, chính sách, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, của địa phương về ATGT, về hoạt động giữ gìn trật tự ATGT của các ngành, lực lượng chức năng Đồng thời, các cơ quan báo chí Lạng Sơn cũng bám sát thực tiễn cuộc sống; kịp thời phản ánh những vấn đề nổi cộm, bức xúc về ATGT; nêu gương những tập thể, cá nhân điển hình; những cách làm hay, những mô hình hiệu quả về đảm bảo ATGT; phê phán những hành vi vi phạm; thông tin về những bất cập, bất hợp lý về giao thông góp phần giúp các cơ quan quản lý Nhà nước có sự điều chỉnh chính sách, ban hành chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác ATGT một cách kịp thời và hiệu quả
Tuy nhiên, việc thông tin, phản ánh về ATGT trên báo chí địa phương của Lạng Sơn còn bộc lộ những hạn chế Trong đó phải kể đến nội dung, hình thức truyền thông còn chưa phong phú, hấp dẫn, chưa khai thác được thế mạnh của các loại hình báo chí; sự phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền về ATGT giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng của tỉnh với các
cơ quan báo chí chưa thường xuyên
Xuất phát từ thực tế đó, cùng với việc bản thân đã có 10 năm công tác tại Báo Lạng Sơn, trực tiếp tham gia viết và biên tập tin, bài cho chuyên mục An toàn giao thông; Thông tin - tìm hiểu pháp luật về trật tự ATGT trên Báo Lạng
Sơn, học viên đã chọn đề tài “Báo chí Lạng Sơn với vấn đề an toàn giao thông
trên địa bàn tỉnh” (Khảo sát Báo Lạng Sơn, Đài Phát thanh - Truyền hình
Lạng Sơn 2 năm 2014, 2015) làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành
báo chí, với mong muốn phác họa thực tế công tác thông tin, tuyên truyền
Trang 13ATGT của các cơ quan báo chí Lạng Sơn thời gian qua Từ đó có những đề xuất, kiến nghị để phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan báo chí địa phương trong truyền thông về ATGT; đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như nhu cầu thông tin của độc giả
Đây là đề tài có tính thời sự, mặt khác cũng được kỳ vọng có tính ứng dụng vào thực tiễn công tác của học viên trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về các tài liệu liên quan, trong quá trình nghiên cứu, học viên đã cố gắng tìm hiểu, tiếp cận với một số luận văn viết về đề tài báo chí với vấn đề ATGT phạm vi cả nước và một số địa phương trong khoảng 10 năm trở lại đây, song nhìn chung số lượng không nhiều; có thể kể đến như:
- Vai trò của báo chí trong công tác bảo đảm trật tự ATGT đường thuỷ
nội địa, năm 2005, luận văn thạc sỹ của Hà Thị Hồng Vân, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền (khảo sát Báo Lao động, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Bạn đường, Cà Mau và Tạp chí Cánh buồm, từ năm 2003 - 2004) Luận văn này chỉ
đề cập đến vai trò của báo chí trong công tác đảm bảo trật tự ATGT ở lĩnh vực giao thông cụ thể và phạm vi khảo sát là các báo in
- Tuyên truyền văn hoá giao thông đô thị trên báo chí ở nước ta hiện nay
của Đinh Thị Minh Châu, luận văn thạc sỹ Chính trị học năm 2010, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn đề cập đến việc xây dựng văn hoá giao thông
đô thị thông qua vai trò tuyên truyền của các cơ quan báo chí
- Nâng cao hiệu quả truyền thông của báo chí về ATGT đường bộ trên
địa bàn Hà Nội (khảo sát Kênh VOV Giao thông, VTV1 Đài Truyền hình Việt
Nam, Báo Hà Nội Mới từ năm 2008 - 2010) - luận văn thạc sỹ báo chí của Nguyễn Thị Thu Thủy, năm 2011, tại Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Công trình này nghiên cứu khá toàn diện về vai trò, hiệu quả truyền thông của báo chí ở cả 4 loại hình: báo in (Báo in Hà Nội Mới), phát
Trang 14thanh (VOV giao thông của Đài Tiếng nói Việt Nam); truyền hình (VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam) và báo mạng điện tử (Báo điện tử Hà Nội Mới) Tuy nhiên, lĩnh vực đề cập ở đây chỉ là ATGT đường bộ
- Tuyên truyền thực hiện pháp luật ATGT đường bộ trên báo mạng điện
tử Việt Nam hiện nay (Khảo sát Vietnamnet.vn, Vnexpress.net, Dantri.com.vn
từ tháng 1/2010 đến tháng 6/2012) của tác giả Phạm Ngọc Thông, luận văn thạc sỹ Báo chí năm 2012, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Với đề tài này, tác giả kế thừa những kết quả nghiên cứu của những người đi trước về một số vấn đề lý luận liên quan tới vai trò của báo chí, trên cơ sở hệ thống hóa, khảo sát thực tế để nhìn nhận, đánh giá hoạt động truyền thông thực hiện pháp luật về ATGT của báo mạng điện tử Từ đó rút ra cách thức truyền thông hiệu quả, nhằm tăng cường hơn nữa việc truyền thông thực hiện pháp luật ATGT trên các loại hình báo chí, đặc biệt là báo mạng điện tử
- Thông điệp về ATGT - luận văn thạc sỹ Quan hệ công chúng của Đỗ
Hoàng Thạch, năm 2014, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn khảo sát nội dung cũng như hình thức truyền tải thông điệp về ATGT, đồng thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó và đưa ra các giải pháp đối với các nhà quản lý, cơ quan ban hành chính sách, cũng như các cơ quan truyền thông, các nhà báo, nhằm xây dựng những thông điệp về ATGT hiệu quả
- Sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV giao thông
(Khảo sát chương trình Quà tặng âm nhạc và Giờ cao điểm, từ tháng 1 đến tháng 6/2013) của Đinh Phương Oanh, luận văn thạc sĩ Báo chí năm 2014 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trực tiếp trên sóng phát thanh; khảo sát một cách toàn diện và hệ thống về việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông từ góc độ báo chí học và góc độ ngôn ngữ học Đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
Trang 15lượng và hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông
- Báo địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long với việc tuyên
truyền, giáo dục vấn đề ATGT hiện nay của Nguyễn Thành Tâm, luận văn
thạc sĩ Báo chí học năm 2015 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn này khảo sát thực trạng công tác truyền thông ATGT trên báo Đảng địa phương các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó chọn mẫu các báo: Sóc Trăng, An Giang, Cần Thơ năm 2014
Có thể thấy, các công trình, đề tài nghiên cứu trên đề cập đến vai trò của báo chí trong truyền thông về ATGT nói chung hoặc đề cập đến công tác truyền thông về ATGT ở một địa bàn cụ thể của một vài cơ quan báo chí cụ thể Đây là tài liệu tham khảo thiết thực cung cấp thêm kiến thức lý luận và thực tiễn về hoạt động truyền thông về ATGT của các cơ quan báo chí
Ngoài các tài liệu kể trên, công tác thông tin, tuyên truyền về ATGT trên báo chí còn được đề cập trong một số bài báo khoa học, có thể kể đến
