BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN PHAN THỊ HOÀI CHÂU NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HẠT NẢY MẦM TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHIM BỒ CÂU PHÁP DÒNG TITAN THEO
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
PHAN THỊ HOÀI CHÂU
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HẠT NẢY MẦM TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHIM BỒ CÂU PHÁP DÒNG TITAN THEO PHƯƠNG THỨC NUÔI NHỐT TẠI HUYỆN
VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM
Bình Định - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
PHAN THỊ HOÀI CHÂU
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HẠT NẢY MẦM TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CHIM BỒ CÂU PHÁP DÒNG TITAN THEO PHƯƠNG THỨC NUÔI NHỐT TẠI HUYỆN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình
Người cam đoan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Ban đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài và đưa ra những đóng góp hết sức quý báu cho luận văn
Xin được cảm ơn Quý Thầy, Cô trong khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp trường đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi được học và hoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi, tạo điều kiện về cơ sở vật chất để tôi tiến hành thí nghiệm và hoàn thành luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Người viết luận văn
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi gia cầm và vấn đề thương mại hóa các sản phẩm từ gia cầm ngày càng phát triển mạnh mẽ trong những thập niên gần đây Bên cạnh các giống gia cầm được nuôi lâu đời trở thành nghề truyền thống của người dân Việt Nam như vịt, gà, ngỗng thì bồ câu là một trong những đối tượng được người chăn nuôi hướng tới lựa chọn để nuôi làm kinh tế
Hiện nay, mô hình nuôi chim bồ câu làm kinh tế đang được nhân rộng
ra nhiều tỉnh thành trong cả nước, phổ biến ở các tỉnh: Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Định,…Quy trình nuôi đơn giản, không đòi hỏi đầu tư nhiều, nhu cầu thị trường lớn, hiệu quả kinh tế từ nuôi chim bồ câu đã được khẳng định, góp phần tăng thu nhập đáng kể cho người nuôi Trong các mô hình nuôi chim bồ câu lấy thịt gần đây giống bồ câu Pháp được lựa chọn nhiều bởi đây là giống chuyên thịt nổi tiếng Giống chim bồ câu này được Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương - Viện chăn nuôi Quốc gia nhập về nuôi từ năm 1996, mang nhiều đặc điểm sinh học và kinh tế nổi trội Chúng có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94 - 99% Năng suất của chúng hơn hẳn chim bồ câu Việt Nam Mỗi năm, một cặp chim bố
mẹ cho ra đời 9 cặp con Chim trưởng thành có khối lượng 0,8 - 1 kg
Trong chăn nuôi, mục tiêu hướng đến là đạt năng suất cao, hạn chế dịch bệnh đồng thời giảm chi phí đến mức thấp nhất Với mục tiêu như vậy thì việc tìm hiểu phối trộn công thức thức ăn để nuôi chim bồ câu là hết sức quan trọng Từ lâu, các chuyên gia dinh dưỡng đánh giá cao vai trò của hạt ngũ cốc
nảy mầm và hạt đậu nảy mầm vì giá trị dinh dưỡng của chúng mang lại
Vì vậy để tìm hiểu sâu hơn về sự ảnh hưởng hạt nảy mầm đến sự sinh trưởng và phát triển của bồ câu Pháp từ đó có thể đưa ra các biện pháp tốt để
Trang 6nâng cao năng suất của giống nuôi, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hạt nảy mầm trong khẩu phần đến sinh trưởng, phát triển của chim bồ câu Pháp dòng Titan theo phương thức nuôi nhốt tại huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hạt lúa và đậu xanh nảy mầm đến sự phát triển của chim bồ câu Pháp dòng Titan theo phương thức nuôi nhốt hộ gia đình tại huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định
- Đưa ra công thức thức ăn thích hợp nhằm nâng cao năng suất và tiết kiệm chi phí chăn nuôi chim bồ câu tại huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu xác định ảnh hưởng của hạt nảy mầm đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bồ câu Pháp theo phương thức nuôi nhốt tại huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định
- Xác định một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của chim bồ câu trong điều kiện nuôi nhốt tại hộ gia đình ở huyện Vĩnh Thạnh, bổ sung kiến thức cơ bản về giống chim này
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn góp phần giúp tăng thêm sự hiểu biết về giá trị dinh dưỡng
của hạt nảy mầm trong nuôi giống bồ câu Pháp
- Từ kết quả của đề tài làm cơ sở để các hộ chăn nuôi, các trang trại của tỉnh Bình Định có thêm sự lựa chọn khẩu phần ăn cho phù hợp với mục đích sản xuất
4 Cấu trúc của luận văn
Gồm các phần: Mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục
và 3 chương:
Trang 7Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Trang 8CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình chăn nuôi bồ câu trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình chăn nuôi bồ câu trên thế giới
Từ xưa, phong trào nuôi bồ câu đã được người cổ đại chú trọng Những phát hiện mới nhất cho thấy cách đây sáu ngàn năm, người Ai cập cổ đã khắc
vẽ bên vách Kim Tự Tháp nhiều hình tượng cho thấy vào thời đó người dân
đã biết nuôi bồ câu Cũng nhiều tài liệu cho thấy hàng ngàn năm trước Công nguyên, người Ai Cập, Hy Lạp, La Mã đã biết nuôi lấy thịt và huấn luyện bồ câu đưa thư
Trên thế giới, bên cạnh việc chăn nuôi các động vật nông nghiệp truyền thống, chăn nuôi bồ câu đã được biết đến từ rất lâu Bồ câu là loài chim khá phổ biến, sống ở hầu hết các thành phố trên thế giới Tại Châu Âu, chúng được xem là dân cư quen thuộc của thành phố, du khách và người yêu chim cho ăn hằng ngày nơi công cộng Nhiều bầy chim lưu trú và làm tổ ở các cao
ốc, rồi bay đi kiếm ăn ở các vùng quê lân cận Bồ câu là loài ăn hạt, chúng tìm
ăn ngũ cốc rơi vãi trên cánh đồng, sân phơi, đường đi…Tại các thành phố, chúng chấp nhận cả bánh mì và những thức ăn khác do các du khách và cư dân thành phố cung cấp Tại Đông Nam Á, những đàn bồ câu thường có chủ, chúng được nuôi thả vì mục đích lấy thịt kết hợp làm cảnh
Hiện nay trên thế giới các nhà điểu học đã lai tạo ra nhiều nòi bồ câu vừa lạ vừa đẹp, có những đặc tính ưu việt về trọng lượng, vóc dáng, màu lông, khả năng sinh sản tốt và có sức chịu đựng cao mọi loại thời tiết, khí hậu Hiện nay, bồ câu được nuôi vào nhiều mục đích khác nhau như đua chim, lấy thịt, làm cảnh
Ở Châu Âu, Châu Mỹ trong mấy thế kỷ qua, các nhà khoa học đã không ngớt nghiên cứu và thử nghiệm lai tạo ra nhiều nòi bồ câu mới, và nhiều nước
