Cụ thể như: “Quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam giai đoạn 1986-2005” 2005 của tác giả Nguyễn Thị Băng Thanh; “Hoạt động biên tập – xuất bản sách chính trị - công tác Đoà
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
XUẤT BẢN SÁCH PHỤC VỤ NHU CẦU
BẠN ĐỌC VÙNG CAO THÁI NGUYÊN
TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2012 Ngành: Xuất bản
Mã số : 60 32 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XUẤT BẢN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LƯU HỒNG MINH
Hà Nội - 2012
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của T.S Lưu Hồng Minh Các số liệu trong luận văn có cơ
sở rõ ràng và trung thực Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2012
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: XUẤT BẢN SÁCH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ĐỌC SÁCH CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG CAO THÁI NGUYÊN 15
1.1 Vai trò của xuất bản sách đối với đời sống xã hội 15
1.2 Những nhân tố tác động đến việc đọc sách của người dân vùng cao Thái Nguyên 26
Chương 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU VÀ VIỆC ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐỌC SÁCH CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG CAO THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2012 42
2.1 Thực trạng đọc sách của người dân vùng cao Thái Nguyên 42
2.2 Thực trạng đáp ứng nhu cầu đọc sách của người dân vùng cao Thái Nguyên 63
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ XUẤT BẢN, PHÁT HÀNH NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐỌC SÁCH CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG CAO THÁI NGUYÊN 82
3.1 Xu hướng phát triển văn hóa đọc sách những năm tới ở vùng cao Thái Nguyên 82
3.2 Giải pháp để công tác xuất bản đáp ứng nhu cầu đọc sách của người dân vùng cao Thái Nguyên 83
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 103
Trang 4DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Việc sử dụng thời gian rảnh rỗi của người dân vùng cao Thái Nguyên 39
Bảng 2.2: Nếu có điều kiện, mức độ đọc sách của người dân sẽ tăng 41
Bảng 2.3: Nhu cầu tiếp nhận các loại sách của người dân 43
Bảng 2.4: Sự cần thiết của các kênh thông tin trong đời sống người dân 44
Bảng 2.5: Mục đích đọc sách của người dân vùng cao Thái Nguyên 46
Bảng 2.6: Việc sử dụng thông tin sau khi tiếp nhận 47
Bảng 2.7: Một năm trở lại đây, bạn từng mượn sách ở đâu? 50
Bảng 2.8: Các thời điểm đọc sách trong ngày 55
Bảng 2.9: Sử dụng thời lượng đọc sách mỗi tuần 57
Bảng 2.10: Thời gian đọc 1 cuốn sách có độ dày trung bình từ 300-400 trang 57
Bảng 2.11: Những cách đọc sách của người dân vùng cao Thái Nguyên 58
Bảng 2.12: Nguyên nhân khiến tỉ lệ người dân đọc sách thấp 59
Bảng 2.13: Trình độ nhận thức tác động đến thời gian đọc của người đọc 65
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sách là một sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần của nhân loại có từ thời cổ đại, gắn liền với sự sáng tạo ra chữ viết Nội dung của sách chứa đựng các giá trị văn hóa, tinh thần (các tác phẩm sáng tác hoặc tài liệu biên soạn) thuộc tất cả các hình thái ý thức xã hội và nghệ thuật khác nhau, được ghi lại dưới các dạng ngôn ngữ khác nhau (chữ viết, hình vẽ, ký hiệu, âm thanh, số hóa ) của các dân tộc khác nhau, nhằm để lưu giữ, hoặc để truyền bá rộng rãi
trong xã hội [18, tr.22]
Do đó, việc đưa sách đến với bạn đọc, hay nói nôm na hơn, việc đưa sách đến với mỗi người trong xã hội để họ tiếp thu nội dung, tri thức trong sách, từ đó ứng dụng vào lao động, sản xuất cũng như làm phong phú thêm đời sống tinh thần là việc làm cần thiết và mang nhiều ý nghĩa Thực tế cho thấy, ở đâu có sách, ở đó có văn minh Ở đâu nhu cầu đọc sách phát triển, ở
đó có sự phát triển về mọi mặt Và ngược lại, ở đâu không có sách, ở đó không có sự phát triển Sách được xem là công cụ hữu hiệu giúp con người có
được sự phát triển, cũng là thước đo trình độ nhận thức của xã hội con người
Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng không phải ở đâu sách cũng
có điều kiện xuất hiện và cũng phát huy được hết vai trò, ý nghĩa trong đời sống xã hội, nhất là ở những nơi trình độ dân trí hạn chế, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, trong đó thể hiện rõ nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng
xa – nơi tập trung chủ yếu đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Mặc dù trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi, nhằm khuyến khích việc đưa sách đến với người dân nói chung, người dân vùng cao nói riêng và những chính sách này phần nào phát huy tác dụng, song trên thực
tế vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Chỉ thị số 42-CT/TW ngày
Trang 625-8-2004 của Ban Bí thư trung ương Đảng về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản nêu rõ:
Chăm lo phát triển nhu cầu văn hóa đọc của các tầng lớp nhân dân, tổ chức và phát triển lực lượng, mạng lưới phát hành xuất bản phẩm đảm bảo đáp ứng đầy đủ, đúng đối tượng và địa bàn, đặc biệt quan tâm vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và miền núi Phát triển hệ thống sách song ngữ, xuất bản nhiều sách bằng tiếng dân tộc với trình độ thích hợp, đáp ứng nhu cầu của đồng bào các dân tộc thiểu số Đến năm 2010, phấn đấu đưa sách về đến cấp huyện và đưa sách đến các xã để đạt chỉ tiêu 6 bản sách/người/năm Tập trung củng cố và phát triển hệ thống thư viện,
các loại phòng đọc, trước hết ở cơ sở [9, tr.25]
Tuy nhiên, mục tiêu này hiện còn quá xa vời đối với mặt bằng chung của tỉnh Thái Nguyên, chứ chưa nói đến các địa phương vùng cao Nhiều năm nay, ngoài sách giáo khoa mà học sinh (từ lớp 1 đến lớp 9) thuộc diện hộ nghèo, con đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn được mượn của Nhà trường (ngân sách Nhà nước cấp) trong năm học thì ở những địa phương này, sách rất ít được người dân quan tâm mua về hay tìm đọc Ngược lại, khi nhu cầu xuất hiện thì khả năng đáp ứng lại gần như không có vì hầu hết các xã vùng cao đều thiếu vắng những cửa hàng bán sách Ngay cả những
xã 135 – xã đặc biệt khó khăn được Nhà nước trợ cấp mỗi năm 10 triệu đồng tiền sách (theo Quyết định 170/2003/QĐ-TTg ngày 14-8-2003 của Thủ tướng Chính phủ) thì hàng năm, số người dân đến mượn đọc cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay, thậm chí có xã cả năm không có lấy một người dân đến mượn, trừ một vài cán bộ xã Nhưng cũng lại có một thực tế, có những vấn đề nhiều người dân muốn tìm hiểu qua sách thì lại không có (mặc dù nhu cầu đó là thiết yếu, chính đáng) hoặc nếu có thì ngôn ngữ diễn đạt lại không phù hợp với trình độ, nhận thức của người dân Vì thế, dù có đọc, người dân cũng
Trang 7không hiểu (không có tác dụng phổ biến tri thức) Đây chính là bất cập cần được Đảng, Nhà nước, các cấp, ngành chức năng quan tâm, nghiên cứu, điều chỉnh để những đãi ngộ của Nhà nước thực sự phát huy tác dụng, góp phần nâng cao nhận thức cũng như các mặt đời sống xã hội khác của đồng bào
vùng cao Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn vấn đề “Xuất bản sách phục vụ
nhu cầu bạn đọc vùng cao Thái Nguyên từ năm 2004 đến năm 2012” để làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nghiên cứu về hoạt động xuất bản sách đã có nhiều công trình nghiên cứu, dưới các dạng đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ, các bài báo Thống kê từ năm 2005 trở lại đây, có những công trình, đề tài đáng chú ý sau:
Đề tài “Nghiên cứu đánh giá nhu cầu đọc sách để định hướng xuất bản
sách phục vụ bạn đọc, góp phần phát triển văn hóa đọc tại các vùng miền” của
Cục Xuất bản (Bộ Thông tin và Truyền thông), năm 2009 [21] Đây là Đề tài
đánh giá những nét cơ bản về thực trạng đọc sách, nhu cầu đọc sách của các tầng lớp xã hội, tại các vùng miền có tính chất đại diện Trong Đề tài này, các tác giả cũng đã đề cập đến thực trạng đọc và nhu cầu đọc sách ở khu vực miền núi thông qua điều tra tại thị trấn Bát Xát, tỉnh Lào Cai và một số địa phương miền núi như: Mai Châu (Hòa Bình), Yên Lập (Phú Thọ) Đề tài cũng chỉ ra những bất cập trong mối quan hệ giữa hoạt động xuất bản và thực tế nhu cầu đọc sách của người dân Đồng thời đề xuất các giải pháp, định hướng xuất bản sách đáp ứng nhu cầu đọc sách của nhân dân, góp phần đưa ra những cơ sở thực tiễn để có biện pháp thúc đẩy phát triển văn hóa đọc
Ngày 4-5-2012, Báo điện tử Sức khỏe và đời sống đăng bài viết “Bất
cập câu chuyện sách và văn hóa đọc” của tác giả Huyền Vũ [52] nói về một
