Ăngghen về tôn giáo - cơ sở lý luận khoa học nhận thức mới của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo • NGUYỄN ĐỨC LỮ Đôi điều suy nghĩ về quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo tr
Trang 1Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Trang 2Ths Nguyễn Thị Hải Yến
Ths Nguyễn Thị Kim Oanh
CN Nguyễn Thị Lay Dơn
Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
Tư tưởng cơ bản của Ph Ăngghen về tôn giáo -
cơ sở lý luận khoa học nhận thức mới của Đảng
về tôn giáo và công tác tôn giáo
• NGUYỄN ĐỨC LỮ
Đôi điều suy nghĩ về quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo trước sự phát triển của thời đại ngày nay
• ĐINH VĂN THÀNH
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo và
sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới
• NGUYỄN XUÂN TRUNG
Mẫu số chung của việc đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
• NGUYỄN XUÂN BÁCH
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo
và công tác vận động đồng bào tôn giáo ở khu vực biên giới hiện nay
• TRẦN ĐĂNG SINH
Phương hướng vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo trong điều kiện thực tiễn công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay
PHẦN II: QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
• NGÔ VĂN MINH
3 10
28
23 19
57
70
37 53
62
Trang 3tín ngưỡng trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
• TRẦN NAM CHUÂN
Tôn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
• HOÀNG MINH ĐÔ
Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong Văn kiện
đại hội XI của Đảng
• ĐỖ QUANG HƯNG
Vấn đề tôn giáo trong Hiến pháp 1992: luận
cứ cho một nhu cầu sửa đổi
• NGUYỄN THỊ HIỀN
Tìm hiểu quá trình đổi mới về chính sách tôn
giáo của Đảng qua một số văn kiện Đảng
• CAO VĂN THANH
Nghị định 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ
và vấn đề bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của công dân
• LÊ THỊ HÒA
Bước phát triển nhận thức về tín ngưỡng,
tôn giáo của Đảng trong thời kỳ đổi mới
• LƯU NGỌC KHẢI
Đảng và Nhà nước đổi mới chính sách tôn
giáo - phát huy truyền thống đại đoàn kết
dân tộc
• ĐẶNG VĂN BÀI
Vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động
bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Phật
giáo ở Việt Nam
• HOÀNG QUỐC BẢO
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo trong tình hình mới
• NGUYỄN THỊ DIỆU THÚY
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các
văn bản pháp luật quốc tế và sự tương thích
của pháp luật Việt Nam
ra với công tác tôn giáo vận
Xu hướng thế tục hóa tôn giáo và một số vấn
đề đặt ra đối với công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay
- Chủ nghĩa xã hội”
• LÊ VĂN LỢI
Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
• THÍCH THANH QUYẾT
Ngoại giao tôn giáo – bảo vệ biên cương: nét nổi bật của Phật giáo Việt Nam
• NGUYỄN VĂN THANH, PHẠM THỊ THU HƯƠNG
Một số định hướng vấn đề nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay
165 172
185 178
192 200
208
213 220
223 227
119 125
130
137 144
152
159
Trang 4Tôn giáo xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại và đóng vai trò quan trọng trongđời sống tinh thần của xã hội Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, conngười đã có những bước phát triển vượt bậc về nhận thức, khả năng chinh phục tự nhiênnhưng tôn giáo vẫn tiếp tục phát triển Nhiều tôn giáo, giáo phái mới xuất hiện, tín đồcác tôn giáo tăng lên, hoạt động, nghi lễ tôn giáo diễn ra với rất nhiều hình thức khácnhau Trong đời sống chính trị - xã hội của thế giới hiện đại, đang nảy sinh những vấn
đề phức tạp mới liên quan đến yếu tố tôn giáo như khủng bố quốc tế, xung đột sắc tộc,xung đột tôn giáo, v.v , gây ra những tác động, ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội
Có thể nói, chưa bao giờ bức tranh tôn giáo trên thế giới lại đa dạng, nhiều màu sắc,pha trộn ánh sáng và bóng tối như hiện nay Vẽ lại bức tranh tôn giáo từ mảng màu củanhững năm cũ - những năm cuối thiên niên kỷ thứ II, đầu thiên niên kỷ thứ III, có thểthấy một điều không thể phủ nhận là tôn giáo ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc tới đờisống chính trị, văn hóa, xã hội, tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiềuquốc gia, dân tộc
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, có những tôn giáo ngoại nhập và tôn giáo nội sinh.Hiện nay, số tín đồ các tôn giáo chiếm khoảng 1/4 dân số Đồng bào tôn giáo là bộ phậnquan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc Do vậy, Đảng ta chủ trương thực hiện nhấtquán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc khôngtheo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật; đoànkết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào khôngtheo tôn giáo; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; độngviên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tíchcực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong các thời kỳ cách mạng khác nhau, Đảng ta luôn xác định “Tôn giáo là vấn đềcòn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân Đạo đứctôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” Quan điểm đó đã
được Nhà nước thể chế hóa bằng Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đảm bảo về mặt
pháp luật quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi chođồng bào các tôn giáo thỏa mãn nhu cầu tâm linh của mình Tuy nhiên, tình hình tôngiáo và hoạt động tôn giáo ở nước ta có nhiều diễn biến phức tạp và tiềm ẩn những nhân
lời giới thiệu
Trang 5tố gây mất ổn định và trật tự an toàn xã hội.
