1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Về biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm “hệ tư tưởng đức” và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên việt nam hiện nay

116 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 834,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức cũng là tác phẩm luận chiến của C.Mác, Ph.Ăngghen chống tư tưởng duy tâm về lịch sử trong triết học Đức đương thời, vì vậy, nó có ý nghĩa to lớn về phương pháp l

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYấN TRUYỀN

TRẦN THỊ PHƯƠNG NGA

Về biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong

tác phẩm “hệ tư tưởng đức” và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức Cho thanh niên việt nam hiện nay

Chuyờn ngành: Triết học

Mó số : 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Minh Tõm

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

LêI CAM §OAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Minh Tâm Các số liệu, tài liệu trong luận văn

là hoàn toàn trung thực

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Thị Phương Nga

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TÁC PHẨM HỆ TƯ TUỞNG ĐỨC VÀ VẤN ĐỀ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM 9

1.1 Giới thiệu khái quát về tác phẩm Hệ tư tưởng Đức .9 1.2 Vấn đề biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 17 1.3 Một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ biện chứng giữa tồn tại

xã hội và ý thức xã hội 59

Chương 2: VẬN DỤNG BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 62

2.1 Giáo dục đạo đức và yêu cầu khách quan của việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay 62 2.2 Những nội dung vận dụng biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong giáo dục đạo đức của thanh niên Việt Nam hiện nay 74

KẾT LUẬN 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự hình thành và phát triển triết học Mác, tác phẩm Hệ tư tưởng

Đức (được C.Mác và Ph.Ăngghen viết từ tháng 11 năm 1845 đến tháng 4 năm

1846) chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Tác phẩm này đánh dấu sự ra đời của triết học khoa học về lịch sử Nó thể hiện một cách khá toàn diện và có hệ thống nội dung quan niệm duy vật lịch sử của C.Mác và Ph.Ăngghen Với việc phát hiện

ra quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bước đầu đặt cơ sở

lý luận cho chủ nghĩa cộng sản khoa học

Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, nội dung về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là một nội dung quan trọng, được trình bày cô đọng Bằng việc luận giải một cách duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt cơ sở, tiền đề cho việc xem xét lĩnh vực ý thức xã hội, lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội Tác phẩm này là một mắt xích quan trọng trong nghiên cứu Triết học Mác, trong đó có tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức cũng là tác phẩm luận chiến của C.Mác, Ph.Ăngghen chống tư tưởng duy tâm về lịch sử trong triết học Đức đương thời, vì vậy, nó có ý nghĩa to lớn về phương pháp luận đối với những người mác - xít trong quá trình đấu tranh bảo vệ, phát triển, vận dụng triết Mác - Lênin vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay

Kể từ khi ra đời đến nay, tác phẩm Hệ tư tưởng Đức đã đi vào lịch sử

hình thành và phát triển triết học Mác với tư cách nền tảng, bước ngoặt cách mạng, và cùng với nhiều tác phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen, làm nên

cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học và trở thành vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản toàn thế giới trong công cuộc cải tạo xã hội bằng thực tiễn cách mạng Giờ đây, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã

Trang 5

hội chủ nghĩa ở nước ta, ý nghĩa lớn lao này của Hệ tư tưởng Đức vẫn còn

nguyên giá trị

Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước Cùng với sự biến đổi của thời đại, của khoa học công nghệ, của hội nhập kinh tế quốc tế, xã hội Việt Nam đang diễn ra quá trình chuyển biến giá trị đạo đức mạnh mẽ Trong con người Việt Nam, trong đó có thanh niên, đang diễn ra những biến đổi trong quan niệm về giá trị và hành vi đạo đức Điều này chính là một biểu hiện của nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội trong triết học Mác - Lênin

Do hệ thống giá trị đạo đức xã hội luôn vận động biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội nên giáo dục đạo đức nhằm góp phần định hướng giá trị đạo đức, điều chỉnh hành vi đạo đức xã hội, xây dựng nhân cách theo

nhu cầu phát triển của xã hội

Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Thanh niên Việt Nam có truyền thống: Yêu nước nồng nàn, kiên định mục tiêu mà Đảng và Bác đã lựa chọn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xung kích cách mạng, xung phong tình nguyện, cần cù, sáng tạo, năng động, dám nghĩ dám làm, có hoài bão lớn, đoàn kết, tương thân tương ái và nhân đạo Tuy nhiên, trong thanh niên cũng có những biểu hiện tiêu cực cần khắc phục Vì vậy, Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay là “Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ Khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước

mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại Hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, góp phần quan trọng vào sự

Trang 6

nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [13, tr.50] Để làm tốt được điều đó đòi hỏi phải

có phương pháp luận và thế giới quan khoa học trong phân tích thực trạng đạo đức của thanh niên Việc nghiên cứu quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội

và ý thức xã hội trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” sẽ góp phần định hướng cho việc nhận thức và giáo dục đạo đức cho thanh niên hiện nay

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu, khai thác nội dung các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin phục vụ cho công tác lý luận tư tưởng của Đảng, công tác giảng dạy triết học trong các trường Đại học và các viện nghiên cứu triết học ở Việt Nam là vấn đề được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau

Liên quan đến tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, có một số nghiên cứu như:

đề tại khoa học cấp cơ sở của khoa Triết học Học viện Báo chí và Tuyên

truyền “Tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ăngghen về triết học” do

TS.Nguyễn Đình Cấp làm chủ nhiệm thực hiện năm 2008 Đề tài đã bước đầu đưa ra một số luận điểm cốt lõi về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với

ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức; “Vấn đề triết học trong tác

phẩm của C.Mác-Ph.Ăngghen, V.I.Lênin” do PGS.TS Doãn Chính chủ biên

(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003) cũng bàn đến nội dung của tác phẩm

Hệ tư tưởng Đức, trong đó đề cập đến một số luận điểm của C.Mác và

Ph.Ănghen về mối quan hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân; “Giới thiệu

tác phẩm kinh điển triết học Mác-Lênin” của tác giả Phạm Văn Chung (NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000) có bàn về các nội dung triết học cơ bản của tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, trong đó có bàn đến khái niệm tồn tại xã hội và

ý thức xã hội và quan hệ giữa chúng Tác giả cho rằng hai khái niệm này là cơ

sở khoa học để Mác và Ăngghen xây dựng và trình bày quan niệm duy vật về

lịch sử với tư cách là một hệ thống lý luận khoa học; Cuốn “Triết học” (dùng

Trang 7

cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên nghành triết học, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1999) đề cập đến quan niệm duy vật về

lịch sử trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, chỉ rõ trong tác phẩm C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận dụng quan niệm duy vật về lịch sử vào giải thích một cách đúng đắn ý thức xã hội, đánh giá vai trò của nguyên lý duy vật chủ nghĩa

về ý thức là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăngghen làm rõ tính phức tạp, đa dạng của các hình thái ý thức xã hội, tính giai cấp của ý thức xã hội

Vấn đề xây dựng đạo đức xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có xây dựng đạo đức cho thanh niên, phát huy giá trị đạo đức truyền thống… đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Đáng chú ý là các chuyên khảo của

các nhà triết học, văn hoá học Xô Viết như: “Nguyên lý đạo đức cộng sản” (NXB Sự thật, Hà Nội, 1961) của A.Si-Skin, “Đạo đức học” Tập I và II

(NXB Giáo dục, Hà Nội, 1985) của G.Bandzeladze…

Ở nước ta, nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về giá trị đạo đức

truyền thống và con người Việt Nam thời đại mới như: “Giá trị tinh thần

truyền thống của dân tộc Việt Nam” của G.S Trần Văn Giàu (NXB Khoa học

xã hội, 1980), “Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức

trong đổi mới tư duy” của GS.TS Nguyễn Ngọc Long (Tạp chí Nghiên cứu lý

luận, 2/1987), “Đến hiện đại từ truyền thống” của GS.Trần Đình Hựu (NXB Văn hoá, Hà Nội 1995), “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường trong

việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay” của TS Nguyễn Thế Kiệt (Tạp

chí Triết học, 6/1996), “Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với

đạo đức người cán bộ quản lý” của PGS,TS Nguyễn Tĩnh Gia (Tạp chí

Nghiên cứu lý luận 2/1997), “Giá trị truyền thống, nhân lõi và sức sống bên

trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của PGS Nguyễn Văn Huyên

(Tạp chí Triết học 4/1998), “Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ

nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh” của PGS,TS Nguyễn Hùng Hậu (tạp chí triết

Trang 8

học, 9/2005), “Từ đạo đức truyền thống đến đạo đức cách mạng Hồ Chí

Minh” của PGS, TS Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Nghiên cứu lý luận, 7/2006);

“Văn hoá và sự phát triển nhân cách thanh niên” của GS, TS Hoàng Chí Bảo

(Tạp chí Nghiên cứu lý luận 1/1995), “Mô hình nhân cách thanh niên năm

2000” của tác giả Phạm Hoàng Gia (Hà Nội, 1990); “Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Tuyết Ba (NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội, 2010)…

Có những tác giả đã đi sâu nghiên cứu việc xây dựng đạo đức cho thanh niên hiện nay như: Luận văn thạc sỹ triết học của Phan Văn Ba, Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 1998 “Vấn đề giáo dục truyền thống

dân tộc cho thế hệ trẻ hiện nay - thực trạng và giải pháp”, Luận văn tiến sỹ triết

học của Trần Sỹ Phán, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm

1999 “Giáo dục đạo đức và sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên Việt

Nam trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Triết học của Nguyễn Đình