thực tế đáng buồn ở nước ta - một dân tộc có truyền thống hiếu học và ham đọc sách từ xa xưa nhưng hiện nay nhu cầu đọc sách đang dần bị mai một Để
Trang 8khôi phục được nét đẹp văn hóa đó, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều hình thức nhằm khôi phục, giữ gìn, trong đó có việc tổ chức ngày hội sách và văn hóa đọc tại Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) Nhưng ở một đất nước gần 90 triệu dân, mà chỉ có vài lần ngày hội như thế này chẳng khác gì đem muối bỏ bể
Báo điện tử Dân Trí ngày 20-1-2012 có đăng bài “Ngày xuân, lại bàn về
lợi ích đọc sách” của tác giả Phan Anh Tú [41], bài báo trước hết khẳng định:
Ngày nay, có nhiều phương tiện thu nhận thông tin, như: tivi, đài phát thanh, mạng internet, nhưng đọc sách (trong đó có sách điện tử) vẫn là cách thu nhận thông tin không thể thay thế Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, nhiều bậc hiền tài, nhiều chí sĩ yêu nước, nhiều nhà khoa học, bác học trưởng thành nhờ khổ luyện “dùi mài kinh sử” mà nên Để giúp con người mở mang hiểu biết, sách còn là phương tiện cần thiết nhất, hiệu quả nhất để đào tạo cho mình một
cơ sở học vấn vững vàng, qua đó gieo vào lòng người những ước mơ tốt đẹp, giúp con người đủ bản lĩnh, trí tuệ để chinh phục những đỉnh cao của vinh quang Sách chính là công cụ quan trọng nhất giúp cho việc tự học, tự tu dưỡng Tuy nhiên, một điều đáng buồn hiện nay là việc nhận thức của học sinh nói riêng và mọi người nói chung về tự học còn có nhiều hạn chế Mà một trong những nguyên nhân của thực trạng này chính là việc đầu tư chưa thỏa đáng cho các thư viện ở trường học cũng như cho các thư viện ở cộng đồng, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng núi hay vùng đồng bào thiểu số Thậm chí ngay đến cả sách giáo khoa còn chưa đủ thì nói gì đến những loại sách khác Bài báo cũng khẳng định, để không muốn mình bị lạc hậu và tụt hậu thì không chỉ có học sinh mà nhân dân nói chung cần phải tự học thông qua con đường đọc sách để thực hiện phương châm học tập suốt đời Phần kết bài báo nêu: Bộ Giáo dục – Đào tạo và chính quyền các cấp nên quan tâm, tạo điều kiện kinh phí để xây dựng hệ thống thư viện cho mọi cấp học, bậc học
Trang 9Báo Điện tử Thanh Hóa ngày 29-5-2012 có bài viết “Lo ngại về thị
trường sách lậu” của tác giả Quang Vinh [44] đề cập tới nội dung: Xã hội hóa
công tác xuất bản là chủ trương của Nhà nước nhằm kêu gọi các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động xuất bản trong nước, từ đó làm phong phú thêm thị trường xuất bản phẩm Tuy nhiên bên cạnh kết quả đạt được thì chủ trương này cũng đã làm bung nở cửa hàng kinh doanh sách tư nhân, bên cạnh hệ thống phát hành sách của Nhà nước, đây cũng chính là đầu mối đưa một lượng lớn sách lậu vào thị trường mà theo ước tính của Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông có thể lên tới vài chục % so với tỷ lệ sách chính nguồn của một cửa hàng sách Sách lậu không chỉ ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất bản lành mạnh mà còn gây ra nhiều mối lo ngại về nội dung chính thống của các sản phẩm tư tưởng văn hóa rất đặc thù Do đó, để quản lý được lĩnh vực này, các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương cần phải tăng cường hơn nữa trách nhiệm của mình trong việc làm trong lành hoạt động xuất bản sách của nước ta
Riêng về ngành xuất bản, các luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng, chuyên ngành Biên tập - Xuất bản tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền từ
năm 2005 đến nay có thể nói là khá nhiều đề tài Cụ thể như: “Quyền tác giả
trong lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam giai đoạn 1986-2005” (2005) của tác giả
Nguyễn Thị Băng Thanh; “Hoạt động biên tập – xuất bản sách chính trị -
công tác Đoàn ở Nhà xuất bản Thanh niên hiện nay” (2005) của tác giả Trần
Thị Nga; “Nâng cao hiệu quả sách lí luận chính trị ở Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia trong giai đoạn hiện nay” (2007) của tác giả Lê Thị Hồng Phương;
“Xuất bản sách của Nhà xuất bản Công an nhân dân với việc bồi dưỡng và hoàn thiện nhân cách người công an nhân dân” (2007) của tác giả Phạm Thị
Mỹ Nương; “Hoạt động liên kết xuất bản sách trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh: Thực trạng và giải pháp (qua khảo sát ở Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản Văn hóa Sài gòn, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh)”
(2009) của tác giả Trần Hùng Phi; “Maketting trong hoạt động xuất bản trên
Trang 10địa bàn Hà Nội hiện nay” (2010) của tác giả Trần Minh Hải… Các đề tài này
chủ yếu nghiên cứu quá trình hoạt động của các nhà xuất bản, chưa nghiên cứu nhiều đến lĩnh vực phát hành sách, cũng như việc nâng cao chất lượng xuất bản thông qua việc liên kết, để qua đó thấy được chức năng cũng như vai trò của nhà xuất bản đối với đời sống xã hội Liên quan đến việc khảo sát nhu cầu
cũng như việc đáp ứng nhu cầu đọc sách của người dân chỉ có luận văn “Nhu
cầu đọc sách của thanh niên hiện nay (Trường hợp nghiên cứu tại tỉnh Hải
Dương”, (2011) của tác giả Hoàng Minh Liên [27] Tuy nhiên, ở đề tài này,
tác giả đi vào phản ánh thực trạng nhu cầu đọc và việc đáp ứng nhu cầu đọc sách của thanh niên nông thôn và thanh niên khu công nghiệp, chứ không phải là nhu cầu đọc sách của người dân vùng cao
Do đó, vấn đề “Xuất bản sách phục vụ nhu cầu bạn đọc vùng cao Thái
Nguyên từ năm 2004 đến năm 2012” là không có sự trùng lặp
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và giới hạn của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động xuất bản gồm 3 khâu: biên tập, in ấn và phát hành Tuy nhiên, ở phạm vi đề tài này, tác giả chỉ chủ yếu nghiên cứu về nhu cầu của người dân và các hoạt động phát hành sách in trên địa bàn tỉnh phục vụ nhu cầu bạn đọc vùng cao Thái Nguyên
Trang 114 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Nêu ra những giải pháp tăng cường xuất bản và phát hành sách nhằm đáp ứng, nâng cao hơn nữa nhu cầu đọc sách phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
5 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lí luận, phương pháp luận
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn bám sát các quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác xuất bản và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào vùng cao; về mối
quan hệ giữa phát triển văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trên cơ sở mục tiêu đối tượng nghiên cứu, đề tài chủ yếu vận dụng các phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học với 2 phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng Ngoài ra, đề tài còn vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành xã hội học – xuất bản và các phương pháp cụ thể khác
Trang 125.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
* Phân tích tài liệu bao gồm các quan điểm, chỉ thị, kết luận của Đảng và Nhà nước; của Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan chức năng về những chính sách trong việc đáp ứng nhu cầu đọc sách dành cho đồng bào vùng cao; cùng với đó là những cuốn sách, kênh thông tin đại chúng đề cập đến nội dung có liên quan tới việc đọc sách của người dân, trong đó có vùng cao
* Phương pháp quan sát hoạt động và các loại sách được trang bị của 5 thư viện huyện vùng cao; tủ sách của ủy ban nhân dân một số xã, điểm bưu điện văn hóa xã để tìm hiểu nhu cầu đọc sách, báo và các xuất bản phẩm của người dân vùng cao…
* Phương pháp phỏng vấn sâu: Ở 5 xã vùng cao, thuộc 5 huyện có thành phần dân tộc khác nhau (Nùng, Dao, Mông, Tày, Sán chí cùng một số dân tộc thiểu số khác) sẽ phỏng vấn 2 người (1 nam, 1 nữ, có trình độ, nghề nghiệp khác nhau) về nhu cầu đọc sách của họ hiện nay Ngoài ra, tác giả luận văn cũng phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan: Ban Dân tộc Ủy ban nhân dân tỉnh; Sở Thông tin – Truyền thông; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Tư pháp; Công ty cổ phần Sách và thiết bị trường học; Thư viện tỉnh về những vấn đề có liên quan đến việc đưa sách về các xã vùng sâu, vùng xa hiện nay
* Phương pháp thảo luận nhóm: Tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm: 1 thảo luận nhóm đối với xã Dân Tiến (Võ Nhai), nơi có 8 thành phần dân tộc cùng sinh sống và 1 thảo luận nhóm đối với xóm Đồng Luông, xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, nơi có đến hơn 90% người dân tộc Mông sinh sống Mỗi nhóm có
10 người, qua đó tìm hiểu về thực tế, nhu cầu cùng những mong muốn của họ đối với việc đọc sách
