Đề tài: “Vấn đề phòng chống bạo lực gia đình trên báo chí”, khảo sát mục “Thức đêm của bạn” trên kênh VOV giao thông và mục “Gia đình” của trang thông tin điện tử http://giadinh.net.vn
Trang 1QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐẶNG THỊ MAI VIỆT
VẤN ĐỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
TRÊN BÁO CHÍ
(Khảo sát mục “Thức đêm cùng bạn” - trên VOV,
mục “Gia đình” của giadinh.net.vn năm 2011)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
TÁC GIẢ
Đặng Thị Mai Việt
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
PGD.TS Nguyễn Đức Dũng
Trang 3MỞ ĐẦU 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG PHÒNG
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình 19
1.2 Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề bạo lực
1.3 Vai trò và phương thức tác động của báo chí về truyền thông
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC TRUYỀN THÔNG PHÒNG
2.1 Nội dung truyền thông phòng chống bạo lực gia đình trên diện
2.2 Phương thức truyền thông phòng chống bạo lực gia đình ở các sản
Chương 3: ĐÁNH GIÁ VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ THUỘC DIỆN
3.1 Đánh giá thành công, hạn chế của hoạt động truyền thông
phòng chống bạo lực gia đình trên các sản phẩm thuộc diện
Trang 5DANH MỤC HÌNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Số lượng bài/ chủ đề bạo lực gia đình được đăng tải 34
Bảng 2.2 Hình thức bạo lực gia đình được phản ánh 38
Biểu đồ 2.1 Mức độ tiếp cận các kênh thông tin (%) 36
Biểu đồ 2.2 Mức độ sử dụng kênh thông tin 37
Biểu đồ 2.3 Cách trình bày tin bài về bạo lực gia đình trên
Biểu đồ 2.4 Ngôn ngữ về bạo lực gia đình trên http://giadinh.net.vn 62
Biểu đồ 2.5 Ngôn ngữ của chương trình Thức đêm cùng bạn 64
Biểu đồ 3.1 Nhiệm vụ thực hiện trên http://giadinh.net.vn 69
Biểu đồ 3.2 Yếu tố quyết định hiệu quả thông tin BLGĐ 70
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 25-11 hàng năm được Liên hợp quốc lấy làm ngày Quốc tế xóa
bỏ bạo lực gia đình đối với phụ nữ Liên hợp quốc và các nước trên thế giới
đã và đang có nhiều cố gắng trong việc phòng chống bạo lực gia đình và ban hành nhiều văn kiện pháp lý liên quan đến phòng chống bạo lực gia đình Hiện đã có 89 nước trên thế giới có các quy định pháp luật riêng về chống bạo lực gia đình, trong đó có 60 nước có luật riêng về phòng chống bạo lực gia đình; 7 nước có luật riêng về bạo lực chống lại phụ nữ
Bạo lực gia đình gây ra những hậu quả xấu về sức khỏe và tâm lí của phụ nữ và trẻ em Đối với phụ nữ, bạo hành gia đình gây ra những thương tật, tàn tật vĩnh viễn và ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe sinh sản như viêm nhiễm đường sinh sản, HIV/AIDS, rối loạn phụ khoa, nạo thai không an toàn, sảy thai,… Ngoài những ảnh hưởng về thể chất, bạo lực gia đình còn gây ra nhiều hậu quả xấu về tinh thần cho người phụ nữ như stress sau chấn thương, rối loạn/hoảng loạn, mất trí nhớ… Còn trẻ em là nhân chứng hoặc nạn nhân của bạo lực sẽ có thể đi đến niềm tin rằng: Bạo lực là cách duy nhất để giải quyết xung đột giữa con người với nhau
Thời gian gần đây các vụ bạo lực gia đình có xu hướng gia tăng, nguy hiểm hơn, tinh vi hơn, phức tạp hơn Theo nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ ở Việt Nam - do Tổng Cục thống kê tiến hành với trợ giúp kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (WTO) năm 2010, chỉ ra rằng cứ ba phụ nữ
có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có một người cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục; 58% phụ nữ cho biết họ đã từng
là nạn nhân của ít nhất một hình thức BLGĐ; cứ mười phụ nữ thì có bốn người nhận thấy gia đình không phải là nơi an toàn với đối với họ [3, tr.131]
BLGĐ được viện dẫn như nguyên nhân của 66% tổng số các vụ ly hôn Theo một nghiên cứu, hơn 32% số vụ BLGĐ có nạn nhân là đối tượng bị kiểm soát hành vi bởi bạn đời/ bạn tình của mình [3]
Trang 7Tại một bệnh viện ở Việt Nam, mỗi ngày có trung bình 5-6 phụ nữ nhập viện do hậu quả của BLGĐ; 50% tổng số vụ việc bị chấn thương đầu, 40% có vết thương khắp cơ thể; 15% đã bị lạm dụng tới 10 năm [59, tr.129]
Nhận thấy hậu quả nghiêm trọng từ các vụ bạo lực gia đình, những năm gần đây Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội đã có những hành động thiết thực trong phòng chống bạo lực gia đình Ngày 21-11-2007, Luật phòng chống bạo lực gia đình ra đời, đồng thời Nhà nước cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật với chế tài xử lý nghiêm minh những hành vi bạo lực gia đình… Cùng với những chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước các cấp, các ngành và các đoàn thể xã hội cũng đang đẩy mạnh các hoạt động can thiệp nhằm giảm thiểu tình trạng này
Ở Việt Nam, BLGĐ vẫn còn là một vấn đề gắn liền với tính riêng tư trong mỗi gia đình, vì thế còn bị che giấu, ít được chia sẻ hoặc tìm kiếm trợ giúp Tuy nhiên, thời gian gần đây vấn đề này đã, đang được dư luận xã hội cũng như nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Đối với ngành truyền thông, vấn đề BLGĐ không chỉ là đối tượng phản ánh, mà còn là trách nhệm xã hội Tại điều 40 - Luật phòng chống bạo lực gia đình đã quy định rõ trách nhiệm của Bộ Thông tin và Truyền thông, cũng như các cơ quan thông tin đại chúng: “Bộ Thông tin và truyền thông có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; cơ quan thông tin đại chúng
có trách nhiệm thông tin kịp thời, chính xác chính sách, pháp luật về phòng, chống BLGĐ” [34]
Tại Điều 11, Luật phòng chống bạo lực gia đình cũng khẳng định vị thế
và vai trò của hình thức truyền thông gián tiếp đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng trong tiến trình tuyên truyền, giáo dục vận động phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình
Để góp phần xóa bỏ BLGĐ, báo chí có vai trò quan trọng trong việc thông tin, tuyên truyền về phòng chống BLGĐ nhằm thay đổi nhận thức, hành
Trang 8vi về bạo lực Mỗi loại hình truyền thông đại chúng như báo viết, truyền hình, phát thanh, báo điện tử … đều có thế mạnh riêng Báo chí truyền thông đã và đang tham gia vào chiến dịch phòng chống BLGĐ, thể hiện sự đa dạng về nội dung và hình thức Truyền hình có thế mạnh về hình ảnh nhưng khung giờ, chuyên mục cho tuyến đề tài riêng biệt này lại gần như khó thực hiện, chủ yếu
là sự đan xen vào các chương trình, các kênh truyền hình Báo in vẫn có lượng độc giả trung thành nhưng đối tượng công chúng của loại hình này còn hạn hẹp do sự phát triển và tốc độ của cuộc sống thường ngày, thói quen đọc báo ít thấy ở người trẻ, người lao động, nông dân, dân tộc thiểu số
Giải quyết mặt hạn chế này, báo phát thanh đáp ứng được tiêu chí về thời gian, độ phủ sóng rộng, thiết bị đơn giản, không tốn kém, không đòi hỏi người tiếp nhận có học thức cao Bên cạnh đó, báo mạng điện tử với ưu thế vượt trội về việc áp dụng triệt để tính đa phương tiện và xu hướng xã hội hóa của báo chí, tạo nên hiệu quả tích cực khi tham gia truyền thông phòng chống BLGĐ
Đã có những nghiên cứu về đề tài truyền thông phòng chống BLGĐ, chủ yếu lựa chọn đối tượng, phạm vi nghiên cứu trên báo in, báo mạng bởi những thuận lợi trong quá trình tìm kiếm, tra cứu dữ liệu Tác giả muốn hướng đến là hình thức phát thanh hiện đại - phát thanh trực tiếp và báo mạng điện tử có chuyên mục riêng biệt phản ánh BLGĐ để nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ những thành tựu, những hạn chế cần khắc phục, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các mô hình, phương thức phản ánh BLGĐ phù hợp nhất
Đề tài: “Vấn đề phòng chống bạo lực gia đình trên báo chí”, (khảo
sát mục “Thức đêm của bạn” trên kênh VOV giao thông và mục “Gia đình” của trang thông tin điện tử http://giadinh.net.vn năm 2011), được tác giả lựa
chọn và thực hiện với mong muốn sẽ phát hiện, thẳng thắn nhìn nhận các vấn
đề mà báo chí đã đạt được và chưa làm được trong công tác truyền thông phòng chống BLGĐ để góp phần vào việc nâng cao chất lượng truyền thông
về đề tài này trên báo chí hiện nay
Trang 92 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình, hay bạo lực đối với phụ nữ là vấn đề không mới Đã có nhiều cá nhân và tổ chức quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực này nhằm góp phần bình đẳng giới, bảo vệ người phụ nữ khỏi bạo lực gia đình Một số nhóm đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này được tổng hợp dưới đây
