CNĐQ Chủ nghĩa đế quốc CTTL Chiến tranh tâm lý DIA Cục Tình báo quốc phòng Mỹ ICA Tổ chức thông tin quốc tế IVS International Voluntary Service Thanh niên Chí nguyện Quốc tế JUSPAO Jo
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THÁI SƠN
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHỐNG “CHIẾN TRANH TÂM LÝ”
CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM
TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975
Ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Phạm Xuân Mỹ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực Các kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Sơn
Trang 3Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: “CHIẾN TRANH TÂM LÝ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHỐNG “CHIẾN TRANH TÂM LÝ” Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1965 - 1968) 8
1.1 “Chiến tranh tâm lý” của đế quốc Mỹ (âm mưu và thủ đoạn) 8
1.2 Quá trình Đảng lãnh đạo chống “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1965 - 1968) 21
Chương 2: THỦ ĐOẠN MỚI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ TRONG “CHIẾN TRANH TÂM LÝ” VÀ ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHỐNG “CHIẾN TRANH TÂM LÝ” (1969 - 1975) 42
2.1 Thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ trong “Chiến tranh tâm lý” 42
2.2 Chủ trương và chỉ đạo của Đảng chống “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ (1969 - 1975) 47
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 68
3.1 Nhận xét 68
3.2 Một số kinh nghiệm 89
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 4CNĐQ Chủ nghĩa đế quốc
CTTL Chiến tranh tâm lý
DIA Cục Tình báo quốc phòng Mỹ
ICA Tổ chức thông tin quốc tế
IVS International Voluntary Service (Thanh niên Chí nguyện Quốc tế) JUSPAO Joint United States Public Affairs Office
(Cơ quan Liên vụ Thông tin hoa kỳ)
M & CQSG Mỹ và chính quyền Sài Gòn
MAAG Millitary Advisory Assistance Group (Nhóm Cố vấn Quân sự) MACV Millitary Assistance Command, Vietnam
(Bộ Chỉ huy Viện trợ quân sự ở Việt Nam) OSA Office of Special Assistance for the Ambassador
(Văn phòng trợ lý đặc biệt cho Đại sứ) OSS Office of Strategic Services
(Văn phòng phụ trách các dịch vụ chiến lược) POLWAR Political War (Chiến tranh chính trị)
PSYOPS Psychological Operations Committee
(Ủy ban phụ trách các hoạt động tâm lý chiến) RSC Regional Servise Center (Trung tâm Dịch vụ khu vực)
RFA Radio Free Asean (Đài Phát thanh châu Á tự do)
RFE Radio Free Europe (Đài Phát thanh châu Âu tự do)
USAID United States Agency for International Development
(Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ) USIA United States Information Agency (Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ)
USIS United States Information Service (Liên vụ Thông tin Hoa Kỳ )
USOM United States Operations Mission (Phái bộ Viện trợ Hoa Kỳ) VOA Voice of America (Đài Phát thanh Hoa Kỳ)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chiến tranh tâm lý là cuộc chiến tranh đặc biệt nguy hiểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của Chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ), là cuộc chiến trên lĩnh vực chính trị tư tưởng và văn hoá đang được CNĐQ và các thế lực thù địch sử dụng nhằm phá hoại các nước không đi theo quỹ đạo của chúng
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, giới chính khách Mỹ đã cho rằng cần tập trung sức mạnh tổng lực để “xây dựng con đê ngăn chặn làn sóng đỏ” – Xã hội chủ nghĩa lan từ Liên Xô sang Trung Quốc, từ Trung Quốc sang Việt Nam và cả Đông Nam Á, theo thuyết Đô-mi-nô Do vậy, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân Việt Nam không chỉ phải đối đầu với kẻ thù trên mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, mà cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng không kém phần cam go, phức tạp và gay gắt, được xem là mặt trận quan trọng của Đảng nhằm vạch mặt âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, vừa làm
rõ sự nghiệp giải phóng dân tộc chính nghĩa của nhân dân ta, đặc biệt khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ ở Việt Nam Đây cũng chính là một trong những thành công nổi bật của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tuy vậy, vẫn còn những mặt hạn chế chưa thấy hết sự nguy hiểm của những
âm mưu, phương thức, thủ đoạn tác động tư tưởng, luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của CNĐQ và các thế lực thù địch; các nội dung, biện pháp phòng, chống CTTL của địch cũng còn nhiều hạn chế
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đang ở thời kỳ với nhiều thời cơ, vận hội nhưng cũng có nhiều thách thức Sự nghiệp ấy đòi hỏi phải kiên định, vững vàng mục tiêu, định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, nó đi ngược lại với ý muốn, tham vọng của CNĐQ
và các thế lực phản động Do vậy, đất nước ta, sự nghiệp vĩ đại của Đảng và nhân dân ta luôn là đối tượng phá hoại bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của CNĐQ, đứng đầu là đế quốc Mỹ Dự báo tình hình những năm sắp tới,
Trang 6Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nhận định: “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền hòng thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”, trong đó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một trong những hướng tiến công chủ yếu
Trong những năm gần đây, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới
và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là tin học đang phát triển mạnh
mẽ cùng với những khó khăn, thách thức nảy sinh do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu và những diễn biến phức tạp mới trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta Sử dụng CTTL nhằm phá hoại về chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức, lối sống, tiến tới phá hoại, làm suy yếu từ bên trong; kích động các mâu thuẫn trong xã hội, tạo ra các lực lượng chính trị đối lập, khuyến khích tư nhân hoá về kinh tế,
đa nguyên chính trị làm phai nhạt mục tiêu, lí tưởng xã hội chủ nghĩa ở một số
bộ phận cán bộ và nhân dân; triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, thiếu sót của Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực đời sống xã hội, tạo nên sức ép, từng bước “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và thay đổi đường lối chính trị ở nước ta
Xuất phát từ tính chất đặc biệt nguy hiểm của CTTL, tôi lựa chọn đề tài
“Đảng lãnh đạo chống “Chiến tranh tâm lý” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975” nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn những
thách thức đặt ra đối với cách mạng Việt Nam, từ đó góp phần thấy được nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và có thể đúc kết những kinh nghiệm trong công tác tư tưởng hiện nay của Đảng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
“Đảng lãnh đạo chống “Chiến tranh tâm lý” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975” là đề tài mới chưa được nghiên
Trang 7cứu Đây là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, nhất
là khoa học quân sự và khoa học lịch sử
Trong nhiều năm qua đã có nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp
chí khoa học chuyên ngành như Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Lịch sử quân
sự, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Xưa & Nay, Tạp chí Thông tin Khoa học Quân sự (chuyên san), Thông tin chuyên đề, Tạp chí Tâm lý học
Tạp chí Thông tin Khoa học Quân sự (chuyên san): Võ Văn Bá (6-2003)
“Tác động của chiến tranh công nghệ cao đối với con người và Chiến tranh tâm lý” Dương Kiện Bân (6-2003) “Về lực lượng tâm lý chiến của quân đội Mỹ” Cao Cường (6-2003), “Chiến tranh tâm lý trong điều kiện công nghệ cao”
Tạp chí Khoa học Quân sự Không quân: Cuộc phỏng vấn Trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Không quân Quân khu Thành Đô, Trung Quốc (2010) Thông tin Chuyên đề: Võ Văn Bá (7-2001), “Chiến tranh tâm lý trong chiến tranh công nghệ cao”, Học viện Quốc phòng, Hà Nội
Tạp chí Xưa & Nay: Tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (số 234 ngày 15-4-2005), “Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”
Tạp chí Học Tập (6-1967) “Quyết tâm đánh thắng chiến tranh tâm lý của
Nhân Dân (24-8-1968) “Gián điệp của địch ra đầu thú chính quyền miền Bắc”
Báo Lao Động (14-9-1965) “Chúng ta hãy đập tan chiến tranh tâm lý
và chiến tranh gián điệp của đế quốc Mỹ” Quân đội Nhân dân (9-1968)
“Toán biệt kích bị tiêu diệt tại núi Don Pu”
Trang 8Đối với sách: Lữ Phương (1981), “Cuộc xâm lăng văn hóa và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam”, Nxb Văn hóa Hà Nội Mai Hồng Bỉnh (Chủ biên, 2005), Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới, Nxb Quân đội Nhân
dân, Hà Nội Hoàng Đình Châu (Chủ biên, 2002), Nguyễn Đình Gấm, Ngô