5.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Lựa chọn 5 xã có thành phần dân tộc khác nhau, mỗi xã phỏng vấn 65 người để nghiên cứu bằng bảng hỏi, sau đó tập hợp và xử lý số liệu Tổng số phiếu điều tra phát ra: 325 phiếu, tại 5 xã vùng cao thuộc 5 huyện khác nhau
Trang 13trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (mỗi xã phát 65 phiếu) Số phiếu phát đến người được điều tra hoàn toàn ngẫu nhiên, danh sách các gia đình do chính quyền xã cung cấp Trung bình mỗi xóm, chúng tôi lựa chọn từ 7-10 người tham gia điều tra Cụ thể gồm các xã: Tân Long (Đồng Hỷ), thu về 57 phiếu; Dân Tiến (Võ Nhai) thu về 61 phiếu; Phượng Tiến (Định Hóa) thu về 60 phiếu; Yên Trạch (Phú Lương), thu về 57 phiếu; Đức Lương (Đại Từ) thu về
đủ 65 phiếu Như vậy, có 1 xã thu đủ số phiếu phát ra; 2 xã hụt 8 phiếu/xã, 1
xã thiếu 5 phiếu, 1 xã thiếu 4 phiếu và 1 xã thiếu 1 phiếu
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các phương pháp cơ bản của nghiên cứu khoa học như: lịch sử - logic; quy nạp - diễn dịch; phân tích - tổng hợp và các phương pháp thống kê, so sánh để phân tích các dữ liệu đã thu thập
6 Đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Trang 14có cơ chế, chính sách, cùng những quy định phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả công tác xuất bản đối với người dân vùng cao
cả nước nói chung
Luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý, cán bộ làm công tác văn hóa – xã hội có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát, luân chuyển sách báo, cung cấp các xuất bản phẩm cho đồng bào vùng cao, nhằm giúp họ thấy được thực trạng, những căn cứ khoa học và thực tiễn; từ đó tham khảo, lựa chọn những giải pháp phù hợp để việc đưa sách, báo và các xuất bản phẩm khác đến với người dân vùng cao đạt được hiệu quả cao nhất
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu bổ ích cho những ai quan tâm đến vấn đề này; làm tài liệu nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến công tác xuất bản và việc phục vụ nhu cầu đọc ở vùng cao Thái Nguyên hiện nay
Trang 15Chương 1 XUẤT BẢN SÁCH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ĐỌC SÁCH CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG CAO THÁI NGUYÊN
1.1 Vai trò của xuất bản sách đối với đời sống xã hội
1.1.1 Khái niệm xuất bản sách
Theo PGS,TS Trần Văn Hải, “xuất bản” có nghĩa là phổ biến hay công
bố cho mọi người biết Xuất bản được xem là hoạt động sáng tạo tinh thần, đồng thời cũng là hoạt động sáng tạo vật chất [35], với nội hàm do 3 yếu tố tạo thành:
- Xuất bản là hoạt động gia công biên tập đối với tác phẩm, làm cho nó phù hợp với nhu cầu của độc giả Với yếu tố này, xuất bản không phải là sáng tác, mà chỉ là khai thác từ những tác phẩm đã có, từ thông tin bước 2, từ kế hoạch và những kết quả sáng tạo của tác giả Nói cách khác, xuất bản là hoạt động lựa chọn văn hóa, sao cho có những tác phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng tinh thần của độc giả; dựa theo yêu cầu, nhu cầu của xã hội mà sửa chữa, chỉnh lý, bổ sung, hoàn thiện thông tin, tri thức trong tác phẩm đã chọn Khâu lựa chọn tác phẩm và gia công chỉnh lý là khâu đầu tiên mở đầu cho hoạt động xuất bản, được gọi là công tác biên tập
- Xuất bản là hoạt động nhân bản hàng loạt các tác phẩm đã được gia công, làm cho nó có một hình thức và vật phẩm xác định (vỏ vật chất) để cung cấp cho độc giả sử dụng Muốn thông tin được truyền đến độc giả một cách đông đảo thì cần thiết phải có phương tiện, chứ không thể bằng hình thức truyền miệng, đó được gọi là “vật trung gian” Trước tiên, bản thảo được chế biến và nhân bản hàng loạt theo nhu cầu bạn đọc Việc nhân bản này phải thông qua lao động sản xuất của nhiều người, theo quy luật sản xuất vật chất
Trang 16từ đơn giản đến cơ giới hóa, tự động hóa Sản phẩm được tạo ra hàng loạt, trong nền sản xuất hàng hóa, nó trở thành hàng hóa và chịu sự tác động bởi quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Xuất bản là hoạt động truyền bá rộng rãi các sản phẩm xuất bản phẩm
đã hoàn thành sau quá trình sản xuất nhân bản Nói cách khác, sản phẩm phải được mang đến cho đông đảo bạn đọc có nhu cầu, nếu không, các sản phẩm của xuất bản phẩm sẽ không có ý nghĩa, tác dụng Khác với cơ chế bao cấp, phát hành chỉ là khâu nối tiếp, khâu kết thúc của xuất bản, phục vụ cho xuất bản, thụ động với xuất bản, trong cơ chế thị trường, phát hành vừa là hoạt động kinh doanh, thương mại, khâu tiêu thị sản phẩm xuất bản, vừa là hoạt động truyền bá văn hóa
Như vậy, xuất bản là công việc đứng trung gian giữa tác giả với độc giả, thực hiện một chức năng bao gồm 3 mặt là: Chức năng tri thức (văn hóa)
để tuyển chọn, tham gia hoàn chỉnh tác phẩm văn hóa và phát hiện tài năng sáng tạo văn hóa tinh thần; chức năng mỹ thuật, kỹ thuật để thiết kế, đồ họa bản in, vật chất hóa tác phẩm tinh thần thành các xuất bản phẩm; chức năng thương mại để lưu hành, tiêu thụ xuất bản phẩm cho những người có nhu cầu
Xuất bản là hoạt động truyền bá xã hội Nó không sáng tác ra tác phẩm mới, mà sử dụng các tác phẩm đã có, hoặc sẽ có để truyền bá, phổ biến Xuất bản là khâu nối tiếp, nâng cao các giá trị văn hóa, nhân rộng và mang chúng đến với quảng đại quần chúng trong xã hội
=> Từ khái niệm và các đặc điểm của xuất bản và sách được nêu ở trên,
có thể định nghĩa xuất bản sách như sau: Đó là hoạt động gia công biên tập đối với bản thảo, làm cho nó phù hợp với nhu cầu của độc giả, rồi nhân bản
và phát hành đến đông đảo người dân trong xã hội, nhằm đáp ứng cả nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
Trang 171.1.2 Xuất bản sách với cách tiếp cận theo các kênh thông tin đại chúng
Sách là một trong những kênh thông tin đại chúng, được ra đời sớm nhất, phát triển với quy mô, chủng loại, số lượng ngày càng lớn và đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nhân loại Để thông tin đến được với người đọc (đối tượng tiếp nhận) cần thiết phải qua các bước trung gian Đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học xã hội đưa ra được các mô hình truyền thông một chiều, hai chiều khác nhau, trong đó, mô hình một chiều của Lasswell được nhiều người quan tâm và đây cũng là mô hình phù hợp với công tác xuất bản và phát hành sách Mô hình bao gồm các yếu tố: Nguồn phát (người gửi hay nguồn gốc thông điệp); thông điệp (ý kiến, cảm xúc, suy nghĩ hay thái độ được truyền đi); kênh (phương tiện mà nhờ đó các thông điệp được chuyển đi
từ nguồn đến người nhận); tiếp nhận (đến ai: là một hay một nhóm người mà thông điệp hướng tới) [22]
Mô hình có thể được biểu diễn theo trình tự:
Nguồn phát => Thông điệp => Kênh => Tiếp nhận
Ứng dụng vào thực tế hoạt động xuất bản sách, ta có thể thấy: Nguồn phát
ở đây chính là các nhà xuất bản; thông điệp là các cuốn sách; kênh là các công ty phát hành, thư viện và các cửa hàng bán sách; tiếp nhận chính là người đọc, người dân Để “nguồn phát” đưa ra được những cuốn sách (thông điệp) phù hợp với nhu cầu bạn đọc vùng cao thì cần thiết phải làm tốt việc khảo sát thị trường cũng như những vấn đề có liên quan đến đời sống, xã hội của họ; với “kênh” là các công ty phát hành, thư viện và cửa hàng bán sách từ trung ương tới các địa phương cần có
sự liên kết, phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau để việc đưa sách đến với người dân thực
sự phát huy được hiệu quả Cuối cùng là đối tượng tiếp nhận (người dân), trước hết, mỗi người phải có ý thức chủ động trong việc tiếp nhận, từ đó đưa ra sự phản hồi (khen, chê, góp ý) để “nguồn phát” nắm được nhu cầu mà người dân đang cần,
để từ đó đưa ra “thông điệp” phù hợp, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức trong nhân dân và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Trang 181.1.3 Vai trò của xuất bản sách đối với các lĩnh vực xã hội
1.1.3.1 Đối với chính trị
Đời sống chính trị là một lĩnh vực hoạt động của xã hội Đó là lĩnh vực hoạt động và quan hệ giữa các giai cấp, giữa các quốc gia dân tộc gắn liền với việc giành, giữ và sử dụng bộ máy quyền lực nhà nước vì lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia Ở nước ta, Đảng Cộng sản là hạt nhân của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội Chính sách, pháp luật của Nhà nước
ta là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối chính trị của Đảng Vậy nên, đời sống chính trị chi phối, ràng buộc hoạt động xuất bản Trong khi đó, xuất bản
là hoạt động sản xuất và truyền bá các giá trị văn hóa - tư tưởng Vì vậy, tất yếu công tác xuất bản sẽ phục vụ, thúc đẩy hoặc cản trở việc thực hiện nhiệm
