Một số đề tài nghiên cứu khoa học được công bố trên các báo, tạp chí: Rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về môi trường và bảo vệ môi trường đã được công bố trên các báo tạp chí, trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THỊ MINH THẮM
VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
TRÊN BÁO IN HIỆN NAY ( Khảo sát báo Tài nguyên Môi trường, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Lao động )
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
HÀ NỘI – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ -HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THỊ MINH THẮM
VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
TRÊN BÁO IN HIỆN NAY ( Khảo sát báo Tài nguyên Môi trường, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Lao động )
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS Trần Thế Phiệt
HÀ NỘI – 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn được hoàn thành tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh với sự giúp đỡ của thày hướng dẫn PGS, TS Trần Thế Phiệt cùng các thày, các cô, các khoa, phòng ban trong Học viện
Đây là sản phẩm nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công
bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào
Tác giả
Phạm Thị Minh Thắm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TRÊN BÁO IN 15
1.1 Khái niệm về môi trường và môi trường tự nhiên 15
1.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường tự nhiên hiện nay: 17
1.3 Đảng và Nhà nước ta với vấn đề môi trường: 26
1.4 Vai trò của báo in trong vấn đề bảo vệ môi trường: 32
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRÊN CÁC TỜ BÁO IN - TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, TUỔI TRẺ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LAO ĐỘNG TỪ THÁNG 01/2010 – 12/2010 40
2.1 Tổng quan về hoạt động khảo sát: 40
2.2 Kết quả khảo sát về số lượng: 41
2.3 Kết quả khảo sát về nội dung: 42
2.4 Kết quả khảo sát hình thức phản ánh 64
2.5 Nhận xét kết quả khảo sát: 70
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 76
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc tuyên truyền bảo vệ môi trường trên báo in: 76
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền bảo vệ môi trường trên báo in hiện nay 78
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 92
PHỤ LỤC……… ……….97
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSTP: An toàn vệ sinh thực phẩm
ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TN&MT: Tài nguyên và Môi trường
MTQG NSVSNT: Mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn
Trang 6mà để giải quyết được chúng, cần phải có sự hợp lực của tất cả các dân tộc, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới
Hiện nay, nhân loại đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường rất
bức xúc và nan giải, trong đó nổi bật nhất có các nhóm vấn đề như: 1) nạn
cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, tài nguyên khoáng sản,
động, thực vật, nhiên liệu (dầu mỏ, khí đốt…); 2) nạn ô nhiễm nặng nề môi
trường sống: ô nhiễm nước, ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm tiếng ồn…; 3) những tai biến của thiên nhiên: động đất, núi lửa, bão, lũ, hạn hán, các cơn bão từ vũ
trụ xuống trái đất, sự va chạm giữa các hành tinh… Ngoài nhóm vấn đề thứ
ba con người không thể có khả năng điều chỉnh và phòng tránh, hai nhóm vấn
đề thứ nhất và thứ hai chủ yếu là do con người gây ra Do vậy, con người cần
có trách nhiệm trong việc tìm cách khắc phục và ngăn chặn hậu quả, nếu không thảm hoạ sẽ không chỉ là môi trường tự nhiên bị tàn phá, mà hơn thế,
Trang 7còn xoá sạch những gì mà loài người đã dày công xây dựng trong hàng chục nghìn năm qua, kể cả sự sống của bản thân con người trên trái đất
Sự ô nhiễm môi trường đã dẫn đến những hiểm họa sinh thái tiềm tàng,
mà hậu quả của chúng chưa thể nào lường trước được, trong đó, đặc biệt nguy
hiểm và nan giải là các hiện tượng như hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ô –
dôn, mưa axít, sa mạc hoá, sự giảm dần độ đa dạng sinh học v.v… làm biến
đổi các điều kiện thiên nhiên trên trái đất theo chiều hướng tiêu cực đối với sự
sống Một trong những biến đổi sinh thái nguy hiểm nhất là sự biến đổi của
khí hậu trái đất Sự biến đổi này là hậu quả tổng hợp, tất yếu của các hiện
tượng ô nhiễm môi trường Biểu hiện đầu tiên và nguy hiểm nhất là sự tăng
lên nhiệt độ trung bình của trái đất, theo dự đoán vào giữa thế kỷ XXI là từ
1,50C đến 4,50C, và kéo theo nó là biết bao hiểm họa khác Theo ông G.B Brôn – tơ – man, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Môi trường và Phát triển của thế giới, thì trừ chiến tranh hạt nhân ra, sự biến đổi của khí hậu là mối đe doạ lớn nhất đối với loài người Nó không những đe doạ sự tồn vong của loài người,
mà còn uy hiếp cả tương lai của trái đất
Việt Nam đang đứng trước những thách thức to lớn về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ nghiêm trọng Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã đem lại cho Việt Nam bộ mặt mới, thu được nhiều thành quả kinh tế quan trọng Đó là mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, bước đầu ổn định và phát triển kinh tế; vị thế quốc tế được nâng cao, tạo thế và lực cho Việt Nam, cũng như khả năng tiếp tục phát triển trong những năm tới Tuy nhiên, với tiến trình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa; cùng với đó là nạn khai thác tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển và các dạng tài nguyên khác đang ảnh hưởng lớn đối với môi trường đe dọa đến sự phát triển bền vững của nước ta
Trang 8Làm thế nào để phát triển bền vững, ổn định tối đa nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học, đang là vấn đề cấp thiết đặt ra Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với thiên nhiên của cha ông ta
Trước bối cảnh trên, nhằm làm rõ vai trò của báo in Việt Nam trong công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường tự nhiên, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Vấn đề môi trường trên báo in hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu:
Bảo vệ môi trường tự nhiên là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, của nhân loại Hơn bao giờ hết, vấn đề môi trường được đặt vào trong các chương trình nghị sự của các quốc gia và đã được đưa ra quốc tế bàn bạc, thảo luận rất nhiều lần Bởi hiện nay, với sự phát triển nhanh, mạnh của các nền kinh tế trên thế giới đe dọa nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, như biến đổi khí hậu, nguồn nước bị ô nhiễm, thay đổi đa dạng sinh học… đe doạ đến sự phát triển của nhân loại Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về vấn đề bảo vệ môi trường dưới nhiều góc độ khác nhau:
2.1 Các cuộc hội nghị, hội thảo về môi trường:
- Hội thảo: Chỉ tính riêng trong năm 2010, đã có hàng chục hội thảo về
môi trường tại các cấp và ban ngành trong cả nước Đó là hội thảo: "Bảo vệ
môi trường phát triển bền vững - trách nhiệm của doanh nghiệp và cộng đồng
Trang 9cùng kết nối bảo vệ môi trường" do Bộ Tài nguyên Môi trường chủ trì Hội
thảo này đánh giá thực trạng của môi trường Việt Nam và thế giới, đưa ra hướng giải quyết, giúp cải thiện môi trường, hạn chế sự ô nhiễm môi trường ở Việt Nam, tiến tới một thế giới Xanh - sạch - đẹp; đồng thời nhấn mạnh đến doanh nghiệp Việt Nam muốn bảo vệ thương hiệu phải gắn liền với trách