2.1 Một số công trình nghiên cứu về bạo lực gia đình
Với mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và quyền bình
đẳng giới cho phụ nữ, công trình nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố
liên quan đến bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại huyện An Dương, Hải Phòng” (thực hiện năm 2006), hai tác giả Lê Minh Thi và Nguyễn Thanh Hà
chỉ ra rằng: kiến thức của người dân về các hành vi bạo lực còn thấp, nhiều hành vi BL như mắng, chửi, đánh không gây thương tích … đã bị bỏ qua hoặc xem nhẹ mặc dù khi được hỏi thì hành vi bạo lực được nhắc đến nhiều nhất là đánh đập, gây thương tích và chửi bới, lăng mạ [54]
Nghiên cứu các khía cạnh của bạo lực gia đình dựa trên các kết quả nghiên cứu về bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam từ đầu những năm 90 của
thế kỷ XX đến nay, có thể kể đến “Bạo lực trong gia đình” của tác giả Bùi Thu Hằng đăng Trên tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 2/2001 [25] “Nghiên cứu
bạo lực gia đình trên cơ sở giới ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu Minh và các
cộng sự, 2005 [38]; “Bạo lực của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong những
năm gần đây” của nhóm tác giả thuộc Viện Gia đình và Giới, đăng trên tạp
chí Khoa học về phụ nữ, số 3/2006… Các công trình nghiên cứu này tóm lược, so sánh các kết quả nghiên cứu trước đó và đưa ra bức tranh chung về BLGĐ Kết luận chung của các nghiên cứu này là nhận thức của nhân dân nhất là phụ nữ về bạo lực, sự bình đẳng giới trong gia đình còn nhiều hạn chế Những nguyên nhân của tình trạng này được xác định bao gổm: nguyên nhân
về kinh tế, trình độ học vấn, nghiện ngập, do nhận thức hạn chế của người có trách nhiệm và của chính quyền địa phương …
Trang 10Tiếp cận theo hướng tìm hiểu nhận thức về bạo lực gia đình thông qua
nhóm các cán bộ y tế cơ sở, cán bộ các ban ngành, đoàn thể Nghiên cứu “Bạo
lực gia đình chống lại phụ nữ - thái độ và thực hành của nhân viên y tế đối với nạn nhân của bạo lực gia đình chống lại phụ nữ” của Nguyễn Thị Hoài
Đức và các cộng sự, năm 2001, cho thấy cán bộ y tế và các ban ngành đoàn thể có những hiểu biết nhất định về vấn đề ngược đãi phụ nữ, các hành vi ngược đãi về thể chất thường bị coi là nghiêm trọng hơn so với tinh thần Lạm dụng tình dục như hiếp dâm phụ nữ và trẻ em được coi là các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng Theo họ, những gia đình có bạo lực thường là những gia đình nghèo, trình độ văn hóa thấp … [18]
Nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” của Vũ Mạnh Lợi và các cộng sự
đã đi sâu tìm hiểu nhận thức, thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về BLGĐ trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn nhân bạo lực trong gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy ngược đãi về tình cảm, thân thể, và lời nói là phổ biến hơn các yếu tố khác [32]
2.2 Chủ đề giới trong sản phẩm truyền thông
Nghiên cứu theo hướng phân tích về vai trò giới, định kiến giới, bình
đẳng giới, nhạy cảm giới trên các phương tiện truyền thông đại chúng
(TTĐC), có thể kể tới một số công trình tiêu biểu: “Giới không có nghĩa là
phụ nữ” của Nguyễn Thu Phương đăng trên Kỷ yếu Hội thảo giới - truyền
thông và phát triển, năm 2003 [44]; “Một sự duy trì định kiến giới về vai trò
của nữ và nam trên báo in hiện nay” của Trần Thị Minh Đức và Đỗ Hoàng
đăng trên tạp chí Tâm lý học, số 6/2004 [19]; Báo cáo “Nhạy cảm giới trong
các chương trình truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam” do Csaga và
Oxfam thực hiện tháng 3/2008, Bản tin nhặt sạn của Csaga … Điểm chung và cũng là thành công của những công tình nghiên cứu trên, đó là các tác giả tập trung chỉ ra tác hại của những quan điểm dập khuôn về bất bình đẳng giới đã
vô tình cổ vũ cho BLGĐ
Trong cuốn “Lịch sử và lý thuyết xã hội học“ - tác giả Lê Ngọc Hùng
cho rằng thông tin quảng cáo, chương trình thông tin khuyến mãi không chỉ
Trang 11phản ánh vai trò giới trong văn hóa nghe - nhìn mà còn củng cố, khuyến khích các hành vi giới, nhất là hành vi mua hàng theo vai giới Ví dụ như những hình ảnh về phụ nữ chọn mua bột giặt, mỹ phẩm, quần áo , còn nam giới mua sắm những thứ đắt tiền như xe ô tô hoặc được sử dụng những bàn ghế tiện nghi, văn phòng làm việc sang trọng [28]
Những nghiên cứu này cho thấy cái nhìn nhiều chiều về vai trò của nam
và nữ thông qua các hình ảnh quảng cáo trên báo hình và báo in Những nghiên cứu đó chỉ ra rằng những hình ảnh, vai trò giới còn mang nặng khuôn mẫu, định kiến giới Điều đó có thể thấy lối mòn trong suy nghĩ của các cá nhân, nhóm xã hội về vị thế của người phụ nữ: là phụ nữ thì phải làm công việc nội trợ, phải thùy mị, nết na chăm lo cho các thành viên trong gia đình Và người phụ nữ nào không làm đúng vai trò đó thì đương nhiên là không được đánh giá cao, thậm chí bị chì chiết hoặc bị các thành viên trong gia đình hành hạ Tuy nhiên, đây chỉ là những nghiên cứu trường hợp và chủ yếu tập trung ở tìm hiểu hình ảnh của phụ nữ trên mục quảng cáo, còn các chuyên mục khác chưa được nghiên cứu
2.3 Vấn đề bạo lực giới được mô tả trên các phương tiện truyền thông đại chúng
Nghiên cứu đề cập đến vấn đề này trên phương tiện truyền thông hiện chưa nhiều và hầu hết được lồng ghép trong các nghiên cứu khác
Nghiên cứu của khoa Xã hội học - Học viện báo chí và Tuyên truyền, tiến
hành năm 2006 là “Thông điệp về tính dục trên báo mạng” (nghiên cứu trường
hợp báo vnexpress.net, thanhnien.vn, gioitinhtuoiteen.vn, dantri.com.vn) từ tháng 6-12/2006 Trong nghiên cứu này các tác giả cũng phân tích về những bài viết đăng tải về bạo lực tình dục (bao gồm cả BL tình dục trong và ngoài gia đình) Kết quả nghiên cứu cho thấy các bài viết về BL tình dục chủ yếu được đăng trên hai tờ báo điện tử là dantri.com và vnexpress.net Đặc biệt, khác với các chủ đề khác trong tính dục, BL tính dục (hãm hiếp, BL liên quan đến buôn bán tình dục) thường liên quan đến luật pháp nên được đăng tải khá
Trang 12nhiều trên chuyên mục Pháp luật còn những chuyên mục khác như Khoa học, Sức khỏe hay chuyên trang về Sức khỏe sinh sản/ tình dục lại rất ít
Trong luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng năm 2007, tại Học viện báo
chí và Tuyên truyền, với đề tài “Bạo hành đối với phụ nữ trên báo chí hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Hoa đã khảo sát ở 5 tờ báo: http://vietnamnet.vn/, Phụ nữ Việt Nam, Gia đình và Xã hội, Công an nhân dân, Công an nhân dân điện tử, trong khoảng thời gian từ 1/2006 đến 6/2007 Nghiên cứu này đã cho thấy: số lượng bài viết về chủ đề bạo hành gia đình khá nhiều, nội dung phản ánh đa dạng ở các khía cạnh như bạo hành giới, bạo hành trong gia đình, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gái, hiện tượng xâm hại tình dục …Tác giả khẳng định vai trò của báo chí trong việc làm chuyển biến, thay đổi nhận thức của cộng đồng, của cả bản thân người phụ nữ Sức mạnh của báo chí thể hiện ở chỗ tạo ra một dư luận xã hội rộng rãi để phanh phui, lên án những hành vi bạo lực đối với phụ nữ…[24]
Khi nghiên cứu về “Thông điệp về bạo lực gia đình trên báo mạng điện
tử ở Việt Nam hiện nay”, khóa luận tốt nghiêp chuyên ngành xã hội học năm
2010, Học viện báo chí và tuyên truyền, tác giả Nguyễn Thị Huệ muốn đề cập đến việc thông tin về bạo lực giới nói chung, bạo lực gia đình nói riêng trên
hệ thống truyền thông có tác động tích cực đến nhận thức của công chúng, từ
đó có sự thay đổi, nhìn nhận vấn đề một cách đúng đắn, ngăn chặn BLGĐ Dưới cách tiếp cận xã hội học, tác giả đã có những phân tích, đánh giá về thực trạng cách thể hiện bài viết về BLGĐ trên báo mạng điện tử [27]
Trong các “Bản tin nhặt sạn” [4,5] - bản tin nội bộ, Csaga đã tập trung đánh giá về nhạy cảm giới trong các sản phẩm truyền thông về vấn đề BLGĐ Nhóm tác giả khẳng định bên cạnh những bài báo phản ánh thực trạng, đưa ra những bàn luận về nguyên nhân hậu quả của BLGĐ thì vẫn còn nhiều bài chưa phản ánh đúng bản chất của BLGĐ, gây ra những ngộ nhận không tốt với công chúng