như bài “Giảm tai nạn giao thông: Nhìn từ công tác tuyên truyền” của Đỗ
Hoàng Thạch, trên Tạp chí ATGT, tháng 5/2014 Vấn đề này cũng là nội
dung chính được đề cập đến trong một số hội nghị, toạ đàm như: toạ đàm “Báo
chí với ATGT” do Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, Hội nhà báo Việt
Nam phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam, tổ chức ngày
10/9/2015 tại Hà Nội; hội thảo “Báo chí đưa tin về ATGT” tổ chức ngày
12/11/2015 tại Bắc Ninh
Đối với các tài liệu, công trình nghiên cứu về báo chí địa phương, trong thời gian qua, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã có một số học viên cao
học bảo vệ thành công luận văn về báo chí Lạng Sơn như: Báo chí Lạng Sơn
với việc tuyên truyền về an ninh biên giới (khảo sát Báo Lạng Sơn, Đài PTTH
Lạng Sơn từ tháng 1/2010 đến tháng 6/2012) của Trần Trịnh Diệu Hằng; Góp
phần hoàn thiện mô hình hoạt động đài truyền thanh - truyền hình cấp huyện ở
Trang 16tỉnh Lạng Sơn của Hoàng Thế Vinh (năm 2015); Truyền hình Lạng Sơn với vấn
đề giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hoá Tày - Nùng của Vũ Thanh Huyền (năm
2015) Tuy nhiên chưa có đề tài nào viết về báo chí với vấn đề ATGT trên địa bàn Lạng Sơn Trong quá trình tìm hiểu, tiếp cận đề tài, học viên cũng nhận thấy chưa có tài liệu nào nghiên cứu công tác thông tin, tuyên truyền về ATGT của các cơ quan báo chí địa phương ở một tỉnh miền núi, biên giới
Vì những lý do trên, tác giả cho rằng đề tài “Báo chí Lạng Sơn với vấn
đề an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh” (Khảo sát Báo Lạng Sơn, Đài Phát
thanh - truyền hình Lạng Sơn 2 năm 2014, 2015) là một đề tài không trùng lặp
với các đề tài đã công bố và có tính ứng dụng trong hoạt động thực tiễn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng tiếp cận, tham khảo một số tài liệu để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài Về các giáo trình, lý luận
chung về báo chí truyền thông có cuốn Cơ sở lý luận báo chí của PGS, TS Nguyễn Văn Dững, (NXB Lao động, năm 2012); Báo chí truyền thông hiện
đại của PGS, TS Nguyễn Văn Dững (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2011); Báo chí và dư luận xã hội của PGS, TS Nguyễn Văn Dững (NXB Lao động, năm 2011); Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản của PGS, TS
Nguyễn Văn Dững, PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng (NXB Chính trị Quốc gia -
Sự thật, năm 2012), Đề cương môn Báo chí học dành cho học viên cao học Học viện Báo chí và Tuyên truyền của PGS, TS Nguyễn Văn Dững; Giáo
trình Lý thuyết truyền thông hiện đại dành cho học viên cao học Học viện Báo
chí và Tuyên truyền của PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng; Đây là những giáo trình, tài liệu có tính chuyên sâu dùng để làm phương pháp luận giúp đưa ra những quan điểm cơ bản cho việc nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề an toàn giao thông
- Phạm vi nghiên cứu: Báo Lạng Sơn, Đài PTTH Lạng Sơn
- Thời gian: năm 2014 và 2015
Trang 174 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu nội dung, hình
thức thông tin, phản ánh vấn đề ATGT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn của hai cơ quan báo chí địa phương là Báo Lạng Sơn, Đài PTTH Lạng Sơn Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế trong việc thông tin, phản ánh về ATGT của hai cơ quan báo chí để đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa vai trò của báo chí địa phương đối với việc thông tin, tuyên truyền về ATGT
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn triển khai
những nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Sưu tầm, khái quát tất cả những tin, bài liên quan đến vấn đề ATGT trên địa bàn Lạng Sơn của 2 cơ quan: Báo Lạng Sơn và Đài PTTH Lạng Sơn trong năm 2014 và 2015
+ Nhận xét, đánh giá về nội dung, hình thức thông tin, phản ánh vấn đề ATGT của các cơ quan báo chí này với những thành công và hạn chế
+ Phỏng vấn công chúng, lãnh đạo, phóng viên của 2 cơ quan báo chí, phỏng vấn lãnh đạo cơ quan quản lý báo chí, lãnh đạo các ban, ngành, đơn vị thực hiện nhiệm vụ đảm bảo ATGT về các tác phẩm thông tin, phản ánh ATGT trên các ấn phẩm của 2 cơ quan báo chí này
+ Đề xuất một số giải pháp đối với công tác thông tin, tuyên truyền về ATGT của các cơ quan báo chí địa phương
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên đường lối, chính
sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước CHXH Chủ nghĩa Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ của báo chí; chủ trương; chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về ATGT; quan điểm, chủ trương của địa phương đối với truyền thông về ATGT đồng thời, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình
Trang 18khoa học có liên quan đã được công bố
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên phương pháp luận khoa
học của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Luận văn khảo sát có hệ thống nội dung, hình thức thông tin, phản ánh về ATGT trên địa bàn Lạng Sơn 2 cơ quan báo chí địa phương Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng nhiều phương pháp: nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích, tổng hợp; điều tra xã hội, phỏng vấn sâu một số nhà quản lý, đại diện các cơ quan, đơn vị, nhà báo và công chúng
Cụ thể: Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các giáo trình, tài liệu về báo chí, an toàn giao thông, các văn bản pháp luật, chỉ thị, nghị quyết,
kế hoạch… để làm cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài
Phương pháp thống kê: thống kê số lượng tác phẩm về ATGT đăng tải trên Báo Lạng Sơn, Đài PTTH Lạng Sơn trong 2 năm 2014, 2015 để đánh giá tần suất thông tin, tuyên truyền
Phương pháp phân tích: phân tích số liệu, phân tích nội dung, hình thức các tác phẩm về ATGT trên Báo Lạng Sơn và Đài PTTH Lạng Sơn để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế; phân tích số liệu thu thập được qua việc điều tra xã hội nhằm đưa ra nhận định về nhu cầu, sở thích tiếp nhận thông tin, về mức
độ quan tâm, sự đánh giá của công chúng đối với các tác phẩm về ATGT của
2 cơ quan báo chí
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp thông tin, dữ liệu nhằm đưa ra nhận định, đánh giá chung về nội dung, hình thức thông tin, tuyên truyền về ATGT, cách thức tổ chức thông tin, tuyên truyền ATGT của Báo Lạng Sơn, Đài PTTH Lạng Sơn
Điều tra xã hội: Đưa ra câu hỏi, phương án trả lời để công chúng lựa chọn Qua đó nhằm thu thập thông tin về sở thích, thói quen tiếp nhận thông tin, mức độ quan tâm, đánh giá của công chúng