nhiệm bảo vệ môi trường Hội thảo “Trao đổi kinh nghiệm về vai trò của Nghị
viện Pháp ngữ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong lĩnh vực môi trường, biến đổi khí hậu” Hội thảo quốc tế về “Giao thông và môi trường”
do Trường Đại học Bách khoa Hà Nội chủ trì dưới sự hỗ trợ của Tổ chức trao đổi hàn lâm Đức (DAAD) Hội thảo đã đề cập tới nhiều vấn đề “nóng” hiện nay ở Việt Nam liên quan đến chính sách về phát triển phương tiện giao thông
và ô nhiễm môi trường do phương tiện giao thông, các giải pháp giảm phát thải cho phương tiện giao thông
- Hội nghị: Trong năm 2010, cả thế giới và Việt Nam cũng đã diễn ra rất nhiều hội nghị lớn về môi trường và bảo vệ môi trường Điều này cho thấy, vấn đề môi trường, hơn bao giờ hết, là vấn đề nóng và bức xúc nhất hiện nay Đó là hội nghị của Liên hợp quốc (LHQ) về biến đổi khí hậu tại Cancun, Mexico (COP16) có nhiệm vụ hoàn thành lộ trình về một thoả thuận toàn cầu mới về biến đổi khí hậu Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 3 (năm 2010)
do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức nhằm đánh giá lại những kết quả đạt được, các bài học kinh nghiệm trong công tác bảo vệ môi trường 5 năm (2005
- 2010); trao đổi và cùng thống nhất hành động về công tác bảo vệ môi trường trong thập niên mới; tạo bước chuyển biến căn bản về nhận thức và trách nhiệm của các nhà quản lý, doanh nghiệp, cộng đồng xã hội đối với công tác bảo vệ môi trường Cũng trong khuôn khổ Hội nghị này, Hội nghị khoa học
về quản lý môi trường được chính thức khai mạc nhằm đánh giá hiện trạng, những hạn chế và bất cập của các khâu của quá trình quản lý nhà nước về môi
Trang 10trường trong 5 năm qua Trên cơ sở đó, Hội nghị sẽ kiến nghị và đề xuất các giải pháp về quản lý nhà nước về môi trường với các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và tại Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ 3 ngày 18/11/2010 nói riêng
2.2 Một số đề tài nghiên cứu khoa học được công bố trên các báo, tạp chí:
Rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về môi trường và bảo vệ môi trường đã được công bố trên các báo tạp chí, trong đó phải kể đến: Đề tài
“Một số tác động xã hội của biến đổi khí hậu” của CN Nguyễn Thị Hòa, Viện
Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững Tác giả đã đề cập đến một số tác động về mặt xã hội của biến đổi khí hậu, đặc biệt là những tác động đến
quyền con người và phát triển của xã hội Đề tài "Nghiên cứu, ứng dụng thực
vật để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng tại các vùng khai thác khoáng sản" do GS, TS Đặng Đình Kim làm chủ nhiệm đề tài Nhóm nghiên cứu đã
xây dựng được danh mục các loài thực vật (157 loài) tại các vùng mỏ đã khảo sát, mô tả hình ảnh những loài thực vật có khả năng hấp thụ và tích lũy cao
một số kim loại nặng Đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu về phòng phóng xạ ở
một số khu vực tại tỉnh Đồng Nai và đánh giá mức độ ảnh hưởng đến môi trường” của TS Thái Khắc Định - trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
Đề tài “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân ở Việt Nam - những vấn đề đặt ra
và chính sách nhằm phát triển bền vững” của TS Chu Tiến Quang, Viện
Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và CN Hà Huy Ngọc, Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững
2.3 Các luận án, luận văn, khóa luận liên quan tới đề tài bảo vệ môi trường tự nhiên:
“Đề tài môi trường trên báo chí hiện nay” của Mai Thị Dung, lớp Cao học K10, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; “Đánh giá tác động của báo chí
Trang 11đối với vấn đề bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh” của Trần Việt Phương, Cao
học 13, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tuy nhiên, các khóa luận thường đề cập đến đề tài môi trường một cách chung chung, hoặc vấn đề môi trường ở một địa phương, vấn đề môi trường trên báo chí nói chung, chưa có đề tài nào đề cập cụ thể trên báo in…
Ngoài ra còn có nhiều công trình khác liên quan tới vấn đề này được các bộ, ngành, cơ quan thực hiện như:
Đề tài bảo vệ môi trường cấp ngành: “Điều tra, khảo sát và biên soạn
tài liệu nhằm lồng ghép vấn đề bảo vệ môi trường trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xã viên hợp tác xã (HTX)” do Trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Trung ương chủ trì thực hiện Đề tài khoa học công nghệ
(KHCN) cấp ngành: “Xây dựng mô hình bảo tồn và phát triển vùng dược liệu
một số cây thuốc quý hiếm tại HTX dịch vụ thuốc nam dân tộc thôn Yên Sơn,
Ba Vì, Hà Nội” và “Xây dựng mô hình xử lý bãi thải trồng nấm bằng công nghệ sinh học quy mô HTX phục vụ cho cây công nghiệp địa phương, do
Trung tâm KHCN và MT chủ trì…
Từ việc cập hợp các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài bảo vệ môi trường tự nhiên Tuy nhiên, các công trình trên thường nghiên cứu một cách chung chung về bảo vệ môi trường, hoặc các đề tài nghiên cứu riêng lẻ như nghiên cứu về bảo
vệ nước, không khí, đất, nghiên cứu về môi trường tự nhiên ảnh hưởng phát triển kinh tế ngành… Các công trình nghiên cứu thường tập trung đưa ra thực trạng, nguyên nhân, giải pháp về bảo vệ môi trường của các ban ngành, của mỗi người dân, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về báo chí Việt Nam, đặc biệt là bái in tuyên truyền bảo vệ môi trường Do đó, việc tác giả
lựa chọn đề tài: “Vấn đề môi trường trên báo in hiện nay” làm luận văn thạc
sĩ của mình là phù hợp, không trùng với các đề tài khác
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích: Trên cơ sở khảo sát một số tờ báo in nêu trên thấy được
thực trạng vấn đề môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay, từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao vai trò, tác động của báo chí trong việc bảo vệ môi trường tự nhiên, đảm bảo phát triển bền vững
- Khảo sát thực trạng phản ánh của một số tờ báo tuyên truyền về bảo
vệ môi trường tự nhiên
- Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin báo chí, góp phần nâng cao vai trò của báo chí đối với bảo vệ môi trường tự nhiên trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng:
Các tác phẩm báo chí tuyên truyền vấn đề bảo vệ môi trường và đấu tranh bảo vệ môi trường của Việt Nam trên báo Tài nguyên Môi trường, báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh và báo Lao động Thực trạng này được nhìn nhận dưới góc độ:
- Quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường đảm bảo phát triển bền vững
- Báo chí mà cụ thể là báo in tuyên truyền nhằm góp phần nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường
Trang 13- Đấu tranh với những nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Để phù hợp với mục đích yêu cầu đề ra, luận
văn tập trung vào nghiên cứu:
Khảo sát thực trạng và sự tác động của báo chí, cụ thể là báo in qua các tác phẩm viết về đề tài bảo vệ môi trường tự nhiên đã được đăng tải trên báo Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh và báo Lao động
Thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các ấn phẩm báo in trong thời gian từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2010, với một số nội dung có mở rộng phạm