vụ chính trị Công tác xuất bản vừa là phương tiện truyền thông đại chúng, vừa là trận địa tuyên truyền, giáo dục, cổ động cho các hình thái ý thức xã hội Công tác xuất bản là hoạt động có thể chi phối đời sống tinh thần xã hội, nên nó là công cụ đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, một trong ba hình thức đấu tranh cơ bản của giai cấp vô sản
Vai trò của công tác xuất bản trong lĩnh vực chính trị thể hiện trong việc đấu tranh để giành quyền lực chính trị, cũng như trong việc củng cố, gìn giữ chính quyền, thực thi sự lãnh đạo chính trị đối với toàn xã hội Sách, báo
và xuất bản là công cụ tuyên truyền vận động, tổ chức tập hợp lực lượng cách mạng, đấu tranh để giành chính quyền Người ta ví những tác phẩm văn học nghệ thuật thời Phục Hưng như những viên đại bác của giai cấp tư sản đang trỗi dậy nã vào thành lũy của vua chúa phong kiến Những tác phẩm triết học duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, bộ Tư bản của Các Mác chính là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân để đấu tranh giải phóng các giai cấp cần lao và lung lay chủ nghĩa tư bản
Trang 19Trong những ngày đầu thành lập Đảng và vận động, tổ chức lực lượng cách mạng đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chủ tịch và Đảng ta đã coi sách báo cách mạng, công tác xuất bản thật sự là những công cụ để tuyên truyền vận động và tổ chức lực lượng cách mạng, truyền bá học thuyết cách mạng Bác Hồ viết: “Cách mạng là một sự nghiệp
vĩ đại mà khó khăn, muốn thực hiện phải nhờ vào sức nhân dân Nhưng nhân dân chỉ hành động khi nào họ giác ngộ, vậy thì phải làm cho họ hiểu được học thuyết cách mạng, công khai hay bí mật truyền bá học thuyết đó, thì chúng ta mới làm cho nhân dân hiểu biết tại sao và làm cách nào mà nhân dân phải nổi
dậy Khi xuất bản cuốn Đường Kách mệnh, Bác đã xác định: “Sách này chỉ
ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh” [23] Khi đã giành được chính
quyền, xuất bản trở thành một phương tiện, thiết chế để thực hiện sự thống trị trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, duy trì và bảo vệ các chế độ chính trị
Lý luận Mác - Lênin khẳng định: giai cấp nào giữ vị trí địa vị thống trị nền kinh tế cũng sẽ nắm địa vị thống trị trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, văn hóa Tuy nhiên, lĩnh vực tư tưởng, văn hóa thường biến đổi chậm hơn kinh tế
và chính trị Do vậy, sau khi có chính quyền trong tay, các giai cấp thống trị còn phải thực hiện vai trò thống trị trên các lĩnh vực văn hóa - tư tưởng thông qua các thiết chế và các công cụ về tư tưởng - văn hóa Xuất bản là một thiết chế, một phương tiện không thể thiếu để thực hiện nhiệm vụ này Vai trò của công tác xuất bản đối với đời sống chính trị, trong điều kiện có chính quyền, thể hiện ở các khía cạnh cụ thể sau đây:
- Công tác xuất bản tạo ra không khí chính trị đồng thuân, tạo dư luận
xã hội có lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà Nước
+ Xuất bản tuyên truyền đường lối, chính sách, tuyên truyền các quan điểm chính trị chính thống của Đảng và Nhà nước trong từng thời kì;
Trang 20+ Xuất bản tuyên truyền những mô hình thực hiện nhiệm vụ chính trị giỏi; + Xuất bản giải thích, cổ động, tạo dư luận xã hội thuận lợi cho các phong trào chính trị cụ thể
- Công tác xuất bản là công cụ giáo dục ý thức chính trị tự giác của quần chúng cách mạng Để làm điều này, công tác xuất bản đã tác động đến lập trường, quan điểm và hành vi của bạn đọc từ 5 phương diện sau:
+ Giáo dục hệ tư tưởng giai cấp để có định hướng chính trị đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan;
+ Cung cấp những thông tin về quan điểm mới, đường lối chính trị mới, tăng cường tri thức chính trị;
+ Cung cấp tình hình chính trị để củng cố nhận thức, lập trường quan điểm chính trị đúng đắn;
+ Tuyên truyền vận động, cổ động trực tiếp làm thay đổi hành vi của người được truyền bá;
+ Hướng dẫn vận dụng lí luận, kinh nghiệm hoạt động để nâng cao hiệu quả hoạt động chính trị
- Công tác xuất bản là công cụ đấu tranh trực tiếp chống lại các tư tưởng chính trị phản động, thù địch ở trong và ngoài nước để bảo vệ hệ tư tưởng giai cấp, ngăn chặn âm mưu “diễn biến hòa bình”, sự xâm lược và đồng hóa văn hóa từ bên ngoài, tuyên truyền đường lối chính trị đối ngoại của nhà nước
Với những tác dụng đó, công tác xuất bản có thể góp phần điều chỉnh
xã hội, đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa dân tộc tiên tiến, giàu bản sắc, định hướng các giá trị văn hóa tinh thần theo hướng chân, thiện, mĩ
1.1.3.2 Đối với việc phát triển kinh tế
Kinh tế là nền tảng vất chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Quan hệ kinh tế, suy đến cùng là nhân tố quyết định mọi mối quan hệ xã hội
Do vậy, công tác xuất bản không thể không chịu sự quyết định và chi phối
Trang 21của đời sống kinh tế và ngược lại cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển bền vững của kinh tế Công tác xuất bản là công cụ truyền bá thông tin, công cụ giáo dục, nên có tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế trên nhiều phương diện, cả với lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Đối với lực lượng sản xuất, công tác xuất bản tác động đến sự phát triển các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất là nguồn nhân lực và sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, công cụ sản xuất hiện đại Con người là nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Công tác xuất bản góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, tạo ra phẩm chất cao của người lao động, phát huy nhân tố con người để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Đời sống kinh tế xã hội ngày nay đang đi vào xây dựng nền kinh tế tri thức, trong đó, khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí tuệ con người đang giữ vai trò quyết định và trở thành nguồn lực to lớn nhất, nguồn lực vô tận của sự phát triển kinh tế Do vậy, sự tăng trưởng kinh tế ngày nay gắn liền với sự phát triển của văn hóa - giáo dục, với việc nâng cao
và phát huy nhân tố con người Phát triển con người, phát triển vì con người đang trở thành mục tiêu và nội dung cơ bản của sự phát triển bền vững trong thời đại ngày nay Công tác xuất bản đang trở thành trung tâm sản xuất, phân phối và truyền bá tri thức, một công cụ trong giáo dục con người ở nhà trường, xã hội và gia đình, càng trở thành nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức ngày nay
Trong xã hội thông tin, thông tin là một nguồn lực của phát triển khoa học - công nghệ, cũng là thành tựu công nghệ cao của kinh tế tri thức Xuất bản là công cụ truyền bá thông tin tri thức, thông tin công nghệ, làm cho các công cụ sản xuất hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến được chuyển giao rộng rãi làm cho lực lượng sản xuất thế giới phát triển nhanh chóng Thành tựu
Trang 22khoa học kĩ thuật, thành tựu khoa học hiện đại là lực lượng sản xuất tiềm ẩn, qua xuất bản, trở thành lực lượng sản xuất hiện thực
Qua đọc sách, người ta có thể chế tạo được công cụ sản xuất hiện đại, vận dụng được công nghệ mới vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng được nâng cao, nền kinh tế phát triển bền vững Công tác xuất bản còn cung cấp những số liệu, những yêu cầu mới đặt ra cho cải tiến kĩ thuật, cho nghiên cứu khoa học, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và cải tiến kĩ thuật, giúp tháo gỡ những vấn đề bức xúc trong sản xuất, tránh được những tổn thất không đáng có trong sự phát triển kinh tế
Đối với quan hệ sản xuất, hoạt động xuất bản góp phần xây dựng quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất Biểu hiện rõ nhất vai trò của xuất bản đối với quan hệ sản xuất được thể hiện ở tác động của
nó với việc bảo vệ và thực hiện quan hệ sở hữu trí tuệ và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí kinh tế Xuất bản là công cụ quan trọng để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ - mà đây là quyền sở hữu cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức Xuất bản là nơi bảo vệ quyền tác giả, nơi thực hiện quyền tác giả khi thành tựu trí tuệ của họ được truyền bá Nhờ đó, nó phát huy được nguồn lực trí tuệ vào sản xuất, bảo vệ lợi ích của người sản xuất
Xuất bản cũng là công cụ góp phần xây dựng, tạo nên sự thông suốt, hệ thống thông tin nhiều chiều: ngang, dọc, xuôi, ngược giữa các chủ thể quản lí kinh tế và đối tượng quản lí, giữa các chủ thể kinh tế với nhau, góp phần to lớn vào việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lí kinh tế, cả tầm quản lí vĩ mô - quản lí nhà nước về kinh tế, cả ở tầm vi mô là quản lí sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế, là công cụ marketing, phương tiện quảng cáo và giới thiệu sản phẩm Trong nền kinh tế thị trường và kinh tế tri thức, lượng thông tin trong xã hội tăng lên nhanh chóng, sự giao lưu quốc tế về thông tin ngày càng rộng, vai trò của hoạt động xuất bản ngày càng khẳng định rõ vai trò, vị trí