Trang 9đã phát triển nghề chăn nuôi bồ câu theo quy mô công nghiệp, chứ không nuôi nhỏ lẻ như trước đây Tại Châu Úc, Canada, Đức, Pháp đã thực hiện nhiều trang trại bồ câu lớn đến hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn cặp chim Trong đó,Trại Euro Pigeon của Pháp nổi tiếng bề thế
Tại Châu Á, các nước lân cận như Mã Lai, Singapore, Thái lan đã phát triển nghề chăn nuôi này theo quy mô công nghiệp Ở Bangkok-Thái Lan có các trang trại nuôi nhiều giống quý hiếm để tung ra thị trường trên thế giới như Chor Nokenoi, Bird Land Col Ltd, Leam Thon Poultry Co Ltd
Chim bồ câu được ăn thịt phổ biến nhất là khi chúng vừa “ra ràng” (tên tiếng Anh là squab) Trong thuật ngữ ẩm thực, chim “ra ràng” là bồ câu non khoảng một tháng tuổi, nó đã đạt tới kích cỡ gần trưởng thành Trong quá khứ, chim “ra ràng” hoặc chim bồ câu các loại nói chung đã được tiêu thụ tại nhiều quốc gia văn minh cổ đại, bao gồm Ai Cập, Ý và Mediver… Thời đó, người ta đã săn bắn chim bồ câu làm thức ăn cung cấp prôtêin có giá rẻ Chim “ra ràng” rất dễ bắt để làm thịt khi chúng còn non, chưa đủ lông để bay khỏi tổ, cũng vào thời gian đó đã có một số nông dân nuôi chim sinh sản để sản xuất ra chim non ăn thịt
Gần đây, chim “ra ràng” được sản xuất hoàn toàn từ các trang trại lớn ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Bắc Phi, Trung đông, một số nước Châu Âu, nhiều nước Bắc Mỹ…trong đó, người ta chăn nuôi các giống chim thịt Ở Hoa
Kỳ, có trại nuôi đến 35 000 đôi chim Ở Ai Cập, nuôi từ 3000 - 5000 đôi chim
bồ câu là quy mô tương đối phổ biến trong cả nước
1.1.2 Tình hình chăn nuôi chim bồ câu ở Việt Nam
Trước kia quy mô chăn nuôi chim bồ câu phổ biến ở nước ta là nuôi từ vài cặp tới vài trăm con, kết hợp vừa giải trí, vừa có chim bồ câu “ra ràng” ăn thịt Bất cứ nơi nào, từ thành thị tới thôn quê, đâu đâu ta cũng thấy những cánh chim bồ câu bay lượn
Trang 10Ngày 16 tháng 01 năm 2008, Chính phủ đã có Quyết định số 10/2008/QĐ - TTg về chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 Theo quyết định đó, từ năm 2010 và 2015, mức tăng trưởng bình quân: giai đoạn
2008 - 2010 đạt khoảng 8 - 9% năm; giai đoạn 2010 - 2015 đạt khoảng 6 - 7% năm và giai đoạn 2015 - 2020 đạt khoảng 5 - 6% năm; Sản lượng thịt xẻ các loại: năm 2010 đạt khoảng 3.200 ngàn tấn, trong đó: thịt lợn chiếm 68%, thịt gia cầm chiếm 27%, thịt bò chiếm 3%; Năm 2015 đạt khoảng 4.300 ngàn tấn, trong đó: thịt lợn 65%, thịt gia cầm 31%, thịt bò 3%; đến năm 2020 đạt khoảng 5.500 ngàn tấn, trong đó: thịt lợn 63%, thịt gia cầm 32%, thịt bò 4%; Sản lượng trứng, sữa: năm 2010 đạt khoảng 7 tỷ quả và 380 ngàn tấn; năm 2015: khoảng 11 tỷ quả và 700 ngàn tấn; đến năm 2020: khoảng 14 tỷ quả và trên 1.000 ngàn tấn Bình quân sản phẩm chăn nuôi/người: năm 2010 đạt: 36
kg thịt xẻ, 82 quả trứng, 4,3 kg sữa; năm 2015 đạt: 46 kg thịt xẻ, 116 quả trứng, 7,5 kg sữa và đến năm 2020 đạt trên 56 kg thịt xẻ, trên 140 quả trứng
và trên 10 kg sữa Tỷ trọng thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp so với tổng sản lượng thịt năm 2010 đạt khoảng 15%; năm 2015 đạt 25% và đến năm 2020 đạt trên 40% Với quyết định đó đã thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm với nhiều mô hình và đối tượng nuôi khác nhau, trong đó có mô hình nuôi chim bồ câu thịt
Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ thịt chim bồ câu rất lớn, không đủ số lượng cung cấp cho thị trường, do đó gần đây đã xuất hiện và phát triển hình thức chăn nuôi tập trung từ vài trăm tới cả ngàn con, mang lại lợi nhuận lớn Các giống chim bồ câu nhập nội, cùng những tiến bộ mới trong dinh dưỡng, phòng dịch và quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, đang mang lại phong trào chăn nuôi bồ câu phát triển mạnh mẽ ở khắp các vùng miền trong cả nước
Tháng 9/1996, Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương đã nhập
Trang 11nội dòng chim bồ câu Pháp, gọi tắt VN1 Đến tháng 5/1998 lại tiếp tục nhập tiếp hai dòng nữa là Titan và Mimas để khảo sát và nhân giống Sau một thời gian, nhiều tỉnh thành trong cả nước, phổ biến ở các tỉnh: Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Định,…đã nhân rộng và thành công trong việc nuôi thử nghiệm mô hình nuôi chim bồ câu làm kinh tế Điển hình một số nơi nuôi với số lượng lớn như trại giống Chim Bồ câu Pháp Tây Nguyên, Trại bồ câu Sáng Tạo (Bắc Giang)
Tại Bình Định, đầu năm 2000 chim bồ câu Pháp được đưa về Trung tâm Khoa học kỹ thuật vật nuôi Bình Định để nuôi thử nghiệm nhân giống Đến nay, thì mô hình nuôi chim bồ câu Pháp làm kinh tế đã được nhân rộng trên hầu hết các huyện lỵ và thành phố của tỉnh như Quy Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Hoài Ân, Tuy Phước, Vĩnh Thạnh
Hiện nay tại địa bàn Vĩnh Thạnh có 2 trang trại và nhiều nông hộ nuôi nuôi chim bồ câu làm kinh tế với quy mô từ 50 cặp đến 800 – 900 cặp, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao
1.2 Nguồn gốc và vị trí phân loại
1.2.1 Nguồn gốc chim bồ câu
Bồ câu thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ
bồ câu Columbiformes gồm những loài chim đi chậm nhưng bay rất khỏe như
bồ câu, cu gáy Gốc mỏ mềm, chúng ăn quả và hạt là chính
Loài chim bồ câu (Columba livia) thuộc bộ bồ câu (Columbiformes)
có tổ tiên từ một loài bồ câu núi sống ở Châu Âu, Bắc Phi, một phần Châu Á,
đã được thuần dưỡng từ 30 thế kỉ trước Công nguyên [12] Loài này sống thành đàn, ưa làm tổ trong hốc đá, gồm khoảng 450 giống Dựa vào công dụng của chúng có thể phân bồ câu nhà thành 4 nhóm : Bồ câu đưa thư (bay nhanh); bồ câu thể thao (có thể thực hiện nhiều kiểu bay lượn đặc biệt); bồ câu cảnh (hình thái cơ thể, bộ lông đặc biệt kì lạ hấp dẫn); bồ câu thịt (có khối
Trang 12lượng cơ thể lớn, cho lượng thịt gấp hai lần các nhóm kể trên )
Bồ câu nhà thuộc nhóm bồ câu thịt Tùy tập quán từng nước, từng vùng khí hậu sinh thái người ta nuôi nhiều nòi bồ câu có khối lượng và màu sắc khác nhau.Về khối lượng, thông thường nặng khoảng 800 - 1000g (con trống), 600 - 900g (con mái) Chúng cũng có nhiều màu sắc : đen, xám, khoang, trắng, nâu nhạt
1.2.2 Vị trí phân loại
Giới: Animalia
Ngành: Chordata Lớp: Aves
1.3.1 Đặc điểm hình thái, tập tính sinh học của chim bồ câu
Thân chim hình thoi, cổ linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía, giúp mổ thức ăn, tự vệ, rỉa lông, tấn công
Cơ thể chim được bao phủ bởi lông vũ Lông phân bố đều trên bề mặt
cơ thể chim non cũng như chim trưởng thành, chiếm tỷ lệ 4 - 9% khối lượng sống Lông ống có số lượng nhiều nhất, phân bố ở cánh và đuôi, chúng nằm xếp lớp lên nhau và tạo thành bộ lông ngoài Lông tơ là lông bao phủ thân,tạo thành lớp nằm dưới lông ống giữ ấm cho cơ thể Lông chỉ hay lông hình sợi giống lông mao của gia súc nhưng mềm và mảnh, những lông này mọc thành nhóm nhỏ xung quanh mỏ và mí mắt Lông chổi hay còn gọi là lông hình bút sơn mọc xung quanh lỗ huyệt, lỗ thoát chất tiết của tuyến phao câu có chùm