Trong cuốn “Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của
truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ”, do TS Hoàng Bá
Trang 13Thịnh chủ biên, 2003, [57] đã đăng tải một số nghiên cứu của các tác giả về
BLGĐ: Trong nghiên cứu Giải pháp phòng chống bạo lực gia đình đối với
phụ nữ, tác giả Lê Thị Thu khẳng định nguyên nhân của BLGĐ là do nhận
thức của xã hội về bình đẳng giới, và quyền của người phụ nữ đã có tiến bộ, nhưng do tư tưởng phong kiến lạc hậu ảnh hưởng nặng nề, nên nhận thức về
vấn đề này vẫn còn hạn chế; Trong nghiên cứu Phương tiện truyền thông đại
chúng với việc tuyên truyền phổ biến pháp luật cho phụ nữ, 2003, tác giả
Phan Thị Thanh đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho phụ nữ qua phương tiện truyền thông đại chúng Lợi thế sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng là: tốc độ truyền tải nhanh cho phép công chúng ở nhiều địa bàn khác nhau tiếp cận thông tin kịp thời, nhất quán,
số lượng người hưởng thụ lớn, sự hưởng thụ của người này không làm cản trở người khác mà trái lại dễ tiếp cận đại chúng với chi phí thấp
Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn về vấn đề truyền thông phòng chống BLGĐ
Cho đến nay chưa có công trình nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống về vấn đề bạo lực gia đình trên mục “Gia đình” của trang Thông tin điện tử http://giadinh.net.vn và chương trình “Thức đêm
cùng bạn” của kênh VOV giao thông Vì vậy, luận văn “Vấn đề phòng chống
bạo lực gia đình trên báo chí” có kế thừa và phát huy các luận điểm đã được
nghiên cứu của các tác giả về vấn đề BLGĐ, nhưng không trùng lặp với bất
kỳ công trình nào đã được công bố từ trước đến nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa lý luận về vấn đề phòng chống bạo lực gia đình Nhận diện nội dung, phương thức truyền thông phòng chống bạo lực gia đình thông qua khảo sát chuyên mục “Thức đêm cùng bạn” trên kênh VOV giao thông của Đài Tiếng nói Việt Nam, mục “Gia đình” của trang thông tin điện tử http//giadinh.net.vn.Trên cơ sở phân tích, đánh giá các
Trang 14vấn đề đặt ra và khuyến nghị khoa học nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông phòng chống BLGĐ trên báo chí hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Từ mục đích nghiên cứu trên, tác giả xác định nhiệm vụ nghiên cứu của
đề tài như sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về truyền thông phòng chống BLGĐ và thực tiễn hoạt động truyền thông về BLGĐ trên kênh báo chí phát thanh và trang thông tin điện tử làm cơ sở phát triển nội dung đề tài
- Khảo sát, phân tích nội dung và phương thức truyền thông phòng chống BLGĐ trên chuyên mục “Thức đêm cùng bạn” của kênh VOV giao thông và mục “Gia đình” của trang thông tin điện tử http//giadinh.net.vn; Từ
đó rút ra những nhận định khoa học về thực trạng và đặc thù của vấn đề truyền thông bạo lực gia đình trên báo chí hiện nay
- Đề xuất khuyến nghị và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng truyền thông phòng chống BLGĐ trên diện khảo sát
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý thuyết
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò của báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng trong tổ chức, quản lý, giám sát xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục tư tưởng và định hướng chuẩn mực đạo đức, giá trị xã hội hiện nay
Luận văn sử dụng lý thuyết chức năng và lý thuyết thuyết phục (nằm trong hệ thống lý thuyết truyền thông) nhằm viện dẫn cho những luận điểm được phân tích gắn với nội dung và phương thức tổ chức hoạt động truyền thông phòng chống BLGĐ trên các sản phẩm báo chí truyền thông
- Lý thuyết chức năng: Đại diện của thuyết này là R.Merton, ông cho rằng,
TTĐC có chức năng công khai và chức năng tiềm ẩn Trong đó chức năng công
Trang 15khai là hiệu quả thực sự mà nhà truyền thông mong muốn đạt được còn chức năng tiềm ẩn là những hiệu quả xảy ra mà nhà truyền thông không ngờ đến Theo đó, những nội dung truyền thông phòng chống BLGĐ trên diện khảo sát, bên cạnh mục đích cung cấp thông tin, tuyên truyền về các hình thức biểu hiện, nguyên nhân gây ra BLGĐ, luật PCBLGĐ, tuyên truyền về bình đẳng giới… nó còn có vai trò làm thay đổi cách ứng xử trong các nhóm xã hội TTĐC được coi như một thiết chế xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu duy trì tính ổn định, tính liên tục của một
xã hội, cũng như nhu cầu hội nhập và thích nghi của các cá nhân trong xã hội ấy
Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu, tác giả xem xét nội dung truyền thông về vấn đề BLGĐ trên diện khảo sát có đảm bảo được những chức năng như định hướng dư luận xã hội, giải trí, thông tin, xã hội hóa … hay không
- Lý thuyết thuyết phục: Trong hơn 20 lý thuyết truyền thông trực tiếp
được đưa ra trong cuốn Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản, do tác giả Nguyễn Văn Dững chủ biên [15], luận văn này lựa chọn lý thuyết thuyết phục - một trong những lý thuyết truyền thông khẳng định nội dung thông điệp được phản ánh có mối quan hệ với công chúng tiếp nhận
William McGuire cho rằng, để có thể thuyết phục được công chúng nhằm thay đổi được nhận thức, thái độ, hành vi của họ, trong hoạt động truyền thông cần trải qua 10 bước Trong đó, bước đầu tiên là tiếp cận thông điệp, có nghĩa là tạo môi trường truyền thông để công chúng có khả năng tiếp cận với thông điệp đã thiết kế Bước thứ 2 cho rằng thông điệp khi xây dựng cần được chú ý bới khả năng thuyết phục của truyền thông sẽ mất đi nếu thông điệp không thu hút, kém hấp dẫn công chúng Hơn nữa, trong bản thân mỗi thông điệp công chúng phải tìm thấy được mối quan tâm nhất định với thông điệp mà mình nhận được (bước 3), sau khi họ thấy chú ý tới thông điệp thì giai đoạn tiếp theo là hiểu thông điệp (bước 4) từ đó cá nhân suy nghĩ kỹ hơn về thông điệp và liên hệ với những kinh nghiệm mình có hoặc với những vấn đề liên quan đến đời sống của chính họ để từ đó cá nhân điều chỉnh suy nghĩ của mình cho phù hợp (bước 5) rồi từ đó chấp nhận thay đổi (nhận thức, thái độ, hành vi) (bước 6)
Trang 16Bước tiếp theo (bước 7) khẳng định nhà truyền thông cần làm để công chúng ghi nhớ thông điệp và không ngừng ủng hộ thông điệp, chuyển đổi tận gốc thái độ dựa trên cơ sở hiểu biết và tư duy về thông điệp (bước 8) công chúng ra quyết định cho chính họ về việc chuyển đổi hành vi gì, ở mức độ nào và như thế nào (bước 9) Và cuối cùng (bước 10) hành vi của công chúng đã biến đổi nhưng nếu không được củng cố, nhất là không được dư luận xã hội hỗ trợ, củng cố thì nó chỉ thay đổi vài lần rồi lại dừng lại [15, tr.68-72]
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích nội dung
Phân tích nội dung là một phương pháp phân tích tài liệu và bài viết (có thể dưới dạng in ấn và nghe nhìn) nhằm lượng hóa nội dung có hệ thống Đó
là các tác phẩm báo chí đăng tải trên mục “Gia đình” của trang thông tin điện tử http//giadinh.net.vn và chuyên mục phát thanh “Thức đêm cùng bạn” của kênh
VOV giao thông, những câu trả lời thu được qua bảng thăm dò ý kiến, phỏng vấn sâu, gỡ băng Từ đó tìm ra những thành công và hạn chế trong thông truyền thông phòng chống BLGĐ trên diện khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này nhằm thu thập ý kiến đánh giá của các cá nhân để bổ sung cho phần thông tin định lượng, hỏi sâu những vấn đề không được thể hiện trong bảng hỏi Tác giả tập trung phỏng vấn sâu 12 trường hợp
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket)
Sử dụng phương pháp nghiên cứu của xã hội học - phương pháp trắc nghiệm nhằm đưa ra những minh chứng cụ thể, rõ ràng, khách quan từ phía công chúng về mức độ tiếp cận thông tin, nội dung và hình thức truyền thông vấn đề BLGĐ trên diện khảo sát
Từ ý tưởng trên, tác giả xây dựng một hệ thống các câu hỏi dành cho diện khảo sát, với cách thức tiến hành là phát phiếu trực tiếp cho mỗi trường hợp Ban đầu, công chúng được giới thiệu về mục đích của nghiên cứu Tiếp đến, tác giả hướng dẫn cách thức điền thông tin vào bảng hỏi [x Phụ lục 2]
Trang 17Trong khuôn khổ giới hạn của cuộc khảo sát công chúng Hà Nội, tác giả chưa có điều kiện khảo sát trên diện rộng, cỡ mẫu lớn mang tính đại diện cao Vì vậy, tác giả đã phát 450 phiếu điều tra Số phiếu được kiểm tra, làm sạch trước khi