Trang 231.1.3.3 Đối với đời sống văn hóa
Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn trên cả lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Văn hóa của một dân tộc, theo nghĩa căn bản nhất là toàn bộ những cái qua đó một dân tộc tự biểu hiện mình, tự nhận biết mình và giúp các dân tộc khác nhận biết mình - văn hóa là “tấm thẻ căn cước” của các dân tộc Vậy nên, hoạt động văn hóa chính là quá trình hoạt động sáng tạo đặc biệt của con người nhằm sản xuất, phổ biến và tiêu dùng các giá trị, các sản phẩm văn hóa
Đó là quá trình sản xuất, tái sản xuất mở rộng các giá trị văn hóa, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng tăng, xây dựng nền văn hóa đa dạng của các dân tộc và nhân loại
Bản chất của công tác xuất bản là hoạt động truyền bá văn hóa Các hoạt động sáng tạo văn hóa, các hoạt động khác nhau của đời sống văn hóa đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất bản Ngược lại, xuất bản là một bộ phận thiết yếu của đời sống văn hóa và thúc đẩy phát triển các hoạt động văn hóa khác Xuất bản là một hoạt động văn hóa: lựa chọn, gia công, truyền bá các sản phẩm văn hóa Bởi lẽ, trong tổng thể các hoạt động văn hóa, công tác xuất bản có khả năng thực hiện có hiệu quả hầu hết các nhiệm vụ cơ bản của hoạt động văn hóa Sáng tạo các giá trị văn hóa là công việc của các tác giả nghiên cứu, sáng tác thuộc tất cả các hình thái ý thức xã hội khác nhau Song các kết quả phản ánh, kết quả nghiên cứu của bất kì tác giả nào cũng đều phải thông qua xuất bản phẩm để định hình, lưu giữ lại, phải được nhân bản mới có thể truyền bá rộng rãi Bởi vậy, xuất bản là “bà đỡ” của sáng tác
Xuất bản tạo điều kiện, môi trường, điều kiện cho hoạt động nghiên cứu, sáng tác, kích thích, giúp đỡ hoạt động đó phát triển Đồng thời, thông qua biên tập, công tác xuất bản còn trực tiếp góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng các tác phẩm văn hóa được xuất bản Xuất bản góp phần thúc đẩy và nâng cao
Trang 24trình độ văn hóa của mọi thành viên trong xã hội Nó giúp con người tích lũy thành quả văn hóa của dân tộc, nhân loại, là công cụ giáo dục, nâng cao trình
độ tri thức cho bạn đọc Đó cũng là điều kiện quan trọng trong việc tạo nên các nghệ sĩ, các nhà khoa học để họ sáng tạo những kiệt tác của mình
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, có hai điều kiện cơ bản để tạo ra các thành tựu nghiên cứu có giá trị: Đó là kế thừa những thành tựu đã có và được trao đổi, phản biện giữa những người nghiên cứu Xuất bản đã góp phần tạo đầy đủ cả hai điều kiện đó Tri thức và các thông tin chứa trong xuất bản phẩm đều được truyền bá trong xã hội làm cho đông đảo người nghiên cứu sử dụng, kế thừa các thành tựu chung của nhân loại, tránh được sự trùng lặp trong nghiên cứu, chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học sẽ cao hơn
Công tác xuất bản còn là công cụ truyền bá, phân phối, bảo tồn các giá trị văn hóa có hiệu quả cao Xuất bản là đội quân chủ lực trong việc truyền bá các sản phẩm văn hóa Nó có thể đưa đến đông đảo quần chúng những tác phẩm có dung lượng tri thức lớn, những thông tin tri thức phức tạp, sâu sắc,
có tác dụng tích lũy tri thức lâu dài, có hiệu quả cao nhất Xuất bản có tác động to lớn đến mọi hoạt động văn hóa khác Nó cung cấp sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học cho thầy và trò trong giáo dục Sách giúp xây dựng
xã hội học tập, nâng cao dân trí, cung cấp công cụ để có thể học tập suốt đời
Xuất bản và các phương tiện thông tin đại chúng khác như báo chí, phát thanh, truyền hình ngày nay đang gắn bó với nhau, là điều kiện của nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng phồn vinh Bởi lẽ, tri thức và thông tin với hai con đường truyền bá khác nhau là xuất bản và báo chí, lại thường có thể chuyển hóa cho nhau Thông tin là tri thức luân chuyển, tri thức là thông tin được lưu trữ, tích lũy Trong xã hội hiện đại và cả trước đây, không có xuất bản phẩm thì hoạt động thư viện, lưu trữ, bảo tàng sẽ không còn ý nghĩa tồn tại Trình độ phát triển của sự nghiệp xuất bản, phát hành sẽ quyết định các bộ
Trang 25sưu tập hoành tráng ở các thư viện, bảo tàng, từ đó góp phần phát huy chức năng và tác dụng xã hội của những hoạt động văn hóa này
Sách và hoạt động xuất bản còn có vị trí đáng kể trong việc tổ chức đời sống văn hóa cộng đồng Sách góp phần làm cho cuộc sống tinh thần xã hội thêm vui tươi, lành mạnh, giàu ý nghĩa Qua cuộc thi sách, triển lãm sách, hội chợ sách, phong trào đọc sách… đời sống văn hóa xã hội được phong phú hơn, tốt đẹp hơn Sách và hoạt động xuất bản, truyền bá sách đã trở thành các tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển văn hóa, văn minh của mỗi quốc gia, dân tộc
Như vậy, xuất bản là một bộ phận quan trọng trong hoạt động văn hóa
xã hội, là nhân tố không thể thiếu trong đời sống văn hóa Trình độ văn hóa chung của xã hội, sự phát triển của văn học, nghệ thuật và khoa học có ảnh hưởng đến sự phát triển của xuất bản Đồng thời, hoạt động xuất bản cũng tác động mạnh mẽ đến các hoạt động văn hóa khác Cũng như mọi hoạt động văn hóa, mục tiêu cao cả của công tác xuất bản là hướng tới hoàn thiện con người, đưa con người vươn tới chân, thiện, mĩ, tạo nền tảng tinh thần và động lực cho sự phát triển xã hội
Khẳng định vai trò của báo chí, xuất bản trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, đồng thời cũng là nhiệm vụ của báo chí, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ: Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng, báo chí, xuất bản… làm tốt chức năng tuyên truyền, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội; giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán với hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhân tố lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; coi trọng, nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin [4]
Do đó, thực hiện hiệu quả công tác xuất bản, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác phát hành được xem là nhân tố để giúp người dân dễ dàng tiếp cận được với sách, nhằm dần hình thành nhu cầu cũng như tạo ra văn hóa
Trang 26đọc trong người dân vùng cao, qua đó góp phần quan trọng trong việc ổn định
an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển của kinh tế - xã hội của địa phương
Theo nội dung, hiện nay, các ngành, các thư viện và người đọc đang chia sách thành các thể loại: Sách chính trị, sách kinh tế, sách pháp luật, sách văn học, sách giải trí, sách khoa học kỹ thuật, sách y học, sách nông nghiệp… Ngoài ra, người ta cũng có thể chia ra thành các loại sách: sách thiếu nhi, sách thiếu niên, sách thanh niên, sách hỏi đáp, sách tài trợ…
1.2 Những nhân tố tác động đến việc đọc sách của người dân vùng cao Thái Nguyên
1.2.1 Đặc điểm đời sống xã hội ở vùng cao Thái Nguyên
1.2.1.1 Khái niệm vùng cao
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Vùng cao là vùng rừng núi, nơi có
đồng bào dân tộc ít người sinh sống” [57]
Từ định nghĩa trên đây, ta có thể hiểu người dân vùng cao là những người sống ở vùng rừng núi, phần lớn là người dân tộc thiểu số Và trên thực
tế, phần lớn người dân (trên 90%) sống bằng sản xuất nông, lâm nghiệp
Việt Nam hiện có trên 80 triệu dân, với 54 dân tộc anh em, trong đó, dân tộc Kinh chiếm tới 87% tổng số dân của cả nước Do đó, 53 dân tộc còn lại chỉ chiếm tỷ lệ 13% được gọi là dân tộc thiểu số, gồm các dân tộc như: Tày, Nùng, Dao, Sán chí, Ê đê, H’mông, Cao Lan, Bla…
Đối với khái niệm dân tộc thường được tiếp cận theo 2 nghĩa: Nghĩa rộng – đó là khái niệm dân tộc, quốc gia và nghĩa hẹp đó là khái niệm dân tộc – tộc người [55]
Khái niệm dân tộc – quốc gia dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, làm thành nhân dân một nước, có một lãnh thổ quốc gia, một nền kinh tế thống nhất, có quốc ngữ chung và tâm lý chung biểu hiện trong văn hóa của quốc gia dân tộc
Trang 27Khái niệm dân tộc – tộc người dùng để chỉ cộng đồng người hình thành
và phát triển trong lịch sử với 3 đặc trưng cơ bản: đó là có chung một ngôn ngữ tộc người, một bản sắc văn hóa tộc người và đặc biệt có ý thức tự giác tộc người