Phỏng vấn sâu: Đặt câu hỏi với từng nhóm đối tượng (lãnh đạo cơ quan
Trang 19quản lý nhà nước về báo chí, lãnh đạo cơ quan báo chí, lãnh đạo các ngành chức năng liên quan đến ATGT, phóng viên chuyên trách tuyên truyền ATGT của Báo Lạng Sơn, Đài PTTH Lạng Sơn) tìm hiểu về việc nhìn nhận tầm quan trọng của báo chí đối với ATGT, quá trình tổ chức sản xuất, thực tiễn tác nghiệp của phóng viên… cũng như chỉ ra những thành công, hạn chế trong việc thông tin, phản ánh về ATGT của hai cơ quan báo chí này
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về báo chí,
vai trò của báo chí trong thông tin, phản ánh các vấn đề ATGT nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở khảo sát, đánh giá về hiệu quả cũng
như những hạn chế trong việc thông tin, phản ánh về ATGT trên địa bàn Lạng Sơn của 2 cơ quan báo chí địa phương, luận văn góp thêm tiếng nói, đề xuất một số giải pháp đối với công tác thông tin, tuyên truyền của các cơ quan báo
chí về vấn đề này trong thời gian tới
Tác giả cũng kỳ vọng luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng, nhà quản lý báo chí, các cơ quan báo chí, các nhà báo, các bạn học viên, sinh viên và những người quan tâm đến đề tài này
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Báo chí với an toàn giao thông – một số vấn đề lý luận
- Chương 2: Vấn đề an toàn giao thông trên báo chí Lạng Sơn
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị đối với công tác thông tin,
tuyên truyền về an toàn giao thông của báo chí Lạng Sơn
Trang 20Chương 1 BÁO CHÍ VỚI AN TOÀN GIAO THÔNG
- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Báo chí
1.1.1.1 Khái niệm báo chí
Trong tiếng Anh, báo chí có nhiều cách gọi khác nhau: “press”,
“newspaper”, nguyên gốc tiếng Latinh là “novus” có nghĩa là “mới”
Theo Từ điển Tiếng Việt, báo chí là “từ nói chung chỉ các loại báo” [25, tr.48]
Trong cuốn “Thuật ngữ báo chí truyền thông”, tác giả Phạm Thành Hưng đưa ra khái niệm:
“Báo là loại ấn phẩm nhẹ, chuyển tải tin tức, xuất bản liên tục, đều kỳ
Hiểu theo nghĩa hẹp, báo chỉ bao gồm các loại báo ra hàng ngày, gọi tắt là nhật báo và những tờ báo định kỳ theo tuần hoặc trong tuần, phục vụ đông đảo mọi tầng lớp độc giả, với mục đích thông tin rộng rãi cho toàn xã hội Báo là một hình thức truyền thông đại chúng xuất hiện sớm nhất” “Thông thường, báo được hiểu là báo in Báo còn làm thuật ngữ dùng chung cho các loại hình truyền thông hiện đại như phát thanh - gọi nôm là báo nói; truyền hình - gọi nôm là báo hình và báo trên mạng Internet - gọi là báo điện tử”
[26, tr.33]
Theo PGS, TS Nguyễn Văn Dững, Học viện Báo chí và Tuyên truyền thì báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến, phát triển từng ngày và có tác động, chi phối đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu về báo chí, do vậy, cho đến nay cả trong nước và ngoài nước chưa có một khái niệm nào có
Trang 21tính chính xác tuyệt đối về báo chí Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, PGS,
TS Nguyễn Văn Dững cho rằng “bản chất của báo chí là hoạt động thông tin
- giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân
và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế ” [14, tr.61]
Do vậy, có thể hiểu báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng
Về khái niệm báo chí, theo PGS, TS Nguyễn Văn Dững, trong quá trình phát triển, khái niệm báo chí đã được hiểu, được dùng với nhiều nghĩa khác nhau, nhưng tựu chung lại, thông thường có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Báo chí hiểu theo nghĩa rộng bao gồm báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo mạng điện tử - tức là những kênh truyền thông đại chúng sản xuất và quảng bá thông tin thường xuyên, liên tục, trên phạm vi rộng lớn nhất, định kỳ (và phi định kỳ) đều đặn và cập nhật nhất, tác động đến nhiều người nhất, đa dạng và phong phú nhất Báo chí hiểu theo nghĩa hẹp đó là báo và tạp chí - báo in và các sản phẩm in ấn khác
Trong xã hội hiện đại, báo chí ngày càng thể hiện vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng Báo chí đã và đang đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội
1.1.1.2 Phân loại báo chí
Báo in
Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện và vấn đề thời sự,
Trang 22phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ đông đảo công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định
Trong các loại hình báo chí, báo in ra đời sớm nhất Các ấn phẩm tiền thân của báo in xuất hiện từ trước Công nguyên với tư cách là các bản tin, những ký hiệu hình hài chép tay trên vỏ cây, trên đất nung hoặc da thú Tuy nhiên, những tờ báo hiện đại, xuất bản định kỳ đều đặn, số lượng lớn với hình hài, diện mạo “trưởng thành” và như một công cụ chính trị đắc lực thì xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XVI Trong giai đoạn này, giai cấp tư sản, xã hội tư bản
đã sáng tạo ra và sử dụng báo chí hiện đại - cụ thể là báo in như một vũ khí lợi hại, hữu ích trong việc giành, giữ chính quyền và xây dựng xã hội phát triển
Còn ở Việt Nam, báo in ra đời cùng với việc đội quân xâm lược Pháp đặt chân lên Nam Bộ tiến hành cuộc xâm lược nước ta vào giữa thế kỷ XIX,
tờ báo in bằng tiếng Việt đầu tiên là tờ Gia Định báo xuất bản số đầu tiên ngày 15/4/1865 Ngày 21/6/1925, tờ Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập xuất bản số đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam
Cho đến nay, theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến đầu năm 2015, cả nước có 845 cơ quan báo, tạp chí từ trung ương đến địa phương với trên 1.100 ấn phẩm các loại
Một số thế mạnh của báo in: Báo in có thể thông tin, phân tích, giải thích
và giải đáp những vấn đề phức tạp một cách hệ thống, sâu sắc với độ tin cậy cao Với báo in, người đọc có thể hoàn toàn chủ động về không gian, thời gian
và tư thế trong việc tiếp nhận thông tin; mặt khác có thể đọc đi đọc lại một ấn phẩm để nhận thức, khai thác các tầng nấc thông tin về những vấn đề phức tạp Thông tin trên báo in có độ tin cậy, chính xác và tính tư liệu cao Một ưu điểm khác của báo in là người đọc có thể dễ dàng chuyền tay nhau các ấn phẩm báo
in và bản tin thời sự, do đó, công chúng trực tiếp có khả năng lây lan kết nối
với công chúng gián tiếp, hình thành dư luận xã hội bền vững
Một số hạn chế của báo in: Tính thời sự của thông tin chậm Ký hiệu
thông tin của báo in đơn điệu, chỉ có chữ viết và hình ảnh tĩnh, nếu kỹ năng