Minh Tuấn, Chiến tranh tâm lý và chống chiến tranh tâm lý, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Hoàng Đình Châu (Chủ biên, 2003), Lịch sử tâm lý học và tâm lý học quân sự, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Hoàng Đình Châu (Chủ biên, 2005), Tâm lý học quân sự, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Hoàng Đình Châu (2008), Những vấn đề tâm lý để phát huy nhân tố con người trong chiến tranh hiện đại, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội
Nhiều kết quả nghiên cứu đã được các cơ quan chức năng công bố: Viện
Lịch sử Đảng có công trình Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 – 1975) Viện Lịch sử quân sự có bộ Lịch sử kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước1954 - 1975 Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam 1954 - 1965 và Lịch sử Việt Nam 1965 - 1975 Trần Văn Giàu “Miền Nam giữ vững thành đồng” Trần Văn Trà “Cảm nhận về Xuân Mậu Thân” Hồ Hữu Nhựt “Phong trào đấu tranh chống Mỹ của giáo chức, học sinh, sinh viên Sài Gòn Cao Văn Lượng “Công
nhân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Luận án Tiến sĩ Lịch sử: Đảng chỉ đạo giành thắng lợi từng bước trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thời kỳ 1965-1975 Tác giả: Nguyễn Xuân Tú Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002
Luận án Tiến sĩ Lịch sử: Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh chống
chương trình bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tại miền Đông Nam
Bộ từ 1961 đến 1965 Tác giả Trần Như Cương Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Mã số 5.03.16 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003
Trang 9Luận án Tiến sĩ Lịch sử, có: Đấu tranh chống gián điệp biệt kích của Mỹ -
Ngụy xâm nhập vào miền Bắc bằng đường không (1961 -1973) Phụ đề: LATS Lịch sử Mã số: 62.22.54.05 Tác giả: Phạm Thanh Hải Nơi xuất bản: Hà Nội Nơi bảo vệ: Trường ĐHKHXH&NV Ngày bảo vệ 8-8-2008 Năm bảo vệ 2008 Phòng đọc tài liệu số tập trung, tầng 2, nhà D, Thư viện Quốc gia Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ: Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo kết hợp đấu
tranh quân sự với đấu tranh chính trị đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961-1965) Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Tác giả: Nguyễn Tiến Duẩn Mã số 602256 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004
Luận văn Thạc sĩ: Vai trò của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1968) Tác giả: Đoàn Luyến Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60.22.54 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Năm bảo vệ 2007
Ngoài ra, còn có nhiều chính khách, tướng lĩnh trong quân đội đối phương trước đây cũng bỏ nhiều công sức nghiên cứu, tìm hiểu để cố cắt nghĩa về nguyên nhân thất bại của họ trong cuộc chiến tranh này
Qua nghiên cứu những tài liệu đã nêu trên, vấn đề phòng, chống CTTL đã được các cơ quan, các nhà khoa học trong và ngoài quân đội nghiên cứu ở những bình diện, lĩnh vực khác nhau Các công trình nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực tâm lý học xã hội và tâm lý học quân sự đã có những đóng góp rất quan trọng cả
về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, từ góc độ “Đảng lãnh đạo chống “Chiến tranh tâm lý” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975” vẫn còn những khoảng trống cần được nghiên cứu đầy đủ hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo chống CTTL của đế quốc Mỹ thời
kỳ 1965-1975, rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ cho cuộc đấu tranh
tư tưởng hiện nay của Đảng
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Sự hình thành, âm mưu, thủ đoạn, phương tiện tiến hành CTTL của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975
- Hệ thống những chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Trung ương Cục và các Đảng bộ miền Nam chống CTTL của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam
từ năm 1965 đến năm 1975
- Đánh giá thành công, hạn chế và nêu ra một số kinh nghiệm cần thiết
để phục vụ cho cuộc đấu tranh tư tưởng của Đảng hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chỉ tập trung nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo của Đảng chống CTTL của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến 1975, đề ra chủ trương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình lãnh đạo thông qua chủ trương của Đảng chống CTTL của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975 và quá trình chỉ đạo thông qua chủ trương đó
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh chính trị, đấu tranh tư tưởng chống CTTL của đế quốc Mỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Dùng phương pháp lịch sử và logic và kết hợp giữa hai phương pháp đó
để tập hợp, lựa chọn, mô tả, đánh giá các sự kiện lịch sử có liên quan đến CTTL, sự lãnh đạo của Đảng chống CTTL của đế quốc Mỹ từ năm 1965 đến năm 1975
Trang 116 Cái mới của luận văn
Mảng đề tài này ít được nghiên cứu Luận văn cố gắng làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo chống CTTL của đế quốc Mỹ, làm rõ sự thâm độc, ác liệt của CTTL trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Về lý luận
Luận văn tái hiện lại quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đấu tranh chính trị, đấu tranh tư tưởng chống CTTL của đế quốc Mỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến năm 1975
7.2 Về thực tiễn
Luận văn đã chỉ ra sự tác động, nguy hiểm của CTTL, chủ trương và quá trình Đảng chỉ đạo chống CTTL của đế quốc Mỹ, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong công tác tư tưởng của Đảng, nhằm nâng cao kết quả phòng, chống CTTL của địch ở nước ta hiện nay
Các kết quả của công trình nghiên cứu này góp thêm một tài liệu tham khảo trong dạy học nhằm tăng cường giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác trước sự phá hoại về chính trị tư tưởng và tâm lý của CNĐQ và các thế lực thù địch, góp phần đánh bại mọi âm mưu “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 12Chương 1
“CHIẾN TRANH TÂM LÝ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHỐNG “CHIẾN TRANH TÂM LÝ”
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1965 - 1968)
1.1 “Chiến tranh tâm lý” của đế quốc Mỹ (âm mưu và thủ đoạn)
1.1.1 “Chiến tranh tâm lý” ở miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ
1.1.1.1 “Chiến tranh tâm lý” của đế quốc Mỹ
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước tư bản chủ nghĩa, trừ Mỹ đều suy yếu nghiêm trọng Trong bối cảnh đó Mỹ và Liên Xô, đứng đầu hai hệ thống đối lập gia tăng sức mạnh kinh tế, quân sự, chạy đua vũ trang nhằm thực hiện chiến lược của mình Với sức mạnh to lớn của mình, Mỹ có chiến lược toàn cầu muốn chi phối toàn thế giới
Đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam là nằm trong chiến lược
đó Mỹ âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới; thành phòng tuyến chống chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á, thành căn cứ quân sự chống Cộng sản và khống chế các nước trong khu vực, thành thị trường tiêu thụ hàng hóa chiến tranh, đi theo lối sống, tự do kiểu Mỹ
Chiến lược toàn cầu của Mỹ gồm có chiến lược chung và chiến lược quân sự toàn cầu Chiến lược chung gồm chỉ đạo chiến lược tất cả các mặt chính trị, kinh tế ngoại giao và chiến lược quân sự toàn cầu
Trong bối cảnh đó, CTTL của đế quốc Mỹ ra đời, hỗ trợ cho cuộc chiến toàn diện chống Liên Xô Các nhà hoạch định chiến lược của đế quốc Mỹ cho rằng:
Sử dụng những phương tiện và biện pháp tác động tin thần để tước
vũ khí tư tưởng, làm giảm sút tinh thần, làm lung lạc tâm lý và kích thích những hành động tiêu cực và gây ra hiện tượng không hoạt động trong dân chúng và trong binh sĩ ở các nước khác trong thời bình cũng như trong thời chiến, công việc đó ở nước ngoài được gọi
là “chiến tranh tâm lý” [27, tr.96]
Trang 13Ngày 22 tháng 12 năm 1946, G Kennan-chiến lược gia chính trị của
Mỹ, nói: “Hoa Kỳ không có khả năng tiêu diệt Liên Xô bằng vũ lực, muốn chiến thắng Liên Xô cần phải tăng cường sử dụng các “thủ đoạn phi quân sự, thực hiện “diễn biến hòa bình” làm “thay đổi tính chất chính quyền nhà nước
xã hội chủ nghĩa”… [27, tr.218-219] Tư tưởng chiến lược này đã được vận dụng, phát triển không ngừng Các phương tiện thông tin: Đài phát thanh-truyền hình, sách báo, phim ảnh, ca nhạc, văn học nghệ thuật, giáo dục, thể thao đều được Mỹ sử dụng để tiến hành CTTL với các nước xã hội chủ nghĩa
Giám đốc CIA tuyên bố:
Mục tiêu là phải gieo rắc ở Liên Xô sự hỗn loạn và phải bắt đầu bằng chiến tranh tâm lý, thay giá trị của họ bằng đồ rởm và tìm mọi cách ủng hộ và nâng đỡ đám gọi là “nghệ sĩ” để họ truyền bá bạo lực, đồi trụy, chủ nghĩa vô liêm sỉ, phản bội Tóm lại, mọi thứ vô đạo đức Từ đó chiến tranh tâm lý chống Liên Xô được nâng lên
hàng quốc sách ở Mỹ, gọi là chiến tranh tâm lý tổng lực [39]
Đến năm 1948, đạo luật Smith-Mundt ra đời-đạo luật về trao đổi văn hóa
