Sự nhanh chóng trong việc viết và in ấn tác phẩm, sức mạnh của “cú ra đòn lý luận” trong đấu tranh với các luận điệu phản động, được giải thích bởi một điều: ở thời điểm đó, V.I.Lênin g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐỖ THỊ HƯNG
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NHẬN THỨC TRONG TÁC
PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA
KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN”
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Vũ Văn Viên
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1.ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CỦA SỰ RA ĐỜI LÝ LUẬN NHẬN THỨC TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” 19
1.1.Điều kiện thực tiễn 20
1.1.1.Điều kiện chính trị - xã hội nước Nga 20
1.1.2.Tiền đề khoa học 24
1.2.Tiền đề tư tưởng 33
1.2.1.Thế giới quan duy vật biện chứng là tiền đề cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện chứng của V.I.Lênin 34
1.2.2.Những quan điểm nhận thức luận biện chứng duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen là tiền đề trực tiếp cho sự phát triển nhận thức luận duy vật biện chứng trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” 40
1.3.Giới thiệu khái quát về tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” 49
Chương 2.MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NHẬN THỨC LUẬN DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN” 55
2.1.Bản chất của quá trình nhận thức 55
2.1.1.Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan bởi bộ óc con người 55
2.1.2.Các giai đoạn của quá trình nhận thức 63
Trang 32.1.3.Các trình độ của nhận thức khoa học 65
2.2.Những nguyên tắc của nhận thức luận duy vật biện chứng 69
2.2.1.Nguyên tắc thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với
ý thức con người 70 2.2.2.Nguyên tắc thừa nhận khả năng con người có thể nhận thức được thế giới 73 2.2.3.Nguyên tắc coi nhận thức con người là một quá trình biện chứng 76
2.3.Quan điểm về chân lý và vai trò của thực tiễn trong nhận thức 79
2.3.1.Chân lý khách quan Chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, mối quan
hệ biện chứng giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối 79 2.3.2.Thực tiễn và vai trò của thực tiễn trong nhận thức 86
2.4.Ý nghĩa của lý luận nhận thức trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” 94 KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán – một công trình
nghiên cứu khoa học lớn, một trong những tác phẩm kinh điển tiêu biểu của triết học Mác-Lênin V.I.Lênin viết tác phẩm này trong vòng 9 tháng (từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1908) tại Giơnevơ và Luân Đôn Sự nhanh chóng
trong việc viết và in ấn tác phẩm, sức mạnh của “cú ra đòn lý luận” trong đấu
tranh với các luận điệu phản động, được giải thích bởi một điều: ở thời điểm
đó, V.I.Lênin gần như là nhà mácxít cách mạng duy nhất ý thức được đến tận cùng ý nghĩa lớn lao mà triết học duy vật biện chứng đang và sẽ có đối với số phận của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, đối với sự tiến bộ khoa học và xã hội Trong đó, điều quan trọng hàng đầu là “việc vạch thảo thực sự khoa học sách lược và chiến lược của cuộc đấu tranh chính trị trước mắt, để cho sự phân tích cụ thể tất cả các điều kiện kinh tế, vật chất – mà trước tiên là những điều kiện khách quan của việc triển khai cuộc đấu tranh ấy” [23, tr.564]
Bằng tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán,
V.I.Lênin đã khát quát về mặt triết học những phát hiện mới trong vật lý học, chỉ ra thực chất của cuộc khủng hoảng trong khoa học tự nhiên, vạch ra con đường thoát khỏi sự khủng hoảng đó Ông phê phán chủ nghĩa Makhơ, chủ nghĩa duy tâm trong vật lý học và làm giàu thêm chủ nghĩa duy vật và triết học mácxít trên tất cả các lĩnh vực, đem lại cho triết học mácxít một diện mạo
mới Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán được coi là một
tác phẩm mẫu mực trong việc bảo vệ và phát triển triết học Mác trên cả hai
phương diện nội dung và phương pháp Đồng thời, nó cũng phát triển nhận
thức luận của chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới
Trang 5Xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu lịch sử triết học Mác-Lênin chuyên sâu
hơn, học tập tấm gương nghiên cứu lý luận xuất sắc của V.I.Lênin, để rút ra những bài học cho quá trình nghiên cứu tiếp theo, góp phần định hướng giải quyết các vấn đề của thực tiễn, việc tìm hiểu lý luận nhận thức trong tác phẩm
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán là việc làm cần thiết
Ở Việt Nam, kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng và nhân dân ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, mà trước hết là đổi mới tư duy Bài học đầu tiên trong lãnh đạo đổi mới đất nước của Đảng ta là: cần phải nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn công cuộc đổi mới của Đảng Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn xác định phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân Một trong những nhân tố để làm được điều đó là phải nâng cao năng lực trí tuệ, năng lực nhận thức của Đảng Trong những nhân tố góp phần nâng cao năng lực nhận thức của Đảng và nhân dân, vấn đề tìm hiểu lại, tìm hiểu sâu sắc hơn các nguyên lý cơ bản của triết học Mác-Lênin, trong đó có vấn đề
nhận thức luận trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
là một vấn đề có ý nghĩa cấp bách Vì những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề
tài “Vấn đề lý luận nhận thức trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những công trình nghiên cứu chung về lý luận nhận thức
Những công trình nghiên cứu lý luận nhận thức của I.Cantơ và G.V.Ph.Hêghen
Tác giả Phan Huy Chính với luận văn thạc sĩ Triết học “Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy cảm trong triết học Tây Âu thế kỷ XVII-
Trang 6XVIII – một số vấn đề đặt ra với nhận thức luận của Kant” (2000) đã chỉ ra đặc điểm, nội dung của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy cảm, chủ nghĩa duy lý trong triết học thế kỷ XVII-XVIII, đồng thời phân tích thực chất của việc “khắc phục” khuyết điểm của chủ nghĩa duy cảm và chủ nghĩa duy lý trong nhận thức luận của I.Cantơ
Với luận văn “Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức luận của I.Cantơ” (2006), tác giả Khuất Duy Dũng đã phân tích điều kiện văn hóa tinh thần-tư tưởng cho sự ra đời chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm I.Cantơ, những biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức luận của I.Cantơ (thể hiện ở các mặt đối tượng nhận thức, những điều kiện nhận thức luận, các phạm trù giác tính, và tự ý thức tiên nghiệm)
Luận văn “Bước đầu tìm hiểu lý luận nhận thức trong triết học của
I.Kant và G.W.F.Hegel” (2010) của tác giả Đinh Thị Phượng đã phân tích quá trình nhận thức trong quan điểm nhận thức luận của I.Cantơ và G.V.Ph.Hêghen, chỉ ra những hạn chế và những đóng góp của lý luận nhận thức của Cantơ và Hêghen đối với lý luận nhận thức Mác
Tác giả Lê Công Sự có đóng góp đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu nhận thức luận của I.Cantơ với công trình “Học thuyết phạm trù trong triết học I.Kant” (2007) Qua đây, tác giả đã phân tích: điều kiện và tiền đề hình thành; những nội dung cơ bản; những thành công, hạn chế và ý nghĩa của học thuyết phạm trù của I.Cantơ
Học thuyết phạm trù của Cantơ được hình thành trong thời kỳ kinh tế-xã hội nước Đức phong kiến chuyên chế đầu thế kỷ XVIII, lạc hậu và thấp kém
về kinh tế, bảo thủ, trì trệ về chính trị - tư tưởng Tác phẩm Phê phán lý tính
thuần túy mà “nội dung cơ bản của nó là học thuyết phạm trù có ý nghĩa quan
trọng đối với việc nghiên cứu” nhận thức luận Cantơ Những thành tựu khoa học tự nhiên đạt được đã đem lại cho Cantơ quan niệm mới về sức mạnh và
Trang 7khả năng trí tuệ của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới Cantơ là người mở đầu cho khuynh hướng nghiên cứu mới mà sau này trở thành truyền thống trong triết học cổ điển Đức - khuynh hướng về sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa chủ thể và khách thể Tiền đề lý luận của học thuyết phạm trù của Cantơ là học thuyết ý niệm của Platon, học thuyết phạm trù của Arítxtốt, quan niệm về phạm trù của các nhà triết học thời kỳ cận đại (cả khuynh hướng duy kinh nghiệm – như Ph.Bêcơn, Lốccơ, Béccli, Hium, lẫn khuynh hướng duy lý – như Đềcáctơ, Spinôda, Lépnít, Vônphơ)