Trang 13lông tương đối dài và mỏng, ở đầu có một chùm tơ trong giống như cái bút sơn
Màu sắc lông chim gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố melanin và lipocrom Ở tiền sắc tố melanin là melanogen Sự oxy hóa melanogen ở các mức độ khác nhau sẽ cho ra các màu lông khác nhau: vàng đất, vàng gỉ sắt, hung gỉ sắt, nâu hung, đen, nâu Màu lông rực rỡ của chim được tạo bởi sắc tố lipocrom Nó thuộc nhóm sắc tố carotenoit Chúng làm cho lông có màu vàng,
đỏ, xanh da trời Nếu không có sắc tố thì lông màu trắng, đó là chim bạch tạng, thường thấy ở chim bồ câu trắng
Da chim mỏng, không có tuyến nhờn chỉ có tuyến ở gần đuôi gọi là tuyến phao câu tiết ra chất nhờn dùng rỉa lông cho bóng đẹp
Bồ câu có bản năng ấp trứng tốt, nuôi con giỏi, kiếm mồi và khả năng nhận biết đường đi Bồ câu thường đẻ hai trứng nở hai con một trống, một mái nhưng cũng có ít trường hợp nở ra toàn mái hoặc toàn trống Bồ câu khá mắn đẻ, thường 40 - 50 ngày cho một lứa nuôi tốt Ở điều kiện khí hậu sinh thái nước ta giống chim nội có thể có 5 - 6 lứa ở miền Bắc và 6 - 7 lứa ở miền Nam, giống chim bồ câu Pháp có thể đẻ 9 lứa/năm
Trang 14- Ưa chuồng đẹp, rộng có màu sắc lạ đặt ở chỗ cao, thích tha vật lạ vào chuồng Chuồng bẩn, chật hẹp bồ câu bỏ chuồng mà đi
- Ưa sống nơi yên tĩnh: Khu nuôi không được ồn ào, nhiều kiến, tránh chó mèo, chuột bọ quấy phá chim dễ bị sốc
- Ưa ăn thức ăn hạt: Chúng ưa thức ăn hạt như bắp, lúa, các loại đậu Đặc biệt
là các loại hạt đậu đỗ chứa nhiều prôtêin giúp chim khỏe, tăng khả năng sinh sản và phát triển cơ bắp
- Ưa tắm: Bồ câu thích tắm nước và tắm nắng Bồ câu có tập tính đứng soi mình, rỉa lông cạnh bể nước và đó cũng là nơi trống mái “tự tình” Trong khi tắm con trống thường đùa giỡn hai cánh khẽ đập nước và gù con mái
- Dễ tính trong việc dồn trứng và dồn con
- Tính thông minh: Bồ câu vừa có trí nhớ dai vừa biết định hướng để bay về đúng chỗ cũ Ở các cặp vợ chồng nhận ra nhau không chỉ bằng mắt mà chúng nhận ra nhau chủ yếu bằng âm thanh Mỗi loài chim đều phát ra một loại âm thanh và quãng cách giữa các âm Bồ câu cũng có âm thanh đặc biệt, con trống phát ra tiếng gù khi to khi nhỏ
1.3.2 Đặc điểm về sức sống
Sức sống là đặc điểm di truyền của động vật, xác định khả năng vượt qua và phát triển được dưới ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường Đặc điểm này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm sống sót qua các giai đoạn phát triển cá thể
Trang 15- Ảnh hưởng của môi trường bên trong: Chính là tất cả các yếu tố liên quan đến chất lượng trứng ấp, bao gồm tất cả các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng như khối lượng trứng, chỉ số hình thái trứng, chất lượng vỏ trứng, tỷ lệ lòng trắng, lòng đỏ, chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh
Trứng có khối lượng trung bình của giống có tỷ lệ nở cao hơn trứng lớn hơn hoặc nhỏ hơn trong cùng giống Trứng có chỉ số hình dạng 0,74 -0,76(d/D) là nở tốt
Hệ số di truyền về tỷ lệ ấp nở là 0,13 - 0,16, có sự biến động lớn qua các năm Tỷ lệ nở liên quan đến thời gian của chu kỳ đẻ trứng, trứng đẻ giữa chu kỳ có tỷ lệ nở cao hơn đầu và cuối chu kỳ [4]
- Ảnh hưởng của môi trường bên ngoài: Chế độ nuôi đàn bố mẹ,thời gian bảo quản, điều kiện bảo quản trứng trước khi ấp, chế độ ấp trứng
1.3.2.2 Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu đánh giá sức sống vật nuôi ở giai đọan hậu phôi Sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn Tỷ lệ sống xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống so với số cá thể được nuôi dưỡng qua từng thời kỳ, giai đoạn
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sống:
- Yếu tố di truyền bao gồm kiểu di truyền và phương pháp nhân giống Mỗi giống, dòng hay cá thể chim đều được thừa hưởng các kiểu di truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác về sức sống và khả năng chống bệnh Chính vì vậy chúng có sức sống và khả năng chống bệnh khác nhau dẫn đến tỷ lệ nuôi sống cũng khác nhau Giao phối đồng huyết sẽ dần làm giảm sinh lực và sức sống của đời con Hệ số di truyền (h2
) của tính trạng này tương đối thấp (0,10
- 0,33) nên chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện môi trường
- Yếu tố ngoại cảnh: Nhiệt độ thấp hay cao so với yêu cầu của con vật đều ảnh hưởng tới sức khỏe của chúng Chăm sóc đàn chim không đúng quy
Trang 16trình kỹ thuật như mật độ quá cao, thời gian và cường độ chiếu sáng không thích hợp, chăm sóc ăn và uống không đầy đủ, không đảm bảo vệ sinh đều làm giảm tỷ lệ nuôi sống của đàn nuôi
Tỷ lệ nuôi sống của một số giống chim : ở chim non đến 28 ngày tuổi dòng Mimas là 91,5%, chim dò (1 - 6 tháng) là 93,18% Dòng Titan chim non
28 ngày tuổi là 92,1%, chim dò 95,02% Ở chim cút từ 0 - 12 tuần tuổi là 93,56% [5]
Để đánh giá sức sống của vật nuôi ở giai đoạn hậu phôi cần xác định tỷ
lệ sống Mặt khác, để đánh giá sức sống các nhà chăn nuôi còn xác định trạng thái sức khỏe bằng cách xác định tỷ lệ mắc bệnh trên 1 đơn vị thời gian
Sự giảm sức sống thể hiện ở tỷ lệ chết Hiện tượng chết do bệnh tật và nhân tố khác Có thể chọn lọc theo sức sống trong đàn để giảm tỷ lệ chết của gia cầm ở các giai đoạn [1]
1.3.3 Đặc điểm sinh trưởng
1.3.3.1 Khối lượng cơ thể
Khối lượng cơ thể là chỉ tiêu đánh giá khả năng cho thịt của chim khi còn sống Theo Goldfrey tính trạng này được quy định bởi 15 cặp gen và phải
có ít nhất một gen liên kết giới tính [15, 21] Khối lượng sơ sinh không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể và tốc độ lớn sau một tháng tuổi Khối lượng cơ thể có liên quan chặt chẽ với kích thước chiều đo, khối lượng trứng Khối lượng cơ thể phụ thuộc vào đặc điểm của loài, giống, giới tính, lứa tuổi hay hướng sản xuất Các giống gia cầm hướng thịt có khối lượng lớn hơn giống hướng trứng
Khối lượng cơ thể có hệ số di truyền 36 - 61% Sự biến dị của tính trạng này phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng Đã xác định khối lượng cơ thể chim bồ câu ta ở giai đoạn 28 ngày tuổi đạt 342,6 g [25] Theo tài liệu hãng Grimaud Freres chim bồ câu pháp dòng
Trang 17Mimas khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 590g và dòng Titan đạt 700g Khi vào đẻ, dòng Mimas con trống nặng 688g, con mái 667g Dòng Titan con trống 718g, con mái 679g Ở Hoa kỳ, giống bồ câu Hungarian có khối lượng cơ thể đạt 780g con trống và 700g con mái Bồ câu “Siêu thịt” Romais có khối lượng cơ thể ở giai đoạn trưởng thành đạt 1300g Ở Việt Nam hiện nay có giống bồ câu King (nguồn gốc Mỹ) được nuôi làm cảnh với khối lượng khá lớn 800g [2].