vi nghiên cứu thời gian năm 2009 nhằm mục đích so sánh, đối chiếu
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp luận:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
5.2 Phương pháp cụ thể:
Tập hợp các tác phẩm báo chí viết về đề tài bảo vệ môi trường tự nhiên trên các tờ báo được khảo sát, từ đó sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, khái quát, tổng hợp để nghiên cứu
6 Đóng góp mới của đề tài:
6.1 Lý luận:
Hệ thống hóa những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước ta về bảo
vệ môi trường tự nhiên và vai trò của môi trường tự nhiên trong phát triển bền vững Đồng thời đây là một bước tiếp cận tuyên truyền về bảo vệ môi trường
Trang 14tự nhiên trên báo in, góp phần bổ sung vào hệ thống tài liệu tham khảo, phục
vụ cho việc nghiên cứu và học tập của sinh viên chuyên ngành báo chí
6.2 Thực tiễn:
Qua khảo sát, luận văn tạo dựng bức tranh tổng thể về báo in với vấn đề tuyên truyền bảo vệ môi trường Trên cơ sở đó, luận văn tổng kết, đánh giá quá trình phản ánh của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả tuyên truyền về đề tài này trên báo in nước ta
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về môi trường tự nhiên và vấn đề bảo
vệ môi trường tự nhiên trên báo in
Chương 2: Khảo sát vấn đề môi trường trên các tờ báo in: TN&MT, Lao động và Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2010 – 12/2010
Chương 3: Đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tác động của
báo in đối với vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên
Trang 15CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN TRÊN BÁO IN
1.1 Khái niệm về môi trường và môi trường tự nhiên
1.1.1 Khái niệm chung về môi trường:
Đã có nhiều nhà khoa học định nghĩa về môi trường, các định nghĩa đều
đề cập tới môi trường tự nhiên, mối quan hệ và tác động ảnh hưởng của nó với đời sống con người Ngoài việc định nghĩa chung nhất về môi trường, các định nghĩa cũng hướng tới đề cập đến môi trường theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp
Quan điểm thứ nhất cho rằng, môi trường là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người Môi trường cũng là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên cần thiết cho quá trình sản xuất ra của cải vật chất Trong quá trình khai thác tài nguyên, nếu như mức độ khai thác nhanh hơn mức độ tái tạo thì gây ra tình trạng khan hiếm, cạn kiệt về môi trường
Quan điểm thứ hai cho rằng, môi trường ở thời điểm nhất định là tập hợp các nhân tố, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội gây nên tác động gián tiếp hoặc trực tiếp, trước mắt hoặc lâu dài tới các loài vật sống và hoạt động của con người
Năm 1981, UNESCO đưa ra định nghĩa về môi trường như sau: "Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sống bằng sức lao động của mình, đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người [41, tr 7]
Trang 16Từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Môi trường nói chung là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy" [16, tr 5]
Luật bảo vệ môi trường Việt Nam được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 27/12/1993 định nghĩa: Môi trường là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và yếu tố do con người tạo ra có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và của thiên nhiên [45, tr 7-8]
Như vậy, có thể nêu ra một định nghĩa chung về môi trường như sau:
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." [25, tr 1]
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ…
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở
để sống và phát triển
1.1.2 Khái niệm về môi trường tự nhiên:
Từ khái niệm chung nhất về môi trường, cho thấy, môi trường bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, trong đó môi trường tự nhiên là một trong những yếu tố quan trọng làm nên chất lượng cuộc sống, sự sinh tồn của con người, động vật [25, tr 1]
Trang 17Môi trường tự nhiên là điều kiện và phương tiện hoạt động sống của con người Môi trường liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sức khoẻ, đến quyền sinh tồn và quyền phát triển của con người Mối quan hệ tương tác chặt chẽ giữa môi trường, sức khoẻ và quyền con người là rất rõ ràng Sự suy thoái, ô nhiễm, thảm hoạ môi trường gây tác hại lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ thể chất và tinh thần và mức độ hưởng thụ các quyền con người Do đó, bảo vệ môi trường là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và là một trong 3 trụ cột của phát triển bền vững Sự phát triển bền vững của đất nước, chất lượng cuộc sống, sức khoẻ của dân cư và an ninh quốc gia chỉ có thể được bảo đảm trong điều kiện bảo tồn và gìn giữ được tình trạng môi trường trong sạch Sống trong môi trường trong lành được coi là một quyền con người cơ bản Sự ô nhiễm, suy thoái, phá huỷ môi trường không chỉ gây tổn thất cho phát triển kinh tế, có thể phá huỷ thành tựu tăng tưởng kinh tế, dẫn tới sự gia tăng nghèo đói, sự phân hoá và bất bình đẳng xã hội, mà còn gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm, làm tổn hại sức khoẻ, đe doạ sinh mệnh của nhiều triệu con người
1.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường tự nhiên hiện nay:
1.2.1 Bảo vệ môi trường tự nhiên góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống:
Môi trường liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và sức khoẻ, đến quyền sinh tồn và quyền phát triển của con người Nhiều ý kiến của chuyên gia khẳng định rằng ô nhiễm không khí, nước, tiếng
ồn, gia tăng dân số, thiếu hụt lương thực… đều làm giảm chất lượng cuộc
sống [27, tr 4] Họ thống nhất rằng: chất lượng môi trường chính là chất
lượng của các điều kiện tự nhiên, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động của từng con người và cộng đồng [27, tr 7]
Trang 18Mục tiêu bảo vệ môi trường là nhằm ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, có nguy cơ suy thoái, bảo vệ đa dạng sinh học; nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, các đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước [27, tr 15]
Việc giải quyết các vấn đề về môi trường, bảo vệ môi trường phụ thuộc chủ yếu vào mức độ nhận thức, trình độ dân trí, thái độ và hành vi của mọi tầng lớp xã hội [26, tr 1] Trong quá trình phát triển của mình, con người do vô tình hay cố ý đã lạm dụng quá mức ưu đãi của thiên nhiên tạo ra sự mất cân bằng các yếu tố môi trường, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, đe doạ tính mạng cả loài người Chính vì vậy, vấn đề môi trường sống của con người đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu
Tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về vấn đề môi trường và phát triển bền vững họp tại Rio de Jan Ne Ro năm 1992 đã tuyên bố nguyên tắc số 1:
"Con người là trung tâm của những mối quan tâm của sự phát triển lâu bền, con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoà với thiên nhiên" [26, tr 1] Như vậy, để có một môi trường sống tốt hơn, thì mỗi
quốc gia, mỗi địa phương và mỗi chúng ta đều phải tham gia tích cực vào hoạt động nào đó để làm cho môi trường sống sạch hơn, đẹp hơn, trong lành hơn