Trang 23xử lý thông tin bằng ngôn từ không cao, kỹ thuật viết và trình bày, in ấn không bắt mắt sẽ hạn chế tính hấp dẫn Việc phát hành báo in tốn kém, chậm
chạp, công kềnh Báo in nhìn chung đắt hơn các ấn phẩm truyền thông khác…
Phát thanh
Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện
từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực Thông điệp được mã hóa qua kênh phát thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp
Trên thế giới, phát thanh xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với sự phát triển của khoa học công nghệ Năm 1895, nhà bác học người Nga A.S.Popov phát minh ra ăng ten vô tuyến điện, cũng trong năm đó, ông giới thiệu máy thu sóng điện từ đầu tiên ở Saint Peterbourg Cùng thời gian này, nhà bác học người Ý G.Marconi thực hiện thành công thí nghiệm truyền tín hiệu vô tuyến với khoảng cách 400 m rồi 2.000 m Năm 1912, những máy radio nghiệp dư bắt được tín hiệu kêu cứu từ tàu chở khách Titanic phát đi Những năm sau đó, phát thanh phát triển mạnh ở các nước như Đức, Pháp, Nga Thế kỷ XX chứng kiến hai bước phát triển nhảy vọt của phát thanh là phát thanh FM ra đời vào những năm 1940 và phát thanh kỹ thuật số ra đời cuối thế kỷ XX Kỹ thuật và công nghệ phát thanh số cùng với sự phát triển mạng Internet đã và đang tạo ra những đột phá cho loại hình truyền thông đại chúng này
Ở Việt Nam, phát thanh phát triển nhanh chóng từ sau khi nước ta giành được độc lập năm 1945 Trước đó, chỉ có đài phát thanh tư nhân hoặc đài phát thanh thuộc Pháp dùng để phục vụ cho công tác cai trị của thực dân Ngày 7/9/1945, Đài Tiếng nói Việt Nam ra đời Đến nay, ngoài đài phát thanh
Trang 24quốc gia, 4 đài khu vực, mạng lưới phát thanh trong cả nước đã hoàn chỉnh với 63 đài phat thanh của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; hơn 600 đài truyền thanh, phát thanh huyện cùng hàng ngàn đài truyền thanh cấp xã, phường
Một số thế mạnh của phát thanh: Thế mạnh của phát thanh trước hết là
tính tỏa khắp, đó là sự quảng bá thông tin nhờ sự phủ sóng điện từ trên phạm
vi rộng lớn Nhờ đó, cùng một lúc, phát thanh tác động đến nhiều người Phát thanh thông tin nhanh, tiếp nhận đồng thời Với phát thanh, hàng triệu người
có thể cùng nghe, cùng theo dõi, cùng phản ứng Do dó, phát thanh có sức
mạnh đặc biệt trong việc hình thành dư luận xã hội rộng khắp và tức thì
Một thế mạnh nữa của phát thanh là tính chất sống động, riêng tư, thân mật Phát thanh sử dụng thế giới âm thanh bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc trong việc phản ánh hiện thực và tạo nên bức tranh sinh động, thu phục người nghe Mặt khác, chương trình phát thanh hướng tới số đông nhưng người nghe lại nghe với tư cách cá nhân - điều này tạo nên sự riêng tư, thân mật Phát thanh là kênh truyền thông rẻ tiền Với phát thanh, người nghe vừa
có thể nghe kết hợp với làm việc khác, điều này thuận tiện cho việc tiếp nhận thông tin của công chúng Phát thanh đến với mọi đối tượng, không phân biệt trình độ văn hóa cao hay thấp, biết chữ hay không, chỉ cần có khả năng nghe Phát thanh lan tỏa đến tận khu dân cư, theo người dân lên rẫy lên nương - điều mà báo in, truyền hình và báo mạng điện tử không thể sánh kịp
Một số hạn chế của phát thanh: Phát thanh tác động theo tuyến tính
thời gian nên người nghe phải tiếp nhận thông tin theo tuyến tính thời gian, tập trung sự chú ý của thính giác liên tục Thông tin tiếp nhận qua phát thanh
dễ quên, khả năng lưu trữ thông tin qua phát thanh khó khăn và hạn chế Trên sóng phát thanh khó có thể trình bày, phân tích những vấn đề phức tạp, nhất là
phân tích những số liệu…
Trang 25Lịch sử truyền hình bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Những phát minh khoa học kỹ thuật thời kỳ này đã tạo tiền đề cho truyền hình ra đời, phát triển Năm 1927, chương trình truyền hình thử nghiệm qua dây dẫn đầu tiên được thực hiện thành công ở Mỹ Năm 1936, lần đầu tiên trên thế giới, đài BBC bắt đầu phát chương trình truyền hình đều đặn
Ở Việt Nam, truyền hình ra đời muộn Tại miền Nam, dưới sự kiểm soát của Mỹ - Ngụy, năm 1962, trung tâm truyền hình theo hệ FCC được xây dựng và hoạt động vào năm 1966 Đến trước năm 1975, Mỹ đã đầu tư xây dựng các đài truyền hình khu vực Cần Thơ, Nha Trang, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Đà Nẵng và Huế Còn ở miền Bắc, ngày 7/9/1970 đã phát chương trình truyền hình thử nghiệm tại Hà Nội do cán bộ được cử đi đào tạo tại Cuba đảm nhiệm Sau khi đất nước được giải phóng, ngày 5/7/1976, Truyền hình Việt Nam chính thức phát sóng hàng ngày với thời lượng 3-4 giờ/ngày Đến nay, ngoài Đài Truyền hình Việt Nam và các đài khu vực, cả nước còn có
63 đài truyền hình của các tỉnh, thành phố
Một số thế mạnh của truyền hình: Truyền hình chuyển tải thông điệp
bằng hình ảnh cùng với thế giới âm thanh sống động, do đó có sức hấp dẫn đặc biệt đối với công chúng Thông điệp trên truyền hình rất dễ hiểu, thích ứng cho tất cả các nhóm công chúng Truyền hình có thế mạnh trong việc hướng dẫn các kỹ năng hoạt động; các thao tác; đặc biệt có năng lực cổ vũ, kêu gọi hành động xã hội của đông đảo công chúng trong một thời điểm nhất
Trang 26định và trên diện rộng Truyền hình là kênh giao lưu văn hóa với nhiều ưu thế
vượt trội
Một số hạn chế của truyền hình: Các tín hiệu truyền hình được truyền
đi theo tuyến tính thời gian nên đối tượng tiếp nhận bị động về tốc độ và trình
tự tiếp nhận cũng như phải tập trung vào màn hình Thêm vào đó, muốn tiếp nhận chương trình truyền hình, công chúng phải có máy thu hình Việc sản xuất chương trình truyền hình thường cồng kềnh và tốn kém Một hạn chế
khác của truyền hình là tính tư liệu thấp, khó lưu giữ thông tin cho số đông
Báo mạng điện tử
Báo mạng điện tử là loại hình báo chí - truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng Internet toàn cầu Là kênh truyền thông đặc thù ra đời sau, báo mạng điện tử hội tụ được nhiều ưu điểm vượt trội của các kênh truyền thông trước đó Báo mạng điện tử có nhiều tên gọi khác nhau: báo trực tuyến, báo online, báo điện tử…
Năm 2003, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã có cuộc thảo luận giữa các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy ngành truyền thông đại chúng và thống nhất tên gọi “báo mạng điện tử”; tức là báo điện tử tồn tại, phát triển và quảng
bá trên mạng Internet
Trong cuốn Báo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2014, TS Nguyễn Trí Nhiệm, TS Nguyễn Thị
Trường Giang đã đưa ra khái niệm: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo
chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời,