Những nội dung cơ bản của học thuyết phạm trù trong triết học Cantơ được chia thành ba điểm lớn là tư tưởng xuất phát, các phạm trù cảm tính (trong nhận thức cảm tính), vấn đề phạm trù giác tính thuần túy (nguồn gốc, tính chất, vai trò của các phạm trù) Tư tưởng xuất phát và sợi chỉ đỏ xuyên suốt học thuyết phạm trù của Cantơ là chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm, với lối lập luận dung hòa, thỏa hiệp giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý Không gian và thời gian, theo Cantơ, là những phạm trù cảm tính cơ bản Nhận thức cảm tính đem lại những tri giác, biểu tượng mang tính chủ quan, cá biệt nghĩa là nhận thức cảm tính “chỉ có khả năng đem đến cho ta những tri thức riêng có tính ngẫu nhiên” [52, tr.102] Nhận thức tất yếu chuyển lên trình
độ giác tính và lý tính với các phạm trù có mức độ khái quát, trừu tượng cao hơn Quan niệm của Cantơ về nguồn gốc các phạm trù mang tính duy tâm chủ quan tiên nghiệm Cantơ chỉ xem xét các phạm trù trong mối quan hệ với cái tôi chủ thể, với giác tính, chưa thấy mối quan hệ giữa phạm trù với hiện thực khách quan, với giới tự nhiên tồn tại với tính cách là cơ sở, là nguồn gốc của các phạm trù Các phạm trù mang giá trị khách quan hay tính phổ quát và tất yếu Vai trò của phạm trù thể hiện ở chỗ: chúng là hình thức để con người có thể tư duy, là điều kiện để con người có thể kinh nghiệm, là cơ sở lý luận để thiết lập các “luận đề giác tính thuần túy” trong khoa học tự nhiên
Trang 8Sau khi phân tích thành công và hạn chế của học thuyết phạm trù của Cantơ, tác giả Lê Công Sự nhận định tầm ảnh hưởng của học thuyết phạm trù của Cantơ đối với triết học Hêghen, triết học Mác-Lênin và triết học phương Tây hiện đại “Học thuyết phạm trù của Kant có những ảnh hưởng nhất định đến quan niệm phạm trù trong triết học Mác-Lênin Những phạm trù mà Kant nêu ra trong bảng phạm trù của ông đã được các nhà kinh điển Mác-Lênin kế thừa có bổ sung cả về số lượng và nội hàm, làm cho quan niệm về phạm trù của con người ngày càng hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn, đầy đủ hơn” [52, tr.236] Triết học Mác-Lênin xuất phát từ lập trường thế giới quan và phương pháp luận biện chứng duy vật, đã xây dựng được một hệ thống các phạm trù
đa dạng, phong phú làm công cụ cho nhận thức và cải tạo thực tiễn
Bài viết “Quan niệm của Hêghen về phạm trù” của tác giả Lê Công Sự, (đăng trên tạp chí Triết học, số 5/2002, tr.51-56) và bài “Quan niệm của
G.V.F.Hêghen về khái niệm chân lý trong “Khoa học lôgic”” của tác giả Đới
Thị Thêu (đăng trên tạp chí Triết học, số 6/2011, tr.73-79) đã giúp tìm hiểu
sâu sắc hơn về quan điểm của nhà biện chứng “xuất sắc” - Hêghen về đặc điểm và vai trò của phạm trù trong nhận thức, về chân lý và quá trình “tìm kiếm” chân lý
Bàn về phạm trù thực tiễn và vai trò của thực tiễn có các tài liệu sau
Với bài viết “Khái niệm thực tiễn trong lý luận nhận thức – Một số vấn
đề cần quan tâm” (tạp chí Triết học, số 4/2011, tr.40-46) hai tác giả Nguyễn Ngọc Hà & Lê Văn Mười đã phân tích các đặc điểm, các hình thức của thực tiễn và chú trọng phân tích hai vai trò: 1) là mục đích của nhận thức; 2) là tiêu chuẩn chân lý của thực tiễn
Thông qua bài viết “Về quan điểm và tiêu chuẩn thực tiễn” (tạp chí Triết học, số 10/2007, tr.41-51), tác giả Ngô Nguyên Lương đã phân tích quá trình
áp dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thực tiễn đổi
Trang 9mới ở Trung Quốc, từ đó nhấn mạnh rằng trong quá trình kiên trì và vận dụng
lý luận, cần thường xuyên nghiên cứu tình hình mới, vấn đề mới, thông qua tổng kết thực tiễn mới để bổ sung, phát triển thêm lý luận, thúc đẩy sự phát triển của lý luận
Tác giả Đỗ Thị Thảo qua bài viết (2004), “Bước đầu tìm hiểu quan niệm của Ph.Ăngghen về thực tiễn”, (đăng trên tạp chí Khoa học Chính trị, số 3/2004, tr.26-30) đã trình bày, theo góc nhìn của một nhà nghiên cứu tác phẩm kinh điển, những quan niệm, luận điểm của Ph.Ăngghen về thực tiễn theo ba nội dung chính: 1) Thực tiễn là gì?; 2) tác dụng của thực tiễn lao động sản xuất đối với đời sống con người và nhân loại; 3) vai trò của thực tiễn là cơ
sở, động lực và tiêu chuẩn kiểm tra nhận thức Theo đó, trả lời câu hỏi “thực tiễn là gì?”, Ph.Ăngghen với vai trò “biên tập viên” để đem xuất bản “Luận
cương về Phoiơbắc” đã khẳng định “thực tiễn là hoạt động cảm giác được của
con người”, “tất cả những hoạt động cảm giác được của con người đều là thực tiễn; hoạt động thực tiễn đó có thể tác động vào hiện thực khách quan, làm biến đổi hiện thực khách quan (như đào sông, đắp đường, gieo trồng, cấy, gặt lúa, chiến đấu chống quân thù, v.v.)” [56, tr.26] Tác giả Đỗ Thị Thảo cũng
dẫn chứng quan điểm của Lênin trong Báo cáo của Ban biên tập báo “Tia
lửa” về việc ông nhấn mạnh sự đồng tình của mình với C.Mác và
Ph.Ăngghen về cách hiểu thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính, mang tính lịch sử-xã hội Phân tích các luận điểm của Ăngghen, tác giả chỉ ra rằng: theo Ăngghen, “tác dụng” của thực tiễn lao động sản xuất – bộ phận cơ bản nhất
của thực tiễn” là ở chỗ nó là nguồn gốc của mọi của cải, là điều kiện của sự
sống của mỗi cá nhân và cả nhân loại, là nhân tố sáng tạo ra con người
Đồng thời, thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, là tiêu chuẩn kiểm chứng tính đúng đắn của tri thức, bác bỏ những nhận thức sai lầm
Trang 10Với bài “Về tính khách quan và tính năng động của thực tiễn” (đăng trên tạp chí Triết học, số 8/2008, tr.48-52), tác giả Cao Ngạn Khởi đã phân tích nội
dung của tính khách quan và tính năng động của thực tiễn, và mối quan hệ
biện chứng giữa chúng Trong hoạt động thực tiễn, “chủ thể thực tiễn buộc phải chịu sự chế ước của tự nhiên, xã hội và sự chế ước tự thân của chủ thể thực tiễn; đồng thời, chủ thể thực tiễn lại là người cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình” [24, tr.52] Trình độ cải tạo tự nhiên, xã hội của con người càng cao thì “tính chủ thể thực tiễn của con người ngày càng cao hơn”
Nguyễn Tấn Hùng với bài “Những quan niệm khác nhau trong lịch sử
triết học về bản chất, con đường nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý” (tạp chí Triết học, số 3/2006, tr.51-57) đã phân tích các quan điểm khác nhau trong lịch sử triết học về bản chất, con đường nhận thức, và tiêu chuẩn chân lý Theo đó, về bản chất của nhận thức, “tựu trung có ba cách hiểu khác nhau: a)
Quan điểm duy vật cho rằng, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan; b) Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng, nhận thức là sự phản ánh trạng
thái chủ quan (như cảm giác, biểu tượng, xúc cảm, …), hoặc cho rằng, nhận
thức có tính chất tiên nghiệm, tức có sẵn trong đầu óc con người và c) Quan điểm duy tâm và tôn giáo cho rằng, tri thức có bản chất siêu tự nhiên, con
người có thể nhờ sự hồi tưởng, sự hòa nhập, sự đốn ngộ, sự mặc khải, niềm tin, v.v Từ các cách hiểu khác nhau về bản chất của nhận thức, hình thành
những quan niệm khác nhau về con đường nhận thức” [21, tr.51], và cùng với
đó là vấn đề tiêu chuẩn chân lý Tác giả đã khảo sát quan điểm trên ở các thời
kỳ lịch sử triết học: cổ đại, trung đại (quan điểm Do Thái-Kitô, Hồi giáo,…), cận đại, và cả hiện đại (chủ nghĩa thực chứng mới, chủ nghĩa duy lý phê phán ) Từ đó, khẳng định vai trò đúng đắn của lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác-Lênin
Trang 11Với mục đích có được tầm nhìn tổng quan về tiêu chuẩn chân lý trong lịch sử triết học, tác giả Nguyễn Tấn Hùng có bài “Vấn đề tiêu chuẩn của chân lý trong lịch sử triết học” (tạp chí Triết học, số 4/2002, tr.51-57) phân tích các quan niệm khác nhau về tiêu chuẩn chân lý trong lịch sử Tất cả những quan niệm (phi mácxít) khác nhau về tiêu chuẩn của chân lý, có thể
chia thành bốn nhóm Một là, quan điểm tôn giáo, thần học lấy niềm tin làm tiêu chuẩn của chân lý, ví dụ: Tômát Đacanh Hai là, quan niệm của các nhà
triết học duy lý, lấy lý tính, lôgic làm chuẩn mực của tất cả, chẳng hạn như Đềcáctơ khẳng định tiêu chuẩn của chân lý là tính rõ ràng của tư tưởng; một
tư tưởng nào đó là chân lý khi nó rõ ràng, mạch lạc, không gây ra bất kỳ sự
nghi ngờ nào (có nghĩa là tính lôgic của tư tưởng) Ba là, quan niệm của các
nhà triết học lấy sự quan sát, kinh nghiệm cảm tính và thực nghiệm khoa học làm tiêu chuẩn của chân lý, điển hình là chủ nghĩa thực chứng lôgic và chủ
nghĩa kinh nghiệm lôgic Bốn là, quan niệm của các nhà triết học thực dụng ví
như: C.S.Piếcxơ, U.Giêmxơ, G.Điuây, lấy lợi ích, hiệu quả thực tế làm tiêu chuẩn của chân lý Sau khi phân tích đặc điểm và hạn chế của chúng, tác giả Nguyễn Tấn Hùng khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò là tiêu chuẩn chân lý của thực tiễn
Bàn về các nhân tố của quá trình nhận thức, phương pháp nhận thức có các tài liệu sau
Bàn về tri thức với tư cách là kết quả của quá trình nhận thức, tác giả