Sở dĩ có tình hình trên là do công tác tôn giáo và quản lý xã hội đối với hoạt động tôngiáo còn nhiều bất cập Một số cấp ủy và chính quyền địa phương chưa nhận thức đúngđắn, chưa quán triệt đầy đủ quan điểm, chủ trương và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhànước Tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở chưađược xác định rõ mô hình, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế phối hợp, Đội ngũcán bộ làm công tác tôn giáo còn thiếu về số lượng, chất lượng còn hạn chế, chưa đượcđào tạo kịp thời và bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ nghiệp vụ nên còngặp nhiều khó khăn, lúng túng khi ứng xử với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn
ra trên địa bàn
Nhằm cung cấp cho bạn đọc những thông tin, tư liệu để nghiên cứu, tham khảo, nắmvững quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo,cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, Ban Giám đốcHọc viện Báo chí và Tuyên truyền đã chỉ đạo Trung tâm Thông tin - Tư liệu - Thư việntuyển chọn các bài viết đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành của các nhà
nghiên cứu, biên soạn và giới thiệu ấn phẩm Thông tin chuyên đề số 5/2013 với nhan
đề: “Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay”
Kết cấu Thông tin chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Phần II: Quan điểm và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Phần III: Tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù tập thể cán bộ trong ban biên tập tham gia sưu tầm, tuyển chọn đã hết sức cốgắng, song không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Ban Biên tập xin trân trọng
giới thiệu cuốn Thông tin chuyên đề số 5/2013 và mong nhận được ý kiến đóng góp
của bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn
BAN BIÊN TẬP
Trang 6Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tôn giáo là một hình thái ý
thức xã hội, thuộc thượng tầng
kiến trúc xã hội, có quan hệ mật thiết và
chịu sự chi phối của tồn tại xã hội
Đứng vững trên lập trường duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, khi xem xét về
nguồn gốc của tôn giáo, C.Mác không chỉ
gắn tôn giáo với những cơ sở trần tục của
nó mà còn khẳng định, cái “cơ sở trần tục
ấy” chính là nhà nước, là xã hội Đó là các
xã hội hiện thực với những kết cấu phức
tạp bởi nhiều yếu tố và nhiều mối quan hệ
có liên quan đến đời sống vật chất và tinh
thần của con người Trong đó, sản xuất vật
chất giữ vai trò quan trọng nhất, là cơ sởkhách quan quyết định đến mọi quan hệ,hiện tượng xã hội và tôn giáo
Theo Mác, căn nguyên sâu xa nhất của
sự tồn tại tôn giáo là do những bất hợp lýtrong các mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên, giữa con người với con người,khiến cho các lực lượng tự nhiên và xã hộitrở thành một lực lượng có tính “siêu tựnhiên” Ông đã dùng các mệnh đề: “Tôngiáo là thế giới lộn ngược”, “Tôn giáo là
sự tự ý thức và sự tự tri giác của con ngườichưa tìm thấy bản thân mình hoặc đã đánhmất bản thân mình một lần nữa” hay “Tôngiáo chỉ là cái mặt trời ảo tưởng xoay xung
Phần i chủ nghĩa Mác - lênin,
tư tưởng hồ chí Minh về tôn giáo
Trang 7quanh con người chừng nào con người
chưa bắt đầu xoay quanh bản thân
mình”(1), để diễn tả mối quan hệ đó của
tôn giáo với con người
Mác luôn xem xét cơ sở tồn tại và mất
đi của tôn giáo không tách khỏi cái xã hội
hiện thực đã sản sinh ra nó Theo Mác, tôn
giáo chỉ mất đi khi nào quan hệ giữa người
với người và quan hệ giữa con người với
tự nhiên được giải quyết một cách rõ ràng
và hợp lý Ông viết: “Sự phản ánh có tính
chất tôn giáo của thế giới thực tại chỉ có thể
mất đi khi nào mà những quan hệ trong đời
sống thực tiễn hàng ngày của con người
được biểu hiện bằng những mối liên hệ rõ
ràng và hợp lý giữa người ta với nhau và
với thiên nhiên”(2) Ông cho rằng, muốn
làm cho tôn giáo mất đi, thì phải xây dựng
được một xã hội bảo đảm cho con người tự
do thành lập xã hội, đặt dưới sự kiểm soát
tự giác và có kế hoạch của họ, đồng thời
phải có những cơ sở vật chất và những điều
kiện tồn tại vật chất nhất định của xã hội.
Nghĩa là con người phải được giải phóng,
tự do hoàn toàn, xây dựng được một xã hội
đặt dưới sự kiểm soát một cách tự giác, có
kế hoạch, sản xuất phát triển tới trình độ
cao và những điều kiện vật chất khác để
con người có thể làm chủ được tự nhiên, xã
hội và bản thân mình, thì khi đó tôn giáo
mới mất đi Điều đó không phải ngẫu nhiên
xuất hiện hoặc xuất hiện một cách dễ dàng
sau khi xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và chế độ
tư hữu, như Mác đã chỉ rõ, đó là “một quátrình phát triển lâu dài và đau khổ”(3) Phát triển quan điểm của Mác, Ăngghen
đã làm rõ nguồn gốc tự nhiên và xã hội củatôn giáo Ông cho rằng, tôn giáo ra đời từthời kỳ rất xa xưa của lịch sử nhân loại, do
sự hạn chế trong nhận thức của con người
về bản thân mình và về giới tự nhiên bênngoài, xung quanh mình Khi xã hội pháttriển đến một giai đoạn cao hơn, xuất hiện
sự áp bức bóc lột, thì “bên cạnh những lựclượng thiên nhiên, lại còn có cả những lựclượng xã hội tác động-những lực lượng nàyđối lập với con người, một cách cũng xa lạlúc đầu cũng không thể hiểu được đối với