xử lý là 448 phiếu ( có 02 phiếu không đạt yêu cầu)
Việc lựa chọn công chúng để thực hiện trắc nghiệm được xây dựng dựa trên định hướng ưu tiên có chủ đích của tác giả, đó là:
+ Công chúng là tiềm năng của báo điện tử và phát thanh bao gồm cả nam và nữ (có thể đã và đang tiếp cận với internet, đọc báo điện tử hoặc có thể đọc báo điện tử; đã và đang nghe các chuyên mục phát thanh trên VOV giao thông)
+ Là những trường hợp đã kết hôn, chưa kết hôn
+ Là những trường hợp được phân theo nhóm nghề nghiệp: cán bộ, sinh viên, buôn bán/ dịch vụ Mô tả mẫu nghiên cứu được đưa vào phụ lục của đề tài [x.Phụ lục 3]
5.3 Phương pháp xử lý thông tin
Thông tin thu thập được từ bảng hỏi trắc nghiệm được mã hóa, nhập và
xử lý bằng chương trình SPSS 13.0 Kết quả khảo sát của đề tài được đưa vào phần phụ lục [x Phụ lục3]
Thông tin khảo sát trên chuyên mục “Thức đêm cùng bạn”, có 72 file âm
thanh được nghe lại lập bảng mã để phân tích và thống kê số liệu đề phục vụ cho nghiên cứu
Thông tin khảo sát trên mục “Gia đình” của trang thông tin điện tử
http://giadinh.net.vn được đọc tổng hợp số liệu, phân tích, phục vụ cho mục đích nghiên cứu
6 Điểm mới và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
6.1 Điểm mới của luận văn
Về khách thể nghiên cứu: Theo truyền thống, khách thể nghiên cứu của các
đề tài thường là các nhóm xã hội khác nhau Tuy nhiên, trong nghiên cứu này ngoài nhóm công chúng còn có nhóm khách thể được xác định là những nội dung được
Trang 18đăng tải trên diện khảo sát Do vậy nghiên cứu này cung cấp bức tranh thực tiễn, phong phú từ phía công chúng và từ bản thân nội dung truyền thông
Về vận dụng lý thuyết và phương pháp tiếp cận vấn đề: Luận văn sử
dụng lý thuyết chức năng và lý thuyết thuyết phục nhằm viện dẫn cho những luận điểm được phân tích ở chương 2 Thông qua quá trình phân tích nội dung, phương thức tác động của truyền thông vấn đề BLGĐ trên diện khảo sát; Nêu lên những đặc thù trong truyền thông PCBLGĐ Điều này góp phần làm phong phú thêm cách tiếp cận nghiên cứu xã hội học TTĐC trong nghiên cứu báo chí hiện nay
6.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Ý nghĩa lý luận: Vận dụng lý thuyết chức năng, lý thuyết thuyết phục
trong hệ thống lý thuyết truyền thông để phân tích nội dung, hình thức truyền thông về vấn đề BLGĐ trên diện khảo sát
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ
những vấn đề lý luận về truyền thông PCBLGĐ qua khảo sát trang thông tin điện
tử http//giadinh.net.vn và loại hình báo chí phát thanh Cung cấp cứ liệu khoa học phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức điều hành hoạt động của hai kênh báo chí này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông phòng chống BLGĐ
Cung cấp cơ sở thực tiễn cho nhà báo khi đưa tin về vấn đề BLGĐ, đồng thời gợi mở cho công chúng ý thức trong quá trình tiếp nhận thông tin
về BLGĐ trên diện khảo sát
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, trong công tác giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học về báo chí trong truyền thông, tư vấn về vấn đề BLGĐ
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN BÁO CHÍ
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình
Như vậy, khi bàn tới khái niệm gia đình còn nhiều vấn đề phải tìm hiểu
và nghiên cứu Nhưng căn cứ vào các đặc điểm hôn nhân và gia đình ở nước
ta, kế thừa các hạt nhân hợp lí của các cách tiếp cận khác nhau về gia đình, luận văn sử dụng khái niệm về gia đình như sau:
Gia đình là một phạm trù dùng để chỉ một tập hợp người hình thành trên cơ sở các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng… Các thành viên gắn bó với nhau bởi trách nhiệm,
Trang 20nghĩa vụ, quyền lợi kinh tế - văn hóa - tình cảm và theo những chuẩn giá trị nhất định, được dư luận xã hội ủng hộ, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ [35, tr.17]
Như vậy khái niệm trên bao gồm các nội dung sau:
Thứ nhất: gia đình là một thiết chế được hình thành trước hết trên cơ sở
hôn nhân - là sự kết hợp giữa hai cá nhân (nam và nữ) theo quy định của luật pháp nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình hạnh phúc Đó là sự cam kết chung sống của hai cá nhân một cách tự nguyện dựa trên sự hấp dẫn
về giới tính và sự gắn bó về tình cảm
Thứ hai: gia đình còn được dựa trên cơ sở huyết thống là sự phát triển và
là hệ quả tất yếu của quan hệ hôn nhân Nó chỉ được phát triển tốt đẹp dựa trên
cơ sở hôn nhân tự nguyện, dựa trên cơ sở tình yêu chính đáng và hợp pháp
Thứ ba: quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ được hình thành giữa chủ thể
và đối tượng được nuôi dưỡng; họ gắn bó với nhau bởi những nghĩa vụ và quyền lợi được dư luận xã hội thừa nhận và ủng hộ
1.1.2 Bạo lực trên cơ sở giới
Tuyên bố của Liên Hợp quốc về Xóa bỏ Bạo lực đối với phụ nữ do Đại Hội Đồng Liên Hợp quốc thông qua năm 1993, định nghĩa Bạo lực trên cơ sở giới như sau:
Bất kỳ một hành động bạo lực nào dựa trên cơ sở giới dẫn đến hoặc
có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, tình dục, tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự
do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư Định ngĩa của Liên Hợp quốc nêu trên có phạm vi rộng bao gồm các hành vi bạo lực chống lại phụ nữ trong cuộc sống riêng tư (BLGĐ) lẫn các hành vi bạo lực chống lại phụ nữ ở nơi công cộng (bạo lực ngoài gia đình) Theo quan điểm của Liên Hợp quốc, bạo lực chống lại phụ nữ có thể phân loại thành sáu lĩnh vực như sau: 1/ Bạo lực trong gia đình; 2/ Bạo lực về giới;
Trang 213/ Những tập tục hủ lậu đối với phụ nữ; 4/ Tệ nạn buôn bán trẻ em gái và phụ nữ; 5/ HIV/AIDS và bạo lực; 6/ Những tội ác chống lại phụ nữ trong chiến tranh và trong các cuộc xung đột vũ trang [57, tr.4]
1.1.3 Bạo lực gia đình và phân loại bạo lực gia đình
1.1.3.1 Bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình có thể xảy ra trong bất kỳ mối quan hệ gia đình nào, bao gồm quan hệ vợ - chồng, vợ cũ - chồng cũ; cha dượng/mẹ kế với con riêng của vợ/chồng, cha mẹ và con cũng như quan hệ giữa những người cùng chung sống Bạo lực gia đình đối với phụ nữ thường được gọi là “bạo lực trên
cơ sở giới” vì nó phần nào xuất phát từ tình trạng phụ thuộc về giới tính của phụ nữ trong xã hội Trong hầu hết các xã hội, mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới được tạo lập và duy trì bởi quan niệm bất di bất dịch
về giới là nguyên nhân cơ bản dẫn đến bạo lực đối với phụ nữ
Nhìn BLGĐ qua lăng kính giới chính là cách xem xét bạo lực xảy ra giữa những người khác giới, cụ thể là giữa nam giới và nữ giới, được xác định ở đây chủ yếu trong mối quan hệ thân thuộc thậm chí là quan hệ máu mủ
Trong các tài liệu quốc tế, khái niệm BLGĐ được coi là những hành vi
BL do chồng hoặc bạn tình gây ra Đó là những hành vi BL xảy ra trong quan
hệ hôn nhân hoặc quan hệ tương tự hôn nhân gây tổn hại đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tình dục với người vợ hoặc bạn tình (bạn tình ở đây bao gồm những cặp chưa kết hôn, ly thân, ly dị nhưng vẫn sống chung hoặc không, các cặp tình dục đồng giới)
Ở nước ta, khái niệm “Bạo lực gia đình” được hiểu là tất cả các loại BL
mà một hay nhiều thành viên trong gia đình gây ra cho một hay nhiều thành viên khác bất kể giới tính của nạn nhân Hay có thể hiểu BLGĐ là những hành vi BL xảy ra trong phạm vi gia đình, đó là sự xâm phạm và ngược đãi về thân thể hay tinh thần, tình cảm hay tình dục, kinh tế hay xã hội giữa các thành viên trong gia đình Nó còn là sự lạm dụng quyền lực hay hành vi sử
Trang 22dụng vũ lực nhằm hăm dọa hoặc đánh đập người thân trong gia đình để điều khiển hay kiểm soát người đó [57]
Tại điều 1 Khoản 2, Luật phòng chống BLGĐ có ghi: “Bạo lực gia
đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”
Bạo lực trong gia đình là hiện tượng một hay nhiều thành viên dùng quyền lực và bạo lực trong cả một quá trình để thực hiện hành vi làm cho thành viên khác trong gia đình đau đớn về thể xác, bị khủng hoảng về tinh thần và bị bế tắc về mặt xã hội nhằm khuất phục, khống chế và kiểm soát người đó Mặt khác, bạo lực gia đình là hành vi cố ý Mục đích của nó là để thiết lập và duy trì quyềnlực và sự kiểm soát đối với người khác Bạo lực được dùng để đe dọa, hạ nhục hoặc khiến nạn nhân sợ hãi