và thông tin Mỹ, cho phép giới cầm quyền Mỹ có thể sử dụng ngân quỹ quốc gia vào việc lập ra các tổ chức CTTL trên khắp thế giới Trong hai năm 1949 -
1950, Mỹ đã chi 50 triệu đô-la cho hoạt động CTTL Năm 1949 Mỹ lập Ủy ban châu Âu tự do có Đài Phát thanh châu Âu tự do Năm 1952, F Đalét - Ngoại trưởng Mỹ cho rằng:
Nước Mỹ có đủ sức mạnh để thực hiện cuộc “giải phóng” nhân loại khỏi chế độ cộng sản mà không cần chiến tranh Phương cách mà ông ta đưa ra là dùng “biện pháp hòa bình”, “phi vũ trang”, đánh thẳng vào Đảng Cộng sản, gây mâu thuẫn từ sự chia
rẽ nội bộ Đảng và Nhà nước, sự phân ly giữa người dân và chính quyền các cấp; gây “tự diễn biến” trong nội bộ [5, tr.131]
Trang 14F Đalét khẳng định:
Mỹ và phương Tây sẽ chiến thắng chủ nghĩa xã hội mà không cần chiến tranh, tức bằng “diễn biến hòa bình” Chiến tranh tâm lý đã chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời đại hiện tại và ngày càng ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống chúng ta Chiến tranh tâm lý đã trở thành một khí giới chiến tranh chính thế kỷ hai mươi [63, tr.11]
1.1.1.2 “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam
a) “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1954-1964)
Từ sau năm 1950, mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ bộc lộ công khai Mỹ viện trợ cho Pháp ngày càng tăng với âm mưu thay Pháp chiếm Miền Nam Việt Nam Năm 1953, Tổng thống Mỹ Aixenhao đề ra chiến lược “trả đũa ào ạt” làm chiến lược quân sự toàn cầu mới, thay cho chiến lược “ngăn chặn” của Tổng thống Truman Tháng 7 năm 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt
Nam lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chỉ đạo Ngô Đình Diệm kiên quyết
từ chối tuyển cử, đàn áp Cộng sản
Từ năm 1955, Mỹ thành lập cơ quan Liên vụ Thông tin Hoa Kỳ (USIS)
ở số 8, Lê Quý Đôn, Sài Gòn Đây là chi nhánh của Hãng Thông tin Hoa Kỳ (USIS), chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn USIS không chỉ làm chức năng thông tin báo chí, nó là đầu mối chỉ đạo các hoạt động CTTL và phá hoại tư tưởng của CIA ở nước ngoài USIS được giao chỉ đạo chương trình hoạt động của mấy chục cơ quan văn hóa thông tin Hoa Kỳ
ở Sài Gòn và các tỉnh, thành phố miền Nam Việt Nam Các giám đốc của USIS đều là nhân viên của CIA Mọi hoạt động văn hóa truyền thông của USIS đều xuất phát từ chính sách của nhà nước Mỹ, CIA mưu đồ bành trướng sức mạnh Mỹ, lối sống Mỹ, tư tưởng Mỹ trên toàn thế giới
Những năm 1961-1963, Tổng thống Mỹ John F Kennedy đưa ra chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, với thủ đoạn hoà bình: “mũi tên và cành ô liu” USIS được đổi tên thành Cơ quan dịch vụ công cộng Hoa Kỳ (JUSPAO) với
Trang 15nhiều bộ phận liên quan như đại diện của đại sứ, Chủ tịch JUSPAO, đại diện MACV, đại diện USAID, Văn phòng trợ lý đặc biệt của Đại sứ OSA, phụ trách các hoạt động CTTL thực chất là CIA ở Việt Nam
Nhiệm vụ của USIS - JUSPAO trước hết là công khai tuyên truyền cho đường lối chiến tranh và văn hóa Mỹ, trợ giúp và chỉ đạo hoạt động bộ máy CTTL của chính quyền Sài Gòn, trực tiếp thực hiện các chiến dịch tâm lý chiến theo yêu cầu của USAID và phục vụ cho Đoàn thanh niên tình nguyện quốc tế Mỹ (IVS), tham gia chương trình bình định nông thôn, thu thập tin tức
và xây dựng mạng lưới cộng tác viên cho hoạt động tình báo của CIA
USIS - JUSPAO có 37 cơ sở tại các tỉnh, thành phố miền Nam gồm các trụ
sở đại diện, các hội Việt Mỹ, các phòng triển lãm, phòng bán sách, trường dạy Anh ngữ, các báo tạp chí CIA còn sử dụng các căn cứ, các cơ sở ở Singapore, Thái Lan, Philippines vào các hoạt động tuyên truyền CTTL và phá hoại miền Bắc Việt Nam Các giám đốc của USIS đều là nhân viên của CIA hoạt động của nó được sự bảo trợ của Tổ chức Thông tin quốc tế (ICA), thực chất hoạt động là cơ quan tuyên truyền công khai và bí mật cho CIA CIA cũng bí mật tài trợ cho Trung tâm Huấn luyện an ninh (STC - trường huấn luyện CTTL )
Mỹ tổ chức sản xuất một số lượng lớn tạp chí, áp phích, truyền đơn
và các loại tài liệu có màu sắc rất đẹp, in ít nhất 14 thứ tiếng châu Á đem thả bằng máy bay xuống miền Bắc Việt Nam Các chuyên viên CTTL của Anh, Australia được mời làm cố vấn cho chính quyền Sài Gòn Các cơ quan CTTL của Nam Hàn, Đài Loan cũng tham gia hỗ trợ cho CTTL ở Việt Nam, Ngoài ra, còn có các tổ chức trá hình, như những “đội hòa bình”, những “đoàn cứu trợ”, những “phái đoàn tham quan”, “thăm viếng” hỗ trợ cho chính sách xâm lược Theo quan điểm của Mỹ: “Đặc điểm của chiến tranh hiện đại là một cuộc tổng thể chiến trường kỳ, lấy tư tưởng chiến làm trọng tâm Mặt trận tư tưởng đóng vai trò vô cùng quan trọng Đây là một trận tuyến vô hình, nhưng rất quan trọng vì nó giữ vai trò quyết định cho sự thắng lợi cuối cùng” [63, tr.22]
Trang 16b) “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1965-1975)
Từ năm 1965, tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam,
hệ thống tổ chức bộ máy CTTL của Mỹ và chính quyền Sài Gòn gồm:
- Một là, bộ phận Mỹ trực tiếp tổ chức và điều hành gồm các đài phát thanh bí mật như Đài Phát thanh Tự Do, Đài Phát thanh Mẹ Việt Nam, Đài Phát thanh Gươm thiêng Ái quốc, Đài Phát thanh Giải phóng Nam Bộ Đến
năm 1973, Mỹ giao Đài Phát thanh Tự Do cho Tổng cục Chiến tranh chính trị quân
đội Sài Gòn, giữ lại Đài Phát thanh Mẹ Việt Nam cho tới trước ngày 30-4-1975 thì
gỡ máy móc và đưa số lớn nhân viên sang Mỹ
- Hai là, bộ phận chỉ đạo chiến tranh tâm lý do phụ tá đặc biệt cho tổng thống về các vấn đề chính trị và văn hóa điều hành
Bộ phận này chỉ đạo công tác CTTL trong phạm vi toàn quốc, cả dân sự và quân sự Từ năm 1955 đến 1968, cơ quan này chỉ đạo chung về CTTL lấy tên là Ủy ban Điều hợp tâm lý chiến Năm 1969, nó đổi thành Ủy ban Động viên chính trị Sang năm 1970 lại đổi ra Ủy ban Thông tin đại chúng Bộ Thông tin chiêu hồi phụ trách thông tin tuyên truyền trong và ngoài nước và có tổ chức tới các quận, huyện gọi là Chi thông tin chiêu hồi Các cơ quan Cảnh sát quốc gia, Xây dựng nông thôn, Phát triển sắc tộc… có Nha CTTL để phối hợp với Bộ Thông tin chiêu hồi thực hiện chương trình CTTL
Những năm 70, Tổng thống Ních-xơn triệt để sử dụng chiến lược “răn
đe thực tế” và chính sách ngoại giao “cây gậy và củ cà rốt”, vừa đe doạ bằng sức mạnh quân sự, vừa mua chuộc bằng lợi ích kinh tế nhằm khuất phục các nước Trên thực tế, Mỹ một mặt hoà hoãn với các nước xã hội chủ nghĩa; tiến hành thẩm thấu tư tưởng, văn hoá, gieo rắc hạt giống phá hoại từ bên trong Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đàm phán trên thế mạnh để thực hiện
“diễn biến hòa bình” là một phương sách của Ních-xơn Từ CTTL đến “Diễn biến hòa bình” là một quá trình hình thành phát triển Lúc đầu là phương thức, thủ đoạn dần phát triển thành chiến lược hoạt động của đế quốc Mỹ, trong đó Việt Nam, Lào, Campuchia là nơi được Mỹ quan tâm nhất
Trang 17CTTL của đế quốc Mỹ nhanh chóng hoạt động ráo riết trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao ; đồng thời, còn có thêm nhiều tổ chức CTTL “đồng minh”, cùng hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam Được Mỹ trợ giúp biên soạn tài liệu để huấn luyện, bộ máy CTTL của chính quyền Sài Gòn có quy mô lớn, khá hoàn chỉnh, hoạt động bài bản có tính quốc tế “Khi chiến tranh tâm lý của đế quốc Mỹ trực tiếp hoạt động trên đất nước ta là lúc mà tổ chức và trang bị của nó đã qua nhiều bước phát triển, nhiều lần rút kinh nghiệm, bổ sung, cải tiến, đạt tới mức rộng lớn, tinh vi và hoàn chỉnh với những nỗ lực cao nhất kể từ đó trở về trước” [63, tr.20]
- Ba là, bộ phận chiến tranh tâm lý của chính quyền Sài Gòn
Được Mỹ “trợ giúp”, tổ chức chiến tranh tâm lý của chính quyền Sài Gòn thuộc loại quy mô lớn, khá hoàn chỉnh Chính quyền Sài Gòn coi chống Cộng là nhiệm vụ chính yếu để phục vụ cho chính sách xâm lược của Mỹ Vũ khí CTTL của chính quyền Sài Gòn phục vụ CTTL của Mỹ là lấy ý thức hệ dân chủ, tự do kiểu Mỹ chống lại ý thức hệ cộng sản Với “quốc sách chống cộng”, chính quyền Sài Gòn ra sức xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa cộng sản, chống phá miền Bắc và cách mạng miền Nam
Trong một tài liệu chính thức của trường chính quy chiến tranh tâm lý chính quyền Sài Gòn dạy học viên:
Đặc điểm của chiến tranh hiện đại là một cuộc tổng thể chiến trường kỳ, lấy tư tưởng chiến làm trọng tâm Chiến tranh tâm lý được coi là một cuộc chiến tranh: chiến tranh tư tưởng Mặt trận tư tưởng đóng vai trò vô cùng quan trọng Mặt trận quân sự chỉ có thể hủy diệt được thân xác, chiến tranh tư tưởng mới có thể đánh tan tư tưởng của đối phương Dùng đủ mọi biện pháp, huy động các phương tiện, với bất cứ giá nào để “thu phục tâm hồn” quần chúng, lái quần chúng theo về một định hướng do chiến tranh tâm lý đã vạch ra Đây là một trận tuyến vô hình, nhưng rất quan trọng vì nó giữ vai trò quyết định cho sự thắng lợi cuối cùng [65]
Trang 18Bộ phận CTTL của quân đội Sài Gòn được tổ chức theo hệ thống dọc