họ, và cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu
bề ngoài giống như bản thân những lựclượng tự nhiên vậy Những nhân vật ảotưởng, lúc đầu chỉ phản ánh những sứcmạnh huyền bí của các lực lượng tự nhiên,thì nay lại vì thế, có cả những thuộc tính xãhội”(4) Luận giải về nguồn gốc của tôngiáo trong xã hội tư bản hiện đại, Ăngghenchỉ rõ: “con người bị thống trị bởi nhữngquan hệ kinh tế do chính họ tạo ra, bởinhững tư liệu sản xuất do chính họ làm ra,như là bị chi phối bởi một lực lượng xa lạ
Do đó, cơ sở thực tế của sự phản ánh cótính chất tôn giáo của hiện thực vẫn tiếp tụctồn tại và cùng với cơ sở đó thì chính ngay
sự phản ánh của nó trong tôn giáo vẫn tiếp
Trang 8tục tồn tại”(5) Theo ông, cho dù xã hội
hiện đại phát triển đạt đến trình độ cao, con
người có thể nhận biết về mối quan hệ nhân
quả giữa con người và tôn giáo, song tôn
giáo vẫn tiếp tục tồn tại, bởi những cơ sở
hiện thực của nó chưa mất đi
Từ đó, Ph.Ăngghen nêu lên ba điều kiện
làm cho tôn giáo mất đi: Một là, xóa bỏ chế
độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và
thực hiện chế độ chiếm hữu xã hội về tư
liệu sản xuất; Hai là, xã hội sử dụng tư liệu
sản xuất có kế hoạch; Ba là, con người có
thể tự quyết định được hành động của
mình Ông viết: “khi nào thông qua việc
nắm toàn bộ các tư liệu sản xuất và sử dụng
được những tư liệu ấy một cách có kế
hoạch - xã hội tự giải phóng mình và giải
phóng tất cả mọi thành viên trong xã hội
khỏi tình trạng bị nô dịch, trong đó hiện
nay họ đang bị giam cầm bởi những tư liệu
sản xuất do chính tay họ đã làm ra nhưng
lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ
không sao khắc phục nổi; do đó khi nào
con người không chỉ mưu sự, mà lại còn
làm cho thành sự nữa, - thì chỉ khi đó, cái
sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn
đang phản ánh vào tôn giáo mới sẽ mất đi,
và cùng với nó bản thân sự phản ánh có
tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó
sẽ không có gì để phản ánh nữa”(6)
Như vậy, Ăngghen đã nêu lên những
điều kiện mất đi của tôn giáo dựa vào sự
phân tích nguồn gốc và xu thế phát triểncủa tôn giáo trong xã hội tư sản đương thời.Nhưng theo ông, đó là một quá trình lâu dài
và rất phức tạp, dù có cải biến chế độchiếm hữu tư bản chủ nghĩa thành chế độchiếm hữu xã hội chủ nghĩa cũng không tựnhiên xuất hiện ngay việc sử dụng tư liệusản xuất một cách có kế hoạch Qua đó chothấy, theo quan điểm của Ăngghen, lựclượng chi phối con người do chế độ tư hữutạo ra không phải là lực lượng tha hóa duynhất trong xã hội, do đó cũng không phải
là nguồn gốc duy nhất của tôn giáo Sau khi
đã xóa bỏ được chủ nghĩa tư bản và cải tạochế độ tư hữu thành chế độ sở hữu xã hộichủ nghĩa, nếu xã hội vẫn chưa thể sử dụng
tư liệu sản xuất một cách có kế hoạch, chưaxóa bỏ được những lực lượng tha hóa chiphối cuộc sống sinh hoạt hàng ngày củacon người, làm cho con người trở thànhchủ nhân thực sự của cuộc đời mình, thì cơ
sở của sự phản ánh có tính chất tôn giáovẫn tồn tại Theo Ăngghen, cũng như cáchiện tượng xã hội khác, tôn giáo là mộthiện tượng xã hội mang tính lịch sử, luônvận động gắn liền với thực tiễn của lịch sử,quá trình ra đời, tồn tại và mất đi của nó làmột quá trình biện chứng khách quan
Từ những quan điểm nêu trên cho thấy,Mác và Ăngghen đã ý thức được tính phứctạp và lâu dài của vấn đề tôn giáo
Như vậy, Mác và Ăngghen đã luận giải
Trang 9rất khoa học, đúng đắn về cơ sở tồn tại và
mất đi của tôn giáo, dựa trên cơ sở quy luật
phát triển của xã hội đương thời Tuy
nhiên, do hạn chế của lịch sử, chủ nghĩa xã
hội chưa xuất hiện và những điều kiện mất
đi của tôn giáo chưa có, nên các ông mới
chỉ nêu lên một cách tổng quát cơ sở xã hội
cần thiết cho sự tiêu vong của tôn giáo Sau
này, Lênin đã bổ sung, phát triển và làm
sâu sắc thêm quan điểm của chủ nghĩa Mác
về nguồn gốc kinh tế - xã hội, nguồn gốc
nhận thức và tâm lý của tôn giáo trong xã
hội hiện đại
Thực tế sự phát triển của tôn giáo trong
xã hội hiện đại cho thấy, cơ sở tồn tại và
điều kiện tiêu vong của tôn giáo trở nên rất
phức tạp Vì con người ngày nay vẫn chưa
xử lý được một cách thỏa đáng và hợp lý
mối quan hệ đối lập giữa chủ quan và
khách quan, giữa lý tưởng và hiện thực,
giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, giữa hữu hạn
và vô hạn, giữa đau khổ và vui sướng, giữa
tình cảm và lý trí, giữa mục đích và kết
quả, Con người trong xã hội ngày nay
vẫn phải đối mặt với những nỗi bất hạnh cá
nhân, những cảm giác trống rỗng, thiếu hụt
và mất cân bằng về tâm lý trước dịch bệnh
hiểm nghèo, hiểm họa thiên tai, chiến
tranh, sự chênh lệch giàu nghèo, rủi ro, sự
Kế thừa quan điểm của các nhà triết học
đi trước, nhưng do đứng trên lập trườngduy vật biện chứng và duy vật lịch sử,Ăngghen đã nêu lên một cách khoa học sựbiến đổi của các hình thái tôn giáo tronglịch sử Ông đưa ra ba lược đồ về hình tháibiến đổi của tôn giáo trong lịch sử: 1) từ
“tôn giáo tự phát” đến “đa thần giáo”, rồi
“nhất thần giáo”; 2) từ “tôn giáo tự phát” đến “tôn giáo nhân tạo”; 3), từ “tôn giáo
bộ lạc” đến “tôn giáo dân tộc” và “tôn giáo thế giới” (7) Mỗi hình thái đều được Ăng-