đa phương tiện và tương tác cao.” [39, tr.12]
Trên thế giới, tờ báo mạng điện tử đầu tiên được biết đến là tờ Chicago Tribune ra đời tháng 5/1992 tại Mỹ Ở Việt Nam, chỉ một tháng sau khi Việt
Trang 27Nam nối mạng Internet, ngày 31/12/1997, tạp chí Quê hương (Tạp chí của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao) trở thành tờ báo mạng điện tử đầu tiên ở nước ta Báo mạng điện tử ở Việt Nam phát triển nhanh chóng Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay, cả nước có 46 báo mạng điện tử và tạp chí điện tử; 287 trang tin của các cơ quan báo chí và gần 200 trang thông tin điện tử tổng hợp
Một số thế mạnh của báo mạng điện tử: Báo mạng điện tử cho phép kết
nối và truyền tải một lượng thông tin lớn với tốc độ nhanh Đây là loại hình báo chí có năng lực hàng đầu trong việc xã hội hóa các sự kiện và vấn đề thời
sự nhanh chóng, rộng khắp và phong phú, sinh động nhất
Nhờ tính đa phương tiện của báo mạng điện tử, thông tin có thể được chuyền tải qua nhiều hình thức như chữ viết, hình ảnh, âm thanh, đồ họa Sự kết hợp này làm cho thông tin trở nên sinh động, hấp dẫn, giúp công chúng tiếp nhận khách quan, từ nhiều góc độ
Báo mạng điện tử tạo ra khả năng giao lưu trực tuyến, tương tác nhiều chiều giữa đông đảo công chúng; tạo điều kiện cho mỗi người trực tiếp tiếp cận với nguồn tin Báo mạng điện tử có thể cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của mỗi người Đồng thời báo mạng điện tử có khả năng lưu giữ thông tin và rất tiện lợi cho việc tìm kiếm, truy cập cũng như kết nối đa nguồn
Một số hạn chế của báo mạng điện tử: Thông tin trên báo mạng điện tử
đưa rất nhanh, do vậy, độ chính xác của thông tin trên báo mạng điện tử nhiều
khi không cao bằng thông tin trên các loại hình báo chí khác
Độ an toàn của thông tin trên báo mạng điện tử phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ nên khi gặp các sự cố, nội dung lưu trữ có thể bị chỉnh sửa, làm sai lệch hoặc bị phá hoại hoàn toàn và khó khôi phục
Trang 28Báo mạng điện tử đưa rất nhiều thông tin nên người đọc nhiều khi bị nhiễu, mất tập trung, khó có khả năng chọn lựa thông tin tốt, đáng tin cậy cho mình
1.1.2 An toàn giao thông
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm ATGT Tác giả Nguyễn Duy Lãm trong cuốn “Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng” cho rằng: “Trật tự an toàn giao thông là việc chấp hành triệt để những yêu cầu kỹ thuật, quản lý đối với các công trình giao thông và phương tiện giao thông, quy định đối với người tham gia giao thông khi hoạt động trên làm cho giao thông được trật tự, an toàn, thông suốt, thuận tiện” hoặc: “Trật tự an toàn giao thông đô thị là việc chấp hành triệt để các quy định đối với người, phương tiện tham gia giao thông trên đường đô thị; các quy định đối với việc sử dụng đường phố, vỉa hè, lòng đường; các quy định đối với việc bảo vệ những công trình giao thông trong đô thị nhằm đảm bảo cuộc sống yên tĩnh cho dân cư đô thị, đảm bảo vệ sinh môi trường và mỹ quan thành phố; phục vụ cho việc quản lý đô thị” [29, tr.384]
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân, ATGT là hệ thống các mối quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo để đảm bảo hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông, gây thiệt hại về người và tài sản
Theo Trung tâm Nghiên cứu ATGT với cuốn sách: “Trật tự ATGT đường bộ trên địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương -Thực trạng và giải pháp trong giai đoạn 2011-2013” thì: Trật tự ATGT là trạng thái xã hội có trật
tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng, nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông Đảm bảo trật tự ATGT là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó
Trang 29là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng và ổn định trật tự xã hội
Như vậy, ATGT được hiểu là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo, nhờ đó bảo đảm cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông, gây thiệt hại về người và tài sản
An toàn giao thông được đảm bảo khi hoạt động giao thông được điều chỉnh bằng một hệ thống các quy phạm pháp luật, bắt buộc mọi chủ thể tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo; hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra, đảm bảo an toàn cho mọi người và tài sản khi tham gia giao thông; hạn chế ùn tắc giao thông, đảm bảo giao thông được tiện lợi, có hiệu quả, tiết kiệm được cước phí vận chuyển, thời gian trên đường và đảm bảo được yêu cầu mỹ quan giao thông đô thị, chống ô nhiễm môi trường
Tuy nhiên, thực trạng ATGT hiện nay còn diễn biến phức tạp, tác động xấu đến tình hình phát triển chung của đất nước và quá trình hợp tác giao lưu kinh tế - xã hội – văn hóa quốc tế khi các tuyến đường chưa đạt chuẩn kỹ thuật, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ còn hỗn hợp, người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ được học tập luật lệ giao thông, sát hạch, cấp giấy lái xe còn rất hạn chế
Theo khái niệm vừa nêu và trên cơ sở thực tiễn giao thông hiện nay, việc tuyên truyền về ATGT sẽ tập trung vào các nội dung lớn là: Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về ATGT; tình hình tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, những vấn đề về kết cấu hạ tầng giao thông; phương tiện giao thông; công tác đảm bảo trật tự ATGT của các ngành, lực lượng chức năng…
1.2 Vai trò của báo chí với an toàn giao thông
1.2.1 Báo chí là kênh thông tin hữu hiệu về tình hình ATGT
Trang 30Thông tin là chức năng khởi nguồn, chức năng cơ bản nhất của báo chí Báo chí ra đời và phát triển trước hết là nhằm thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của con người và xã hội Xã hội càng phát triển, càng văn minh thì nhu cầu thông tin càng cao Trong quá trình đáp ứng nhu cầu thông tin, báo chí càng phát triển không ngừng và rất đa dạng về loại hình Mỗi loại hình với những thế mạnh khác nhau mang đến thông tin phong phú, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu thông tin về mọi lĩnh vực của công chúng, trong đó có thông tin về ATGT - lĩnh vực liên quan trực tiếp tới đời sống hàng ngày của người
dân và sự phát triển của quốc gia
