1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận thị trường lao động Thực trạng thất nghiệp thanh niên tại thành phố Hà nội

16 68 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 130,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUĐào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò to lớn đối với việc tạo cơ sở bền vững để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia, từng địa phương, từng lĩnh vực. Trong điều kiện kinh tế thị trường, thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, nó không loại trừ một quốc gia nào, cho dù quốc gia đó là nước đang phát triển hay nước có nền công nghiệp phát triển. Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các mặt kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia. Những hậu quả mà nó gây ra không dễ gì khắc phục được trong một thời gian ngắn. Do vậy, giảm tỷ lệ thất nghiệp, bảo đảm việc làm, ổn định đời sống cho, người lao động trở thành mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, xuất phát từ một nước nghèo, có nền kinh tế kém phát triển, dân số tăng nhanh trong nhiều thập kỷ qua, thất nghiệp đang là một vấn đề gây sức ép rất lớn đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như sự lo lắng đối với từng người lao động. Xuất phát từ điều đó, em đã chọn đề tài: “Thất nghiệp thanh niên tại Hà nội”. Thực trạng và giải pháp để nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm khái quát một số vấn đề lý luận về thất nghiệp, phân tích đánh giá thực trạng thất nghiệp thanh niên ở Hà nội hiện và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp.Chương 1: Cơ sở lý luận về thất nghiệp thanh niên1.1.Một số khái niệm liên quan1.1.1khái niệm thất nghiệpTheo ILO: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành.Khái niệm thất nghiệp ở Việt Nam : “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”.1.1.2Thanh niênQuan niệm của Việt Nam: “Thanh niên là những người đủ 15 tuổi đến cận dưới 29 tuổi”Quan niệm của ILO: “ Tuổi thanh niên là tuổi từ đủ 15 tuổi đến cận dưới 25 tuổi”1.1.3Thất nghiệp thanh niênThất nghiệp thanh niên là tình trạng người từ đủ 1529 tuổi có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm nhưng không thể tìm được việc làm.1.1.4đặc điểm của lao động thanh niên lao động thanh niên có sức khỏe tốt huyết áp và nhịp tim chuẩn ở mức quy định, có sức bền bỉ và dẻo dai trong công việc, có thể lực ở mức khỏe mạnh nhất trong các độ tuổi. Lao động thanh niên có tính năng động trong mọi tình huống và mọi công việc Lao động thanh niên có tính sáng tạo cao bởi vì ở độ tuổi này là lúc mà trí não và sức khỏe tràn đầy việc sáng tạo là điều hiển nhiên và đương nhiên.1.2Các yếu tố ảnh hưởng đến thất nghiệp thanh niênĐiều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiênTrình độ phát triển kinh tế xã hộiĐặc điểm dân số, nguồn nhân lực1.3Ảnh hưởng của thất nghiệp Thanh niên đến kinh tế xã hội, đời sống nhân dân1.3.1 tác động của thất nghiệp đến kinh tế:Thất nghiệp là một sự lãng phí nguồn lực xã hội. đây là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho nền kinh tế bị đình đốn, chạm phát triển, thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa nền kinh tế đang suy thoái suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư (vì vốn ngân sách bị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến (bờ vực) của lạm phát.Thất nghiệp là sự mất mát nguồi thu nhập đều đặn, thường xuyên. Đối với ng thu nhập thấp, k có điều kiện để tích lũy tienf hoặc hiện vật. khi thất nghiệp xảy ra cs của họ sẽ vô cùng khó khăn. Nhiều khi vì cuộc sống mưu sinh họ bắt buộc học phải làm việc ở những nơi thiếu uy tín k phù hợp vơi trình độ cũng như khả năng, do hiệu suất làm việc thấp họ k đảm bảo đc những yêu cầu công việc đặt ra.1.3.2 tác động của thất nghiệp đến các vấn đề xã hội:Thất nghiệp không chỉ là vấn đề kinh tế mà nó còn là vấn đền xã hội. nạn thất nghiệp là đòn rất mạnh giáng vào tâm lý đời số của mọi người và từ đón ảnh hưởng mãnh liết đến đời số xã hội, thất nghiệp gây ra các hiện tượng tiêu cực như: trộm cắp, cờ bạc, sa sút đạo đức..., gây ra tổn thất về con người, xã hội, tâm lí và sự ổn định về tư tưởng chính trị.1.3.3 tác động của thất nghiệp đến các vấn đề an ninh trật tự, an sinh xã hội Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.Chương 2: Thực trạng Thất nghiệp thanh niên tại Hà Nội.2.1Các yếu tố ảnh hưởng đến thất nghiệp thanh niên tại Hà Nội.2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiênHà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, ở giữa vùng Đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, phía Nam giáp Hà Nam và Hòa Bình, phía Đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên, phía tây giáp Hòa Bình và Phú Thọ.Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với sự khác biệt rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh. Mùa nóng bắt đầu từ giữa tháng 4 đến hết tháng 10, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều nhưng khô hạn vào tháng 10. Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 3. Từ tháng 11 đến tháng 1 rét và hanh khô, từ tháng 2 đến hết tháng 4 lạnh và mưa phùn kéo dài từng đợt.2.1.2. Trình độ phát triển kinh tế xã hộiNăm 2020, GRDP của Thành phố tăng 3,98% so với năm 2019 (quý 1 tăng 4,13%; quý II tăng 1,76%; quý III tăng 3,95%; quỷ IV tăng 3,77%), đạt mức thấp so với kế hoạch và mức tăng trưởng của năm 2019, chủ yếu do ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid19.Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 ước tính tăng 4.2% so với năm 2019, đóng góp 0,09% vào mức tăng GRDP. Đây là khu vực ghi nhận tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung và cao hơn mức tăng của nhiều năm qua. Bên cạnh đó, thời tiết giai đoạn lúa trỗ bông khá thuận lợi, cùng với công tác bảo vệ thực vật được chú trọng đã góp phần tăng năng suất lúa; sản lượng lúa vụ mùa 2020 toàn Thành phố ước đạt 447,2 nghìn tấn, tăng 2,4% so với vụ mùa 2019.Khu vực công nghiệp và xây dựng ước tính năm 2020 tăng 6,39% so với năm 2019, đóng góp 1,43% vào mức tăng GRDP. Trong đó: Ngành công nghiệp cả năm tăng 4,91%, đóng góp 0,69% vào mức tăng chung. Khu vực dịch vụ năm 2020 tăng 3,29% so với năm trước (đóng góp 2,1% vào mức tăng GRDP), thấp hơn nhiều so với mức tăng 7,27% năm 2018 và 7,59% năm 2019 do chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại địch Covid19, nhất là các ngành, lĩnh vực: Du lịch, khách sạn, nhà hàng, vận tải, xuất nhập khẩu, vui chơi, giải trí.Năm 2020, hoạt động y tế, giáo dục được quan tâm, chú trọng; giá trị tăng thêm ngành y tế và trợ giúp xã hội ước tăng 14,23% so với năm 2019; ngành giáo dục và đào tạo tăng 7,01%..2.1.3. Đặc điểm dân số, nguồn nhân lực Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2020, dân số Hà Nội là 8.053.663 người, trong đó 49% dân số (tức 3,96 triệu người) sống ở thành thị, và 51% dân số sống ở nông thôn (tức 4,09 triệu người). Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 2505 ngườikm². Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 ngườikm², trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000 ngườikm². Về số lượng: Theo tổng cục thống kê Bộ Kế Hoạch Đầu Tư năm 2019, cả nước có 658,900 thanh niên đang làm việc. Trong đó Hà Nội chiếm 450,600 người, chiếm 68,39% cả nước. Trong đó lao động nam chiếm 45,21%, lao động nữ chiếm 23,18%. Tỷ trọng lực lượng lao động thanh niên trên lực lượng lao động là 14,85%.Bảng 2.1 thực trạng việc làm của lao động thanh niên tại TP Hà NộiNăm 201720182019Số lượngTỷ lệ %Số lượngTỷ lệ %Số lượngTỷ lệ %Lao động có việc làm320.54076.25%425.74978.15%643.89677.25%Lao động thất nghiệp26.47313.27%36.74012.27%42.87014.27%Lao động thiếu việc làm32.04310.09%22.64509.09%25.07808.09% Nguồn: tổng cục thống kê TP Hà NộiSố liệu ở bảng 2.1 cho thấy số lao động có việc làm qua các năm tăng dần và có xu hướng tăng nhanh. Năm 2017 là 320.540 người năm 2019 là 643.896 người điều này cho thấy lao động có việc làm ở tỉnh Bắc Ninh đang dần tăng lên và đi theo hướng sử dụng hợp lý lao động. Số lao động thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn tồn tại khá cao qua các năm nhưng tỷ lệ tăng ở mức thấp. Đây là một trong số những nguyên nhân thừa lao động và thiếu việc làm trong tỉnh Bắc Ninh.2.2.Thực trạng thất nghiệp thanh niên tại Hà Nội2.2.1 Thực trạng thất nghiệp thanh niên theo việc làmTại Hà Nội, việc doanh nghiệp (DN) tiếp tục cho người lao động (NLĐ) nghỉ việc và thanh lý hợp đồng sẽ tiếp tục diễn ra vào tháng 7, tháng 8, thậm chí đến cuối năm 2020. Các DN trong ngành du lịch cố cầm cự để giữ chân NLĐ, mong qua dịch sẽ có lượng khách du lịch hồi phục lại. Tuy nhiên, hiện tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn diễn biến hết sức phức tạp, Việt Nam vẫn chưa nhận du khách nước ngoài, ngành du lịch tiếp tục gặp khó khăn. Hiện nay hầu hết DN du lịch đang rà soát nhân sự để cho nghỉ việc. Tương tự, nhiều ngành khác cũng thế, khi chúng ta đứt gãy chuỗi cung ứng, kinh tế lại rất mở, nên các DN xuất khẩu