Quế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2000 “Quan hệ

kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay (Qua thực tế ở Tỉnh Kiên Giang)”; Luận án tiến sĩ Triết học Đại học khoa

học xã hội và nhân văn Hà Nội của tác giả Võ Minh Tuấn (2004) “Ý thức đạo

đức của sinh viên Việt Nam hiện nay”; luận văn thạc sỹ triết học của Mai Thị

Bích, Đại học Thái Nguyên (2008) “Phát huy giá trị đạo đức truyền thống

của thanh niên trong việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên Đại học Thái

Các công trình nghiên cứu trên hoặc đã đề cập tới nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội với tư cách là một nội dung triết học trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức; hoặc đã nghiên cứu về thực trạng đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào hệ thống hóa, phân tích một cách sâu sắc mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm và vận dụng những luận điểm đó của

Trang 9

C.Mác và Ph.Ăngghen vào giải quyết vấn đề thực tiễn đạo đức của thanh niên Việt Nam hiện nay

Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Về biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã

hội trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sỹ

chuyên ngành Triết học

3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Làm rõ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về biện chứng giữa tồn tại

xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, từ đó rút ra một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng trong việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Làm rõ bối cảnh ra đời, mục đích và ý nghĩa của quan điểm biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

- Phân tích làm rõ nội dung biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, từ đó rút ra một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận

- Vận dụng nội dung biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để làm rõ yêu cầu khách quan của việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay để phân tích thực trạng, nguyên nhân tình hình đạo đức của thanh niên Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất nội dung những giá trị đạo đức cần giáo dục cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Luận văn chủ yếu tập trung phân tích những vấn đề liên quan đến nội dung biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Trang 10

- Từ nội dung biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức rút ra một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng trong việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: cụ thể là tập trung làm rõ sự cần thiết hay yêu cầu khách quan của việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam, phân tích thực trạng, nguyên nhân tình hình đạo đức của thanh niên Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận chủ yếu luận văn dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan tới nội dung được đề cập trong luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như sự thống nhất giữa cái lôgíc và lịch sử, giữa lý luận và thực tiễn…Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học…

6 Đóng góp mới của đề tài

Trang 11

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa nội dung biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức của C.Mác và Ph.Ănghen, rút ra một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận

từ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm làm cơ sở cho việc vận dụng nội dung này trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu và học tập triết học Mác-Lênin, trong giáo dục đạo đức cho thanh niên nước ta trong giai đoạn hiện nay

Luận văn vận dụng biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 12

Chương 1 TÁC PHẨM HỆ TƯ TUỞNG ĐỨC VÀ VẤN ĐỀ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM

1.1 Giới thiệu khái quát về tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

1.1.1 Bối cảnh ra đời của tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức ra đời gắn liền với hoạt động lí luận và chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen, đánh dấu sự hoàn tất bước chuyển từ lập trường duy tâm (phái Hêghen trẻ) sang lập trường duy vật biện chứng của C.Mác

Khi còn học tập, nghiên cứu ở Đại học Bon và Béclin, C.Mác đã rất quan tâm nghiên cứu triết học, đặc biệt là tư tưởng của I.Cantơ, Vônte, J.Rútxô, Hêghen C.Mác quan tâm về các vấn đề của con đường lịch sử loài người, đặc biệt là tư tưởng biện chứng trong triết học Hêghen về các trạng thái của lịch sử, về tiến trình phát triển của xã hội loài người Hêghen coi, cái mà hôm qua vẫn còn tồn tại một cách hợp lý, thì hôm nay lại đang tiêu vong, thay vào

đó là một hiện thực mới, cao hơn, đi vào lịch sử xã hội loài người; cơ sở của

mọi cái hiện tồn là sự phát triển của "ý niệm tuyệt đối", của cái "tinh thần thế

giới" Triết học Hêghen là một bước tiến lớn trong lịch sử tư duy của con

người, C.Mác đã nghiên cứu Hêghen, đứng về phái Hêghen trẻ, đánh giá cao phép biện chứng của Hêghen

C.Mác đã tích cực tham gia các cuộc tranh luận về các vấn đề chính trị của thời đại

Khi tiếp xúc với tác phẩm Bản chất đạo Thiên Chúa của L.Phoiơbắc,

C.Mác đã đặc biệt chú ý sự phê phán của L.Phoiơbắc với hệ tư tưởng tôn giáo của các tầng lớp phong kiến, phê phán một số mặt riêng biệt của triết học Hêghen L.Phoiơbắc tuyên bố, tự nhiên, tồn tại là cái có trước và tồn tại độc

Trang 13

lập đối với con người và ý thức của con người Ngoài con người và tự nhiên, không còn có cái gì khác, không có thần Tôn giáo là sản phẩm của con người Những tư tưởng duy vật, vô thần và nhân đạo chủ nghĩa của L.Phoiơbắc đã gây ấn tượng mạnh mẽ trong giới trí thức tiến bộ ở Đức, trong

đó có C Mác Nhưng C.Mác cũng nhận thấy những hạn chế trong học thuyết của Phoiơbắc khi ông không coi con người là một thực thể có tính lịch sử xã hội Điều đó đã cản trở Phoiơbắc vận dụng chủ nghĩa duy vật để xem xét xã hội loài người và lịch sử của xã hội loài người Điều này dần được C.Mác nhận thức trong quá trình tham gia chính luận và C Mác đã viết “Luận cương

về L.Phoiơbắc”, một mặt phê phán những hạn chế của L.Phoiơbắc, mặt khác

đề xuất một số nguyên lý mang tính duy vật về lịch sử

Khi C.Mác làm biên tập cho tờ Nhật báo tỉnh Ranh (đầu năm 1842), ông

buộc phải tỏ ý kiến của mình trên báo chí về vai trò và ý nghĩa của các lợi ích vật chất trong đời sống xã hội, những vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra ở tỉnh Ranh, như địa vị kinh tế của người nông dân vùng Môden, về vấn đề sở hữu đất, vấn đề đốn rừng, về thương nghiệp và về thuế quan bảo hộ Phép biện chứng duy tâm và học thuyết về nhà nước và pháp quyền của Hêghen được C.Mác sử dụng đã đưa ông rơi vào tình trạng không giải quyết được các vấn

đề của thực tiễn chính trị - xã hội đặt ra Lúc này, chính C.Mác đã cảm thấy rằng những quá trình kinh tế và những lợi ích vật chất của con người trong đời sống xã hội đã đóng một vai trò quan trọng đặc biệt, khiến ông đi tới kết luận rằng phải nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề kinh tế, chính trị và phải xem xét lại một cách có phê phán những quan điểm triết học và pháp quyền của Hêghen

Khi C.Mác không làm biên tập cho tờ Nhật báo tỉnh Ranh, do báo bị

kiểm duyệt gắt gao, ông dành thời gian vào giải quyết những vấn đề mà ông quan tâm khi làm việc tại tờ báo Tháng 10 - 1843, ông sang Pari, tập trung

Trang 14

công sức để nghiên cứu các vấn đề kinh tế chính trị học và lịch sử các phong trào cách mạng Tại đây, ông đã tham gia các cuộc hội họp của công nhân, quan hệ với các nhà lãnh đạo các tổ chức công nhân bí mật ở Pháp và Đức Những năm 1843 - 1844 là thời kỳ chuyển biến mạnh mẽ của C.Mác từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa, từ duy tâm sang duy vật biện chứng Điều đó được thể hiện trong các bài viết của ông

đăng trên tờ Niên giám Pháp - Đức, đặc biệt là trong Lời nói đầu tác phẩm

Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen đăng trong tờ Niên

giám trên, số tháng 2 năm 1844 tại Pari Trong Lời nói đầu tác phẩm này, C.Mác đã khẳng định: Những quan hệ pháp quyền cũng như các hình thức

của nhà nước, không thể hiểu từ bản thân chúng, từ cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần con người, mà ngược lại, chúng có nguồn gốc từ những quan hệ vật chất của đời sống Cũng trong Lời nói đầu này, ông đã giải thích

trên cơ sở duy vật vấn đề nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo C.Mác đã

phê phán trên quan điểm chính trị thực tiễn nhà nước đương thời - cái hiện

thực "tồn tại là hợp lý" của Hêghen, đồng thời ông cũng kiên quyết phủ định

cả cái hình thức đang tồn tại của ý thức pháp quyền và nền chính trị Đức đang

tồn tại lúc đó

Từ năm 1841, Ph.Ăngghen đã làm quen với những người thuộc phái

Hêghen trẻ và trở thành một thành viên của phái này Tháng 3-1842,

Ph.Ăngghen cho xuất bản cuốn sách Sêlinh và việc Chúa truyền, trong đó,

mặc dù còn chịu ảnh hưởng bởi lập trường duy tâm của Hêgghen, nhưng ông

đã chỉ trích gay gắt, nghiêm khắc những quan điểm thần bí phản động của Sêlinh Năm 1842, ông nghiên cứu tình cảnh của giai cấp công nhân, giao

thiệp với Phái Hiến chương và bắt đầu nghiên cứu kinh tế chính trị học cổ

điển Anh Những kết quả nghiên cứu về bộ môn này được ông thể hiện trong

tác phẩm Lược thảo phê phán khoa học kinh tế chính trị đăng trong tờ Niên

Trang 15

Giám Pháp - Đức số tháng 2-1844

C.Mác và Ph.Ăngghen đã cộng tác viết tác phẩm “Gia đình thần thánh” phê phán quan điểm duy tâm của phái Hêghen trẻ khi họ chủ trương chỉ cách mạng trên lĩnh vực ý thức Các ông chứng minh hoạt động phê phán của các nhà tư tưởng xuất sắc không phải là động lực duy nhất của lịch sử như những người thuộc phái Hêghen trẻ vẫn quan niệm, từ đó làm rõ những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử Những phân tích của C.Mác và Ph.Ăngghen dù

