1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội trong quá trình bảo vệ môi trường môi trường ở việt nam hiện nay

106 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 751,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra cả về lý luận và thực tiễn, với tính cấp bách và tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐINH HỒNG NHUNG

VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA

TỰ NHIÊN, CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Môi trường và công tác bảo vệ môi trường là vấn đề vô cùng quan trọng, có tính quyết định trong sự nghiệp phát triển, tiến hóa của nhân loại, liên quan mật thiết đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của con người Trong lịch sử tiến hóa văn minh của mình, con người đã biến đổi tự nhiên cùng với việc sản xuất và sáng tạo ra văn hoá Con người là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại và phát triển được nhờ có tự nhiên và môi trường, nhưng chính con người đã và đang phá vỡ môi trường sống của mình Những tác động gây ảnh hưởng đến môi trường ngày nay sẽ để lại hậu quả khôn lường cho con cháu mai sau Vì vậy, mục tiêu bảo vệ tự nhiên và môi trường còn được ghi vào hiến pháp của nhiều nước trên thế giới

Ở nước ta trong tiến trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề môi trường và công tác bảo vệ môi trường đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi trọng Tuy nhiên, trên thực tế môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh như: Không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, không

có quy hoạch, đa dạng sinh học bị đe dọa, phá vỡ, rừng bị tàn phá, đất đai xói mòn, chất thải công nghiệp không được qua xử lý, sự quá tải về mức độ ô nhiễm và căng thẳng về mật độ dân cư ở các khu dân cư, đô thị… Những vấn

đề đó không chỉ hàng ngày, hàng giờ đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của con người mà bên cạnh đó, còn gây hại lớn về kinh tế - xã hội, ảnh hưởng cả đến vấn đề chính trị, bảo vệ an ninh, thúc đẩy hội nhập quốc tế và sự tồn vong của quốc gia, dân tộc

Những thách thức môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng với tần suất ngày càng cao nói trên đã và đang đòi hỏi cộng đồng toàn cầu nói

Trang 3

chung và nước ta nói riêng phải có trách nhiệm và có ngay những hành động cụ thể bảo vệ môi trường Ô nhiễm và suy thoái môi trường là kết quả của một quá trình tác động lâu dài của con người và xã hội đối với tự nhiên

và nguyên nhân đều có cội nguồn từ con người và xã hội Chính vì vậy, cần phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của con người

và xã hội Điều này đòi hỏi sự luận giải, phân tích dưới góc độ triết học về mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu vẫn là

do chúng ta chưa có nhận thức đúng đắn về công tác bảo vệ môi trường và sâu xa là chưa nhận thức đầy đủ về mối quan hệ biện chứng, tất yếu khách quan giữa tự nhiên, con người và xã hội Chính vì vậy, từ nhận thức cơ chế, chính sách, pháp luật cho đến quá trình thực hiện công tác bảo vệ môi trường, yếu tố văn hoá không chỉ tác động chưa đầy đủ đến tư tưởng, tình cảm, hành

vi của con người mà thậm chí còn đứng ngoài mối quan hệ biện chứng giữa con người, tự nhiên và xã hội Trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên, con người đã và đang phá vỡ sự thống nhất biện chứng nói trên Công tác bảo

vệ môi trường do đó chưa được xem là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững

Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra cả về lý luận và thực tiễn, với tính cấp bách và tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội trong quá trình bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”, với hy vọng tìm ra được

những giải pháp nhằm góp phần nâng cao ý thức và thay đổi hành vi của con người đối với công tác bảo vệ môi trường và xây dựng văn hóa ứng xử môi trường cho người dân Việt Nam

Trang 4

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Vấn đề môi trường, công tác bảo vệ môi trường là một vấn đề đã được nhiều nhà khoa học tiếp cận, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể

như đề tài: “Quản trị môi trường” của tác giả Lê Huy Bá, đề tài “Môi trường

và ô nhiễm môi trường” của tác giả Lê Văn Khoa, đề tài “Cơ sở khoa học môi trường” của tác giả Lưu Đức Hải, đề tài “Môi trường sống và con người” của tác giả Nguyễn Đình Khoa, “Những quy định pháp luật về môi trường đô thị” của Nguyễn Thu Hương; “Sinh thái học môi trường” của tác giả Lê Hồng Hạnh; “Văn hóa sinh thái nhân văn” của tác giả Trần Lê Bảo;

“Môi trường và con người” của tác giả Nguyễn Thị Phương Loan, Nguyễn

Xuân Cự, “Khoa học công nghệ với nhận thức biến đổi thế giới và con người” của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm Sau khi tìm hiểu những tài liệu

liên quan, tác giả nhận thấy dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về môi trường cũng như công tác bảo vệ môi trường, nhưng đến thời điểm này chưa

có một đề tài nào nghiên cứu trực diện, cơ bản và hệ thống về đề tài: “Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội trong quá trình bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” Đề tài có sự tham khảo

những thông tin, tư liệu qua các phương tiện truyền thông và sự trải nghiệm, nghiên cứu thực tiễn của chính tác giả có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Chính vì vậy, đề tài không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước tới nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích:

Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội, để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp đối với công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội

+ Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội

để đánh giá thực trạng của công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay + Đề xuất một số giải pháp cơ bản đối với công tác bảo vệ môi trường theo hướng gắn bó tự nhiên, con người và xã hội ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa

tự nhiên, con người và xã hội trong công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu lịch sử vấn đề và những vấn đề trực

tiếp có liên quan đến môi trường, công tác bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

- Cơ sở lý luận - thực tiễn

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, các chính sách và pháp luật của Nhà nước về môi trường và công tác bảo vệ môi trường

- Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, nhưng chủ yếu là các phương pháp: Thu thập tài liệu, phân tích, so sánh, logic lịch sử, tổng hợp, khảo sát, tổng kết thực tiễn vấn đề

6 Đóng góp mới của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Đóng góp mới của đề tài

Trang 6

Hệ thống được vấn đề, làm rõ và đi đến khẳng định sự cần thiết phải vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội trong công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam

- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

+ Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn về mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội trong công tác bảo

vệ môi trường

+ Là cơ sở giúp gợi mở việc vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa

tự nhiên, con người và xã hội trong công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

+ Đề tài còn là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 7

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG

GIỮA TỰ NHIÊN, CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Tự nhiên

Tự nhiên, theo nghĩa rộng là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan Theo nghĩa này thì con người và xã hội loài người là những bộ phận, hơn nữa là những bộ phận không thể tách rời và đặc thù của tự nhiên Đồng thời tự nhiên còn được hiểu theo nhiều nghĩa hẹp khác nhau: Là đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên, là môi trường địa lý, môi trường sinh thái hay môi trường sống,…Bằng các con đường của vật lý học, vũ trụ học, hóa học, thiên văn học, địa lý - địa chất học, sinh vật học, người ta đều có thể chứng minh được sự hình thành và phát triển của giới tự nhiên, từ đó dần dần

đi sâu vào bản chất và tìm thấy sự thống nhất vật chất của nó ở mức độ vi mô, cũng như vĩ mô

Giới tự nhiên mà chúng ta nghiên cứu ở đây là giới tự nhiên có liên quan trực tiếp đến sự sống của con người - giới tự nhiên trong hệ thống “Tự nhiên, con người và xã hội”, đó chính là sinh quyển

Sinh quyển là một hệ thống cấu trúc phức tạp được tạo thành từ các bộ phận cơ bản:

- Tập hợp các cơ thể sống - tạo thành cái vỏ sống của hành tinh

Trang 8

- Các chất tạo nên sự sống và cần cho sự sống như: Nước, ôxy, nitơ, cacbon, phốt pho, lưu huỳnh, các nguyên tố vi lượng…

- Các sản phẩm hoạt động sống của tất cả các cơ thể, các chất thải bỏ qua quá trình trao đổi chất và xác chết của chúng

- Sinh quyển là sự thống nhất hữu cơ giữa sinh thể và những thành phần

vô cơ và hữu cơ tham gia vào quá trình sống

Sự sống đã tạo ra trong môi trường xung quanh nó những điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại của nó Mỗi bước phát triển của sự sống tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự phát triển tiếp theo của nó Sự xuất hiện của mỗi loài động vật, thực vật trên hành tinh chúng ta đánh dấu một nấc thang trong quá trình tiến hóa của tự nhiên, trong đó con người là nấc thang cao nhất Con người bước vào vũ đài của sự sống đúng vào lúc sinh quyển đã có những thuộc tính của một hệ thống tổng hợp sinh học ở mức cao nhất, có khả năng đạt năng suất sinh học lớn nhất và độ phát triển ổn định tối đa

1.1.2 Con người

Khi nghiên cứu con người và lý giải bản chất con người, chủ nghĩa Mác-Leenin cho rằng, con người là một thực thể “song trùng” bao gồm hai mặt tự nhiên (mặt sinh học) và mặt xã hội