Phạm Văn Chung có bài “Về những đặc trưng cơ bản của tri thức”, (tạp chí
Triết học, số 9/2010) Trong đó, trên cơ sở phương pháp luận Mác-Lênin,
“không chỉ do yêu cầu của kinh tế tri thức, mà còn do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin” nhằm góp phần
“xác định bản chất tri thức hay định nghĩa khái niệm tri thức”, tác giả đã phân tích 5 đặc trưng của tri thức trong giai đoạn hiện nay Đó là: 1) tri thức là một
Trang 12dạng thái tinh thần; 2) tri thức là hình thức cao nhất của sự tiến hóa các hình thức phản ánh; 3) tri thức là kết quả của nhận thức; 4) tri thức với tư cách là thông tin; 5) tri thức là sự biểu hiện, khẳng định bản chất con người
Tác giả Nguyễn Văn Sanh, bằng bài viết “Vấn đề chủ thể nhận thức và phương pháp nhận thức trong triết học Tây Âu cận đại” (tạp chí Triết học, số 6/2005, tr.44-48) đã phân tích đặc điểm của nhận thức luận thế kỷ XVII-XVIII trên hai phương diện: vấn đề chủ thể nhận thức và vấn đề phương pháp nhận thức Hai đại biểu mà tác giả tiến hành phân tích là Ph.Bêcơn (điển hình của chủ nghĩa duy kinh nghiệm) và R.Đềcáctơ (đại biểu của chủ nghĩa duy lý) Trong triết học Tây Âu cận đại, vấn đề mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức là đối tượng nghiên cứu đặc biệt, thể hiện ở các
nội dung: sự khách quan hóa nhận thức, tính thích hợp của phương pháp, cấu
trúc của nhận thức khoa học và vấn đề năng lực của chủ thể nhận thức [48,
tr.46] Theo đó, chủ thể nhận thức là con người sống và tư duy trong xã hội
(dù vẫn là chủ thể trừu tượng không phải cá nhân kinh nghiệm), tin vào sức
mạnh tư duy của mình, hướng tới tự nhiên để xây dựng quan điểm đúng đắn, xác thực về sự vật Chủ thể xây dựng phương pháp khoa học, dựa vào khoa học tự nhiên kinh nghiệm, có tính chủ động tích cực trong nhận thức thế giới khách quan – “ý thức con người là sự thống nhất của hai phương diện: ý thức
về đối tượng và ý thức về bản thân mình” Phương pháp nhận thức mà các
nhà triết học Tây Âu cận đại xây dựng yêu cầu những luận điểm xuất phát phải có tính chân thực và được duy trì trong suốt quá trình nghiên cứu Theo
họ, trực giác trí tuệ là năng lực nhận thức cao nhất của con người và phụ
thuộc vào trình độ tư duy lôgic Có thể nói, các nhà triết học Tây Âu cận đại
đã khẳng định tính tích cực của chủ thể nhận thức nhưng không thể chứng minh được điều đó bởi chính phương pháp tư duy siêu hình và duy tâm về lịch sử, chưa thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn vật chất mang tính lịch sử-xã hội trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới
Trang 13Mặc dù chỉ là một khóa luận nhỏ (35 trang giấy) nhưng với “Tính quy luật của bước chuyển từ nhận thức từ trình độ kinh nghiệm lên trình độ lý luận” (1994), tác giả Vũ Anh Tuấn đã luận chứng được tính tất yếu của quá trình chuyển biến từ trình độ kinh nghiệm lên trình độ lý luận trong nhận thức khoa học Đồng thời, tác giả còn phân tích điều kiện, nội dung, cơ chế của bước chuyển biến trên trong điều kiện nước ta những năm 90 của thế kỷ XX, khi công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước ta mới chỉ là những bước đi
“chập chững”, nhưng việc học tập, nghiên cứu, vận dụng lý luận vào thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới, tổng kết lý luận mới là đòi hỏi cấp thiết
Tác giả Ngô Đình Xây bằng bài viết “Ph.Ăngghen bàn về những điều
kiện hình thành tư duy lý luận” (tạp chí Triết học, số 1/2002, tr.28-31) đã
phân tích quan điểm của Ph.Ăngghen về sáu điều kiện hình thành tư duy lý
luận Xuất phát từ việc đánh giá rất cao vai trò của tư duy lý luận - “muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, nhưng tư duy lý luận lại không phải là “năng lực bẩm sinh” của con người, Ăngghen đã đi đến khái quát các điều kiện cơ bản để hình thành tư duy lý luận
Thứ nhất, kinh nghiệm là cơ sở hình thành của tư duy lý luận bởi vì: thế
giới vật chất là khách quan, con người nhận thức bắt đầu từ cảm giác, từ kinh nghiệm; xuất phát và trên cơ sở kinh nghiệm mà tư duy con người khái quát hóa, trừu tượng hóa, và trở thành tư duy lý luận
Thứ hai, phải có giả thuyết và sử dụng giả thuyết trong quá trình hình
đã được thừa nhận từ rất sớm Mãi tới những năm 70-80 của thế kỷ XIX, trên
cơ sở nhận thức luận duy vật biện chứng, “Ph.Ăngghen đã lý giải vai trò của giả thuyết khoa học không chỉ trong quá trình tích tụ và hệ thống hóa các tài
Trang 14liệu kinh nghiệm, mà cả trong những giai đoạn làm chính xác thêm, biến đổi
và cụ thể hóa các quy luật và lý thuyết thực nghiệm” [70, tr.29] Giả thuyết, theo đó, là “công cụ tìm tòi” của tư duy mà từ đó nhận thức mới đạt tới trình
độ nhận thức được bản chất, quy luật phát triển của sự vật, hiện tượng
Thứ ba, phương pháp biện chứng duy vật là điều kiện không thể thiếu để
hình thành tư duy lý luận Từ việc phân tích quan điểm biện chứng của
Ăngghen về quá trình lịch sử của các phương pháp nhận thức, tác giả đã đi đến kết luận “chính phương pháp biện chứng duy vật mà tư duy lý luận được hình thành một cách tự giác, dễ dàng và được rút ngắn hơn nhiều” [70, tr.30]
so với việc tích lũy tuần tự những thực nghiệm của khoa học tự nhiên
Thứ tư, tư duy lý luận phải được gắn liền với sự phát triển của khoa học
Sở dĩ như vậy, bởi ba lý do: 1) việc gắn với sự phát triển của khoa học sẽ giúp cho tư duy nắm được các mối liên hệ bên trong của sự vật, khoa học còn giúp cho tư duy lý luận thấy được những quy luật của tự nhiên; 2) khoa học tự thân cũng đã có “sự tổng hợp biện chứng” và các thành tựu của khoa học tự nhiên
đã đưa lại những cơ sở khách quan, những kết luận chung cho tư duy lý luận; 3) sự phát triển của khoa học nói chung và những phát minh mới trong khoa học nói riêng sẽ “làm sâu sắc” thêm tư duy lý luận nhờ việc khám phá ra những định luật, quy luật mới, tương ứng với nó là hệ thống thuật ngữ khoa học mới
Thứ năm, tư duy lý luận phải có “bà đỡ” là thực tiễn xã hội Theo
Ăngghen, chính việc con người ta biến đổi tự nhiên, cùng với giới tự nhiên là
“cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người”
Thứ sáu, muốn có tư duy lý luận phải nghiên cứu nghiêm túc toàn bộ lịch
sử triết học Việc nghiên cứu lịch sử triết học sẽ giúp cho chúng ta thấy được
con đường, phương thức, những điều kiện hình thành của tư duy, lôgic phát triển của tư duy
Trang 15Cuốn Phương pháp nhận thức biện chứng (nguyên bản là tiếng Nga) của
A.P.Séptulin được nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác-Lênin trích chương IV
giới thiệu với bạn đọc Việt Nam dưới dạng một cuốn sách nhỏ Trong đó, tác giả trình bày và phân tích những nguyên tắc của phương pháp nhận thức biện chứng: nguyên tắc phản ánh, nguyên tắc năng động, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc thống nhất biện chứng giữa lượng và chất, nguyên tắc mâu thuẫn, nguyên tắc phủ định biện chứng, nguyên tắc quyết định luận, nguyên tắc từ trừu tượng đến cụ thể, nguyên tắc thống nhất giữa lôgic và lịch sử, nguyên tắc thống nhất giữa quy nạp và diễn dịch, nguyên tắc thống nhất giữa phân tích và tổng hợp
Ngoài ra, một số công trình lôgic học tiêu biểu có giá trị định hướng cho nghiên cứu lý luận nhận thức nói chung, lý luận nhận thức trong tác phẩm
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán nói riêng như: cuốn
Lôgic học biện chứng của E.V.Ilencôv (NXB Văn hóa Thông tin, 2002), Nguyên lý lôgic biện chứng và Những vấn đề về phép biện chứng trong bộ Tư
bản của Các Mác của M.M.Rôdentan (NXB Sự thật, Hà Nội, 1962), luận án
Lôgic vận động của khái niệm trong tư duy (2007) của Nguyễn Thanh Tân,
luận văn Khái niệm với tư cách là một hình thức cơ bản của nhận thức (1997)
của Nguyễn Mạnh Cương, bài viết “Vai trò của các nguyên tắc, phạm trù lôgic biện chứng đối với việc rèn luyện năng lực tư duy biện chứng” của tác giả Trần Viết Quang …
Những công trình trực tiếp liên quan đến tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
Số lượng tài liệu viết về tác phẩm 1
không nhiều Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
1
Nội dung chi tiết của các tài liệu trong phần này sẽ được phân tích cụ thể ở các tiết trong chương 2
Trang 16Các tác giả cuốn Sức sống của một tác phẩm triết học, Nguyễn Trọng
Chuẩn và Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên) (2000), đã phân tích sâu sắc bối cảnh ra đời, phân tích những nội dung của các mảng vấn đề cơ bản (phương pháp luận, lý luận nhận thức, vấn đề triết học trong khoa học tự nhiên, vấn đề
triết học xã hội, ý nghĩa lịch sử triết học) trong Chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán
Cuốn Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác-Ph.Ăngghen, V.I.Lênin