Hiện nay, với bốn loại hình: báo in, báo nói, báo hình, báo mạng điện tử, báo chí mang đến những thông tin nhanh nhất về kiến thức giao thông, tình hình giao thông, những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ATGT; phản ánh những bức xúc về tình hình ATGT; đề xuất những biện pháp về bảo đảm trật tự ATGT; phản ánh mong muốn của nhân dân; biểu dương những mô hình điển hình, những cách làm hay trong công tác bảo đảm trật tự ATGT; phê phán những hành vi, những cá nhân, tổ chức vi phạm Báo chí dự báo nhu cầu, tâm lý, sở thích, quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân về ATGT Những thông tin bằng lời, hình ảnh, âm thanh do báo chí mang lại vừa kịp thời, sinh động, vừa chính xác, có sức thuyết phục, giúp người dân nâng cao kiến thức, nhận thức về các vấn đề giao thông; đồng thời cũng là nguồn cung cấp kiến thức và phản ánh tình hình thực tiễn sôi động để các cơ quan quản lý nâng cao năng lực quản lý điều hành về công tác bảo đảm trật tự ATGT nói chung và công tác truyền thông về ATGT nói riêng
Là kênh truyền thông đại chúng, trước hết, báo chí thông tin sự kiện và các vấn đề thời sự về ATGT, đó có thể là thông tin về một vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng; về một con đường xuống cấp, một cây cầu bị sập, tình trạng ách tắc giao thông ở một đoạn đường… ; đó cũng có thể là thông tin về một văn
Trang 31bản pháp luật mới hoặc một chủ trương, chính sách mới của Nhà nước, của địa phương liên quan đến vấn đề ATGT để công chúng biết, để công chúng nhận thức và ứng xử phù hợp Thứ hai, không chỉ thông tin, báo chí còn giải thích, giải đáp về những sự kiện, vấn đề ATGT đang diễn ra để công chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn, từ đó tạo nên sự đồng thuận xã hội
1.2.2 Báo chí là kênh tạo lập, định hướng và hướng dẫn dư luận về ATGT
Theo PGS, TS Mai Quỳnh Nam, Viện Hàn lâm khoa học xã hội trong bài “Dư luận xã hội - mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu, đăng trên tạp chí Xã hội học số 1/1995 thì: Dư luận xã hội là sự thể hiện tâm trạng
xã hội, phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn về các sự kiện, các hiện tượng liên quan đến lợi ích xã hội, những lợi ích này có tính chất cấp bách, được mọi người quan tâm trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại
Với khả năng tác động một cách rộng lớn, nhanh chóng và mạnh mẽ vào xã hội, hoạt động báo chí có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn trong công tác tư tưởng nói chung, công tác truyền thông về ATGT nói riêng Nó không chỉ góp phần quan trọng tạo dư luận xã hội mà còn góp phần định hướng, hướng dẫn dư luận xã hội, tạo phản ứng tích cực hoặc tiêu cực trong xã hội
Trong việc tạo lập dư luận về ATGT, báo chí thông tin kịp thời; “xã hội hóa” những sự kiện, vấn đề về ATGT khiến những sự kiện, vấn đề đó có thể nhanh chóng trở thành mối quan tâm của công chúng, của xã hội
Không dừng lại ở việc khơi nguồn, tạo lập dư luận, báo chí còn định hướng, hướng dẫn dư luận, cụ thể là định hướng nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng về ATGT Báo chí thông tin nhanh, đầy đủ, phong phú và đa chiều về các sự kiện và vấn đề thời sự liên quan mật thiết đến lợi ích của đông đảo công chúng và các tầng lớp nhân dân, trong đó có lĩnh vực ATGT; giúp
họ nhận thức những gì đang diễn ra, trên cơ sở đó ý thức được vai trò, vị thế
Trang 32và lợi ích của chính mình Từ chỗ nhận thức, ý thức được những điều đó, họ
có thái độ, hành vi phù hợp
Định hướng dư luận xã hội không phải là cơ quan báo chí chỉ chọn những
sự kiện, vấn đề phù hợp với quan điểm thông tin của mình mới thông tin, bình luận, còn nếu khác hoặc trái thì im lặng làm ngơ Mà tất cả những sự kiện và vấn
đề thời sự liên quan đến lợi ích của đông đảo công chúng và nhân dân thì báo chí cần thông tin, bình luận để thu hút họ vào tầm ảnh hưởng của mình, từ đó góp phần định hướng nhận thức, thái độ và thống nhất hành vi trong giải quyết các vấn
đề trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có ATGT
Trong truyền thông về ATGT; báo chí mang đến cho công chúng thông tin về tình hình ATGT, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm trật tự ATGT Báo chí giúp công chúng nhìn nhận, đánh giá tình hình thực tiễn cũng như các chủ trương, chính sách đó; định hướng công chúng vào việc nhận thức cái gì là cần thiết; từ đó, công chúng tự xác định ý thức, thái độ, hành vi của mình Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước vừa là diễn đàn của nhân dân Sức mạnh định hướng của báo chí thể hiện ở việc thảo luận và giải quyết những vấn đề quan trọng, bức xúc về ATGT đang đặt ra; phê bình và đấu tranh chống lại những hiện tượng tiêu cực, lạc hậu, trì trệ, kém hiệu quả, không khả thi trong lĩnh vực ATGT
1.2.3 Báo chí là công cụ quản lý xã hội về ATGT
Báo chí giữ vai trò trung gian, là cầu nối giữa chủ thể và khách thể quản lý Báo chí tham gia quản lý xã hội về lĩnh vực ATGT trước hết thông qua việc đăng tải, phổ biến, giải thích đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các cấp, các ngành về ATGT cho công chúng biết, hiểu, nhận thức và hành động trong thực tiễn Song báo chí không chỉ tuyên truyền, động viên và tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện trong thực tế mà còn tham gia trực tiếp vào việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện đường lối, chính sách đó
Thứ hai, báo chí phản ánh, phân tích kịp thời các sự kiện, vấn đề
Trang 33ATGT; tình hình ATGT đang diễn ra; từ đó giúp các cơ quan lãnh đạo, quản
lý nắm bắt nhanh thực tiễn, kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoặc huỷ bỏ những chủ trương, chính sách, quy định không phù hợp Là diễn đàn của nhân dân, báo chí tập hợp, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân
và việc tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giao thông Một điều quan trọng nữa là báo chí phản ánh kịp thời ý kiến đóng góp của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để giúp Đảng, Nhà nước rút kinh nghiệm khi ban hành, triển khai những chủ trương, chính sách nói chung và các chủ trương, chính sách về giao thông nói riêng
Báo chí còn là kênh kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm ATGT Báo chí kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ATGT trong thực tiễn, qua đó giúp các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban, ngành có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh, bổ sung những chủ trương, chính sách về ATGT cho phù hợp
1.3 Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của tỉnh Lạng Sơn trong tuyên truyền về ATGT
1.3.1 Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
ATGT là một vấn đề mang tính thời sự và đặc biệt quan trọng tại mỗi quốc gia trên thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm, trên thế giới có khoảng 1,25 triệu người chết, 50 triệu người bị thương vì tai nạn giao thông, gây thiệt hại ước tính khoảng 3% GDP toàn cầu