1.1.3.2 Hành vi bạo lực trong gia đình
Hành vi bạo lực trong gia đình được luật phòng chống BLGĐ ghi rõ tại
khoản 1, Điều 2 bao gồm:
a/ Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;
b/ Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; c/ Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d/ Ngăn cản việc việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị,
Trang 23h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
1.1.3.3 Phân loại BLGĐ
Phân loại bạo lực gia đình có thể phân theo mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như:
+ Bạo lực giữa vợ và chồng
+ Bạo lực giữa cha mẹ và con cái
+ Bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình (tùy thuộc vào loại hình và quy mô gia đình)
Phân loại theo hình thức bạo lực: Việc phân loại BLGĐ cũng là khác nhau trong các nghiên cứu Trong luận văn này, tác giả chia ra 4 loại bạo lực:
+ Bạo lực về thân thể: Là hành vi cố ý gây ra thương tích trên cơ thể nạn nhân Bao gồm các hành động như đánh đập, đối xử tàn tệ, tra tấn hoặc những hành vi có mục đích khác gây ra thương tật cho sức khỏe và cuộc sống của người khác Có thể bao gồm việc sử dụng hung khí như que, gậy, dao hoặc kéo … gây tổn thương về thể xác
+ Bạo lực về tâm lý: bao gồm các hành vi nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý/tinh thần của phụ nữ, bao gồm việc sử dụng những lời lẽ lăng mạ, chửi rủa, đe dọa hoặc hành vi vi phạm khác, kiểm soát và ngăn cấm người phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội hoặc các hoạt động kinh doanh, lao động khác, dằn vặt, chiến tranh lạnh, phớt lờ, ngoại tình…
+ Bạo lực liên quan đến tình dục: Là hành vi quấy rối tình dục, hoặc cưỡng ép quan hệ tình dục ngoài ý muốn của nạn nhân Bao gồm các hành vi như hãm hiếp, cưỡng ép quan hệ tình dụng; sử dụng những lời lẽ hoặc hành động cưỡng ép nạn nhân thực hiện những hành vi tình dục khiến nạn nhân cảm thấy bị làm nhục; đe dọa để quan hệ tình dục, lạm dụng tình dục, ép quan
Trang 24hệ tình dục, bắt xem những hình ảnh khiêu dâm mà không được phép, bắt sinh thêm con trai…
+ Bạo lực về kinh tế: Là hành vi cố ý sử dụng phương tiện kinh tế để kiểm soát vợ hoặc chiếm đoạt thu nhập hợp pháp của vợ hoặc ngăn cấm vợ tiếp cận, sử dụng các nguồn thu nhập của gia đình hoặc bắt ép vợ làm việc quá sức Bao gồm các hành vi như ép buộc thành viên khác trong gia đình lao động quá sức hoặc đóng góp vượt quá khả năng thu nhập của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên khác trong gia đình để bắt họ phụ thuộc về tài chính ngăn không cho làm việc, kiểm soát chặt chẽ, không cho người khác tiếp cận những nguồn thu nhập của gia đình…
Khái niệm BLGĐ được sử dụng nhằm mục đích là công cụ đo lường việc truyền tải các thông tin trên diện khảo sát ở khía cạnh: nhà báo có đưa tin đầy đủ, chính xác về BLGĐ hay không? (bao gồm sự thể hiện khái niệm BLGĐ, loại hình BLGĐ, nguyên nhân dẫn tới BLGĐ) Qua đó có thể thấy được hàm ý, nội dung thông tin mà nhà truyền thông muốn gửi tới công chúng, nó cũng cho thấy được một phần của quá trình xã hội hóa có củng cố hoặc loại bỏ nhận thức của công chúng về BLGĐ Trong quá trình phân tích tác giả luận văn đôi khi sử dụng thuật ngữ cưỡng bức, bạo lực, hành hạ thay thế cho nhau với cùng một ý nghĩa là bạo lực
1.2 Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề bạo lực gia đình và truyền thông liên quan tới bạo lực gia đình
1.2.1 Quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề bạo lực gia đình
Cho đến nay đã có rất nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam cũng như của các cơ quan truyền thông về các vấn đề liên quan đến bạo lực giới và BLGĐ Nói cách khác, pháp luật Việt Nam đã xây dựng một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, thân thể, danh dự, uy tín, nhân phẩm của công dân, chống mọi hành vi BLGĐ
Trang 25Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định rõ các mối quan hệ trong gia đình như mối quan hệ giữa vợ - chồng, cha, mẹ - con cái, quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị em và giữa các thành viên trong gia đình Luật có 13 chương và 110 điều, trong đó có tới 8 chương và hơn 20 điều đề cập tới những vấn đề liên quan đến BLGĐ
Bộ luật Hình sự, năm 2003 có nhiều điều luật được đề cập đến những tội phạm liên quan tới vấn đề BL thể chất, BL tinh thần và BL tình dục
Những điều luật này chính là công cụ ngăn chặn hành vi BL mặc dù trong các bộ luật trên không ghi rõ phạm vi phạm tội là trong gia đình hay ngoài xã hội nhưng có thể nói luật pháp Việt Nam đã có những chế tài nhằm bảo vệ các công dân cả về mặt thể chất và tình thần
Qua đây cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được những hậu quả nghiêm trọng do BLGĐ gây ra và đặc biệt qua tâm trong việc đấu tranh PCBLGĐ Cụ thể, trong vòng 3 năm từ 2006 đến 2008, 2 bộ luật vô cùng quan trọng được ra đời (Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình) nhằm củng cố thêm những văn bản pháp lý quan trọng trước đó cũng như thể hiện sự cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc đặt được bình đẳng giới và PCBLGĐ
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 đã quy định sự bình đẳng giới trong 8 lĩnh vực cơ bản trong đời sống xã hội (chính trị; kinh tế; lao động; hôn nhân gia đình; sức khỏe sinh sản; văn hóa khoa học công nghệ; giáo dục đào tạo và y tế)
Luật phòng chống bạo lực gia đình được thông qua vào ngày 21/11/2007 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2008, bao gồm 6 chương, 46 điều Luật quy định cụ thể về Các hành vi BLGĐ; Nguyên tắc PCBLGĐ; Nghĩa vụ của người có hành vi BLGĐ; Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân BLGĐ; Chính sách của Nhà nước về PCBLGĐ; Hợp tác quốc tế về PCBLGĐ; Các biện pháp phòng ngừa BLGĐ trong đo nhấn mạnh tới thông tin, tuyên truyền; Các biện pháp hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; Các hoạt động tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng
Trang 26dân cư; Các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân BLGĐ; Trách nhiệm của cá nhân Gia đình, cơ quan, tổ chức và xử lý vi phạm pháp luật về PCBLGĐ
Luật phòng chống BLGĐ ra đời là một sự kiện quan trọng của đất nước trong việc hướng tới luật hóa vấn đề PCBLGĐ - vốn là vấn đề được cho là chuyện
“nhỏ”, chuyện “riêng” Để củng cố và khẳng định hơn nữa sự quyết tâm của Đảng
và Nhà nước trong chiến dịch tuyên truyền nhằm xóa bỏ BLGĐ
Qua một số Bộ luật, chính sách đã đưa ra có thể khẳng định Quốc hội, Chính phủ Việt Nam, các tổ chức dân sự, các nhà tài trợ và Liên Hợp Quốc đang cùng nhau hành động nhằm ngăn chặn và kiểm soát bạo lực, thúc đẩy bình đẳng giới Tuy nhiên, hiện nay còn một khoảng cách khá xa giữa luật trên văn bản với thực tế Chế tài dành xử phạt những hành vi BLGĐ dường như chưa đủ để ngăn chặn, đẩy lùi BL Chẳng hạn, việc áp dụng chế tài dân sự buộc người chồng có hành vi BL đối với vợ phải bồi thường những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín cho người vợ là điều khó thực hiện
1.2.2 Quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề truyền thông liên quan đến bạo lực gia đình
Trong Luật Báo chí năm 1989, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật báo chí năm 1999, và Nghị định của Chính phủ 51/2002/ NĐ-CP quy định chi tiết việc thi hành Luật báo chí khẳng định: Báo chí nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức
xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn của nhân dân
Trong các văn bản pháp luật gồm: Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007, Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 của Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật bình đẳng giới, Luật Phòng chống BLGĐ số 2/2007/QH12, được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 đã đề cập đến vai trò, chức năng, trách nhiệm của báo chí đối với việc tăng cường nhận thức của cộng đồng về BLGĐ cụ thể như sau:
Trang 27Để gắn kết vai trò, trách nhiệm của báo chí với sự nghiệp thúc đẩy bình đẳng giới, chúng ta có thể viện dẫn đến các nhiệm vụ chung của báo chí như tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác … Đồng thời, cũng có thể viện dẫn thêm các quy định đã đề cập đến ở trên của Luật Bình đẳng giới và Luật PCBLGĐ