do Doãn Chính và Đinh Ngọc Thạch (2003) đồng chủ biên, đã giới thiệu một cách đầy đủ về bối cảnh ra đời và những nội dung chính yếu của tác phẩm
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
M.A.Táckhốpva với cuốn sách nhỏ Lênin và vai trò của thực tiễn trong
nhận thức (1961), đã phân tích những luận điểm thiên tài của Lênin về vai trò của thực tiễn trong nhận thức, mà dựa trên đó Lênin đã vạch trần bản chất
phản động, phản khoa học của chủ nghĩa Makhơ, chủ nghĩa thực dụng và nhiều biến tướng khác của chủ nghĩa duy tâm chủ quan trong việc tách rời nhận thức khỏi thực tiễn
Tác giả Phạm Văn Chung với bài viết “Phạm trù vật chất của Chủ nghĩa
duy vật biện chứng trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán” và tác giả Nguyễn Huy Canh với bài “Bàn về phạm trù vật chất của
V.I.Lênin” đã phân tích về định nghĩa vật chất của Lênin trong tác phẩm Chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chỉ ra những đóng góp và
hạn chế của Lênin về định nghĩa này
Tuy có những đóng góp với ý nghĩa vô cùng to lớn, các công trình nghiên cứu trên, do điều kiện lịch sử - cụ thể quy định, chưa thể đi sâu một cách đầy đủ, toàn diện những nội dung mà V.I.Lênin đã bảo vệ và phát triển nhận thức luận duy vật biện chứng (đã được C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng
Trang 17từ giữa thế kỷ XIX) thể hiện trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ nội dung và ý nghĩa của những vấn đề nhận thức luận duy vật biện chứng được V.I.Lênin phân tích trong tác phẩm
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
Để đạt được mục đích ấy, chúng tôi thực hiện hai nhiệm vụ chủ yếu sau: (1) Làm rõ những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời lý luận nhận thức duy vật
biện chứng trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán của V.I.Lênin;
(2) Phân tích những nội dung cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện
chứng được V.I.Lênin thể hiện trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán đồng thời chỉ ra được ý nghĩa của chúng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do điều kiện nghiên cứu quy định, trong luận văn, chúng tôi tập trung khảo sát một số tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen (từ 1845 đến 1886) và
các tài liệu có liên quan làm đối tượng phân tích, so sánh để làm rõ quan điểm nhận thức luận của V.I.Lênin thể hiện trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận là các luận điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là các tư tưởng về lý luận nhận thức của C.Mác và Ph.Ăngghen Trên cơ
sở phương pháp luận biện chứng duy vật, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgic, so sánh, khái quát hóa
6 Đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Trang 18Luận văn đã phân tích một cách hệ thống sự phê phán dưới góc độ nhận thức luận của V.I.Lênin đối với trường phái triết học kinh nghiệm phê phán,
mà E.Makhơ và R.Avênariút là hai người đồng sáng lập Từ đó, luận văn góp phần làm rõ sự phát triển của V.I.Lênin về lý luận nhận thức duy vật biện chứng cũng như những nội dung cơ bản của nó
Luận văn góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về lý luận nhận thức của V.I.Lênin nói riêng cũng như lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng nói chung Đây có thể là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho sinh viên chuyên ngành triết học cũng như những ai quan tâm đến nghiên cứu, giảng dạy triết học Mác-Lênin, lý luận nhận thức duy vật biện chứng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được triển khai thành 2 chương, 7 tiết
Trang 19NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CỦA SỰ RA ĐỜI LÝ LUẬN NHẬN THỨC
TRONG TÁC PHẨM “CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH
NGHIỆM PHÊ PHÁN”
Thuật ngữ “nhận thức luận” (theo tiếng Hy Lạp: ngosis- tri thức và logos- học thuyết) được sử dụng theo hai nghĩa cơ bản: a) như là học thuyết
về các cơ chế và các quy luật phổ biến của hoạt động nhận thức; b) như là một
bộ môn triết học mà đối tượng nghiên cứu là một hình thức nhận thức- nhận thức khoa học Thuật ngữ “tri thức luận” được sử dụng trong trường hợp này Đối tượng của lý luận nhận thức (như một bộ môn triết học) là bản chất của nhận thức như một chỉnh thể, các khả năng và giới hạn của nó, quan hệ giữa tri thức với hiện thực, tri thức và niềm tin, chủ thể và khách thể của nhận thức, chân lý và các tiêu chuẩn của nó, các hình thức và các cấp độ của nhận thức, bối cảnh văn hóa xã hội của nó, quan hệ giữa các hình thức tri thức khác nhau
Lịch sử nhận thức chỉ ra rằng tri thức bao giờ cũng do các nhu cầu xã hội (đặc biệt là nhu cầu của thực tiễn sản xuất vật chất) quy định và do vậy ở mỗi giai đoạn khác nhau về chất của sự phát triển xã hội, tri thức và nhận thức luận có những đặc điểm khác nhau Khác với thời kỳ của C.Mác và Ph.Ăngghen (giữ vị trí hàng đầu là nhiệm vụ phát triển và bảo vệ quan điểm duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật) ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX- đầu
thế kỷ XX, khi Lênin viết tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán, việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học mácxít
cũng như bảo vệ và phát triển lý luận nhận thức duy vật biện chứng lại có một
ý nghĩa quyết định trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm triết học
Trang 20Chủ nghĩa Makhơ mưu toan lấy những phát minh mới nhất trong khoa học tự nhiên để củng cố thứ triết học duy tâm thù địch với khoa học, và tự coi mình
là “đỉnh cao” nhất của khoa học Lênin, bằng tác phẩm này, đã chứng minh tính chất phản khoa học, phản biện chứng của chủ nghĩa Makhơ, vạch rõ những gốc rễ xã hội và giai cấp của nó Sau đây, chúng tôi xin phân tích để
làm rõ điều kiện, tiền đề của ra đời tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán và những nội dung nhận thức luận trong tác phẩm
1.1.Điều kiện thực tiễn
1.1.1.Điều kiện chính trị - xã hội nước Nga
Sau thất bại của cách mạng năm 1905, bối cảnh chính trị - xã hội nước
Nga đòi hỏi Lênin viết tác phẩm để chống lại những luận điệu xuyên tạc,
phản bội, bảo vệ và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác – nền tảng lý luận của Đảng Cộng sản, của phong trào cách mạng của giai cấp công nhân
Thành quả của cuộc cách mạng 1905 buộc Nga hoàng phải đưa ra bản Tuyên ngôn ngày 17/10/1905 Nhưng, về thực chất, bản tuyên ngôn này là một thủ đoạn lừa bịp, một mánh lới xảo quyệt của Nga hoàng, hòng tranh thủ thời gian, tập hợp lực lượng đánh lại cách mạng Chính phủ Nga hoàng ngoài miệng đã hứa hẹn tự do nhưng trên thực tế, không thực thi gì cả
Thêm vào đó, để đàn áp cách mạng, Chính phủ đã lập ra những tổ chức mật thám là “Hội liên hiệp dân tộc Nga”, “Hội thánh Misen” Chính trong những hội ấy, bọn địa chủ phản động, bọn lái buôn lớn, bọn thầy tu đóng vai trò quan trọng Nhân dân gọi chúng là bọn “Trăm đen” (Cent Moira) Còn chúng thì tự tuyên bố là “Liên minh nhân dân Nga” (thành lập vào 10/1905, tại Pêtécbua) Nhưng thực chất, chúng “bảo vệ tính bất di bất dịch của chế độ chuyên chế Nga hoàng, đòi duy trì nền kinh tế nửa nông nô của địa chủ, các đặc quyền của giới quý tộc Khẩu hiệu có tính chất cương lĩnh của tổ chức này là khẩu hiệu dân tộc chủ nghĩa ủng hộ chế độ quân chủ thời kỳ chế độ
Trang 21nông nô – “đạo chính thống, chế độ chuyên chế, tinh thần dân tộc” [25, Chú thích 104, tr.490]
Trong thời kỳ này, ở nước Nga có rất nhiều tổ chức, đảng phái phản động hoạt động Ngoài đảng Trăm đen ra còn có Liên hiệp giai cấp quý tộc, đảng Liên hiệp ngày 17/10 (đảng Tháng Mười), đảng của giai cấp tư sản cấp
tiến tức là Đảng Cađê, những đảng gọi là dân túy hay những đảng cần lao (xã
hội nhân dân, nhóm cần lao, xã hội cách mạng)…
Đảng dân chủ - xã hội Nga là đảng có khuynh hướng cách mạng Nhưng lại chia thành hai phái: bônsêvích (đa số) và mensêvích (thiểu số) Đường lối bônsêvích chiếm ưu thế trong Đảng, khi ấy, kiên quyết chống lại đường lối phản cách mạng của các đảng phản động nói trên Điều đó buộc Nga hoàng
thành lập Đuma nhà nước thứ hai, rồi Đuma nhà nước thứ ba mang danh
nghĩa đại diện cho lợi ích của nhân dân (dù thực sự không đem lại nhiều hiệu
vụ khủng bố độc ác nhất là đối với các tổ chức công nhân và trước nhất là đối
với những người bônsêvích Lịch sử Nga gọi đó là những năm đen tối của
thời kỳ phản động Xtôlipin
Các thế lực phản cách mạng cũng tấn công cả trên mặt trận tư tưởng Lênin nhận định về tình hình trong nước khi đó như sau: “Có tình trạng thoái chí, mất tinh thần, phân liệt, chạy dài, từ bỏ lập trường, … Xu hướng ngày càng ngả về triết học duy tâm; chủ nghĩa thần bí được dùng để che đậy tinh thần phản cách mạng” [25, Lời tựa, tr.VIII] Trong văn học và nghệ thuật người ta tán dương sự sùng bái chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng phi chính trị, “nghệ thuật