từ trung ương xuống tới cấp trung đội dân vệ do Mỹ chỉ huy có sự cộng tác của chuyên gia CTTL Đài Loan, Australia, Philippines, Nam Hàn
Đến năm 1965, Nha CTTL được tổ chức thành Tổng cục Chiến tranh chính trị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa Nha CTTL có đài phát sóng riêng, có cơ sở in truyền đơn, báo chí và tài liệu CTTL, có các cục nghiệp vụ, có hai trường đào tạo cán bộ CTTL, Trường đại học Chiến tranh chính trị Đà Lạt, Trung tâm Huấn luyện cán bộ tâm lý chiến, các Nha tuyên úy Công giáo, các tiểu đoàn chiến tranh chính trị, các đại đội Dân sự vệ, Biệt đoàn văn nghệ trung ương Đến năm 1970, quân số làm CTTL đã chiếm 1/5 quân lực của quân đội Sài Gòn
Trong tài liệu của chính quyền Sài Gòn, lời của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ghi: chi ngân sách cho ngành CTTL rất lớn Riêng ngành vô tuyến truyền thanh, truyền hình năm 1972 được JUSPAO chi tới 20 triệu USD Theo
kế hoạch phát triển hệ thống thông tin 4 năm 1974-1977 của chế độ Sài Gòn thì cấp xã sẽ được trang bị máy truyền hình, xây trạm thông tin, phòng trưng bày tranh ảnh và đọc sách, có dụng cụ âm thanh và nhạc cụ Cấp ấp có bảng thông tin, chòi phát thanh, máy ghi âm, loa thiếc, khẩu hiệu cho mỗi gia đình, lập các hội văn thơ nhạc họa cho giới trẻ để tuyên truyền tác động tư tưởng Ngân sách cho kế hoạch này dự chi là 6.802.585 USD “Nếu như chưa thất bại thì chính quyền Sài Gòn sẽ nâng cao tầm vóc hơn nữa của bộ máy CTTL để giành lại thế thắng Họ sẽ nâng Bộ Thông tin chiêu hồi thành Bộ Chính trị và chi phí hoạt động có ngân sách ngang với ngân sách của Bộ Quốc phòng” [64]
1.1.2 Âm mưu, thủ đoạn, hình thức, phương tiện tiến hành “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ ở miền Nam (1965 - 1968)
1.1.2.1 Âm mưu “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ
Từ đầu năm 1965, với bản chất xâm lược ngoan cố, Mỹ chuyển sang thực thi chiến lược“Chiến tranh cục bộ”, Mỹ đã lôi kéo 34 nước tư bản phụ
Trang 19thuộc Mỹ tham gia, trực tiếp là 5 nước, gián tiếp 29 nước đưa quân viễn chinh của Mỹ và các nước đồng minh vào miền Nam, đồng thời mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam
Để che dấu sự leo thang chiến tranh Mỹ càng chú trọng CTTL Mỹ giả tạo một sự đồng tình về vấn đề gọi là “bảo vệ nền độc lập quốc gia của nước bạn Việt Nam Cộng hòa để vừa không lộ liễu bộ mặt thực dân, giải quyết vấn
đề nhanh gọn, êm xuôi và tránh được sự giáng trả cần thiết từ đâu tới CTTL còn
là công cụ lừa bịp về mặt tư tưởng trên cả mặt trận kinh tế, văn hoá, ngoại
giao CTTL theo kiểu “đô-la đi trước, cò Mỹ theo sau” là một kiểu chinh
phục không qua bạo lực vũ trang, không có tiếng súng, lừa mỵ dân bản xứ về viễn cảnh dân chủ, tự do, cố gây lẫn lộn giữa kẻ xâm lược với người bị xâm lược, giữa chính nghĩa và phi nghĩa, lẫn lộn phải trái, trắng đen, nào là “Hoa
Kỳ giữ lời cam kết”, “Việt Nam cộng hoà tiến hành cuộc “chiến tranh tự vệ”; miền Bắc xâm lược miền Nam
Che giấu bản chất xâm lược, gieo rắc ảo tưởng hoà bình và đe dọa chiến tranh là hai mặt của CTTL của đế quốc Mỹ Thủ đoạn quen thuộc là xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo sự thật, đồn nhảm, đồn thổi, phóng đại, mua chuộc, cưỡng bức, đe dọa, cài cắm lực lượng trên các mặt chính trị, tư tưởng; kinh tế, văn hóa, ngoại giao Tất cả những thủ đoạn này được vận dụng rất linh hoạt, tùy thuộc vào đối tượng và hoàn cảnh cụ thể; có những kiểu, dạng
và thủ đoạn tuyên truyền phù hợp đối tượng, được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất, được tổ chức và chỉ đạo chặt chẽ
1.1.2.2 Thủ đoạn “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ
Trang 20trên nền tảng tự do, dân chủ chân chính”, “độc lập”, “tự do”, “dân chủ”,
“hợp hiến” để nâng cao vị thế chế độ tay sai trá hình của mình Mỹ ra sức xuyên tạc, vu khống Quân Giải phóng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng; nhồi nhét những tư tưởng triết lý phản động, những quan điểm chính trị lạc hậu, xuyên tạc cuộc đấu tranh cách mạng vì chính nghĩa của nhân dân miền Nam Việt Nam, bôi đen chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin…
CTTL của Mỹ ở miền Nam Việt Nam được rêu rao là vì danh dự của
Mỹ đã cam kết với đồng minh - chính quyền Sài Gòn trong mục đích chiến đấu vì tự do chống “Việt cộng lật đổ” và “Cộng sản miền Bắc xâm lăng”, ngăn chặn làn sóng “đỏ” của chủ nghĩa cộng sản Thông điệp đầu năm 1965 của Tổng thống Mỹ Johnson: “Đế quốc Mỹ phải có mặt ở Nam Việt Nam vì nước bạn yêu cầu, vì phải giữ cam kết 10 năm trước đây vì an ninh của bản thân đế quốc Mỹ và hòa bình châu Âu” [1, tr.304 ]
Đẩy mạnh luận điệu lừa bịp trên mặt trận ngoại giao, sử dụng sức ép viện trợ cùng các hoạt động tâm lý đối với một số nước và một số tổ chức quốc tế, thúc ép, lôi cuốn họ can thiệp, ngăn cản, cắt giảm viện trợ, bao vây kinh tế, gây khó khăn cho cách mạng Việt Nam
b) Thủ đoạn về kinh tế
CTTL của Mỹ phục vụ kinh tế, và kinh tế được sử dụng để phục vụ CTTL “Nếu lũng đoạn về kinh tế và văn hóa xã hội bản xứ càng có hiệu lực bao nhiêu thì kết quả nô dịch về chính trị xã hội đó càng lâu dài và sâu sắc bấy nhiêu” [1, tr.291]
Năm 1960, John F Kennedy đã nói: “Phải làm cho các nước nhận viện trợ (đế quốc Mỹ) đồng thời với việc khâm phục sức mạnh của Mỹ, còn ưa thích văn minh Mỹ, lối sống Mỹ” [1, tr.293] Mỹ đã áp dụng vào miền Nam Việt Nam một loại hình kinh tế phi sản xuất, nặng về thương mại và dịch vụ,
lệ thuộc vào Mỹ mất cân đối, hướng mạnh về tiêu sài, tạo ra một thị trường thịnh vượng giả tạo, con người bị cuốn vào sức hút của đồng đô-la:
Trang 21Cơn lốc đô-la xoáy tít mù
Từ con đĩ lậu đến thầy tu
Từ anh trí thức, thằng lao động Đều bị hôn mê, té ngã cù [56, tr.147]
Một nền kinh tế lệ thuộc đã đẩy xã hội miền Nam vào cuộc sống đua chen, bóc lột, thất nghiệp, tệ nạn xã hội báo động Riêng Sài Gòn có 2.500
“động” bán hút thuốc phiện ma túy với trên 10 vạn người nghiện, từ 1960 đến
1970 lượng tiêu thụ ma túy tăng lên từ 2 đến 4 lần
Trong bản Phúc trình của linh mục Hồ Văn Vui, viết:
Cuối năm 1974, toàn miền Nam Việt Nam có 900.000 người thất nghiệp, vùng thị trấn tỷ lệ thất nghiệp lên tới 30% dân số hoạt động Sài Gòn và Đà Nẵng tỷ lệ này có thể cao hơn Đế quốc Mỹ đã sử dụng đòn kinh tế để bắt nhân dân ta ghánh chịu món tiền khổng lồ hàng năm “thuê người đánh lại bà con mình”, và tự mình cũng cầm súng cho giặc, kéo dài chết chóc lầm than mà không hay biết [1, tr.294]
Mỹ còn rêu rao “tư sản đại chúng”, “hữu sản hóa công nhân” Riêng Sài Gòn đã có 30 ngân hàng của người Việt Nam và người nước ngoài, tổ chức thành “hiệp hội ngân hàng Việt Nam” để độc quyền về tiền tệ Bọn đầu cơ tích trữ và tham nhũng cỡ lớn mọc lên như nấm, nữa triệu lính Mỹ vung tiền ra sài như nước “Mỗi tháng lính Mỹ trên toàn miền Nam tiêu xài khoảng 30 triệu đô-la” [1, tr.293], đã làm giá cả leo thang, ngày càng tác động tồi tệ đến đời sống của người lao động và giới công chức nhỏ; tình trạng nhân dân lao động bị bần cùng hóa phát triển không gì kềm chế được Đánh giá chính sách kinh tế thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, Báo Chính Luận số ra ngày 30-1-1969 viết:
Là một nền kinh tế chiến tranh nhưng không có dấu hiệu chiến tranh Bên cạnh những cảnh đổ nát, ruộng hoang, người chết ở nông thôn, thì đô thị lại có bộ mặt thanh bình đầy những xa hoa quyến rũ
ăn chơi nhộn nhịp Các người có thế lực đua nhau bốc hốt hàng
Trang 22ngoại hóa tràn ngập với chính sách nhập cảng ồ ạt Duy trì mãi tình trạng này không khác gì chúng ta muốn tự sát Một đặc tính khác của nền kinh tế hiện nay là áp lực lạm phát triền miên Mọi chỉ tiêu đều trông vào viện trợ, mà viện trợ thì được sử dụng một cách ngu xuẩn bừa bãi, vì vậy ngày càng bị ràng buộc vào viện trợ, rõ ràng là một nền kinh tế đang sống bám lưng kẻ khác [1, tr.340] Trong xã hội ấy, mỗi người dân miền Nam trở thành nạn nhân của sự hỗn loạn xã hội: nghèo đói, du đảng, cướp giật, đĩ điếm, nô dịch
c) Thủ đoạn về văn hóa
Mỹ nhồi nhét nhận thức, quan điểm độc hại, lề lối ăn chơi sa đọa lây lan khắp miền Nam “Đường lối hành động của đế quốc Mỹ là củng cố các hoạt động tuyên truyền văn hóa liên hệ với vùng này (Đông Dương) sao cho thích hợp để nuôi dưỡng sự hợp tác chặt chẽ ngày càng gia tăng của dân chúng đối với thế giới tự do” [63, tr.54]
Mỹ chủ trương không hạn chế việc phổ biến văn hóa cho dân bản xứ, nới rộng các chế độ báo chí, xuất bản, khuyến khích nhập các loại văn hóa phẩm gồm sách, phim ảnh, nhạc của Mỹ và các nước tư bản khác Tổ chức hệ thống giáo dục hoàn chỉnh từ cấp tiểu học, trung học và gửi sinh viên ra nước ngoài, chủ yếu là học ở Mỹ, nhằm tạo ra một lớp người trí thức đông đảo để phục vụ nhu cầu của các ngành chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao Gắn chặt việc phổ cập kiến thức văn hóa với nhồi nhét những tư tưởng triết lý phản động, những quan điểm chính trị lạc hậu vào các tầng lớp nhân dân Hàng ngày, hàng giờ trên báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, phim ảnh, chiếu bóng của chính quyền Sài Gòn ra sức truyền bá lối sống Mỹ kết hợp với chủ nghĩa hiện sinh, khuyến khích con người theo lối sống thụ hưởng, xa hoa