Tại Việt Nam, tai nạn giao thông đã giảm liên tục cả 3 tiêu chí (số vụ,
số người chết, số người bị thương) qua từng năm Tuy nhiên, tai nạn giao thông giảm chưa bền vững, trung bình mỗi ngày vẫn còn 24 người chết, hơn
70 người bị thương do tai nạn giao thông Những năm qua, sự bùng nổ về phương tiện giao thông, tốc độ đô thị hóa cao trong khi kết cấu hạ tầng giao thông còn bất cập đã đặt ra nhiều thách thức cho công tác đảm bảo trật tự
Trang 34ATGT ở nước ta Với mục tiêu giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, một trong những giải pháp quan trọng mà Đảng, Nhà nước ta đã và đang chỉ đạo các cấp, ngành, đoàn thể trong đó có các cơ quan báo chí triển khai quyết liệt đó là đẩy mạnh truyền thông về ATGT nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông và nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, toàn xã hội đối với công tác này
Công tác thông tin, tuyên truyền về ATGT, đặc biệt là việc thông tin, phản ánh qua báo chí là nhiệm vụ quan trọng được Đảng, Nhà nước ta đề cập, quán triệt trong nhiều văn bản Có thể kể đến như Chỉ thị 18/2012 ngày 4/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác bảo đảm trật tự ATGT đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông Chỉ thị nêu rõ một trong
những giải pháp để đảm bảo ATGT là: “Đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp
luật về trật tự ATGT với nhiều hình thức và nội dung phù hợp để cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu, nhận thức rõ hiểm họa tai nạn giao thông; mỗi người khi tham gia giao thông thấy rõ trách nhiệm và tự giác chấp hành pháp luật về giao thông, thực hiện nếp sống “văn hóa giao thông” Chú ý biểu dương gương người tốt, việc tốt, đi đôi với phê phán, lên án các hành vi cố ý vi phạm, coi thường kỷ cương, pháp luật trật tự, ATGT.” [3]
Nghị quyết số 88/NQ-CP, ngày 24/8/2011 của Chính phủ về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự ATGT có nhiều điểm nhấn mạnh vai trò, nhiệm vụ của báo chí trong truyền thông về ATGT nhằm góp phần ngăn ngừa, kiềm chế tai nạn và ùn tắc giao thông như:
“Ủy ban ATGT Quốc gia chủ trì phối hợp với Bộ GTVT, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các cơ quan thông tin, báo chí tuyên truyền mạnh mẽ và thường xuyên tác hại của lạm dụng rượu, bia đối với sức khỏe và trật tự an toàn xã
Trang 35hội; nguy cơ gây tai nạn do lái xe uống rượu, bia; hậu quả tai nạn giao thông nguyên nhân từ rượu, bia; các quy định của pháp luật về xử phạt đối với người lái xe uống rượu, bia.”
“Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nếp sống “văn hóa giao thông ”
“Các báo, các đài phát thanh, truyền hình của trung ương và địa phương phải có chuyên mục tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo đảm trật
tự ATGT và văn hóa giao thông.” [9]
Trong Chiến lược quốc gia bảo đảm trật tự ATGT đường bộ đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ban hành ngày 24/10/2012, một trong những giải pháp được nhấn mạnh đó là:
Nâng cao dân trí của người dân về ATGT qua việc phát huy tối đa sức mạnh truyền thông trong tuyên truyền
Quyết định số 2043/QĐ-TTg, ngày 5/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tuyên truyền về ATGT giai đoạn 2013 - 2015 khẳng
định: “Tuyên truyền về ATGT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị ”,
đồng thời nhấn mạnh việc truyền thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng: “Tăng thời lượng, mở các chuyên trang, chuyên mục trên các phương
tiện thông tin đại chúng về pháp luật, quy định của pháp luật, pháp chế, cơ chế, chính sách đã ban hành của Đảng, Nhà nước về ATGT”; “Sản xuất các phóng sự, chương trình quảng cáo trên phát thanh, truyền hình theo các chủ
đề khác nhau nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tự giác chấp hành pháp luật ATGT của người dân ” [48]
Ngoài các chỉ thị, nghị quyết, công tác truyền thông và vai trò của báo chí trong thông tin, phản ánh về ATGT đều được nhấn mạnh trong các văn bản luật về giao thông Cụ thể, trong Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường
Trang 36sắt, Luật Giao thông đường thủy nội địa đều có điều khoản cụ thể đề cập đến vai trò, trách nhiệm của cơ quan thông tin đại chúng nói chung và báo chí nói riêng trong tuyên truyền đảm bảo ATGT: Cơ quan thông tin, tuyên truyền
có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giao thông đường
bộ/đường sắt/ đường thuỷ nội địa thường xuyên, rộng rãi đến toàn dân
Có thể nói, việc truyền thông về ATGT luôn được Đảng, Nhà nước ta xác định là một trong những giải pháp quan trọng để ngăn ngừa, kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông và trong đó, vai trò của báo chí luôn được đặt lên hàng đầu
1.3.2 Quan điểm, chủ trương của cấp ủy, chính quyền tỉnh Lạng Sơn
Đối với Lạng Sơn, trong quá trình lãnh đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo công tác đảm bảo ATGT Chẳng hạn như ngay sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 18/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự ATGT đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa
và khắc phục ùn tắc giao thông; Tỉnh ủy Lạng Sơn đã ban hành Chương trình hành động số 61-CTr/TU và Kế hoạch số 31-KH/TU của Tỉnh ủy về tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị số 18 Trên cơ sở đó, UBND tỉnh cũng
đã xây dựng Kế hoạch số 72/KH-UBND ngày 27/2/2012 để chỉ đạo các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố triển khai nghiêm túc 6 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm theo chỉ đạo của Trung ương Đảng và Ban Chấp hành
Đảng bộ tỉnh; trong đó chú trọng truyền thông về ATGT “Sở Thông tin và
Truyền thông, Báo Lạng Sơn, Đài PTTH tỉnh phối hợp với các đoàn thể chính trị, xã hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật trật tự ATGT đến tận khu dân cư và từng gia đình…” [53] Cấp ủy từ cấp tỉnh đến cơ sở, các cơ
quan, ban, ngành của tỉnh đều xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện Và còn rất nhiều văn bản khác của Đảng, Nhà nước về công tác đảm bảo ATGT
Trang 37đều được Tỉnh ủy Lạng Sơn, UBND tỉnh cụ thể hóa thành các chỉ thị, chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Trong các kế hoạch này, công tác truyền thông về ATGT, nhất là vai trò, trách nhiệm của các cơ quan báo chí luôn được nhấn mạnh