Con người xuất hiện trong quá trình tiến hóa của sinh quyển, điều đó có thể là căn cứ để khẳng định rằng, con người là một sản phẩm của tự nhiên, là một dạng của vật chất sống Con người không chỉ là một sản phẩm của tự nhiên, mà hơn thế, còn là sản phẩm cao nhất của sự tiến hóa của vật chất vì

bộ óc là sản phẩm cao nhất của vật chất Trong quá trình sống, con người không chỉ tác động vào tự nhiên, làm biến đổi thế giới tự nhiên, mà còn quan

hệ với nhau thông qua quá trình hoạt động thực tiễn và thâm nhập vào các quan hệ xã hội, từ đó tạo nên bản chất người, làm cho con người khác với các loài động vật Với bản chất xã hội, con người gắn bó chặt chẽ với đồng loại

Trang 9

không thể tách rời; đồng thời qua các mối quan hệ xã hội, cá nhân tự khằng định mình với đầy đủ tính cách của nó Như vậy, “bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.”[30, tr.39] Như vậy, về nguồn gốc, con người từ tự nhiên mà ra, về cấu trúc của thế giới con người là một bộ phận, hơn nữa là một bộ phận đặc thù của tự nhiên Đặc thù bởi vì, con người với tư cách là một thực thể sinh học tồn tại trong tự nhiên như bất kỳ một động vật cao cấp nào khác Song, con vật lấy cái có sẵn trong tự nhiên một cách bản năng theo tính loài trong khi con người lao động làm biến đổi tự nhiên và nhờ có lao động mà ngôn ngữ phát triển, con người dần tự ý thức được về mình, dần tách mình ra khỏi thế giới động vật và cùng với môi trường tự nhiên vốn có, con người còn tạo ra cho mình một môi trường sống mới - môi trường xã hội hay môi trường tự nhiên

đã được “người hóa”, nói như C.Mác là “những lực lượng bản chất người” hay “trình độ người trong phát triển”[29, tr.657]

1.1.3 Xã hội

Xã hội là hình thức vận động cao nhất của vật chất Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng C.Mác đã viết: “Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người”[28, tr.67] Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên, bằng hoạt động có ý thức của mình, con người đã làm nên lịch sử, tạo ra xã hội Do đó

xã hội không thể là cái gì khác, mà chính là một bộ phận đặc biệt, được tách

ra một cách hợp quy luật của tự nhiên, là hình thức tổ chức vật chất cao nhất trong quá trình tiến hóa liên tục, lâu dài và phức tạp của tự nhiên

Tự nhiên, con người và xã hội là ba dạng cấu trúc vật chất khác nhau,

đã xuất hiện theo một trật tự, tiến hóa hữu cơ, liên hoàn, chặt chẽ Ba dạng

Trang 10

cấu trúc vật chất đó đã hợp thành một hệ thống vật chất thống nhất, hệ thống

“Tự nhiên, con người và xã hội”

Các yếu tố Tự nhiên, con người và xã hội có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, chúng luôn vận động, tác động lẫn nhau và luôn biến đổi Mối quan hệ và sự vận động đó có quy luật và tuân theo quy luật Đó là những quy luật về cấu trúc, về chức năng, về cơ chế và về sự vận động, phát triển Quá trình phát triển tự nhiên, con người và xã hội được cụ thể ra là quá trình sản xuất, sáng tạo ra văn hoá của con người Mối quan hệ của văn hoá và xã hội có cội nguồn từ bản chất của xã hội, của con người và đều có điểm xuất phát chung từ tự nhiên, môi trường Sự tác động giữa văn hoá, xã hội thông qua hoạt động của con người ở chỗ: con người tác động qua lại giữa văn hoá

- xã hội thông qua hoạt động của chính mình điều đó cũng có nghĩa là bằng văn hóa con người đã biến đổi tự nhiên, đồng thời tạo nên một tự nhiên - xã hội, duy trì các quan hệ xã hội bằng các chuẩn mực và giá trị, cái gọi là văn hóa môi trường

Cấu trúc liên hoàn, chặt chẽ, ổn định và bền vững của sinh quyển là cơ

sở bảo đảm sự thống nhất của các mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống: “Tự nhiên, con người và xã hội” một cách nói khác về tính thống nhất vật chất của thế giới Cơ chế hoạt động của chu trình sinh học hay chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin trong sinh quyển là cơ chế bảo đảm

sự thống nhất về mặt chức năng hoạt động của hệ thống đó phù hợp với cấu trúc của nó Không có bất kỳ một tổ chức vật chất sống nào từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, từ đơn bào đến đa bào, đến con người và xã hội để đảm bảo phát triển lại không tham gia vào chu trình sinh học Hoạt động của chu trình sinh học tuân thủ theo nguyên tắc tự tổ chức, tự điều chỉnh, tự bảo vệ và

tự làm sạch, theo một trật tự liên hoàn chặt chẽ, trong đó mọi thành viên đều

có “nghĩa vụ” và “quyền lợi” rõ ràng

Trang 11

Theo điều 1, Luật Bảo vệ môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người

và thiên nhiên”.[27, tr.52]

Ô nhiễm môi trường: Là xuất hiện các chất lạ trong một hợp phần nào đó của môi trường (trước hết là do hoạt động của con người) gây phương hại đến con người và sinh vật khác Nói cách khác, ô nhiễm là hiện tượng gây nên do hoạt động của con người dẫn đến sự thay đổi các nhân tố sinh thái

Bảo vệ môi trường: Là tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất nước, không khí, khí hậu…)

1.1.5 Môi trường sinh thái

Sinh thái theo tiếng Hy Lạp là “Oikos” có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống Sinh thái học là “Oikoslogos”, ở đây “Logos” có nghĩa là khoa học, học thuyết Như vậy, sinh thái học theo nguồn gốc của thuật ngữ từ tiếng

Hy Lạp chính là học thuyết hay khoa học về nơi cư trú, chỗ ở hay về “điều kiện nhà ở” của sinh vật Ngày nay có đến hàng trăm định nghĩa khác nhau về sinh thái học, song nguồn gốc thuật ngữ của nó vẫn còn có giá trị Theo cách hiểu chung nhất được nêu ra trong các tài liệu khoa học và phổ biến kiến thức thì định nghĩa sinh thái học - tiếng anh là Ecology - có cái cốt lõi chung đó là

Trang 12

khoa học về các mối quan hệ qua lại và có tác động lẫn nhau giữa các cơ thể sống với môi trường xung quanh chúng Cơ thể sống là tất cả mọi sinh vật, từ

bé nhất, đơn giản nhất như những cơ thể đơn bào, đến những cơ thể to nhất,

có cấu tạo phức tạp như con voi, cá voi, cá mập, cá heo…cho đến con người Đặc trưng chung của các cơ thể sống là sự sống, được biểu hiện thông qua các quá trình trao đổi chất, năng lượng và thông tin; quá trình di truyền và biến dị; quá trình thích nghi, quá trình sinh - lão - bệnh - tử Còn môi trường xung quanh hay môi trường sống là toàn bộ các điều kiện vô cơ hoặc hữu cơ

có liên quan đến sự sinh tồn của cơ thể sống Như vậy sinh thái học và phép biện chứng rất gần nhau Nếu như phép biện chứng nghiên cứu mối liên hệ phổ biến và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy thì sinh thái học nghiên cứu các mối liên hệ ở phạm vi hẹp hơn: Giữa cơ thể với môi trường sống của nó

Qua định nghĩa về sinh thái và sinh thái học cho phép chúng ta rút ra những hiểu biết về môi trường sinh thái

Như vậy, Môi trường sinh thái bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể Đối với con người, môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ, có liên quan đến sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội

1.2 Cơ sở triết học - xã hội của mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội

Tự nhiên, con người và xã hội là vấn đề của mọi thời đại, nó luôn vận động, phát triển cái cũ mất đi và cái mới nảy sinh dưới tác động của những điều kiện lịch sử cụ thể Để có những phương sách tích cực giải quyết các vấn

đề về môi trường sinh thái, trước hết cần phải có những nghiên cứu về lý luận, để tìm ra và luận giải cơ sở triết học của mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội

Trang 13

1.2.1 Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội

Trong lịch sử triết học có nhiều quan điểm khác nhau về thế giới: Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, thừa nhận thế giới này là tinh thần, là ý thức, là

“Ý niệm tuyệt đối” hay “Phức hợp cảm giác” Theo quan điểm này thì con người sẽ không thể cải biến được thế giới và càng không thể sống hòa hợp được với tự nhiên Bởi vì, tất cả thế giới tự nhiên, kể cả con người đều là sản phẩm của thế giới tinh thần, của bộ óc đã được an bài, định sẵn