Trang 22thuần túy”, từ bỏ những truyền thống dân chủ - cách mạng của tư tưởng xã hội Nga Trong triết học, ngoài những kẻ thù công khai chống giai cấp vô sản
và đảng của giai cấp vô sản (V.V.Lêxêvích, V.M.Tsécnốp, v.v.) còn có một nhóm trí thức dân chủ - xã hội tuyên truyền chủ nghĩa Makhơ, nhóm này gồm
cả các phần tử mensêvích như N.Valentinốp, P.X.Iuskêvích, v.v lẫn những người theo phái bônsêvích như A.Bôgđanốp, A.V.Lunatsácxki, v.v., những người đã dùng chủ nghĩa Makhơ để xét lại chủ nghĩa duy vật biện chứng Bôgđanốp và đồng bọn không những đòi xét lại những nguyên lý triết học mà còn đòi xét lại cả những nguyên tắc sách lược của đảng vô sản, bảo vệ sách lược bè phái của “chủ nghĩa triệu hồi”, không sử dụng khả năng hợp pháp trong đấu tranh chính trị A.V.Lunatsácxki còn mưu toan biến chủ nghĩa xã hội thành một dạng tôn giáo mới (“thuyết tạo thần”) để “gần gũi hơn và dễ hiểu hơn” với nhân dân Nga Trong đời sống tinh thần khi ấy “xuất hiện đủ các luồng tư tưởng tôn giáo khoác những luận điệu giả danh khoa học Tất cả các ngài ấy, dù khác nhau một cách sâu sắc, đều theo đuổi một mục đích chung: đánh lạc quần chúng ra khỏi cách mạng” [59, tr.136], tước bỏ “vũ khí
tư tưởng” của giai cấp vô sản
Các thế lực phản động trong lĩnh vực tư tưởng, khi ấy, núp dưới chiêu bài “phê phán”, “cải tạo”, “bổ sung” ngấm ngầm phá hoại những nguyên tắc
lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin gọi chúng là những phần tử “xét lại” Bóc trần thủ đoạn của bọn xét lại, Người viết: “Giả mạo chủ nghĩa Mác một cách ngày càng tinh vi, dùng các học thuyết phản duy vật để giả làm chủ nghĩa Mác một cách ngày càng tinh vi, đó là đặc điểm của chủ nghĩa xét lại hiện đại trong kinh tế chính trị học cũng như trong các vấn đề sách lược và triết học nói chung, trong nhận thức luận cũng như trong xã hội học” [25, tr 409]
Trang 23G.V.Plêkhanốp – người có công đầu tiên tuyên truyền chủ nghĩa Mác vào Nga, cũng đã lên tiếng chống lại việc dùng chủ nghĩa Makhơ xét lại chủ nghĩa Mác Nhưng sự phê phán của Plêkhanốp đối với chủ nghĩa Makhơ rất hạn chế: bỏ qua mối liên hệ giữa chủ nghĩa Makhơ với cuộc khủng hoảng trong khoa học tự nhiên; đã mắc nhiều sai lầm trong khi trình bày chủ nghĩa duy vật biện chứng, vì đứng trên lập trường mensêvích bè phái “toan tính tìm kiếm mối liên hệ giữa chủ nghĩa Makhơ và chủ nghĩa bônsêvích” nên đã làm hại rất nhiều cho sự nghiệp bảo vệ lý luận mácxít chống lại chủ nghĩa xét lại Nhiệm vụ cấp bách đặt ra là: giáng cho bọn “phản bội” (giả danh lý luận chủ nghĩa Mác nhưng thực chất là xuyên tạc) những “đòn” lý luận xứng đáng,
lột “mặt nạ”, tố cáo chúng đến cùng để bảo vệ những cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - ngọn cờ lý luận của Đảng vô sản Plêkhanốp và phái mensêvích không thể phê phán một cách triệt để các quan niệm “xét lại” thuộc đủ mọi
trường phái, ngoài vài bài báo có tính “phê phán” một cách hời hợt Chỉ có và
chính Lênin đã làm tròn nhiệm vụ này trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa thực nghiệm phê phán”
Như vậy là, sau khi cách mạng 1905 ở Nga thất bại, chế độ phản động của Xtôlipin tăng cường, xuất hiện sự phân rã về tư tưởng và hành động Một
số trí thức trong Đảng chạy sang hàng ngũ thù địch của chủ nghĩa Mác và mưu toan “phê bình”, “cải tiến”, … (mà thực chất là xuyên tạc, chống lại) lý luận chủ nghĩa Mác Để bảo vệ sự trong sáng và khẳng định sức mạnh “dẫn đường” cách mạng của chủ nghĩa Mác, bảo vệ những nguyên tắc lý luận của
Đảng mácxít chân chính, Lênin đã viết tác phẩm
Trang 241.1.2.Tiền đề khoa học
Cuộc cách mạng trong khoa học cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX đặt ra nhiều vấn đề khoa học mới đòi hỏi phải khẳng định lại vai trò của triết học Mác nói chung và nhận thức luận duy vật biện chứng nói riêng
Thực nghiệm khoa học cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi phải từ bỏ phương pháp tư duy siêu hình
Ph.Ăngghen đã từng khẳng định vai trò phương pháp luận của triết học đối với khoa học tự nhiên: “Dù những nhà khoa học tự nhiên có làm gì đi chăng nữa thì họ cũng vẫn bị triết học chi phối Vấn đề là ở chỗ họ muốn bị chi phối bởi một thứ triết học tồi tệ hợp mốt, hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận dựa trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó” [34, tr.693]
Khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX đã phát triển mạnh
mẽ với những thành tựu vạch thời đại Đặc biệt, vật lý học, lúc bấy giờ, rất phát triển do đòi hỏi phát triển của sản xuất và kỹ thuật dưới chế độ tư bản chủ nghĩa đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền (với quy mô sản xuất
mang tầm vóc quốc tế) Thực nghiệm khoa học đã thu được những kết quả
mâu thuẫn với quan niệm truyền thống đòi hỏi phải thay đổi tư duy về phạm trù “vật chất” nói riêng và phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học nói chung
Ngay từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên, Đêmôcơrít (khoảng 460-370 tr.CN) đã đưa ra học thuyết nguyên tử luận giải thích cấu trúc vật chất của thế giới Theo ông, khởi nguyên của thế giới không phải là một sự vật cụ thể nào
đó như nhiều nhà triết học trước đó quan niệm mà là các nguyên tử (theo
tiếng Hy Lạp cổ là atoma, nghĩa là phần tử nhỏ nhất, đơn vị) tức tồn tại và
khoảng không, tức là cái không - tồn tại Theo đó, “Nguyên tử là những hạt nhỏ nhất, không thể phân chia, không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về
Trang 25hình dạng, tư thế và trật tự sắp xếp Nguyên tử tồn tại vĩnh viễn, không do ai sáng tạo ra và cũng không thể bị hủy diệt Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới
là do sự kết hợp và phân giải của các nguyên tử mà thành” [17, tr.150] Đó là
“bước tiến quan trọng nhất của sự phát triển phạm trù vật chất” trong thời kỳ
cổ đại và còn tiếp tục ảnh hưởng tới các nhà khoa học thế kỷ XVII-XVIII
Năm 1899, H.Béccơren (1852-1908) phát minh ra hiện tượng phóng xạ
Sau đó người ta xác định được rằng trong các tia phóng xạ thì tia là một chùm êlectrôn và tia là một chùm hạt nặng hơn, mang điện tích dương Như vậy nguyên tử không phải là phần nhỏ nhất, không thể phân chia của vật chất, nó phải do các hạt nhỏ hơn nữa tạo thành Vậy là, thuyết nguyên tử là hạt vật chất nhỏ nhất, bất biến “bị lung lay” Tuy có nhiều giả thuyết về cấu tạo “phức tạp” của nguyên tử được đặt ra (mẫu nguyên tử E.Rôdơpho năm
1911, mẫu nguyên tử N.Bo năm 1913) nhưng chưa có một giả thuyết nào được cho là hoàn chỉnh vì còn nhiều nghi vấn khoa học “chưa ăn khớp” với
hiện tượng, chưa giải thích được bản chất của các hiện tượng, chưa kết nối
được mối liên hệ giữa cơ học cổ điển và cơ học lượng tử trong vấn đề này Khối lượng của vật thể, theo quan niệm của cơ học Niutơn, là cố định,
được đặc trưng bởi trọng lực (F), xác định theo công thức F m g. (với m=khối lượng vật, g=gia tốc trọng trường) Vậy mà, năm 1901, nhà vật lý học
người Đức, W.Cauphơman (1871-1947) đã chứng minh khối lượng điện tử không phải là bất biến mà nó biến đổi theo vận tốc, rằng trong quá trình vận
động, khối lượng của điện tử tăng khi vận tốc của nó tăng Dựa trên quan
điểm này, H.Lorenxơ đã tính toán và đưa ra công thức:
2 2 1
o m m
v c
(mo: khối
lượng tĩnh của hạt; v: vận tốc chuyển động của hạt; c: vận tốc ánh sáng) Điều
đó đã chứng tỏ rằng khối lượng là không bất biến và quan điểm siêu hình cho rằng vật chất đồng nhất với khối lượng là một điều “sai lầm”
Trang 26Thuyết năng lượng của V.Ôxvanđơ (1853-1932) dẫn đến một vấn đề mà trong giới vật lý học gọi là “vấn đề chết nhiệt của vũ trụ” Công nhận sự chết nhiệt của vũ trụ tức là công nhận rằng năng lượng trong vũ trụ bị hủy diệt, không mất đi về số lượng nhưng mất đi về chất lượng Điều đó mâu thuẫn với
định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (năng lượng không đổi, tồn tại
vĩnh viễn mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác) Rất nhiều nhà vật
lý học (Bônxơman, Xtaniucôvích, Plốtkin, Tonmen…) đã cố gắng đưa ra những giả thuyết nhằm bác bỏ thuyết “chết nhiệt” Nhưng việc tìm ra chứng
minh khoa học cho luận điểm đó còn là một việc chưa được hoàn thành cho
đến giữa thế kỷ XIX
H.Poanhcarê (một nhà vật lý học theo khuynh hướng duy tâm - TG), gọi tình trạng trên là “sự khủng hoảng của vật lý học”, và thể hiện thái độ rất bi quan về sự phát triển của khoa học lúc bấy giờ: “ đã có “những dấu hiệu” của một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng… Trước mắt chúng ta là đống hoang tàn của những nguyên lý cũ, là sự tan rã toàn diện của các nguyên lý đó”… không những khoa học không thể vạch ra cho chúng ta bản chất của sự vật, mà không có cái gì vạch ra nổi bản chất đó” [dẫn theo 42, tr.225]