Năm 2008, Liên Hiệp quốc lấy chủ đề ngày Môi trường thế giới: “Hãy
thay đổi thói quen: Hướng đến một nền kinh tế ít các bon” [26, tr 1] Chủ đề
này quan tâm sâu sắc đến vấn đề biến đổi khí hậu Thực tế biến đổi khí hậu đã
và đang đe doạ nghiêm trọng đến đời sống của mỗi quốc gia và dân tộc trên hành tinh Biểu hiện rõ nét nhất khí hậu diễn biến bất thường không theo quy luật tự nhiên như: Tháng 5 vẫn xuất hiện gió mùa đông bắc, ngày hè thời tiết nóng nưc hơn, xuất hiện mưa đá gió lốc, bão tố cường độ mạnh và mau không
Trang 19theo chu kỳ Con người hàng ngày đối mặt với sự biến đổi của khí hậu như: dịch bệnh gia tăng, đói nghèo thường xuyên đe dọa, mất nơi ăn chốn ở do thiên tai, mùa màng thất thoát, thiếu đất để canh tác, đa dạng sinh học bị suy giảm… Theo các nhà khoa học nguyên nhân trực tiếp của sự biến đổi khí hậu
là phát thải quá mức khí nhà kính đặc biệt là khí các-bon-nic (CO2) do con người đã sử dụng nguyên liệu hoá thạch: Than đá, dầu mỏ, khí đốt để phục vụ phương tiện giao thông, sản xuất công nghiệp Điều đáng lo ngại nhất tình trạng mất rừng trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng do khai thác quá mức nên 20% phát thải khí nhà kính không được rừng tự nhiên hấp thụ đó cũng là nguyên nhân lỗ thủng tầng ô zôn ngày càng rộng ra [21, tr 5]
Để thiết thực góp phần cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng sống ngày một tốt hơn, mỗi người dân nói riêng và các tổ chức xã hội nói chung,
cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản như: Một là, tăng cường đẩy mạnh và
tuyên truyền giáo dục làm chuyển biến, nâng cao nhận thức của mọi người về
tầm quan trọng của môi trường sống Hai là, thực hiện tốt Chiến lược quốc gia
về bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, biến các
mục tiêu, chiến lược đó thành hiện thực Ba là, không ngừng cải thiện chất lượng môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Bốn là, quan tâm
phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, đoàn thể, cộng đồng dân cư và từng người dân trong việc tham gia và giám sát công tác bảo vệ môi trường [26, tr 1]
Phát biểu với báo chí trong lễ tổng kết "Chương trình mục tiêu quốc gia
về nước sạch và vệ sinh nông thôn (MTQG NSVSNT)", Chánh văn phòng
thường trực MTQG NS&VSMTNT Hạ Thanh Hằng, cho biết đến hết năm
2010, tổng số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là hơn 52 triệu người, tăng 13.260.000 người so năm 2005, trong đó tỷ lệ được sử dụng nước hợp vệ sinh tăng từ 62% lên 83%, trung bình tăng 4,2%/năm Như vậy, điều
Trang 20này cho thấy, chương trình môi trường quốc gia đã tác động tích cực tới đời sống của nhân dân trong cả nước, nâng cao chất lượng sống cho nhân dân vùng sâu, vùng xa [29, chuyên mục tài nguyên môi trường]
1.2.2 Bảo vệ môi trường tự nhiên đảm bảo phát triển bền vững:
Năm 1987, Uỷ ban Môi trường và Phát triển của LHQ đã đưa ra khái
niệm Phát triển bền vững: "Phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù
hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngưỡng sống của họ" [30, tr 1]
Sự suy thoái, ô nhiễm đất, nước, không khí, thảm hoạ môi trường gây tác hại lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ thể chất, tinh thần và mức
độ hưởng thụ các quyền con người Do đó, bảo vệ môi trường là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và là một trong 3 cột trụ của phát triển bền vững [49, tr 1] Sự phát triển bền vững của đất nước, chất lượng cuộc sống, sức khoẻ của dân cư và an ninh quốc gia chỉ có thể được bảo đảm trong điều kiện bảo tồn và gìn giữ được tình trạng môi trường trong sạch Sống trong môi trường trong lành được coi là một quyền con người cơ bản Sự ô nhiễm, suy thoái, phá huỷ môi trường không chỉ gây tổn thất cho phát triển kinh tế,
có thể phá huỷ thành tựu tăng tưởng kinh tế, dẫn tới sự gia tăng nghèo đói, sự phân hoá và bất bình đẳng xã hội, mà còn gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm, làm tổn hại sức khoẻ, đe doạ sinh mệnh của nhiều triệu con người, ảnh hưởng xấu đến an ninh con người và xã hội
Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển
Để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường, đó là yêu cầu để phát triển bền vững [25, tr 5]
Trang 21Nhất là bước vào thế kỷ 21, vấn đề ô nhiễm môi trường trở thành vấn
đề song song với sự phát triển của nền kinh tế Phát triển bền vững bao gồm
ba thành phần cơ bản: môi trường bền vững; xã hội bền vững và kinh tế bền
vững [31, tr 1]
Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất [24, tr Phát triển tài nguyên và môi trường bền vững]
Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được
Tại Việt Nam, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta đang phải đương đầu với nhiều vấn đề về môi trường gay gắt, trong đó có vấn
đề nghiêm trọng như nạn phá rừng, nạn khai thác quá mức tài nguyên sinh học, sự xuống cấp của tài nguyên đất, nạn thiếu nước ngọt và ô nhiễm gia tăng… Tại Hội nghị thường niên lần thứ 44 của Ngân hàng Phát triển châu Á
(ADB), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc nhấn mạnh: "giống
như nhiều nước khác ở châu Á, Việt Nam đã và đang rất quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững và quan điểm của Việt Nam là bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển"
[32, mục tin tức]
Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội giai đoạn 2001-2010 đã xác định mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hoá, sự
Trang 22bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên [32, mục tin tức]
Mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân
Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là đạt kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng cao
Mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn,
xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường
Trong báo cáo "Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2011-2020", Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: "song song với phát triển
kinh tế, Chính phủ chủ trương phát triển sản xuất sạch hơn nhằm bảo vệ môi trường, giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và đầu tư lớn cho những giải pháp, công nghệ tiên tiến" [32, mục tin tức] Trong báo cáo cũng
đã nhấn mạnh cộng đồng doanh nghiệp góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển bền vững thông qua việc ứng dụng những công nghệ sản xuất sạch,
sử dụng ít và tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu, sản xuất ra những sản phẩm thân thiện với môi trường Tuy nhiên, một thách thức lớn hiện nay là cần có nguồn lực đầu tư rất lớn để cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường
và trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường ở các cơ sở sản xuất, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài ra, Chính phủ còn định hướng hoạt động hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam Theo đó, Việt Nam đã tham gia xây dựng cơ chế hợp tác có hiệu quả, nhằm bảo đảm duy trì sự hỗ trợ phát