Mỹ dung túng việc lưu hành và phát triển các loại văn hóa phẩm đồi trụy xuất bản trong nước hay nhập từ nước ngoài: các loại tiểu thuyết kích dâm, loạn luân, các loại truyện võ hiệp, nhạc vàng, nhạc kích động, phòng trà, phim
Trang 23ảnh, xì ke ma túy lan tràn và phát triển không hạn chế Căn cứ tài liệu của M & CQSG để lại, Báo Sài Gòn giải phóng (27-10-1981), thống kê:
Trung bình hằng năm sách nước ngoài nhập vào miền Nam là 14 nghìn loại với số bản là 4 triệu 55 vạn bản Mỗi năm trung bình Bộ Thông tin chính quyền Sài Gòn cấp giấy phép cho in tại miền Nam
3000 loại với số bản in là 5 triệu 55 vạn bản Trong hơn 20 năm số sách lưu hành tại miền Nam lên tới 34 vạn loại với số bản ước chừng 200 triệu bản, trong đó ước tính ít nhất có 1/3 số loại và 1/2
số bản là sách kích dâm trụy lạc [1, tr.343]
Toàn bộ lối sống tiêu dùng, đồi trụy, văn hóa và đời sống xã hội của phần lớn người dân bị cột chặt vào viện trợ của Mỹ Thủ đoạn này nhằm ngăn chặn sự ảnh hưởng của cách mạng và làm cho người dân tự mình xa rời thậm chí chống lại nhân dân và cách mạng để gắn bó với Mỹ
d) Thủ đoạn cấu kết các các đảng phái, phần tử phản cách mạng
Mỹ mượn danh nghĩa mở rộng dân chủ, tạo điều hiện dễ dãi cho các phe nhóm, những phần tử phản động ghép lại thành tổ chức hoạt động công khai và hợp pháp, nuôi dưỡng và cho ra đời ở miền Nam Việt Nam vô số những “Phong trào cách mạng quốc gia”, “Việt Nam quốc dân Đảng”, “Việt Nam dân chủ xã hội Đảng”, “Đại Việt cách mạng Đảng”, “Việt Nam hưng quốc Đảng”, “Dân xã Đảng”, “Liên minh dân tộc cách mạng xã hội” và “lực lượng Đại đoàn kết ” [63, tr.49] Các lực lượng này được ra sức lừa bịp quần chúng, lũng đoạn tinh thần tư tưởng nhân dân, vô hiệu hóa các hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng
CTTL của M & CQSG chú ý nghiên cứu yếu tố xã hội, như các dân tộc thiểu số và đặc tính của dân tộc để lợi dụng, tạo ra sự phân tán nhân tâm trong nội bộ dân tộc, tiến tới sửa đổi tâm lý, khống chế, khuất phục toàn bộ dân tộc
Một tài liệu CTTL tại nông thôn của CTTL chính quyền Sài Gòn trong mục “Vấn đề Thượng vận”, ghi:
Trang 24Cán bộ chiến tranh tâm lý muốn thành công trong vấn đề Thượng vận, trước khi thực hiện công tác của mình, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ về đời sống, tập tục, tín ngưỡng, và cả ngôn ngữ của đám quần chúng đối tượng Sau đó, tìm cách hòa mình vào đời sống thường ngày của họ, tạm theo tập tục và tín ngưỡng của họ [63, tr.50]
M & CQSG dùng thần quyền và CTTL lôi cuốn giáo dân, kích động họ nuôi hận thù với nhân dân và cách mạng là chiêu bài rất thâm độc của đế quốc Mỹ; đề cao vai trò ảnh hưởng của tôn giáo, đặc biệt là công giáo, dựa vào đó để chống phá cách mạng là phương hướng không thay đổi từ đầu đến cuối của M
& CQSG Trong thành phố, đô thị lớn ở miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn, các nhà thờ hình thành một hệ thống pháo đài, các phường khóm công giáo được coi là “cấm địa”, thậm chí là những cạm bẩy hoặc những “trận địa” phòng thủ chống cách mạng Những “đạo binh đức mẹ”, “hội con đức mẹ”, “hùng tâm dũng khí”, “Liên đoàn sĩ quan Công giáo khu thủ đô Sài Gòn”, thực chất là những chân rết trá hình của các lực lượng dân vệ, phượng hoàng, tình báo
M & CQSG sử dụng tôn giáo làm cơ sở chính trị, cơ sở quần chúng cho chủ nghĩa thực dân, sự gắn bó của lực lượng này trong vấn đề chống Cộng, chống phá cách mạng là một thủ đoạn của CTTL trong toàn bộ chính sách xâm lược của Mỹ trên phạm vi toàn miền Nam Việt Nam
1.1.2.3 Hình thức, phương tiện “Chiến tranh tâm lý” của của Mỹ
Hệ thống CTTL của Mỹ được chia làm 3 phần: Chiến lược tâm lý, chiến dịch thông tin, và chiến thuật tâm lý được vận dụng thông qua chính
quyền Sài Gòn với rất nhiều hình thức và phương tiện Hình thức tiến hành về
cơ bản đó là tuyên truyền và phản tuyên truyền; trong đó, tuyên truyền là phương thức chủ đạo Để phù hợp với đối tượng tuyên truyền, có 3 loại hình tuyên truyền mà Mỹ dùng để tạo nên các sản phẩm thông điệp, bao gồm tuyên truyền “Trắng” là một hình thức tuyên truyền công khai, chính thống, chính
thức Tuyên truyền “Xám” và tuyên truyền “Đen” là loại hình tuyên truyền
Trang 25ngụy trang, che đậy, mờ ám, tiêu cực, không rõ ràng, không trực tiếp từ Mỹ;
có tác động tham gia của phía Mỹ nhưng không được tiết lộ
Trước hay sau một đợt hoạt động quân sự ác liệt, thường mở những đợt tiến công về chính trị và tâm lý Các phương tiện tuyên truyền từng loan truyền về những điều bịa đặt: “Ba Việt cộng bám một cộng đu đủ không gãy”,
“cộng sản có đuôi”, “Mỹ tốt, Mỹ là bạn của Việt Nam”, “miền Bắc xâm lược miền Nam”, “ở miền Bắc, bố mẹ không được nuôi con, vợ chồng không được
ở gần với nhau ” [63, tr.43]
Khi xác định được biện pháp và hình thức, sẽ được sử dụng thông qua các phương tiện, như: Vô tuyến truyền thanh; Báo, tạp chí; Tình báo; Chiêu hồi; Âm nhạc (ca kịch, cải lương, tuồng, chèo) và thơ; Tranh, ảnh, bích chương, họp báo, đối thoại, khẩu hiệu; Phim; Sách; Truyền đơn; Truyền khẩu; Thư; Quà; Rỉ tai; dùng loa gắn trên máy bay, trên xe, nơi công cộng để tác động tinh thần; ngay cả lúc trận chiến đấu đang diễn ra, bắt cóc người của phía cách mạng về mua chuộc, dụ dỗ rồi thả trở lại để tuyên truyền chính sách “chiêu hồi”
1.2 Quá trình Đảng lãnh đạo chống “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ
ở miền Nam Việt Nam (1965 - 1968)
1.2.1 Chủ trương của Đảng chống “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ
1.2.1.1 Chủ trương của Đảng chống “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ
Ngày 25 tháng 7 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh
“Đ.X” trong bài báo “Chiến tranh nhồi sọ” đăng trên Báo Cứu quốc, số
2128, Người viết:
Trang 26Ở các nước, có hơn 400 cơ quan làm việc tuyên truyền cho Mỹ…
Mỹ còn lập nhà thương, trường học, hội từ thiện, vân vân, ở các nước, để làm cơ quan tuyên truyền và ổ mật thám Hiện nay, tại những vùng tạm bị (Pháp) chiếm ở nước ta, Mỹ đang ra sức xâm lược vǎn hoá để hủ hoá và gieo rắc bệnh phục Mỹ, thân Mỹ, sợ Mỹ vào nhân dân, nhất là vào thanh niên ở những vùng ấy Đó là một điều mà cán bộ giáo dục và tuyên truyền ta phải đặc biệt chú ý và
và tinh thần của nhân dân ta; cũng như chúng dùng bom đạn để phá hoại mùa màng và giao thông của ta Chúng ta phải đánh thắng địch về mặt tuyên truyền, cũng như bộ đội ta đã đánh thắng địch về
mặt quân sự! [53, tr.490-491]
Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết (20-7-1954), Ban Bí thư ra Chỉ thị số 83 - CT/TW mở một đợt tuyên truyền về Hiệp định Giơnevơ - tình hình mới và nhiệm vụ mới, chỉ thị nêu rõ: Trước mắt, nhiệm vụ của các Đảng bộ miền Nam là bảo vệ lực lượng cách mạng, lãnh đạo nhân dân miền Nam giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị, buộc Mỹ và tay sai phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, chống âm mưu và hành động của chúng phá hoại việc thi hành
Trang 27Hiệp định Đề phòng và khắc phục các tư tưởng cầu an, dao động, thủ tiêu đấu tranh hoặc mất cảnh giác với âm mưu của địch [49, tr.319]
Đến năm 1958, trước những hiện tượng phản tuyên truyền, phao tin nhảm, viết truyền đơn, khẩu hiệu phản động xảy ra ở nhiều nơi, ở thành phố cũng như nông thôn, miền xuôi cũng như miền ngược, chia rẽ giữa lương và giáo, giữa các dân tộc Lực lượng phản động phao tin chiến tranh thứ ba nhất định nổ ra, ca tụng Mỹ, ca tụng chế độ miền Nam (chính quyền Sài Gòn), xúi giục quần chúng đi Nam Hàng ngày thông qua đài phát thanh miền Nam và sử dụng một số cơ sở ở miền Bắc, gieo rắc những luận điệu lừa bịp, xuyên tạc, vu khống chế độ miền Bắc, để kích động lực lượng phản động tiến hành phá hoại
Trên cơ sở phân tích tình hình trong năm 1958, ngày 14 tháng 2 năm
1959, Chỉ thị của Ban Bí thư chỉ rõ đó là một hình thái của cuộc đấu tranh
giữa địch và ta Kẻ địch đã dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt để tiến hành CTTL
“tác động tinh thần”, và khẳng định: “Cuộc đấu tranh chống những hành động phản tuyên truyền, phao đồn tin nhảm là một cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt trên mặt tư tưởng, văn hoá, chính trị” [10, tr.167]
Đảng đề ra chủ trương:
Nội dung và yêu cầu của cuộc đấu tranh này là nâng cao giác ngộ chính trị của quần chúng, nâng cao cảnh giác với kẻ địch, và để giáo dục một số người lạc hậu vì nhận thức quá sai lầm mà có những lời nói hoặc việc làm không đúng và có hại; như vậy là nhằm mục đích tranh thủ quảng đại quần chúng về ta Đồng thời
đó là một cuộc truy tìm, đả kích những phần tử phản cách mạng hoạt động chiến tranh tâm lý, kích động quần chúng chống lại chủ nghĩa xã hội [9, tr.165]
Vào giữa năm 1963, M & CQSG lấy hoạt động gián điệp, CTTL làm một thủ đoạn có “vị trí chiến lược” để đánh phá cách mạng Tháng 7 năm