Thực tế cho thấy, một cộng đồng dân tộc thường bao gồm nhiều cộng đồng tộc người với những yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, thậm chí yếu tố chủng tộc khác nhau Vì vậy, xem xét vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc đòi hỏi phải nghiên cứu, phân tích từng cảnh huống sử dụng khái niệm một cách cụ thể Trong phạm vi của luận văn này, tôi sử dụng khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp là tộc người
1.2.1.2 Đặc điểm đời sống xã hội của người dân vùng cao Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng trung du – miền núi Đông Bắc Phía Bắc giáp với tỉnh Bắc Kạn; phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía Đông giáp với tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam giáp với thủ
đô Hà Nội Với vị trí địa lý này, Thái Nguyên từ lâu đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ
Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.562km², dân số gần 1,2 triệu người; với 9 đơn vị hành chính gồm 7 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã; trong
đó có 2 huyện vùng núi cao, 125 xã vùng cao và miền núi trong tổng số 181
xã, phường, thị trấn của tỉnh Thái Nguyên là trung tâm giáo dục lớn của cả nước, với 8 trường đại học, gần 20 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề, với hơn 60.000 học sinh, sinh viên theo học Ngoài ra, còn hàng vạn học sinh theo học các lớp tại chức ở các trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp Những con số đó cho thấy mặt bằng tri thức của Thái Nguyên là khá cao so với các tỉnh trung du, miền núi Điều đó cũng có tác động đáng kể đến văn hoá đọc của người dân
Trang 28Tuy nhiên do đặc điểm là tỉnh miền núi, nên ở Thái Nguyên có sự chênh lệch đáng kể về trình độ tri thức giữa các vùng, miền trong tỉnh Ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, mặt bằng dân trí nhìn chung còn thấp; việc tiếp cận với sách, báo, tạp chí và các loại hình truyền thông của người dân còn rất nhiều hạn chế
Theo số liệu điều tra dân số tỉnh Thái Nguyên 1-4-2009, toàn tỉnh có hơn 1,123 triệu người, trong đó, dân tộc Kinh có 821 nghìn người (chiếm 73,11%), còn lại hơn 302 nghìn người là dân tộc thiểu số, gồm: Tày (10,97%), Nùng (5,68%), Dao (2,26%), Hmông (0,64%), Sán Chay (2,89%), Sán Dìu (3,93%), Hoa (0,18%), Thái (0,08%), Mường (0,15%), Ngái (0,04%), Giáy (0,01%), Khơ me (0,01%) và 1 số dân tộc khác (chiếm 0,04%) Các dân tộc này có mặt ở tất cả các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh Trong
đó, tỷ lệ dân tộc thiểu số nhiều nhất là 2 huyện: Võ Nhai, chiếm tỷ lệ 67,93% tổng số dân (43.637/64.241 người); Định Hóa, chiếm tỷ lệ 69,9% (với 60.877/87.089 người) Tiếp đến là các huyện: Phú Lương 46.210/105.229 người (chiếm tỷ lệ 43,91%); Đồng Hỷ là 45.397/107.769 người (chiếm tỷ lệ 42,21%); Đại Từ là 43.061/159.667 người (chiếm tỷ lệ 26,9%) Các huyện, thành, thị còn lại là: Phổ Yên, Phú Bình, Sông Công và T.P Thái Nguyên tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 4,8 đến gần 14% [5]
Sự phân bố dân tộc thiểu số không những không đồng đều giữa các huyện, thành, thị mà ngay ở từng địa phương, tỷ lệ này cũng có sự chênh lệch khá lớn Ví dụ như, cùng ở huyện Võ Nhai, các xã như: Sảng Mộc, Nghinh Tường, Thần Sa, Vũ Chấn, Thượng Nung, Cúc Đường, Phú Thượng thì tỷ lệ dân tộc thiếu số chiếm từ 86 đến 98,5%; trong khi ở các xã khác như: Phương Giao, Liên Minh, Bình Long, Tráng Xá, La Hiên… thì tỷ lệ này chỉ chiếm trên
50 đến dưới 60% Hay như ở huyện Phú Lương, một số xã như: Yên Trạch, Ôn Lương, Hợp Thành, Yên Ninh tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ gần 80 đến
Trang 29trên 90%, nhưng những xã như: Tức Tranh, Phấn Mễ, Vô Tranh, Cổ Lũng, Sơn Cẩm… tỷ lệ này chỉ chiếm từ gần 20 đến hơn 30%
Với tỷ lệ người dân tộc thiểu sống như hiện nay, so với mặt bằng chung của cả nước thì Thái Nguyên có số dân là người dân tộc thiểu số thấp hơn khoảng 10% Tuy nhiên, ở những xã vùng cao, phần lớn dân cư vẫn chủ yếu là người dân tộc thiểu số, chỉ một số rất ít là người dân tộc Kinh (lấy vợ, chồng hoặc từ nơi khác chuyển đến sinh sống) Bởi thế, các đặc điểm chung
về vùng cao của Thái Nguyên đều mang những đặc trưng chung của vùng cao của cả nước
Các dân tộc thiểu số phần lớn sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng
xa - nơi có điều kiện về kinh tế chậm phát triển, cơ cấu nông, lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, do đó, đời sống vật chất, văn hóa, xã hội của người dân nhìn chung còn nhiều khó khăn Theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 5-3-2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục các đơn
vị hành chính thuộc vùng khó khăn, Thái Nguyên có 100 xã/181 xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn [19] Trong đó có 19 xã khu vực 3 (đặc biệt khó khăn), 81 xã khu vực 2 (khó khăn) Ngoài ra còn có 25 xã khu vực 1 (mới bước đầu phát triển)
Thống kê của Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh Thái Nguyên cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh năm 2011 còn tới gần 35%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo chung toàn tỉnh chỉ là 16,4% [33],
dự kiến năm 2012 còn 14,6% Cá biệt có những xã như Sảng Mộc (Võ Nhai),
tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 48,5%, trong đó có xóm như Khuổi Mèo tỷ lệ hộ nghèo hiện là 97,4%, Tân Lập, Khuổi Uốn còn gần 70%, trong số này có một
tỷ lệ không nhỏ (trên dưới 10% là hộ đói) Những xóm như thế này từ trước đến nay chỉ có 4-5 người học được hết THCS
Trang 30Trưởng xóm Tân Lập, xã Sảng Mộc - Hoàng Hữu Cao cho rằng: Sở dĩ
xóm giờ vẫn quá nghèo là do cách trung tâm xã gần 12km; đường đi lại còn nhiều khó khăn, đất canh tác ít, lại đều ở trên núi cao, thường xuyên bị khô hạn, cây trồng, vật nuôi đều cho năng suất thấp, cộng với việc chưa có điện, các phương tiện nghe nhìn của bà con còn thiếu thốn khiến cuộc sống của gần
60 hộ dân trong xóm gần như tách biệt với thế giới bên ngoài Hơn nữa, do nhận thức của người dân trong xóm còn nhiều hạn chế nên việc tuyên truyền, vận động người dân thực hiện bất cứ một vấn đề gì cũng đều gặp khó khăn
Ngay đối với 12 dân tộc thiểu số hiện có trên địa bàn tỉnh cũng có sự khác biệt trong nhận thức cũng như trong phát triển kinh tế Thực tế cho thấy, nơi nào cấp ủy, chính quyền quan tâm, dành nhiều ưu đãi đối với người dân tộc thiểu số thì ở đó đời sống của người dân phát triển đồng đều và nhanh hơn Ngược lại, nơi nào cấp ủy, chính quyền thiếu sâu sát, kém năng động trong quản lý, điều hành thì ở đó, đời sống của người dân nói chung, người dân tộc thiểu số nói riêng gặp nhiều khó khăn
Sự chênh lệch về đời sống cũng thể hiện khá rõ nét trong từng dân tộc cũng như về địa bàn cư trú Nếu như dân tộc Tày được đánh giá là có sự phát triển tương đối đồng đều trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội và giáo dục (dân tộc Tày thường ở những địa bàn không quá cao và đường đi không quá khó khăn) thì những dân tộc còn lại (điển hình là dân tộc Mông) lại cơ bản ở trong tình trạng chậm phát triển, thậm chí là trì trệ (các dân tộc này thường sống trên núi cao, cách xa trung tâm xã, huyện) Do đó, hiệu quả của việc triển khai thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đạt được là không giống nhau Cũng vì thế, khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc thiểu số, giữa dân tộc thiểu số ở vùng này với vùng kia, giữa vùng cao với đồng bằng có xu hướng ngày càng gia tăng
Trang 31Theo ông Nguyễn Văn Lai, Trưởng ban Dân tộc tỉnh, có nhiều nguyên
nhân khiến đời sống của người dân vùng cao chậm phát triển, trong đó có thể
kể đến 3 nguyên nhân cơ bản đó là: trình độ nhận thức hạn chế, kém năng động; địa bàn cư trú quá rộng, lại khó khăn, đất đai khô cằn và ít được tiếp cận với giáo dục có chất lượng Mặc dù từ năm 1966, Thái Nguyên là tỉnh
miền núi đầu tiên trong cả nước hoàn thành thanh toán nạn mù chữ, được Chính phủ tặng Cờ, Bác Tôn tặng phần thưởng Đến tháng 11-2002, Thái Nguyên đã hoàn thành phổ cập bậc tiểu học đúng độ tuổi và năm 2004, tỉnh đã hoàn thành phổ cập THCS Giáo dục phổ thông ngày càng phát triển sâu rộng đến tận các bản làng xa xôi, hẻo lánh, thực hiện tốt phương châm “Xóa bản trắng” ở những bản không có lớp tiểu học; ở mỗi xã, phường có ít nhất 1 trường tiểu học, 1 trường THCS Những vùng khó khăn, ngoài trường chính còn mở thêm các phân trường hoặc lớp tiểu học, tổ chức dạy ghép với nội dung 2-3 chương trình Bên cạnh đó, công tác vận động trẻ em thất học trở lại lớp, không bỏ học giữa chừng đã góp phần đưa Thái Nguyên trở thành tỉnh thứ 11 trong cả nước đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi Tuy nhiên,