Ph.Ăngghen, khi viết Biện chứng tự nhiên, đã chỉ ra nguyên nhân sai lầm
trong khoa học tự nhiên là: “chủ nghĩa kinh nghiệm nông cạn nhất, khinh thường mọi lý luận” [34, tr.507], do phương pháp tư duy siêu hình với lối giải
thích một chiều “hoặc là…hoặc là…” đã bám “thâm căn cố đế” trong tư duy
xây dựng lý thuyết khoa học tự nhiên Khi các thực nghiệm mới được phát hiện, phương pháp tư duy siêu hình tất yếu dẫn đến “chủ nghĩa thần bí” Vào cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX, ở châu Âu người ta thấy lan tràn cái gọi là chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, hay chủ nghĩa Makhơ, xuất hiện như một dạng của chủ nghĩa thực chứng Nó có tham vọng đóng vai trò triết học “duy nhất khoa học” dường như đã khắc phục được những sự phiến diện
Trang 27của chủ nghĩa duy vật cũng như của chủ nghĩa duy tâm Nhưng thực ra cái vẻ ngoài ấy chỉ che giấu thực chất duy tâm chủ quan, phản động Một số nhà khoa học tự nhiên có danh tiếng như H.Poanhcarê, A.Anhxtanh đã rơi vào ảnh hưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (mặc dù mỗi người thì mức
độ ảnh hưởng có khác nhau) Phái Makhơ mưu toan lấy những phát minh mới nhất của khoa học tự nhiên để củng cố thứ triết học duy tâm thù địch với khoa học, coi triết học của nó là đỉnh tột cùng của khoa học
Nhận định một cách xác đáng về tình hình nghiên cứu vật lý học thời kỳ này, tác giả Đào Văn Phúc, viết: “Triết học cuối thế kỷ XIX cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của vật lý học Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen ra đời, mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển triết học Tuy nhiên triết học Mác - Ăngghen không có ảnh hưởng bao nhiêu đến vật lý học và khoa học tự nhiên nói chung Một mặt, triết học mácxít dẫn đến luận điểm về sự tất yếu của cách mạng vô sản, về sự diệt vong của chế độ tư bản chủ nghĩa, và đó là điều mà các nhà khoa học đương thời, kể cả những người có xu hướng dân chủ, không thể hiểu được và không thể chấp nhận được Vì vậy các nhà vật lý học lúc bấy giờ vẫn chưa thoát ra khỏi phạm vi của chủ nghĩa duy vật siêu hình, và nếu như trong quan điểm của họ có những yếu tố biện chứng nào đó, thì cũng chỉ là yếu tố tự phát” [42, tr.175]
Trong tác phẩm, Lênin lấy ví dụ về cuốn “Bí mật của vũ trụ” (1899) của
E.Hếchken Hếchken đã trình bày rõ ràng sự phát triển của khoa học tự nhiên
trong thế kỷ XIX nói một cách khác là sự trình bày bước tiến thắng lợi của
chủ nghĩa duy vật của khoa học lịch sử tự nhiên Dù là một nhà khoa học tự
nhiên có tài, nhưng Hếchken lại “không có ý niệm gì về chủ nghĩa duy vật lịch sử” Lênin cho rằng cấp thiết phải nâng chủ nghĩa duy vật của khoa học lịch sử tự nhiên lên đến trình độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phải đạt đến
Trang 28trình độ lý luận của chủ nghĩa Mác - chủ nghĩa duy vật biện chứng với quan niệm duy vật về lịch sử, vũ khí lý luận duy nhất của phong trào công nhân trong sự nghiệp giải phóng loài người
Tóm lại là, các phát minh thực nghiệm trong khoa học tự nhiên cuối thế
kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã mang “tính vạch thời đại”; nhưng cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng để giải thích, khẳng định bản chất chân thực của các hiện tượng, phân tích mối liên hệ biện chứng của các sự vật trong thế
giới chưa được các nhà khoa học “chuyên môn” hiểu và áp dụng trong xây
dựng lý thuyết khoa học Điều đó là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng thế giới quan và phương pháp luận trong khoa học tự nhiên thời kỳ này
Khái quát những thành tựu của khoa học cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ
XX trên cơ sở nhận thức luận biện chứng duy vật
Trong tác phẩm, Lênin chỉ rõ việc phân tích về mặt nhận thức luận đối
với cuộc khủng hoảng trong khoa học khi đó: “Chúng ta chỉ quan tâm đến những kết luận nhận thức luận, rút ra từ một số mệnh đề nhất định nào đó và
từ những phát minh mà mọi người đều biết Những kết luận nhận thức luận này tự nó đã được khẳng định đến mức mà nhiều nhà vật lý học cũng với tới được Hơn nữa, giữa các nhà vật lý học, đã có những khuynh hướng khác nhau; nhiều trường phái khác đang được hình thành trên địa hạt này Vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta chỉ là nêu rõ thực chất của sự khác nhau giữa những khuynh hướng ấy và những quan hệ của chúng với những đường lối cơ bản trong triết học” [25, tr.310]
W.Rơnghen (1845-1923), nhà vật lý học người Đức, năm 1895, đã phát hiện ra tia X Tia X là những sóng điện từ có bước sóng rất ngắn vào khoảng
từ 0,01 đến 100.10-8
cm Điều đó chứng tỏ rằng nguyên tử là một cấu trúc phức tạp, không hề bất biến như quan niệm truyền thống trước đó Năm 1896, một nhà vật lý học người Pháp, H.Béccơren (1852-1908), phát hiện ra hiện
Trang 29tượng phóng xạ của nguyên tố Uranium Do quá trình phóng xạ, sau khi bức
xạ hạt, nguyên tố phóng xạ biến thành nguyên tố khác Điều đó có nghĩa là, các nguyên tố hóa học cũng không bất biến Chúng hoàn toàn cũng có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự biến đổi ấy là do nguyên nhân bên trong, do tính không bền vững của nguyên tử gây ra Năm 1897, W.Tômxơn, nhà vật lý học người Anh, phát hiện ra êlectrôn (hay còn gọi là điện tử) Ông chứng minh rằng điện tử là một trong những thành phần tạo nên nguyên tử Điều đó chứng
tỏ rằng nguyên tử rất phức tạp và có thể phân chia được và khoa học cần tiếp tục nghiên cứu sâu thêm cấu trúc của chúng
Chủ nghĩa duy tâm giải thích những kết quả thực nghiệm trong khoa học
tự nhiên rằng: “Nguyên tử phi vật chất hóa, vật chất đang tiêu tan”; “hệ thống mới chỉ giản đơn đem điện thay thế cho vật chất”; “khoa học tự nhiên quy mọi kết quả nghiên cứu của mình về thế giới vật lý thành ba khái niệm cuối cùng: vật chất, điện, trường nhưng hiện nay, chỉ còn lại hai cái sau” [xem 25, tr.318-320]
Lênin chỉ ra rằng: “Sai lầm của học thuyết Ma-khơ nói chung và của vật
lý học mới của Ma-khơ là ở chỗ không tính đến cơ sở đó (đặc tính “duy nhất”
của vật chất - tồn tại với tư cách là thực tại khách quan - TG) của chủ nghĩa
duy vật triết học và sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy vật siêu hình với chủ nghĩa duy vật biện chứng Thừa nhận những nguyên tố bất biến nào đó, “thực chất bất biến của sự vật” nào đó, v.v như thế không phải là chủ nghĩa duy vật,
mà là chủ nghĩa duy vật siêu hình, nghĩa là phản biện chứng” [25, tr.321] Chủ nghĩa duy tâm “vật lý học” xuất hiện là vì các nhà khoa học không biết khái quát những kết quả thực nghiệm trên tinh thần của nhận thức luận duy vật biện chứng
Lênin phân tích nguyên nhân phát sinh chủ nghĩa duy tâm “vật lý học”
Một là, “những mưu toan phản động nảy sinh ra từ chính bản thân sự tiến bộ
Trang 30của khoa học”, triết học tư sản sử dụng những tiến bộ lớn của khoa học tự nhiên, giải thích sai lạc đi, xóa nhòa ranh giới giữa tôn giáo và khoa học, phục
vụ cho mưu đồ thủ tiêu tinh thần cách mạng trong quần chúng nhân dân Họ
nói: “Vật chất” đã tiêu tan chỉ còn lại những phương trình” Hai là, chủ nghĩa duy tâm “vật lý học” dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tương đối, thổi phồng giới hạn “chân lý” của thuyết tương đối, của nguyên lý tính tương đối của tri
thức của con người, đã chi phối những nhà vật lý học một cách đặc biệt mạnh
mẽ trong thời kỳ sụp đổ đột ngột của những lý luận cũ cùng với tình trạng
không hiểu phép biện chứng
Lênin khẳng định quan điểm duy vật biện chứng trong việc giải thích các
thành quả mới của khoa học Hiểu biết của chúng ta về sự vật, hiện tượng ở mỗi giai đoạn lịch sử chỉ là tương đối Sự ra đời của tri thức mới biểu hiện mức độ sâu sắc của nhận thức của con người về khách thể Nếu như mức độ hiểu biết sâu sắc về kết cấu vật chất trước kia chưa vượt quá nguyên tử, giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, chưa vượt quá điện tử và trường, thì chủ nghĩa duy vật biện chứng nhấn mạnh tính chất tạm thời, tương đối, gần
đúng của tất cả “những cái mốc đó của sự nhận thức giới tự nhiên” bởi khoa học ngày càng tiến triển của con người Ông viết: “Điện tử cũng vô cùng tận như nguyên tử; tự nhiên là vô tận, nhưng nó lại tồn tại một cách vô tận; và chỉ
có thừa nhận một cách tuyệt đối, vô điều kiện như vậy sự tồn tại của tự nhiên
ở ngoài ý thức và cảm giác của con người, thì mới phân biệt được chủ nghĩa duy vật biện chứng với thuyết bất khả tri tương đối luận và chủ nghĩa duy tâm” [25, tr.323-324]