đã có ý nghĩa cách mạng song vẫn chưa chín muồi Đến tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử được định hình một cách rõ ràng hơn, trong đó có nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức

xã hội

Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” được C.Mác và Ph.Ăngghen thống nhất cộng tác viết tại Bruc-xen (thủ đô của nước Bỉ) vào năm 1845 Hai ông quyết định trình bày có hệ thống và phát triển hơn nữa học thuyết triết học mới của mình, đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng tư sản và tiểu tư sản thù địch với giai cấp công nhân

“Hệ tư tưởng Đức” được viết trong bối cảnh kinh tế - xã hội ở Tây Âu

có sự biến chuyển lớn Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, diễn ra trên nền tảng của cách mạng công nghiệp, đã tạo ra những tiền đề khách quan chín muồi cho việc khái quát lí luận về vai trò lịch sử của giai cấp vô sản và đề xuất các quan điểm duy vật lịch sử Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu thuẫn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt, thể hiện qua các cuộc khủng hoảng kinh tế, qua hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ tư bản (phong trào hiến chương Anh, khởi nghĩa của công nhân Xilêdi Đức 1844) Phong trào công nhân ở Tây Âu nói chung, ở Đức nói riêng tuy phát triển mạnh mẽ, nhưng bị tác động và ảnh hưởng bởi cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận Tình hình này được C.Mác và

Trang 16

Ph.Ăngghen nhận xét trong “Hệ tư tưởng Đức”: “…Cuộc luận chiến chống lại Hêghen và chống lại nhau chỉ đóng khung ở chỗ mỗi người trong bọn họ tách riêng một mặt nào đó của hệ thống Hêghen và đem mặt đó chống lại toàn bộ

hệ thống cũng như chống lại những mặt do người khác tách riêng ra…” Kết

quả là, “Những nguyên lý thay thế lẫn nhau, những anh hùng tư tưởng đẩy

nhau ngã với một tốc độ nhanh chưa từng thấy, và chỉ trong ba năm từ 1842 đến 1845 ở nước Đức, người ta đã dọn sạch được nhiều hơn ba thế kỉ trước kia.” [28, tr.23]

Hơn nữa, ở thời kì này, những người ủng hộ C.Mác và Ph.Ăngghen vẫn còn là thiểu số trong phong trào công nhân, trong khi đó các phe phái đủ màu sắc của chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản đang chiếm ưu thế

Tình hình đó đặt ra yêu cầu đòi hỏi các ông phải đấu tranh trên lĩnh vực

lý luận và khẳng định quan điểm triết học mới của mình Điều đó thôi thúc Mác và Ăngghen nghiên cứu đề xuất một thế giới quan mới đặt nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng hệ tư tưởng độc lập, khoa học của giai cấp vô sản

Nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho C.Mác và Ph.Ăngghen là phải luận chứng một cách khoa học những cơ sở hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, tuyên truyền hệ tư tưởng này, tranh thủ sự ủng hộ của những người vô sản tiên tiến trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản lúc đó, trình bày một cách chính diện những nguyên lý cơ bản của một thế giới quan triết học mới đặt cơ sở lý luận cho chủ nghĩa cộng sản khoa học Đầu tháng 08 năm 1846,

C.Mác viết: “tôi thấy rằng điều hết sức quan trọng là trước khi tôi trình bày

một cách chính diện, thì cần phải có một tác phẩm luận chiến nhằm chống lại nền triết học Đức và chống lại chủ nghĩa xã hội Đức xuất hiện hồi bấy giờ Điều đó là cần thiết để chuẩn bị cho công chúng tiếp thu quan điểm của tôi trong lĩnh vực kinh tế- chính trị, quan điểm này trực tiếp đối lập với khoa học đức tồn tại cho đến ngày nay.” [28, tr.388-389]

Trang 17

Mùa thu năm 1845, hai ông đã có đề cương cụ thể hơn để viết một tác phẩm triết học gồm hai tập nhằm phê phán hệ tư tưởng Đức qua các đại biểu của nó Tháng mười một năm 1845, C.Mác và Ph.Ăngghen bắt tay vào viết tác phẩm này Đến Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph Ăngghen đã đoạn tuyệt với phái Hêghen trẻ và đứng trên lập trường duy vật về lịch sử

Kết cấu của cuốn sách không phải được hình thành ngay từ đầu mà được điều chỉnh trong quá trình viết Về cơ bản tác phẩm được hoàn thành vào tháng tư năm 1846

Việc xuất bản tác phẩm này gặp rất nhiều khó khăn Cuối năm 1846 đầu năm 1847, C.Mác và Ph.Ăngghen không hy vọng gì vào việc xuất bản tác phẩm và phải tìm cách tuyên bố từng chương riêng rẽ của tác phẩm Đến tháng tám, tháng chín năm 1947 mới công bố được một chương trong tập hai Phần lớn các chương của tác phẩm không được xuất bản lúc sinh thời của C.Mác và Ph.Ăngghen Tác phẩm được Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin công bố toàn văn lần đầu tiên bằng tiếng nguyên bản, (nguyên văn là tiếng Đức) năm 1932, bằng tiếng Nga năm 1933

1.1.2 Nội dung chủ yếu của tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức có tên đầy đủ là “Hệ tư tưởng Đức Phê phán triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó là Phoiơbắc, B.Bauơ và Stiếcnơ

và phê phán chủ nghĩa xã hội Đức qua các nhà tiên tri khác nhau của nó”, gồm hai tập, có kết cấu như sau:

Tập I Phê phán triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó là Phoiơbắc, B.Bauơ và Stiếcnơ

Tập I gồm “Lời tựa” và các mục sau:

I- Phoiơbắc, sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm

A Hệ tư tưởng nói chung và hệ tư tưởng Đức nói riêng (1 Lịch sử; 2 Về

sự sản xuất ra ý thức)

Trang 18

B Cơ sở thực tế của hệ tư tưởng (1 Sự giao tiếp và sức sản xuất; 2 Quan hệ của nhà nước và của pháp quyền với sở hữu; 3 Những công cụ sản xuất tự nhiên

và những công cụ sản xuất do nền văn minh tạo ra và các hình thức sở hữu)

C Chủ nghĩa cộng sản - Sự sản xuất ra bản thân hình thức giao tiếp

I Hội nghị tôn giáo Laipxich

II Thánh Brunô (1 “Chiến dịch” chống Phoiơbắc; 2 Những suy nghĩ của thánh Brunô về cuộc đấu tranh giữa Phoiơbắc và Stiếcnơ; 3 Thánh Brunô chống những tác giả của “Gia đình thần thánh”; Vĩnh biệt ông “M hetsxơ) III Thánh Maxơ (1.Kẻ duy nhất và sở hữu của nó; 2 Bình luận có tính chất biện hộ)

Bế mạc hội nghị tôn giáo Lapxich

Tập II.Phê phán chủ nghĩa xã hội Đức qua các nhà tiên tri khác nhau của nó Tập II gồm các mục

“Chủ nghĩa xã hội chân chính”

I.“ Rheinische jahrbucher” hay là triết học của “chủ nghĩa xã hội chân chính”

IV Các Grun “Phong trào xã hội ở Pháp và Bỉ” (Đácmatstat, 1845) hay thuật biên soạn lịch sử của “Chủ nghĩa xã hội chân chính”

Trang 19

Tập một có lời tựa và ba chương mục Chương một có tiêu đề là Phoiơbắc, sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm - là chương quan trọng trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức Trong chương này, sau khi phê phán hệ tư tưởng Đức đương thời, phân tích hạn chế của phái Hêghen trẻ, Hêghen già trong việc tách biệt tư tưởng triết học khỏi hiện thực xã hội Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày tổng quát quan niệm duy vật về lịch sử,

về sự sản xuất ra ý thức, về cơ sở thực tế của hệ tư tưởng Đức, quan hệ của nhà nước và của pháp quyền với sở hữu

C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán sự hạn chế của triết học Phoiơbắc, những hạn chế của triết học Phoiơbắc đã được trình bày trong tác phẩm “Luận cương

về Phoiơbắc” (viết năm 1845), trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen

đã cụ thể hoá và phân tích chi tiết những đặc điểm của triết học Phoiơbắc, đặc biệt là sự liên quan của hệ thống triết học đó với chủ nghĩa cộng sản

Cũng trong chương này, C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày quan điểm của các ông về chủ nghĩa cộng sản

Các phần còn lại trong tập một và tập hai của tác phẩm thiên về luận chiến Các ông luận chiến chống tư tưởng duy tâm về lịch sử, về chính trị trong kinh cựu ước, tân ước và hội nghị tôn giáo Laipxích; Phê phán triết học duy tâm “tư duy thuần túy” của chủ nghĩa xã hội Đức thông qua những nhà tiên tri khác nhau của nó, đặc biệt là phê phán chủ nghĩa xã hội chân chính Đức "Chủ nghĩa xã hội chân chính" là trào lưu của giai cấp tiểu tư sản đang được phổ biến rộng rãi ở Đức lúc bấy giờ, phản ánh tâm trạng của giai cấp tư sản Đức trước sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản và các cuộc đấu tranh giai cấp, cho rằng nước Đức có khả năng phát triển lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chủ nghĩa tư bản; tuyên truyền khẩu hiệu phi giai cấp về "tình yêu và tình anh

em nói chung"; phủ nhận đấu tranh chính trị, xa rời cuộc đấu tranh giai cấp và phong trào công nhân đấu tranh vì tự do và dân chủ ở nước Đức đương thời

Trang 20

1.2 Vấn đề biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là một trong những vấn

đề có tính chất nền tảng trong quan niệm duy vật về lịch sử Trong tác phẩm

Hệ tư tưởng Đức, vấn đề ý thức xã hội được C.Mác và Ph.Ănghen trình bày ngay từ phần một trong tập một của tác phẩm và xuyên suốt cả ở các phần sau của tác phẩm - trong quá trình luận chiến với các đại biểu của hệ tư tưởng Đức đương thời như thánh Maxơ, Brunô, Phoiơbắc