ghen phân tích một cách khoa học, dựa trênnhững điều kiện lịch sử cụ thể để chỉ ranhững đặc trưng của nó Ở lược đồ thứnhất, khi xã hội phát triển ở trình độ thấp,
thì “đa thần” là đặc trưng của tôn giáo; khi
xã hội phát triển lên mức cao hơn thì tôn
giáo chuyển từ “đa thần” sang “nhất thần” Lược đồ thứ hai, từ tôn giáo tự phát là đặc
trưng của xã hội nguyên thuỷ, đến tôn giáonhân tạo là đặc trưng của xã hội có giaicấp, nhưng có sự khác nhau rất lớn về tính
Trang 10chất giữa tôn giáo trong xã hội không có
giai cấp và xã hội có giai cấp Lược đồ thứ
ba, từ “tôn giáo bộ lạc ” là đặc trưng của
xã hội thị tộc, bộ lạc, đến “tôn giáo dân
tộc” và “tôn giáo thế giới ” là đặc trưng của
xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời với mức
độ khác nhau
Mặc dù không trình bày những hình thái
biến đổi cụ thể của tôn giáo trong lịch sử,
nhưng Mác lại nêu lên những vấn đề mang
tính phương pháp luận để xem xét các hình
thái tôn giáo, với câu nói nổi tiếng: “Con
người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo
không sáng tạo ra con người Nhưng con
người không phải là một sinh vật trừu
tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con
người chính là thế giới con người, là nhà
nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản
sinh ra tôn giáo”(8) Như vậy, con người
sinh ra tôn giáo, theo Mác là con người
hiện thực của lịch sử, “là nhà nước, là xã
hội” chứ không phải là con người chung
chung, trừu tượng như L.Phơbách đã nói
Cái “Nhà nước ấy, xã hội ấy” chính là
những đặc điểm địa lý tự nhiên, truyền
thống lịch sử, cơ sở kinh tế, đặc trưng xã
hội, văn hoá, phong tục, tập quán, tâm lý,
lối sống của mỗi dân tộc, quốc gia, khu vực
sản sinh ra tôn giáo Đây là vấn đề có tính
phương pháp luận quan trọng để lý giải về
sự khác nhau giữa tôn giáo ở nơi này với
tôn giáo ở nơi khác, giữa tôn giáo phương
Đông và tôn giáo phương Tây, tôn giáo củadân tộc này với tôn giáo của dân tộc khác.Khi nghiên cứu về tôn giáo truyềnthống, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa tôngiáo phương Tây và tôn giáo phươngĐông Về cơ bản, tâm thức tôn giáo truyềnthống của người phương Tây là độc thần
và hướng về thiên thần, còn tâm thức tôngiáo truyền thống của người phương Đông
là đa thần, phiếm thần, hướng về nhiênthần và nhân thần Chỉ có thể lý giải sựkhác nhau ấy khi xem xét một cách cụ thểnhững cơ sở về đặc điểm tự nhiên, truyềnthống lịch sử, cơ sở kinh tế, đặc trưng vănhóa, xã hội của các xã hội hiện thực đã sảnsinh ra tôn giáo ấy theo sự chỉ dẫn của C.Mác Sở dĩ tâm thức tôn giáo truyền thốngcủa người phương Tây là độc thần vàhướng về thiên thần là vì nó được hìnhthành dựa trên cơ sở của nền kinh tế chănnuôi du mục đại gia súc Chính từ truyềnthống kinh tế chăn nuôi du mục, xã hộiphân tán khi chuyển sang định cư hìnhthành dân tộc, nhà nước cần có một vị thủlĩnh tinh thần để cố kết, thống nhất các bộlạc, dân tộc Từ đó, nảy sinh trong tâm thứctôn giáo ý niệm độc thần và hướng tới thiênthần, ví như Thiên Chúa Giavê (Jêhôva)của người Do Thái hay Thánh Alla(Thượng đế) của người Ảrập Tục gọi cácgiáo sĩ là “chủ chăn” hay “người chănbày”, còn tín đồ gọi là “con chiên” hay
Trang 11“đàn chiên” của Kitô giáo thể hiện một
cách sinh động hình ảnh của người chăn
chiên (cừu) với đàn chiên (cừu) của cư dân
chăn nuôi, du mục Trong khi đó, tâm thức
tôn giáo truyền thống của người phương
Đông là đa thần, phiếm thần, hướng về các
nhiên thần và nhân thần Bởi vì, các xã hội
phương Đông chủ yếu dựa vào nền kinh tế
nông nghiệp trồng trọt trồng lúa nước, theo
chế độ cống nạp, từ đó nảy ra ý niệm nhiều
thần, dẫn đến tâm thức tôn giáo đa thần,
phiếm thần theo quan niệm “có bệnh thì vái
tứ phương” và hướng đến các vị nhiên
thần, nhân thần Điều này được thể hiện
một cách rõ nét trong đặc điểm tôn giáo
Việt Nam
Như vậy, từ sự kiến giải một cách khoa
học về cơ sở tồn tại và hình thái biến đổi
của tôn giáo dựa trên quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã nêu lên
những vấn đề mang tính phương pháp luận
để giải quyết vấn đề tôn giáo
Vận dụng một cách sáng tạo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin về cơ sở tồn tại
và hình thái biến đổi của tôn giáo vào điều
kiện thực tiễn nước ta, khi bước vào thời
kỳ đổi mới đất nước, Nghị quyết 24 của Bộ
Chính trị (16-10-1990) đã nêu rõ quan
điểm: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu
dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh
thần của một bộ phận nhân dân” Đây là
một trong những đột phá trong nhận thức
tư duy lý luận của Đảng về vấn đề tôn giáo.Trong quá trình đổi mới, tư duy lý luận củaĐảng ta tiếp tục phát triển lên một bướcmới Trong Nghị quyết số 25 Hội nghị
Trung ương 7 khóa IX (12-3-2003) về công
tác tôn giáo, Đảng ta xác định rõ hơn “tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phậnnhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộctrong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội”.Trên phương diện nhận thức, quan điểmnày tránh được các cuộc tranh luận khôngcần thiết về vấn đề tôn giáo sẽ tồn tại đếnkhi nào? Đồng thời, về mặt thực tiễn đãkhắc phục được tư tưởng chủ quan, duy ýchí, nóng vội cho rằng tôn giáo sẽ mất đinhanh chóng trong quá trình xây dựngCNXH