1.3.3.2 Tốc độ sinh trưởng
Sinh trưởng là sự biến đổi về lượng, biểu hiện về sự tăng lên về khối lượng hoặc kích thước của bộ phận hay toàn cơ thể Tốc độ sinh trưởng là biểu hiện sự thay đổi (tăng lên) về kích thước và khối lượng vật nuôi thời điểm khác nhau trong quá trình sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng là tính trạng về số lượng [1], phụ thuộc vào các yếu
tố di truyền, giới tính, cá thể, chế độ chăm sóc Ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình sinh trưởng của cùng một cá thể thì tốc độ sinh trưởng là khác nhau và là một trong những căn cứ để xác định thời điểm giết thịt kinh tế nhất Tốc độ sinh trưởng càng cao thì hiệu quả sử dụng thức ăn càng lớn
- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng cơ thể là giá trị tăng lên về khối lượng cơ thể trên một đơn vị thời gian; Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng thường được xác định bằng đơn vị gam/con/ngày
Giá trị sinh trưởng tuyệt đối khối lượng biểu thị giá trị sản xuất của tính trạng trên một đơn vị thời gian, cho từng giai đoạn phát triển, cho từng giống
có thể dùng để dự đoán năng suất và làm chỉ tiêu trong so sánh chọn lọc Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn Ở gia cầm nói chung sinh trưởng tuyệt đối khối lượng biến thiên theo quy luật tăng dần từ sơ sinh đến trước trưởng thành, sau giai đoạn trưởng thành thì giá trị sinh trưởng tuyệt đối giảm dần và đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng hình parabol Kết
Trang 18quả nghiên cứu của [9] trên bồ câu Pháp dòng VN1 cho biết: giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng đạt 21,36 g/ngày Giai đoạn
7 - 14 ngày tuổi, 14 - 21 và 21 - 28 ngày tuổi đạt các giá trị 6,74 g/ngày; 32,53 g/ngày và 11,76 g/ngày tương ứng
- Tốc độ sinh trưởng tương đối khối lượng là tỷ lệ phần trăm mức độ
tăng thêm về khối lượng cơ thể ở thời điểm khảo sát so với thời điểm trước
đó Giá trị tốc độ sinh trưởng tương đối biểu thị tốc độ sinh trưởng nhanh hay chậm, đặc trưng cho giống, cho từng giai đoạn phát triển
Đồ thị tốc độ sinh trưởng tương đối có dạng hyperbol, tốc độ sinh trưởng tương đối sẽ giảm dần qua các giai đoạn tuổi, đơn vị tính là % Kết quả nghiên cứu của [9] cho biết giai đoạn 1 - 7; 7 - 14; 14 - 21 và 21 - 28 ngày
tuổi tốc độ sinh trưởng tương đối của bồ câu Pháp dòng VN1 đạt các giá trị:
165,75%; 25,02%; 69,85%và 17,12% tương ứng
Cơ sở tế bào học của tốc độ sinh trưởng chính là quá trình phân chia và tích lũy chất hữu cơ của tế bào cơ thể Quá trình này tạo nên sự tăng lên về khối lượng, kích thước các chiều đo của cơ thể thông qua quá trình trao đổi chất Cường độ sinh trưởng là một chỉ tiêu đánh giá phẩm chất giống, đánh giá khả năng thích nghi của một giống gia cầm trong điều kiện sống mới
1.3.3.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn
Hiệu quả sử dụng thức ăn là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn (kg) để đạt được một kg tăng khối lượng Vì sự tăng khối lượng là kết quả của quá trình
chuyển hóa thức ăn
Nếu cơ thể có quá trình tăng khối lượng chậm thì năng lượng từ thức
ăn tiêu tốn cho duy trì sẽ cao hơn so với cơ thể tăng khối lượng nhanh và như vậy sẽ dẫn đến tiêu tốn thức ăn cao
Tiêu tốn thức ăn trên một kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại nếu tỷ lệ này cao thì hiệu quả kinh tế sẽ thấp đi
Trang 19Theo Chamber và cộng sự (1995) thì hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn là rất cao, từ + 0,5 đến + 0,9
Hiệu quả sử dụng thức ăn tùy thuộc vào giống, giới tính, tình hình sức khỏe, chất lượng thức ăn sử dụng Hiệu quả sử dụng thức ăn quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vì chi phí thức ăn chiếm khoảng 70 - 75% giá thành sản phẩm Thức ăn theo dõi hàng ngày của bồ câu được tính bằng cách cân khối lượng thức ăn đã cho ăn và khối lượng thức ăn thừa hàng ngày để tính khối lượng thức ăn đã tiêu thụ thực tế của chim qua các giai đoạn tuổi
1.3.4 Đặc đểm sinh sản và một số chỉ tiêu sinh lý máu
1.3.4.1 Tuổi đẻ quả trứng đầu
* Tuổi đẻ quả trứng đầu là một chỉ tiêu đánh giá về sự thành thục sinh dục, là tính trạng di truyền
Nếu xét về mặt cá thể, tuổi đẻ quả trứng đầu là thời gian từ khi nở ra đến khi bồ câu đẻ quả trứng đầu tiên Còn đối với quần thể thì chỉ tiêu này được xác định từ khi nở ra đến khi 5% tổng đàn đẻ
Tuổi đẻ của loài, giống khác nhau thì không giống nhau Với cùng một giống trong chế độ ăn, điều kiện nuôi dưỡng và mùa vụ khác nhau thì cũng ảnh hưởng đến tuổi đẻ Tuổi đẻ đến sớm thường ảnh hưởng đến khối lượng trứng, trứng sẽ nhỏ hơn Sự thành thục của chim bồ câu xảy ra từ lúc 3 tháng
15 ngày cho đến 7 - 8 tháng tuổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố (bồ câu Pháp 5 -
6 tháng tuổi, bồ câu nội 7 - 8 tháng tuổi)
- Về giống: Nhìn chung những giống chim bồ câu có tầm vóc nhỏ đẻ sớm hơn những giống to
- Mùa sinh nở: Những con chim bồ câu non nở vào mùa xuân thành thục sinh dục sớm hơn
- Có sự khác nhau khá nhiều giữa cá thể trong cùng một giống
Trang 20* Sự đẻ trứng: Sau khi ghép đôi từ 8 - 12 ngày, chim mái đẻ quả trứng đầu tiên Hiếm khi chim mẹ đẻ 1 trứng hoặc 3 trứng Chim bồ câu mái đẻ quanh năm Theo số liệu của viện chăn nuôi quốc gia, mỗi năm một cặp bồ câu sinh sản được 17,73 trứng với tỉ lệ nở là 88% thì sẽ có 15,6 chim bồ câu
sơ sinh Khoảng cách đẻ giữa trứng thứ nhất và trứng thứ hai là 36 giờ và khoảng cách của lứa thứ nhất và lứa thứ hai là 40 ngày (từ 32 - 49 ngày)
* Chu kỳ sinh sản: Theo trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương Thời gian đẻ trứng: 2 ngày
Thời gian ấp : 17 ngày
Nuôi con : 28 ngày
Tổng : 47 ngày
Tuy nhiên, các chu kỳ chồng chéo nhau vì chim mẹ thường đẻ sớm khi con nó mới được 10 - 18 ngày tuổi, do vậy khoảng cách trung bình của hai lứa
đẻ là 38 - 40 ngày [5]
1.3.4.2 Đặc điểm sinh học của trứng
Trứng chim có hình kassini, đó là hình bầu dục không cân đối một đầu
tù và một đầu nhọn.Trong thực tiễn, hình dạng trứng được biểu hiện bằng chỉ
số hình thái: Đó là tỉ số giữa đường kính lớn so với đường kính nhỏ (hoặc ngược lại) Chỉ số này biến thiên từ 1,10 - 1,45
Khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giống,hướng sản xuất, chế độ dinh dưỡng, tuổi chim mái, khối lượng chim mái Khối lượng của trứng được xác định bằng giá trị trung bình quả trứng/ năm (g/quả), hoặc khối lượng trứng sản xuất ra từ một mái / năm (kg trứng) Khối lượng trứng trung bình chim cút 10 - 16 g/quả, ngỗng 140 – 200 g/quả, gà 55 – 65 g/quả,
bồ câu 20 – 25 g/quả
Trứng gồm 3 phần: Vỏ, lòng trắng, lòng đỏ Ở các loài khác nhau thì tỷ
lệ này cũng khác nhau Cụ thể:
Trang 21* Lòng trắng trứng: Chiếm 50,2 - 57,0% khối lượng trứng Tỷ khối từ 1,039 - 1,042; pH từ 7,9 - 8,6 Lòng trắng bao gồm lòng trắng đặc và lòng trắng loãng Cấu trúc chia làm 3 lớp: Lớp lòng trắng loãng bên ngoài chiếm 23%, lòng trắng đặc ở giữa chiếm 57%, lòng trắng loãng trong cùng là 20% Chỉ số lòng trắng đặc càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Chỉ số này ở trứng tươi bằng 0,08 - 0,09; chỉ số này khác nhau tùy loài, giống, cá thể
* Lòng đỏ trứng: Là thành phần có giá trị cao nhất Tỷ trọng của lòng
đỏ từ 1,028 - 1,035 Thành phần hóa học gồm 16 - 17 % protein, 32 - 36% lipit; 0,2 - 0,3% gluxit; 1,02 - 1,20% các chất khoáng, các loại vitamin A, B,
Trang 22E, D, K Để đánh giá chất lượng trứng cần xác định chỉ số lòng đỏ Chỉ số lòng đỏ được xác định dựa vào chiều cao và đường kính trung bình của lòng
đỏ
Chỉ số lòng đỏ biểu hiện trạng thái và chất lượng của lòng đỏ, chỉ số này càng cao càng tốt, trứng tươi chỉ số này là 0,4 - 0,5 Chỉ số này phụ thuộc vào đặc điểm loài, giống, cá thể, thời gian bảo quản trứng
1.3.4.3 Một số chỉ tiêu sinh lý máu
Máu cùng hệ bạch huyết góp phần tạo nên sự ổn định của dịch mô là môi trường bên trong cơ thể Máu có thành phần và tính chất lý - hóa tương đối ổn định, nhờ đó các điều kiện cần thiết cho hoạt động sống của tế bào và
mô được đảm bảo
Thành phần máu thuộc vào trạng thái sinh lý của cơ thể, tuổi, giới tính, điều kiện nuôi dưỡng và các yếu tố khác Trong máu chim non có 14,4 % chất khô, chim trưởng thành có 15,6 - 19,7% Tỷ trọng của máu chim là 1,050 - 1,060 Độ nhớt của máu chim trung bình bằng 5 (4,7- 5,5) phụ thuộc vào số lượng hồng cầu, nồng độ prôtêin, muối Độ pH chim là của máu chim là 7,42- 7,56
- Hồng cầu hình bầu dục, lồi hai mặt, có nhân nhỏ, rất ít bào quan, có nguồn gốc từ tủy xương, tồn tại trong máu 120 ngày, bị phá hủy ở gan thông qua đại thực bào, số mới được tạo ra bù đắp số bị phá hủy, nhờ đó mà số lượng hồng cầu được ổn định và đặc trưng cho loài, giống [23]
Số lượng hồng cầu trong 1 mm3
máu của gà vịt trung bình là 3,5 triệu; ngỗng 3,3 triệu [18] Hồng cầu ở cá thể đực nhiều hơn ở cá thể cái phụ thuộc vào mùa, sức sản xuất, chế độ nuôi
Hàm lượng huyết sắc tố: Ở gà trưởng thành 12,5 – 16,6g% Còn ở vịt: 13,4 - 16,7 g%, Ở ngỗng 15,0 - 16,6 g% [18]
Trang 23Huyết sắc tố (Hb) là một protein máu, là thành phần quyết định chức năng hồng cầu, khối lượng phân tử 70000 Mỗi hồng cầu có khoảng 280 triệu
Hb, chiếm 30% khối lượng tươi hay 90% lượng khô hồng cầu Hb cấu tạo gồm 4 nhóm hemoglobin và 4 chuỗi polypeptit gồm 2 chuỗi α mỗi chuỗi gồm
141 axitamin, 2 chuỗi β mỗi chuỗi 146 axitamin Hàm lượng Hb tùy thuộc vào loài, giống, tuổi, giới tính, sự dinh dưỡng và trạng thái cơ thể
Bạch cầu: Gồm nhiều loại, hình dạng tròn không ổn định, màu sáng và thấy rõ nhân Thời gian tồn tại từ 12 giờ đến 300 ngày tùy loại, tất cả đều liên quan đến chức năng bảo vệ chống lại bệnh tật của cơ thể Số lượng bạch cầu đặc trưng cho từng loài giống, có tính ổn định tương đối, tăng lên khi vận động, bị viêm nhiễm và giảm khi bị suy tủy, già Số lượng bạch cầu ở gia cầm dao động từ 20000 - 50000/mm3
tỷ lệ thịt xẻ 74%, tỷ lệ thịt đùi so với thịt xẻ khoảng 18%, thịt ngực 38 - 40%
Tỷ lệ protein là 18%
1.3.5.2 Chim bồ câu Pháp dòng Titan
Theo tài liệu của hãng Grimand Freres, dòng Titan là dòng cân nặng , lông màu lốm đốm, mỗi cặp cho trung bình 13 - 14 chim non/năm Khối
Trang 24lượng chim non nuôi đến 28 ngày tuổi nặng 700g Khi vào đẻ con trống nặng 718g, con mái nặng 679g Khoảng cách 2 lứa đẻ là 40 ngày Khối lượng trứng đầu 25,05g
1.3.5.3 Chim bồ câu Pháp dòng Mimas
Được nhập vào Việt Nam vào tháng 5/1998, có màu lông trắng tuyền , mỗi đôi có thể cho 16 - 17 chim non/năm, khối lượng chim non 28 ngày tuổi nặng 590g khi vào đẻ con trống nặng 688g, con mái nặng 667g Khối lượng trứng đầu 25,00g Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 35 ngày Sau 1 tháng tỷ lệ
đẻ của đàn đạt tới 80% Tỷ lệ nuôi sống đạt 98% [5]
1.3.5.4 Phân biệt giới tính chim bồ câu
Bồ câu non rất khó phân biệt trống mái Sự phân biệt chỉ thuận lợi khi chim đã lớn, sinh dục đã chín muồi
* Nhận dạng hình thức bên ngoài :
Con trống thường có thân mình to hơn bồ câu mái Đầu, mỏ to và ngắn hơn, lông cổ bồ câu trống tươi tắn và có ánh sắc hơn Hai múi thịt trên mũi vừa ngắn, vừa to, dày Khi chim trưởng thành vào sinh sản thì chim trống có biểu hiện như xòe đuôi, gật đầu, gù, xoay vòng vòng
Chim mái có thân mình nhỏ hơn và bầu bĩnh hơn con trống Bồ câu mái
ức nhỏ, vai hẹp, đầu nhỏ, chân nhỏ Bộ lông hơi tối màu hơn con trống Hai múi thịt trên mũi nhỏ, hẹp và xẹp
* Nhận dạng bằng Tay :
Dựa vào khoảng cách giữa hai xương chậu:
Dùng tay trái cầm cánh (như túm cánh gà để chuẩn bị cắt tiết thịt ) sau
đó tay phải úp lòng bàn tay vào bụng chim đưa ngón tay trỏ hoặc ngón giữa vào hai ghim ở cạnh hậu môn Nếu là con trống thì khoảng cách này hẹp và
có cảm giác cứng, con mái khoảng cách này rộng đưa lọt ngón tay trỏ thậm trí lọt cả ngón tay cái và có cảm giác mềm, ấm
Trang 251.4 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của bồ câu
1.4.1 Giá trị dinh dưỡng và y học
* Trong y học cổ truyền, chim bồ câu được dùng với tên thuốc là cáp điểu hay gia cáp gồm các bộ phận hay dùng như thịt chim (cáp điểu nhục), tiết chim (cáp điểu huyết), trứng chim (cáp điểu noãn) và phân chim (cáp điểu phân)
- Thịt bồ câu tính bình, vị mặn, dinh dưỡng phong phú, thơm, vị ngọt
có tác dụng bổ thận kiện tì vị, ích khí huyết, khu phong giải độc Đây là loại thực phẩm tốt cho người già, trẻ em, người bệnh hay sản phụ, dùng trong các trường hợp gầy yếu, hư nhược, tiêu khát, hay quên mất ngủ, thần kinh suy nhược, dinh dưỡng không tốt, phụ nữ huyết hư tắc kinh