Trang 23triển hiện có, đồng thời tìm kiếm sự giúp đỡ mới để tham gia một cách hiệu quả vào các hoạt động quốc tế Đồng thời, mở rộng liên kết với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là trong việc kiểm soát khí thải gây hiệu ứng nhà kính, hạn chế sự ô nhiễm do hóa chất và chất thải nguy hại, kiểm soát sự vận chuyển chúng xuyên biên giới, bảo vệ môi trường biển và đa dạng sinh học; chú trọng hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông; hợp tác chặt chẽ với các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn viện trợ chính thức cho mục tiêu phát triển bền vững
1.2.3 Bảo vệ môi trường tự nhiên là bảo vệ sự sống của con người
Như chúng ta đã biết, môi trường tự nhiên có mối quan hệ và gắn bó hữu cơ với sự sống của con người Khi môi trường tự nhiên bị hủy hoại thì sự sống của con người cũng sẽ bị hủy hoại theo một lẽ tất nhiên Loài người đã trải qua bao biến đổi của môi trường tự nhiên, đó là những thảm họa thiên nhiên, đó là sự biến đổi của khí hậu… Sự kiện thảm họa kép tại Nhật Bản hôm 11/3/2011 là bằng chứng cho thấy, môi trường tự nhiên có tầm quan trọng với đời sống của con người và bảo vệ môi trường tự nhiên cũng chính là bảo vệ sự sống của con người
Trái đất đang nóng dần lên, không khí ngày càng ô nhiễm bởi khói bụi và khí thải độc hại, còn nghèo đói làm cho con người không có điều kiện để dùng các sản phẩm sạch Nghèo đói khiến người ta phải chặt phá rừng, buôn bán gỗ quý để mưu sinh và nghèo đói thì không thể chi tiền để cải tạo môi trường
Để phát triển triển kinh tế, con người đang chặt cây phá rừng, đào khoáng sản dưới lòng đất, chặn dòng nước để làm thủy điện, xả khí thải vào môi trường… Phải chăng sự biến đổi về khí hậu, những thiên tai, dịch bệnh… chính là những hành động qua đó thiên nhiên lập lại cân bằng và để đáp trả lại những hành động phá hoại của con người Hiện nay, những người sống ở các
Trang 24đô thị, hàng ngày, hàng giờ phải hít vào trong phổi bầu không khí ô nhiễm Đồng thời, chúng ta đang ăn nguồn nước cũng bị ô nhiễm trầm trọng bởi phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật đang ngấm vào nguồn nước ngầm
Thực phẩm rau quả ngày càng to hơn, đẹp hơn… nhưng tất cả đều do thuốc trừ sâu, thuốc biến đổi gien, thuốc bảo quản, thuốc thúc chín hoa quả… Thịt cá mà chúng ta ăn thì đang được nuôi bằng thuốc tăng trọng, hoóc môn tăng trưởng Và ai cũng biết những chất hóa học này rất có hại cho sức khỏe con người
“Hầu như trong bất cứ loại thực phẩm nào, từ tươi sống đến đóng gói đều
đi kèm theo là một loại hoá chất nào đó, từ chất bảo quản, chất làm cho tươi, chất làm cho mau chín, chất làm cho rau trái to ra, thuốc kích thích tăng trưởng.”- Giáo sư Phan Thị Kim, Chủ tịch Hội khoa học ATVSTP nói [34, tr.1]
Điều đáng nói là những hóa chất này do chính con người tạo ra và cũng chính hóa chất đó đang giết hại con người Do đó, việc bảo vệ môi trường tự nhiên cũng chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta Nhưng để mỗi người dân
có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên, hơn bao giờ hết, chúng ta hãy là những tình nguyện viên, những nhà tuyên truyền viên, tham gia tuyên truyền giáo dục ý thức cho người dân về tác hại của việc phá hủy môi trường Có bảo vệ môi trường tự nhiên, thì chúng ta mới bảo vệ được cuộc sống của ngay chính chúng ta
Đối với Việt Nam, ngay từ những năm cuối thế kỷ 20, Chính phủ đã coi việc phát triển bền vững cân bằng sinh thái, bảo đảm nguồn nước là một chiến lược sống còn trong sự nghiệp phát triển đất nước và đảm bảo sự sinh tồn của cộng đồng
Chính phủ đã thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn, sau 5 năm, trên cả nước đã có hơn 700.000
Trang 25công trình cấp nước được xây dựng, trong đó có hơn 4.600 hệ thống cấp nước tập trung, giúp hàng triệu gia đình ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khan hiếm nước được tiếp cận với nguồn nước sạch Nếu năm 1996 số người dân nông thôn được sử dụng nước sạch là 28%, thì đến năm 2003 con số này đã tăng lên 54% và đến năm 2005 là khoảng 62%
Với tầm nhìn chiến lược, Chính phủ Việt Nam đã coi việc bảo vệ rừng chính là nuôi dưỡng và bảo vệ nguồn nước, giảm thiểu thiên tai và đảm bảo nền kinh tế xã hội phát triển bền vững Hơn 10 qua, diện tích đất có rừng che phủ liên tục tăng, đặc biệt nhờ có chính sách hỗ trợ trồng rừng, Chương trình
về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Chương trình về trồng mới và phục hồi 5 triệu hécta rừng, diện tích đất có rừng che phủ liên tục tăng một cách vững chắc, từ 27,2% năm 1990 lên 38% năm 2005, trung bình mỗi năm có thêm 0,6% diện tích đất được phủ rừng
Công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt Các Vườn quốc gia và khu bảo tồn - diện tích rừng tự nhiên có chất lượng vào loại tốt nhất - tăng nhanh về số lượng và diện tích Trong số 126 khu bảo tồn thiên nhiên có 28 vườn quốc gia, nhiều khu đã được công nhận là di sản tự nhiên thế giới, khu dự trữ sinh quyển quốc tế và
di sản tự nhiên của ASEAN Ngoài ra, còn có 17 khu bảo tồn biển đang được Chính phủ xem xét phê duyệt Việt Nam phấn đấu đến năm 2010 sẽ có 11,6% diện tích tự nhiên được bảo tồn
Hoạt động bảo vệ môi trường cũng đã được lồng ghép với các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Nhà nước khuyến khích tư nhân đầu tư vào các dịch vụ môi trường, đồng thời có các chính sách hỗ trợ vốn, ưu đãi, thuế, trợ giá để hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với thông lệ quốc tế, tăng tỷ lệ đầu tư cho bảo vệ môi trường từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
Trang 261.3 Đảng và Nhà nước ta với vấn đề môi trường:
1.3.1 Quan điểm của Đảng thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết về bảo vệ môi trường tự nhiên:
Quan điểm về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đã được Đảng, Nhà nước ta khẳng định và đề cập sớm trong Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000, trong Luật Bảo vệ môi trường năm
1993 sau được sửa đổi, bổ sung năm 2005; Nghị định 26/CP; Chỉ thị 36 ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị khoá VIII; Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị khoá IX ( ngày 15/11/2004); Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (2006); Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến 2010 và định hướng đến năm 2020 Phát triển bền vững từ lâu đã trở thành đường lối, quan điểm nhất quán của Đảng và chính sách của Nhà nước ta
Ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 41/NQ-TW Về bảo vệ
môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
[35, tr.1] Đây là Nghị quyết đầu tiên của Đảng ta chỉ đạo riêng về công tác
bảo vệ môi trường Nghị quyết nêu rõ: Công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp các ngành và nhân dân đã được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt…
Mục tiêu phấn đấu của đất nước đã được Đảng và Nhà nước ta xác định
là: từ nay đến năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại [65, tr.1] Theo định hướng mục tiêu đó, thời gian tới,
Trang 27tăng trưởng kinh tế nước ta phải ở mức cao hơn so với hiện tại và phải duy trì được mức độ ấy trong một vài thập kỷ
Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 25-6-1998 về Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỉ thị nêu rõ:
"Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của
nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước Để góp phần bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp, các ngành cần đổi mới nhận thức, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường, nắm vững quán triệt các mục tiêu, quan điểm của Đảng và Nhà nước" [36, tr.5]