Quan điểm của triết học duy vật siêu hình, mặc dù cho rằng thế giới này

là vật chất, nhưng lại phủ nhận sự vận động và phát triển của nó từ đơn giản đến phức tạp, không thừa nhận xã hội là vật chất đang vận động; nên cũng không thể nào thống nhất được xã hội và tự nhiên

Chủ nghĩa Đácuyn - xã hội và chủ nghĩa Mantuyt lại quy con người chỉ

về bản tính tự nhiên của sinh vật Quan điểm này đã đánh đồng vai trò của tất

cả các yếu tố trong hệ thống “Tự nhiên, con người và xã hội”

Khác với các quan điểm trên, triết học Mác đã nghiên cứu con người và

tự nhiên trong sự thống nhất hữu cơ giữa chúng, đồng thời cũng chỉ ra sự khác nhau về chất giữa con người xã hội với tự nhiên Tự nhiên có ảnh hưởng

to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội Chính tự nhiên, nhờ lao động tác động vào tự nhiên mà con người là một sinh vật xã hội, mang bản chất người hay trình độ người trong phát triển, đúng như C.Mác đã

có lần nhận xét

Tư tưởng này đã được thể hiện sinh động trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen khi phê phán quan niệm của E.Đuyrinh cho rằng: Tính thống nhất vật chất của thế giới là ở sự tồn tại của nó Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tính thống nhất vật chất của thế giới không phải ở sự tồn tại của

nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhất của nó, vì trước khi thế giới

Trang 14

có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã…Tính thống nhất của thế giới thực sự là ở tính vật chất của nó, tính thống nhất vật chất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò

ảo thuật mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”[28, tr.89]

Ph.Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh tính thống nhất vật chất của thế giới nằm trong sự vận động, chuyển hóa và phát triển không ngừng: “Vận động là cách thức tồn tại của vật chất, bất kỳ ở đâu và bất kỳ lúc nào cũng không có

và không thể có vật chất mà không có vận động”[28, tr 265].

Thế giới vật chất muôn màu, muôn vẻ, vô cùng phức tạp và được tạo thành từ nhiều yếu tố, trong đó có ba yếu tố cơ bản đó là: Giới tự nhiên, con người và xã hội loài người Ba yếu tố đó thống nhất với nhau trong một hệ thống “Tự nhiên, con người và xã hội”, bởi vì chúng đều là những dạng thức khác nhau, những trạng thái, những đặc tính và những quan hệ khác nhau của vật chất đang vận động

Thế giới luôn vận động, nhưng lại luôn ổn định, vì sự vận động của thế giới bao gồm tự nhiên, xã hội và con người là sự vận động có quy luật và tuân theo quy luật Cũng chính nhờ hoạt động theo các quy luật đó đã gắn kết các yếu tố của thế giới thành một chỉnh thể thống nhất, vĩnh viễn vận động và phát triển không ngừng trong không gian và theo thời gian

Tóm lại, nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới được Ph.Ăngghen khẳng định rằng: Tuy thế giới cực kỳ phức tạp và đa dạng nhưng chúng là một chỉnh thể toàn vẹn vì chúng đều được cấu thành từ vật chất, bằng sự vận động, các yếu tố của thế giới đã gắn liền với nhau thành một hệ thống Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở triết học gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên, con người và xã hội” Sự thống nhất này được thực hiện nhờ chu trình tuần hoàn vật chất

Trang 15

trong tự nhiên Một cách cụ thể hơn, cơ chế vận động của hệ thống “Tự nhiên, con người và xã hội” chính là chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên (chu trình sinh - lý - hóa - địa) Chu trình tuần hoàn vật chất gồm 5 thành phần cơ bản:

Một là: Các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và

con người với số lượng ngày càng tăng

Hai là: Sinh vật sản xuất (thực vật) có chức năng tổng hợp chất hữu cơ

từ các chất vô cơ dưới tác động của ánh sáng mặt trời, thông qua quá trình quang hợp của cây xanh

Ba là: Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn,

bao gồm động vật cấp 1 và động vật cấp 2 tạo ra các chất thải

Bốn là: Sinh vật phân hủy (vi sinh vật) có chức năng phân hủy các chất

thải, chuyển chúng thành các chất vô cơ đơn giản

Năm là: Con người và xã hội loài người

Trong bốn thành phần (Chất vô cơ, vật sản xuất, vật tiêu thụ, vật phân hủy) trong chu trình sinh - lý - địa - hóa được xem là yếu tố tự nhiên của hệ thống “Tự nhiên, con người và xã hội”

Trong mối quan hệ tự nhiên, con người và xã hội cụ thể nói trên, mỗi yếu tố đều có vai trò nhất định, hiểu thấu đáo nó sẽ là cơ sở cho công tác bảo

vệ môi trường: Yếu tố con người giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi vì con người là chủ thể tích cực, là yếu tố trực tiếp thực hiện sự thống nhất biện chứng giữa xã hội và tự nhiên Yếu tố xã hội và con người là hình thức tổ chức cao nhất trong quá trình tiến hóa liên tục, lâu dài và phức tạp của tự nhiên, nên có tính quyết định đối với sự biến đổi tự nhiên Yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to lớn đến sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội Tự nhiên là môi trường sống của con người và xã hội loài người, là điều kiện cần thiết đối với xã hội, có tính lịch sử cụ thể cùng với sự phát triển của xã hội

Trang 16

Có thể khẳng định rằng: Tự nhiên, con người và xã hội là ba dạng cấu trúc vật chất khác nhau đã xuất hiện, tiến hóa hữu cơ, tuân theo một trật tự chặt chẽ, hợp thành một hệ thống vật chất thống nhất: Hệ thống “Tự nhiên, con người và xã hội” Các dạng cấu trúc này có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, tuân theo quy luật một cách nghiêm ngặt Đó chính là những quy luật về cấu trúc và chức năng của thế giới sống

Nghiên cứu nguyên lý thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội, từ đó chúng ta có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

Một là, phải có quan điểm hệ thống, toàn diện và phát triển trong việc

giải quyết mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người và xã hội với tự nhiên, vấn đề môi trường sinh thái hiện nay

Hai là, phải biết xây dựng những phương sách thích hợp cần thiết để

giải quyết những mâu thuẫn giữa con người (xã hội) và tự nhiên đầu tiên là lĩnh vực sản xuất vật chất Đó là giải quyết các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với sự gia tăng dân số, khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường

Ba là, trong mọi hoạt động con người phải hướng đến thực hiện chiến

lược phát triển bền vững với ba mục tiêu cơ bản (kinh tế - xã hội - nhân văn

và môi trường) Về kinh tế phải tăng trưởng nhanh và bền vững; về xã hội nhân văn phải đảm bảo công bằng xã hội và bình đẳng xã hội, đảm bảo tốt chỉ tiêu phát triển con người (HDI); về môi trường, phải bảo vệ, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sống

Bốn là, con người cần phải nhận thức đúng đắn về môi trường sống

của mình để có hành động thiết thực bảo vệ môi trường theo phương châm: biết sống thân thiện hơn với tự nhiên cả trong suy nghĩ, tư duy và hoạt động thực tiễn

Trang 17

1.2.2 Nguyên lý về sự vận động, biến đổi và phụ thuộc lẫn nhau của mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội vào trình độ phát triển của xã hội trong quá trình lịch sử - tự nhiên

Mối quan hệ giữa con người, tự nhiên và xã hội luôn vận động, biến đổi trong suốt quá trình tiến hóa của lịch sử - tự nhiên; Sự vận động và biến đổi của các yếu tố này được biểu hiện ở những điểm chủ yếu sau:

Một là, các yếu tố con người, xã hội và tự nhiên luôn thống nhất với

nhau trong hệ thống “Tự nhiên, con người và xã hội” nhờ cơ chế vận động của chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Sự thống nhất đó không phải

là vĩnh viễn cố định mà luôn vận động, biến đổi trong suốt tiến trình lịch sử

tự nhiên, bởi vì cả tự nhiên và xã hội đều có một quá trình lịch sử lâu dài và phức tạp; sự vận động của lịch sử xã hội là sự tiếp tục và phát triển song hành cùng với lịch sử của tự nhiên

Hai là, các yếu tố tự nhiên, con người và xã hội có mối quan hệ biện

chứng với nhau Bởi lẽ, từ khi xuất hiện con người và xã hội loài người, lịch

sử phát triển của tự nhiên không còn thuần túy, mà còn chịu sự chi phối, tác động ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc của các yếu tố xã hội Ngược lại, sự phát triển của lịch sử xã hội không thể tách rời các yếu tố tự nhiên Bởi vì tự nhiên

là môi trường sống của con người và xã hội loài người, là điều kiện, tiền đề tồn tại và phát triển của xã hội và con người Như vậy: “Chỉ có trong mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên, con người mới làm nên lịch sử của mình - lịch

sử xã hội”[28, tr.264]