Chỉ có chủ nghĩa duy vật biện chứng (đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong giới tự nhiên, giải thích những mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh vực nghiên cứu này sang một
Trang 31lĩnh vực nghiên cứu khác) mới có thể đưa khoa học tự nhiên phát triển mạnh
mẽ, đáp ứng “những yêu cầu lý luận của nó”
Năm 1905, A.Anhxtanh công bố công trình “Đóng góp vào điện động
lực học các vật chuyển động” đăng trên tạp chí “Biên niên vật lý học” giới
thiệu nội dung cơ bản của thuyết tương đối hẹp Năm đó được chính thức công nhận là năm ra đời của thuyết tương đối hẹp Ở đây, Anhxtanh nêu lên hai nguyên lý của thuyết tương đối Nguyên lý thứ nhất, ta có thể phát biểu như sau: mọi định luật vật lý là như nhau trong mọi hệ quán tính Tiếp đó, ông nêu lên nguyên lý thứ hai: vận tốc ánh sáng trong chân không là như nhau trong mọi hệ quán tính, và không phụ thuộc chuyển động của nguồn sáng Theo đó, vì các hiện tượng cơ học và điện động lực học đều do các chuyển động tương đối gây ra, nên các khái niệm chuyển động tuyệt đối, không gian tuyệt đối, thời gian tuyệt đối phải bị loại trừ Không có không gian tuyệt đối đứng yên
Cũng trong năm 1905, Anhxtanh công bố tiếp bài báo nhỏ “Quán tính
của vật có phụ thuộc năng lượng chứa trong vật không?” Bằng một cách lập
luận chưa chặt chẽ lắm, ông nêu lên rằng khi một vật bức xạ một năng lượng
điện từ E thì khối lượng của nó giảm m E2
c
Suy rộng ra, một vật có khối lượng m thì chứa đựng một năng lượng 2
Emc , nói cách khác, khối lượng
của một vật là số đo năng lượng chứa trong nó Ông kết luận: nếu lý thuyết
này phù hợp với thực nghiệm thì sự bức xạ truyền năng lượng từ vật bức xạ đến vật hấp thụ Công trình này của Anhxtanh đã chứng minh một cách chắc
chắn rằng vật chất không giản đơn chỉ là khối lượng, rằng năng lượng chính
là do bản thân vật thể tự có Nó được biểu diễn dưới hai thành phần khối
lượng và vận tốc Năng lượng có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác
mà vẫn bảo toàn (cả về lượng lẫn về chất: năng lượng hấp thụ = năng lượng bức xạ)
Trang 32Thuyết tương đối hẹp đã loại bỏ khỏi khoa học các khái niệm không gian tuyệt đối, thời gian tuyệt đối, và ête đứng yên trong không gian tuyệt đối Nó
đã mở rộng nguyên lý tương đối Galilê (mọi hiện tượng cơ học diễn ra như
nhau trong các hệ quy chiếu quán tính) thành nguyên lý tương đối Anhxtanh
(mọi hiện tượng vật lý diễn ra như nhau trong các hệ quy chiếu quán tính)
Như vậy là, mối liên hệ giữa vật lý học cổ điển và thuyết tương đối (hay vật
lý học hiện đại) đã được xác nhận Vật lý học Niutơn là trường hợp riêng của vật lý học tương đối Vật lý học hiện đại khái quát hơn vật lý học cổ điển Lênin viết: “Chủ nghĩa duy vật biện chứng kiên trì cho rằng bất cứ lý luận khoa học nào về cấu trúc và đặc tính của vật chất cũng đều có tính chất gần đúng, tương đối; trong tự nhiên không hề có những đường ranh giới nào tuyệt đối; vật chất đang vận động sẽ chuyển hóa từ một trạng thái này sang một trạng thái khác mà theo quan điểm của chúng ta thì dường như không thể điều hòa được với trạng thái trước, v.v Dù cho trường không có trọng lượng biến thành vật chất có trọng lượng và ngược trở lại, là điều lạ lùng đối với “lẽ phải thông thường” như thế nào chăng nữa; dù cho điện tử không có khối lượng nào khác ngoài khối tượng điện từ, là điều “kỳ quái” như thế nào chăng
nữa;… thì tất cả những cái đó cũng chỉ xác nhận thêm một lần nữa chủ nghĩa
duy vật biện chứng mà thôi” [25, tr.322]
Anhxtanh đã tiếp tục nghiên cứu, phát triển những tư tưởng của thuyết
tương đối hẹp Và đến năm 1916, ông công bố thuyết tương đối rộng 2 Thuyết
này chứng minh một cách hoàn toàn, đầy đủ rằng vật lý cổ điển chỉ là trường
hợp riêng của vật lý hiện đại, xóa tan những “mâu thuẫn” không thể hiểu nổi của thực nghiệm trước đó
2
Thuyết tương đối rộng nêu lên rằng trường hấp dẫn có tác dụng làm cho không gian 4 chiều (gồm không gian 3 chiều Ơclit và thời gian trôi chậm hơn) cong đi Để xây dựng những phương trình vật lý có tính tổng quát cao, thuyết tương đối rộng loại trừ trường hấp dẫn và thay thế nó bằng độ cong của không gian 4 chiều
Khi đã biết sự phân bố các khối lượng hấp dẫn trong không gian, ta xác định được tenxơ mêtric G (tức là xác
định được độ cong tại từng điểm của không gian), và viết được các phương trình vật lý dưới dạng tổng quát nhất Trong các phương trình này tenxơ G giữ vai trò như thế hấp dẫn trong các phương trình của Niutơn
Trang 33Các thành tựu của vật lý học cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX: tìm và giải thích đúng bản chất của tia X, điện tử, hiện tượng phóng xạ, thuyết tương đối (hẹp và rộng) đã là những minh chứng khoa học cụ thể và “đanh thép” cho việc khẳng định vai trò của lý luận nhận thức biện chứng duy vật trong nghiên cứu khoa học tự nhiên Lênin viết: “Tinh thần duy vật cơ bản của vật
lý học, cũng như của tất cả các khoa học tự nhiên hiện đại, sẽ chiến thắng tất
cả mọi thứ khủng hoảng, nhưng với điều kiện tất yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình” [25, tr.379] Trên cơ sở giải thích, khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên, theo quan điểm
duy vật biện chứng, Lênin đã viết Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán, phát triển thêm một bước nhận thức luận biện chứng duy
đề nhận thức luận cơ bản của Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm
phê phán
C.Mác và Ph.Ăngghen, lần đầu tiên trong lịch sử, đã xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng - quan điểm khoa học, cách mạng về thế giới (trong đó có con người và xã hội) Theo đó, Lênin tiếp tục kế thừa
và phát triển Lênin viết: “Quả thật, ngay từ 1843, lúc mà Mác chỉ mới
Trang 34đang trở thành Mác, nghĩa là trở thành người sáng lập ra chủ nghĩa xã
hội, với tính cách là một khoa học, trở thành người sáng lập ra chủ
nghĩa duy vật hiện đại, có nội dung vô cùng phong phú hơn và có tính
chất vô cùng triệt để hơn tất cả mọi hình thức trước kia của chủ nghĩa duy vật,…” [25, tr.417] Phép biện chứng duy vật trong triết học Mác kế thừa phương pháp biện chứng của triết học Hêghen, quan điểm duy vật của Phoiơbắc trên cơ sở cải tạo triệt để chúng Nhưng, triết học Mác hình thành như hình thức mới về chất, cao hơn chủ nghĩa duy vật cũ, trước hết bởi
vì Mác ngay lập tức đã chú ý đến “giải phẫu xã hội”, hình thành quan niệm duy vật lịch sử Chính quan điểm duy vật biện chứng về xã hội đã giúp Mác hiểu sự vật, hiện tượng ngay trong thực tiễn của lịch sử- xã hội, và bản chất con người, trong tính hiện thực, là tổng hòa những quan hệ xã hội
Sở dĩ Mác đã có thể sáng tạo ra phương pháp biện chứng và đặt cho nó một cơ sở khoa học là vì Mác đã kết hợp chặt chẽ phương pháp biện chứng với chủ nghĩa duy vật triết học như một thể thống nhất Phương pháp là biện chứng duy vật và thế giới quan là duy vật biện chứng
1.2.1.Thế giới quan duy vật biện chứng là tiền đề cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện chứng của V.I.Lênin
Chủ nghĩa Mác – chủ nghĩa duy vật hiện đại, chủ nghĩa duy vật
biện chứng khẳng định: thế giới khách quan là thế giới vật chất Tính thống nhất của thế giới là ở tính vật chất Vật chất lại luôn vận động, biến đổi Ăngghen định nghĩa vận động: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả sự thay đổi đơn giản cho đến
Trang 35tư duy”, “vận động đem ứng dụng vào vật chất, thì có nghĩa là sự biến
hóa nói chung” [34, tr.519,742] Vận động và vật chất không thể tách rời vì
vận động chính là “phương thức tồn tại của vật chất”
Quan niệm của Ăngghen về vận động là tư tưởng về sự phát triển của thế giới với tư cách là một quá trình thống nhất Theo Ăngghen, có năm hình thức vận động của vật chất: vận động cơ giới, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học, vận động xã hội hay vận động của ý thức Các hình thức vận động cao hơn có chứa trong nó các hình thức vận động thấp hơn Hình thức vận động chủ yếu quy định bản chất của sự vật, sẽ chi phối, quy định các hình thức vận động thấp hơn, thứ yếu Theo Ph.Ăngghen, sự chuyển hóa từ một hình thức vận động này sang một hình thức vận động khác bao giờ cũng vẫn là một bước nhảy vọt, một bước ngoặt quyết định Điều này thể hiện rõ trong bước chuyển tự nhiên từ chất vô sinh sang sự sống trên trái đất này Trước đó, người ta cho rằng có sự ngăn cách tuyệt đối giữa các hình thức vận động, Ăngghen dùng chính nguyên tắc phát triển để khắc phục và loại bỏ sự tuyệt đối hóa ấy Giữa các hình thức vận động của vật chất có những bước chuyển hóa từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn nên nhiệm vụ của khoa học chính là tìm ra và giải thích bản chất của những bước chuyển ấy Đây cũng chính là một trong những nhiệm vụ của nhận thức luận duy vật biện chứng