Tuy nhiên thực tế chưa có những quy định rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm của báo chí đối với công tác tăng cường bình đẳng giới, tuyên truyền
về BLGĐ nên hiện tại các cơ quan báo chí vẫn chưa xây dựng được các đề án,
kế hoạch hành động cụ thể về tuyên truyền, phổ biến vận động cộng đồng thực hiện Luật bình đẳng giới, Luật PCBLGĐ
Có thể nói, việc tuyên truyền cũng như thực hiện các chủ trương đó của Nhà nước đến nay đã đạt được những thành tựu nhất định Theo đó, các phương tiện truyền thông đăng tải các văn bản, nghị quyết … có tính chất pháp quy của Đảng, Nhà nước về BLGĐ Kênh truyền thông nhằm xã hội hóa thông tin, giúp các cá nhân, nhóm xã hội có thể thay đổi được nhận thức, thái
độ, hành vi của các nhóm xã hội trong tiến trình giảm thiểu khoảng cách bất bình đẳng giới và tiến tới đẩy lùi BLGĐ
1.3 Vai trò và phương thức tác động của báo chí về truyền thông phòng chống bạo lực gia đình
1.3.1 Vai trò của báo chí trong truyền thông phòng chống bạo lực gia đình
Báo chí ra đời là nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin giao tiếp của công chúng và sự phát triển của báo chí cũng dựa trên sự gia tăng nhu cầu thông tin
- giao tiếp trong xã hội
Phân chia một cách tương đối dựa vào tính chất của các chuyên mục có thể thấy một cách nhìn nhận khá mới mẻ về BLGĐ Đây không còn là vấn đề
Trang 28của riêng mỗi gia đình mà nó đã được nhìn nhận dưới góc độ là vấn đề xã hội Ngoài chức năng giải trí, báo chí còn có chức năng thông tin Với chức năng này, TTĐC được xem là một bộ phận của xã hội tổng thể, thông qua các kênh thông tin các giá trị xã hội, các quy tắc, luật lệ thành văn, bất thành văn của xã hội được phổ biến và nhắc đi nhắc lại cho mọi người cùng biết, trên cơ sở đó thuyết phục họ đồng tình và vận động cùng nhau tuân thủ đúng quy tắc
Từ nhiệm vụ đó, báo chí đã góp phần quan trọng đáp ứng quyền được thông tin của công chúng Trong nhiệm vụ truyền thông về vấn đề BLGĐ, báo chí phát huy vai trò trong việc tuyên truyền và phổ biến các văn bản pháp luật
có liên quan tới vấn đề, nhằm thay đổi nhận thức, và hành vi của công chúng, xóa bỏ khoảng cách từ luật tới cuộc sống
Thực tế cho thấy, ở rất nhiều nơi, luật phòng chống BLGĐ chưa được triển khai tới, hoặc có được phổ biến thì vẫn đang nằm ở một góc nào đó Dường như luật phòng chống BLGĐ ra đời chỉ là một phương tiện “làm đẹp”, vẫn chưa được áp dụng triệt để Tình trạng BLGĐ vẫn diễn ra nhan nhản và Luật dường như chưa đủ mạnh để thực thi
Do vậy, báo chí có vai trò quan trọng để thông tin, phản ảnh về vấn đề BLGĐ và về việc thực thi luật BLGĐ cho công chúng Báo chí là một phương tiện chủ lực trong việc đưa thông tin đến người dân và ngược lại đưa ý kiến, quan điểm, đánh giá và kiến nghị của người dân đến các cơ quan quản lý
Báo chí thông tin kịp thời về những vụ việc BLGĐ, qua đó có thể thấy cách thức thông tin của báo chí có tác động ra sao tới công chúng Báo chí cần góp phần đưa ra những vụ việc về BLGĐ, giúp các cơ quan chức năng có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với những hành vi BLGĐ
Mục “Gia đình” của trang thông tin điện tử http:/giadinh.net.vn và chương trình “Thức đêm cùng bạn” là hai kênh truyền thông chuyên sâu về vấn đề gia đình, trong đó nội dung về BLGĐ chiếm tỷ lệ rất lớn
Trong vấn đề phòng chống bạo lực gia đình các cơ quan thông tin, truyền thông đã cung cấp thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã
Trang 29hội, kêu gọi sự cảm thông, hỗ trợ của cộng đồng, giảm kỳ thị, phân biệt đối
xử với những nạn nhân, và đóng vai trò quan trọng trong quá trình hỗ trợ họ tái hòa nhập cộng đồng bền vững Báo chí cũng đã có tiếng nói để các cơ quan chức năng bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ trẻ em Đồng thời qua kênh báo chí, các tổ chức xã hội cũng có thêm thông tin các nạn nhân bị mua bán, bị bạo lực để tiếp cận và hỗ trợ họ
Không thể phủ nhận vai trò to lớn của báo chí hiện nay trong quá trình phản ánh đời sống, với nhiều đóng góp đem lại cho công chúng những thông tin nhanh, kịp thời về các biểu hiện tiêu cực của gia đình, đặc biệt là hành vi BLGĐ Nhiều bài báo với những ngôn từ đanh thép, những hình ảnh minh họa phù hợp … đã làm xúc động nhiều bạn đọc những tác phẩm đó không những chỉ phản ánh một hiện tượng, một vụ việc… mà còn hàm chứa sự lên
án, kêu gọi hay khơi dậy tình cảm, suy nghĩ của bạn đọc
Dạng bài viết về BLGĐ trên trang http://giadinh.net.vn chủ yếu là bài phản ánh về một sự kiện hay một câu chuyện nào đó về BLGĐ hiện nay Hình thức này đã đáp ứng được nhu cầu thông tin nhanh và phù hợp với phong cách đưa thông tin của báo mạng Tuy nhiên thì nhiều bài viết còn đơn điệu, chưa đổi mới trong cách thể hiện nên dễ gây nhàm chán cho người đọc Khắc phục tình trạng này, chương trình “Thức đêm cùng bạn” có những chuyên đề phân tích sâu hơn, có những câu chuyện tình huống cụ thể, có sự phân tích về tâm lý, xã hội của những chuyên gia
1.3.2 Phương thức tác động của báo phát thanh hiện đại và báo mạng điện tử trong truyền thông phòng chống bạo lực gia đình
1.3.2.1 Phương thức tác động của báo phát thanh hiện đại
Phát thanh là một loại hình báo chí sử dụng sóng điện tử và hệ thống truyền thanh truyền tới đối tượng các tín hiệu âm thanh trực tiếp, tác động vào thính giác người nghe Phương tiện tác động duy nhất của phát thanh là âm thanh
Thế giới âm thanh mà phát thanh đem lại có thể tạo dựng bức tranh cuộc sống sinh động đã và đang diễn ra trước mắt con người Nó khơi gợi trí
Trang 30tưởng tượng vô biên của con người Từ ngữ, với sự hỗ trợ của âm thanh có thể gợi lên vô số các hình ảnh vật chất, có thể vượt qua những không gian rộng lớn trong nháy mắt Bằng trí tưởng tượng những quang cảnh và hình ảnh
có thể được xây dựng ngay tức thì, những tính cách nhân vật có thể được hình dung rõ ràng qua phát thanh
So với báo in, phát thanh có thế mạnh của sự nhanh nhạy, linh hoạt
và phương thức thông tin sinh động bằng lời nói, còn so với truyền hình, phát thanh vẫn là loại hình báo chí chiếm ưu thế trong việc đưa tin nhanh nhất, kịp thời nhất, giúp thính giả tiếp cận sớm nhất với những sự việc, sự kiện xảy ra hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống chung quanh Với khả năng truyền đạt ngay tức khắc những sự việc, sự kiện đang xảy ra Có thể nói so với báo in, phát thanh có thế mạnh của sự nhanh nhạy linh hoạt và phương thức thông tin sinh động bằng lời nói Còn so với truyền hình, phát thanh vẫn là loại hình chiếm ưu thế trong việc đưa tin nhanh nhất, kịp thời nhất giúp các thính giả tiếp cận với những sự việc sự kiện xảy ra hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống
Lựa chọn kênh phát thanh để tuyên truyền những nội dung liên quan đến vấn đề gia đình, đặc biệt là vấn đề bạo lực gia đình là nhằm mang đến cho công chúng mọi miền có thể tiếp cận được những thông tin mới nhất, những kiến thức và kỹ năng cần thiết trong công cuộc phòng chống bạo lực gia đình Công chúng của phát thanh hiện đại không chỉ tiếp nhận thông tin một chiều
mà có thể trực tiếp tham gia vào các chương trình đang phát sóng (phát thanh tương tác)
Ví dụ, chương trình Thức đêm cùng bạn có phương thức sản xuất trực tiếp Theo đặc điểm của một chương trình tư vấn trực tiếp, sự tham gia của thính giả đóng vai trò quyết định tới nội dung chương trình, vì vậy, chương trình này không có kịch bản cố định Nhóm sản xuất chương trình cần có sự
chuẩn bị, phối hợp chặt chẽ về mặt nội dung, bởi “Chương trình hình thành
đến đâu, được phát sóng ngay đến đấy”[10, tr.216]
Trang 31Chương trình là nơi giao lưu, chia sẻ thông tin của chuyên gia về các vấn đề tình yêu hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản, vấn đề bạo lực gia đình, đồng tính, buôn bán người…
Chương trình mở với sự tham gia của thính giả
Những chủ đề của chương trình Thức đêm cùng bạn rất thú vị, thiết thực, gần gũi … do vậy đòi hỏi ngôn ngữ, lối nói dễ gần dễ hiểu, thân mật hơn Điều này thể hiện qua ngôn ngữ mang tính đối thoại thân mật, với cách nói đơn giản, ngắn gọn, gần với cách giao tiếp hàng ngày Khi tiếp nhận thông tin qua phát thanh, thính giả có cảm giác tin cậy, thân mật gần gũi như đang lắng nghe một người bạn Đó chính là cánh cửa mở để thính giả có thể chia sẻ những câu hỏi, tình huống mà mình quan tâm Trong cuốn “Những vấn đề của báo chí