có một thực tế là cho đến tận bây giờ, nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của giáo dục trong người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh vẫn còn có những hạn chế nhất định Còn một tỷ lệ không nhỏ các gia đình chưa chú trọng đầu tư, tạo điều kiện để con cái học hành từ bậc THCS, nhất là từ THPT trở lên
Khi thực hiện điều tra, khảo sát về vấn đề này ở một số xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số của huyện Định Hóa, Võ Nhai và Phú Lương, chúng tôi được nhiều người dân nói rằng, từ bao đời nay, gia đình họ đều gắn bó với con trâu, cái cày, đồng ruộng và cây rừng nên học chữ nhiều cũng chẳng để làm gì, chữ chẳng thể làm nồi cơm của họ nhiều lên, mà thậm chí còn nghèo đi vì họ vừa phải đầu tư cho con ăn học, lại vừa thiếu đi lao động trong gia đình Vì thế, phần lớn người dân chỉ tạo điều kiện cho con học hết bậc tiểu học để biết mặt
Trang 32chữ, biết cộng trừ nhân chia những phép tính đơn giản để có thể tính toán trong việc buôn bán khi đến chợ, còn nếu muốn học cao hơn thì các em phải cùng gia đình trồng trọt, chăn nuôi ngoài giờ lên lớp Chính điều này khiến các em có rất ít thời gian dành cho việc học Bởi vậy, khả năng tiếp thu kiến thức của các
em bị hạn chế rất nhiều Nhiều em vì thế đã không theo kịp chương trình nên chán nản dẫn đến bỏ học giữa chừng Thêm vào đó, đường đến trường của các
em lại vô cùng gian nan, nhiều em mới học lớp 4-5 đã phải sống xa gia đình hàng chục km nên phải tự nấu ăn, giặt quần áo và chăm sóc bản thân khi đau ốm… và cả tuần mới được về thăm gia đình 1-2 ngày, sau đó lại phải trèo đèo, lội suối mang theo gạo, rau… để trở lại trường học
Theo thống kê của Sở Giáo dục – Đào tạo Thái Nguyên: Năm học 2010-2011, tỷ lệ học sinh ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh học hết tiểu học là 97% (trong khi toàn tỉnh là 99,6%); học hết THCS là 64% (trong khi toàn tỉnh là 78,7%), học hết THPT là gần 30% (trong khi toàn tỉnh là 57,6%) [54] Thêm vào đó, do địa bàn cư trú cách xa trung tâm xã, huyện nên phải vào những dịp như lễ, Tết, phiên chợ, hoặc đi xin dấu xác nhận của chính quyền địa phương thì người dân mới ra đến xã, huyện Điều này làm hạn chế rất lớn khả năng quan sát, học hỏi và giao lưu của họ Ngay
cả khi thực hiện việc trao đổi, mua bán ở chợ thì người dân tộc thiểu số bao giờ cũng có tâm lý tự ti, e ngại trước người Kinh
Cũng từ những hạn chế về trình độ nhận thức, ít tiếp cận với thế giới xung quanh và kinh tế nghèo nàn, lạc hậu nên người dân vùng cao nói chung, đặc biệt là người dân tộc thiểu số thường có lối suy nghĩ rập khuôn, dẫn tới bảo thủ và trì trệ Nhiều hủ tục lạc hậu, phản khoa học vì thế cho đến nay vẫn được nhiều người dân tộc thiểu số duy trì
Những đặc điểm trên có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp cận thông tin của người dân nói chung, với sách nói riêng Đó là việc người dân không
Trang 33có tiền để mua sách; không có thời gian để đi mua sách; thậm chí là nhiều người không có nhu cầu đọc sách và cả việc người dân không có đủ trình độ
để hiểu nội dung nhiều cuốn sách viết gì…
1.2.2 Những chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc đáp ứng nhu cầu đọc sách của người dân vùng cao Thái Nguyên
Ngay từ buổi sơ khai của lịch sử loài người, nhu cầu tiếp nhận thông tin của con người và xã hội loài người đã được hình thành Chính nhu cầu về giao tiếp, trao đổi thông tin lẫn nhau ấy đã gắn kết những cá nhân riêng lẻ thành một tập thể mang tính xã hội và khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng phức tạp và phong phú hơn Tuy nhiên, nhu cầu tiếp nhận thông tin có sự khác biệt giữa các vùng, miền, lứa tuổi, trình độ nhận thức… Đây cũng chính là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiếp nhận thông tin của mỗi người, mỗi vùng
Nhận thức được điều đó, từ khi mới ra đời, vấn đề thông tin, tuyên truyền đã được Đảng, Nhà nước ta chú trọng, đặc biệt là đối với các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa – nơi mà đồng bào không chỉ bị thiếu mà còn bị tranh chấp về thông tin trước các thế lực thù địch trong và ngoài nước; nơi mà đồng bào do trình độ còn nhiều hạn chế nên rất dễ tin và nghe theo những lời xúi bẩy của các thế lực phản động để rồi có thể sẵn sàng đi ngược lại với lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia Vì thế, việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước luôn được Đảng ta chú trọng
Thực tế cho thấy, các dân tộc thiểu số của chúng ta mặc dù chỉ chiếm tỷ
lệ 13% dân số cả nước với hơn 10 triệu người, sống rải rác ở ¾ lãnh thổ nhưng lại ở những vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh và phát triển kinh
tế Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã đề ra chính sách dân tộc và công tác dân tộc phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được những kết
Trang 34quả quan trọng, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước Điều này được minh chứng thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và XI đều xác định tầm quan trọng và chiến lược phát triển dân tộc với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, do những đặc điểm về địa hình phức tạp, địa bàn cư trú rộng lớn, dân cư ở phân tán, mặt bằng dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém lại phải chịu nhiều ảnh hưởng xấu của thời tiết nên miền núi nước ta đến nay vẫn là một vùng chậm phát triển Cũng bởi thế, đồng bào các dân tộc thường thiếu thông tin hoặc thông tin đến chậm Do đó, trong đồng bào dân tộc dễ nảy sinh những suy nghĩ và hành động tự phát theo cảm tính; là điều kiện để bọn phản động và các thế lực thù địch lợi dụng, xúi giục, lôi kéo, mua chuộc nên dễ có những hành động đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, quốc gia mình Đồng bào càng thiếu hiểu biết thì việc lợi dụng, lôi kéo của các thế lực thù địch càng dễ dàng
Xuất phát từ thực tế trên nên mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các vùng đồng bào dân tộc thiểu số đều nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để người dân phát huy được nội lực, phấn đấu vượt qua đói nghèo, từng bước vươn lên hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước
Ngay những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, ngày
27-11-1989, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW “Về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi”, trong đó ghi rõ:
Tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả phương tiện hiện đại như máy thu catxet, máy thu hình để cải tiến và nâng cao các chương trình phát thanh, truyền hình ở địa phương, phổ biến các văn hóa phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào các dân tộc Chú trọng sử dụng ngôn ngữ dân tộc (và chữ viết nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền [8]
Trang 35Đây được xem là mốc đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước Cụ thể hóa Nghị quyết 22 này, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
đã có quyết định số 72/QĐ-HĐBT, ngày 13-3-1990 “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi” [24] quy định rõ những nội dung đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hóa phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc Gắn phát triển kinh tế với vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc phòng
Từ yêu cầu thực tế trên, ngày 31-12-2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1637/QĐ-TTg về việc cấp một số loại báo, tạp chí của 17 tòa soạn báo do Chính phủ cấp kinh phí xuất bản để phát không thu tiền với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Ngày 20-7-2006, Quyết định 1637 được thay thế bằng Quyết định số 975/QĐ-TTg nhưng nội dung không thay đổi Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2472 về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, giai đoạn 2012-2015 (tiếp theo Quyết định số 975) Theo đó, Thái Nguyên có 126 xã với 1.990 xóm (trong từng xã, xóm có chi hội nông dân, phụ
nữ, ban công tác mặt trận); 301 trường học, với 3.747 lớp học, mỗi cơ quan, đơn
vị, tổ chức được cấp từ 2-6 loại báo, tạp chí (theo chức năng, nhiệm vụ)/tổng số 18 báo, tạp chí do Thủ tướng Chính phủ quy định
Cùng với báo, tạp chí, ngày 25-11-1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1067/QĐ-TTg về việc phê duyệt Dự án xây dựng
và quản lý tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn Theo đó, UBND tỉnh Thái Nguyên đã chỉ đạo Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn xây dựng một
tủ sách mang tên “Tủ sách pháp luật” để một mặt cung cấp tư liệu cho cán
Trang 36bộ, chính quyền địa phương nghiên cứu, sử dụng và nhân dân có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu pháp luật của Nhà nước [16] Giao trách nhiệm cho Sở