Cần phải thấy rằng, trong quá trình xâydựng CNXH ở nước ta, mối quan hệ giữacon người với con người, giữa con ngườivới thế giới tự nhiên còn nhiều điều chưathể đạt đến sự hợp lý, như sự phân hóa giàunghèo, những rủi ro, môi trường sinh thái
bị hủy hoại, vẫn còn là cơ sở khách quancho tôn giáo tồn tại trên những phạm vinhất định
Mặt khác, trong quá trình xây dựngCNXH với chủ trương, đường lối đúng đắncủa Đảng và Nhà nước ta, các tôn giáođang và sẽ có sự điều chỉnh để thích ứngvới xã hội mới, đồng hành cùng dân tộc và
Trang 12chế độ XHCN ở Việt Nam Đó là đường
hướng hành đạo: “Đạo pháp Dân tộc
-Chủ nghĩa xã hội” của Giáo hội Phật giáo
Việt Nam; “Sống Phúc Âm giữa lòng dân
tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”
của Giáo hội Công giáo Việt Nam; “Phụng
sự Thiên Chúa, Tổ quốc và Dân tộc” của
các Hội Thánh Tin lành Việt Nam; “Nước
vinh, Đạo sáng” của các hệ phái Cao Đài
Đảng nêu rõ quan điểm: “Phát huy truyền
thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những
người có công với đất nước và nhân dân”
Đây là một luận điểm mang ý nghĩa sâu sắc
cả về mặt lý luận và thực tiễn Quan điểm
này hoàn toàn mới, có tính sáng tạo trong
tư duy lý luận của Đảng về vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo Lần đầu tiên nội hàm của
tín ngưỡng được đề cập một cách chính
thức trong văn kiện của Đảng ta Trong tâm
thức của người Việt Nam, thờ cúng tổ tiên,
tôn vinh những có công với dân, với nước
không đơn thuần chỉ là một loại hình tín
ngưỡng mà cao hơn đó còn là đạo lý “uống
nước nhớ nguồn”, một truyền thống lâu
đời, trở thành bản sắc dân tộc
Những giá trị tốt đẹp của truyền thống
thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có
công với Tổ quốc và nhân dân có một ý
nghĩa hết sức quan trọng, có tác dụng to
lớn, góp phần định hướng cho các tôn giáo
đồng hành, gắn bó với dân tộc Đoàn kết
đồng bào các tôn giáo, giữ gìn và phát huy
những giá trị tích cực của truyền thống thờcúng tổ tiên, tôn vinh những người có côngvới Tổ quốc và nhân dân, đồng thời phảinghiêm cấm sự phân biệt đối xử với côngdân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; nghiêmcấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạtđộng trái pháp luật và chính sách của Nhànước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽdân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốcgia Đó là những quan điểm mang tính biệnchứng sâu sắc trong lĩnh vực tín ngưỡng,tôn giáo, giữa xây dựng khối đoàn kết toàndân với việc chống sự phân biệt, đối xử,chống âm mưu chia rẽ dân tộc, kích độnggây rối; giữa giữ gìn, phát huy các giá trịtruyền thống tốt đẹp với đấu tranh loại trừcác tệ nạn mê tín hủ tục nhằm bảo đảm chomôi trường sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáolành mạnh.r
(7) Các mô hình nêu trên được Ph.Ăngghen trình
bày trong các tác phẩm: Chống Đuyrinh; Lút vích
Phoiơbắc và sự cáo chung của nền triết học cổ điển Đức, Brunô Bauơ và đạo Cơ đốc sơ kỳ.
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính 2013.- Số 6.- Tr 9-12.
Trang 13trị.-Tôn giáo được phiên dịch từ
Reli-gion Thuật ngữ này có gốc từ
re-ligare, nghĩa là sự nối liền con
người với một siêu nhiên nào đó nhằm thu
nhận thêm phần ngoài khu vực đã hiểu biết,
khu vực siêu hình và phi lí tính Do vậy,
tôn giáo là hiện tượng có từ rất sớm Buổi
sơ khai của loài người, hình thức đầu tiên
của tôn giáo là “hồn linh giáo”(mọi vật
trong tự nhiên có linh hồn), tiếp đó phát
triển thành đa thần giáo, rồi độc thần giáo
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân
xuất hiện các hình thức tôn giáo nguyên
thủy Điều đó chứng tỏ đã xuất hiện nhu
cầu nghiên cứu khoa học về tôn giáo,
nhưng khoa học về tôn giáo lại ra đời chậm
hơn nhiều
Lướt qua những lí giải về “ý niệm” tôn
giáo tiền khoa học, bài viết này chỉ đề cập
đến quan điểm mácxít về tôn giáo từ khi C
Mác thực hiện cuộc cách mạng trong tôn
giáo học trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện
chứng Quan điểm của C Mác về tôn giáo
gồm nhiều vấn đề như: bản chất, nguồn
gốc, chức năng và vai trò của nó đối với
xã hội… Nắm vững các vấn đề lí luận đó
giúp chúng ta trong nghiên cứu và thựchiện chính sách đối với tôn giáo toàn diệnhơn, sâu sắc hơn
Về bản chất của tôn giáo
Trước C Mác, quan điểm của L.Phơbách về tôn giáo là đáng quan tâm nhất.Ông cho rằng định nghĩa về bản chất củacục chỉ là bản chất của con người đã đượctách khỏi giới hạn cá nhân con người, mộtbản chất đã được khách quan hóa, nghĩa làđược tôn sùng như một bản chất xa lạ vàriêng biệt đối với con người(1) Từ đây, L.Phơbách trình bày về bản chất tôn giáo ở
ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, tôn giáo “là sự vén mở trang
trọng nhất những kho tàng ẩn giấu trongcon người, là sự thừa nhận những ý nghĩthầm kín nhất, là lời thú nhận công khainhững bí mật tình yêu của con người”(2).Như vậy, L Phơbách khẳng định tôn giáo
là sản phẩm tinh thần của con người, làhình thái ý thức xã hội đặc biệt
Thứ hai, con người tạo ra tôn giáo chứ
tôn giáo không tạo ra con người “Tôn giáo