Ba là, mối quan hệ giữa tự nhiên, con người và xã hội lại có sự quy

định lẫn nhau: Sự quy định lẫn nhau được biểu hiện ở chỗ, tự nhiên là môi trường sống của con người và mối quan hệ của con người và tự nhiên phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển của xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển xã hội, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của mình, không có cách

Trang 18

nào khác là con người phải tác động, khai thác tất cả những gì mình cần ở môi trường tự nhiên; con người sống và luôn gắn bó với môi trường tự nhiên

và với môi trường xã hội (lịch sử), hai môi trường tự nhiên và xã hội không thể tách rời nhau trong quá trình làm nên lịch sử của con người Vì vậy, C.Mác đã khẳng định: “Chừng nào con người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử của tự nhiên quy định lẫn nhau”[30, tr.25]

Như vậy, các yếu tố tự nhiên và con người (xã hội) vừa thống nhất, vừa quy định lẫn nhau; mối quan hệ giữa con người (xã hội) và tự nhiên luôn vận động và biến đổi theo sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội

Bốn là, trong mối quan hệ đó, con người là nhân tố xã hội - nhân văn

đầu tiên và là trung tâm của mọi hoạt động xã hội

Điều này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Con người không chỉ làm nên lịch sử mà bản thân con người cũng chính là tiền đề đầu tiên của lịch sử”[30, tr.29] Và con người đã làm nên lịch sử xã hội của mình ngay chính trong môi trường tự nhiên, đúng như một nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh: “Ngay từ đầu tự nhiên con người đã là tiền đề của lịch sử” [42, tr.18] Điều này sẽ càng được thấy rõ khi nghiên cứu lịch sử tiến hóa của loài người: Chính bản thân con người là một bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm tiến hóa đặc biệt của tự nhiên, là chủ thể tích cực trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tự nhiên, con người và xã hội; còn tự nhiên chính là môi trường sống, là nguồn cung cấp vật chất, năng lượng, thông tin cho con người hoạt động Như vậy, tự nhiên và con người (xã hội) vừa thống nhất vừa quy định lẫn nhau, trong mối quan hệ đó, con người là nhân tố xã hội - nhân văn đầu tiên

và trung tâm của mọi hoạt động xã hội

Mối quan hệ giữa con người (xã hội) và tự nhiên phụ thuộc vào trình

độ phát triển của xã hội trong tiến trình lịch sử tự nhiên

Trang 19

Triết học Mác đã khẳng định: “Mỗi một hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử đều có một phương thức sản xuất cơ bản đặc trưng Mỗi một phương thức sản xuất nhất định trong lịch sử là sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất” [41, tr.17] Theo cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội đối với lịch

sử xã hội của Các Mác, trình độ phát triển của xã hội gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất phù Và quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất là thước đo của sự phát triển xã hội

Thực tiễn phát triển lịch sử loài người đã cho thấy: Cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất (đổi mới công cụ lao động) và cuộc cách mạng xã hội (giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất), các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người đã không ngừng biến đổi, đưa đến sự thay đổi về chất của xã hội loài người lẫn sinh quyển và được biểu hiện ở những điểm sau:

Một là, cuộc cách mạng lực lượng sản suất lần thứ nhất - với việc tìm

ra lửa và biết sử dụng lửa đã đưa con người thoát khỏi động vật

Trong buổi đầu sơ khai của lịch sử, công cụ sản xuất còn quá thô sơ (hòn đá, cành cây) Thời kỳ sơ khai này con người sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Xã hội loài người thời kỳ này về cơ bản không khác nhiều so với các loài động vật khác, phương thức sống của con người chỉ biết tận dụng những sản phẩm sẵn có của tự nhiên bằng cách săn bắt và hái lượm Chỉ từ khi tìm ra lửa (cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất lần thứ nhất), con người đã thoát khỏi trình độ động vật, bắt đầu tự khẳng định mình như một chủ thể; còn tự nhiên là đối tượng để con người tác động Tuy nhiên ở thời kỳ này do dân số còn ít, con người tác động vào tự nhiên chưa nhiều, con người sống hài hòa với tự nhiên, cũng chưa có sự đối lập giữa con người với con

Trang 20

người Đó là là đặc trưng môi trường sống duy nhất của người nguyên thủy: Một sinh quyển đơn sơ, một xã hội không có đối kháng giai cấp,

Hai là, cuộc cách mạng lực lượng sản xuất lần thứ hai, thứ ba, thứ tư

đã chuyển con người từ thời kỳ đồ đá sang nền văn mình nông nghiệp, công nghiệp

Với công cụ sản xuất bằng kim loại (sắt, đồng) đầu tiên là công cụ cơ khí thủ công, con người đã biết khai thác tự nhiên chủ động và tích cực hơn trước, biết thuần hóa được nhiều giống vật nuôi, cây trồng để sinh sống Tiếp đến là cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất lần thứ ba, thứ tư với sự ra đời của công cụ bằng cơ khí máy móc (sự ra đời của máy hơi nước) và máy móc tự động hóa đã chuyển xã hội loài người từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp, tương ứng là sự xuất hiện của xã hội tư bản Giai đoạn này được xem là nấc thang thứ hai của sự phát triển xã hội Thời kỳ này con người đã sử dụng máy móc kỹ thuật vào khai thác tự nhiên ngày càng tinh xảo với tốc độ chưa từng có trong lịch sử, kéo theo nó là môi trường sinh thái dần bị suy thoái nặng nề hơn

Như vậy, với sự phát triển của lực lượng sản xuất (từ công cụ cơ khí thủ công, sau đó là cơ khí máy móc và công nghệ máy móc tự động hóa) con người đã khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên ngày càng tăng Thực trạng này kéo theo sự phá hủy, ô nhiễm môi trường tự nhiên của con người, làm xuất hiện mâu thuẫn giữa con người (xã hội) và tự nhiên Và hệ quả tiếp theo

là, tự nhiên đã trả thù con người bằng những cuộc khủng hoảng sinh thái cục

bộ như: động đất, sóng thần và nguy hiểm hơn là hiện tương gia tăng hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu toàn cầu

Ba là, cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất lần thứ năm (công nghệ thông tin hay công nghệ trí tuệ) được xem là nấc thang phát triển thứ ba của xã hội loài người

Trang 21

Thời kỳ này công nghệ thông tin hay công nghệ trí tuệ được xem là nấc thang phát triển thứ ba của xã hội loài người, đã giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển lực lượng sản xuất xã hội Và ở nấc thang phát triển cao này mâu thuẫn giữa con người mới từng bước được giải quyết, nhằm bảo đảm mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Cho nên có thể khẳng định: “Cuộc cách mạng lực lượng sản xuất lần thứ năm đã thật sự dẫn đến sự biến đổi sâu sắc

về chất mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người trong xã hội”[41, tr.25] Đó là mối quan hệ hài hòa giữa con người với tự nhiên và quan hệ công bằng, bình đẳng cùng có lợi giữa con người với con người trong xã hội hiện đại

Qua nghiên cứu nguyên lý về sự vận động, biến đổi và phụ thuộc của mối quan hệ con người (xã hội) và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội trong quá trình lịch sử - tự nhiên cho thấy rằng:

“Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người luôn vận động và biến đổi không ngừng và luôn gắn kết, phụ thuộc và quy định lẫn nhau”[41, tr.27] Và giải quyết những mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên (biểu hiện ra sự phát triển của lực lượng sản xuất) là tiền đề và điều kiện cần thiết để giải quyết những mâu thuẫn giữa con người với con người (biểu hiện qua sự vận động của quan hệ sản xuất) và ngược lại Cho nên, trong thực tiễn “khi giải quyết các mối quan hệ qua lại giữa sự tác động lẫn nhau giữa con người với tự nhiên phải căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phù hợp với nó là sự phát triển của quan hệ sản xuất, nghĩa là phải căn cứ vào điều kiện lịch sử - cụ thể”[42, tr.18].