Chỉ thị 29-CT/TW ngày 21-01-2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong
đó, tổ chức kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi trường Tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, có cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường Tăng đầu tư và sử dụng đúng mục đích, hiệu quả nguồn chi thường xuyên từ ngân sách cho sự nghiệp môi trường, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư bảo vệ môi trường
Trang 28Nghiên cứu xây dựng các luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường…
Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02-12-2003 về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020; trong đó xác định: "Chiến lược Bảo vệ môi trường là bộ phận cấu
thành không thể tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Đầu tư bảo
vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững" [45, tr.1]
Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-8-2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân
có liên quan triển khai thực hiện, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế
Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22-02-2005 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22-4-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân
Chủ tịch nước ký lệnh số 29/2005/L/CTN ngày 12-12-2005 về công bố Luật Luật bảo vệ môi trường năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-
2006, thay thế luật bảo vệ môi trường 1993
Trang 291.3.2 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường tự nhiên
Các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc đã tổng kết: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Trong chín nội dung cơ bản chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh có đến năm nội dung liên quan đến vấn đề môi trường và giáo dục môi trường cho nhân dân, đặc biệt cho thế hệ trẻ Tư tưởng của Bác đã chỉ rõ, muốn bảo vệ
môi trường và phát triển môi trường bền vững: Trước hết phải coi đó là việc của toàn dân, chỉ có dân làm thì sự nghiệp đó mới thành công Thứ hai, sự
nghiệp bảo vệ môi trường muốn thành công phải để dân hiểu, dân biết, dân
bàn, dân tự quản, tự làm, tự kiểm tra Thứ ba, đi đôi với phát triển kinh tế, văn
hoá phải đặc biệt chú ý bảo vệ môi trường và phát triển môi trường bền vững
Thứ tư, con người quan hệ, ứng xử với môi trường, khai thác, sử dụng tài
nguyên thiên nhiên cần tiết kiệm, phải có ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ
mình và thế hệ con cháu mai sau Thứ năm, cần chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ
để họ có nhận thức đúng đắn, có thái độ và hành vi đối xử phù hợp với môi trường, để môi trường phát triển bền vững [61, tr.22]
Trong cuộc đời của Bác Hồ, Người luôn quan tâm sâu sắc đến môi trường thông qua rất nhiều bài viết, bài nói chuyện, hành động cụ thể, Bác luôn căn dặn mọi người phải tích cực trồng cây, gây rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái
Thứ nhất, thấy rõ giá trị to lớn của rừng Một lần, trong bài nói chuyện
tại Hội nghị cán bộ miền núi, ngày 01/9/1962, Bác đã nhắc lại câu tục ngữ của
ông cha ta và căn dặn: "Rừng vàng biển bạc" Rừng là vàng nếu mình biết bảo
Trang 30vệ, xây dựng thì rừng rất quý Bác nhấn mạnh ý nghĩa của rừng là vàng - là
cung cấp nguyên liệu, vật liệu cho nhân dân, là tấm chắn vững chắc để bảo vệ mùa màng, làng quê Cùng với việc nhắc nhở phải ghi nhớ giá trị to lớn của rừng, nó là thứ "vàng" quý hiếm của quốc gia, phải bảo vệ và phải xây dựng thì thứ vàng ấy mới quý
Thứ hai, thấy rõ giá trị của việc bảo vệ rừng Việc cần thiết phải bảo vệ
rừng được Bác Hồ đề cập đến nhiều lần Cũng tại Hội nghị tuyên giáo miền núi năm 1963, Bác đã ân cần nhắc nhở: "Các cô, các chú cần hết sức chú ý vấn đề bảo vệ rừng Nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công trường phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít, thì rất tai hại Phá rừng thì dễ, nhưng gây dựng lại rừng phải mất hàng chục năm Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều" Trong thư gửi Đại hội Hợp tác xã và đội sản xuất
tiên tiến miền núi và trung du, Bác Hồ nhắc nhở: "Hợp tác xã nào cũng phải có
kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng Nếu rừng kiệt thì không còn gỗ
và mất nguồn nước thì ruộng nương mất màu, gây ra lụt lội và hạn hán Vì vậy, đồng bào miền núi và trung du cũng như đồng bào miền xuôi lên tham gia, phát triển kinh tế ở đây phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà cửa của mình"
Thứ ba, Bác dạy cùng với việc bảo vệ rừng là phải tích cực trồng cây, gây rừng Trong bài viết trên báo Nhân dân số 2.082, ngày 28/11/1959, ký tên
Trần Lực, Bác Hồ đã phát động "Tết trồng cây": "Chúng tôi đề nghị tổ chức
một ngày "Tết trồng cây" Việc này ít tốn kém mà lợi ích rất nhiều Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta" Trong lần
đến thăm và nói chuyện với đồng bào và cán bộ xã Đại Nghĩa (Hà Đông),
ngày 7/10/1961, Bác Hồ đã căn dặn: "Phải tiếp tục trồng cây Trồng cây phải
chú ý chăm sóc, trồng cây nào sống cây ấy Trồng ít, trồng vừa mà cây nào được cây ấy, còn hơn trồng nhiều mà có nhiều cây chết" Trong bài viết trên
Trang 31báo Nhân dân số 5.411, ngày 5/2/1969, ký tên TL, Bác đã kêu gọi: Ngày nay, đồng bào ta ai cũng hiểu rõ trồng cây gây rừng có lợi ích to lớn cho kinh tế và quốc phòng Vì vậy, Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm, đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta
Thứ tư, Hồ Chủ tịch coi việc trồng cây như việc "trồng người" Trong
lần đến thăm và nói chuyện với lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III
toàn miền Bắc (ngày 13/9/1958), Bác căn dặn: "Vì lợi ích mười năm thì phải
trồng cây và trồng người đều là lợi ích quốc gia, lợi ích của cả dân tộc Trồng cây gây rừng để bảo vệ môi trường cho hôm nay và cho mai sau Còn trồng người là để bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ kế thừa phục vụ sự nghiệp xây dựng
Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ đầu tiên quan tâm thường xuyên và sâu sát đến vấn đề trồng cây gây rừng Với Người, trồng cây không chỉ là công việc nông lâm đơn thuần, mà còn có ý nghĩa sâu sắc là giáo dục
Trang 32đạo đức lao động cho nhân dân; đặc biệt là giáo dục ý thức cho con người trong việc bảo vệ môi trường sinh thái
Nhận thức được tầm quan trọng của thiên nhiên, của cây xanh đối với đời sống con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm tới việc gìn giữ, bảo
vệ và xây dựng một môi trường sống trong lành cho nhân dân từ rất sớm Và Người đã chọn việc bảo vệ và trồng cây xanh làm điểm tựa, đòn bẩy cho hoạt động bảo vệ môi trường
Quan điểm trồng cây của Bác Hồ đã để lại cho chúng ta hiện nay những bài học quý báu, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi môi trường sống đang bị đe dọa, huỷ hoại nghiêm trọng Khi diện tích rừng trên trái đất trước thập kỷ 60 chiếm khoảng 50% bề mặt các lục địa, đến nay chỉ còn hơn 3500 triệu héc ta Ở Việt Nam, trước năm 1945, rừng chiếm ½ diện tích cả nước Đến năm 1980, rừng chỉ còn chiếm 1/3 diện tích, chừng
6 triệu héc ta rừng đã mất đi Đặc biệt, theo Tổng cục Thống kê, ước tính