là bản chất con trẻ của loài người, nhưngđứa trẻ lại thấy bản chất của mình, tức con
QUAN ĐIỂM MÁCXÍT VỀ TÔN GIÁO
?TS Đỗ QUANG KHắc
Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III
Trang 14người, ở ngoài mình”(3)
Thứ ba, quá trình phát triển của tôn giáo
là quá trình con người nhận thức sâu sắc
hơn, khám phá nhiều hơn chính mình Do
vậy, tôn giáo là thái độ của con người đối
với chính mình
Từ ba nội dung trên, L Phơbách kết
luận về tôn giáo: “Con người tư duy thế
nào thì Chúa của họ cũng như thế, ý thức
về Chúa là ý thức con người rút ra về bản
thân nó”(4)
C.Mác đã đánh giá rất cao quan điểm
trên đây của L Phơbách về bản chất tôn
giáo và có kế thừa, phê phán Ông cho
rằng, quan niệm về bản chất tôn giáo của
L Phơbách lúc bấy giờ là đỉnh cao nhất,
đánh dấu bước tiến dài của con người trong
nhận thức, kiến giải hiện tượng xã hội đặc
biệt này Từ đó, C Mác đã nhấn mạnh:
“Tôn giáo là sự rút hết toàn bộ nội dung
của con người và giới tự nhiên, là việc
chuyển nội dung đó sang cho cái bóng ma
Thượng Đế Ở bên kia thế giới, Thượng Đế
này, sau đó, do lòng nhân từ, lại trả về cho
con người và giới tự nhiên một chút ân huệ
của mình”(5) Đồng thời, C Mác cũng đã
chỉ ra hạn chế của Phơbách khi nói tôn giáo
là tình cảm bí mật của con người, nhưng
con người trong quan niệm của L.Phơbách
là con người thoát khỏi hoàn cảnh lịch sử
cụ thể, con người trừu tượng, để rồi muốn
tìm kiếm một tôn giáo khác thay cho tôn
giáo hiện tại Tất nhiên, L.Phơbách càngkhông nhận thức được rằng tôn giáo là mộtphạm trù lịch sử và còn tồn tại lâu dài Vượt qua hạn chế ấy, C Mác đã trìnhbày luận điểm khoa học về bản chất tôngiáo bằng những định nghĩa khác nhau:Tôn giáo là trái tim của một thế giới không
có trái tim, là tinh thần của một trật tựkhông có tinh thần(6); tôn giáo là thuốcphiện của nhân dân(7); và khi cuộc sốngcòn là biển khổ thì tôn giáo vẫn là vònghào quang thần thánh, là hạnh phúc hư ảocủa nhân dân, là lí luận phổ biến của thếgiới quan lộn ngược, v.v… Ph Ăngghen -người bạn trung thành của C Mác khẳngđịnh: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là
sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc conngười của những lực lượng ở bên ngoàiđang chi phối cuộc sống hàng ngày của họ,chỉ là sự phản ánh trong đó, những lựclượng ở trần thế đã mang những hình thứcsiêu trần thế”(8)
Sự phân tích về bản chất tôn giáo củaC.Mác cho thấy: Mọi tôn giáo chỉ là sự phảnánh hư ảo của những lực lượng ở bên ngoàiđang chi phối cuộc sống hằng ngày của conngười và tôn giáo còn tồn tại lâu dài
Về nguồn gốc của tôn giáo
Các nhà lí luận theo trường phái duy tâmthường cho rằng tôn giáo là cái tự có tồntại ngoài thế giới vật chất, “là thuộc tínhvốn có trong ý thức của con người mà
Trang 15không lệ thuộc vào hiện thực khách quan;
hay nói cách khác, tôn giáo là sản phẩm
mang tính nội sinh của ý thức con
người”(9) Đó là những quan niệm trái với
C Mác về nguồn gốc của tôn giáo
Theo học thuyết Mác, ý thức tôn giáo là
sự phản ánh thế giới vật chất theo phương
thức riêng, đặc biệt (hư ảo, phi lí tính)
nhưng nó không nằm ngoài quy luật phát
triển của lịch sử loài người Vì vậy, tôn
giáo là sự kiện lịch sử, một hiện tượng
thuộc kiến trúc thượng tầng của một xã hội
nhất định Do đó, chúng ta nhất thiết phải
trở về với quan điểm của C Mác để hiểu
đầy đủ nguồn gốc ra đời, quá trình hình
thành của tôn giáo
Về nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn
giáo Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ
sản xuất thấp kém, con người gần như bất
lực trước sức mạnh của thiên nhiên và nảy
sinh sự sợ hãi Từ sợ hãi, con người đã
“thăng hoa” các hiện tượng tự nhiên thành
lực lượng siêu nhiên và lệ thuộc vào sự chi
phối của nó Đồng thời với sự phụ thuộc tự
nhiên, con người còn luôn gặp phải sự tác
động của các quan hệ xã hội như: chiến
tranh bộ lạc, phân công lao động, v.v…
Những yếu tố này cũng đã làm gia tăng tâm
lí sợ hãi cái chết, và con người đã tạo ra tôn
giáo nguyên thủy Theo C Mác, hiện tượng
tôn giáo nguyên thủy là sản phẩm của nhận
thức con người khi con người còn “tối
tăm” về bản thân mình và thế giới tự nhiên Khi xuất hiện sự đối kháng giai cấptrong xã hội, thì nạn bóc lột về kinh tế, ápbức lao động, lệ thuộc về chính trị, miệt thị
về tinh thần, v.v… làm cho con người sợhãi, đau khổ gấp nhiều lần Do sự hẫng hụt,thất vọng, thiếu vắng hạnh phúc ở “cõitrần” nên con người đi tìm điểm tựa ở cõi
vô hình, siêu nhiên Quan điểm này của C.Mác được V I Lênin phân tích sâu sắctrong thời kì tư bản chủ nghĩa, rằng: nhữngthế lực mù quáng của chủ nghĩa tư bản là
“sự phá sản đột ngột, bất ngờ Những ngẫunhiên làm cho người ta bị diệt vong, bị biếnthành người ăn xin, thành bần cùng, mộtgái điếm, và dồn họ vào cảnh chết đói…chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiệnđại mà người duy vật phải chú ý trước hết
và trên hết”(10) Tuy vậy, cần tránh nhậnđịnh rằng khi khả năng chinh phục tự nhiên
và làm chủ xã hội của con người tăng lênthì sẽ “đẩy lùi” tôn giáo, vì trong điều kiệnlịch sử nhất định, khả năng nhận thức củacon người là có hạn Do vậy, tôn giáo còn
có nguyên nhân tồn tại của nó
Về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo.