hiện đại” của hai tác giả Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng có dẫn “Cuộc điều tra
xã hội học tại một số tỉnh đã thực hiện phát thanh trực tiếp cho thấy, 87% số người được hỏi ý kiến rất thích nghe các chương trình phát thanh trực tiếp vì tính thời sự và gần gũi giữa thính giả và người làm chương trình” [10, tr.226]
Thông tin nóng hổi, gần gũi thiết thực tác động mạnh tới cảm xúc công chúng
Thông tin nhanh là một yêu cầu cần thiết đối với một đài phát thanh Phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp hầu như loại bỏ tình trạng đọc để in thu băng của phát thanh truyền thống nên đã rút ngắn được khoảng cách từ nguồn tin đến đối tượng tiếp nhận, giúp cho công chúng tiếp cận sự kiện một cách kịp thời nhất, trực diện nhất
So với các loại hình báo chí khác, sự vượt trội của phát thanh trước hết
là khả năng cung cấp cho thính giả những thông tin mới nhất, nóng hổi nhất, những thông tin vừa mới xảy ra hoặc sẽ xảy ra mà chưa ai biết Về ưu thế này
có lẽ chỉ có báo mạng điện tử mới có thể cạnh tranh được với phát thanh Tuy nhiên, xét ở phương diện phủ sóng rộng thì phát thanh vẫn ở vị trí số một
Trong cuộc cạnh tranh thông tin giữa những loại hình báo chí hiện nay,
ai nắm vững thông tin mới nhất, truyền tải thông tin nhanh nhất thì người đó
sẽ chiến thắng Phát thanh phải thực hiện được nhiệm vụ đưa tin tốt nhất ngay
Trang 32trong ngày diễn ra sự kiện Không đạt được tiêu chí này, phát thanh không còn ưu thế để cạnh tranh với những loại hình báo chí khác Muốn vậy, phát thanh phải có phương tiện kỹ thuật hiện đại
Phong cách sản xuất chương trình theo nhóm
Sản xuất chương trình theo công nghệ phát thanh trực tiếp đòi hỏi phong cách làm việc theo nhóm Điều này có tác dụng tích cực tới chất lượng các chương trình phát thanh mà còn có tác dụng tới việc hình thành phẩm chất, tính cách của những người tham gia thực hiện công việc này Những thành viên trong một nhóm cùng làm việc, cùng có một trách nhiệm với sản phẩm cuối cùng là chương trình phát thanh
Công việc chùng này chỉ kết thúc khi chương trình đã hoàn thành Chương trình phát thanh trực tiếp đòi hỏi các thành viên trong nhóm phải làm việc gắn kết với nhau Ngoài yếu tố trách nhiệm, còn là những vấn đề tâm lý, tình cảm giữa các thành viên Sự phối hợp trong công việc phải chặt chẽ, linh hoạt, nhịp nhàng Phải có sự hiểu biết, cảm thông với nhau mới tạo thành sức mạnh tập thể, mới đạt hiệu quả cao trong công việc Do vậy, việc xây dựng một nhóm chuyên sản xuất các chương trình phát thanh trực tiếp là rất cần thiết
Ưu tiên sử dụng đối thoại và văn nói, khẩu ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện thông tin chủ yếu nhất trên sóng phát thanh Hay có thể nói rằng, phương tiện mà các phóng viên, biên tập viên, người dẫn chương trình…cần có trước hết là giọng nói và cách nói Sử dụng ngôn ngữ nói bằng những từ ngữ giản dị, gần gũi, thủ thỉ với một cách nói thân tình chắc chắn sẽ duy trì được cảm hứng của thính giả
Giọng nói ấn tượng sẽ làm cho người nghe bị cuốn hút vào nội dung thông điệp Do vậy giọng phát thanh cũng cần phải có phong cách, cá tính Từ
đó toát lên sự tin tưởng, thân mật và thu hút đối tượng
Thông tin phát thanh cần phải dựng lên một bức tranh sinh động về sự kiện đang xảy ra Phải vận dụng mọi từ ngữ, cấu trúc, ngữ pháp, biện pháp tu
từ, để tạo nên một bức tranh sống động, hấp dẫn đối với người nghe
Trang 33Sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại
Phát thanh trực tiếp là phương thức sản xuất chương trình hiện đại, nhưng để làm chủ được những kỹ năng của phương thức này, còn phải có sự
hỗ trợ quan trọng của những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các lợi hình truyền thông đại chúng như hiện nay, việc đáp ứng nhu cầu thông tin của thính giả trên nền tảng một công nghệ phát thanh hiện đại đã trở thành một trong những yếu tố sống còn đối với loại hình phát thanh
Các thiết bị kỹ thuật hiện đại góp phần quyết định tới thành công của một chương trình phát thanh hiện đại Tuy nhiên, máy móc dù có hiện đại đến đâu nếu không biết khai thác, sử dụng thì chương trình sẽ vẫn còn gặp nhiều hạn chế Do vậy, cần phải bồi dưỡng, nâng cao nghiệp cụ chuyên môn cho những người tham gia sản xuất chương trình Khi làm chủ những phương tiện hiện đại thì mới có thể mang đến cho thính giả chương trình chất lượng
Nếu xét ở phương diện phủ sóng rộng thì phát thanh luôn vững vàng ở
vị trí số một so với tất cả các loại hình báo chí khác như báo in, báo hình, báo mạng điện tử Chính vì đặc điểm đơn giản về kỹ thuật, rẻ tiền về phương tiện
mà ở Việt Nam, từ miền núi đến hải đảo xa xôi hay nông thôn đều có sự hiện hữu của chiếc radio
1.3.2.2 Ưu thế của báo mạng điện tử trong truyền thông phòng chống bạo lực gia đình
Để đi sâu phân tích những tiện ích của báo mạng điện tử trong truyền thông phòng chống bạo lực gia đình, Khái niệm báo mạng điện tử trong luận văn này được hiểu như sau
- Báo mạng điện tử
Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này như: báo điện tử (electronic journal), báo trực tuyến (online newspaper), báo mạng (cyber newspaper), báo internet (internet newspaper) và báo mạng điện tử (online journalism)
Trang 34Báo mạng là cách gọi tắt của báo mạng internet Đây là cách gọi không mang tính khoa học vì nó không rõ nghĩa, không đầy đủ, dễ làm hiểu sai bản chất của thuật ngữ Bởi Internet là mạng thông tin toàn cầu, dưới nó còn rất nhiều loại mạng như mạng nội bộ của các tổ chức, các công ty, các chính phủ… và nếu gọi tắt như trên sẽ không xác định rõ ràng ranh giới giữa khái niệm “mạng” và “mạng internet”
Báo mạng điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta Theo tác giả
Nguyễn Thị Trường Giang, trong cuốn “Báo mạng điện tử - những vấn đề cơ
bản”, đã đưa ra khái niệm: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên Internet” [21]
Tại điều 12 trong nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet có ghi:
Dịch vụ thông tin trên Internet là một loại hình dịch vụ ứng dụng Internet, bao gồm dịch vụ phát hành báo chí (báo in, báo hình, báo điện tử), phát hành xuất bản ấn phẩm trên Internet và dịch vụ cung cấp các loại hình điện tử khác nhau trên Internet
Trong điều 1, chương 1 Luật báo chí năm 1989 cũng có ghi thuật ngữ
“Báo điện tử” để chỉ loại hình báo chí thực hiện trên mạng trông tin máy tính
Việt nam nối mạng Internet toàn cầu vào ngày 19/11/1997, điều này tạo
ra sự thay đổi trong phương thức thông tin của xã hội Một tháng sau (31/12/1997), tạp chí Quê hương đã trở thành tờ báo điện tử đầu tiên của nước ta Liên tiếp sau đó, hàng loạt các báo điện tử khác đã ra đời như Nhân dân điện tử, Lao động điện tử, vietnamnet.vn, vnexpress.net … Từ chỗ, ban đầu những tờ báo điện tử gần như chỉ là phiên bản của những tờ báo in nay đã phát triển độc lập hơn, có đường nét hơn và càng tỏ rõ ưu thế vượt trội của mình
Trong luận văn này, khái niệm Báo điện tử được hiểu như trong điều 1, chương 1 của Luật báo chí Đó là những tờ báo điện tử chỉ phát hành trên mạng và những tờ báo điện tử có bản in tương ứng
Trang 35- Ưu thế của báo mạng điện tử trong truyền thông phòng chống BLGĐ
Báo mạng điện tử hội tụ những tiện ích mà có thể cạnh tranh với các loại hình báo chí khác
Xét về nội dung truyền tải, báo mạng điện tử có những lợi thế mà báo
in, thậm chí cả phát thanh-truyền hình cũng phải kính nể, đó là thông tin thời
sự cập nhật nhanh, phong phú Với giao diện rộng, tốc độ đường truyền nhanh, số người truy cập nhiều, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin của công chúng Nhờ vào những công nghệ hiện đại, những tiện ích, độc giả không cần phải chờ đến giờ ra báo, điểm phát hành, thời gian phát sóng v.v., mà vẫn có thể sở hữu được những thông tin cần thiết một cách nhanh nhất, cập nhật nhất
Về công nghệ, báo điện tử có thể đồng thời tích hợp nhiều hình thức đa phương tiện Có thể nói, báo chí điện tử là sự kết hợp đầy đủ nhất giữa hai thể loại truyền thông hàng đầu hiện nay là báo viết và truyền hình Các chương trình trực tuyến và hội thảo, hội nghị từ xa còn có cả báo nói Nghĩa là, cùng một lúc bạn đọc có thể nhận thấy ở đây sự dung hợp các phương tiện biểu hiện khác nhau như: chữ viết, âm thanh và hình ảnh (cả hình ảnh tĩnh lẫn hình ảnh động)