1963, Nghị quyết Khu ủy V (mở rộng) lần thứ ba, đề ra chủ trương: cần chú ý tăng cường lãnh đạo công tác đấu tranh chống do thám gián điệp, bảo vệ nội
Trang 28bộ Đảng và tổ chức lực lượng cách mạng hơn nữa Tổ chức quần chúng hăng hái tham gia công tác đấu tranh chống do thám gián điệp để bảo vệ mình, bảo
vệ xóm làng và phong trào Tích cực thanh khiết nội bộ nhân dân trong các vùng căn cứ, vùng ta làm chủ ở nông thôn đồng bằng, chủ yếu là qua phát động tư tưởng quần chúng, kết hợp với công tác nghiệp vụ an ninh để thẩm tra thường xuyên; phát hiện những người và những hiện tượng hoạt động của địch để kịp thời ngăn chặn trấn áp, đập tan tổ chức tay chân và ảnh hưởng của địch, tăng cường đoàn kết nội bộ nhân dân
Công tác tuyên truyền kịp thời vạch trần các âm mưu, tội ác và những thất bại của địch, phản tuyên truyền địch một cách mạnh mẽ và kịp thời Chú trọng tăng cường và cải tiến công tác thông tin, báo chí, tổ chức tốt công tác phát hành, bảo đảm báo chí, tin tức đến tay quần chúng trong thời gian ngắn nhất Chú trọng hơn nữa đến công tác văn nghệ, phát huy mọi khả năng văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, góp phần xây dựng một nền văn nghệ dân tộc, dân chủ và lành mạnh ở miền Nam Phải lấy việc phát huy phong trào văn nghệ quần chúng làm cơ sở để xây dựng nền văn nghệ cách mạng Cần khuyến khích cán bộ, bộ đội và quần chúng đông đảo sáng tác và biểu diễn văn nghệ, chủ yếu hiện nay là các hình thức dân ca (hò, vè, bài chòi, v.v.), đồng thời cũng chú ý văn, thơ, nhạc, tuồng, kịch Cần có chính sách nâng đỡ văn nghệ sĩ, và bồi dưỡng các mầm non văn nghệ về lý luận và phương pháp sáng tác để phát triển đội ngũ văn nghệ cách mạng
Những tháng cuối năm 1963, M & CQSG đẩy mạnh tấn công các vùng căn cứ, bàn đạp, vào hàng ngũ nội bộ và nhân dân ta bằng trăm phương nghìn
kế Trước tình hình đó, tháng 10 năm 1963, Nghị quyết Khu ủy Khu VI (mở rộng) đã đề ra những nhiệm vụ trước mắt của an ninh Khu:
Tích cực ngăn chặn đề phòng và chống mọi hoạt động của bọn do thám gián điệp và chiến tranh tâm lý của địch thâm nhập lũng đoạn phá hoại ta Theo dõi phát hiện cho được mọi âm mưu thủ đoạn hoạt
Trang 29động của gián điệp, kiên quyết trừng trị những tên chống phá hiện hành, ngoan cố, nguy hiểm, tranh thủ giáo dục cải tạo những từng lớp
tề ngụy chưa chịu cải tạo Đồng thời trên cơ sở điều tra nghiên cứu từng bước có chuẩn bị tích cực tạo điều kiện để đánh vào nội bộ địch Tích cực xây dựng ngành an ninh từ trên xuống dưới, nhất là xây dựng tổ chức an ninh xã, thôn vùng ta [11, tr.1021-1022]
Cuối năm 1964, trước những thất bại liên tiếp và ngày càng nặng nề, M & CQSG điên cuồng âm mưu đẩy mạnh hơn nữa cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam, tăng cường hoạt động khiêu khích, phá hoại miền Bắc và gây lại nội chiến
ở Lào Ngày 7 tháng 8 năm 1964, Chỉ thị của Bộ Chính trị đề ra công tác tuyên truyền, giáo dục, nêu rõ:
Phải làm cho cán bộ và nhân dân nhận rõ thế bị động, những thất bại và âm mưu mới của địch, những thắng lợi và nhiệm vụ mới của
ta để đề cao dũng khí cách mạng, tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm làm tròn mọi nhiệm vụ trước mắt, khắc phục
tư tưởng hoà bình chủ nghĩa, chủ quan, lơ là cảnh giác và tâm lý hoang mang, dao động [11, tr.190]
1.2.1.2 Chủ trương của Đảng chống “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ thời
kỳ 1965-1968
Năm 1965, đi đôi với các thủ đoạn quân sự, M & CQSG tiếp tục các chính sách bịp bợm của chiến tranh thực dân kiểu mới về chính trị, kinh tế, văn hoá, một cách thâm độc hơn Ra sức tăng cường các thủ đoạn chính trị, kinh tế và văn hoá, tìm mọi cách để tập hợp các lực lượng phản động, mua chuộc và lừa gạt đồng bào các tôn giáo và các dân tộc ít người, tăng cường công tác mỵ dân và CTTL hòng chia rẽ hàng ngũ dân tộc, làm nhụt chí khí chiến đấu của nhân dân ta
Ngày 7 tháng 9 năm 1965, trong bài “Đập tan CTTL của đế quốc Mỹ” trên báo Nhân Dân (số 417), cảnh báo rằng: để làm nhụt ý chí chiến đấu của
Trang 30miền Bắc, Hoa Kỳ coi CTTL, chiến tranh chính trị, hoặc dạng chiến tranh thứ tư (sau chiến tranh quân sự, kinh tế, ngoại giao) là chính sách quốc gia
Ngày 26 tháng 12 năm 1965, phát biểu tại Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ý đồ xâm lược và những thủ đoạn lừa bịp của Mỹ, nhân dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu trong bất kỳ hoàn cảnh nào Cùng ngày, bài viết nhan đề: “Kẻ cướp nói chuyện “hòa bình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bút danh “Chiến Sĩ”, đăng báo Nhân dân, số 4283 phê phán những thủ đoạn lừa bịp của đế quốc Mỹ về “đàm phán không điều kiện” và cho biết: “mỗi lần họ nói “hòa bình” là một lần họ đưa thêm lính để mở rộng chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam và khẳng định: Với tinh thần gang thép, chúng ta vừa dũng cảm chiến đấu, vừa
ra sức sản xuất và tiết kiệm, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh thì chắc chắn là Mỹ nhất định thua, Ta nhất định thắng!” [51, tr.569-570]
Nghị quyết Hội nghị 12 đề ra chủ trương:
Chúng ta cần động viên mạnh mẽ tinh thần yêu nước của toàn dân, nâng cao lòng căm thù của nhân dân ta đối với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, củng cố và mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ, cứu nước trên cơ sở liên minh công nông, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, tập trung mũi nhọn chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Đồng thời, cần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức phòng gian, giữ gìn bí mật, tích cực chống lại chiến tranh tâm lý của địch [12, tr.636]
Đầu năm 1966, Mỹ ra sức xây dựng lực lượng chính quyền Sài Gòn, tăng cường các thủ đoạn chính trị, kinh tế và văn hoá, tìm mọi cách để tập hợp lực lượng phản động, mua chuộc và lừa mỵ đồng bào các tôn giáo và các dân tộc ít người, tăng cường lừa mỵ và CTTL, chiêu hàng, chiêu hồi, do thám, gián điệp, gieo rắc tư tưởng hòa bình cầu an hòng phá hoại và chia rẽ hàng ngũ dân tộc, làm nhụt chí khí chiến đấu của nhân dân ta
Trang 31Trước tình hình đó, Đảng đề ra chủ trương:
Trong khi tiêu diệt Mỹ và ngụy, ta không coi nhẹ việc bẻ gãy các âm mưu chính trị, kinh tế, và âm mưu kìm kẹp đô thị, bình định nông thôn và đánh phá ba vùng của địch, không cho địch củng cố hậu phương của chúng, tiếp tục phá các ấp chiến lược kiểu mới của địch,
bẻ gãy chiến dịch chiêu hồi, chiêu hàng, chiến tranh tâm lý hù hoạ của địch, vạch mặt âm mưu hoà bình bịp bợm của chúng [12, tr.392] Bước vào đông xuân 1967 - 1968, M & CQSG trên cơ sở gấp rút tăng thêm một số lực lượng và phương tiện chiến tranh, cố tập hợp lực lượng phản động chính trị và tôn giáo, đẩy mạnh chiến tranh gián điệp và CTTL, chiêu hồi, chiêu hàng, tập hợp các thế lực phản động chống phá cách mạng lâu dài, nhất là Quốc dân Đảng, Đại Việt, thành phần phản động trong các tôn giáo, cầm đầu Fulro ở Tây Nguyên cùng với các thủ đoạn lừa bịp về “hoà bình thương lượng” hòng cứu vãn chính quyền Sài Gòn khỏi sụp đổ một cách nhanh chóng Ngày 27 tháng 1 năm 1967, Nghị quyết Bộ Chính trị Số 154-NQ/TW, về đấu tranh chính trị ở miền Nam, chủ trương: “Đấu tranh quân sự kết hợp đấu tranh chính trị, triệt
để vận dụng ba mũi giáp công (đấu tranh võ trang, đấu tranh chính trị và công tác binh vận)” [14, tr.579]
Tháng 6 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Quyết tâm đánh thắng chiến tranh tâm lý của đế quốc Mỹ” khẳng định:
Đây chỉ là luận điệu lẩn tránh che đậy âm mưu đen tối, đó là nhằm gây mất đoàn kết trong nội bộ đảng, chia rẽ đất nước ta với các nước
xã hội chủ nghĩa Chúng xuyên tạc phong trào yêu nước ở miền Bắc, bịa ra thiệt hại của lực lượng giải phóng miền Nam Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ miền Nam ta rất đoàn kết, rất anh hùng, cho nên
đã thắng to Ngày nay, toàn dân miền Nam triệu người như một, càng đoàn kết chặt chẽ, càng thực hiện đầy đủ Cương lĩnh chính trị đúng đắn của Mặt trận, càng phát huy khí phách anh hùng, nhất định
Trang 32sẽ hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc [22, tr.366]
Tháng 7 năm 1967, Trung ương Cục ra chỉ thị và chủ trương: Về thông tin báo chí: Cấp khu ra ba tờ báo của Đảng, Mặt trận và Quân đội, nội san và tập san Văn nghệ; cấp tỉnh ra một tờ báo, nội dung chủ yếu là thông tin, có bản tin riêng cho từng loại đối tượng (đồng bào Hòa hảo, Cao đài, đồng bào miền Bắc di cư, binh sĩ ngụy .), vận động và tổ chức nhân dân nghe Đài Giải phóng… Về văn nghệ: phát triển các đội văn công gọn, nhẹ, lưu động Thành lập Hội văn nghệ giải phóng cấp xứ, khu và tỉnh Về tổ chức: xây dựng bộ máy tuyên văn giáo xã, phát triển các tổ đọc báo, tổ nghe đài, tổ thông tin, tổ tuyên truyền xung phong Mỗi tiểu tổ quần chúng là một tiểu tổ thông tin, tuyên truyền Sử dụng bộ đội làm công tác tuyên truyền Bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo bằng hình thức mở các hội nghị nghiệp vụ Đẩy mạnh công tác binh vận, huy động toàn dân tham gia với nhiều cách khôn khéo để làm giảm sút tinh thần binh sĩ M & CQSG Các buổi phát thanh dành cho binh sĩ M & CQSG khơi gợi cho một số người trong họ suy nghĩ về sự thật của cuộc chiến tranh này, và phong trào phản chiến ở ngay nước Mỹ