Khả năng nhận thức có giới hạn của conngười về nguyên nhân phát sinh các hiệntượng tự nhiên và bất bình đẳng xã hội làmcho con người sợ hãi, không làm chủ được
“số phận” của mình là những tiền đề hìnhthành niềm tin tôn giáo
Trang 16Theo quan điểm duy vật biện chứng của
C Mác, quá trình nhận thức là phức tạp và
mâu thuẫn Khi hình thức hiện thực phản
ánh đa dạng bao nhiêu, thì con người càng
có khả năng nhận thức thế giới sâu sắc bấy
nhiêu Nhưng khả năng đó cũng tạo ra
những tiền đề làm cho tư duy của con
người rời xa hiện thực và phản ánh sai lệch
hiện thực Do vậy, ý thức đã có cơ sở khách
quan để tách rời và nhận thức sai lầm hiện
thực Khi ý thức vượt trước hiện thực
khách quan, phát hiện quy luật vận động
của hiện thực thì nó là ý thức khoa học, là
cơ sở chỉ dẫn việc cải tạo tự nhiên và xã
hội Ngược lại, ý thức xa rời hiện thực
bằng cách tuyệt đối hóa hay sùng bái, ảo
tưởng các mặt riêng biệt của hiện thực thì
đó là con đường nhận thức của chủ nghĩa
duy tâm và tôn giáo
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo nói
lên rằng, nó là hiện thực mà con người đẩy
cái thuộc về hiện tượng trong tư duy của
mình thành khách thể tồn tại bên ngoài
mình “con người sáng tạo ra tôn giáo”
-điều mà C Mác kế thừa L Phơbách từ
quan điểm duy vật biện chứng của ông
Tuy nhiên, gắn liền với nguồn gốc nhận
thức, C Mác còn chỉ ra nguồn gốc tâm lí
của tôn giáo
Về nguồn gốc tâm lí của tôn giáo Xuất
phát từ trạng thái tình cảm, cảm xúc cả tiêu
cực lẫn tích cực cũng đều dẫn con người
đến với niềm tin tôn giáo Những cảm xúc,tâm trạng của con người trước sức mạnhcủa tự nhiên và những biến cố của xã hội
đã và đang trở thành những thử thách to lớntrong cuộc sống cả cộng đồng, đóng vai tròrất quan trọng đối với sự ra đời, phát triểncủa tôn giáo
Quá trình tồn tại, con người luôn đứngtrước một hiện thực vừa nghiêm khắc vừabao dung, vừa gần gũi, vừa xa lạ đã làmphát sinh tâm trạng tiêu cực như: sợ hãi, lo
âu, đau buồn, cô đơn, bất hạnh và tuyệtvọng, cái trạng thái tâm lí ấy thường trựctrong ý thức, dẫn con người rơi vào “tâm thếkhuất phục” và tin tưởng có một lực lượng
bí ẩn nào đó định đoạt vận mệnh con người.Tuy nhiên, nguồn gốc tâm lí của tôngiáo còn xuất phát từ trạng thái tình cảmtích cực như: sự ngưỡng mộ, lòng kínhtrọng, niềm vui, hạnh phúc, lòng tự hào,v.v Cái trạng thái tâm lí ấy khiến conngười nảy sinh khao khát chế ngự, ướcvọng duy trì những tình cảm tích cực, cũngdẫn con người đến niềm tin tôn giáo Như vậy, khắc phục quan điểm duy tâmcủa L Phơbách về tôn giáo và bằng quanđiểm duy vật biện chứng, C Mác đã khẳngđịnh rằng tôn giáo không nằm ngoài thếgiới vật chất, cũng không vốn có trong ýthức con người Tôn giáo là hiện tượng xãhội xuất hiện bởi nguyên nhân xã hội,nguyên nhân từ nhận thức và tâm lí, trong
Trang 17đó, nguồn gốc xã hội giữ vai trò quyết định.
Tôn giáo còn tồn tại “khi xã hội còn giai
cấp và áp bức giai cấp, còn điều thiện và
điều ác, còn lương tâm, hướng thiện và sự
sám hối về tội lỗi, còn cần nơi an ủi tâm
linh”(11) Đó cũng là cơ sở quy định chức
năng của tôn giáo
chức năng của tôn giáo
Các chức năng của tôn giáo được C
Mác bàn đến như: chức năng đền bù hư ảo,
chức năng thế giới quan, chức năng điều
chỉnh và chức năng giao tiếp
Khi niềm tin vào cuộc sống mất đi,
người ta sẽ thiết lập đức tin vào thế giới
siêu thực nhằm bù đắp một cách hư ảo
những bất lực, thiếu hụt của con người
trong đời sống hiện thực Đây là chức năng
mà các hình thái ý thức xã hội khác không
có Chức năng thỏa mãn nhu cầu nhận
thức, nghĩa là nó góp phần trả lời các câu
hỏi: Ai sáng tạo ra thế giới này? Vai trò của
con người như thế nào trong vũ trụ?, v.v
Những câu hỏi đó không những các hình
thái ý thức xã hội khác trả lời mà có cả ý
thức tôn giáo Cái đặc thù ở chức năng thế
giới quan tôn giáo là nó tạo ra sự sai lệch
về bức tranh, hình ảnh thế giới Chức năng
điều chỉnh của tôn giáo đưa ra tiêu chuẩn
để định hướng nhận thức và điều khiển
hành vi mà những người có cùng niềm tin
tôn giáo tuân theo Đồng thời, tôn giáo có
chức năng liên kết Thông qua các nghi lễ,
tôn giáo tạo ra môi trường tâm linh để thựchiện sự giao tiếp giữa tín đồ với đức tinđược tôn thờ và liên kết xã hội giữa nhữngngười cùng niềm tin
Ngày nay, khi tìm hiểu chức năng củatôn giáo, nhiều nhà khoa học nhấn mạnhđến 2 chức năng là điều chỉnh hành vi vàliên kết xã hội Với hai chức năng này, tôngiáo đã tạo thành một lực lượng xã hộirộng lớn, một cộng đồng mang tính xã hội
rõ rệt Chức năng liên kết xã hội thườngdẫn đến khuynh hướng góp phần củng cố
sự ổn định và phát triển xã hội Đặc biệt làkhi niềm tin tôn giáo hòa được vào tìnhcảm, lòng tự hào dân tộc, đức tin thiêngliêng quyện với lòng ngưỡng mộ, tôn kínhlãnh tụ, danh nhân của mỗi con người.Nhưng cũng có những trường hợp ngượclại, nó làm rạn nứt các quan hệ xã hội, gâynên “điểm nóng” dẫn đến sự phá vỡ sự ổnđịnh xã hội Với những chức năng nhưvậy, tôn giáo xuất hiện như một hiện tượng,một sự kiện có sức mạnh to lớn
Như vậy, trong quan niệm của C Mác,bức tranh hiện thực thông qua sự phản ánhcủa tôn giáo trở nên viển vông, hư ảo, làmcản trở tư duy khoa học, hạ thấp tính tíchcực, sáng tạo của nhân tố chủ quan Nhưngtrong xã hội có giai cấp và tình trạng ngườibóc lột người thì ước mơ tôn giáo dù cóviển vông đến mấy, nó vẫn là “mơ ước làmdịu mát lòng người”, và biểu hiện ở vai trò