- Trứng chim bồ câu vị ngọt, chua, mặn, tính bình, có công dụng bổ thận, dưỡng tâm, điều trị liệt dương, suy dinh dưỡng, thường được dùng làm thức ăn cho những người mất ngủ hay quên, đầu choáng mắt hoa, tai ù tai điếc, lưng đau gối mỏi do tâm thận hư yếu Với trẻ nhỏ, trứng chim bồ câu ngăn ngừa bệnh sởi, nâng cao miễn dịch Ngoài ra, còn giúp chữa lành vết
thương, nâng cao sự đàn hồi da
- Tiết chim: Vị ngọt mặn, tính âm có tác dụng giải độc, bổ huyết điều kinh
- Phân chim: Vị đắng tính ôn, có tác dụng giảm đau tiêu ích
* Theo y học hiện đại:
- Thịt chim bồ câu chứa 22,14% protein, 1% lipit và muối khoáng
Trong thành phần thịt chứa 16 loại axitamin, đặc biệt là chứa đầy đủ các axitamin thiết yếu đối với con người Thịt chim còn chứa các loại vitamin A, B1, B2 và nhiều nguyên tố vi lượng là thành phần tạo máu, do vậy giá trị dinh dưỡng thịt chim bồ câu cao hơn thịt gà, cá, thịt bò Cụ thể theo Nutriadvice thì trong 100g thịt bồ câu có 56g nước, 44g chất khô, 18g protein, cho 1230Kj
Trang 26năng lượng [5]
- Trứng chim bồ câu chứa hàm lượng protein cao 9,5%, chất béo 6,4%, chứa lượng lớn phospholipit và nguyên tố vi lượng như Fe, Ca, vitamin A, B1B2, B6, B12 và D
Trứng chim bồ câu chứa gấp 2,5 lần hàm lượng riboflavin (B2) so với các loại trứng khác Vitamin B2 có vai trò quan trọng là thành phần của các enzim oxydase, trực tiếp tham gia vào các phản ứng oxy hóa hoàn nguyên, khống chế các phản ứng hô hấp chuyển hóa của tế bào, chuyển hóa các chất đường, đạm, béo ra năng lượng cung cấp cho các tế bào hoạt động, tác động việc hấp thu, tồn trữ và sử dụng sắt trong cơ thể Trứng chim bồ câu chứa hàm lượng lecithin nhiều hơn 3 - 4 lần so với trứng cút Lecithin là chất có vai trò lớn trong việc tham gia cấu tạo màng tế bào
- Máu chim: Có chứa nhiều đạm, chất sắt và huyết sắc tố
Tóm lại: Thường xuyên ăn thịt chim bồ câu và trứng chim bồ câu có thể kích thích ăn uống, tăng khả năng tuần hoàn máu, giúp con người có tinh thần và thể lực sung mãn, da mịn, phòng chống lão hóa, bạc tóc sớm
1.4.2 Giá trị kinh tế
Nguồn lợi kinh tế do bồ câu mang lại cho người nuôi không còn nghi ngờ gì nữa, vì chim bồ câu là giống dễ nuôi, không chiếm dụng nhiều mặt bằng, thực phẩm dành cho chúng vừa rẻ vừa có sẵn quanh năm Chúng lại đẻ sai, ít bệnh Thịt ngon và bổ lúc nào cũng có giá trên thị trường và thường bán với giá cao hơn những gia cầm khác Ở Việt Nam, một cặp bồ câu giống bán
ra có giá khoảng 600.000 ngàn một cặp, còn chim ra ràng có giá 120.000 đồng/ cặp Theo tính toán của trung tâm thông tin và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, nếu nuôi 25 cặp bồ câu bố mẹ thì mỗi tháng lợi nhuận từ bán chim ra ràng sau khi đã trừ chi phí còn lãi trên 1 triệu 200 ngàn đồng Nếu nuôi 100 cặp bồ câu giống lợi nhuận hàng tháng gần 5 triệu đồng
Trang 271.5 Vai trò dinh dưỡng của hạt nảy mầm đối với vật nuôi
1.5.1 Lợi ích của việc ngâm nảy mầm hạt ngũ cốc và hạt đậu
Thiên nhiên đã thiết lập cơ chế bảo vệ tự nhiên cho hạt ngũ cốc và các loại hạt giống khác, giúp chúng sống trong thời kỳ tiềm sinh có khả năng chống lại sự xâm hại của các yếu tố bên ngoài
Cơ chế bảo vệ tự nhiên này hình thành là do các chất ức chế enzym, các chất độc như phytates (acid phytic), polyphenol (tannin), và goitrogens có sẵn trong hạt Chỉ khi gặp điều kiện thuận lợi về độ ẩm, nhiệt độ thích hợp các hạt giống sẽ hút nước, giải phóng enzym loại bỏ các chất ức chế dinh dưỡng và các chất độc này, khởi động cho hạt tăng cường trao đổi chất, nảy mầm và phát triển
Các chất ức chế enzym này khi vào trong ống tiêu hóa của các loài động vật ăn hạt sẽ làm giảm hoặc mất tác dụng của enzym tiêu hóa, từ đó gây ảnh hưởng không tốt đến sự tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng Mặt khác, acid phytic có ở lớp áo hạt (vỏ cám) sẽ kết hợp Ca, Mg, Fe, Cu, đặc biệt
là Zn trong đường ruột ngăn chặn sự hấp thụ dẫn đến thiếu hụt khoáng, gây loãng xương động vật
Chính vì vậy, nhiều dân tộc đã có thói quen ngâm hạt trong nước ấm hoặc cho lên mầm một phần trước khi ăn nhằm trung hòa chất ức chế enzym, đồng thời nhờ các enzym và các sinh vật hữu ích khác phá vỡ, vô hiệu hóa một phần lớn acid phytic có trong hạt, tạo điều kiện sản xuất ra nhiều enzym
có lợi, làm tăng số lượng các chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin nhóm B Ngoài ra, quá trình ngâm và lên mầm hạt còn giúp cắt ngắn gluten và các protein khó tiêu khác thành các thành phần đơn giản làm cho việc tiêu hóa và hấp thụ dễ dàng hơn
Tóm lại khi ngâm hạt ngũ cốc và các loại đậu sẽ mang lại lợi ích:
- Loại bỏ, làm giảm các chất độc (acid phytic, tannin và goitrogens) và trung
Trang 28hòa các chất ức chế enzyme
- Khuyến khích sản xuất các enzym có lợi, làm tăng lượng vitamin , đặc biệt
là vitamin nhóm B
- Phá vỡ gluten và làm cho tiêu hóa dễ dàng hơn
- Ngăn chặn sự thiếu hụt khoáng chất và loãng xương
- Giúp trung hòa các chất độc trong ruột kết và giữ sạch đại tràng
- Ngăn ngừa bệnh và cải thiện điều kiện sức khỏe
1.5.2 Dinh dưỡng trong hạt nảy mầm
Mầm đỗ xanh chứa hàm lượng dinh dưỡng cao hơn hẳn rau thường,
phổ biến là các vitamin A, B, C, E…., các loại khoáng chất ( Fe++, Zn++), các axit amin, chất chống oxi hóa…đặc biệt là Kẽm và Selen Kẽm, selen từ sản phẩm thiên nhiên hữu cơ giúp cơ thể non hấp thụ tốt hơn, hạn chế còi xương, chống suy dinh dưỡng, kích thích ăn ngon miệng, tăng khả năng miễn
dịch
Đối với người, hàng ngày nếu ăn nhiều giá đỗ sẽ rất tốt cho sức khỏe, ngăn ngừa nguy cơ sảy thai ở phụ nữ, bên cạnh đó là hàm lượng vitamin E cao rất hữu ích cho người yếu sinh lý và thai phụ khó đẻ Ngoài ra, giá đỗ có tác dụng giảm cholesterol và triglyceride phòng chống được bệnh tim mạch,
nó có chứa riboflavin nên rất tốt với người nhiệt miệng và chống táo bón, ngăn ngừa ung thư thực quản, ung thư ruột, trực tràng và dạ dày…
Trong chăn nuôi, hiện nay người ta đã sử dụng phổ biến lúa nảy mầm
vào trong khẩu phần ăn của gà, cá Do các chất dinh dưỡng trong mầm lúa sẽ