Trang 1

Đề tài: THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP THANH NIÊN TẠI TP hà nội

LỜI MỞ ĐẦU

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò to lớn đối với việc tạo cơ sở bền vững

để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của từng quốc gia, từng địa phương, từng lĩnh vực Trong điều kiện kinh tế thị trường, thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, nó không loại trừ một quốc gia nào, cho dù quốc gia đó là nước đang phát triển hay nước có nền công nghiệp phát triển Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các mặt kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia Những hậu quả mà nó gây ra không dễ gì khắc phục được trong một thời gian ngắn Do vậy, giảm tỷ lệ thất nghiệp, bảo đảm việc làm, ổn định đời sống cho, người lao động trở thành mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia Đối với Việt Nam, xuất phát từ một nước nghèo, có nền kinh tế kém phát triển, dân số tăng nhanh trong nhiều thập kỷ qua, thất nghiệp đang là một vấn đề gây sức ép rất lớn đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như sự lo lắng đối với từng người lao động Xuất phát từ điều đó, em đã chọn đề tài: “Thất nghiệp thanh niên tại

Hà nội” Thực trạng và giải pháp" để nghiên cứu Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm khái quát một số vấn đề lý luận về thất nghiệp, phân tích đánh giá thực trạng thất nghiệp thanh niên ở Hà nội hiện và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp

Trang 2

Chương 1: Cơ sở lý luận về thất nghiệp thanh niên

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 khái niệm thất nghiệp

Theo ILO: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành Khái niệm thất nghiệp ở Việt Nam : “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”

1.1.2 Thanh niên

Quan niệm của Việt Nam: “Thanh niên là những người đủ 15 tuổi đến cận dưới 29 tuổi”

Quan niệm của ILO: “ Tuổi thanh niên là tuổi từ đủ 15 tuổi đến cận dưới 25 tuổi”

1.1.3 Thất nghiệp thanh niên

Thất nghiệp thanh niên là tình trạng người từ đủ 15-29 tuổi có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm nhưng không thể tìm được việc làm

1.1.4 đặc điểm của lao động thanh niên

- lao động thanh niên có sức khỏe tốt huyết áp và nhịp tim chuẩn ở mức quy định, có sức bền bỉ và dẻo dai trong công việc, có thể lực ở mức khỏe mạnh nhất trong các độ tuổi

- Lao động thanh niên có tính năng động trong mọi tình huống và mọi công việc

- Lao động thanh niên có tính sáng tạo cao bởi vì ở độ tuổi này là lúc mà trí não

và sức khỏe tràn đầy việc sáng tạo là điều hiển nhiên và đương nhiên

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thất nghiệp thanh niên

Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

Trình độ phát triển kinh tế- xã hội

Đặc điểm dân số, nguồn nhân lực

1.3 Ảnh hưởng của thất nghiệp Thanh niên đến kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân

1.3.1 tác động của thất nghiệp đến kinh tế:

Thất nghiệp là một sự lãng phí nguồn lực xã hội đây là một trong những nguyên nhân

cơ bản khiến cho nền kinh tế bị đình đốn, chạm phát triển, thất nghiệp tăng lên cũng

có nghĩa nền kinh tế đang suy thoái- suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư (vì vốn ngân sách bị thu hẹp do thất thu

Trang 3

thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến (bờ vực) của lạm phát

Thất nghiệp là sự mất mát nguồi thu nhập đều đặn, thường xuyên Đối với ng thu nhập thấp, k có điều kiện để tích lũy tienf hoặc hiện vật khi thất nghiệp xảy ra cs của họ sẽ

vô cùng khó khăn Nhiều khi vì cuộc sống mưu sinh họ bắt buộc học phải làm việc ở những nơi thiếu uy tín k phù hợp vơi trình độ cũng như khả năng, do hiệu suất làm việc thấp họ k đảm bảo đc những yêu cầu công việc đặt ra

1.3.2 tác động của thất nghiệp đến các vấn đề xã hội:

Thất nghiệp không chỉ là vấn đề kinh tế mà nó còn là vấn đền xã hội nạn thất nghiệp

là đòn rất mạnh giáng vào tâm lý đời số của mọi người và từ đón ảnh hưởng mãnh liết đến đời số xã hội, thất nghiệp gây ra các hiện tượng tiêu cực như: trộm cắp, cờ bạc, sa sút đạo đức , gây ra tổn thất về con người, xã hội, tâm lí và sự ổn định về tư tưởng chính trị

1.3.3 tác động của thất nghiệp đến các vấn đề an ninh trật tự, an sinh xã hội

Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị

Chương 2: Thực trạng Thất nghiệp thanh niên tại Hà Nội.

2.1Các yếu tố ảnh hưởng đến thất nghiệp thanh niên tại Hà Nội.

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, ở giữa vùng Đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, phía Nam giáp Hà Nam và Hòa Bình, phía Đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên, phía tây giáp Hòa Bình và Phú Thọ

Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với sự khác biệt rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng bắt đầu

từ giữa tháng 4 đến hết tháng 10, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều nhưng khô hạn vào tháng 10 Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 3 Từ tháng 11 đến

Trang 4

tháng 1 rét và hanh khô, từ tháng 2 đến hết tháng 4 lạnh và mưa phùn kéo dài từng đợt

2.1.2 Trình độ phát triển kinh tế- xã hội

Năm 2020, GRDP của Thành phố tăng 3,98% so với năm 2019 (quý 1 tăng 4,13%; quý II tăng 1,76%; quý III tăng 3,95%; quỷ IV tăng 3,77%), đạt mức thấp

so với kế hoạch và mức tăng trưởng của năm 2019, chủ yếu do ảnh hưởng nặng nề

từ đại dịch Covid-19

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 ước tính tăng 4.2% so với năm 2019, đóng góp 0,09% vào mức tăng GRDP Đây là khu vực ghi nhận tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung và cao hơn mức tăng của nhiều năm qua Bên cạnh

đó, thời tiết giai đoạn lúa trỗ bông khá thuận lợi, cùng với công tác bảo vệ thực vật được chú trọng đã góp phần tăng năng suất lúa; sản lượng lúa vụ mùa 2020 toàn Thành phố ước đạt 447,2 nghìn tấn, tăng 2,4% so với vụ mùa 2019

Khu vực công nghiệp và xây dựng ước tính năm 2020 tăng 6,39% so với năm

2019, đóng góp 1,43% vào mức tăng GRDP Trong đó: Ngành công nghiệp cả năm tăng 4,91%, đóng góp 0,69% vào mức tăng chung

Khu vực dịch vụ năm 2020 tăng 3,29% so với năm trước (đóng góp 2,1% vào mức tăng GRDP), thấp hơn nhiều so với mức tăng 7,27% năm 2018 và 7,59% năm 2019 do chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại địch Covid-19, nhất là các ngành, lĩnh vực: Du lịch, khách sạn, nhà hàng, vận tải, xuất nhập khẩu, vui chơi, giải trí Năm 2020, hoạt động y tế, giáo dục được quan tâm, chú trọng; giá trị tăng thêm ngành y tế và trợ giúp xã hội ước tăng 14,23% so với năm 2019; ngành giáo dục và đào tạo tăng 7,01%