Muốn giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người (xã hội) và tự nhiên thì trước hết: Con người - nhân tố có ý thức duy nhất, chủ thể tích cực trong việc điều khiển các mối quan hệ giữa con người (xã hội) và tự nhiên

Trang 22

cần phải nhận thức cho được những quy luật tồn tại và phát triển của giới tự nhiên và phải biết vận dụng một cách đúng đắn, chính xác và tự giác những quy luật đó vào hoạt động thực tiễn của xã hội, mà quan trọng nhất là lĩnh vực sản xuất Bởi vì như Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: “…chúng ta, khác với các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được các quy luật của giới tự nhiên

và có thể sử dụng được các quy luật một cách chính xác”[29, tr.165] Thực tế sinh động này là một bước ngoặt, bước nhảy vọt, khác biệt về chất của con người so với các sinh vật khác trong quá trình tiến hóa của lịch sử tự nhiên

1.2.3 Nguyên lý về sự phát triển bền vững

Để khắc phục được những nguy cơ suy thoái môi trường sống của loài người ngày càng tăng, ngay từ thế kỷ XX các hội nghị bàn về môi trường toàn cầu đã diễn ra: Mở đầu là hội nghị bàn về môi trường toàn cầu (tại Stockholm - Thụy Điển năm 1972) đã đưa vấn đề bảo vệ môi trường như một nhu cầu mới, cấp thiết của sự phát triển xã hội Ngay từ hội nghị này sự phát triển bền vững được xem là nguyên tắc phát triển mới của xã hội hiện đại Tiếp đến là hội nghị của Liên Hợp Quốc về “Môi trường và Phát triển” tại Rio de Janeiro - Brazin (1992) của 178 quốc gia với mục tiêu chung là phát triển bền vững Và gần đây là hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc

về môi trường và phát triển bền vững năm 2002 tại Johannesburng - Nam Phi với 192 nguyên thủ Quốc gia đã đưa ra hai văn kiện quan trọng mang tính toàn cầu là “Tuyên bố chính trị” và “Kế hoạch thực hiện” với ba mục tiêu phát triển bền vững: Kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường và Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về môi trường được tổ chức tại Rio de Janeiro vào tháng 6 năm 2012 vừa qua của 190 quốc gia cam kết thực hiện hành động để thúc đẩy phát triển bền vững và nâng hằng tỉ người ra khỏi tình trạng nghèo khó

Trang 23

Do vậy phát triển bền vững là một trong những nguyên lý quan trọng

của mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, “một triết lý mới của xã

hội loài người”[42, tr.21]

Có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển bền vững, song đều thống

nhất và tập trung là: “Phát triển bền vững là sự phát triển kết hợp cả 3 mặt:

Kinh tế, xã hội và môi trường, nhằm sung túc hóa nhu cầu của đời sống con

người trong hiện tại mà không tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của

các thế hệ tương lai”[42, tr.23] Nghĩa là phát triển kinh tế phải luôn gắn liền

với bảo vệ môi trường và công bằng xã hội ở các cấp độ địa phương, quốc

gia, khu vực và toàn cầu

Sự phát triển bền vững của một xã hội phải được đánh giá bằng các tiêu

chí nhất định trên cả ba mặt: 1 - Về kinh tế: Tăng trưởng nhanh nhưng phải

an toàn 2 - Về xã hội - nhân văn: Phải không ngừng nâng cao đời sống vật

chất, tinh thần của con người, thực hiện dân chủ, công bằng và bình đẳng xã

hội; bảo đảm chỉ số phát triển con người (HDI) với các số đo về hệ số thu

nhập trung bình, các tiêu chí về giáo dục, dịch vụ y tế, tuổi thọ trung bình và

hoạt động văn hóa 3 - Về môi trường: Bảo vệ và không ngừng cải thiện chất

lượng môi trường sống; sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo

đảm các chức năng của môi trường

Ở Việt Nam phát triển bền vững đã trở thành quan điểm của Đảng và

chính sách Nhà nước được thể hiện trong các văn kiện Đại hội lần thứ VIII

của Đảng năm 1996, văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng năm 2001 và được

phát triển tiếp tục ở văn kiện đại hội lần thứ X của Đảng năm 2006, trong

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 là: “Phát triển bền

vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, giữ gìn và cải thiện môi trường,

giữ vững và ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng” [4, tr.11] Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam: “Phát triển bền

Trang 24

vững gồm 4 nhóm mục tiêu lớn: Môi trường, kinh tế, chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng Các mục tiêu này có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, là nguyên nhân và hệ quả của nhau”[4, tr.17].

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã nhấn mạnh: “…Phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trách nhiệm của hệ thống chính trị và của toàn xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch Coi trọng nghiên cứu và dự báo, thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu Bảo vệ

và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia Đặc biệt chú trọng phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược”[5, tr.30]

Như vậy, mặc dù khái niệm “phát triển bền vững” được sử dụng trong các tài liệu khác nhau, song về thực chất phát triển bền vững là mối liên kết gắn bó, hữu cơ không thể tách rời giữa con người - xã hội và tự nhiên (sinh quyển - môi trường), ở đó con người là thành viên của môi trường, là cơ cở tự nhiên - xã hội của toàn bộ sự sống trên trái đất Cụ thể hơn là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Mối liên kết này được khẳng định trong nguyên tắc thứ 13 của tuyên bố Stockholm năm 2002:

“Nhằm đạt được quản lý tài nguyên hợp lý và tiến đến cải thiện môi trường, các quốc gia cần phải chấp thuận cách tiếp cận tổng hợp và phối hợp trong quy hoạch nhằm đảm bảo phát triển phải phù hợp với nhu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường vì lợi ích của nhân dân các nước”[42, tr.27] Và nguyên tắc thứ 4 của tuyên bố này là: “Phát triển bền vững với bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là bộ phận cấu thành của quá trình phát triển bền vững, không thể xem xét tách rời quá trình đó”[42, tr.29]

Trang 25

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề môi trường - công tác bảo vệ môi trường

Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo nguyên lý của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội vào việc xây dựng các quan điểm, đường lối, chính sách của Việt Nam về phát triển bền vững và được thể hiện trong các kỳ đại hội của Đảng, đó là: Đại hội lần thứ IX (2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định

“…Phát triển nhanh hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, giữ vững và ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng”[3, tr.15] Nghĩa là quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam bao gồm 4 nhóm mục tiêu lớn: Môi trường, kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng Các mục tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, là nguyên nhân và

hệ quả của nhau

Nghị quyết Đại hội X (2006) Đảng ta nhấn mạnh: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2011 là “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, đảm bảo phát triển nhanh và bền vững, ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng”[4, tr.20]

Đại hội lần thứ XI (2011) Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân là: “…Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh, vững bước

đi lên chủ nghĩa xã hội” Trong văn kiện đã nhấn mạnh quan điểm phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam là: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược.” Cụ

Trang 26

thể là “phát triển kinh tế nhanh nhưng phải bền vững, phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu”[5, tr.152].

Đặc biệt, mục tiêu đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra là: “Cải thiện chất lượng môi trường, đến năm 2020 tỷ lệ che phủ rừng đạt 45% (kể cả cây công nghiệp lâu năm); sử dụng nước sạch ở hầu hết đô thị và nông thôn, cơ sở kinh doanh phải áp dụng công nghệ sạch, 80% cơ sở kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường, 95% chất thải rắn, 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn.”

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là quyền lợi

và nghĩa vụ của mỗi công dân và trách nhiệm của toàn xã hội, là văn hóa, đạo đức mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước của mỗi con người Vì vậy, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là một tất yếu khách quan của xã hội hiện đại

1.4 Sự cần thiết của việc vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội trong công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

1.4.1 Xuất phát từ yêu cầu khách quan đối với vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay

Dân số Việt Nam hiện nay 80% đang kiếm sống từ đất đai, điều này khiến họ trực tiếp phụ thuộc vào chất lượng và số lượng của tài nguyên thiên nhiên hiện có Tốc độ tăng dân số cùng với quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế cũng đang tạo ra sức ép ngày càng tăng đối với môi trường ở Việt Nam

Trang 27

Theo nhiều báo cáo nghiên cứu rừng ở nước ta có chiều hướng suy thoái so với hơn nửa thế kỷ trước, chất lượng rừng giảm sút Sự đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển bị suy giảm, địa bàn cư trú của các loài động vật hoang dã bị thu hẹp và chia cắt Nhiều loại động vật quý hiếm bị săn bắt

và có nguy cơ tuyệt chủng cao Nguồn nước bị ô nhiễm, nước ngầm đang bị cạn kiệt dần về lượng, bị ô nhiễm và suy giảm về chất lượng, do tình trạng khai thác bừa bãi

Mặt khác, môi trường ở các khu công nghiệp và đô thị ngày càng bị ô nhiễm và xuống cấp nghiêm trọng Mức độ ô nhiễm về không khí, bụi và các khí thải độc hại nhiều nơi vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần

Sự suy thoái môi trường nông thôn cũng ngày càng tăng do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng yếu kém Cùng với đó là việc sử dụng không hợp lý các loại hóa chất nông nghiệp, sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống và công nghiệp chế biến lạc hậu ở một số vùng nông thôn cũng gây ô nhiễm môi trường

Trong những năm gần đây sự cố môi trường, tai biến thiên nhiên có chiều hướng gia tăng: lũ quét trên các sông, suối, bão lốc, mưa đá, mưa axit, hạn hán kéo dài, nứt sụt đất, đất đai xói mòn đã gây thiệt hại lớn về người và của làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân ở nhiều nơi