Vấn đề biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ

tư tưởng Đức được trình bày gắn liền với việc phê phán quan điểm duy tâm trong hệ tư tưởng Đức đương thời, C.Mác và Ph.Ănghen luận chứng một cách duy vật trong các phần viết về “Lịch sử”, về “Sự sản xuất ra ý thức”, về “Cơ

sở thực tế của hệ tư tưởng” là “Sự giao tiếp và sức sản xuất”, “Quan hệ của nhà nước và của pháp quyền với sở hữu”, về “Những công cụ sản xuất tự nhiên và những công cụ sản xuất do nền văn minh tạo ra và các hình thức sở

hữu”… Bằng việc luận giải một cách duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen

đã đặt cơ sở, tiền đề cho việc xem xét lĩnh vực ý thức xã hội, lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội

1.2.1 Sự phê phán của C.Mác và Ph.Ănghen đối với quan điểm duy tâm về ý thức xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Thông qua việc phê phán Brunô, Stiếcnơ, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán triết học Hêghen, phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử trong Cơ đốc giáo và các đại biểu của Hội nghị tôn giáo Laipxích

C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán triết học Hêghen qua các đại biểu của phái Hêghen trẻ, Hêghen già mà trực tiếp là Stiếc-nơ, Bru-nô… Họ huênh hoang tự xưng là “Những nhà triết học cách mạng Đức hiện đại, tự nhận rằng

đã vượt qua được Hêghen Theo C.Mác và Ph.Ăngghen thực chất họ chỉ nhào

Trang 21

nặn các phạm trù của Hêghen, gọi chúng bằng những cái tên trần tục, “chẳng hạn loài”, “kẻ duy nhất”, “con người”… và cái mà họ đòi hỏi chỉ là thay đổi ý

thức cá nhân, “họ tuyệt nhiên chẳng đấu tranh chống lại thế giới hiện thực”

[28, tr.28] Bau-ơ có mưu toan đặt “tự ý thức tuyệt đối” lên trên cái “thực thể”, coi tư tưởng là cơ sở của thế giới hiện tồn”

C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, phái Hêghen trẻ cho rằng, “những quan

hệ của con người, tất cả mọi hành động và cử chỉ của con người, mọi xiềng xích và giới hạn đối với con người đều là sản phẩm của ý thức của họ” (28, tr.27) Các ông khẳng định: “Phái Hêghen trẻ cũng như phái Hêghen già đều nhất trí tin tưởng rằng tôn giáo, khái niệm, cái phổ biến thống trị trong thế giới hiện có” [28, tr.27]

Phái Hêghen trẻ coi nhân tố tinh thần, ý thức quyết định lịch sử: “Trong

khi người Pháp và người Anh ít ra cũng bám lấy ảo tưởng chính trị là cái còn gần hiện thực nhất thì người Đức lại loay hoay trong lĩnh vực của “tinh thần thuần túy” và biến ảo tưởng của tôn giáo thành động lực của lịch sử” [28,

tr.56] Các nhân tố tinh thần (tư tưởng triết học, chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo…) được họ tách ra khỏi lịch sử biến nó thành lực lượng độc lập thúc đẩy lịch sử C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán quan điểm đó, vạch rõ họ đã

“không nói đến những lợi ích hiện thực, không hề đả động đến những lợi ích chính trị, chỉ nói đến những tư tưởng thuần túy” [28, tr.56]

C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán phái Hêghen già - đại biểu là Brunô

“lệ thuộc thường xuyên vào Hêghen” [28, tr.123], “lầm tưởng rằng tư tưởng

và quan niệm, - biểu hiện tư tưởng độc lập về thế giới hiện có, - là cơ sở của thế giới hiện có” [28, tr.121]

Ngay phần đầu tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập tới tiền đề

để nghiên cứu lịch sử, các ông chỉ ra sự sai lầm của các nhà tư tưởng Đức đều bắt nguồn từ việc xác định sai tiền đề của lịch sử Họ qui lịch sử về lịch sử

Trang 22

tinh thần, về ý niệm: “Toàn bộ sự phê phán triết học ở Đức từ Stơ-rau-xơ đến Stiếcnơ đều bó tròn trong việc phê phán những quan niệm tôn giáo Người ta xuất phát từ tôn giáo chính cống và từ tinh thần hóa chính cống Cái mà trước kia người ta coi là ý thức tôn giáo, là quan niệm tôn giáo thì sau này lại được qui định theo nhiều cách khác nhau” [28, tr.26] Kết quả duy nhất mà sự phê phán triết học ấy có thể đạt được là đem lại một đôi điều thuyết minh về mặt lịch sử tôn giáo nhưng lại rất phiến diện Theo các ông: “Người ta lấy sự thống trị của tôn giáo làm tiền đề”

C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra sai lầm của những đại biểu của nền triết học Đức đương thời là bắt nguồn từ việc xuất phát từ hệ thống triết học của Hêghen Mỗi người trong các nhà tư tưởng Đức đều tách riêng một mặt nào

đó của triết học Hêghen để phân tích, nhưng họ lại không vượt qua Hêghen C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định họ quy mọi hình thái ý thức về ý thức tôn giáo và quy mọi quan hệ hiện thực về quan hệ tôn giáo Họ đều nhất trí tin tưởng rằng tôn giáo là cái phổ biến trong thế giới hiện có Và do vậy, theo họ, để thay đổi hiện thực thì chỉ cần chống lại những ảo tưởng đó của ý thức vì mọi quan hệ của con người, mọi hành động và cử chỉ của con người, mọi xiềng xích và giới hạn đối với con người đều là sản phẩm của ý thức của họ Tóm lại họ xuất phát

từ tư tưởng để giải thích và ảo tưởng thay đổi hiện thực không mà phải từ đời sống hiện thực để giải thích tư tưởng Nhận định như vậy nên C.Mác và Ph.Ăngghen đặt ra vấn đề quan hệ giữa triết học và hiện thực, giữa sự phê phán với hoàn cảnh vật chất, giữa tồn tại xã hội với tư tưởng, ý thức của con người:

“Không một người nào trong những nhà triết học Đức tự hỏi xem mối

liên hệ giữa triết học Đức với hiện thực Đức là như thế nào, mối liên hệ giữa

sự phê phán của họ với hoàn cảnh vật chất của chính bản thân họ là như thế nào.” [28, tr.28]

Trang 23

Trong quan sát của C.Mác và Ph.Ăngghen, thánh Bru-nô không thực hiện được một phát hiện có tính chất lịch sử nào cả Bản thân lý luận của ông

ta chỉ là “sự giương oai trên con chiến mã phái Hêghen già” Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, trong tác phẩm gia đình thần thánh, triết học Hêghen được miêu

tả như là sự hợp nhất giữa Xpi-nô-da và Phi-stơ Bru-nô bắm lấy cái đó và coi

đó là một vấn đề có tính chất lịch sử thế giới Ông ta thực sự tin rằng thắng lợi của tự ý thức với thực thể sẽ có ảnh hưởng tới sự phát triển tương lai Những lời lẽ trừu tượng của Hêghen nhằm chứng minh tự ý thức-tư duy thay cho thực thể-tồn tại, được Bru-nô bám lấy C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán Bru-nô: “Những lời lẽ trừu tượng và mù mịt, mà Hêghen dùng để bóp méo những đột hiện thực được cái đầu óc “phê phán” ấy coi là bản thân sự xung đột trong hiện thực.”

Đối với ông ta câu nói triết học về vấn đề hiện thực là bản thân vấn

đề hiện thực Bởi vậy, một mặt đáng lẽ là những con người hiện thực và ý thức hiện thực của họ về những quan hệ xã hội của họ, những quan hệ đối lập với họ như một cái gì có vẻ độc lập thì ở ông

ta chỉ còn lại là công thức trừu tượng trần trụi của tự ý thức”, ông ta khoác lên những quan hệ xã hội tồn tại hiện thực những phạm trù triết học [28, tr.120]

Sai lầm của Bru-nô cũng giống như tất cả những nhà triết học Đức đương thời khi lấy tư tưởng làm cơ sở của hiện thực vật chất, lấy ý thức thay cho tồn tại của xã hội Ông ta tin vào uy lực của các nhà triết học một cách không thể lay chuyển được và tán thành đến mức nào ảo tưởng của họ cho

rằng ý thức là cơ sở của những quan hệ đang tồn tại: “…Bru-nô cùng với tất

cả các nhà triết học và các nhà tư tưởng lầm tưởng rằng tư tưởng và quan niệm, -biểu hiện độc lập về thế giới hiện có, -là cơ sở của thế giới hiện có ấy” [28, tr.121]

Trang 24

Còn về sự phê phán của Bru-nô đối với Phoi-ơ-bắc là sự lệ thuộc thường xuyên của ông ta vào nhà triết học này Ông ta phê phán bằng cách nhắc lại và tô điểm thêm những quan điểm triết học duy tâm của họ Và kết quả là triết học của ông ta làm sâu sắc thêm quan điểm giải thích sự tồn tại của đời sống hiện thực trên cơ sở của đời sống tinh thần: “Thánh Bru-nô đã tô thêm cho mình cái vinh quang bằng cách làm cho những quan hệ hiện thực của cá nhân phải lệ thuộc vào sự giải thích triết học về những quan hệ đó Ông ta không biết một chút gì về mối quan hệ giữa những quan niệm về tinh thần tuyệt đối của Hêghen và về loài của Phoi-ơ-bắc với thế giới đang tồn tại” [28, tr.125]

Đại biểu tiếp theo của triết học Đức mà các ông tập trung phê phán để làm rõ quan điểm về tính quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội

đó là Stiếc-nơ hay còn gọi là thánh Ma-xơ, thánh Xăng-sô Stiếc-nơ cũng lặp lại lịch sử của những người Đức khác ở chỗ coi tư tưởng, tinh thần là bản chất của thế giới, là bản chất của con người Ông ta quan niệm những giai đoạn khác nhau của đời người chỉ là những sự tự phát hiện của các cá nhân và những sự tự phát hiện ấy luôn luôn được quy thành một quan hệ nhất định của

ý thức Stiếc-nơ quan niệm:

Trẻ con là duy thực chủ nghĩa, nó bị cầm tù bởi những sự vật của thế giới này, cho đến khi dần dần thâm nhập được vào bản thân những sự vật ấy Thanh niên là người duy tâm chủ nghĩa, nó được cổ vũ bằng những tư tưởng cho đến khi nhờ có khổ công

mà trở thành người lớn, một người lớn vị kỉ, chi phối các sự vật

và tư tưởng, tùy theo sở thích của mình và đặt lợi ích của cá nhân lên trên hết Cuối cùng con người già? [28, tr.164]

C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán quan điểm duy tâm, phi xã hội đó về ý thức Theo quan niệm của Ma-xơ thì rõ ràng giới hạn của ý thức là đời sống

Trang 25

của cá nhân và ông ta cố định những giai đoạn khác nhau của đời người thành những quan hệ nhất định của ý thức Ở đây sự khác nhau của ý thức là đời sống của cá nhân còn những sự biến đổi thể xác và xã hội đang diễn ra trong

cá nhân và đang sản sinh ra những biến đổi trong ý thức thì không được

Stiếc-nơ quan tâm đến Rõ ràng ông ta đã giải thích sự hình thành tư tưởng, ý thức

mà không xuất phát từ đời sống xã hội Và vì không chú ý tới đời sống thể xác và xã hội của cá nhân nên trước sau như một ông ta hoàn toàn không quan tâm đến thời đại, lịch sử, giai cấp, dân tộc- không quan tâm tới những điều kiện vật chất mang tính lịch sử-xã hội của con người khi giải thích nguồn gốc của tư tưởng Vì vậy, Ma-xơ trở thành mẫu mực sáng ngời của triết học Đức

về quan niệm cho rằng tư tưởng tư biện, quan niệm trừu tượng trở thành động lực của lịch sử, mẫu mực về việc biến lịch sử thành lịch sử triết học đơn thuần C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận xét quan niệm duy tâm về lịch sử, về ý thức xã hội đó và đưa ra quan điểm duy vật của vấn đề:

Như vậy lịch sử trở thành lịch sử đơn thuần của những tư tưởng có sẵn, thành lịch sử của tinh thần và bóng ma còn lịch sử hiện thực, kinh nghiệm, cơ sở của cái lịch sử bóng ma ấy thì người ta chỉ lợi dụng để đem lại một thể xác cho những bóng ma ấy, người ta mượn của lịch sử ấy những cái tên cần thiết để khoác cho bóng ma ấy cái vỏ hiện thực mà thôi.[28, tr.168]

Vận dụng quan điểm đó vào nhận thức nguồn gốc của tôn giáo-một hình thái ý thức xã hội, các tác giả phê phán Stiếc-nơ, chỉ rõ nguồn gốc của sự hình thành tôn giáo trong đời sống hiện tồn bao gồm toàn bộ phương thức sản xuất và giao tiếp vật chất:

Đối với tôn giáo và đối với vương quốc của các bản thể thì cũng vậy, ông ta cho rằng vương quốc của các bản thể là vương quốc duy nhất, nhưng về bản chất của cái vương quốc ấy thì ông ta không

Trang 26

biết gì hết, bởi vì nếu không thì ông ta hẳn phải biết rằng bản thân tôn giáo không có bản thể cũng không có vương quốc Trong tôn giáo người ta biến thế giới kinh nghiệm của mình thành một cái gì đó chỉ có trong tư tưởng, trong tưởng tượng đối lập với họ như một cái

gì đó xa lạ Để giải thích điều đó không thể lại dùng những khái niệm khác, không thể lại dùng “tự ý thức” hoặc những cái nhảm nhí tương

tự như thế được, mà phải xuất phát từ toàn bộ phương thức sản xuất

và giao tiếp hiện đang tồn tại [28, tr.215]

Luận điểm này đã thể hiện quan điểm duy vật trong giải thích sự hình thành tôn giáo và bản chất của nó Về mặt bản chất, tôn giáo là sự phản ánh thế giới kinh nghiệm vào trong đầu óc con người theo cách chỉ có trong tưởng tượng, tức là một sự phản ánh sai lệch bản chất thế giới ấy Để giải thích được sự phản ánh hư ảo, không có thật đó theo C.Mác và Ph.Ăngghen phải căn cứ vào phương thức sản xuất-một trong những yếu tố căn bản nhất của tồn tại xã hội

Về pháp luật, thánh Xăng-sô nhắm mắt tuyên bố sở hữu hợp pháp là cơ

sở của sở hữu tư nhân và khái niệm pháp luật là cơ sở của sở hữu hợp pháp C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra bản thân những quan hệ sản xuất là cơ sở của những quan hệ sở hữu thực tế Và những quan hệ sở hữu thực tế là cơ sở của các khái niệm pháp luật Như vậy bản thân pháp luật cũng chỉ là sự phản ánh các quan hệ pháp luật mà thôi Còn việc các nhà luật học, triết học mắc phải sai lầm cho rằng khái niệm pháp luật là cơ sở của các quan hệ sở hữu thì cũng chỉ là kết quả của sự phân công lao động đã diễn ra trong lịch sử, tức là do sự tách rời giữa lao động trí óc và lao động chân tay

Phê phán Stiếcnơ - thánh Maxơ trong việc quy giản “toàn bộ lịch sử thế giới sự vật và thế giới tinh thần” [28, tr.151] vào sự vận động của tinh thần thông qua lịch sử cuộc đời con người với những giai đoạn phát triển khác nhau từ ấu thơ đến thanh niên, người lớn Stiếcnơ quy mỗi giai đoạn của đời

Trang 27

người chỉ là những sự tự phát hiện của cá nhân và những sự tự phát hiện ấy luôn được quy thành một quan hệ nhất định của ý thức Trong khi đó những biến đổi về thể xác và xã hội của cá nhân đang sản sinh ra những biến đổi trong ý thức thì không được Stiếcnơ đoái hoài Stiếcnơ không chú ý đến “đời sống” thể xác và xã hội của cá nhân, nên trước sau ông ta không hoàn toàn quan tâm đến thời đại lịch sử, đến dân tộc, đến giai cấp Do đó quan điểm triết học về lịch sử trở thành tư biện đến nỗi “lấy khái niệm tinh thần làm cơ sở và sau đó chỉ ra rằng lịch sử là quá trình bản thân tinh thần” [28, tr 235] Stiếcnơ khẳng định “bất cứ ở đâu, khái niệm cũng phải giữ vai trò quyết định, khái niệm phải điều tiết cuộc sống, khái niệm phải thống trị Đó là thế giới tôn giáo

mà Hêghen đã trình bày một cách có hệ thống” [28, tr.251] Vì thế “…lịch sử

trở thành lịch sử đơn thuần của những tư tưởng có sẵn, thành lịch sử của tinh thần và bóng ma, còn lịch sử hiện thực, kinh nghiệm, cơ sở của cái lịch sử bóng ma ấy thì người ta không chỉ lợi dụng để đem lại một thể xác cho những bóng ma ấy…” [28, tr.168] Do vậy, Stiếcnơ cho rằng, để biến đổi thực tiễn

chỉ cần biến đổi ý thức và các khái niệm của ý thức cá nhân mà thôi

C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ quan điểm của Stiếcnơ, của Thánh Maxơ, mang tính tư biện, chỉ là “những sự tự phát hiện”, thực chất là sự kết hợp thống nhất, dung hòa và phủ nhận trong giải quyết sự đối lập triết học giữa

“chủ nghĩa duy thực” và “chủ nghĩa duy tâm”, đã bỏ qua các yếu tố thời đại lịch sử, dân tộc, giai cấp…[28, tr.164,165]

C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch trần bản chất Cơ đốc giáo thông qua việc phê phán sự thần thánh hóa của thánh Xăngsô Các ông viết: “Thế giới của cái thần thánh, chung quy lại, được tập trung ở “Con người” Như chúng

ta đã thấy trong suốt toàn bộ “Cựu ước”, Xăngsô đem “Con người” làm thành chủ thể tích cực trong toàn bộ lịch sử từ trước đến nay: trong “Tân ước”, ông

ta mở rộng sự thống trị ấy của “Con người” vào toàn bộ thế giới vật thể và

Trang 28

tinh thần hiện đang tồn tại, và vào cả những đặc tính của những cá nhân hiện đang tồn tại Tất cả đều thuộc về “Con người” và do đó thế giới được biến thành ‘thế giới của con người” Cái thần thánh, với tính cách là cá nhân, là

“Con người” mà Xăngsô coi chỉ là một tên gọi khác của khái niệm, của quan niệm” [28, tr.398 -399]

C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán những quan điểm xuất phát từ tư tưởng để giải thích hiện thực, xuất phát từ sự phê phán triết học để ảo tưởng rằng đã làm nên những biến đổi trong đời sống Cách giải thích lịch sử như vậy của người Đức chỉ có tính chất địa phương và ý nghĩa địa phương mà thôi Nó chẳng khác gì “một trò giải trí, nhằm giải thích tính kỳ quái của việc hình thánh vương quốc lý luận trên mây, ngược lại không phải là nhằm chứng minh rằng vương quốc đó nảy sinh từ những quan hệ hiện thực trần gian” [28, tr.57] Bởi vậy việc xóa bỏ những lý luận ấy chỉ có thể thực hiện được khi xóa

bỏ hoàn cảnh đã tạo ra nó chứ không phải bằng suy diễn lý luận như người Đức đã làm một cách hết sức “cuồng tưởng” Các ông đánh giá những nhà triết học Đức như sau: “Những con buôn tư tưởng kiêu kì và khoác lác ấy tưởng rằng họ đứng rất cao vượt lên trên mọi thành kiến dân tộc nhưng họ còn mang nặng tính hẹp hòi hơn cả những tên phi-li-xtanh Họ đã giương cao ngọn cờ có tính chất thế giới của lý luận để tuyên bố sự thống trị thế giới của nước Đức” [28, tr.59]

Quan điểm của các nhà triết học Đức là quan điểm thiển cận khi bám lấy tư tưởng để giải thích hiện thực Họ không nhận thấy một vấn đề bản chất

là tư tưởng là biểu hiện của hiện thực, xung đột tư tưởng là biểu hiện, là một hình thức phụ thuộc của xung đột trong sản xuất vật chất: “mâu thuẫn ấy giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp đã xảy ra nhiều lần trong lịch

sử từ trước đến nay, song vẫn không làm hại đến cơ sở của nó thì lần nào cũng đều phải nổ ra thành một cuộc cách mạng, đồng thời lại mang những

Trang 29

hình thức phụ khác nhau như tổng thể những xung đột, những sự xung đột giữa các giai cấp khác nhau, những mâu thuẫn về ý thức, đấu tranh tư tưởng…” [28, tr.107]

Bên cạnh đó, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra sai lầm của Phoi-ơ-bắc trong phần đầu tập I của tác phẩm có tựa đề: “Phoi-ơ-bắc sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm” Cũng như đa phần những người theo phái Hêghen trẻ, Phoi-ơ-bắc chưa tiếp cận với quan điểm thực tiễn trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề tư duy và tồn tại, về tính quy luật của vận động xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra những hạn chế của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoi-ơ-bắc Theo các ông chủ nghĩa duy vật nhân bản phoi-ơ-bắc chỉ là sự triển khai tiếp tục các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật thế kỉ XVII-XVIII- chủ nghĩa duy vật mới chỉ nhìn ngắm giới tự nhiên trong dạng thuần khiết của nó, chứ chưa vạch ra được sự tác động có tính tích cực, tính thực tiễn của con người vào thế giới cảm giác được Cần thấy rằng thế giới cảm giác được không chỉ là thế giới có sẵn hàng nghàn năm qua mà còn là kết quả của công nghiệp và của trạng thái xã hội Các ông nhận định về quan điểm của phoi-ơ-bắc: “quan niệm xem xét sự vật đúng ý như chúng tồn tại trong thực tế thì bất cứ vấn đề triết học sâu sắc nào cũng đơn giản biến thành một

sự kiện kinh nghiệm thôi” [28, tr.62]

Mặt khác, cách tiếp cận giới tự nhiên trong dạng thuần khiết của nó chứ không phải trong quá trình vận động, biến đổi, trong quá trình giới tự nhiên thể hiện mình như cơ sở tự nhiên của sự tồn tại và hoạt động của con người đã khiến cho phoi-ơ-bắc chưa vượt qua khỏi tự nhiên luận để đến với quan điểm lịch sử cụ thể trong phân tích con người, lịch sử loài người Đành rằng Phoi-ơ-bắc đã cố gắng khắc phục chủ nghĩa giáo điều qua hình ảnh “con người cỗ máy” và khắc họa hình ảnh con người hiện thực, cụ thể bằng xương, bằng thịt, biết tư duy, xúc cảm nhưng không xem xét con người trong mối quan hệ

Trang 30

xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện làm cho họ trở thành con người đúng nghĩa

Từ hai lý do trên dẫn tới kết luận tiếp theo của các ông “Phoi-ơ-bắc không bao giờ hiểu được rằng thế giới cảm giác được là tổng số những hoạt động sống và cảm giác được của các cá nhân hợp thành thế giới ấy, vì vậy khi ông nhìn thấy chẳng hạn một đám người đói, còi cọc, kiệt quệ vì lao động và

ho lao chứ không phải những người khỏe mạnh thì ông buộc phải lẩn trốn vào trong những quan niệm cao hơn” và trong sự bù trừ loài, một sự bù trừ lý tưởng, nghĩa là ông lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm đúng ở chỗ người duy vật cộng sản chủ nghĩa nhìn thấy cả sự tất yếu lẫn điều kiện của sự cải tạo nền công nghiệp lẫn cơ cấu xã hội” [28, tr.64]

Thực ra sự phân tích trên về Phoi-ơ-bắc của C.Mác và Ph.Ăngghen nhằm mục đích chỉ ra rằng đối với Phoi-ơ-bắc ý thức của con người được xem xét chủ yếu như sự phản ánh giới tự nhiên đơn thuần, còn nội dung xã hội của phản ánh hầu như không được đề cập đến hoặc đề cập đến một cách hết sức mờ nhạt Nguyên nhân là do nhà triết học thiếu quan điểm thực tiễn, thiếu cách hiểu nhất quán trọn vẹn về tồn tại xã hội Trong quan niệm của Phoi-ơ-bắc tồn tại chỉ đơn thuần là giới tự nhiên mà không không bao hàm cả hoạt động sống của con người, quan hệ giữa con người với tự nhiên Cho nên

ý thức cũng chỉ là ý thức cá nhân đơn thuần, cứng đờ chứ không phải ý thức

cá nhân trong tương quan với ý thức xã hội

Các ông chỉ rõ hạn chế của triết học Phoi-ơ-bắc trong vấn đề con người

là chỉ nói đến “con người trừu tượng” mà không nói đến con người thực tiễn lịch sử”, xem xét con người trong lý luận mà không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt nhất định, những điều kiện làm cho họ trở thành con người đang tồn tại và hành động thực sự Phoibắc chỉ biết đến quan hệ con người trong tình yêu và tình

Trang 31

bạn được lý tưởng hóa Và do đó ông không phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại Khi nói tới quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, ông thừa nhận một cách siêu hình về giới tự nhiên mà không hiểu rằng con người đã tác động đến giới tự nhiên, tạo nên một giới tự nhiên có tính chất lịch sử Từ

sự phân tích đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đi tới kết luận về chủ nghĩa duy vật

của Phơ bách một cách chính xác rằng: “Khi Phoi-ơ-bắc là nhà duy vật thì

ông không bao giờ đụng đến lịch sử, còn khi ông có tính chất lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật Ở Phoi-ơ-bắc lịch sử và chủ nghĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau” [28, tr.65]

Bên cạnh đó, trong tập hai của tác phẩm, các ông còn phê phán những quan điểm tách rời lý luận với thực tiễn, ý thức với tồn tại của những đại biểu của chủ nghĩa xã hội chân chính ở Đức Tất cả những đại biểu mệnh danh là những người chủ nghĩa xã hội chân chính đều “không nhìn nhận sách báo cộng sản chủ nghĩa ở nước ngoài là biểu hiện và sản phẩm của một phong trào hiện thực mà chỉ coi đó là những tác phẩm lý luận đơn thuần” Họ không biết rằng những tác phẩm ấy lấy những nhu cầu thực tiễn, lấy toàn bộ điều kiện sinh hoạt của một giai cấp nhất định trong một nước nhất định làm cơ sở

Và khi tách những lý luận xã hội ấy khỏi những điều kiện sinh hoạt vật chất của một giai cấp nhất định nghĩa là họ đã tách tư tưởng khỏi hiện thực vật chất, biến tư tưởng trở thành tư tưởng thuần túy, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra

Họ tách rời ý thức về những lĩnh vực sinh hoạt nhất định do lịch

sử quy định với bản thân những lĩnh vực ấy và lấy ý thức chân chính tuyệt đối, tức là cái ý thức triết học Đức, làm thước đo ý thức đó Họ đem biến một cách hoàn toàn nhất quán những quan

hệ của những cá nhân nhất định nào đó thành những quan hệ của

“con người”, họ giải thích tư tưởng của những cá nhân nhất định

Trang 32

ấy về những quan hệ của bản thân những cá nhân ấy là những tư tưởng về “con người” Như vậy, họ rời bỏ cơ sở lịch sử thực tế để chuyển sang cơ sở tư tưởng,… [28, tr.669]

Bản thân chủ nghĩa xã hội chân chính chẳng qua là sự biến dạng của chủ nghĩa cộng sản của giai cấp vô sản và những đảng và những phe phái ít nhiều gần gũi với nó ở pháp và Anh Bản thân nó cũng nảy sinh trên những quan hệ xã hội đang tồn tại ở nước Đức, nhằm điều hòa giữa chủ nghĩa cộng sản và những quan niệm đang thống trị của giai cấp tiểu tư sản ở Đức

C.Mác và Ph.Ăngghen phê phán chủ nghĩa xã hội chân chính Đức, ở chỗ trong khi kết hợp những mặt yếu của triết học cổ điển Đức và chủ nghĩa

xã hội không tưởng Pháp, những nhà tư tưởng của “chủ nghĩa xã hội chân chính” (K.Gruyn, M.Ghetsơ…) đã đồng nhất việc phê phán chủ nghĩa cộng sản với lý tưởng hóa các chế độ tiền tư bản, gieo rắc ảo tưởng về khả năng phát triển của nước Đức lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chủ nghĩa tư bản với khẩu hiệu phi giai cấp về “tình yêu và tình anh em nói chung”, phủ nhận đấu tranh chính trị và không tham gia phong trào thực tiễn chống lại chế độ hiện tồn, coi thường cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ Khi nước Đức đang ở vào đêm trước của cuộc cách mạng dân chủ tư sản, những quan điểm của chủ nghĩa xã hội chân chính đã có ảnh hưởng tới phong trào dân chủ và công nhân C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ bản chất của “chủ nghĩa xã hội chân chính” về mặt xã hội là một trào lưu tư tưởng tiểu tư sản phản ánh phong trào văn học xã hội chủ nghĩa mà nó nảy sinh ở bên ngoài lợi ích của một đảng

chân chính Các ông chỉ rõ “Chủ nghĩa xã hội chân chính” cho rằng mình

dựa trên cơ sở “khoa học”, thực ra bản thân nó là một thứ khoa học thần bí nào đó; sách báo lý luận của nó chỉ dành cho những người am hiểu tinh thần

đang tư duy…Vì vậy, nó không hướng về giai cấp vô sản… ” [28, tr.669]

Trang 33

1.2.2 Biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong tác phẩm

Hệ tư tưởng Đức

1.2.2.1 Quan niệm duy vật về lịch sử trong tác phẩm

Gắn với việc phân tích, phê phán tính chất duy tâm, phản cách mạng trong hệ tư tưởng Đức đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đồng thời luận giải một cách duy vật lịch sử - đặt cơ sở, tiền đề xem xét lĩnh vực ý thức xã hội, lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội

C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ sự khác biệt giữa những đại biểu của hệ

tư tưởng Đức với những người cộng sản khi giải quyết mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời chỉ ra sự khác biệt, sự đối lập của quan điểm

Mácxit về lịch sử so với các quan niệm duy tâm đó: “Khác với quan niệm duy

tâm về lịch sử, quan niệm đó về lịch sử không đi tìm một phạm trù nào đó trong mỗi thời đại, mà nó luôn đứng trên miếng đất hiện thực của lịch sử; nó không căn cứ vào tư tưởng để giải thích thực tiễn, nó giải thích sự hình thành của tư tưởng căn cứ vào thực tiễn vật chất” [28, tr.54]

Luận giải duy vật về lịch sử xã hội loài người được C.Mác và

Ph.Ăngghen triển khai với các nội dung sau:

Một là, con người hiện thực là tiền đề của toàn bộ lịch sử nhân loại

Trên cơ sở phê phán quan điểm duy tâm của phái Hêghen trẻ và quan niệm trừu tượng về con người của Phoi-ơ-bắc, C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày quan niệm về con người hiện thực Quan niệm về con người trong tác phẩm là sự tiếp nối tinh thần duy vật về con người trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế triết học”

Khác với quan niệm của các nhà tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen

cho rằng con người là tiền đề đầu tiên của lịch sử Các ông viết: “Tiền đề đầu

tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống” [28, tr.29] Nhưng con người ở đây không phải là con người

Trang 34

chung chung trừu tượng mà là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ

và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ Những tiến đề ầy hoàn toàn có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần túy

Khi phân tích con người hiện thực với tư cách là sản phẩm của lịch sử

và cũng là nhân tố làm nên lịch sử, các ông khẳng định đặc trưng căn bản nhất, trước nhất để phân biệt con người với các cơ thể sống khác là ở hoạt

động sản xuất vật chất: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức,

bằng tôn giáo, nói chung bằng bất kì cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình” [28, tr.29] Chính trong quá trình sản xuất

vật chất ấy, con người làm nên lịch sử, sản xuất ra các sản phẩm lý luận

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “ tiền đề đầu tiên của của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử” [28, tr.40]

Hai là, C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích, khẳng định vai trò của sản

xuất vật chất và qui luật khách quan của sự phát triển xã hội, luận chứng duy vật lịch sử về giai cấp, nhà nước, cách mạng xã hội, biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng hình thành phác thảo về lý luận hình thái kinh

tế - xã hội, vạch ra qui luật khách quan của sự phát triển xã hội, chỉ ra sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình khách quan có nguyên nhân từ sự phát triển của nền sản xuất xã hội

Con người là tiền đề đầu tiên của lịch sử nhưng con người muốn sống, muốn tồn tại thì phải thỏa mãn các nhu cầu về ăn, mặc, ở… “Như vậy, hành

vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” Điểm thứ hai tham dự vào lịch sử là tái tạo ra đời sống của bản thân với việc đáp ứng nhu cầu và việc nảy sinh những nhu cầu mới của con người Khi những nhu cầu đó được

Trang 35

thỏa mãn làm xuất hiện thêm các nhu cầu khác, các hoạt động chính trị tôn giáo, đạo đức, nhà nước… của con người Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình lịch sử, theo C.Mác và Ph.Ăngghen là tái sản xuất con người: việc sinh con đẻ cái

Con người hiện thực với tư cách là sản phẩm của lịch sử và cũng là nhân tố chủ thể làm nên lịch sử luôn gắn với quá trình sản xuất vật chất Các ông khẳng định sản xuất vật chất là hoạt động đặc trưng, là phương thức tồn tại đặc trưng của loài người Lịch sử nhân loại trước hết là lịch sử sản xuất vật chất, chính sản xuất vật chất tạo ra tư liệu sinh hoạt đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người, chính trong quá trình đó, bản thân con người và giới tự nhiên được cải biến Sản xuất vật chất là cơ sở hình thành các quan hệ xã hội Ở mỗi giai đoạn lịch sử con người tiến hành theo cách thức nhất định

Sản xuất vật chất là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển các

quan hệ xã hội Các ông viết: “Sự sản xuất ra đời sống của bản thân mình

bằng lao động cũng như ra đời sống của người khác bằng sinh con đẻ cái biểu hiện ra ngay từ đầu là một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội với ý nghĩa là sự hiệp tác của nhiều cá nhân…” [28, tr.29] Và theo các ông, quan hệ giữa con người với tự nhiên

chính là biểu hiện của lực lượng sản xuất, quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất chính là quan hệ giao tiếp (hình thức giao tiếp - sau này được các ông gọi là quan hệ hệ sản xuất) Chúng thống nhất với nhau trong một phương thức sản xuất, có sự tác động biện chứng Theo các ông: “Hình thức giao tiếp, cái mà tất cả các giai đoạn lịch sử từ trước tới nay đều được quyết định bởi lực lượng sản xuất và đến lượt nó lại quyết định lực lượng sản xuất”

Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến sự phân công lao động, đó là sự phân bố lại dân cư, tách rời giữa lao động nông nghiệp với công nghiệp, thành thị và nông thôn Khảo sát lịch sử, các ông chỉ ra rằng, tương ứng với mỗi xã hội

Trang 36

cụ thể, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội, là một chế độ sở hữu nhất định Các ông viết: “Những giai đoạn phát triển khác nhau của sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của sở hữu, nghĩa là mỗi giai đoạn của phân công lao động cũng quy định những quan hệ giữa các cá nhân với nhau, căn cứ vào quan hệ của họ với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động” [28, tr.31] “Những cá nhân nhất định, hoạt động sản xuất theo một phương thức sản xuất nhất định, đều nằm trong những quan hệ chính trị và xã hội nhất định” [28, tr.36]

Hình thức sở hữu đầu tiên của loài người là hình thức sở hữu bộ lạc Hình thức này phù hợp với giai đoạn chưa phát triển của lực lượng sản xuất- lao động săn bắt, hái lượm, trồng trọt sau đó là khai khẩn đất hoang Trong giai đoạn ấy, sự phân công lao động diễn ra tự nhiên trong gia đình-thị tộc, và chỉ mở rộng ở đó

Hình thức sở hữu thứ hai là sở hữu công xã và nhà nước thời cổ đại Hình thức này là kết quả của việc tập hợp bằng hiệp ước hay bằng chinh phục nhiều bộ lạc thành một thành thị Hình thức sở hữu này là sự kết hợp cả chế

độ nô lệ, gia trưởng vẫn được duy trì bên cạnh đó, sở hữu tư nhân về động sản

và sau đó cả bất động sản cũng được phát triển nhưng dưới hình thức phụ thuộc vào sở hữu công xã

Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp Điểm xuất phát của nó là chế độ chiếm hữu ruộng đất Chế độ phong kiến với toàn bộ cơ cấu xã hội của nó cho thấy sự kém phát triển về lực lượng sản xuất

và phân công lao động

Hình thức sở hữu thứ tư là sở hữu tư bản chủ nghĩa Trong tác phẩm này, C.Mác và Ph.Ăngghen tập trung nghiên cứu hình thức này gắn liền với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản Các ông luận chứng và khẳng định, hình thức giao tiếp tư bản chủ nghĩa đã được hình thành trong lòng xã hội

Trang 37

phong kiến Sự phát triển của phân công lao động mà mở đầu là sự phân chia lao động vật chất và lao động tinh thần, đã dẫn đến sự đối lập giữa thương nghiệp và công nghiệp, đến sự phân công giữa các thành thị, và đến sự xuất hiện công trường thủ công rồi chuyển dần sang chế độ công xưởng

Khi phân tích sự phát triển của sở hữu, các ông khẳng định sự phát triển này bắt nguồn từ sự phát triển của phân công lao động, các ông cũng đồng thời chỉ ra lực lượng sản xuất phát triển tới một mức độ nào đó sẽ dẫn tới mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Mâu thuẫn về mặt sản xuất ấy là nguồn gốc của mọi mâu thuẫn khác trong xã hội Các ông viết:

“Như vậy theo quan điểm của chúng tôi, mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp”; và rằng những mâu thuẫn đó tất sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng “Mâu thuẫn ấy giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử từ trước đến nay song vẫn không làm hại cơ sở của nó thì lần nào cũng phải nổ

ra thành một cuộc cách mạng” [28, tr.107]

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, chính trong quá trình sản xuất vật chất đã làm nảy sinh các hoạt động chính trị-xã hội và đời sống tinh thần của con người Do vậy khi nghiên cứu lịch sử phải xuất phát từ “chính ngay sự sản xuất ra đời sống trực tiếp để xem xét quá trình hiện thực của sản xuất… rồi sau đó miêu tả hoạt động của xã hội công dân trong lĩnh vực sinh hoạt nhà nước cũng như từ xã hội công dân mà giải thích toàn bộ những sản phẩm lý luận khác nhau…” [28, tr.54]

Những phân tích của C.Mác và Ph.Ăngghen đã trực tiếp khẳng định vai trò của sản xuất vật chất chính là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Về vấn đề giai cấp, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, chính “sự phân công lao động cũng đồng thời bao hàm mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân riêng biệt

Trang 38

hay của gia đình với lợi ích tập thể của tất cả các cá nhân liên hệ với nhau” [28, tr.46] đã dẫn tới sự phân chia giai cấp Gắn với hình thức sở hữu đầu tiên trong lịch sử, gắn với một giai đoạn chưa phát triển của sản xuất và phân công lao động là sự phân chia xã hội thành tù trưởng với những người dưới họ là các thành viên trong bộ lạc và cuối cùng là nô lệ Khi phân công lao động phát triển hơn nữa của thương nghiệp và công nghiệp thì những quan hệ giai cấp giữa công dân và nô lệ cũng phát triển hoàn toàn Sự mở rộng của lao động tiếp theo đó là sự tách rời giữa sản xuất với thương nghiệp là sự hình thành một giai cấp riêng biệt những người thương nhân Kế tiếp là sự phân công lao động giữa các thành thị khác nhau dẫn tới sự ra đời của công trường thủ công, của giai cấp vô sản Đấu tranh giai cấp là kết quả của sự mâu thuẫn

giữa các giai cấp về mặt lợi ích trong xã hội Còn nhà nước là “hình thức mà

các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của

họ và là hình thức dưới đó xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung” [28, tr.90]

Cũng từ việc phân tích các hình thức sở hữu trong lịch sử, mà thực chất là các hình thức của quan hệ sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ nội dung cốt lõi, qui luật cơ bản chi phối sự phát triển xã hội, đó là qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Hai ông nhận định: trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất có một giai đoạn mà trong đó xuất hiện những lực lượng sản xuất và những phương tiện giao tiếp chỉ có thể gây tác hại trong khuôn khổ những quan hệ hiện có, và đã không còn là những lực lượng sản xuất nữa mà là những lực lượng phá hoại Do chỗ xét về mặt lịch sử, các quan hệ sản xuất nhất định thể hiện sự thống trị của một giai cấp đối với các giai cấp khác, và do chỗ giai cấp thống trị này sử dụng các lực lượng sản xuất để duy trì sự thống trị của mình, nên mọi cuộc đấu tranh cách mạng đều nhằm chống lại giai cấp thống

Trang 39

trị bóc lột Cách mạng xã hội chính là sự giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp, sự thay thế phương thức sản xuất lỗi thời bằng phương thức sản xuất mới

Các ông chỉ rõ, sự khác biệt giữa cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa

so với các cuộc cách mạng khác trong lịch sử ở chỗ, nó xóa bỏ lao động bị tha hóa, xóa bỏ mọi giai cấp Các ông viết: “Trong hết thảy các cuộc cách mạng trước đây, tính chất hoạt động bao giờ cũng nguyên như cũ,- và bao giờ vấn

đề cũng chỉ là phân phối hoạt động ấy một cách khác, chỉ là sự phân phối lao động mới cho những người khác; trái lại cách mạng cộng sản chủ nghĩa là nhằm chống lại tính chất hoạt động trước đây, nó xóa bỏ lao động và thủ tiêu

sự thống trị của mọi giai cấp cùng với bản thân giai cấp” [28, tr.100]

Từ việc phân tích và làm rõ quan hệ giữa lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp, các ông khẳng định vai trò của xã hội công dân (cơ sở hạ tầng) với tư cách là tổng thể các quan hệ giao tiếp của xã hội đối với kiến trúc thượng tầng tư tưởng Các ông viết:

Trong mọi thời đại những tư tưởng của giai cấp thống trị là những

tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần trong xã hội… Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng [28, tr.66]

Ba là, từ những luận chứng duy vật về lịch sử mang tính tiền đề, đặt cơ

sở cho việc luận chứng về lĩnh vực ý thức xã hội, C.Mác và Ph.Ănnghen đã bộc lộ quan niệm của các ông về tồn tại xã hội và ý thức xã hội khi phân tích

sự sản xuất ra ý thức

Trang 40

Tuy chưa đưa khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội một cách hoàn chỉnh nhưng nội dung cơ bản của khái niệm đã được các ông đề cập đến một cách khá sâu sắc

Liên quan đến khái niệm tồn tại xã hội, trong tác phẩm C.Mác và Ph.Ăngghen đã xử dụng các thuật ngữ: “những điều kiện và tiền đề vật chất”,

“phương thức sản xuất”, “hoạt động vật chất” và “sự giao tiếp vật chất” Còn liên quan đến khái niệm ý thức xã hội, các ông cũng đề cập tới “ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực”, “quan niệm”, “tư duy”, “giao tiếp tinh thần” Việc làm

rõ hai khái niệm này được tập trung trong phần một của tập một: “Hệ tư tưởng nói chung và Hệ tư tưởng Đức nói riêng” Ở đây, khái niệm tồn tại xã hội được hiểu là quá trình đời sống hiện thực của con người, bao gồm toàn bộ sinh hoạt vật chất, các điều kiện sinh hoạt vật chất, các quan hệ vật chất

Phê phán những quan điểm duy tâm về lịch sử trong hệ tư tưởng Đức đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen xác định quan niệm duy vật về lịch sử phải lấy tồn tại của con người làm tiền đề của lịch sử Và cũng chính qua việc xác lập tiền đề nghiên cứu của lịch sử, ở tác phẩm đã có sự định hình trong

quan điểm duy vật về tồn tại xã hội Các ông khẳng định: “Những tiền đề xuất

phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều Đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ” [28, tr.28]

Điều kiện sinh hoạt vật chất được hiểu là những điều kiện có sẵn như điều kiện địa lý, điều kiện khí hậu, điều kiện địa chất và có những điều kiện

do con người tạo ra như điều kiện dân số

Tồn tại xã hội với tư cách là toàn bộ những sinh hoạt vật chất của con người, theo C.Mác và Ph.Ăngghen còn bao hàm cả những quan hệ vật chất giữa người với người, giữa con người với tự nhiên mà các ông gọi đó là

Ngày đăng: 24/11/2021, 19:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như An (2003), Bồi dưỡng nhân tài trong chiến lược con người nhằm xây dựng đất nước, kỷ yếu hội thảo khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng nhân tài trong chiến lược con người nhằm xây dựng đất nước
Tác giả: Nguyễn Như An
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
3. Hoàng Quốc Bảo (2006), “Đổi mới công tác quản lý cán bộ, đảng viên, khắc phục sự suy thoái tư tưởng chính trị”, Tạp chí Báo chí tuyên truyền, (4), tr.25-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác quản lý cán bộ, đảng viên, khắc phục sự suy thoái tư tưởng chính trị”, "Tạp chí Báo chí tuyên truyền
Tác giả: Hoàng Quốc Bảo
Năm: 2006
4. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Giáo trình triết học, NXB Chính trị- Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị- Hành chính
Năm: 2008
5. Bộ giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Nguyễn Đình Cấp (2008), Tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph. Ănghen về triết học, Đề tài cấp cơ sở Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph. Ănghen về triết học
Tác giả: Nguyễn Đình Cấp
Năm: 2008
7. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2003), Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác và Ph.Ănghen, V.I.Lênin, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác và Ph.Ănghen, V.I.Lênin
Tác giả: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
8. Phạm Văn Chung (2001), “Về đặc điểm các giai đoạn hình thành, phát triển của quan niệm duy vật lịch sử, Tạp chí Triết học, (5), tr 33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc điểm các giai đoạn hình thành, phát triển của quan niệm duy vật lịch sử, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Phạm Văn Chung
Năm: 2001
9. Phạm Văn Chung (2006), “Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách hệ thống lí luận khoa học trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức””, Tạp chí Triết học, (3), tr 10-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách hệ thống lí luận khoa học trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức””, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Phạm Văn Chung
Năm: 2006
10. TS. Dương Tự Đam (2008), Thanh niên với việc làm hướng nghiệp và phát triển tài năng, NXB Thanh niên, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên với việc làm hướng nghiệp và phát triển tài năng
Tác giả: TS. Dương Tự Đam
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2008
11. Dương Tự Đam (1996), Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đối mới ở Việt Nam, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đối mới ở Việt Nam
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
14. Nguyễn Hữu Dũng (2005), Tình hình thanh niên tham gia chuyển dịch cơ cấu lao động kinh tế nông nghiệp, kỷ yếu hội thảo khoa học Viện khoa học và Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thanh niên tham gia chuyển dịch cơ cấu lao động kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2005
15. Nguyễn Mạnh Dũng (2007), Báo cáo khoa học chuyên đề “Định hướng giá trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay”, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học chuyên đề “Định hướng giá trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Mạnh Dũng
Năm: 2007
16. Phạm Văn Dũng(2006), Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
17. Bùi Hữu Giao (2012), Hành trang đời người, NXB Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trang đời người
Tác giả: Bùi Hữu Giao
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2012
18. Nguyễn Văn Huyên (2006), “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Tạp chí cộng sản, (4), tr.14-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, "Tạp chí cộng sản
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 2006
19. Hội đồng lí luận trung ương (2008), Những vấn đề lí luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay. NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lí luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay
Tác giả: Hội đồng lí luận trung ương
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
20. Khoa Triết học Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giới thiệu kinh điển triết học Mác-Lênin, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu kinh điển triết học Mác-Lênin
Tác giả: Khoa Triết học Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
21. Khoa triết học Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Giáo trình Đạo đức học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức học
Tác giả: Khoa triết học Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w