5 tháng đầu năm 2009, cả nước bị mất 489 héc ta rừng, tăng 77% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó diện tích rừng bị cháy là 244 héc ta (tăng 68%), diện tích rừng bị chặt phá là 245 héc ta
1.4 Vai trò của báo in trong vấn đề bảo vệ môi trường:
1.4.1 Báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và báo in nói riêng là một bộ phận quan trọng trong công tác tuyên truyền của Đảng:
Báo chí cách mạng Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong công tác tuyên truyền của Đảng Là công cụ sắc bén tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, là cầu nối, kịp thời phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, những nhu cầu cấp thiết của nhân dân
Trang 33Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) “Về công tác tư tưởng, lý
luận và báo chí trước yêu cầu mới” chỉ rõ “Báo chí phải nắm vững và tuyên
truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới”
Báo chí là một hoạt động đặc biệt mang đặc tính chính trị - xã hội Mỗi tác phẩm báo chí được phát hành rộng rãi bao giờ cũng tác động mạnh mẽ đến
dư luận xã hội, nhận thức, thái độ quan niệm và hành vi của đông đảo của quần chúng và cộng đồng
Cũng như mọi nền báo chí, báo chí Việt Nam có nhiều chức năng và nhiệm vụ Tuy nhiên, do đặc trưng văn hóa và do là một bộ phận trong công tác văn hóa - tư tưởng của Đảng nên báo chí cách mạng Việt Nam cũng có những đặc trưng riêng Tuy nhiên, trong điều kiện của một xã hội đang hội
nhập quốc tế như hiện nay thì báo chí phải có trách nhiệm xã hội như: Trách
nhiệm xã hội trong cung cấp thông tin; Trách nhiệm nâng cao dân trí và sự hiểu biết của nhân dân; Trách nhiệm củng cố và bảo vệ sự ổn định xã hội; Trách nhiệm đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ; Trách nhiệm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững… Thực tế cho thấy, tăng trưởng nhanh, tăng
trưởng nóng dễ dẫn đến ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên và nhiều vấn đề khác như: an toàn thực phẩm; vấn đề việc làm của một bộ phận dân cư nơi đô thị hóa; sự phát triển của các tệ nạn xã hội và tội phạm gây bất
ổn cho đời sống Trách nhiệm của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững không nên chỉ dừng lại ở những cảnh báo, khuyến cáo, báo động chung chung mà phải thực sự tạo ra dư luận xã hội, gây áp lực, đấu tranh kiên quyết đối với những quan niệm, hành vi vụ lợi cá nhân, lợi ích trước mắt mà bỏ qua những nguy cơ đang đe dọa sự tồn vong của cộng đồng
và nhân loại trong tương lai
Trang 34Báo chí đã góp những tiếng nói của dân trong việc xác định chủ trương, góp phần uốn nắn tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách đó, như việc đưa luật môi trường vào cuộc sống, xử phạt những đối tượng có những hành vi tàn phá môi trường thế nào cho phù hợp…
Đối với chủ trương về vấn đề môi trường thường động chạm với đại đa
số nhân dân, báo chí sẽ là cầu nối quan trọng để người dân nói lên tâm tư của mình để từ đó Đảng, Nhà nước điều chỉnh các chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tiễn, với nguyện vọng của nhân dân hơn
1.4.2 Báo chí nói chung và báo in nói riêng là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội:
Báo chí là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất của đời sống xã hội Nó đóng vai trò chính trị - xã hội to lớn ở mọi quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới Báo chí là phương tiện truyền thông với đầy đủ các chức năng thông tin, cung cấp cho người dân mọi thông tin đang diễn ra Có thể nói, không có lĩnh vực xã hội nào mà báo chí không phản ánh, không có nhu cầu tinh thần nào mà báo chí không đáp ứng
"Hoạt động chính trị - xã hội là một khái niệm có nội dung rộng lớn với nhiều loại hình, phương tiện khác nhau Hoạt động báo chí là một trong những loại hình của chính trị xã hội" [36, tr.32-33] Bởi vì trước hết, báo chí là một hệ thống xã hội trong những hệ thống xã hội khác Đặc điểm của hệ thống xã hội này là thông tin và truyền tải thông tin do nhu cầu đời sống xã hội
Trong thời đại hiện nay, báo chí là kênh thông tin tạo lập, định hướng
và hướng dẫn dư luận xã hội một cách nhanh nhất Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: báo mạng, phát thanh, truyền hình, báo in để chuyển tải kịp thời những thông tin thời sự cho xã hội và góp phần to lớn trong việc tạo nên hoặc tác động tới công luận Mặt khác, báo chí cũng có
Trang 35điều kiện đi sát cuộc sống để phản ánh những tình hình và ý kiến của xã hội tới các cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước
Đối với vấn đề môi trường, báo chí có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đấu tranh loại bỏ mọi thói quen xấu và xây dựng một lối sống văn minh, lành mạnh về mặt môi trường, nhất là góp phần tạo thành dư luận đấu tranh với những việc làm sai trái, ủng hộ những đóng góp tích cực của tập thể, cá nhân trong công cuộc bảo vệ môi trường
1.4.3 Báo in, một phương tiện quan trọng trong công tác tuyên truyền bảo
vệ môi trường đảm bảo cho sự phát triển bền vững:
1.4.3.1 Thông tin nhanh chóng, kịp thời, phân tích, bình giá, nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên:
Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thực hiện mục đích của mình Thông tin trở thành cầu nối giữa công chúng và báo chí [60, tr.55-56]
Từ những hiện tượng, sự kiện nhỏ lẻ, nhưng qua phân tích dự báo khả năng phát triển tương lai, báo chí nói chung và báo in nói riêng đã chỉ ra được những thiếu sót, tồn đọng hay những điều đáng tuyên dương trong những hoạt động vì môi trường Đôi khi những phong trào chỉ phát sinh trong một khu vực nhỏ bé nhưng sau khi báo chí tuyên truyền nó đã trở thành ngày hội của toàn dân như phong trào tình nguyện trong thanh niên… hay những cơ quan
cố tình bao che cho việc tàn phá rừng, sau khi báo chí phát hiện đều phải chịu những hình phạt thích đáng…
Mỗi khi có các hiện tượng tiêu cực về môi trường hay những gương điển hình trong việc bảo vệ môi trường, các cơ quan thông tấn trong đó có báo in là những nguồn thông tin nhanh chóng, kịp thời chuyển đến bạn đọc Hoạt động này nhằm cung cấp bức tranh hiện thực về thực trạng môi trường
Trang 36Các số liệu, sự kiện, các hoạt động vi phạm, hoặc bảo vệ môi trường được báo chí phản ánh nhanh chóng, kịp thời và là cơ sở để giúp các cơ quan lãnh đạo, quản lý nắm bắt nhanh, bám sát thực tiễn, kịp thời chấn chỉnh những hoạt động vi phạm môi trường, biểu dương những việc làm tốt Hoạt động này đòi hỏi báo chí phải năng động, nhạy bén với thời cuộc, luôn có mặt nhanh nhất ở những điểm nóng để nắm tình hình, phát hiện những vấn đề mới mẻ, có ích, lên án những hành động đi ngược lại sự phát triển để phân tích và phản ánh kịp thời
Trong những năm vừa qua với những lợi thế khác nhau về cách truyền đạt thông tin, báo in đã góp phần nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về thiên nhiên và môi trường, về các chính sách của Nhà nước ta và các hoạt động trong công tác bảo vệ môi trường Điều nổi bật và có tác dụng rõ rệt là báo in
đã nêu nhiều vấn đề cụ thể và bức xúc, có tính phản ánh thực tiễn, kể cả các trường hợp nghiêm trọng, như các vụ phá rừng, các vụ việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (vụ Vedan) kéo dài trong nhiều năm…