Tiếp đó, tháng 3 năm 1968, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 6 (mở rộng), nêu rõ:
Đập tan mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc và chiến tranh tâm lý của địch mà tăng thêm lòng tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương và quyết tâm chiến lược sáng suốt của Đảng ta , vượt qua mọi thử thách khó khăn, xốc tới liên tục tấn công và liên tục nổi dậy đưa Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa đến toàn thắng” [15, tr.632]
Tháng 6 năm 1968, Tạp chí Tuyên huấn của Đảng trong bài “Giáo dục quần chúng đánh bại chiến tranh tâm lý của địch” cũng chỉ rõ: “để đối phó có hiệu quả chiến tranh tâm lý của địch, chúng ta phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và quần chúng về tình hình và nhiệm vụ bằng nhiều biện pháp khác nhau” [68]
Trang 33Ngày 20 tháng 10 năm 1968, Điện mật của Bộ Chính trị số 00/1968, gửi Khu ủy V và Trị - Thiên, nhấn mạnh:
Chú trọng tăng cường công tác tư tưởng Nâng cao cảnh giác cách mạng, kịp thời đập tan mọi thủ đoạn chiến tranh tâm lý, mọi hoạt động chia rẽ của địch Tăng cường công tác ngụy vận làm cho chúng tan rã nhanh chóng Đẩy mạnh phong trào chính trị ở các thành thị đòi các quyền dân chủ, đòi thanh trừng ác ôn , củng cố
và nâng cao quyết tâm, tăng cường đoàn kết nhất trí [15, tr.493] Chủ trương của Đảng, nhất là các hoạt động tư tưởng trong những năm
1965 - 1968 đã bám sát Nghị quyết 11, 12 của Trung ương Đảng, Nghị quyết của Trung ương Cục và diễn biến của cuộc chiến tranh, đã quán triệt những nhận định của Đảng, xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng CTTL của Mỹ trong bất cứ hoàn cảnh, thủ đoạn nào, trước mắt là đánh bại CTTL trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ
1.2.2 Quá trình Đảng chỉ đạo chống “Chiến tranh tâm lý” của Mỹ (1965-1968)
1.2.2.1 Đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng
Nối tiếp giai đoạn trước, giai đoạn này, Đảng đã tạo thế đấu tranh chính trị, tư tưởng bằng cách vạch trần bản chất chiến tranh xâm lược của Mỹ, tự do dân chủ giả hiệu của chính quyền Sài Gòn, làm cho nhân dân tiến bộ trên thế giới và nhân dân Mỹ hiểu đó là chiến tranh phi nghĩa để ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta
Trong nước, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng nhân dân để cho nhân dân Việt Nam và nhân dân miền Nam nói riêng hiểu rõ âm mưu, bản chất của kẻ thù, đoàn kết, cùng đứng trong mặt trận chính trị của Đảng, làm cho M & CQSG luôn bị động, lúng túng; phải căng kéo khắp nơi để đối phó Bị mất thế chủ động trong một cuộc chiến tranh không rõ đâu là tiền tuyến, đâu là hậu phương; bị vây hãm, chia cắt trong một thế thụ động; tinh thần ngày càng sa sút, tổn thất ngày càng nặng nề, suy sụp để đành phải chấp nhận thất bại
Trang 34Đấu tranh chính trị, tư tưởng được Đảng lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành với nhiều hình thức phong phú: Hợp pháp, nửa hợp pháp, không hợp pháp kết hợp với đấu tranh vũ trang và cùng với đấu tranh vũ trang, trở thành một trong hai hình thức cơ bản có tác dụng quyết định đối với thắng lợi trong cuộc đấu tranh nhân dân ở miền Nam Việc tổ chức, xây dựng và sử dụng lực lượng đấu tranh chính trị ở miền Nam rất linh hoạt và sáng tạo
Ngày 26 tháng 6 năm 1966, Thực hiện Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Cục, các đảng bộ ở miền Nam tăng cường công tác giáo dục chính trị,
và được đặt thành công tác trọng tâm hàng đầu, lãnh đạo tư tưởng động viên toàn đảng, toàn quân, toàn dân nỗ lực vượt bậc, quyết chiến, quyết thắng giành thắng lợi lớn Năm 1967, các đảng bộ địa phương tiến hành ba đợt giáo dục chính trị tư tưởng: Đợt mùa Xuân sinh hoạt chính trị theo lời chúc năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nâng cao ý chí quyết chiến quyết thắng cho đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và quần chúng, củng cố sự vững vàng trong nội bộ đồng thời góp phần tiến công mạnh vào các hoạt động CTTL, chiêu
hồi, chiêu hàng rất xảo quyệt của địch
Thời gian này, nhiều cuộc biểu tình chống M & CQSG diễn ra rầm rộ,
đấu tranh nhằm vào mục tiêu chung là: đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố,
chống bắt lính, chống bắn phá, chống dồn dân, lập ấp; kết hợp với tiến công binh vận, địch vận, làm nòng cốt cho dân nổi dậy, khởi nghĩa đập tan chính quyền Sài Gòn, xây dựng chính quyền cách mạng, giành quyền làm chủ về tay nhân dân Suốt đêm ngày 2 rạng 3 tháng 4 năm 1966, có hàng ngàn đến hàng chục vạn người gồm công nhân, lao động, thanh niên, sinh viên, học sinh và các tầng lớp khác đã nổ ra rất quyết liệt như những cuộc biểu tình: 15.000 người diễu hành đi hô vang những khẩu hiệu “đả đảo Mỹ”, “Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam” và bao vây đài phát thanh Sài Gòn Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam đã tập hợp tất cả mọi tầng lớp nhân dân trong một mặt trận thống nhất, “Đoàn kết bất cứ người nào có thể đoàn kết, tranh thủ bất cứ người
Trang 35nào có thể tranh thủ”, ta đã lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong hàng ngũ địch, để thức tỉnh, lôi kéo những người tiến bộ về phía ta; nhằm tập hợp lực lượng, phân hoá triệt để và cô lập cao độ và chĩa mũi nhọn vào M & CQSG
Tại Huế và Sài Gòn, Liên minh dân tộc, dân chủ và hòa bình được thành lập và sau đó Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Nam Việt Nam ra đời (20-4-1968), kêu gọi các tầng lớp nhân dân, trí thức đứng lên chống M & CQSG
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân mở ra đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhân dân trong nước và dư luận tiến bộ trên thế giới Đảng, Trung ương Cục chỉ đạo hoạt động tư tưởng trong cả nước, nhất là báo chí, đài phát thanh, đã bám sát diễn biến tình hình, thông tin nhanh chóng chiến thắng lớn của ta, thất bại nặng nề của địch Đặc biệt, nêu rõ ý nghĩa cuộc tổng tiến công và nổi dậy diễn ra đồng loạt với quy mô lớn chưa từng có trên toàn miền Nam Trung ương Cục liên tiếp ra 2 chỉ thị (ngày 1-2 và ngày 27-2-1968) hướng dẫn công tác tuyên truyền, cổ vũ mạnh mẽ quân dân miền Nam thừa thắng xốc tới và đẩy mạnh công tác binh vận Thắng lợi của ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã gây chấn động lớn trong chính giới và trong nhân dân Mỹ, bóc trần những luận điệu lừa bịp lâu nay của chính quyền Mỹ đối với nhân dân nước họ, làm bùng lên phong trào nhân dân Mỹ đòi giới cầm quyền Mỹ xem xét lại chính sách tiến hành chiến tranh Việt Nam, đòi chấm dứt dính líu của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam
Trước sức ép nặng nề từ nhiều phía, ngày 13 tháng 5 năm 1968, Mỹ buộc phải cử đại biểu đến Pari đàm phán với ta, song mặt khác vẫn tập trung
“bình định cấp tốc” nhằm giành giật lại các vùng nông thôn đã mất, hy vọng
bằng biện pháp quân sự, giành được thế mạnh trong đàm phán
Trước những diễn biến mới của tình hình, đã xuất hiện những đánh giá khác nhau về kết quả tiến công và nổi dậy, nảy sinh tâm hoài nghi bi quan Căn cứ vào những nhận định của Trung ương Đảng, công tác tư tưởng đã nêu
rõ ý nghĩa thắng lợi, mà ý nghĩa lớn nhất là một đòn quyết định làm phá sản
Trang 36chiến lược “chiến tranh cục bộ”, bước leo thang cao nhất của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, từ đó làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ,
tạo nên bước ngoặt mới của chiến tranh
Trên mặt trận ngoại giao, Đảng ta tập trung tố cáo chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, tố cáo những tội ác của M & CQSG ở cả hai miền, vạch trần luận điệu “hoà bình” bịp bợm của Mỹ, đánh bại các cuộc tấn công ngoại giao, giương cao ngọn cờ độc lập và hoà bình, tính chất chính nghĩa và tất thắng của cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, lập trường đúng đắn của Chính phủ ta và của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam về việc giải quyết vấn đề Việt Nam Trên cơ sở đó ta đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, góp phần xúc tiến việc hình thành và mở rộng Mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ, cô lập M & CQSG
1.2.2.2 Đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế
Tháng 1 năm 1965, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ ba, chủ trương:
Về cơ bản là theo hướng kinh tế dân tộc, dân chủ, trước mắt nhằm bồi dưỡng sức dân, đảm bảo cung cấp cho kháng chiến và đấu tranh chống lệ thuộc vào kinh tế địch Yêu cầu quan trọng là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, khôi phục và phát triển nghề thủ công và nghề phụ gia đình đã bị phá sản (từng bước và có