Trong Biện chứng tự nhiên, Ăngghen định nghĩa sự sống: “Sự sống là phương thức tồn tại của các thể an-bu-min mà yếu tố quan trọng của nó là sự
trao đổi thường xuyên chất với giới tự nhiên bên ngoài bao quanh nó, hơn
nữa khi trao đổi chất ấy chấm dứt thì sự sống cũng chấm dứt và an-bu-min bắt đầu bị phân hủy” [34, tr.744] Định nghĩa trên có ý nghĩa đặc biệt chống lại những quan điểm duy tâm, tôn giáo, bất khả tri, duy vật máy móc… các loại
về sự sống Sự sống là một hình thức và là hình thức vận động cao nhất, phức tạp nhất của vận động của vật chất trong thế giới, tự nó phát sinh từ giới tự
Trang 36nhiên vô cơ trong những điều kiện nhất định Thành quả đó của Ăngghen
khẳng định rằng: đứng trên quan điểm duy vật biện chứng để tổng kết những thành tựu của khoa học đương thời, sẽ có được những kết luận khoa học đúng đắn
Trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin tiếp
tục khẳng định quan điểm trên của Ăngghen khi cho rằng: khoa học tự nhiên chứng minh rằng trái đất đã từng tồn tại trong một trạng thái chưa có và cũng không thể có loài người hay bất cứ một sinh vật nào Vật chất hữu cơ là một hiện tượng về sau mới có, là kết quả của một sự phát triển sinh - hóa lâu dài Theo Ăngghen, con người là sản phẩm cao nhất trong sự tiến hóa của giới tự nhiên Ông phân tích quá trình hình thành con người xuất phát từ những chuyển biến lâu dài, liên tục mà lại bao gồm cả những bước ngoặt “đột biến” về cả sinh học lẫn lịch sử - xã hội, từ vượn thành người Trong đó, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, chính lao động đã sáng tạo ra bản thân con người Ăngghen viết: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc con người” [34, tr.646]
Quá trình chuyển hóa từ vượn thành người cũng là quá trình phát triển của bản thân “ý thức” Ăngghen viết về điều đó như sau: “Sự phát triển của
bộ óc và của các giác quan phụ thuộc nó, sự sáng suốt ngày càng tăng của ý thức, sự phát triển của năng lực trừu tượng hóa và năng lực suy luận, đã tác động trở lại đến lao động và ngôn ngữ, đã không ngừng thúc đẩy cho lao động
và ngôn ngữ phát triển thêm nữa” [34, tr.647] Đến lượt mình, ý thức cũng tác động tích cực trở lại lao động và ngôn ngữ, thúc đẩy ngôn ngữ (cùng với nó là
tư duy trong lao động sáng tạo) phát triển thêm mãi
Trang 37Không chỉ giới tự nhiên mới có lịch sử của bản thân nó trong thời gian, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khái quát quan niệm duy vật về lịch sử rằng: toàn bộ lịch sử đã qua (trừ thời kỳ cộng sản nguyên thủy) đều là lịch sử của đấu tranh giai cấp; những giai cấp xã hội đấu tranh với nhau là kết quả tất yếu của những quan hệ kinh tế của thời đại của các giai cấp ấy; do đó cơ cấu
kinh tế luôn là cơ sở hiện thực mà xét đến cùng ta phải dựa vào mới giải thích
được thượng tầng kiến trúc, các quan niệm khác nhau của mỗi thời kỳ lịch sử
Xuất phát từ thế giới quan duy vật biện chứng đúng đắn, khoa học về tự nhiên, xã hội, con người và ý thức con người, chủ nghĩa Mác đã đi đến lý luận nhận thức duy vật biện chứng khoa học và cách mạng
Kế thừa mọi thành tựu của tư tưởng triết học nhân loại từ thời kỳ
cổ đại đến giữa thế kỷ XIX, trong đó có các thành tựu về mặt nhận thức luận, nhận thức luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác đóng vai trò là quan điểm nhận thức luận đúng đắn, khoa học trong lịch sử, là cơ
sở phương pháp luận cho phong trào đấu tranh thực tiễn vì sự nghiệp giải phóng nhân loại của giai cấp công nhân
Chủ nghĩa Mác kế thừa tất cả những thành tựu của triết học nói riêng, tư tưởng nhân loại nói chung Và trực tiếp nhất về mặt triết học
(trong đó có lý luận nhận thức) là triết học cổ điển Đức Ý nghĩa lịch sử
của triết học cổ điển Đức chính là vai trò một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác Triết học cổ điển Đức đã đặt ra những vấn đề chủ yếu của quan niệm biện chứng về tự nhiên, xã hội và nhận thức mà nội dung chủ yếu của triết học Mác cũng là sự giải quyết những vấn đề đó Trong đó, vai trò của hai nhà biện chứng vĩ đại của triết học cổ điển Đức: I.Cantơ và G.Hêghen là đặc biệt quan trọng “Những gợi mở của Kant và Hegel tuy là duy tâm nhưng thực sự có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng quan điểm của triết học duy vật… Điểm gặp gỡ giữa triết học duy vật và của Kant, Hegel là ở chỗ khẳng
Trang 38định khả năng vô tận trong nhận thức của con người có thể đi sâu vào nhận thức thế giới, nhận thức bản chất, quy luật của thế giới” [43, tr.83-84]
I.Cantơ được coi là “nhà sáng lập ra triết học cổ điển Đức” Về nhận thức luận, ông đã đặt ra vấn đề về nguồn gốc của những khái niệm (phạm trù) lôgic chủ yếu, về vị trí của chúng trong tư duy khoa học, về vai trò của sự hoạt động chủ quan trong quá trình nhận thức Trong học thuyết của Cantơ đã manh nha cách đặt ra những vấn đề căn bản của nhận thức luận: chỉ ra sự khác nhau về chất giữa tư duy với tri giác cảm tính, sự cần thiết phải có lôgic biện chứng, vạch ra bản chất tương phản (mâu thuẫn) của những phạm trù chủ yếu, những phạm trù này biểu thị đặc tính của thế giới với tính cách là một chỉnh thể Nhưng nhận thức trong quan niệm của Cantơ không phải là sự phản ánh sự vật khách quan mà là quá trình con người tạo ra tri thức nhờ tư duy vận dụng khái niệm vào lĩnh vực kinh nghiệm Đối tượng của nhận thức luận Cantơ là chỉ hoạt động nhận thức của con người trong phạm vi “hiện tượng luận” để tạo ra tri thức, xác định những quy luật hoạt động của trí tuệ con người Do đó, về nhận thức luận, Cantơ đã đi đến chỗ giải thích nội dung và ngay cả hình thức của nhận thức khoa học theo lối duy tâm chủ quan và bất khả tri luận
G.V.Ph.Hêghen, đại biểu vĩ đại của triết học cổ điển Đức, đã đóng vai trò xuất sắc trong sự phát triển phép biện chứng Ông đã xây dựng nên những nét chủ yếu của phương pháp biện chứng (tiếc là trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm khách quan) Đứng trên lập trường duy tâm khách quan, thần bí hóa sự phát triển biện chứng và tư duy lôgic, nhưng ông đã dự đoán được một cách thiên tài về sự thống nhất giữa biện chứng khách quan với biện chứng chủ quan, đã nêu ra được luận đề về sự nhất trí với nhau giữa phép biện chứng, lôgic học
và nhận thức luận
Trang 39Nhưng, đúng như Mác đã viết: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác với phương pháp của Hê-ghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa” [39, tr.35] Phương pháp biện chứng của Hêghen là biện chứng duy tâm, còn phương pháp biện chứng mà
Mác khổ công xây dựng, phát triển là biện chứng duy vật, đóng vai trò
thế giới quan, phương pháp luận duy nhất đúng đắn Theo đó, triết học Mác đã tạo ra vai trò mới cho lý luận nhận thức duy vật biện chứng khi đưa phạm trù thực tiễn (với tư cách là hoạt động vật chất, mang tính lịch sử- xã hội của con người) đóng vai trò là tiêu chuẩn kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức (chân lý) và nâng nguyên tắc thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn (trong đó thực tiễn quyết định) thành nguyên tắc tối cao của nhận thức
Trang 401.2.2.Những quan điểm nhận thức luận biện chứng duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen là tiền đề trực tiếp cho sự phát triển nhận thức luận duy vật biện chứng trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề cơ bản của triết học là cơ
sử-xã hội Trong Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ
điển Đức, Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết
học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” [38, tr.403] Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt Mặt thứ nhất là: vật chất và ý thức, cái nào có trước, quyết định cái nào? Mặt thứ hai là: con người có nhận thức (hoàn toàn) được thế giới hay
không? Trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán,
Lênin viết: “hai đường lối cơ bản, hai khuynh hướng cơ bản trong cách
giải quyết các vấn đề triết học… trên thực tế vẫn tiếp tục phân chia các nhà triết học thành hai phe lớn” [25, tr.416]
Cách giải quyết vấn đề cơ bản, trong lịch sử triết học, đã phân định
lập trường của các trường phái (hay các triết gia) là duy vật (vật chất có trước và quyết định ý thức, tinh thần) hay duy tâm (ý thức, tinh thần có trước và quyết định vật chất) Đứng “trung lập” giữa hai đường lối cơ
bản trong triết học ấy là trường phái bất khả tri (con người không thể
hay ít ra là không thể nhận thức hoàn toàn được bản chất của thế giới khách quan) Thực chất, đường lối “trung lập” chỉ là biến tướng của