Hậu quả của chất độc hóa học do chiến tranh để lại ở một số địa phương còn nhiều nặng nề, hàng vạn trẻ em bị dị tật bẩm sinh, hàng triệu ha rừng bị suy thoái Ngộ độc thực phẩm thời gian gần đây đang có chiều hướng gia tăng và gây hậu quả nghiêm trọng cho hàng vạn người

Tác động của môi trường toàn cầu như vấn đề khai thác rừng, buôn bán động vật hoang dã, ô nhiễm tầng khí quyển, ô nhiễm biển đại dương cũng đã

và đang diễn ra, gây nguy cơ, tác động xấu không chỉ đến đời sống người dân Việt Nam mà cả nhân loại nói chung

Trang 28

Để giải quyết những thách thức nêu trên, cần phải có sự chung sức của cộng đồng và khu vực, sâu xa và cần thiết phải vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội trong quá trình bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững Vấn đề đặt ra cho nước ta chỉ là lựa chọn một lộ trình và quyết tâm bảo vệ môi trường thích hợp nhất cho quá trình phát triển của mình, sao cho đẩy nhanh được tốc độ tăng trưởng kinh tế

mà không phải trả giá về môi trường

1.4.2 Yêu cầu thực hiện Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của Đảng và Nhà nước Việt Nam

* Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia năm 2020

Mục tiêu tổng quát

Kiểm soát, hạn chế về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học, tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường sống, nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của đất nước

Mục tiêu cụ thể

- Giảm cơ bản về các nguồn gây ô nhiễm môi trường

- Khắc phục, cải tạo môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái; cải thiện điều kiện sống của người dân

- Giảm nhẹ mức độ suy thoái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; kiềm chế tốc độ suy giảm đa dạng sinh học

- Tăng cường khả năng chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ mức độ gia tăng phát thải khí nhà kính

Các tiêu chí đánh giá, giám sát công tác bảo vệ môi trường đến năm 2020

Trang 29

- Tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh, xây dựng mới đạt yêu cầu về bảo vệ môi trường đạt 100% Tỷ lệ cơ sở hiện đang gây ô nhiễm môi trường giảm 50% so với năm 2010

- Tỷ lệ khu công nghiệp đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường đạt 95%

- Tỷ lệ làng truyền thống đạt yêu cầu môi trường đạt 60%

- Tỷ lệ xã đạt môi trường theo tiêu chuẩn nông thôn mới là 50%

- Sự cố hóa chất, phóng xạ, hạt nhân là không

- Tỷ lệ cụm công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải đạt 95%

- Tỷ lệ làng nghề truyền thống đạt yêu cầu về môi trường là 60%

- Tỷ lệ khu đô thị loại IV trở lên có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt yêu cầu là 70%

- Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý, tiêu hủy, chôn lấp an toàn sau xử lý, tiêu hủy đạt 100% Tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom đạt 95%, và ở nông thôn đạt 75%

- Tỷ lệ chất thải rắn được tái sử dụng, tái chế hoặc thu hồi năng lượng, sản xuất phân bón đạt 85% Tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý, tiêu hủy, chôn lấp

an toàn sau xử lý, tiêu hủy đạt 85%

- Số bãi chôn lấp chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật vệ sinh đạt 90%

- Tỷ lệ che phủ của rừng đạt 45%, diện tích rừng nguyên sinh không giảm, diện tích rừng ngập mặn không giảm so với năm 2010

- Tổng diện tích khu bảo tồn thiên nhiên là 3 triệu ha

- Số loài quý hiếm bị đe dọa tuyệt chủng không tăng so với năm 2010

- Số nguồn gen quý có giá trị bị mất không tăng so với năm 2010

- Các khu di sản thiên nhiên, cảnh quan, nét đẹp của thiên nhiên không suy giảm so với năm 2010

- Tỷ lệ người dân hiểu biết, có kiến thức ứng phó, thích nghi, sống chung với biến đổi khí hậu đạt 100%

Trang 30

- Tỷ lệ các chiến lược quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án có tính đến các tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đạt 90%

- Tỷ lệ diện tích các hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế được cải thiện khả năng chống chịu, thích nghi với biến đổi khí hậu tăng 60% so với năm 2010

- Mức phát thải khí nhà kính trên 1 đơn vị GDP giảm 7 - 8% so với năm 2010

* Tầm nhìn đến năm 2030

Ngăn chặn, đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; cải thiện chất lượng môi trường sống; chủ động với ứng phó và biến đổi khí hậu; hình thành các điều kiện cơ bản cho nền kinh tế xanh, ít chất thải, các bon thấp vì sự phồn thịnh và phát triển

bền vững của đất nước

Kết luận chương 1

Xuất phát từ cơ sở triết học của mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội, quan điểm của Đảng và Nhà nước, sự cần thiết của việc vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội ở Việt Nam hiện nay, có thể khẳng định về tầm quan trọng cũng như tất yếu khách quan không ngừng vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội trong quá trình bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững Để có được sự hiểu biết đầy đủ và sâu sắc những vấn đề đang đặt ra trong lĩnh vực môi trường sinh thái cũng như tìm kiếm con đường đúng đắn giải quyết chúng, cần phải có cách tiếp cận triết học về con người, tự nhiên và

xã hội Bởi vì môi trường sinh thái ngày nay không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, mà còn là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội, trong đó có triết học Dựa trên cơ

sở nền tảng của triết học Mác - Lênin, tri thức tích lũy của thời đại, cho thấy

sự cần thiết phải nghiên cứu và vận dụng sáng tạo mối quan hệ biện chứng

Trang 31

giữa tự nhiên, con người và xã hội Chỉ trên cơ sở nhận thức đầy đủ đó mới

có thể nói đến việc bảo vệ, sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sống, nghĩa là bảo vệ những điều kiện tự nhiên của sự phát triển xã hội, trong điều kiện đất nước đổi mới, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỰ NHIÊN, CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI TRONG CÔNG TÁC

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Những năm gần đây, cùng với sự bùng nổ về dân số và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đã kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường (không khí, đất và nước…) khắp hành tinh Môi trường sống của người dân ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam không những không được cải thiện mà thậm chí còn ô nhiễm hơn Biểu hiện rõ rệt là tầng ô zôn bị suy giảm ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là vùng Nam cực, mưa axit ngày càng nhiều do ô nhiễm không khí và nước thải ở các nước có nền công nghiệp phát triển như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc…; Hậu quả là làm cho nhiệt độ Trái đất tăng cao dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra các thảm họa sinh thái như: động đất, sóng thần, lũ lụt, đã cướp đi hàng ngàn sinh mạng con người Có thể kể ra các thảm họa trên biển như: sóng thần ở Indonexia (năm 2008), động đất ở Mỹ (năm 2010 và năm 2011), động đất và sóng thần ở Nhật Bản (tháng 3 năm 2011), lũ lụt ở Thổ Nhĩ Kỳ và Thái Lan (tháng 10 năm 2011)…Tất cả đều có nguyên nhân sâu xa từ việc bất chấp theo quy luật về mối quan hệ hài hòa giữa con người, tự nhiên và xã hội Con người tàn phá tự nhiên và đang phải trả giá đắt cho sự tàn phá đó

Tự nhiên đã ban tặng cho Việt Nam những tài sản vô cùng quý giá Nước Việt Nam nằm ở rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á Phần đất liền nằm trong khung của hệ tọa độ địa lý sau: điểm cực Bắc ở vĩ độ 23o23’B tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn,

Trang 33

tỉnh Hà Giang; điểm cực Nam ở vĩ độ 8o34’B tại xã đất Mũi huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; điểm cực Tây ở Kinh độ 102o09’Đ tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và điểm cực Đông nằm ở kinh độ 109o24’Đ tại

xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa

Trên vùng biển, hệ tọa độ địa lý của nước ta còn kéo dài tới khoảng vĩ

độ 6o50’B và từ khoảng kinh độ 101o Đ đến trên 117o20’Đ tại Biển Đông Như vậy, Việt Nam vừa gắn liền với lục địa Á - Âu, vừa tiếp giáp với Biển Đông và thông ra Thái Bình Dương rộng lớn Kinh tuyến 105oĐ chạy qua nước ta nên đại bộ phận lãnh thổ nằm trong múi giờ thứ 7

Lãnh thổ Việt Nam là một khối thống nhất và toàn vẹn, bao gồm vùng đất, vùng biển và vùng trời

Vùng đất Việt Nam gồm toàn bộ phần đất liền và các hải đảo, có tổng diện tích là 331.212 km2 (Niên giám thống kê năm 2006)