Ngoài các văn bản chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, hàng năm, Ban ATGT tỉnh Lạng Sơn đều xây dựng kế hoạch triển khai “Năm ATGT” theo chỉ đạo của Chính phủ và Ủy ban ATGT Quốc gia, trong đó, một trong những giải pháp để ngăn ngừa, kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông được chỉ rõ là: tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về trật tự ATGT; tăng thời lượng, tần suất, sắp xếp thời gian phát sóng hợp lý chuyên mục ATGT; tăng cường hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về bảo đảm trật tự ATGT, đề cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông đại chúng
Từ quan điểm, chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban ATGT tỉnh Lạng Sơn luôn chú trọng tuyên truyền về ATGT thông qua các cơ quan báo chí Ông Lâm Việt Hùng, Phó Chánh Văn phòng Ban ATGT tỉnh Lạng Sơn
cho biết: Hàng năm, Ban ATGT tỉnh Lạng Sơn đều dành một phần kinh phí
đáng kể cho công tác truyền thông về ATGT; đặc biệt là hỗ trợ kinh phí cho việc thực hiện các chuyên mục, chuyên trang ATGT của Báo Lạng Sơn và Đài PTTH Lạng Sơn Cụ thể mức hỗ trợ này khoảng 50 - 60 triệu đồng/năm (đối với báo); 90 - 100 triệu đồng/năm (đối với đài) (Xem Phụ lục 1)
Như vậy có thể nói, công tác thông tin, tuyên truyền về ATGT nói chung và truyền thông về ATGT trên báo chí địa phương luôn được các cấp
ủy, chính quyền tỉnh Lạng Sơn chú trọng, quan tâm, coi đây là một trong những giải pháp quan trọng để góp phần kiềm chế, ngăn ngừa tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông trên địa bàn
Trang 38Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; quan điểm, chủ trương của tỉnh Lạng Sơn về truyền thông, giáo dục, phổ biến pháp luật về ATGT là cơ sở quan trọng; định hướng cho công tác thông tin, tuyên truyền
về ATGT của các cơ quan báo chí nói chung và báo chí địa phương nói riêng
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, những vấn đề lý luận chung nhất liên quan đến báo chí và ATGT đã được đề cập Bên cạnh đó, chương này cũng khái quát thế mạnh, hạn chế của từng loại hình báo chí (báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử); đồng thời phân tích vai trò của báo chí với việc đảm bảo ATGT Theo đó, báo chí là kênh thông tin hữu hiệu về ATGT, báo chí giải đáp, giải thích những sự kiện, vấn đề ATGT đang diễn ra để công chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc; báo chí khơi nguồn, định hướng nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng về ATGT Không chỉ vậy, báo chí còn là công cụ quản lý xã hội về ATGT thông qua việc kiểm tra, giám sát công tác đảm bảo trật tự ATGT đồng thời tạo diễn đàn để phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách về ATGT của Đảng, Nhà nước, của địa phương… Cũng trong chương 1, tác giả khái quát quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Lạng Sơn đối với công tác đảm bảo ATGT nói chung, thông tin, tuyên truyền về ATGT nói riêng Đó là cơ sở quan trọng; định hướng để cơ quan báo chí, trong đó có báo chí địa phương phát huy vai trò trong thông tin, phản ánh các vấn đề ATGT
Trang 39Chương 2 VẤN ĐỀ AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN BÁO CHÍ LẠNG SƠN
2.1 Đặc điểm tình hình giao thông trên địa bàn Lạng Sơn
2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và xã hội của Lạng Sơn
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Đông Bắc, trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Lạng Sơn và có 10 huyện gồm: Tràng Định, Văn Lãng, Bình Gia, Bắc Sơn, Văn Quan, Cao Lộc, Lộc Bình, Chi Lăng, Đình Lập, Hữu Lũng với tổng diện tích tự nhiên 832.378 ha Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, toàn tỉnh có 733.131 người, chủ yếu dân số sống ở khu vực nông thôn (chiếm 80,67%); có 7 dân tộc chủ yếu là: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông Mật độ dân số trung bình là 88 người/km2, phân bố rất không đồng đều giữa các huyện, thành phố
Lạng Sơn có 231,74 km đường biên giới Quốc gia với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây - Trung Quốc; là 1 trong 7 tỉnh biên giới phía Bắc nằm ở vùng thấp, có các tuyến quốc lộ đi qua ngắn nhất nối nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa với Việt Nam và các nước ASEAN Toàn tỉnh có 5 huyện biên giới là Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập và
có 20 xã, 1 thị trấn giáp biên; có 2 cửa khẩu quốc tế, trong đó có cửa khẩu đường bộ là Hữu Nghị lớn nhất và quan trọng nhất cả nước; ngoài ra còn có 2 cửa khẩu chính và 7 điểm chợ đường biên khác
Vị trí địa lý là một thế mạnh nổi bật của tỉnh Lạng Sơn, tuy Lạng Sơn
là tỉnh miền núi biên giới nhưng độ cao trung bình so với mặt nước biển chỉ là
251 m, nằm trọn trong lòng máng trũng nối Cộng hoà nhân dân Trung Hoa với Việt Nam và các nước ASEAN, từ trung tâm tỉnh lỵ Lạng Sơn đến thủ đô
Hà Nội chỉ có trên 150 km (khoảng 2,5 giờ đi ô tô) và đến thành phố Nam
Trang 40Ninh, thủ phủ của Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây - Trung Quốc trên
200 km (khoảng 3 giờ đi ô tô)
Tất cả 11 huyện, thành phố của tỉnh đều có các tuyến quốc lộ quan trọng đi qua, đó là các quốc lộ: 1A (Lạng Sơn - mũi Cà Mau), 1B (Lạng Sơn - Thái Nguyên), 4A (Lạng Sơn - Cao Bằng), 4B (Lạng Sơn - Quảng Ninh) Trong quy hoạch phát triển tuyến hành lang kinh tế Việt - Trung thì Lạng Sơn
là một điểm quan trọng nằm trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh - Hà Nội
- Hải Phòng - Quảng Ninh và trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 cũng xác định: trước mắt, Lạng Sơn là vùng đệm của tam giác kinh tế phát triển vùng đồng bằng sông Hồng là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và trong tương lai không xa, Lạng Sơn sẽ trở thành một cực của tứ giác phát triển: Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Lạng Sơn còn nằm trong tiểu hành lang Bắc - Nam của Chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng
2.1.2 Tình hình giao thông trên địa bàn Lạng Sơn
2.1.2.1 Mạng lưới giao thông
Hệ thống giao thông vận tải của Lạng Sơn chủ yếu là giao thông đường
bộ và đường sắt, giao thông đường sông chưa phát triển vì các sông có lưu lượng nước nhỏ, nước cạn, nhiều ghềnh thác, vận tải hàng không chưa có
Giao thông đường bộ
Lạng Sơn có hệ thống giao thông đường bộ tương đối thuận lợi, bao gồm: quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và các tuyến đường đến các xã, liên xã, mật độ đường bộ của Lạng Sơn đạt 0,44 km/km2
và 4,9 km/1.000 dân; tổng chiều dài các tuyến đường bộ là 3.657 km
Thành phố Lạng Sơn và tất cả trung tâm thị trấn huyện lỵ các huyện đều có quốc lộ đi qua, đó là các tuyến: Quốc lộ 1A, 1B, 3B, 4A, 4B, 279 và
31 với tổng chiều dài 616,2 km, trong đó có 204,2 km mặt đường bê tông