Tư pháp phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng đề án,
kế hoạch và hướng dẫn mô hình chung về tủ sách pháp luật ở từng địa bàn
xã có tính đến những đặc thù riêng, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có người dân tộc thiểu số Phối hợp với cơ quan tài chính, UBND xã lập dự toán, cân đối ngân sách hàng năm để đóng tủ, mua sách pháp luật trang bị cho các tủ sách theo đúng quy định… Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong việc triển khai thực hiện Quyết định 1067, ngày 25-1-2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 06/2010/QĐ-TTg về xây dựng, quản
lý, khai thác Tủ sách pháp luật Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Thái Nguyên đã
ra Quyết định số 1464/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch thực hiện “Ngày pháp luật” tại các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm của các cấp, các ngành cần quan tâm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hoạt động của Tủ sách pháp luật Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có tủ sách pháp luật, với số lượng trung bình trên 200 cuốn sách/tủ, cùng nhiều tài liệu pháp luật khác như sách pháp luật, công báo của Trung ương, công báo của tỉnh, báo, tạp chí pháp luật… giá trị trung bình mỗi tủ sách từ 4-5 triệu đồng Các tủ sách này phần lớn được đặt tại Hội trường UBND cấp xã hoặc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nên khá thuận lợi cho nhân dân đến mượn Nhìn chung, các tủ sách pháp luật đều
cơ bản đảm bảo đúng 4 bộ sách theo quy định, gồm: văn bản quy phạm pháp luật; sách pháp luật phổ thông; báo chí pháp luật của trung ương và địa phương; sách hướng dẫn nghiệp vụ công tác chính quyền, công tác tư
Trang 37pháp cơ sở… [xem phụ lục 6, phỏng vấn sâu ông Nguyễn Hùng Tráng, Giám đốc Sở Tư pháp Thái Nguyên]
Tiếp đó, ngày 14-8-2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg về “Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa” Theo đó, đối tượng được hưởng chính sách này bao gồm: Nhân dân các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa được quy định trong Chương trình 135 của Chính phủ; học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú… Với những hoạt động văn hóa được thực hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa bao gồm: biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim nhựa hoặc băng hình, thư viện, bảo tàng, triển lãm…[18]
Đối với việc cấp sách, theo Quyết định số 170 này, Thái Nguyên hiện có 44 xã đặc biệt khó khăn (trước năm 2010 có 41 xã), thuộc 5 huyện là: Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đồng Hỷ và Đại Từ mỗi năm được cấp
10 triệu đồng tiền sách Cụ thể, gồm các xã: Văn Lăng, Tân Long (Đồng Hỷ); Phú Đình, Qui Kỳ, Bình Thành, Bình Yên, Thanh Định, Sơn Phú, Trung Hội, Trung Lương, Đồng Thịnh, Phú Tiến, Phúc Chu, Phượng Tiến, Tân Thịnh, Điềm Mặc, Bộc Nhiêu, Tân Dương, Kim Phượng (Định Hóa); Sảng Mộc, Nghinh Tường, Vũ Chấn, Thượng Nung, Cúc Đường, Thần Sa, Dân Tiến, Bình Long, Liên Minh, Phương Giao, Tráng Xá (Võ Nhai); Hợp Thành, Yên Ninh, Yên Trạch (Phú Lương); La Bằng, Mỹ Yên, Phú Xuyên, Minh Tiến, Phúc Lương, Đức Lương, Bản Ngoại, Khôi Kỳ, Hoàng Nông, Phú Cường, Quân Chu (Đại Từ) Số sách này thường được để tại UBND xã
để phục vụ cho nhu cầu đọc của cán bộ và người dân trên địa bàn
Đặc biệt, ngày 25-8-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 42 về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản Đây
có thể xem là Chỉ thị đầu tiên đề cập toàn diện nhất đến hoạt động xuất bản của Đảng từ trước cho đến nay Nội dung Chỉ thị nêu rõ:
Trang 38Những năm gần đây, hoạt động xuất bản đã có bước phát triển nhanh, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người đọc, góp phần tích cực vào việc tuyên truyền phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế - văn hóa Tuy vậy, hoạt động xuất bản còn có những yếu kém, khuyết điểm, đó là khuynh hướng thương mại hóa, chạy theo lợi nhuận kinh tế thuần túy tác động xấu đến hoạt động xuất bản Tỷ lệ in lậu xảy ra khá phổ biến, nhưng chưa được kiểm tra, ngăn chặn có hiệu quả Mạng lưới phát hành còn chưa đến được nhiều vùng sâu, vùng xa, nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Trên cơ sở này, thông qua Chỉ thị, Ban Bí thư đã đưa ra những nhiệm vụ cụ thể của hoạt động xuất bản Và một trong những nhiệm vụ đó là đến năm 2010, phấn đấu đưa sách về đến cấp huyện và đưa sách đến phần lớn các xã để đạt chỉ tiêu 6 bản sách/người/năm Tập trung củng cố và phát triển hệ thống thư viện, các loại phòng đọc, trước hết ở cơ sở [20]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục xác
định “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin,
báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số” [53]
Gần đây nhất, đầu năm 2009, Ban Bí thư Trung ương đã ra Thông báo số 220-TB/TW về việc triển khai thí điểm Đề án trang bị sách cho cơ
sở xã, phường, thị trấn [50] Ngay sau đó, NXB Chính trị - Quốc gia - Sự thật đã phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và địa phương triển khai thí điểm tại 16 tỉnh, thành trong cả nước Thái Nguyên được nằm trong
Trang 39danh sách 16 tỉnh, thành này Theo đó, mỗi xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh được cấp sách 2 lần/năm, mỗi lần 45 quyển Rút kinh nghiệm ở giai đoạn thí điểm, lần triển khai ở cả 63 tỉnh, thành tới đây, cơ cấu sách cũng có sự thay đổi cho phù hợp Theo đó, từ năm 2012 trở đi, các đầu sách được cấp sẽ gồm 4 thể loại chính: Sách phổ biến, giáo dục lý luận chính trị, pháp luật và kiến thức quản lý cấp cơ sở; sách giới thiệu về các điển hình tiên tiến, tấm gương người tốt, việc tốt, đấu tranh phản bác thông tin, luận điệu sai trái, thù địch, đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, suy thoái về đạo đức, lối sống; sách phục vụ Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; sách đặc thù cho từng khu vực như những nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số, sách tôn giáo Hình thức các loại sách cũng sẽ có sự thay đổi đáng kể Thay vì những cuốn sách thông thường, hình thức sách lần này sẽ được làm dưới dạng cẩm nang, dễ đọc, dễ hiểu, dễ vận dụng, không quá dày, chỉ dưới 200 trang
Đại hội lần thứ XI của Đảng cũng nhấn mạnh:
Để phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế giai đoạn 2011-2020 cần quan tâm nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, internet, xuất bản Đảm bảo quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Tiếp tục đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả quản lý, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin, hình thành thị trường văn hóa lành mạnh Đấu tranh chống các biểu hiện phi văn hóa, suy thoái đạo đức, lối sống, tác động tiêu cực của các sản phẩm văn hóa thông tin đồi trụy, kích động bạo lực…[53]
Trang 40Có thể nói, việc nâng cao chất lượng hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản, trong đó có việc chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã giúp cán bộ và người dân nơi đây nắm bắt sâu và nhanh hơn chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp phần giúp đồng bào xóa đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên
Không chỉ chú trọng đến các loại sách chính trị, kinh tế, văn hóa…, Đảng và Nhà nước ta còn đặc biệt chú trọng đến việc cung cấp và hỗ trợ sách giáo khoa cho học sinh thuộc các xã, xóm đặc biệt khó khăn (xã, xóm 135) và các đối tượng là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo vùng cao Từ năm 1997 đến nay, thông qua ngành Giáo dục – Đào tạo, Nhà nước cấp kinh phí để trang bị vào thư viện các nhà trường đủ sách giáo khoa cho học sinh thuộc các đối tượng nêu trên để các em có điều kiện đến trường tốt hơn Nhờ
có chính sách này nên gánh nặng của việc đến trường đối với học sinh thuộc
hộ nghèo, người dân tộc thiểu số ở vùng cao đã được giảm đi phần nào, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng dạy và học đối với đồng bào vùng cao nói riêng, tỉnh Thái Nguyên và cả nước nói chung
Tiểu kết chương 1
Từ vai trò mà sách mang lại cho đời sống xã hội con người; từ thực tế nhận thức cũng như trình độ văn hóa của người dân vùng cao Thái Nguyên hiện nay; cùng những cơ chế, chính sách mà Đảng, Nhà nước trong việc đưa sách đến với đồng bào vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn cho thấy việc phát triển văn hóa đọc sách trong nhân dân nói chung, ở vùng cao nói riêng không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ nhận thức để phát triển