Ngày nay, báo in không chỉ phản ánh kịp thời những sự kiện, sự cố về môi trường, mà còn gióng lên một hồi chuông thức tỉnh những con người đang thờ ơ với môi trường hãy cùng sắn tay chung sức bảo vệ, giữ gìn môi trường Như vậy, báo chí nói chung và báo in nói riêng không chỉ dừng lại ở việc đưa tin mà còn chỉ ra nguyên nhân, đề xuất biện pháp để phòng ngừa những hành vi tàn phá, hủy hoại môi trường Qua các tin, bài trên báo in, người dân không ngừng nâng cao nhận thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với môi trường mà mình sinh sống Đông đảo nhân dân và các tổ chức, cơ quan sản xuất dường như bừng tỉnh trước các bài phóng sự trên báo Lao động, Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Tài nguyên và Môi trường… về nạn xả rác, khai thác tài nguyên bừa bãi, làm ô nhiễm môi trường nước…
Trang 371.4.3.2 Phát hiện kịp thời những nhân tố tích cực và những tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên:
Báo chí nói chung và báo in nói riêng là phương tiện tuyên truyền phổ biến thông tin, kiến thức, cơ chế, chính sách pháp luật về tài nguyên môi truờng đến với người dân, các tổ chức, góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng; báo chí nói chung và báo in nói riêng đi sát thực thế, thông tin kịp thời
và phân tích sâu sắc những sự kiện mới, phát hiện và phản ánh trung thực những điển hình tiên tiến, nhiệt tình ủng hộ, cổ vũ những nhân tố mới; dũng cảm đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực khác để chỉ ra phương hướng giải quyết những vấn đề thiết thực của xã hội, xây dựng xã hội lành mạnh Để giải quyết vấn đề này, báo in nói riêng phải nhạy cảm, hiểu biết và chủ động tuyên truyền phân tích, giải thích, bình luận đường lối chính sách cho quần chúng biết, mặt khác phải dựa vào nhân dân [60, tr.86]
Thời gian gần đây, vai trò của báo in thể hiện rõ thông qua việc phản ánh kịp thời những vi phạm pháp luật của Công ty TNHH Vedan Việt Nam, Cty Miwon (Phú Thọ), Cty TungKuang (Hải Dương) Đó chỉ là một trong những vụ vi phạm môi trường có tính chất nghiêm trọng, có hệ thống Bên cạnh đó, báo in còn dẫn chứng nhiều vụ vi phạm môi trường như khói bụi, chất thải của một số khu công nghiệp, việc sử dụng thuốc trừ sâu quá giới hạn cho phép… ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của người dân Nếu như không có báo chí nói chung và báo in nói riêng kịp thời phát hiện và phản ánh, thì những vụ vi phạm môi trường này chỉ bó trong một phạm vi hẹp Khi
có báo chí đưa tin, phản ánh thì những tổ chức và cá nhân vi phạm này mới có những chấn chỉnh, từ đó mới có hành vi thay đổi hoạt động vi phạm của mình
Ngoài việc phản ánh những vi phạm môi trường, báo in còn tuyên truyền những gương người tốt, việc tốt, có những hoạt động góp phần bảo vệ
Trang 38môi trường, đó là: một thày giáo trường làng đã chế tạo ra lò đốt rác thải ngay tại miền quê mình Hay những sáng kiến nhằm thu gom thác rải chế biến thành phân vi sinh… của của một số cá nhân Những hoạt động trên góp phần tích cực vào sự thay đổi hành vi, thái độ của cá nhân và tập thể trong xã hội
1.4.3.3 Lưu giữ tài liệu để cho các phương tiện thông tin khác tiếp tục lấy cơ
sở tuyên truyền giáo dục về môi trường cho toàn xã hội:
Trong các loại hình phương tiện thông tin đại chúng hiện nay như: báo phát thanh; truyền hình, báo mạng điện tử, thì báo in là kho lưu trữ tài liệu phong phú, đa dạng, đồ sộ nhất mà ít có phương tiện nào có lợi thế này
Có thể nói, báo in có lịch sử ra đời mấy trăm năm nay Đây là loại hình thông tin đại chúng phổ biến trong mọi thời kỳ
Đặc điểm của báo Phát thanh, Truyền hình cũng như báo mạng điện tử
là phải có phương tiện máy móc, phải trực tiếp ngồi bên máy nghe, nhìn mới tiếp nhận được thông tin Trong khi đó, báo in, người ta có thể đọc đi đọc lại, cất giữ nó
Trong thời đại phát triển của các loại hình truyền thông, sự phát triển mạnh mẽ của báo Phát thanh, Truyền hình và báo mạng điện tử…, báo in vẫn
có thế mạnh của nó Chính điều đó khẳng định, dù báo in ra đời sớm nhất nhưng ngày nay vẫn còn tồn tại và phát triển Chính thế mạnh của nó làm cho báo in trở thành một loại hình truyền thông mà không có phương tiện nào có thể thay thế được
Tuy nhiên, để phát triển được trong một xã hội thông tin bùng nổ như ngày nay, báo in cũng cần có những cách tân, đổi mới nhằm phù hợp hơn với bạn đọc trong xã hội hiện đại Đó là cách tân về nội dung, hình thức thông tin, đổi mới cách thức làm báo in phù hợp với từng đối tượng bạn đọc và phải đón
Trang 39đầu bạn đọc mục tiêu Có như thế, báo in mới chiếm được thị trường và mới tăng được số lượng phát hành
Trong vấn đề bảo vệ môi trường, báo in cũng không ngừng cập nhật những thông tin mới, cụ thể để gia tăng sự tác động của báo chí đối với bạn đọc Theo đó, nên dùng nhiều thể loại khác nhau để tăng tính hấp dẫn
Tóm lại, môi trường liên quan mật thiết đến cuộc sống của chúng ta, nhưng hiện nay đang bị xuống cấp nghiêm trọng bởi bàn tay con người Hàng ngày hàng giờ những cánh rừng bạt ngàn tồn tại hàng trăm năm nay đang dần
bị thu hẹp, sự khai thác các nguồn tài nguyên bừa bãi đã dẫn đến đa dạng sinh học trên đất liền và trên biển bị suy giảm nghiêm trọng; nguồn nước ngầm cũng đang bị suy giảm và có nguy cơ cạn kiệt; tốc độ đô thị hóa tăng nhanh,
sự yếu kém trong quản lý khiến môi trường bị ô nhiễm nặng nề Mặc dù Đảng
và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách nhằm cải thiện điều kiện môi trường, phát triển môi trường theo hướng bền vững nhưng cho đến nay vẫn chưa thu hút được nhiều người quan tâm Vì vậy, để chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến được với người dân, thay đổi hành vi của người dân đối với môi trường cần có sự tuyên truyền rộng rãi, thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài Có như vậy mới nâng cao nhận thức về môi trường cho cộng đồng, tiến tới xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường Báo chí nói chung, báo in nói riêng là phương tiện tuyên truyền hữu hiệu giúp cho độc giả có thể nhìn nhận các vấn đề môi trường dưới những góc độ khác nhau
và tăng cường mối quan hệ giữa công chúng và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; để đa số cùng thống nhất ứng xử và suy nghĩ khắc phục những khủng hoảng và thách thức về sinh thái và môi trường Tuy nhiên, điều đáng bàn là thông tin về môi trường trên báo in thể hiện như thế nào? Đã đáp ứng được yêu cầu mong mỏi của Đảng, Nhà nước và người dân hay chưa?
Trang 40Phân tích điểm mạnh, hạn chế của báo in với việc thông tin về môi trường tự nhiên Từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền của báo in đối với vấn đề này
2.1.2 Nội dung khảo sát:
Khảo sát về số lượng, thể loại tác phẩm có nội dung liên quan đến vấn
đề bảo vệ môi trường trên 3 tờ báo được khảo sát
Trên cơ sở thống kê, phân loại các tác phẩm, khảo sát được phân chia theo những mảng cụ thể, những lĩnh vực môi trường tự nhiên để phân tích, đánh giá
Như vậy, trong nội dung khảo sát không những thống kê về mặt số lượng mà còn đi sâu phân loại, phân tích về chất lượng phản ánh Từ đó luận văn sẽ hình thành bức tranh tổng thể của báo chí phản ánh về vấn đề bảo vệ môi trường trên báo in
2.1.3 Phương pháp khảo sát:
Tập hợp, thống kê các tác phẩm báo chí viết về việc bảo vệ môi trường
tự nhiên trên các tờ báo được khảo sát để từ đó phân tích, đánh giá, nhận xét