Đường bờ biển nước ta cong hình chữ S, dài 3.260 km chạy từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) Đường bờ biển chạy dài theo đất nước đã tạo điều kiện cho 28 trong số 63 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có điều kiện trực tiếp khai thác tiềm năng to lớn của Biển Đông Vùng biển Việt Nam tiếp giáp với vùng biển của các nước: Trung Quốc, Campuchia, Philippin, Malaixia Brunay, Inđônêxia, Thái Lan

Vùng trời Việt Nam là khoảng không gian bao trùm lên trên lãnh thổ nước ta; trên đất liền được xác định bằng các đường biên giới, trên biển là ranh giới bên ngoài của vùng lãnh hải và không gian của các đảo

Vị trí địa lý đã quy định đặc điểm thiên nhiên nước ta là mang tính nhiệt đới ẩm gió mùa Tính chất nhiệt đới ẩm của khí hậu được quy định bởi

vị trí nước ta nhận được lượng bức xạ mặt trời lớn do có góc nhập xạ lớn và ở mọi nơi trong năm đều có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh

Trang 34

Nước ta nằm hoàn toàn trong vùng nhiệt đới ở bán cầu Bắc nên có nền nhiệt độ cao, chan hòa ánh nắng, lại nằm trong khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió Mậu dịch (Tín phong) và gió mùa Châu Á, khu vực gió mùa điển hình nhất trên thế giới nên khí hậu có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô

Từ những đặc điểm của tự nhiên nêu trên cho chúng ta thấy, tác động của khối khí di chuyển qua biển kết hợp với vai trò của biển Đông - nguồn dự trữ dồi dào về nhiệt và ẩm, đã làm cho thiên nhiên của nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển Vì thế thảm thực vật ở nước ta bốn mùa xanh tốt, rất giàu sức sống

Mặt khác, nước ta nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương, liền

kề với vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và vành đai sinh khoáng Địa Trung Hải, trên đường di lưu và di cư của nhiều loại động, thực vật nên có tài nguyên khoáng sản và tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú

Vị trí và hình thể của nước ta đã tạo ra sự phân hóa đa dạng của tự nhiên giữa miền Bắc và miền Nam, giữa miền núi và đồng bằng, ven biển, hải đảo, hình thành các vùng tự nhiên khác nhau

Nước ta nằm trong vùng có nhiều thiên tai: bão lụt, hạn hán thường xảy

ra hàng năm nên cần có biện pháp phòng chống tích cực, chủ động

Nước ta có nhiều ưu thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và những điều kiện địa lý tự nhiên, đặc biệt là có thế mạnh về nguồn tài nguyên tái tạo (rừng, đất đai, động thực vật), một số loại tài nguyên khoáng sản (dầu mỏ, than đá, bôxit, đất hiếm, vật liệu xây dựng…) Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ấm, mặt trời chiếu sáng quanh năm…là nguồn cung cấp năng lượng vô tận cho sự sống của con người và mọi sinh vật Ngoài ra tài nguyên phong cảnh đang mở ra triển vọng to lớn cho ngành dịch vụ tham quan du lịch, nghỉ ngơi, giải trí

Trang 35

Có thể nói, với những điều kiện, đặc điểm tự nhiên và vị trí địa lý lãnh thổ, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên như nói trên là sự “ban tặng” tài sản quý giá cho Việt Nam Vấn đề đặt ra chỉ còn là việc con người khai thác, sử dụng chúng như thế nào? Nói cách khác, đây chính là việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Con người biết sống hài hòa với tự nhiên bằng việc khai thác hợp lý thì tự nhiên sẽ mang lại rất nhiều ích lợi cho con người, ngược lại sẽ là thảm họa khi chính con người tàn phá tự nhiên, tàn phá chính nơi đã sinh ra, nuôi dưỡng mình trong quá trình tiến hóa và phát triển

2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Mặc dù có tất cả những lợi thế về điều kiện, đặc điểm tự nhiên như vừa nói trên, song do đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp với phương thức sản xuất, canh tác lạc hậu là chủ yếu, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh nên nước ta vẫn nằm trong số các nước kém phát triển Bối cảnh trong nước

và quốc tế vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX hết sức phức tạp Tất cả những điều này đã đưa nền kinh tế nước ta sau chiến tranh rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài Đường lối đổi mới nước ta được khẳng định từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) Tính đến năm 2012, công cuộc đổi mới của nước ta đã trải qua chặng đường hơn 20 năm Nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài Lạm phát được đẩy lùi và kiềm chế Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, GDP từ 4,8% (năm 1999) tăng lên 8,4% (năm 2005) Trong 10 nước ASEAN, tính trung bình giai đoạn 1987 - 2004, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta là 6,9% chỉ đứng sau Xingapo (7,0%) Tổng cục Thống kê đã tổ chức họp báo công bố số liệu kinh tế - xã hội năm 2011, theo đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 ước tính tăng 5,89% so với năm 2010 Cơ cấu kinh tế nước ta chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nước ta đã đạt được những thành tựu to

Trang 36

lớn trong xóa đói giảm nghèo, đời sống vật chất của đông đảo nhân dân được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, là một quốc gia được tự nhiên ưu đãi nhiều “rừng vàng, biển bạc”, đất đai phì nhiêu, có truyền thống với nghề trồng lúa nước, nhưng tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam vẫn còn cao Số hộ đói nghèo phần lớn ở nông thôn, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồi núi

Về dân số, theo số liệu thống kê, dân số trung bình cả nước năm 2011 ước tính 87,84 triệu người, tăng 1,04% so với năm 2010 Dự báo trong năm

2012, dân số Việt Nam sẽ vượt ngưỡng 88 triệu người Về số dân, nước ta đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á (sau Inđônêxia và Philippin) và đứng thứ 13 trong số hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Dân số là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước Với số dân đông, nước ta có nguồn lao động dồi dào, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ rộng lớn Song, trong điều kiện nước ta hiện nay, số dân đông lại là một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, do điều kiện tài nguyên thiên nhiên dù giàu có, nhưng không phải là vô hạn Dân số đông đồng nghĩa với việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhiều và làm gia tăng các chất thải trong quá trình sinh hoạt, ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên Với mức tăng nguồn lao động như hiện nay, mỗi năm nước ta có thêm hơn 1 triệu lao động Nhìn chung chất lượng lao động xã hội ngày càng tăng, song vẫn còn thấp so với thế giới Phần lớn lao động có thu nhập thấp, làm cho quá trình phân công lao động xã hội chậm chuyển biến Lao động và việc làm là vấn đề kinh tế - xã hội lớn ở nước ta hiện nay Với chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế, các ngành sản xuất dịch vụ đã tạo ra mỗi năm gần 1 triệu việc làm mới, nhưng tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn còn gay gắt Nước ta có 54 dân tộc sống ở khắp các vùng lãnh thổ của đất nước, nhiều nhất là dân tộc Việt (Kinh), chiếm 86,2% dân số, các dân tộc khác chỉ

Trang 37

chiếm 13,8% dân số cả nước Trong lịch sử, các dân tộc luôn đoàn kết bên nhau, phát huy truyền thống sản xuất, văn hóa, phong tục tập quán Có thể nói đây là một lợi thế xét về mặt xã hội, nếu kết hợp tốt với việc khai thác lợi thế của tự nhiên sẽ tạo nên sức mạnh phát triển kinh tế, xây dựng đất nước

Về giáo dục, trước Cách mạng Tháng 8, nước ta là một nước có trình độ văn hóa thấp kém, trên 90% dân số mù chữ, cả nước mới có 4.037 trường phổ thông, trong đó cấp 2 và cấp 3 chỉ có 86 trường, 4 trường trung học chuyên nghiệp và 3 trường Đại học Năm 2010 cả nước đã có 97,3% người dân biết chữ Hiện nay, hệ thống giáo dục ở nước ta đã khá hoàn chỉnh từ bậc mầm

non đến sau đại học; hầu hết các bản, làng, xã, phường đều có trường lớp tiểu

học; trường trung học cơ sở được xây dựng ở các xã hoặc cụm liên xã; trường trung học phổ thông được xây ở các huyện Hệ thống giáo dục ở nước ta về

cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân, từng bước tạo ra một nguồn lực lao động có chất lượng cao, tạo tiền đề cho việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên làm giàu cho đất nước