thay đổi theo sự phát triển của mầm, vì thế khi cho ăn phải dựa vào mức độ nảy mầm của hạt để sử dụng Ở giai đoạn mầm dài 0,5 - 1 cm cho hàm lượng vitamin E cao nhất Dùng mầm lúa lúc này để nuôi vỗ gia cầm bố mẹ trước khi cho đẻ sẽ làm cho gia cầm đực hưng phấn mạnh và chất lượng tinh dịch tốt Còn đối với gia cầm cái sẽ làm cho trứng phát triển nhanh và tốt, tăng tỷ
Trang 29lệ thụ tinh Mầm dài 2 - 3 cm thì hàm lượng vitamin B cao có tác dụng giúp vật nuôi ăn nhiều, thèm ăn và tiêu hóa tốt, thích hợp với nuôi lấy thịt Khi mầm dài 8 - 10 cm hàm lượng vitamin A chiếm tỷ lệ cao (nằm ở dạng caroten) có tác dụng giúp vật nuôi kích thích sinh trưởng phát dục và đề kháng bệnh tật, thích hợp với nuôi lấy thịt, nuôi vỗ béo vật nuôi bố mẹ và vật nuôi hậu bị Mầm lúa vừa là thức ăn trực tiếp, vừa là nguồn bổ sung vitamin loại thức ăn khác phù hợp, giúp phát triển tốt, nâng cao tỷ lệ sử dụng thức ăn
Trang 30CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chim bồ câu (Columba livia) giống Pháp dòng Titan được nhập
vào Việt Nam tháng 5 năm 1998 Đầu năm 2000 chim được đưa về Trung tâm Khoa học kỹ thuật vật nuôi Bình Định
2.2 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 15/6/2016 đến 15/5/2017
- Địa điểm: Nuôi tại hộ gia đình ở huyện Vĩnh Thạnh – tỉnh Bình Định
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát khả năng sinh trưởng, phát triển của chim bồ câu Pháp khi cho
ăn 2 khẩu phần ăn khác nhau
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp chia lô so sánh, gồm 2 lô Mỗi lô gồm 15 cặp chim giống độ tuổi 120 - 121 ngày Đảm bảo sự đồng đều giữa các lô về mặt giống Ban đầu nuôi theo dõi khả năng sinh sản của 30 cặp chim bố mẹ sau đó theo dõi khả năng sinh trưởng các đời con của chúng từ lúc sơ sinh tuổi đến 24 tuần tuổi
Tất cả đều được nuôi dưỡng trong cùng thời gian, cùng điều kiện chăm sóc, vệ sinh thú y, phòng trừ dịch bệnh và người theo dõi thí nghiệm
Khẩu phần được tính toán phù hợp cho từng giai đoạn Cả hai lô đều được bổ sung thức ăn khoáng bao gồm : premix khoáng 85% + muối ăn 5 % + sỏi nhỏ 10%
Các lô thí nghiệm được bố trí theo hình thức nuôi nhốt trong chuồng
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Trang 31TT Chỉ tiêu Lô A (Thí nghiệm) Lô B (Đối chứng)
1 Giống bồ câu Bồ câu Pháp dòng Titan
2 Thời gian nuôi 11 tháng
3
Thức ăn
30% đỗ xanh nảy mầm + 30% thóc nảy mầm + 40% cám hỗn hợp dạng viên hiệu Proconco C24
30% đỗ xanh + 30% thóc + 40% cám hỗn hợp dạng viên hiệu Proconco C24
khoáng bổ sung
Premix khoáng 85% + muối ăn 5% + sỏi nhỏ 10%
2.4.2 Phương pháp thu thập và xác định chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, tập tính sinh học của chim bồ câu
Bằng phương pháp quan sát định kỳ, ghi chép và mô tả
2.4.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản
- Xác định tuổi đẻ quả trứng đầu: khi số chim mái trong đàn đẻ, đạt 5%
- Số trứng trung bình/lứa
- Sản lượng trứng: Số trứng đẻ/mái/đơn vị thời gian (tính theo tháng hoặc năm)
- Tỷ lệ đẻ trứng: Tỷ lệ đẻ trứng được tính theo công thức hướng dẫn trong giáo trình chọn lọc và nhân giống gia súc của Trần Đình Miên (1977)
Trang 32
- Chu kỳ đẻ trứng là khoảng thời gian giữa 2 kỳ đẻ Chu kỳ đẻ trứng có thể dài hoặc ngắn Thời gian kéo dài của chu kỳ phụ thuộc vào thời gian hình thành quả trứng, thời gian ấp nở và nuôi con
Tổng số gia cầm nở
- Tỷ lệ nở (%) = x 100
Tổng số trứng đem ấp
2.4.2.3 Xác định một số đặc điểm sinh học của trứng
- Chỉ số lòng đỏ đƣợc xác định theo công thức sau:
Trang 332.4.2.5 Một số chỉ tiêu sinh trưởng
- Sinh trưởng tích lũy khối lượng của bồ câu qua các tuần tuổi (g/con) Tiến hành cân khối lượng cơ thể của chim bồ câu theo từng giai đoạn tuổi từ sơ sinh đến 24 tuần tuổi, vào buổi sáng trước khi cho chim ăn bằng cân điện tử có độ chính xác 0,5g
- Tốc độ sinh trưởng tương đối khối lượng (R, đơn vị: %), xác định theo công thức:
Vt2: Khối lượng trung bình khảo sát lần sau (g)
- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng (A, đơn vị: g/ngày), xác định
Trong đó, Wt1 : Khối lượng trung bình tại thời điểm t1
Wt2 : Khối lượng trung bình tại thời điểm t2
A : Khối lượng tăng lên trong một ngày
- Đặc điểm kích thước các chiều đo
Định kỳ đo các kích thước: Chiều dài thân, chiều dài lườn, chu vi vòng
ngực, chiều dài ống chân, chiều dài bàn chân (bằng thước dây có độ chính xác 1mm) [ Phụ lục 3]
Trang 342.4.2.6 Xác định chỉ số tiêu tốn thức ăn
Hàng ngày cân khối lượng thức ăn cung cấp và khối lượng thức ăn thừa
để tính khối lượng thức ăn đã tiêu thụ Chỉ số tiêu tốn thức ăn được tính theo công thức như sau:
2.4.2.7 Xác định các chỉ tiêu đánh giá khả năng sản xuất thịt
Tiến hành mổ chim bồ câu 28 ngày tuổi Mỗi lô mổ 6 con (3 trống, 3 mái) có khối lượng tương đương khối lượng trung bình [phụ lục 4]
* Xác định khối lượng, tỷ lệ các loại thịt
Cân khối lượng thịt móc hàm, thịt xẻ, thịt đùi, thịt ngực và xác định tỷ
lệ % Công thức tính tỷ lệ các loại thịt như sau:
Trang 35
Từ giá trị tTN tra bảng Student Fisơ ta tìm đƣợc giá trị tα và α
Nếu α < 0,05 hoặc α = 0,05 thì hai giá trị trung bình sai khác nhau có ý nghĩa và ta nói sự sai khác giữa hai giá trị trung bình có ý nghĩa với xác suất sai số p < 0,05
Nếu α > 0,05 thì hai giá trị trung bình sai khác nhau không có ý nghĩa thống kê với xác suất sai số p > 0,05
* Các tính toán trên đƣợc xử lý trên máy tính, sử dụng phần mềm MS Excel 2010
Trang 36CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái, tập tính của chim bồ câu Pháp
3.1.1 Đặc điểm hình thái
Chim bồ câu thuộc loại muộn thành chim, chim non sau khi ra khỏi trứng vẫn chưa phát triển đầy đủ, mắt không mở, lông tơ ít, cơ thể có màu vàng nhạt, chưa biết đi và đứng, chưa tự ăn được
Chim trưởng thành toàn thân có lông vũ bao phủ Thân chim hình thoi
Có cổ dài rất linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía, mổ thức ăn, tấn công hay tự vệ, rỉa lông cánh
Chim có ngoại hình thấp, béo, ức nở, vai rộng, đầu bằng, chân bóng màu
đỏ, không có lông chân, lông vũ dày, hình dáng đẹp mắt Nhìn chung có đặc điểm ngoại hình đặc trưng của gia cầm hướng thịt Màu sắc lông chim rất phong phú đa dạng như trắng, đốm, xám, nâu, pha tạp