Trang 18của tôn giáo
Vai trò của tôn giáo
C Mác cho rằng, tôn giáo có vai trò tác
động đến đời sống xã hội ở cả hai mặt tích
cực và tiêu cực Một mặt, nó là sự phản ánh
hiện thực hư ảo, không tưởng; mặt khác,
nó là sự phản kháng chống lại sự khốn
cùng của thực tại Một mặt nó giam cầm,
ngăn cản sự phát triển của văn hóa; mặt
khác, nó gợi lên tư duy tự do, khát vọng
của con người mà trong đó đầy ắp suy tư,
triết lí về cuộc sống và vận mệnh của nhân
loại Ở phương diện đạo đức, tôn giáo
hướng vào những giá trị nhân đạo cao cả,
nó cố kết con người lại trong tình thương
đồng loại hoặc có thể gây xung đột thảm
khốc, chia cắt xã hội loài người C Mác
cũng cho rằng, trong mỗi giai đoạn lịch sử
khác nhau, vai trò xã hội của tôn giáo cũng
thể hiện khác nhau Nghĩa là, trong quan
hệ với nền chính trị đồng đại, tôn giáo có
thể đóng vai trò là “nhà từ thiện nhân ái”,
“nhà đạo đức” hoặc là “đao phủ” Ở cả hai
mặt, ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, tôn
giáo vẫn là “thuốc phiện” của nhân dân
Vấn đề đặt ra là hiểu thế nào về câu nói của
C.Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân
dân” Đây là một sự so sánh khi nói đến vai
trò của tôn giáo Con người tạo ra tôn giáo
từ nhu cầu làm dịu bớt nỗi lo lắng, nỗi đau
“xã hội” đang đè nặng đời sống tinh thần
của mình Bởi vậy, vai trò thuốc phiện của
tôn giáo từ khi C.Mác nói cho đến nay vẫnnguyên nghĩa, đó vẫn là thuộc tính phảnánh hư ảo, hoang tưởng cuộc sống hiệnthực của nó Ngày nay, thực tiễn vẫn cònminh chứng rằng, trong tình trạng của cuộcsống còn nhiều rủi ro, bấp bênh trướcnhững thiên tai từ sóng thần, động đất, v.v
có thể đến bất cứ lúc nào; trong tình trạng
xã hội còn không ít bất công, khủng bố,còn ngục tối nhà tù, v.v thì tôn giáo vẫn
là chất kích thích dẫn con người đến trạngthái “thăng hoa” lãng quên hiện thực Tất nhiên, dừng lại cách hiểu câu nóicủa C.Mác ở đó thì chưa đủ Theo C.Mác,tôn giáo còn là biểu hiện sự khổ ải, nghèonàn của hiện thực và cũng là sự phảnkháng chống lại sự khổ ải, nghèo nàn ấy.Vậy nên, tôn giáo chính là “sự phản kháng”cảnh bất công, áp bức của xã hội, là sự bùđắp những bất lực hiện thực, là khát vọng
mà con người muốn đạt được bằng ước mơkhi xã hội “trần thế” chưa thoả mãn họ Dovậy, “thuốc phiện” còn được hiểu nhưthuốc an thần cần thiết để giảm nỗi đau
“trần thế” và như một liệu pháp cần cótrong hoàn cảnh xã hội nhất định Tôn giáocũng đóng vai trò chất men cổ vũ, thúc đẩycon người hành động một cách không vụlợi và vì mục đích nhân văn cao cả Trong
ý nghĩa đó, vai trò của đạo đức tôn giáo baohàm cả nghĩa tích cực
Vấn đề là, tôn giáo ảnh hưởng như thế
Trang 19nào đến sự phát triển xã hội, trong khi
“mọi tôn giáo cũng giống như khoa học,
nghệ thuật và các lĩnh vực thuộc thượng
tầng kiến trúc khác, tự bản thân nó không
mang tính giai cấp”(12) Vai trò “thuốc
phiện” của tôn giáo biểu hiện khi tôn giáo
bị giai cấp bóc lột thống trị sử dụng, các
thế lực chính trị phản động lợi dụng thì sẽ
làm thui chột ý chí cải tạo hiện thực, đấu
tranh vì sự tiến bộ xã hội Ngược lại, khi
tôn giáo ở trong một xã hội có bản chất tốt
đẹp, hợp quy luật phát triển của xã hội, thì
mặt tích cực của tôn giáo sẽ “toả hương
thơm” thể hiện những giá trị nhân văn cao
cả, hướng thiện
Như vậy, khi xã hội có sự mâu thuẫn
giai cấp thì tôn giáo thường bị mâu thuẫn
đó chi phối và cuốn hút vào một lập trường
chính trị nhất định Nếu giai cấp tiến bộ đạt
được sự đồng thuận, đoàn kết với tôn giáo,
thì tôn giáo góp phần tạo nên sự phát triển
của xã hội Nếu giai cấp phản động lợi
dụng được tôn giáo thì nó có vai trò ngược
lại, sẽ là “bông hoa giả điểm trang cho
xiềng xích thật” Điều này về sau được V.I
Lênin nhấn mạnh: “Tôn giáo là thuốc phiện
của nhân dân - câu nói đó của Mác là hòn
đá tảng của toàn bộ quan điểm của chủ
nghĩa Mác trong vấn đề tôn giáo”(13)
Qua tìm hiểu quan điểm mácxít về tôn
giáo ta có thể tóm tắt:
- Con người tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo
không tạo ra con người Do đó, tôn giáo làphạm trù lịch sử và còn tồn tại lâu dài
- Tôn giáo không nằm ngoài thế giới vậtchất, cũng không vốn có trong ý thức conngười Tôn giáo là hiện tượng xã hội xuấthiện bởi nguồn gốc kinh tế - xã hội, từ nhậnthức và tâm lí
- Bức tranh hiện thực thông qua chứcnăng của tôn giáo trở nên viển vông, hư ảo,
hạ thấp tính tích cực, sáng tạo của nhân tốchủ quan Nhưng trong xã hội có giai cấp
và tình trạng người bóc lột người, thì ước
mơ và niềm tin tôn giáo vẫn “làm dịu mátlòng người”
- Vai trò của tôn giáo có thể tác dụng tiêucực, hoặc ngược lại, nó trở thành động lựcthúc đẩy con người hành động một cách vịtha, nhân ái
- Quan điểm mácxít về tôn giáo lànguyên tắc khi nghiên cứu, giải quyết vấn
đề tôn giáo, nó quy định thái độ của ngườicộng sản đối với tôn giáo
Thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo
Thứ nhất, tôn trọng, bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng tôn giáo và không tínngưỡng tôn giáo của nhân dân Người cộngsản không tuyên chiến với tôn giáo Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa vàxây dựng chủ nghