1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề phương pháp trong hiện tượng học của edmund husserl

96 7 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 886,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sở để tìm hiểu về tư tưởng của nhà triết học được phản ánh trong chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa phi lý tính… Trong di sản triết học phương Tây hiện đại đồ sộ và phong p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN THUỲ LINH

VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP TRONG HIỆN TƯỢNG HỌC

CỦA EDMUND HUSSERL

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN THUỲ LINH

VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP TRONG HIỆN TƯỢNG HỌC

CỦA EDMUND HUSSERL

Ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Trần Văn Phòng

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ trong một công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thùy Linh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: NHỮNG ĐIỂU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH PHƯƠNG PHÁP HIỆN TƯỢNG HỌC CỦA HUSSERL 12

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành phương pháp hiện tượng học 12

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

1.1.2 Sự phát triển của khoa học tự nhiên 19

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành phương pháp hiện tượng học 22

1.2.1 Phương pháp hoài nghi của triết học Descartes 22

1.2.2 Phương pháp siêu nghiệm của Kant 30

1.2.3 Học thuyết về tính ý hướng của Brantano 37

1.3 Khái quát về hiện tượng học và hoạt động triết học của Husserl 42

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ PHƯƠNG PHÁP TRONG HIỆN TƯỢNG HỌC CỦA HUSSERL 53

2.1 Quy giản triết học 56

2.2 Quy giản bản chất 60

2.3 Quy giản hiện tượng học 65

2.4 Một số nhận xét về vấn đề phương pháp trong hiện tượng học của Husserl qua cách tiếp cận duy vật biện chứng 80

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

C.Mác đã viết: “Các nhà triết học không phải là những cây nấm mọc trên đất Họ là những sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình, mà những tinh lực quý giá nhất và khó thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết học”[20,

tr 9] Lịch sử phát triển của triết học cho thấy, các nhà triết học sinh ra ở chính bối cảnh lịch sử thời đại của họ, và họ chính là những những viên ngọc tinh túy nhất phản ánh những biến động của thời đại qua tư tưởng của họ Đối với các triết gia, tư tưởng mới là cái quan trọng nhất, điều đó thể hiện triết gia

có thành công hay không trong lĩnh vực của mình thì tùy thuộc vào tư duy của ông ta có sâu sắc hay không Husserl chính là nhà triết học như thế

Thế kỷ XIX là thế kỷ gắn những biến đổi mạnh mẽ bộ mặt, đời sống con người, ảnh hưởng đến chính trị, kinh tế, khoa học – kỹ thuật ở châu Âu, đặc biệt là sự ra đời của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa công nghiệp Những biến đổi này nó tác động đến chiều sâu tâm lý, quan niệm sống và cảm xúc của con người Đây là thế kỷ mà chủ nghĩa tư bản xác lập địa vị thống trị của mình, nó tạo ra một lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao và hiện đại, giai cấp tư sản dùng mọi thủ đoạn để bóc lột ngày càng tinh vi hơn,

sự phân hóa giàu nghèo vì thế cũng ngày càng gay gắt, mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng quyết liệt hơn

Mặt khác, kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ đã phá tan quan

hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu của chế độ phong kiến Các ngành sản xuất mới xuất hiện đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, làm thay đổi phương thức

tổ chức lao động, thay đổi kết cấu giai cấp và đời sống xã hội nói chung Xã hội và con người châu Âu thế kỷ XIX thay đổi về sắc thái, diện mạo Các vấn

đề kinh tế cùng với sự thay đổi về giá trị đạo đức và thân phận con người gắn với giai đoạn lịch sử đầy biến động này Từ bức tranh toàn cảnh này, ta có cơ

Trang 6

sở để tìm hiểu về tư tưởng của nhà triết học được phản ánh trong chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa phi lý tính…

Trong di sản triết học phương Tây hiện đại đồ sộ và phong phú, sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh cùng với phương pháp hiện tượng học được xem như một luồng gió mới để dẫn dắt con người châu Âu ra khỏi tính duy lý do chủ nghĩa duy lý tạo ra trong xã hội phương Tây hiện đại Vì lẽ đó mà chủ nghĩa hiện sinh được phương Tây hân hoan đón nhận vì nhờ có phương pháp hiện tượng học Người ta mô tả sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp như sau: “Ấy là một buổi sáng mùa đông (1946) vừa thức dậy cả thành phố Paris thấy mình “hiện sinh”, sách báo đầy hiện sinh quyến rũ tràn khắp phố phường, những “đám thanh niên nam nữ vui vẻ” kéo đến những căn hầm ở Saint – Germain, ầm vang điệu nhạc Jazz trong những trang phục mới lạ với đầu tóc xõa, quần túm ống và ăn nói mời chào phóng túng” [17, tr.6, tr.10]

Có thể nói, nếu không có hiện tượng học thì cũng không có chủ nghĩa hiện sinh với tư cách là một trào lưu triết học Hiện tượng học đã cung cấp cho chủ nghĩa hiện sinh một phương pháp nền tảng để cảm nhận thế giới, đặc biệt là nhận thức con người hiện sinh

Hiện tượng học của Edmund Husserl, sau khi ra đời, đã đem đến một

sự phát triển mới cho triết học phương Tây hiện đại Hành trình mà hiện tượng học đã đi qua để có được vị trí như vậy là từ chủ nghĩa tâm lý đến hiện tượng học, từ hiện tượng học mô tả đến hiện tượng học siêu nghiệm, rồi từ

chủ thể siêu nghiệm đến “thế giới đời sống” Trong Các triết thuyết lớn,

Dominique Folscheid đã ví Husserl là người “đem đến hơi thở thứ hai” cho triết học vì nó tạo ra một “cuộc cách mạng thực sự về phương pháp”

Hiện tượng học của Edmund Husserl đặt cơ sở lý luận về phương pháp,

có ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết các trào lưu triết học phi lý tính xuyên suốt thế kỷ XX ở phương Tây Trong đó, đáng kể nhất là vai trò quyết định

Trang 7

của hiện tượng học đối với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh Có thể nói nếu thiếu hiện tượng học thì chủ nghĩa hiện sinh không thể có

cơ sở lý luận và phương pháp luận để trở thành một trào lưu triết học, cho nên

ở đâu chủ nghĩa hiện sinh tồn tại thì ở đó có sự biểu hiện của hiện tượng học Tìm hiểu triết học Edmund Husserl còn cho ta cơ sở để hiểu triết học hiện tượng học của chủ nghĩa hiện sinh, gạn lọc trong đó những “hạt nhân hợp lý”

và phê phán những gì không hợp lý, như hiện tượng học của Edmund Husserl đứng trên lập trường duy tâm chủ quan, hiện tượng học luôn tự mâu thuẫn trong việc quy định đối tượng và mục đích nghiên cứu, tuyệt đối hóa vai trò của ý thức

Từ những lý do trên, tôi chọn “Vấn đề phương pháp trong hiện tương

học của Husserl” làm đề tài luận văn thạc sỹ triết học

2 Tình hình nghiên cứu

Sự phong phú và đa dạng từ các công trình nghiên cứu về Husserl được dịch thuật từ các nhà triết học phương Đông, phương Tây đã mang lại một bức tranh đầy màu sắc về một trào lưu mới - trào lưu hiện tượng học

Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh, một số công trình tiêu biểu thuộc khuynh hướng này bao gồm:

Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng của GS Trần Đức Thảo là

một công trình nghiên cứu trong gần 10 năm, tác giả đã trình bày những đặc điểm chủ yếu của hiện tượng học từ một quan điểm lịch sử thuần túy, cũng như triển vọng của tư tưởng hiện tượng học, đồng thời, tác giả phân tích, phê phán để vạch

rõ những mâu thuẫn nội tại ngay trong chính những tác phẩm của Husserl

Tác giả Nguyễn Hào Hải trong Một số học thuyết triết học phương Tây

hiện đại (2001) cũng đã giới thiệu những nét khái quát về quan điểm và mối

quan hệ giữa hiện tượng học Husserl và chủ nghĩa hiện sinh Ông viết: “Có thể nói không nhờ vào hiện tượng luận của Husserl như một phương pháp quan

Trang 8

trọng thì chủ nghĩa hiện sinh không thể phát triển mạnh mẽ như chúng ta đã biết”[9, tr.110]

Triết học phương Tây hiện đại (2002) của hai nhà nghiên cứu Bùi Đăng

Duy và Nguyễn Tiến Dũng cũng là một công trình nghiên cứu khá công phu

về triết học phương Tây hiện đại Công trình đã đưa ra các nhìn khách quan

và đúng đắn về vai trò, vị trí của hiện tượng học và chủ nghĩa hiện sinh trong dòng chảy triết học phương Tây hiện đại

Trong năm 2010, các tác giả Nguyễn Chí Hiếu, Đỗ Minh Hợp, và Phạm

Quỳnh Trang đã cho ra mắt bạn đọc công trình chuyên khảo Hiện tượng học

của Husserl Có thể nói, so với các công trình nghiên cứu về hiện tượng học

của Husserl từ trước đến nay thì đây là công trình mang tính chuyên sâu về hiện tượng học, phương pháp hiện tượng học, hiện tượng học hậu Husserl

Các tài liệu nghiên cứu về triết học phương Tây hiện đại và hiện

tượng học cũng đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt như Triết học phương

Tây hiện đại (1994) của Lưu Phóng Đồng, đây được coi là Giáo trình

Các con đường của triết học phương Tây hiện đại (1997) của J.K Melvil; Hiện tượng học Husserl (2005) của Diêu Trị Hoa Trong các công trình

này, hiện tượng học của Husserl và nhiều học thuyết triết học hiện đại khác

ở phương Tây được nghiên cứu một cách vừa tổng quát vừa chuyên sâu tương ứng với đối tượng và mục đích nghiên cứu

Ngoài ra còn phải nói đến công trình nghiên cứu Hiện tượng học

Edmund Husserl và sự hiện diện của nó ở Việt Nam của Nguyễn Trọng

Nghĩa, đây chuyên luận có giá trị, giới thiệu điều kiện lịch sử, quá trình hình thành và phát triển của hiện tượng học của Edmund Husserl; những nguyên lý

cơ bản và phương pháp hiện tượng học; đặc biệt là sự hiện diện của nó ở nước

ta Công trình được xem là một trong những tài liệu tham khảo cần thiết cho

Trang 9

bạn đọc quan tâm tìm hiểu về lịch sử triết học phương Tây hiện đại Tuy nhiên, vấn đề phương pháp trong hiện tượng học của E Husserl vẫn là một khoảng trống cần đi sâu nghiên cứu

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, hướng nghiên cứu của đề tài nhận được sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu và trên thực tế, các công trình nghiên cứu đi trước cũng đã đạt được những kết quả rất đáng chú ý Đó

sẽ là cơ sở để tác giả luận văn kế thừa và hệ thống hóa những kiến thức đã học trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm rõ một số nội dung chủ yếu về phương pháp trong hiện tượng học của Husserl

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Phân tích chỉ rõ điều kiện, tiền đề cho sự hình thành phương pháp trong hiện tượng học của Husserl

- Phân tích chỉ ra những nội dung chủ yếu về phương pháp trong hiện tượng học của Husserl

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: những nội dung về phương pháp trong

hiện tượng học của Husserl

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Vấn đề phương pháp trong hiện tượng học của Husserl, nghiên cứu qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước, các dịch giả nước ngoài

Trang 10

+ Nghiên cứu 3 nội dung chủ yếu: Quy giản triết học, quy giản bản chất

và quy giản hiện tượng học

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và tư tưởng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn quán triệt hai nguyên tắc mang tính phương pháp luận là quan điểm khách quan và quan điểm biện chứng Ngoài ra luận văn còn sử dụng nhất quán một số phương pháp nghiên cứu như lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa, so sánh

6 Cái mới của luận văn

Nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ góp một phần nhỏ vào việc làm rõ hơn những nội dung chủ yếu trong phương pháp hiện tượng học của Husserl

và là tài liệu tham khảo cho việc học tập, tìm hiểu triết học phương Tây hiện đại ở bậc đại học và sau đại học

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh mà cụ thể là vấn đề phương pháp trong hiện tượng học của Husserl, làm rõ hơn những nội dung về phương pháp trong hiện tượng học của Husserl

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập cho bộ môn triết học nói chung và triết học phương Tây hiện đại nói riêng, nhất là với những ai muốn tìm hiểu về chủ nghĩa hiện sinh, Husserl và vấn đề phương

pháp trong hiện tượng học của Husserl

Trang 11

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 7 tiết

Trang 12

Chương 1 NHỮNG ĐIỂU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH

PHƯƠNG PHÁP HIỆN TƯỢNG HỌC CỦA HUSSERL

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành phương pháp hiện tượng học

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thế kỷ XIX đánh dấu sự thay đổi toàn bộ bộ mặt của châu Âu, đây là thế kỷ mà chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa công nghiệp ra đời và chiếm ưu thế, chủ nghĩa tư bản phương Tây giai đoạn này đã vượt qua thời kỳ cổ điển để sang thời kỳ hiện đại Thế kỷ này cũng chứng kiến sự biến đổi mạnh mẽ của tinh thần và vật chất, sự thay đổi từ chính trị đến kinh tế, khoa học – kỹ thuật

ở châu Âu, đời sống của con người châu Âu khoác lên mình lớp áo mới với những quan niệm về giá trị và thân phận con người

Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX, Tây Âu với sự phát triển của kinh

tế tư bản chủ nghĩa cùng với những thành tựu của khoa học kỹ thuật đã đẩy lùi xã hội phong kiến với cái cối xay đi vào bảo tàng của lịch sử Các ngành sản xuất mới xuất hiện đã làm thay đổi phương thức tổ chức lao động, thay đổi kết cấu giai cấp và đời sống xã hội nói chung

Thời kỳ lịch sử này cũng gắn với các cuộc cách mạng xã hội Cách mạng tư sản Anh (thế kỷ XVII) là ngọn đuốc dẫn đường và có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản trên phạm vi châu Âu và thế giới Việc mở rộng thị trường đòi hỏi bước vào giai đoạn công nghiệp, nước Anh do yêu cầu khách quan và những điều kiện sẵn có là nước tiến hành cách mạng công nghiệp đầu tiên Máy móc cơ khí xuất hiện dựa trên những thành tựu cơ học, vật lý học, hoá học và động lực học kết hợp với trình độ phân công lao động, chuyên môn hoá khá hoàn thiện của nền sản xuất

Trang 13

Nhờ có những phát minh vĩ đại ấy, máy móc trở thành một phương tiện không thể thiếu được trong các ngành công nghiệp, lao động bằng máy đã thắng lao động bằng chân tay ở hầu hết các ngành công nghiệp Cách mạng công nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội, làm phân hoá kết cấu giai cấp, thay đổi nhận thức của con người đối với giới tự nhiên và xã hội Có thể nói “máy móc có sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người, và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem lại nạn đói

và tình trạng kiệt quệ đến cho con người Những nguồn của cải mới từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như có một sức mạnh kỳ diệu nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường như lại được mua bằng cái giá của sự thay đổi về mặt tinh thần” [21, tr.12]

Sự thay đổi trên cho thấy cách mạng công nghiệp là động lực thúc đẩy

và là một yếu tố kinh tế quan trọng nhất trong đời sống kinh tế - xã hội tư bản lúc bấy giờ, cả châu Âu hân hoan với những thành tựu khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển hơn Còn các cuộc cách mạng tư sản mở đường cho

sự phát triển của hiện thực xã hội và các tư tưởng xã hội tiến bộ như tự do, bình đẳng, bác ái

Tuy nhiên, châu Âu cũng chịu những tác động không nhỏ, đó là: “Sự đảo lộn liên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng của tất cả các quan hệ xã hội, sự luôn luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước Tất cả các quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả tràng quan niệm về tư tưởng được tôn sùng từ nghìn xưa đi kèm những quan hệ ấy đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế, những quan hệ đó chưa kịp cứng thì đã già cỗi ngay Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trì trệ đều tan biến như mây khói Tất cả những gì thiêng liêng đều bị ô uế và rút cuộc mọi người đều phải buộc nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ và những quan

hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo” [22, tr 601] Bản chất của chế độ

Trang 14

tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những biến đổi cả về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa cho thế kỷ này

nó làm thay đổi giá trị đạo đức và thân phận của con người Giai cấp tư sản đã

“tước hết vòng hào quang thần thánh của những gì xưa nay được coi là thiêng liêng, được trọng vọng, tôn sùng, nó dìm tất cả tình cảm của con người xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ, nó biến phẩm giá của con người thành một giá trị trao đổi đơn thuần” [21, tr 554]

Những giá trị trong tín ngưỡng Kytô giáo, mọi giá trị truyền thống lung lay, tan rã khi khoa học tự nhiên phát triển, chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý tính được phản ánh trong triết học Con người hầu như trong trạng thái chân không không nơi nương tựa Tính duy lý của khoa học, chính trị, nhân sinh làm con người “bị hạ thấp xuống trình độ những lực lượng vật chất đơn thuần ” [21, tr.10], xã hội rơi vào khủng hoảng Trong bối cảnh đó, chiến tranh thế giới xảy ra, sự tàn khốc của chiến tranh càng khiến cho con người bi quan, sầu não hơn, họ mất niềm tin và phương hướng vào cuộc sống Phải chăng nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa hiện sinh là do chiến tranh, nên nó thấm đậm chủ nghĩa bi quan Nhiều nhà nghiên cứu đã nêu rõ hoàn cảnh xã hội châu Âu có nhiều xáo trộn bắt đầu từ cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914), đặc biệt là sự tàn khốc, dã man của cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai (1939- 1945) “Nhân tính của con người đã bị thay thế bằng con người thú tính trong các quân đội phát xít” [18, tr 119] Con người sống trong lo âu, chán nản, họ bất lực trước những bất công xã hội trong xã hội tư sản Tuy nhiên trong điều kiện có chiến tranh hay trong cuộc sống thường ngày thì chủ nghĩa hiện sinh và các xu hướng của chủ nghĩa phi lý tính vẫn phát triển Chiến tranh chỉ là một điều kiện Thực chất, nguồn gốc của chủ nghĩa hiện sinh và các hình thức khác của chủ nghĩa nghĩa phi lý tính hiện đại là sự

Trang 15

khủng hoảng, sự bại hoại tinh thần do chủ nghĩa duy lý gây nên trong xã hội phương Tây hiện đại

Các cuộc cách mạng tư sản thổi một luồng gió mới vào con người châu

Âu, giai cấp tư sản với khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái đã lôi cuốn các phong trào giải phóng ở các nước châu Âu, trong đó có nước Đức, phong trào giải phóng này được quần chúng nhân dân ủng hộ bởi nó bao gồm các nội dung: chống chủ nghĩa phong kiến, hệ tư tưởng tôn giáo; phát triển hệ tư tưởng tư sản mang tính chất tiến bộ thời bấy giờ, đòi trả lại cho con người những quyền cơ bản mà nó đáng được hưởng Tuy nhiên, chủ nghĩa phong kiến chưa bị tiêu diệt hoàn toàn về mặt chính trị, giai cấp tư sản vẫn ở thế lực kinh tế và chính trị thấp dẫn đến xuất hiện tư tưởng thoả hiệp của một bộ phận giai cấp tư sản yếu hèn

Nước Đức vẫn là một nước nửa phong kiến bị phân hoá cả về kinh tế lẫn chính trị, chế độ nông nô vẫn còn những tàn tích, chế độ phường hội, tình trạng cát cứ của các lãnh chúa, sự tồn tại của nhiều Quốc gia nhỏ phụ thuộc lẫn nhau trong nhà nước quân chủ Phổ, đã kìm hãm sự phát triển tư bản chủ nghĩa ở Đức Ph Ăngghen (1820-1895) thốt lên: “Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi Trong bối cảnh xã hội Đức có trình độ lạc hậu hơn rất nhiều so với một số nước phát triển tư bản chủ nghĩa đi đầu ở Tây

Âu, triết học I.Kant là sự khai phá tiến bộ trên lĩnh vực tư tưởng, được coi

là "lý luận Đức của cuộc cách mạng tư sản Pháp"[34, tr 3] Bên cạnh những thành tựu của triết học Kant, còn phải kể đến triết học của Phơiơbách

và hệ thống triết học của Hêghen Tuy nhiên, nếu các nước Tây Âu có nhiều thành tựu phát triển về mọi mặt và các tư tưởng lý luận là tiền đề cho các cuộc cách mạng tư sản thì đối với nước Đức đó lại là các cuộc cách mạng tư tưởng

Trang 16

giải quyết bằng ý chí, nguyện vọng nên nó không mở đường cho nước Đức bằng một cuộc cách mạng tư sản

Khẩu hiệu “tri thức là sức mạnh” của Bacon là ngọn đèn dẫn đường cho châu Âu thoát khỏi đêm trường trung cổ với tấm áo choàng nâu khoác lên một nghìn năm, Châu Âu cận đại là thời đại chủ nghĩa lý tính thịnh hành Từ thành tựu rực rỡ của khoa học với các phát minh mang tính chất vạch thời đại, cả châu Âu đề cao lý tính, các chân lý khoa học ngày càng có ý nghĩa với cuộc sống của con người chứ không phải là những tín điều tôn giáo Bằng việc vận dụng những quy luật của lý tính, có thể chinh phục được phần nào tự nhiên và phát triển không hạn chế các năng lực tinh thần và thể chất của con người Tín ngưỡng “Thuyết chúa sáng tạo thế giới” không còn chế ngự cuộc sống con người, con người như đã được giải phóng Sự tin phục ở khoa học của con người đã thay thế tín ngưỡng tôn giáo, họ hiểu rằng khoa học và lý tính có thể đem lại hạnh phúc cho con người Tuy nhiên, sau khi lịch sử bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ mới, đặc biệt sau khi trải qua hai cuộc Đại chiến thế giới, người ta phát hiện, khoa học không phải là vạn năng, sự phồn vinh vật chất đơn thuần chỉ có thể tạo ra hạnh phúc giả tạo và biến con người thành nô

lệ của máy móc, con người dần bị tha hóa Châu Âu lún sâu vào cuộc khủng hoảng tín ngưỡng và khủng hoảng giá trị chưa từng có, thực chất của cuộc khủng hoảng là sự tan rã của quan niệm truyền thống của giai cấp tư sản Người châu Âu bàng hoàng, đau buồn, hoang mang không biết đi theo hướng nào trước sự hoang tàn đổ nát của giá trị truyền thống

Nền văn minh phương Tây trong giai đoạn cuối đã không ý thức đến con người, tương quan xã hội đạt đến mức trừu tượng cao; tính chất chuyên môn hóa làm cho con người không còn là tế bào của xã hội, mà trở thành một chi tiết của máy móc, con người “thảng thốt” trước thời đại máy móc Nhân tính được thay bằng cơ tính, con người không tồn tại như một cá nhân

Trang 17

Friedrich Nietzsche đã cho rằng trước thềm thế kỷ mới đã nhìn thấy trong xã hội công nghiệp hiện đại cá nhân sẽ mất đi cá tính của mình Trong

xã hội đó, con người trở thành cỗ máy đơn điệu, u buồn, cái cá nhân của con người bị tiêu diệt Cá tính, nhân cách của con người bị đánh chìm trước sự chế ngự của máy móc, tư duy con người vơi dần trước sự thỏa mãn nhu cầu vật chất Nhiều học giả không khỏi rùng mình trước những diễn tiến của văn minh kỹ thuật và công nghệ Các nhà tư tưởng đã nhìn nhận và phê phán những mặt trái của chủ nghĩa tư bản, lúc bấy giờ cũng xuất hiện nhiều xu hướng khác nhau Một số nhà tư tưởng thì muốn quay lại thời kỳ phong kiến; một số vừa muốn xóa bỏ những khuyết tật của xã hội tư bản vừa muốn duy trì nền thống trị này; một số khẳng định rằng có thể xóa bỏ mâu thuẫn giữa hai giai cấp tư sản và vô sản…; Các triết gia cổ điển Đức đưa ra phương án giải quyết bằng ý chí, nguyện vọng; còn các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng thì muốn thay thế bằng một xã hội công bằng hơn nhưng không thấy được nguyên nhân dẫn đến xã hội bất công lúc bấy giờ… Từ thập kỷ 40 của thế kỷ XIX, C.Mác đã vạch rõ hiện tượng tha hóa của con người phía sau sự phồn vinh vật chất của chủ nghĩa tư bản, xác nhận nguồn gốc của nó là chế độ kinh

tế và chế độ chính trị của chủ nghĩa tư bản, là chế độ phân công lao động và chế độ tư hữu Và C.Mác đã sớm chỉ ra hậu quả của xã hội như sau: “Trong thời đại chúng ta, mọi sự vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó Chúng ta thấy rằng, máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt sức lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì đem lại nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người Những nguồn của cải mới, từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần”[20, tr 10] Rằng, “tất cả những phát minh của chúng ta và tất cả sự tiến

Trang 18

bộ của chúng ta tựa hồ như đang dẫn tới chỗ là những lực lượng vật chất thì được ban cho một đời sống tinh thần, còn đời sống của con người vốn đã bị tước mất các mặt tinh thần rồi thì nay lại bị hạ thấp xuống trình độ những lực

lượng vật chất đơn thuần” [21, tr 10] Ph.Ăngghen đã miêu tả thời đại đó như

sau: “Lòng tham đê tiện là linh hồn của thời đại văn minh từ đầu của thời đại

ấy cho đến tận ngày nay, giàu có, giàu có nữa và luôn luôn giàu có thêm, không phải là sự giàu có của xã hội, mà là sự giàu có của cá nhân riêng lẽ nhỏ nhen, đó là mục tiêu quyết định duy nhất của thời đại văn minh [23, tr 221]

Một xã hội duy lý hóa bởi kỹ thuật đã ngăn cách mối quan hệ giữa người với người, tình trạng coi trọng khoa học tự nhiên và sự bất lực của nó trước những vấn đề của đời sống nhen lên ý chí muốn thoát khỏi khủng hoảng bằng cách đi tìm một phương pháp

Sự khủng hoảng đó đã khiến Kierkegaad nỗ lực xây dựng lại Kitô giáo, Nietzsche hoài vọng đặt con người trước vô minh, Husserl với hiện tượng học nhằm “cứu vãn lý trí của con người” Cũng bởi Husserl cho rằng châu Âu đang rơi vào “khủng hoảng” như là “sự sụp đổ bề ngoài của chủ nghĩa duy lý” [29,tr 16], đánh mất phương hướng và mục đích của nó Phương pháp hiện tượng học của Husserl cố gắng tìm một phương pháp để giải quyết cuộc

“khủng hoảng” đó

Với tư cách là một trào lưu triết học phương Tây hiện đại, hiện tượng học của Husserl đã nắm bắt được vấn đề căn bản của con người phương Tây hiện đại, đó chính là vấn đề tha hoá tinh thần và ông đưa ra giải pháp cho vấn

đề này Con người bị tha hóa về mặt tinh thần, được hiểu là giá trị tối cao chi phối bản chất con người Hiện tượng học nhận thấy rằng, thời hiện đại đề ra cho con người những yêu cầu ngày càng cao hơn, sự phát triển về kinh tế, kỹ thuật đã khiến cho cuộc đấu tranh sinh tồn của con người ngày càng thêm găy gắt, vì thế, sự phát triển của tự do cá nhân bị tổn hại nặng nề Kỹ thuật thõa

Trang 19

mãn cho con người nhu cầu về vật chất và tinh thần song đặt ra cho nó hàng loạt những vấn đề phức tạp trong quá trình sinh tồn, con người bị đặt vào nhịp của sự vận hành máy móc Cuộc sống hiện đại không đặt ra cho con người thời gian dành cho những suy ngẫm nghiêm túc, do đó con người hiện đại là

nô lệ của máy móc, không có định hướng trong cuộc sống Con người hiện đại không còn là “một tế bào của xã hội” Do vậy tìm ra phương hướng, con đường vận động trong thế giới hiện đại không hề đơn giản Hiện tượng học cố gắng thâm nhập vào đời sống tinh thần của con người hiện đại để chuyên tâm phân tích những bí ẩn của đời sống tinh thần dựa vào ngôn ngữ và ý thức để làm sang tỏ những cái đang ẩn náu ở trong bề sâu của cái vô thức Hiện tượng học cố gắng tìm ra chìa khoá thích hợp để mở ra tâm hồn của con người trong điều kiện khủng hoảng mọi mặt của chủ nghĩa tư bản

1.1.2 Sự phát triển của khoa học tự nhiên

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tư tưởng châu Âu trải qua một thời kỳ khủng hoảng, những bước đi ngoạn mục của khoa học tự nhiên là chìa khóa

để đi sâu tìm hiểu cuộc khủng hoảng ấy, đó là sự tan vỡ của chủ nghĩa duy lý

và chủ nghĩa cơ giới Chủ nghĩa duy lý không còn là biện pháp tối ưu, nó đã không giải quyết được các vấn đề căn bản của cuộc sống

Chủ nghĩa duy lý ở phương Tây xuất hiện từ khi chủ nghĩa công nghiệp

ra đời ở thế kỷ XVII Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây bỏ lại phía sau thời kỳ cổ điển để bước sang thời kỳ hiện đại

Khoa học duy lý cho rằng tự nhiên và tinh thần có thể truy nhận theo kiểu luật nhân quả Tất cả thực tại đều quy vào “hệ thống vật chất” trong đó những hiện tượng nối kết với nhau bởi một mối liên hệ mà mọi diễn biến được xác định từ trước và được giảng giải bằng những biểu đồ cơ học

Cuối thế kỷ XIX, xuất hiện học thuyết tâm lý theo chủ nghĩa kinh nghiệm, bắt đầu từ thuyết kinh nghiệm ở Anh, đại biểu là Hucter- nhà động

Trang 20

vật học- cho rằng đại não tiết ra tư tưởng cũng như gan tiết ra chất dịch của nó vậy, điều này muốn chứng minh hoạt động tâm lý là hiện tượng sinh vật trong thời gian và không gian xác định Các nhà tâm lý tuyên bố rằng chỉ có việc nghiên cứu tâm lý học mới là cơ sở của việc nghiên cứu triết học, cũng có nghĩa phương pháp tâm lý mới là mẫu mực cho phương pháp triết học Họ coi suy lý logic là hoạt động tâm lý, coi hoạt động tâm lý là hoạt động sinh lý chịu sự rang buộc của quy luật nhân quả Như thế khác nào khẳng định lập trường chủ nghĩa tự nhiên bám rễ sâu vào triết học khiến thế giới triết học cuối thế kỷ XIX trầm lắng mà trong đó phủ định lý tính, phủ định tư tưởng, cuối cùng là phủ định bản thân triết học

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thế giới chứng kiến những thành tựu nổi bật về khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên Những nhà khoa học tự nhiên chuyên nghiên cứu về các quy luật tự nhiên, họ đứng trên lập trường coi con người là một bộ phận tiếp nối liên tục với giới tự nhiên.Trong những công trình của các nhà khoa học tự nhiên đó thì vào năm 1859 Charles Rôberl

Darwin cho ra mắt công trình Nguồn gốc các loài, công trình này đã gây tiếng

vang thời kỳ đó, bởi nó bác bỏ lại những quan điểm tôn giáo cho rằng chúa, thượng đế sang tạo ra con người Công trình này chứng minh nguồn gốc khoa học của sự ra đời các loài, đặc biệt là con người

Trong khi các nhà khoa học tự nhiên coi bất cứ các gì cũng đều thuộc

về giới tự nhiên, còn các nhà khoa học nhân văn đều coi mọi cái thuộc về lĩnh vực tinh thần, thuộc về lịch sử Chủ nghĩa tự nhiên chỉ thấy giới tự nhiên vật

lý, vật lý học là nền tảng của khoa học tự nhiên và về khía cạnh ứng dụng nó

là cơ sở cho phát triển kỹ thuật và công nghệ giai đoạn này có một số những phát hiện về khoa học vật lý như: Vật lý học Newton và những mô tả tự nhiên bởi những nguyên tắc cơ học, người ta xem thế giới vật chất như một dữ kiện đơn thuần, mọi thứ có thể quy giản vào dữ kiện đó Cuối thế kỷ XIX, người ta

Trang 21

bắt đầu làm sáng tỏ cấu trúc điện tử của vật chất Chỉ có qua đó mới có khả năng hiểu được bản chất của tia X và hiện tượng phóng xạ tự nhiên do Henri Becquerel, Marie Curie và Pierre Curie tìm ra Năm 1897, Joseph Thomson phát hiện ra điện tử là hạt vật chất đầu tiên không tách ra được nữa (hạt cơ bản) Đầu thế kỷ XX, Albert Einstein với thuyết tương đối do ông phát minh

đã tạo ra một cuộc cách mạng trong quan niệm của chúng ta về không gian và thời gian Cùng với Max Planck, ông đã phát hiện ra photon với tư cách là hạt

cơ bản của ánh sáng chính trên con đường đó, các nhà vật lý Werner Heisenberg, Erwin Schroedinger, Paul Dirac và Wolfgang Pauli, đã giải quyết được vấn đề nhị nguyên luận sóng hạt không chỉ của ánh sáng mà của tất cả các hạt, đó là lý thuyết lượng tử

Những phát hiện mới trong lĩnh vực vật lý đã đặt ra vấn đề rằng: tất cả những thành quả được coi là tuyệt đối đúng một cách cơ giới và tất định đã được lịch sử khám phá và chứng minh lại; quan điểm của chủ nghĩa tự nhiên chỉ thấy thế giới tự nhiên, nhất là thế giới vật lý, nó cho rằng mọi tồn tại tự nhiên đều là tồn tại vật lý, kể cả hiện tượng tâm lý, ý thức nếu không là tồn tại vật lý thì cũng chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên phổ biến Điều đó tạo nên sự khủng hoảng khoa học ở châu Âu thời kỳ đó, trong cơn bão của khoa học hiện đại, con người đã cảm nhận sự phong phú, đa dạng và mới mẻ của thế giới Nhưng phải từ năm 1930 trở đi, người ta hiểu rằng khủng hoảng là sự chuyển mình của khoa học và đời sống, phá vỡ những sơ cứng trong vật lý học

cổ điển, thúc đẩy vật lý mới đi đến những khám phá sâu hơn về thế giới

Sự phát triển của phương pháp toán và phương pháp hiện tượng học có liên hệ nội tại với sự phát triển của logic toán thời kỳ này Tuy nhiên, trước nhiều khám phá mới về toán học như hình học phi Euclide và lý thuyết về nhóm, logic hình thức được tái sinh nhất là logic ký hiệu hay logic toán có quan hệ ảnh hưởng đến sự ra đời của phương pháp hiện tượng học, từ đây

Trang 22

người ta lo ngại liệu phương pháp toán có được xem là mô hình lý tưởng cho tư duy khoa học không

Trong Khủng hoảng các khoa học châu Âu thì thực chất khủng hoảng

mà Husserl đề cập đến là khủng hoảng về nguồn gốc của khoa học, về ý nghĩa của nó, khủng hoảng về văn hóa, lịch sử mà khoa học hoạt động - khủng hoảng nền tảng Hiện tượng học Husserl được xem là triết học về sự khủng hoảng, bởi nó bắt nguồn từ bế tắc của con người trước thời đại mới, từ khủng hoảng nền tảng của chủ nghĩa duy lý và khoa học cổ điển Như vậy có thể nói,

sự khủng hoảng các khoa học ở châu Âu là một chất “men” kích thích sự ra đời của nhiều trường phát triết học khác nhau, trong đó có triết học của Husserl

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành phương pháp hiện tượng học

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tư tưởng châu Âu trải qua thời kỳ khủng hoảng, những thành tự khoa học tự nhiên đang là chìa khóa để giải quyết cho cuộc khủng hoảng ấy, nguồn gốc của sự khủng hoảng đó là chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa cơ giới

Khoa học duy lý không còn là nền tảng nữa, con người phải trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học, nhận thức của con người phải hướng vào cái mà khoa học còn để trong bóng tối Từ đó, ý hướng muốn thoát ra khỏi khủng hoảng bằng cách tìm nền tảng nghiên cứu mới xuất hiện, đó là hiện tượng học của Husserl Hiện tượng học Husserl ra đời chịu ảnh hưởng của thuyết Cogito của Decartes, học thuyết về cái tiên nghiệm của Kant, và tâm lý học của Brentano

1.2.1 Phương pháp hoài nghi của triết học Descartes

Descartes muốn áp dụng phương pháp quy nạp hợp lý của khoa học, nhất là của toán học vào triết học Trước đó, triết học bị chi phối bởi phương pháp của phái Kinh viện, vốn hoàn toàn dựa theo sự so sánh và đối chiếu với

Trang 23

quan điểm của nhà cầm quyền Bác bỏ phương pháp này, Descartes cho rằng: Trong khi tìm kiếm con đường thẳng đi đến chân lý, chúng ta không cần phải quan tâm tới những gì mà chúng ta không thể thấu đáo một cách chắc chắn như việc chứng minh bằng đại số và hình học Qua đó ông chỉ ra rằng không điều gì được xem là đúng cho đến khi nền tảng để tin rằng nó đúng được thiết lập Sự chắc chắn duy nhất làm điểm xuất phát cho các nghiên cứu của ông được ông bày tỏ bằng câu nói nổi tiếng "Cogito, ergo sum"[8, tr.179], (tiếng Latinh, "Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại") Từ tiên đề cho rằng ý thức rõ ràng về tư duy của ông chứng minh rằng ông tồn tại, Descartes kết luận là chúa tồn tại Chúa, theo triết học Descartes, đã tạo ra hai loại chất để tạo nên toàn bộ vạn vật Loại thứ nhất là chất suy nghĩ, tức tinh thần, loại thứ hai là các chất mở rộng, tức thân thể

Chủ nghĩa duy lý hiện đại bắt đầu với Descartes, vứt bỏ hệ thống giá trị và thẩm quyền của triết học kinh viện, Descartes bắt đầu với sự hoài nghi mọi cái, kể cả những gì ông trải nghiệm vì ông cho rằng các giác quan thường đánh lừa ông Nhưng có một cái ông không thể hoài nghi, đó là chính sự hoài nghi Ông nghiền ngẫm về bản chất của trải nghiệm tri giác, cũng như những khám phá khoa học trong sinh lý học và quang học, Descartes (và cả John Locke) đã đi đến quan điểm rằng chúng ta trực tiếp ý thức được ý nghĩ, chứ không phải sự vật Quan điểm này làm nảy sinh ba vấn đề

1 Có phải các ý nghĩ là bản sao thực thụ của những sự vật, sự việc mà chúng đại diện? Cảm giác không phải là sự tương tác trực tiếp giữa các vật thể và ý thức của ta, mà nó là quá trình sinh lý bao hàm sự đại diện (thí dụ như, một hình ảnh trên võng mạc) Locke nghĩ rằng một "tính chất phụ", như cảm giác thấy màu xanh lục, không thể nào giống sự sắp xếp các phân tử vật chất sinh ra cảm giác đó, dù là ông cũng nghĩ "những tính chất chính" như hình dạng, kích thước, con số, thực sự có trong các sự vật

Trang 24

2 Ta vẫn chưa rõ làm thế nào những vật thể tự nhiên như bàn, ghế hoặc ngay cả những quá trình sinh lý trong não bộ có thể sản sinh ra những thứ thuộc về tinh thần như ý nghĩ Điều này là một trong những vướng mắc của một vấn đề triết học nổi tiếng, vấn đề tinh thần - cơ thể

3 Nếu tất cả những gì chúng ta ý thức được chỉ là ý nghĩ, vậy làm sao

ta có thể biết được có thứ gì khác tồn tại ngoài ý nghĩ ra?

Descartes đã nỗ lực giải quyết vấn đề cuối cùng bằng lý luận Ông chấm dứt những quan niểm của các triết gia trước đó, ông không tin rằng những quan niệm về triết học của các triết gia trước đây là những gia bảo Ông phá đổ những gì của nền triết học cổ đại, ông đã xây dựng cái mới trên một cái nền mới hoàn toàn Ông mở đầu cuộc cách mạng triết học mới và I.Kant là người kết thúc tư tưởng triết học của ông Kant đã đi theo "Chủ nghĩa lý tưởng", chủ nghĩa ấy là một học thuyết cho rằng hiện thực là hoàn toàn giới hạn bởi đầu óc của chúng ta Mặc dù nó phụ thuộc vào quan điểm của Descartes rằng những gì có trong đầu chúng ta được biết trước những điều được biết thông qua các giác quan

Descartes đã bắt đầu bằng một nguyên lý mà ông nghĩ là không thể bắt

bẻ hiệu quả được: Tôi "tư duy", do đó tôi "tồn tại" Từ tính chất chắc chắn do

sự hiện hữu của hữu thể tư duy, ông tiến hành xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh về kiến thức, ông đã lần bước tới sự hiện hữu của thượng đế Ông biện

hộ cho sự hiện hữu ấy bằng cách đưa ra bằng chứng dựa trên luận cứ mang tính bản thể luận của Anselm và bằng chứng dựa trên nguyên nhân thứ nhất, cái chắc chắn tạo ra trong người tư duy ý tưởng về thượng đế Như thế, trong khi đạt tới sự hiện hữu của thượng đế, Descartes cũng với tới thực tại của thế giới vật lý thông qua thượng đế Do đó, thế giới ngoại tại mà chúng ta đang tri giác phải hiện hữu Như thế, Descartes rơi trở lại sự chấp nhận sự thật là những cái được chúng ta tri giác một cách rõ rệt và riêng biệt Và ông nghiên

Trang 25

cứu thế giới vật chất bằng cách tri giác các nối kết của nó Ông nhìn thế giới vật chất như có tính máy móc chủ nghĩa, hoàn toàn cách ly với tâm trí, cái độc nhất nối kết giữa hai hữu thể bằng sự can thiệp của thượng đế Quan điểm của Descartes gần như hoàn toàn mang tính nhị nguyên luận bởi lẽ cả hai thế giới vật chất và tinh thần- hai khởi nguồn của thế giới- theo ông đều phụ thuộc vào thượng đế

Triết học Descartes đánh dấu một bước ngoặt của tư tưởng con người đối với vũ trụ, đối với trời đất và chính mình Descartes đã thay đổi quan điểm triết lý về thiên nhiên bằng triết lý về tinh thần Những gì về thiên nhiên,

về hoạt động khoa học như toán học, vậy lý là phạm trù của khoa học, chỉ có tinh thần là thuộc về triết học mà thôi Các triết gia xưa đã đưa toán học, vật

lý học và tinh thần là phạm trù của triết học nhưng đến thời của Descartes thì triết học chỉ là tinh thần chứ không có toán học và vật lý học nữa và nó không còn là phạm trù của triết học Descartes đã gặt bỏ những điều trước đây và bắt đầu hình thành triết học con người hay triết học tinh thần

Chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy cơ do ông phát minh ra và triết học dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy lý Từ thời triết học cổ đại Hy Lạp cho đến Platon, Aristote cũng lấy thế giới là nền tảng của sự nghiên cứu nhưng đến thời của Descartes ông lại lấy Cogito làm nền tảng cho sự nghiên cứu của mình Cogito là hành vi suy tưởng của con người làm nền tảng bởi vì con người là sự hợp tác của thể xác và tinh thần Ở đây ông chỉ đề cập đến tinh thần mà không đề cập đến thể xác, ông luận giải như sau: Tôi là một yếu tố tinh thần thuần tuý, tôi hiện hữu không cần có nơi cư ngụ sinh hoạt và tôi cũng không cần phải nhập vào thể xác nào Ông xem thể xác như là một cái máy và thể xác cũng chỉ là vật lý thôi còn tinh thần dù không nương tựa vào đâu cũng hoạt động được: Không có thân xác thì con người cũng là mình không hơn không kém Tuy nhiên quan niệm của ông sau này bị Hobber phê

Trang 26

phán như sau: Cogito này cũng là biểu hiện sai lầm của Descartes là đã chứng minh sự tồn tại của con người bằng tư duy Tư duy tồn tại hoàn toàn tách biệt với chủ thể Phải chăng ông quá đề cập đến tư duy mà quên đi phần vật chất (tức thể xác) vì con người được tồn tại do sự hiện hữu của thân và tâm nếu như không có thân thì tư duy chỉ là một cái gì đó lơ lửng không định hướng

Tuy vậy, chúng ta không thể hiểu câu nói của Descartes về “Tôi tư duy”

là tôn vinh “bản ngã”, coi “bản ngã” là có thật Tuy nhiên Descartes là xây dựng hệ tư tưởng của ông dựa trên sự nghi ngờ: tất cả đều phải được xem xét lại, vì các giác quan của chúng ta đều có thể bị nhầm lẫn Xét cho cùng, trong giấc mơ chúng ta thấy các vật cũng thật như khi chúng ta thức Nhưng, theo Descartes, ít nhất có một điều không thể bị xem xét lại, đó là bản thân việc mình đang nghi ngờ Khi nghi ngờ, cần phải tư duy, bởi vì tư duy, nên phải tồn tại với tư cách là người tư duy

Từ lối tư duy độc lập chỉ thiên về lý trí, chỉ tin vào lý trí Nghiên cứu triết học cơ bản của Descartes đòi hỏi phải có phương pháp phân tích Và để

có thể phân tích ra từng chi tiết của vấn đề, điều căn bản trước tiên mà một nhà khoa học chân chính phải có chính là sự hoài nghi Sự hoài nghi là một nguồn lực thúc đẩy con người đi tìm kiếm kiến thức, tìm kiếm những hiểu biết mới, đi dần tới chân lý đích thực Nếu không biết hoài nghi, tư tưởng con người sẽ đứng yên tại chỗ, điều này sẽ dẫn tới tâm lý thỏa mãn, nguyên nhân của tính bảo thủ và những ngu dốt sẽ ngày một phát sinh Và Descartes chính

là nhà triết học lấy nhận thức và lý trí hoài nghi sự vật để tìm hiểu sự vật, từ

đó coi tư duy là tất cả giá trị của con người." Trong các tác phẩm của ông đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Muốn trở thành người thông thái, thì ít nhất một lần trong đời, ta phải biết hoài nghi về tất cả, hay tất cả những gì còn một chút hoài nghi đều bị coi là tuyệt đối sai lầm Ông chỉ chấp nhận những gì khi nó không còn có nghi vấn Chính những hoài nghi đã trở thành phương tiện để

Trang 27

đạt tới chân lý Ông xem triết học là khoa học của tư duy, có vai trò rất lớn trong đời sống con người Ông phê phán chủ nghĩa kinh viện đã tạo ra một tri thức ít ỏi Descartes khẳng định về bản chất hệ thống triết học của ông là khác với các nhà thần học; tôi với tư cách là nhà triết học đã trình bày một triết thuyết không hề tuân thủ một tôn giáo nào Và do vậy có thể được tiếp nhận khắp nơi…Thật vậy, vì triết học của ông không tuân thủ một tôn giáo nào nên

nó thoát ra tất cả những giáo điều mà các tôn giáo đã áp đặt Chính vì nó thoát

ra khỏi tôn giáo cho nên được nhân loại chấp nhận một cách khách quan

“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” – câu nói bất hủ của nhà triết học người Pháp Dercaster và cũng là nguyên lý chính trong học thuyết của ông - triết học duy lý với tinh thần hoài nghi – một nguyên lý triết học đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong lối tư duy lý tính của người phương Tây, thậm chí trở thành một phong cách sống của con người hiện đại Nguyễn Tường Bách đã nhận định: Câu nói xem ra đơn giản này được hiểu nhiều cách khác nhau Nhưng cách đơn giản nhất hẳn là, nếu không

có tư duy con người không thể được xem là “hiện hữu”, con người sẽ đồng như gỗ đá Thực thế, tư duy làm nên tính cá thể của mỗi một con người Trong toàn bộ loài người thì tư duy là nền tảng của mọi tri thức, của khoa học

và triết học Ngôn ngữ là sự phát biểu của tư duy Có thứ ngôn ngữ sắc gọn như toán học, phức hợp như triết học nhưng tất cả ngôn ngữ đều dựa trên tư duy Tư duy là nền tảng của nền văn minh nhân loại Bằng tư duy lý trí, con người có thể đạt đến tất cả những sự hiểu biết mà các giác quan không thể đem đến Và chỉ có tri thức lý tính mới là chính là chân lý tuyệt đối và đáng tin cậy Từ đó có thể thấy vấn đề cơ bản của triết học Descartes là sự đề cao nhận thức lý tính đối lập với nhận thức cảm tính, là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy

Trang 28

Điều đó có thể được giải thích bằng lập luận rằng: Bởi nếu bạn không hiện hữu thì làm gì có cái tư tưởng đang nghi ngờ tất cả mọi sự thế này Bạn đang nghi ngờ tất cả, nên nghi ngờ luôn các định luật logic, nên tất cả những cái gì mà bạn biết hay suy ra được đều không rõ ràng và chắc chắn Nếu bạn chưa nghiệm ra được, bạn cần nhắm mắt lại lần nữa, hay nhiều lần nữa, đặt mình trong tâm trạng nghi vấn tất cả, bạn sẽ có thể tập dần dần ý thức chủ quan của mình, và đi đến một cảm nghiệm không thể chối cãi được về sự hiện hữu của chính mình, như một chủ thể, chứ không phải như một đối tượng khách quan

Trong diễn biến đó người ta không nên để cho mình thất vọng khi chủ thể tư duy được đặt làm trọng tâm một cách chủ ý đầy khéo léo Nói cách khác, hình thức những suy niệm thực ra không được xây dựng trên tính chất duy ngã nông nổi và ích kỷ, nhưng là trình bày về phương pháp của Descartes Nói cách khác, diễn tiến sự nhận thức – nơi Descartes là một tác động của tinh thần – cần phải mở ra trong những bước đi suy lý có trật tự không chỉ đối với chủ thể tư duy mà còn khả thi đối với độc giả nữa, là người cũng có thể tham dự vào hành động nhận thức

Bởi vì, nếu tất cả mọi sự đều có thể bị nghi ngờ, thì ít ra một điều chắc chắn đối với tôi là tôi đang nghi ngờ Để có được hoài nghi này, thì sự tách biệt cần thiết khỏi tất cả mọi tình huống ngoại cảnh phải được dựa trên một điều kiện rõ ràng mà người ta thường hay bỏ qua không nhìn thấy: Lý do tuyệt đối của tri thức mà Descartes cố công gây dựng nên cần tới một vị trí đặc biệt của một chủ thể tự do Bởi vì, chỉ khi đặt nền tảng trong sự tự do thì khả năng con người mới có thể tách mình ra khỏi tất cả những sự vật ngoại giới mà thôi Qua đó, Descartes muốn nói rằng bây giờ ông đã tìm ra được một con đường dẫn tới một sự nhận thức rõ ràng chính xác cuối cùng, hoàn

Trang 29

toàn bất khả đổi thay: Đó chính là sự hiện hữu cá thể của tôi như một hữu thể tinh thần

Tác phẩm “Những suy ngẫm về Descartes” định hình phương pháp tư

duy của Husserl với di sản triết học của Descartes

Descartes có một châm ngôn nổi tiếng “tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” từ đó Descartes đưa ra một phương pháp luận trong nghiên cứu triết học là hoài nghi nhằm luận chứng cho tri thức Nhờ trải qua sự phê phán mà ông muốn phát hiện ra chân lý Phương pháp Descartes là hoài nghi và phủ định hết thảy, nếu muốn nghiên cứu, phê phán một hoạt động nhận thức thì phải bắt đầu từ việc hoài nghi đối tượng nhận thức và hoài nghi bản thân việc nhận thức Tức là chúng ta phải hoài nghi cảm giác của chúng ta, hoài nghi những vật hiển thị trước mắt chúng ta như vật thể, hình dáng, khuôn khổ, sự vận động và vị trí của nó, hoài nghi những tri thức thu được nhờ diễn dịch, hoài nghi sự tồn tại của thượng đế và giáo lý tôn giáo… Descartes chỉ ra kinh nghiệm cảm tính hàng ngày về thế giới, trong đó tư duy triết học (biết phản tư) không phát hiện ra điều gì đáng tin cậy Mọi phán đoán, thậm chí cả những phán đoán chúng ta tin cậy nhất, cũng hoàn toàn không được đảm bảo

về tính chân thực, vì sự lùa dối của các giác quan thường xuyên dẫn đến sự không phù hợp giữa tư tưởng và đối tượng của tư duy, các vật bất khả tri đối với ý thức

Descartes chỉ thừa nhận các trạng thái của chủ thể đang nhận thức là không bị hoài nghi, qua đó ông biến nguồn gốc của mọi hoài nghi - bản thân

năng lực tư duy – thành đối tượng nghiên cứu của mình

Sau khi xác định “tính minh chứng” của tư duy, Descartes lại nhanh chóng xác định tính minh chứng của “kinh nghiệm tự thân”, nhờ đó “tư duy” trở thành thuộc tính chỉ phụ thuộc một cá thể “kinh nghiệm” nào đó,

Trang 30

nhiều cái “tôi” cá thể nắm chặt lấy “tư duy” đó, biến “tư duy” đó thành hiện tượng kinh nghiệm

Husserl cho rằng đó là chỗ thiếu sót của Descartes, mặc dù phương pháp có tính chất gợi ý rất phong phú nhưng chưa tìm ra được cơ sở của nhận thức Cho dù ông bác bỏ những luận điểm siêu hình học của Descartes, Husserl vẫn tiếp nhận nguyên tắc của Descartes cho rằng, tri thức có liên hệ vững chắc với tồn tại Nhờ một sự trừu tượng hoá đặc biệt, ở bên trong ý thức

bị quy giản một cách siêu nghiệm

Tuy nhiên phương pháp của Husserl lại khác phương pháp của Descartes Descartes đã hoài nghi không có thế giới, rồi sau đó ông dùng suy tưởng để kết luận rằng có thế giới Husserl không tán thành điều đó và câu nói nổi tiếng của Descartes: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” đã bị Husserl phê phán như sau: Descartes không hiển nhiên, vì trong khi hoài nghi tất cả, Descartes

đã ưu tiên cho hiện hữu của bản thân ông Theo Husserl điều hiển nhiên phải

là “Tôi tư duy vậy là tôi có tư duy về một cái gì” tức là tính ý hướng rất rõ Cho nên Husserl coi quy giản triết học chỉ mới là ngõ ngoài mà thôi Phải vào tới quy giản bản chất, chúng ta mới bước vào tới hiện tượng học

1.2.2 Phương pháp siêu nghiệm của Kant

Trong “Lời bạt” cho các ý niệm, Husserl viết: “chủ nghĩa duy tâm hiện

tượng học không phủ nhận sự tồn tại hiện thực của thế giới bên ngoài (trước hết là giới tự nhiên, giá như nó giả định rằng thế giới là vẻ bề ngoài…) Nhiệm

vụ duy nhất và thành tựu của chủ nghĩa duy tâm như vậy là ở việc làm sáng tỏ nghĩa của thế giới đó, theo đó thế giới có nghĩa của thế giới hiện thực và có quyền có nghĩa như vậy đối với mọi người Không nghi ngờ gì rằng thế giới tồn tại, rằng nó thường xuyên được đem lại với tư cách chỉnh thể thực tồn trong kinh nghiệm, liên tục dẫn tới tính thống nhất phổ biến Nhưng, một vấn

đề hoàn toàn khác là hiểu được điều đó, hiểu được một điều hiển nhiên mà

Trang 31

khoa học và cuộc sống căn cứ trên đó và giải thích tính có căn cứ ấy” [18, tr.180].

Dường như thế giới bên ngoài là không tồn tại khi nhà hiện tượng học chỉ tước mất nghĩa, gạt sang một bên luận điểm về sự tồn tại của thế giới bên ngoài do có những lý do phương pháp luận

Kant cho rằng thế giới này là kết quả của sự tổng hợp mà chủ thể siêu nghiệm xây dựng nên từ những kinh nghiệm, những định luật logic, toán học

và khoa học tự nhiên đều có giá trị đối với thế giới, còn những chủ thể thuần túy không thể đặt dưới những định luật đó Kant chia thực tại thành hai thế giới, một là, thế giới của hiện tượng và kinh nghiệm, thế giới chủ thể bất biến đối với những định luật cơ giới; hai là, thế giới “vật tự nó”, của “bản thể ” tồn tại đằng sau hiện tượng, không thể biết được Học thuyết của Kant được xem là

sự tổng hợp của hai yếu tố chính yếu của triết học thời cận đại: chủ nghĩa cơ giới và chủ nghĩa chủ quan Ảnh hưởng tư tưởng của Kant đến hiện tượng học Husserl chính là học thuyết về cái tiên nghiệm, được xem như cái siêu nghiệm

Do chịu ảnh hưởng của Kant, khi luận chứng cho đối tượng và nhiệm vụ của môn khoa học mới, Husserl đã phân biệt giữa "vật như nó được đem lại cho ta" với "vật tự nó” (theo nghĩa là vật như tự thân nó tồn tại) và tuyên bố khoa học của ông chỉ miêu tả vật như nó được đem lại cho cho chúng ta mà thôi Vật như nó được đem lại cho chúng ta rõ ràng chỉ tồn tại trong ý thức

“Bước ngoặt côpecnic” của Kant có vai trò không nhỏ trong việc hướng nghiên cứu tự nhiên sang nghiên cứu con người với tư cách là chủ thể

ý thức, nghiên cứu tồn tại sang nghiên cứu hoạt động của con người làm tiền

đề cho những nghiên cứu về cái tôi, về ý thức siêu nghiệm mà hiện tượng học

là một trong những điểm nhấn của khuynh hướng này

Nghiên cứu triết học của Kant, có thể thấy triết học tự nhiên của Kant hướng đến khách thể bên ngoài, tức là các đối tượng khách quan độc lập với

Trang 32

tư duy con người hay thế giới vật chất, đó chính là đối tượng của cơ học, vật

lý học, toán học, sinh học và địa chất học thì nhận thức của con người với những khả năng và phạm vi của nó là đối tượng nghiên cứu của triết học nhận thức Điều này đánh dấu sự chuyển biến trong thế giới quan của Kant từ lập trường duy vật tự phát sang lập trường duy tâm chủ quan

Vì sao lại có sự chuyển hướng như vậy? Điều này được lý giải như sau: Thế giới tự nhiên luôn có sự vận động, biến đổi không ngừng và sự phát triển của khoa học tự nhiên gặp bế tắc khi lý giải sự vận động và biến đổi đó, đến lúc này vai trò của triết học lại được nhắc đến, ban đầu như một cứu cánh và càng về sau càng tỏ rõ tính chất là một phương tiện dẫn đường hiệu quả Kant tìm đến siêu hình học như một lối thoát cho những bế tắc trong việc giải thích

tự nhiên từ phương pháp tư duy siêu hình Vấn đề ông quan tâm là bản chất của lý tính thuần tuý hay bản chất của nhận thức chân lý Vấn đề này nhìn chung không mới so với siêu hình học truyền thống Cái khác ở đây là, đối với Kant, lý tính phải làm công việc khảo sát chính bản thân nó hay là sự tự ý thức để tìm ra các nguyên tắc bản nhiên của lý tính thuần tuý, làm tiền đề cho việc xác định bản chất đích thực của nhận thức

Kant hướng sự suy nghĩ của mình vào bản thân lý tính; không phải khảo sát sự vật với tính cách là vật tự thân, mà khảo sát tri thức về các hiện tượng được đem lại cho con người một cách tiên nghiệm Kant cho rằng, cách tiếp cận của triết học tự nhiên không đem lại cách nhìn mới về phương diện nhận thức luận Kant muốn thay đổi điều đó trong triết học nhận thức của mình, vì thế vấn đề bản chất của nhận thức như là cái tiên nghiệm được đặt ra

trong Phê phán lý tính thuần tuý

Nói cách khác, bản chất của nhận thức giáo điều nằm ở việc giải quyết mối quan hệ chủ thể - khách thể trên cơ sở các quy luật hình thức của lý tính

để tìm ra những chân lý thuần lý Tìm kiếm chân lý suy cho cùng là công việc

Trang 33

rốt ráo của nhận thức con người; nhưng công việc đó có thể được tiến hành dựa trên những tiền đề khác nhau, dẫn đến có những kết quả không giống nhau Theo Kant, cần phải khảo sát ngay các tiền đề để đảm bảo nhận thức không đi sai đường, tức là xem xét cấu trúc, phạm vi, khả thể của lý tính để làm tiền đề vận dụng lý tính đi vào nhận thức khoa học Điều này không nằm ngoài bản chất của nhận thức, thậm chí còn là khởi điểm truy tìm bản chất của nhận thức Như vậy, bước chuyển thứ nhất này đặt ra vấn đề nghiên cứu bản chất nhận thức như là nội dung tiên quyết của bất kỳ môn siêu hình học nào muốn trở thành khoa học Bước chuyển này đánh dấu thời kỳ phê phán của Kant bắt đầu từ sự phê phán lý tính thuần tuý

Nhận thức luận hoá là con đường của siêu hình học truyền thống khi trình bày các vấn đề của nó Kant khác ở chỗ đã cấp cho nó một hình thức mới - hình thức tiên nghiệm Ông không bắt tay vào khảo sát thực thể (vật chất hay tinh thần) như các nhà siêu hình học trước đó mà tra hỏi về khả năng

và phạm vi của lý tính thuần tuý Lý tính thuần tuý ở Kant chưa được xem xét

từ góc độ bản thể luận nên chưa có ý nghĩa là một thực thể; điều này về sau được G.V.F.Hegel thực hiện trong sự cải biến lý tính trở thành tuyệt đối (tinh thần tuyệt đối) Nói cách khác, Kant không đặt vấn đề "sự tồn tại của lý tính thuần tuý là gì?"; mà đặt câu hỏi theo một hướng khác, "lý tính thuần tuý tồn tại như thế nào trong chừng mực nó có thẩm quyền?" Như vậy cũng là đặt ra những khả năng và giới hạn của nhận thức nói riêng và của nhận thức con người nói chung trên cơ sở những điều kiện tiên nghiệm của chủ thể Cách triển khai này về sau được nhà hiện tượng học Edmund Husserl (1859-1938) gọi là cấm bản thể luận hoá cái tiên nghiệm

Kant rất tự hào tuyên bố: "Nếu tồn tại một khoa học thực sự cần thiết cho con người thì đó là khoa học mà tôi đang giảng dạy, cụ thể là xác định cho con người một vị trí xứng đáng trong thế giới, từ đó có thể học được cái điều mà ai

Trang 34

cũng phải học để làm người" [34, tr 9 ] Khoa học đó là triết học có mục đích tối cao là khơi mở bản chất con người (theo cách diễn đạt của M.Heidegger)

Bản thể luận của Huserl có liên quan đến triết học Kant nói chung và chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của Kant nói riêng, nó cũng nói lên vai trò của triết học Kant đối với bản thể luận của triết học phương Tây hiện đại Đây thực chất là vấn đề “tái chủ giải” triết học Kant trong bối cảnh cần phải xác định lại đối tượng và phương pháp của triết học trong sự khác biệt của

nó so với khoa học tự nhiên

Bản thể luận thường được hiểu là tính quy định chung nhất của tồn tại, những tính quy định này đóng vai trò là cơ sở của thực tại kinh nghiệm và của tính đa dạng hiện thực của thế giới Theo Husserl, triết học tiên nghiệm của Kant ra đời đã thấy rõ dự định của cả chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm Đó là chủ nghĩa duy lý đặt cho mình nhiệm vụ đạt tới tri thức tuyệt đối, đạt tới chân lý phổ biến và tất yếu với tư cách là cái phản ánh tồn tại Theo đó, tư duy đồng nhất với tồn tại về mặt nội dung, còn cơ sở của tồn tại là các quy luật logic chi phối nhận thức chân thực

Còn theo chủ nghĩa duy lý, mọi khoa học khác đều phải tuân thủ các chân lý đã được hình thành trong hệ thống triết học tự nhiên, và phải căn cứ vào các chân lý này và cung cấp những khẳng định kinh nghiệm cho lĩnh vực tri thức tuyệt đối Tuy nhiên, luận điểm này đã bị bác bỏ khi khoa học phát triển, nó thể hiện nó tính chất tư biện trong quan điểm của chủ nghĩa duy lý

Chủ nghĩa kinh nghiệm lại cố gắng hướng một số nguyên tắc chung của tồn tại dựa trên các dữ kiện khoa học thực nghiệm, do vậy bản thể luận phải căn cứ vào dữ kiện do khoa học thực nghiệm cung cấp; còn nguyên tắc đồng nhất giữa tư duy và tồn tại được kiên định dựa trên cơ sở kinh nghiệm của kinh nghiệm chủ nghĩa Nhưng tính định hướng duy thực này lại không đạt

Trang 35

được yêu cầu đạt tới các chân lý khách quan trong nghiên cứu triết học thời cận đại

Husserl đã đánh giá chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm đều đi theo một hướng chung là: dự định không tính đến tính chủ quan của con người, ảnh hưởng đến các cơ chế nhận thức và đời sống ý chí- tình cảm của con người tronh nhận thức Cả chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm đều coi nhận thức được giải phóng hoàn toàn khỏi những hạn chế và ảnh hưởng chủ quan tất yếu sẽ dẫn tới chân lý với tư cách đồng nhất với tồn tại

Còn theo Kant chân lý nhận thức trong quá trình nhận thức không phải

là chân lý bên ngoài khuôn khổ của bản thân kinh nghiệm tri thức, kinh nghiệm cảm tính mang tính chủ quan về nguyên tắc, nên không thể có chủ nghĩa kinh nghiệm dường như có thể đạt tới “vật tự nó” chỉ dựa trên cơ sở làm sáng tỏ và chuẩn xác hoá dữ liệu cảm tính Bản thể luận ở đây “trùng khít” với nhận thức luận hay học thuyết làm sáng tỏ những thành tố đầu tiên, những điều kiện chủ yếu của nhận thức kinh nghiệm

Cách nhận thức vấn đề này của Kant là không thoả đáng, vì Kant không đoạn tuyệt được với chủ nghĩa nhận thức luận truyền thống, vì ông đã giải quyết mọi vấn đề triết học dựa trên hệ chuẩn khách - chủ thể và phương pháp của khoa học tự nhiên Theo ông, triết học có nhiệm vụ mô tả tính chủ quan nhờ trực giác trí tuệ Husserl một lần nữa cũng nói tới việc mô tả tính chủ quan (ý thức tự nó như một điều kiện của nhận thức và như một thực tại đặc

biệt nhưng ông muốn giữ lại tính khách quan (khoa học) của triết học) Như

vậy ông đã quay về với chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm của Kant

Theo Husserl, Kant trước sau chỉ xem xét thế giới thông qua các hành

vi và các hình thức của tính chủ quan của con người Tính chủ quan này là cái

mà nhờ đó, thế giới mới được đem lại cho con người Vậy nên, Husserl đã lập luận, việc xem xét thế giới ở bên ngoài mối liên hệ là một điều không thể xảy

Trang 36

ra Husserl cho rằng triết học thì trước hết, nó cần phải làm sang tỏ tính được đem lại, tính hiện diện của thế giới trong ý thức và các hành vi của nó Đây chính là sự khác biệt của triết học so với các khoa học khác, triết học không giành lấy một bộ phận xác định của thế giới để nghiên cứu, mà nó có một lập trường, một nhãn quan, một cái nhìn đặc biệt của mình về thế giới Nhưng nếu lập trường của triết học là sự định hướng nhãn quan đặc biệt – xem xét thế giới như cái được đem lại trong các hành vi và các hình thức của ý thức, thì ý thức và tính chủ quan đối với triết học không phải là một bộ phận của thế giới Điều này nói lên sự phụ thuộc của Husserl với Kant, song giữa họ cũng có điểm khác biệt

Kant xem xét phương diện nhận thức của tính chủ quan thì Husserl muốn hiểu và mô tả tính chủ quan như một thực tại đặc biệt Hay nói khác đi, lập trường của Kant là lập trường nhận thức luận để minh biện cho sự tồn tại của khoa học tự nhiên (cơ học Niutơn) nhờ việc chuyển tri thức khoa học tự nhiên đương thời sang ngôn ngữ triết học, còn lập trường của Husserl là lập trường bản thể luận tức là ông chuyển hoàn toàn sang vấn đề đối tượng và phương pháp của triết học như một lĩnh vực tri thức nhân văn đặc biệt nhờ tiếp cận với nó từ phương diện văn hoá học (khái niệm “thế giới sống”)

Bản thể luận theo Husserl là bản thể luận ý thức, là bản thể luận thể hiện như quá trình mô tả những nội dung đối tượng của ý thức, như quá trình kiến tạo những mối quan hệ về ngữ nghĩa của thế giới Đối tượng và ý thức phải thống nhất ngay từ đầu, phải được mô tả như những cái có sự thống nhất như vậy, tức là ông đã đề cập tới tính có ý hướng, kiềm chế, quy giản…

Nếu như Kant cho rằng chủ thể nhận thức của triết học là bất biến về mặt thời gian và không gian thì Husserl là nhà triết học đầu tiên thay đổi triệt

để quan niệm như vậy về địa vị và các khả năng của chủ thể nhận thức, chủ thể nhận thức đồng thời cũng là chủ thể của tồn tại, ý thức bao giờ cũng tồn

Trang 37

tại và hoạt động trong thế giới Do vậy, tư duy bao giờ cũng diễn ra tại một địa điểm nhất định và dựa trên kinh nghiệm trước đó của ý thức Hiện tượng học có thể trở thành bản thể luận vì nó đặt cho mình mục đích đạt tới sự hiện hữu của tồn tại trong ý thức đang hiện diện trong bản thân tồn tại Đời sống có

ý hướng của ý thức chính là thực tại đích thực của con người, còn các kết cấu kiến tạo thực tại này, tức là của lĩnh vực tồn tại người

Như vậy, với cách tiếp cận bằng cách phân tích các cơ sở bản thể văn hoá của tồn tại người, bản thể của Husserl đặt cho mình nhiệm vụ khắc phục

sự tha hoá của con người khỏi thế giới nhờ chỉ ra rằng, con người ngay từ đầu

đã thống nhất với thế giới Cách tiếp cận bản thể luận văn hoá của Husserl đã

mở ra một triển vọng mới cho việc giải quyết vấn đề xác định lại đối tượng và phương pháp triết học

Husserl trách cứ Kant ở chỗ ông làm tù binh cho chủ nghĩa tâm lý khi không biết cách quy giản những yếu tố kinh nghiệm chủ nghĩa là cái cản trở

sự vận động tới “ý thức thuần túy” Để loại bỏ chúng, theo Husserl cần phải thực hiện nhất quán “phép quy giản hiện tượng học”, tức sử dụng những thủ thuật phương pháp luận đặc biệt

1.2.3 Học thuyết về tính ý hướng của Brantano

Franz Brentano (1838 - 1917) là một tu sĩ dòng Saint- Dominique, nhưng sau đã từ bỏ giáo hội Công trình nghiên cứu của ông nhằm vào tâm lý

Trang 38

ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiện tượng học Husserl sau này Husserl

đã học tập với Brentano đến năm 1886, khi Brentano khuyên ông đến Halle, nơi mà một trong những học trò của Brentano là Carl Stumpf đang dạy triết học và tâm lý học Năm 1887, Husserl trở thành giảng viên của Halle và ở lại

đó như một Privatdozent cho đến năm 1901, khi đã trở thành phó giáo sư ở Gottingen và là giáo sư chính thức 5 năm sau đó Từ năm 1916 đến năm

1928, ông ở Freiburg và dạy học cho đến cuối đời

Tính ý hướng do Brantano sáng lập là lý luận độc đáo nhất ảnh hưởng

có tính quyết định đối với triết học Husserl Husserl chuyên tâm vào nghiên cứu tâm lý và lôgic, mục tiêu của ông là xây dựng một hệ thống triết học như một khoa học chặt chẽ

Theo Brantano ở bên ngoài những hiện tượng của ý thức không có đối tượng nghiên cứu của triết học, vì tính hiện tại, tính hiện hữu, tính được đem lại của thế giới người thể hiện là tổng thể những hiện tượng (phénomene) hoàn toàn khả tri với tư cách những cái hiện diện trong ý thức Ông phân biệt những hiện tượng (phénomene) tâm lý với những hiện tượng (phénomene)vật

lý Những hiện tượng (phénomene) bao gồm những hành vi biểu tượng xuất hiện thông qua cảm giác hay tưởng tượng, phán đoán và “vận động của tâm thần”, hay những hiện tượng (phénomene) cảm xúc Biểu tượng luôn đóng vai trò là cơ sở của hai loại hiện tượng tâm lý khác Nếu chúng ta phán đoán về một cái gì đó, thì cùng với hành vi phán đoán, chúng ta nhất thiết phải biểu tượng cái gì đó, nếu chúng ta yêu một cái gì đó, thì nó cũng được đem lại trong biểu tượng Những hiện tượng (phénomene) vật lý – đó là mầu sắc, hình dạng sự nóng, lạnh…tức là những cái được đem trong hiện tượng (phénomene) tâm lý Trên thực tế, cấu trúc hữu hình của thế giới hóa ra là cấu trúc của ý thức Bao giờ ý thức cũng định hướng vào một cái gì đó, cấu trúc của nó chỉ có thể được mô tả thông qua liên hệ, qua quan hệ

Trang 39

Tính ý hướng giả định phải có một cặp liên hệ, trong đó một cái liên hệ

là hành vi ý thức (hiện tượng tâm lý), còn cái liên hệ kia- cái mà hành vi ý thức định hướng vào Khi đó, cái liên hệ thứ nhất là thực tại (cái tồn tại thực), còn cái liên hệ thứ hai không thực tại và hoàn toàn có sự thực tồn có ý hướng bên trong hành vi ý thức

Brentano cho rằng khách thể ý hướng không mang tính chủ quan mà vốn là khách thể tâm lý, gắn liền với “vật” như một khái niệm căn cứ trên sự thống nhất của ý thức: “khách thể ý thức ” (13, tr.161) là một khái niệm chung, có ý nghĩa hệ thống hóa thuần túy, nhưng không có cái có ý nghĩa riêng biệt

Brentano chủ yếu quan tâm đến việc phân loại hành vi ý hướng (trải nghiệm tâm lý đa dạng) và nguồn gốc của chúng Brentano vẫn sử dụng khái niệm “chủ thể ” và “khách thể” để nêu về đặc trưng của tính ý hướng

Vào năm 1902 đã diễn ra bước ngoặt trong quá trình tiến hóa tư tưởng của Brentano, ông vẫn tiếp tục định hướng vào tính tương liên của hành vi ý thức, song ông đã thay đổi địa vị hiện sinh của khách thể phát sinh của hành

vi tâm lý Ông khẳng định rằng đối tượng của tư duy không thể là sự vật không thực tồn, cái thực sự thực tồn có thể là cái cá biệt Ông đưa ra cấu trúc phân hóa rõ hơn của hành vi tâm lý, nắm bắt một khách thể nào đó trong trực giác bên ngoài, chúng ta cũng nắm bắt bản thân trực giác ấy, tức trực giác định hướng vào khách thể vật lý, trong trực giác bên trong Như vậy bản thân khách thể bộc lộ ra với chúng ta không chỉ một cách trực tiếp trong trực giác bên ngoài mà còn trực tiếp trong trực giác bên trong Chính định hướng như vậy đã nảy sinh vấn đề về đối tượng thực sự của các khoa học tự nhiên và chủ nghĩa tâm lý

Brentano đặt ra trong “tâm lý học mô tả” là sự khu biệt giữa các hiện tượng (phénomene) tâm lý và các hiện tượng (phénomene) vật lý Ông hiểu

Trang 40

các hiện tượng (phénomene) tâm lý là bản chất không đòi hỏi việc dẫn vào các khách thể bên ngoài, mà chỉ được trải nghiệm theo một cách nào đó, tức chúng có thực sự tồn tại bên trong (nội tâm) Đồng thời chúng không mang tính chủ quan, ngẫu nhiên… mà hoàn toàn có ý nghĩa liên chủ thể

Theo Brentano, tính ý hướng có “quan hệ với nội dung” và luôn

“hướng vào một đối tượng” Rằng, chúng ta không thể nói một cách đơn giản:

“tôi cảm thụ”, “tôi tưởng tượng”, “tôi phán đoán” Để cho lời nói của chúng ta

có ý nghĩa, chúng ta phải nói: “tôi cảm giác về một vật nào đó”, “tôi yêu ai đó” Do vậy, mọi ý hướng đều là sự ý thức về đối tượng; còn hiện tượng tâm

lý là hiện tượng có ý hướng bao dung đối tượng vào chính bản thân nó (ý hướng) Ở đây, cái gọi là “đối tượng” không phải là đối tượng vật lý hoàn toàn nằm ngoài ý hướng, bởi đối tượng vật lý không có chỗ đứng trong hiện tượng học Những từ “đối tượng”, “khách thể”, “nội dung” mà Brentano sử dụng đều nói về đối tượng trong ý thức, chứ không phải vật thực tại bên ngoài Đối tượng trong ý hướng cũng không cần phải lấy vật thực tại bên ngoài làm cơ sở Ví dụ, khi chúng ta ý thức về cái xe, thì không cần phải có cái xe thực tại trước, cái xe trong ý thức của tôi chỉ là bản mô phỏng theo nó

mà thôi; bản mô phỏng này tồn tại trong tâm linh con người như là hình ảnh tinh thần Ngược lại, ngay dù cái xe như vậy, về căn bản, không tồn tại, con người vẫn có thể ý thức được nó Trên thực tế, những vật như cái xe đều do con người trước hết tạo ra trong ý thức, sau đó mới tạo ra nó trong thực tế Quan hệ chặt chẽ đó giữa ý thức và đối tượng không thiết lập trước tồn tại thực tế của hai phía Quan hệ đó chỉ yêu cầu hoạt động của ý thức hoặc của tư duy được triển khai chân thực, còn vật được ý thức tới hoặc được tư duy tới thì không nhất định phải tồn tại [15]

Không chỉ nhấn mạnh quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động của ý thức và đối tượng của nó, hoặc nói “tôi nghĩ” thì phải nói “tôi nghĩ về vật nào đó”,

Ngày đăng: 24/11/2021, 19:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Đăng Duy (2002), Triết học phương Tây hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Đăng Duy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
2. Nguyễn Tiến Dũng (1999), Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
3. Nguyễn Tiến Dũng (1996), Hiện tượng học: Thực chất và ý nghĩa, Tạp chí Triết học, số 4 (92) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 1996
4. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Lịch sử triết học phương tây, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương tây
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
5. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2003), Lược khảo triết học phương Tây hiện đại, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
6. Trần Thiện Đạo, (2001), Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc
Tác giả: Trần Thiện Đạo
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2001
7. Trần Thái Đỉnh (1968), Triết học hiện sinh, NXB Thời mới, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học hiện sinh
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: NXB Thời mới
Năm: 1968
8. Lưu Phóng Đồng, (2004), Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI: Triết học phương Tây hiện đại, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2004
9. Nguyễn Hào Hải, (2001), Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hào Hải
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
10. Diêu Trị Hoa (2005), Edmund Husserl, NXB Thuận Hóa - Trung tâm văn hóa Đông Tây, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Edmund Husserl
Tác giả: Diêu Trị Hoa
Nhà XB: NXB Thuận Hóa - Trung tâm văn hóa Đông Tây
Năm: 2005
11. Nguyễn Thị Mai Hoa (2009), E. Husserl – nhà hiện tượng học, Tạp chí triết học, nguồn Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Hoa
Năm: 2009
12. Đỗ Minh Hợp (2006), Diện mạo triết học phương Tây hiện đại, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2006
13. Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Chí Hiếu, Phạm Quỳnh Trang, (2008), Hiện tượng học Husserl, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng học Husserl
Tác giả: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Chí Hiếu, Phạm Quỳnh Trang
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2008
14. Đỗ Minh Hợp (2004), Bản thể luận Husserl với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm, Tạp chí triết học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thể luận Husserl với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 2004
15. Lê Hường, (2008), F. Brentano- Người đặt nền móng cho lý luận về tính ý hướng, Vientriethoc.com.vn, nguồn internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: F. Brentano- Người đặt nền móng cho lý luận về tính ý hướng
Tác giả: Lê Hường
Năm: 2008
16. Honderich T. (2002), Hành trình cùng Triết học, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình cùng Triết học
Tác giả: Honderich T
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
17. J.K. Melvil (2007), Các con đường của triết học phương Tây hiện đại, (Biên dịch: Đinh Ngọc Thạch, Phạm Đình Nghiệm), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường của triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: J.K. Melvil
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
18. Phạm Minh Lăng (2003), Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây
Tác giả: Phạm Minh Lăng
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
19. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), toàn tập, tập 20, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
20. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), toàn tập, tập12, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w