Kết quả nghiên cứu màu sắc lông chim ở giai đoạn 120 ngày tuổi trong quá trình nuôi được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Tỷ lệ màu sắc lông của chim bồ câu Pháp dòng Titan
Màu
lông
Bố mẹ (n = 30)
Lứa con 1 (n= 36)
Lứa con 2 (n= 38)
Lứa con 3 (n= 39)
TB 3 lứa (n=143)
Số con
Tỷ lệ
%
Số con
Tỷ lệ
%
Số con
Tỷ lệ
%
Số con
Tỷ lệ
%
Số con
Trang 37Kết quả quan sát cho thấy: Màu sắc lông được di truyền từ bố mẹ chocác thế hệ con cái, trong đó màu lông nâu chiếm tỷ lệ cao nhất (37,06%), tiếp đến là màu lông pha tạp (22,38%), màu lông đen pha xám chiếm tỷ lệ thấp nhất (9,79%)
Quan sát qua các thế hệ con còn cho thấy trong một cặp chim non cùng
bố mẹ sinh ra thông thường một con mang màu lông giống bố và một con mang màu lông giống mẹ
3.1.2 Tập tính sinh học của chim bồ câu Pháp
- Tập tính kiếm ăn: Chim bồ câu thích ăn các loại hạt thực vật như hạt đỗ, ngũ cốc, nó không có thói quen ăn đồ chín Khi ăn các loại hạt thì thích ăn các loại hạt có màu Quan sát khi cho chim ăn thức ăn hỗn hợp trộn sẵn có cám viên, thóc, đỗ xanh thì thấy chim thường chọn ăn hạt đỗ xanh trước sau đó đến thóc
và sau cùng đến cám viên
- Tập tính sinh sản: Bồ câu có đặc điểm đơn phối Chúng sống thành cặp cố định, một trống một mái, không tạp giao với con thứ ba Khi đến tuổi trưởng thành, chúng tự ghép đôi cận thân với nhau Chim trống thường thu hút chim mái bằng cách dang rộng đôi cánh, lúc lắc đầu, cùng với phát ra tiếng gù, uốn lượn thân mình quanh con mái
Trước khi giao phối, cặp chim thường mở đầu là một nụ “hôn” bằng
mỏ, chim bồ câu mái dùng mỏ của mình luồn vào mỏ chim bồ câu trống, sau
đó, hai cái đầu gật gù, đưa đẩy gần giống hành động mớm mồi cho chim non Khi con trống nhảy lên lưng con mái, con mái dang đôi cánh giữ thăng bằng, quá trình giao phối xảy ra Sau ghép đôi thành công, trước khi chim mái đẻ thì chim trống thường tìm các nguyên liệu có sẵn trong chuồng như rơm, giấy, lông chim rụng cùng con mái làm tổ
Sau khi cặp đôi thì cỡ từ 7 - 10 ngày chim mái bắt đầu đẻ trứng Chim
có thói quen đẻ trứng đầu tiên vào lúc chiều hay chập tối ( khoảng từ 16 - 17
Trang 38giờ) Trứng thứ hai đẻ cách trứng thứ nhất 42 - 48 giờ Chim mái đẻ trứng đầu xong nằm ấp canh chừng, đẻ xong hai trứng mới ấp chính thức Khi ấp trứng thì cả chim mái và chim trống thay nhau ấp, thường con trống ấp buổi chiều, chim mái ấp buổi sáng và ban đêm
Sau thời gian 17 - 18 ngày chim non nở Chim non sau khi nở còn rất yếu, chưa tự ăn được Lúc này, chim bố và mẹ thay nhau mớm thức ăn Trong
4 – 5 ngày đầu tiên chỉ thấy chim mẹ mớm cho con bằng “sữa diều” Sau đó chim bố mẹ thay nhau mớm cho con bằng thức ăn đã được tẩm dịch tiêu hóa
từ diều lên Sau 16 - 21 ngày kể từ khi chim non nở, chim mẹ đã bắt đầu đẻ lứa tiếp theo, lúc này nhiệm vụ mớm mồi cho con do chim bố đảm nhiệm và thời gian này chim non bắt đầu đi lại và tập tự mổ thức ăn và uống nước
- Một số tập tính khác:
+ Chim ưa tắm sạch sẽ, hàng ngày chim thường tắm 1 lần, khi tắm chúng hay vùi đầu vào máng nước để tắm
+ Chim dễ tính trong việc nhờ ấp hộ trứng và nuôi con, do đó khi có cặp chim
bố mẹ đẻ một trứng hay vì lý do nào đó trứng vỡ chỉ còn một quả hay chỉ còn một con sơ sinh còn sống, chúng tôi dễ dàng ghép trứng này vào ổ khác có 2 trứng hoặc ghép con sơ sinh vào ổ có nuôi 2 con cùng ngày nở chim bố mẹ dễ dàng chấp nhận ấp “hộ” hoặc chăm sóc nuôi dưỡng con “nuôi”
+ Chim ưa yên tĩnh, rất nhát khi gặp các con vật hay người lạ đến gần
3.2 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh sản của chim bồ câu Pháp dòng Titan
3.2.1 Tuổi đẻ trứng đầu tiên
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên được xác định là tuổi thành thục về mặt sinh dục của gia cầm Đối với gia cầm cùng lứa, tuổi thành thục của cả đàn được xác định khi tỷ lệ đẻ đạt 5% tổng số con trong đàn Tuổi đẻ đặc trưng cho phẩm giống và có liên quan mật thiết với sản lượng trứng của gia cầm
Trang 39Mối liên quan giữa tuổi đẻ lứa đầu và các tính trạng năng suất theo J Kumar
và R.M Acharya, 1980 cho thấy: Tuổi đẻ lần đầu tương quan âm với tỷ lệ đẻ
trứng và tương quan dương với khối lượng trứng Kết quả theo dõi tuổi đẻ quả
trứng đầu tiên của chim bồ câu pháp trong thí nghiệm của chúng tôi được
5% tổng đàn
Tuổi đẻ (ngày)
Như vậy theo kết quả khảo sát ở bảng 3.2 ta thấy:
Ở thế hệ bố mẹ, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của lô thí nghiệm là 164
ngày sớm hơn 9 ngày so với lô đối chứng có tuổi đẻ là 173 ngày
Ở thế hệ con, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên ở lô thí nghiệm là 159 và 158
ngày; trung bình chung là 158,5 ngày sớm hơn 14 ngày so với lô đối chứng có
tuổi đẻ là 172 và 173 ngày, trung bình chung 172,5 ngày
Khi so sánh trong cùng lô thí nghiệm ta thấy thế hệ con được nuôi bằng
thức ăn có hạt nảy mầm ngay từ lúc sơ sinh có tuổi đẻ sớm hơn bố mẹ chúng
cho ăn hạt nảy mầm muộn mãi đến 120 ngày tuổi mới cho ăn Chứng tỏ trong
khẩu phần ăn có hạt nảy mầm đã thúc đẩy nhanh khả năng thành thục sinh
dục của chim
Theo kết quả nghiên cứu của Trương Thúy Hường (2006)[13] tuổi đẻ
quả trứng đầu tiên của chim bồ câu Pháp dòng Titan là 175,21 ngày thì thấy
Trang 40đầu tiên ở cả hai lô chúng tôi nghiên cứu đều sớm hơn
Nhìn chung tuổi đẻ của chim bồ câu Pháp cũng tương đương một số gia cầm, trung bình 5 - 6 tháng tuổi Kết quả này phù hợp với công bố của hãng Grimar Fres: tuổi đẻ của bồ câu từ 5 - 7 tháng tuổi So sánh với kết quả nghiên cứu của Trần Công Xuân, Nguyễn Thiện (1997) [25] trên bồ câu nội, tuổi đẻ lứa đầu của bồ câu Pháp sớm hơn
3.2.2 Số trứng trung bình/lứa
Theo dõi số lượng trứng ở 3 lứa đẻ của chim bồ câu Pháp dòng bố mẹ
và 2 lứa đẻ của dòng con thế hệ 1 Kết quả được trình bày ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Số trứng trung bình/lứa (quả)
Lứa
1 n=15
TB chung
Theo kết quả bảng 3.3 cho thấy:
Ở thế hệ bố mẹ, số trứng trung bình/lứa của lô thí nghiệm là 1,98 trứng/lứa và lô đối chứng là 1,93 trứng/ lứa
Ở thế hệ 1, số trứng trung bình/ lứa cả hai lô nghiên cứu tương đương nhau là 1,94 trứng/lứa