Tính tương tác của báo điện tử rất cao Một tin tức gửi đi có thể nhanh chóng nhận ngay phản hồi của rất nhiều độc giả, nhận xét về nội dung thông tin, chia sẻ tình cảm với người trong cuộc hoặc thậm chí phản ứng ngay với tờ báo về cách đưa tin Đây là một đặc điểm mà các loại hình báo chí khác khó
có thể cạnh tranh
Báo điện tử cũng cho phép một tính năng đặc biệt đó là tìm kiếm Điều này chiếm ưu thế hơn hẳn so với loại hình báo phát thanh và truyền hình thì, và với báo
in cũng vô cùng khó khăn nếu muốn tìm lại một thông tin từ các số trước
Ngoài ra còn một số ưu thế nữa như tính tương tác giữa bản thân tờ báo
và bạn đọc khả năng kết nối diện rộng Những ưu thế trên đã tạo nên thế mạnh, sự ưu trội của báo mạng điện tử
Trang 36Song, cho dù có phát triển hiện đại đến đâu thì báo chí điện tử cũng có những giới hạn nhất định Thứ nhất đó là đối tượng sử dụng - bạn đọc, công chúng Tức là chỉ có thể phục vụ cho nhóm công chúng phải có hiểu biết về mạng internet Thứ hai là công chúng cần phải có kiến thức để lựa chọn thông tin Vì vậy, báo mạng điện tử sẽ là kênh truyền thông khó khăn hơn đối với nhóm công chúng vùng sâu, vùng xa, những nơi không có điều kiện sử dụng internet
Với những vai trò của báo chí và phương thức tác động của báo mạng điện tử và báo phát thanh được nêu ở trên, tác giả tập trung nghiên cứu về vấn
đề phòng chống BLGĐ trên hai loại hình này Từ đó có những phân tích cụ thể trong phần khảo sát ở chương 2
1.4 Vài nét về sản phẩm báo chí thuộc diện khảo sát
- Trang thông tin điện tử http://giadinh.net.vn của Báo Gia đình và xã
hội, Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ y tế Báo có 17 chuyên mục: Xã hội, Gia đình, Kinh tế, Văn hóa, Thể thao, Pháp luật, Thế giới, Đời sống vợ chồng, Sức khỏe, Chất lượng sống, Làm cha mẹ, Mua sắm, Giải trí, Làm đẹp, Du lịch, Y tế, Dân số Mặc dù lượng tin bài trung bình trong ngày không nhiều những bài viết trên báo này khá tập trung vào những vấn đề liên quan trực tiếp tới gia đình
Trong thời gian lấy mẫu 18 tháng, mục “Gia đình” có 3624 bài (mục Gia đình của http://giadinh.net.vn trong năm 2011 mỗi ngày đăng tải 5 tin, bài, năm 2012 tăng lên 10 tin, bài) Có 1758 tin, bài liên quan, đề cập tới bạo lực gia đình Đến nay, chuyên mục “Gia đình” đổi tên thành “Tổ ấm”
- Chuyên mục “Thức đêm cùng bạn” trên kênh VOV giao thông là
chương trình trò chuyện, tư vấn tâm lý trực tiếp trên kênh VOV Giao Thông 91Mhz từ 9h45 đến 11h30 tối thứ 6 hàng tuần, phát lại vào cùng giờ tối thứ 7
kế tiếp, do VOV Giao thông và công ty tư vấn Linh Tâm phối hợp thực hiện
từ tháng 8/2009 Chương trình là một diễn đàn đáng tin cậy dành cho các thính giả quan tâm đến các chủ đề tâm lý tình cảm, đời sống tinh thần, gia đình và các vấn đề xã hội, có tính tương tác cao, có thể trao đổi bàn luận trực tiếp với các chuyên gia qua sóng phát thanh
Trang 37Từng bước trở thành một địa chỉ chia sẻ tình cảm đáng tin cậy của các thính giả nghe đài trên toàn quốc Kết hợp với các dịch vụ khác, công ty Linh Tâm phấn đấu cho mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, tình cảm của đông đảo thính giả trên cả nước
Trong thời gian khảo sát chương trình, có 72 chủ đề (trung bình mỗi tuần một chủ đề với thời lượng 90 phút), trong đó có 55 chủ đề liên quan đến vấn đề gia đình và BLGĐ
Mặc dù ra đời muộn so với một số chương trình phát thanh trực tiếp như “Cửa sổ tình yêu”, nhưng “Thức đêm cùng bạn” đã thu hút một lượng độc giả đông đảo khắp cả nước Đây là một diễn đàn, một địa chỉ giao lưu, chia sẻ và tư vấn với nội dung phong phú liến quan đến vấn đề của cuộc sống gia đình Đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, có kiến thức chuyên môn đã đáp ứng nhu cầu thông tin của thính giả
“Thức đêm cùng bạn" nằm trong chuỗi các dự án chăm sóc khách hàng của Công ty tư vấn tâm lý Linh Tâm
Sau 16 năm thành lập với hơn 20.000.000 khách hàng, Công ty tư vấn Linh Tâm tự hào sở hữu một trong những trung tâm tư vấn tâm lý qua điện thoại chuyên nghiệp và lớn nhất Việt Nam
Trang 38Tiểu kết chương 1
Bằng phương pháp nghiên cứu, tổng hợp các nguồn tài liệu, trong chương 1 của luận văn, tác giả tập trung làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình, phân loại BLGĐ, … làm khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài
Tác giả đã phân tích vai trò của báo chí và phương thức tác động của báo chí trong truyền thông phòng chống bạo lực gia đình, từ đó có sự so sánh,
và làm nổi bật lý do tác giả lựa chọn khảo sát trên loại hình báo mạng điện tử
và báo phát thanh
Đã khái làm rõ được nội dung, mục đích, đối tượng của đề tài nghiên cứu, mô tả rõ nét phương pháp nghiên cứu từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng truyền thông phòng chống BLGĐ trên diện khảo sát trong thời gian từ tháng 01/2011 đến hết 06/2012 Tác giả hướng đến việc xác định những đặc thù trong truyền thông PCBLGĐ trên báo chí
Việc áp dụng lý thuyết chức năng và lý thuyết thuyết phục trong nghiên cứu đã tạo nên một điểm nhấn của luận văn Hai lý thuyết được tóm tắt, rõ ràng, có sức thuyết phục và đó cũng là cơ sở lý thuyết cơ bản của đề tài
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN BÁO CHÍ
Ở phần mở đầu, tác giả đã phân tích thực trạng của vấn đề BLGĐ ở nước ta qua một số công trình nghiên cứu Trong chương 2 này, sẽ là những phân tích về nội dung, phương thức và một số chủ đề nổi bật trong truyền thông phòng chống BLGĐ trên diện khảo sát
2.1 Nội dung truyền thông phòng chống bạo lực gia đình trên diện khảo sát
2.1.1 Thông tin chung về mẫu nghiên cứu
2.1.1.1 Tần số đăng tải bài viết về bạo lực gia đình
Trong thời gian khảo sát 18 tháng, thời gian đăng tải được phân chia thành quý để khảo sát, mỗi quý là sự tổng hợp các bài báo, các chuyên mục trong 3 tháng
Bảng 2.1: Số lượng bài/ chủ đề bạo lực gia đình được đăng tải
Trang 40trong chuyên mục, trong đó có khoảng 1đến 3 tin bài có liên quan đến BLGĐ Năm 2012 số lượng bài của chuyên mục tăng lên 10 bài mỗi ngày cùng với đó
là số bài về BLGĐ tăng thêm khoảng 2 đến 3 tin, bài mỗi ngày Có những thời điểm là những ngày lễ, kỷ niệm ngày Gia đình Việt Nam, ngày Dân số thế giới, ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ … thì chủ đề về BLGĐ được phản ánh đa dạng hơn, nhiều tin bài hơn và điều này chứng tỏ các phương tiện TTĐC đã thực sự quan tâm tới vấn đề BLGĐ
Chương trình “Thức đêm cùng bạn” có nội dung chuyên sâu theo từng chủ đề Có 72 chuyên mục được phát sóng trong thời gian khảo sát, trong đó
có 47 chủ đề liên quan đến BLGĐ (mỗi chuyên mục phát một chủ đề), [xem bảng 2.1] Thời gian từ 21h đến 23h tối thứ 6 và phát lại cùng giờ tối thứ 7 hàng tuần Sự duy trì đều đặn mỗi tuần một chủ đề đã mang lại những hiệu quả tích cực trong việc cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng xử trí…trong những vấn đề liên quan tới chủ đề tình yêu, hôn nhân, gia đình, đặc biệt là vấn
đề BLGĐ Là một chương trình đặc thù, tập trung nhiều về mảng giới và BLGĐ Chương trình thu hút một lượng thính giả khổng lồ Những chuyên gia phân tích khá sâu về các chủ đề bạo lực gia đình, phân tích được bạo lực
ẩn chứa dưới nhiều hình thức, đưa bạo lực gia đình từ mô tả đến những câu chuyện thực tiễn, có phần giao lưu của thính giả Ở đây, chuyên gia và thính giả là những nhân vật chính góp phần cho thành công của chương trình
Kể từ ngày 21/11/2007, Luật phòng chống bạo lực gia đình được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2008, nhiệm vụ đặt ra đối với các cơ quan truyền thông là cùng với việc tuyền truyền phổ biến luật PCBLGĐ thì việc tăng cường những bài viết liên quan đến BLGĐ trên các phương tiện TTĐC Cũng từ đây, vấn đề BLGĐ được nhắc đến nhiều hơn, công chúng có điều kiện tiếp cận với các kênh thông tin về lĩnh vực này Và BLGĐ không còn là vấn đề riêng tư của gia đình, mà là vấn đề của xã hội
2.1.1.2 Mức độ tiếp cận các kênh thông tin
Theo mô hình truyền thông hai chiều, công chúng không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin, mà những đánh giá, nhận xét của họ đối với các nội