kế hoạch cụ thể thích hợp); hướng dẫn một bước nông dân đi vào con đường làm ăn tương trợ, vào tổ vần đổi công [17, tr.680] Cuộc đấu tranh cho ruộng đất, tô tức cần phải làm tích cực và thận trọng, trước hết và chủ yếu là nhằm bồi dưỡng và động viên nông dân lao
động trực tiếp, nhanh chóng, hăng hái tung sức người, sức của ra để kháng
chiến thắng lợi theo tinh thần “Tất cả để chiến thắng”
Trang 37Tiếp đó, ngày 5 tháng 8 năm 1965, Hội nghị Thường vụ Trung ương Cục, bổ sung một số điểm cụ thể: “Tất cả số ruộng đất của ngụy quân và ngụy quyền, ta giải phóng đến đâu thì tịch thu đem chia cho nông dân không ruộng
và thiếu ruộng đến đó” [37, tr.67-68] và nhấn mạnh: “Trên cơ sở phát động ý
thức giai cấp của nông dân, giải quyết tốt vấn đề tô tức ruộng đất, kiện toàn các tổ chức quần chúng và tăng cường vai trò lãnh đạo của chi bộ mà giải quyết đời sống của quần chúng, động viên nhân tài vật lực cung cấp cho yêu cầu của cuộc kháng chiến” [35, tr.730-731]
Ở các đô thị lớn, M & CQSG mở rộng chiến tranh, hạ giá đồng bạc gây khó khăn cho đời sống của công nhân và lao động, đã đưa đến những cuộc đấu tranh của công nhân đòi đế quốc Mỹ cút đi, đòi lật đổ chính quyền Sài Gòn nổ ra liên tục Nhiều cuộc đấu tranh lớn đã nổ ra trong các xí nghiệp thuộc các ngành chiến lược của M & CQSG như hãng thầu quân sự RMK - BRJ, các hãng dầu Sen, Can-tếch, Eét-xô và bến cảng Sài Gòn Riêng cuộc đấu tranh của công nhân hãng thầu quân sự RMK - BRJ kéo dài đến 4 tháng (5-9-1966)
Ở Vùng giải phóng, đời sống nhân dân trong vùng rất khó khăn do bom đạn tàn phá, lại bị M & CQSG bao vây kinh tế Tuy nhiên, được chính quyền Cách mạng giúp đỡ tối đa cùng với kinh nghiệm chống thực dân Pháp, trong hoàn cảnh cụ thể, nhân dân kiên trì bám đất, đã giải quyết thành công những vấn đề kinh tế và đời sống, chi viện tích cực cho quân giải phóng Nổi bật là phục hồi và phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp nhằm giải quyết nhu cầu
về các công cụ thông thường cho sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và đời sống, không thể chờ vào chi viện của miền Bắc Các nghề như rèn, giấy, dệt, thêu, đồ gốm, chế biến lương thực, thực phẩm truyền thống, cũng được phát triển để tự túc đời sống và trao đổi với vùng chính quyền Sài gòn kiểm soát Nhiều nghề bị mai một trong thời gian tạm chiếm đã được phục hồi nhanh Nghề Dệt phát triển mạnh ở Khu V như Quảng Đà, “các năm 1965-1966 có 130 khung dệt, sản xuất được 33.000 mét vải, Quảng Ngãi có 754 khung, sản xuất được 680.400 mét khổ rộng và 34.300 mét khổ hẹp, ” [2]
Trang 38Ở Nam Bộ, có các cơ sở sản xuất giấy, lương thực, chế biến thủy sản, đóng ghe thuyền, làm than củi, Nhiều vùng tận dụng phế liệu chiến tranh, bom đạn để sản xuất công cụ, vũ khí thô sơ tự bảo vệ xóm làng
Mặc dù trong hoàn cảnh địch đánh phá rất ác liệt, vùng giải phóng vẫn được giữ vững và mở rộng thêm, quần chúng phấn khởi tin tưởng thắng lợi và quyết tâm chiến đấu, các tổ chức ở xã, thôn được củng cố thêm một bước, nhân dân vẫn đem xương máu và lao động kiên cường để sản xuất phục vụ kháng chiến, đã đóng góp và thu mua cho cách mạng 33.000 tấn gạo, tạm đủ cung cấp cho nhu cầu kháng chiến
(nhiều hơn năm 1967 là 8.000 tấn) [11, tr.465]
Ở Khu căn cứ cách mạng (chiến khu), mặc dù bị địch bao vây, phá hoại nhưng các hoạt động sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản, sản xuất tiểu, thủ công nghiệp vẫn diễn ra để phục vụ đời sống nhân dân, sử dụng có hiệu quả chi viện từ miền Bắc
Đối với vấn đề ruộng đất, ngày 13 tháng 9 năm 1965, Trung ương Cục miền Nam ra chỉ thị về ruộng đất và hướng phát triển ở nông thôn, nhấn mạnh:
“xóa bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất ở các vùng giải phóng là yêu cầu thiết thực bồi dưỡng và động viên sức người sức của để đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước tạo bước ngoặt về so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch”[61, tr.3]
Đến năm 1967, vấn đề ruộng đất đã được đưa vào Cương lĩnh Chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Một trong những tư tưởng sáng suốt của Cương lĩnh là: “không chủ trương tịch thu hoặc mua lại những cơ sở trồng cây công nghiệp lâu năm, thậm chí còn khuyến khích họ tiếp tục sản xuất, chỉ cần đóng góp đảm phụ cho kháng chiến Nhờ thực hiện tốt các chủ trương trên nên từ năm 1965 “chính quyền cách mạng các địa phương tiếp tục chia cấp thêm hơn 15.000 ruộng đất cho nông dân” [35, tr.41] Quyền làm chủ ruộng đất của nông dân các tỉnh miền Nam đã củng cố thêm một bước vai trò của nông dân lao động và khối liên minh công-nông trong cách mạng dân tộc dân chủ dân
Trang 39nhân ở miền Nam Việt Nam “Việc giành lại quyền làm chủ ruộng cho nông dân
đã góp phần củng cố niềm tin của nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng Đến năm
1965 tăng lên 2,1 triệu ha, chiếm 70% tổng số ruộng đất ở miền Nam Tỷ lệ này được giữ ổn định cho tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam” [37, tr.102]
Các hội nghị của Trung ương Cục miền Nam từ năm 1965 đến năm
1968 đã ra Nghị quyết chỉ đạo cụ thể việc thực hiện chính sách ruộng đất Cách giải quyết vấn đề ruộng đất của Trung ương Cục miền Nam và Chính phủ cách mạng là điều hòa lợi ích giai cấp, vừa bảo vệ lợi ích của nông dân, vừa thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ, thậm chí quyền phát canh thu tô, chiếu cố những chủ ruộng đất có cảm tình với cách mạng, tôn trọng những điền sản như đất vườn, đất trồng cây công nghiệp Đó là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế lúc đó và đã đem lại kết quả rõ rệt về kinh tế, chính trị, từ đó ảnh hưởng đến cục diện chiến tranh
1.2.2.3 Đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa
Trước tình hình các biểu hiện văn hóa nô dịch và đồi truỵ phát triển tràn lan ở miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Tháng
1 năm 1965, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ ba, chủ trương:
“xây dựng một bước đời sống tươi vui, lành mạnh, phấn khởi, một không khí chiến đấu và cách mạng trong nhân dân, chống lại những ảnh hưởng văn hoá đồi trụy phản động của địch” [12, tr.688]
Triển khai nghị quyết Trung ương Cục, ở các đô thị lớn nổ ra các phong trào bảo vệ văn hóa: ở Sài Gòn và các đô thị khác, địch khủng bố và kiểm soát rất gắt gao, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh của nhân dân và các giới báo chí, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên yêu nước, trên mặt trận tuyên truyền, báo chí, văn hóa diễn ra sôi động Chính quyền Sài Gòn quyết định đóng cửa các báo ở Sài Gòn trong một tháng, từ ngày 1 tháng 7 năm
1965 là để “chấn chỉnh báo chí” Báo chí thành phố lập tức họp Đại hội bất thường, các báo đều đăng ở trang nhất trong khung đen dòng chữ “Chúng tôi cực
Trang 40lực phản đối quyết định đó của tất cả các báo” Nhân dân Sài Gòn ủng hộ mạnh
mẽ các báo Chính quyền Sài Gòn buộc phải rút lệnh đóng cửa xuống ba ngày
Thời gian này, ở Sài Gòn, dưới sự lãnh đạo của thành ủy, Đảng ủy văn hóa và Ban Trí vận Sài Gòn tiến hành cuộc vận động phong trào quần chúng bảo vệ văn hóa dân tộc, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ Việt Nam, bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên Việt Nam Tháng 6 năm 1966, 118 văn nhân, nghệ sĩ, ký giả Sài Gòn ra tuyên bố tố cáo văn hóa đồi truỵ, phản dân tộc Ngày 7 tháng 8 năm
1966, Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc ra đời với lời kêu gọi: “Phải cứu lấy văn hóa chúng ta”, đã tập hợp được đông đảo trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà hoạt động xã hội thuộc những khuynh hướng chính trị khác nhau Tờ Tin văn, cơ quan ngôn luận của Lực lượng bảo vệ văn hoá dân tộc do Thành ủy lãnh đạo có ảnh hưởng lớn trong dư luận, quy tụ được rất đông các cây bút yêu nước, nhiều người dân thường ở Sài Gòn gom góp tiền bạc để báo Tin văn sống được và phục vụ phong trào Cuộc thảo luận trên báo Tin văn về bảo vệ văn hóa dân tộc (tháng 8 năm 1966), chống văn hóa đồi truỵ và những nguyên nhân trực tiếp, chính yếu của văn hoá đồi truỵ đã đưa đến chỗ động viên chống chiến tranh xâm lược, chống sự có mặt của quân đội nước ngoài là Mỹ
Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ Việt Nam, bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên Việt Nam không chỉ lên mạnh ở Sài Gòn mà phát triển nhanh và rộng ra các thành phố và các tỉnh miền Nam Lực lượng bảo vệ văn hoá dân tộc còn thành lập Nhà xuất bản Đồ Chiểu Một trong các tác phẩm đầu tiên được in là Mười bài sứ ca (năm 1967) tập hợp các ca khúc nổi tiếng (Hội nghị Diên Hồng Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Lên Đàng ) Những khúc tráng ca này đã góp phần hun đúc tinh thần tự hào dân tộc vốn tiềm ẩn trong tâm hồn thế hệ trẻ M & CQSG tức tối đóng cửa báo Tin văn và Nhà xuất bản Đồ Chiểu “Hai phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ Việt Nam tuy bị đàn áp, giải tán, nhưng đã ghi lại những thành tích đấu tranh rất đáng trân trọng của nhân dân miền Nam, các ký giả,