2.1.3 Đặc điểm dân số, nguồn nhân lực

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2020, dân số Hà Nội là 8.053.663 người, trong

đó 49% dân số (tức 3,96 triệu người) sống ở thành thị, và 51% dân số sống ở nông thôn (tức 4,09 triệu người)

Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 2505 người/km² Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000

người/km²

Về số lượng: Theo tổng cục thống kê Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư năm 2019, cả nước có 658,900 thanh niên đang làm việc Trong đó Hà Nội chiếm 450,600 người, chiếm 68,39% cả nước Trong đó lao động nam chiếm 45,21%, lao động

nữ chiếm 23,18% Tỷ trọng lực lượng lao động thanh niên trên lực lượng lao động

là 14,85%

Trang 5

Bảng 2.1 thực trạng việc làm của lao động thanh niên tại TP Hà Nội

Số lượng Tỷ lệ

%

Số lượng Tỷ lệ

%

Số lượng Tỷ lệ

% Lao động có việc

làm

320.540 76.25

%

425.749 78.15

%

643.896 77.25

% Lao động thất

nghiệp

26.473 13.27

%

36.740 12.27

%

42.870 14.27

% Lao động thiếu

việc làm

32.043 10.09

%

22.645 09.09

%

25.078 08.09

% Nguồn: tổng cục thống kê TP Hà Nội

Số liệu ở bảng 2.1 cho thấy số lao động có việc làm qua các năm tăng dần và có xu hướng tăng nhanh Năm 2017 là 320.540 người năm 2019 là 643.896 người điều này cho thấy lao động có việc làm ở tỉnh Bắc Ninh đang dần tăng lên và đi theo hướng sử dụng hợp lý lao động Số lao động thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn tồn tại khá cao qua các năm nhưng tỷ lệ tăng ở mức thấp Đây là một trong số những nguyên nhân thừa lao động và thiếu việc làm trong tỉnh Bắc Ninh

2.2 Thực trạng thất nghiệp thanh niên tại Hà Nội

2.2.1 Thực trạng thất nghiệp thanh niên theo việc làm

Tại Hà Nội, việc doanh nghiệp (DN) tiếp tục cho người lao động (NLĐ) nghỉ việc

và thanh lý hợp đồng sẽ tiếp tục diễn ra vào tháng 7, tháng 8, thậm chí đến cuối năm 2020 Các DN trong ngành du lịch cố cầm cự để giữ chân NLĐ, mong qua dịch sẽ có lượng khách du lịch hồi phục lại Tuy nhiên, hiện tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn diễn biến hết sức phức tạp, Việt Nam vẫn chưa nhận du khách nước ngoài, ngành du lịch tiếp tục gặp khó khăn Hiện nay hầu hết DN du lịch đang rà soát nhân sự để cho nghỉ việc Tương tự, nhiều ngành khác cũng thế, khi chúng ta đứt gãy chuỗi cung ứng, kinh tế lại rất mở, nên các DN xuất khẩu không xuất được hàng và không nhập được nguyên liệu sẽ tiếp tục cắt giảm số lao động Đây là thực trạng chung

Trang 6

Theo thống kê của tất cả các quận huyện, địa bàn TP Hà Nội, từ tháng 4 có

khoảng 65.000-67.000 lao động tạm hoãn, ngừng, mất việc làm Con số này từ nay đến cuối năm 2020 sẽ tăng gấp đôi, lên hơn 100.000 người Căn cứ số người đến Trung tâm Dịch vụ việc làm (TTDVVL) thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), trong 6 tháng đầu năm đã lên tới gần 40.000 người Riêng quý 2.2020, con số tăng thêm 70,8% so với quý 1.2020

9 tháng đầu năm đã có hơn 850.000 người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp Vì vậy, nỗ lực giúp người lao động tìm việc làm, ổn định cuộc sống là một trong những