Về y tế, năm 2010 so với năm 1939, cơ sở y tế nước ta tăng gần 16,4 lần, số y bác sỹ bình quân trên 1 vạn dân gấp 39 lần Người dân có bệnh phần lớn được khám và chữa, các ổ dịch lớn được phát hiện và sớm dập tắt Công tác y tế có nhiều tiến bộ theo hướng xã hội hóa ngày càng cao, ở hầu hết các

từ tài nguyên biển, phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và bảo

vệ đất nước

Trang 38

2.2 Thực trạng công tác bảo vệ Môi trường và sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Thành tựu

Ngược dòng thời gian chúng ta có thể thấy nhiều ý tưởng nội dung về bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững đã được thể hiện trong chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau khi giành được chính quyền Hơn thế nữa, những ý tưởng, nội dung đó còn hiện hữu qua nhiều phong trào, cuộc vận động thi đua yêu nước, tiêu biểu như: diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm cùng với các cuộc vận động giữ gìn vệ sinh, phòng ngừa bệnh tật, xây dựng đời sống mới…Đặc biệt phải kể đến phong trào “Tết trồng cây” do Chủ tịch

Hồ Chí Minh phát động (28/11/1959), với mong muốn: Trong mười năm, đất nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân Lời kêu gọi “Tết trồng cây” của Bác đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân cả nước, trở thành một phong trào quần chúng sâu rộng, một nét đẹp trong văn hóa truyền thống Việt Nam Có thể nói đây là một tư tưởng lớn về sự “trở về” với tự nhiên, tái tạo tự nhiên cùng với việc con người khai thác, sử dụng, sống hài hòa với tự nhiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm hưởng ứng lời kêu gọi của cộng đồng quốc tế bằng những việc làm cụ thể

Sự kiện đầu tiên đáng ghi nhớ là hưởng ứng Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường Stockholm - Thụy Điển vào năm 1972, cả dân tộc ta đang dốc sức cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Chính phủ miền Bắc đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ môi trường và thành lập lực lượng kiểm lâm Nhân dân Công trình thủy điện Hòa Bình hoàn thành và đi vào

Trang 39

hoạt động được coi là công trình thế kỷ Đến năm 1973 Chính phủ đã xem xét một số vấn đề có liên quan đến môi trường

Tại Hội nghị Trái đất lần thứ nhất tại Rio năm 1992, trong báo cáo của mình, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cam kết: Ưu tiên việc nâng cao nhận thức về môi trường Chú trọng việc sản xuất các tư liệu phục vụ nâng cao nhận thức để đáp ứng các phương tiện, công cụ cho việc phổ biến

về nâng cao nhận thức cho quần chúng Trong Chương trình Nghị sự 21 được thông qua tại Hội nghị, Việt Nam đã đánh giá kết quả, chuyển biến về phát

triển bền vững trên các lĩnh vực, Chương trình Nghị sự 21 chỉ rõ:

Đã thiết lập được thể chế, chính sách bảo vệ môi trường như: Hệ thống quản lý; hệ thống luật pháp, chính sách và kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi trường Bước đầu đã hình thành công tác quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, quản lý ô nhiễm công nghiệp đô thị và khả năng phòng ngừa ứng cứu sự

cố môi trường có nhiều chuyển biến Báo cáo hiện trạng môi trường trong quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng

Về phát triển bền vững kinh tế xã hội, liên tục trong 10 năm qua nước

ta thuộc hàng ngũ các nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới Những chuyển biến tiến bộ về cơ cấu kinh tế, đô thị hóa, thu hút đầu tư nước ngoài, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và xây dựng các thể chế, chính sách kinh tế đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội Công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách dân số, chính sách sở hữu tài nguyên, thay đổi mẫu hình tiêu thụ đặc biệt về sự phát triển con người được cải thiện đáng kể

Về quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên đảm bảo phát triển bền vững: Bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên đất, phát triển bền vững nông thôn, miền núi, phát triển bền vững tài nguyên biển và tài nguyên nước, phát triển bền vững đa dạng sinh học được chú trọng

Trang 40

Phát huy vai trò cộng đồng tham gia phát triển bền vững: Thông qua nhiều kênh, nhiều biện pháp để tạo điều kiện cho người dân tham gia vào việc hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện và giám sát kiểm tra các chủ trương,

kế hoạch, chương trình, dự án liên quan đến bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Cụ thể, ngay từ năm 2003, chính phủ đã thông qua và cho triển khai 36 chương trình quốc gia về bảo vệ môi trường, đặc biệt trong đó có chương trình “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường”

Có nhiều hình thức tổ chức, tập hợp, bồi dưỡng, tạo điều kiện, phát huy vai trò các giới, thanh thiếu niên; Công đoàn, công nhân, Hội Nông dân có các chương trình, phong trào, cuộc vận động thực hiện công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở cơ sở, khu dân cư

Công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường và phong trào quần chúng phát triển sâu rộng, đã mang lại nhiều kết quả, cụ thể như: Phong trào

“Sạch làng tốt ruộng”, “Xây dựng công trình nông thôn”, “Thành phố xanh, sạch, đẹp”…

Tại Hội nghị thượng đỉnh về vấn đề môi trường tháng 6 năm 2012, Brazil là nước đăng cai tổ chức đã và đang minh chứng cho con đường đi tới nền kinh tế Xanh có thể bắt đầu ngay từ sự đối mặt với nạn phá rừng ở lưu vực sông Amazon, ô nhiễm không khí đô thị, suy thoái các vùng đất ngập nước và không bảo đảm an ninh lương thực Có thể nói, đây là một sự khích

lệ lớn với các nước đang phát triển hướng tới xu thế phát triển Xanh Để khẳng định quyết tâm của Việt Nam đối với công tác bảo vệ môi trường, hưởng ứng Ngày môi trường Thế giới và Năm Quốc tế về Năng lượng bền vững cho tất cả chúng ta 2012, nước ta đã có nhiều hoạt động bảo vệ môi trường thiết thực được tổ chức diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước, với các nội dung: Tổ chức Hội thảo - Diễn đàn “Kinh tế Xanh hướng tới phát

Ngày đăng: 24/11/2021, 19:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá (1997), Quản trị môi trường, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị môi trường
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1997
2. Trần Lê Bảo (2001), Văn hóa sinh thái nhân văn, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa sinh thái nhân văn
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
3. Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, (2001), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX
Tác giả: Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, (2006), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X
Tác giả: Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
5. Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, (2011), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI
Tác giả: Báo cáo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam (2001), Tài liệu của Ban khoa giáo TW, Liên hiệp các Hội Khoa học Việt Nam, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam
Năm: 2001
7. Phạm Văn Bo (2002), Ý thức sinh thái và sự phát triển lâu bền, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức sinh thái và sự phát triển lâu bền
Tác giả: Phạm Văn Bo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
9. Lê Thạc Cán (1994), Đánh giá tác động môi trường - phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động môi trường - phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn
Tác giả: Lê Thạc Cán
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1994
10. Chất độc và môi trường y tế công cộng (2005), Đại học Y khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất độc và môi trường y tế công cộng
Tác giả: Chất độc và môi trường y tế công cộng
Năm: 2005
11. Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường (1995), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
Tác giả: Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
12. Dự án Việt Nam - Hà Lan (2005), Sức khỏe con người, Đại học Y khoa Hà Nội, Hà Nội, tr.12 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe con người
Tác giả: Dự án Việt Nam - Hà Lan
Năm: 2005
13. Dự Án VIE 01/P09 (2004), Lồng ghép biến dân số, sức khỏe sinh sản vào dạy học môi trường, Khoa Triết, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lồng ghép biến dân số, sức khỏe sinh sản vào dạy học môi trường
Tác giả: Dự Án VIE 01/P09
Năm: 2004
14. Dự báo thế kỷ XXI (1998), NXB Thống kê, Hà Nội, tr.606 - 635 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo thế kỷ XXI
Tác giả: Dự báo thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
15. La Tô Đức (2001), Khoa học môi trường, NXB Văn hóa - Thông tin 16. Vũ Đăng Độ (1997), Hóa học và ô nhiễm môi trường, NXB Giáodục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học môi trường," NXB Văn hóa - Thông tin 16. Vũ Đăng Độ (1997), "Hóa học và ô nhiễm môi trường
Tác giả: La Tô Đức (2001), Khoa học môi trường, NXB Văn hóa - Thông tin 16. Vũ Đăng Độ
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin 16. Vũ Đăng Độ (1997)
Năm: 1997
17. Lưu Đức Hải (2005), Cơ sở khoa học môi trường, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học môi trường
Tác giả: Lưu Đức Hải
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
18. Lê Hồng Hạnh (1999), và cộng sự, Luật môi trường, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, tr.14 -31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật môi trường
Tác giả: Lê Hồng Hạnh
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 1999
19. Nguyễn Thị Thu Hương (2003), Những quy định pháp luật về môi trường đô thị, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định pháp luật về môi trường đô thị
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
20. Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ô nhiễm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và ô nhiễm
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
21. Lê Văn Khoa (2000), Chiến lược và chính sách môi trường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược và chính sách môi trường
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
22. Trần Kiên, Phan Nguyên Hồng (2000), Sinh thái học môi trường, NXB Giáo dục, tr.10 - 133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học môi trường
Tác giả: Trần Kiên, Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w