ưu tiên hàng đầu hiện nay

Báo cáo của Bộ LĐ-TB-XH cho biết 9 tháng đầu năm 2020 thị trường lao động có nhiều biến động, lực lượng lao động tiếp tục có xu hướng giảm, số lao động mất việc làm tiếp tục gia tăng dẫn đến tình trạng thất nghiệp diễn biến khó lường Sự suy giảm việc làm diễn ra mạnh ở đối tượng làm công hưởng lương khi tình trạng sa thải, ngưng việc ở các doanh nghiệp (DN) vẫn tiếp tục gia tăng, tập trung ở một số ngành nghề như may mặc, da giày, túi xách, thương mại điện tử, du lịch, khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, giao nhận Trong 9 tháng, đã có 853.971 người lao động (NLĐ) nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp và Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đã chi 9.253 tỉ đồng để giải quyết trợ cấp thấp nghiệp…

Đặc biệt, Bộ LĐ-TB-XH đánh giá đợt dịch Covid-19 lần 2 tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động do thị trường hàng hóa, nhất là thị trường xuất khẩu, đóng băng

Thất nghiệp, thiếu việc làm và lao động phi chính thức

Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2019 ước gần 1,1 triệu người, giảm 5,5 nghìn người so với năm 2018 Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2019 ước là 2,16%, giảm 0,03 điểm phần trăm so với năm 2018

Thất nghiệp của lao động thanh niên trong độ tuổi từ 15-24 trong năm 2019 ước khoảng 428,5 nghìn người, chiếm 38,7% tổng số người thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong năm 2019 ước là 6,39%, giảm 0,53 điểm phần trăm so với năm

2018 (trong đó ở khu vực thành thị là 10,24%, giảm 0,22 điểm phần trăm) Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15- 24 tuổi cao hơn gấp 3 lần so với tỷ lệ thất nghiệp chung

do lực lượng này khi tham gia vào thị trường lao động thường có xu hướng tìm kiếm việc làm phù hợp với trình độ năng lực của mình hơn so với các nhóm dân số ở độ tuổi khác Đây là tình hình chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập hoặc đào

tạo (NEET) của cả nước năm 2019 ước là 11,2%, tương đương với gần 1,3 triệu thanh niên Tỷ lệ NEET ở khu vực thành thị thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với khu vực

Trang 7

nông thôn, ở nữ thanh niên cao hơn 4,2 điểm phần trăm so với nam thanh niên.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi trong năm 2019 ước tính là 1,26% (ở khu vực nông thôn cao hơn 0,9 điểm phần trăm so với khu vực thành thị, tương ứng là 1,57% và 0,67%)

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức của cả nước trong năm 2019 là 54,6%, giảm 1,6 điểm phần trăm so với năm 2018 Riêng tại khu vực nông thôn, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 61,7%, cao hơn 15,4 điểm phần trăm so với tỷ lệ lao động

có việc làm phi chính thức của khu vực thành thị (46,3%)

Đa số lao động có việc làm phi chính thức đều chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật Trong số những lao động có việc làm phi chính thức, lao động có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ trọng cao nhất (34,0%), tiếp đến là lao động có trình độ tiểu học (23,5%) và trung học phổ thông (17,4%) Lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ

từ sơ cấp trở lên chỉ chiếm 15,2% tổng số lao động có việc làm phi chính thức

Thu nhập của người lao động

Thu nhập bình quân tháng từ công việc của người lao động năm 2019 đạt 5,6 triệu đồng, tăng 799 nghìn đồng so với năm trước Thu nhập bình quân của lao động nam cao hơn lao động nữ 1,4 lần (tương ứng 6,5 triệu đồng và 4,6 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động thành thị cao hơn thu nhập của lao động nông thôn 1,6 lần (tương ứng là 7,5 triệu đồng và 4,7 triệu đồng)

Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương trong năm 2019 ước đạt 6,7 triệu đồng, tăng hơn 866 nghìn đồng so với năm trước Thu nhập bình quân của lao động nam cao hơn lao động nữ 1,1 lần (tương ứng 7,1 triệu đồng và 6,3 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động thành thị cao hơn lao động nông thôn 1,3 lần (tương ứng là 7,8 triệu đồng và 5,9 triệu đồng)

Hình 1 Thu nhập bình quân của lao động làm công hưởng lương

theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, giai đoạn 2017-2019

Trang 8

Thu nhập của lao động làm công hưởng lương đều tăng ở tất cả trình độ và tăng cao hơn ở nhóm có trình độ chuyên môn kỹ thuật Lao động có trình độ cao thì mức thu nhập cao hơn Năm 2019, thu nhập của lao động có trình độ đại học là 9,3 triệu đồng, cao gấp 1,6 lần thu nhập của lao động không có chuyên môn kỹ thuật (5,8 triệu đồng)./

2.3 Đánh giá

2.3.1 Mặt đạt được

Tp Hà Nội có nguồn nhân lực dồi dào đây là một lợi thế của tp ,chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao qua các năm,nhu cầu tuyển dụng nguồn nhân lực lớn cho thấy được thành phố hồ chí minh có một thị trường lao động rộng lớn, người lao động có thể tìm việc một cách dễ dàng

Mỗi tháng thì trung tâm dự báo nguồn nhân lực và thị trường lao động tp hcm luôn phân tich tình hình thị trường lao động của thành phố và dự báo nhu cầu tuyển dụng những tháng tiếp theo điều đó đã giúp cho thành phố biết được những biến động của thị trường lao động

Trang 9

Tỷ lệ làm công ăn lương của thành phố chiếm tỷ lệ cao, Thu nhập bình quân của lao động làm việc được cải thiện.Lao động làm công ăn lương được thừa nhận là bộ phận lao động ưu tú, có trình độ, số đông ở độ tuổi trưởng thành và chủ yếu làm việc trong ngành công nghiệp, dịch vụ nơi có năng suất lao động và các tiêu chuẩn lao động được đảm bảo hơn

Môi trường pháp bình đẳng tạo điều kiện thuận lợi để thị trường lao động thành phố phát triển

2.3.2 Mặt hạn chế

Bên cạnh những điểm mạnh thì thị trường lao động tại thành phố hà nội còn có những hạn chế

Tp hà nội có nguồn nhân lực dồi dào nhưng chưa biết tận dụng hết lợi thế đó,tỷ lệ lao động qua đào tạo còn chiểm tỷ lệ lớn, đào tạo nhân lực chưa phù hợp với nhu cầu tuyển dụng,

Nhu cầu tuyển dụng của thành phố rất lớn nhưng trình độ của người lao động có tay nghề vẫn còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của tuyển dụng dẫn đến tình trạng mất cân đối cung cầu

Số lượng đào tạo lớn nhưng chất lượng, trình độ lao động chưa cao, có thể đáp ứng được những công việc đòi hỏi chuyên môn vẫn chưa nhiều Vì thế thị trường lao động

TP thời gian gần đây luôn diễn ra tình trạng mất cân đối về số lượng cũng như chất lượng trong cơ cấu ngành nghề và trình độ nghề chuyên môn Tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động chất lượng cao trong các ngành kỹ thuật thuộc nhóm ngành nghề công nghiệp trọng yếu và kinh tế dịch vụ như cơ khí, luyện kim, hóa chất, điện tử, công nghệ thông tin

.Số lao động cung ứng hằng năm cho thành phố nhiều nhưng chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu của người tuyển dụng dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp ở tp vẫn còn cao

2.3.3 Nguyên nhân

Cung lao động vượt quá cầu lao động: do sự giá tăng về dân số và tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp từ giai đoạn 2019 cho đến nay nên số lượng lao động cần sử dụng hạn chế, thu hút vốn đầu tư kém, tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, hàng loạt doanh nghiệp doanh thu bị cắt giảm và dẫn đến nợ lương công nhân

Trang 10

Từ năm 2019 đến nay, các công ty có quy mô lớn trên địa bàn tỉnh Hà Nội thu hẹp sản xuất, sát nhập và giải thể dẫn đến khối lượng lao động bị thất nghiệp Chất lượng nguồn lao động không đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị trường: tình trạng thừa thầy thiếu thợ, nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế, lao động phổ thông chưa qua đào tạo rất dồi dào nhưng không đáp ứng được yếu cầu của thị trường

Tâm lý chung của dân cư thành thị trong việc chọn việc làm: do mức sống dân

cư thành thị cao mà người học chỉ muốn chọn trường đại học, cao đẳng thay vì học nghề

Ngày đăng: 24/11/2021, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w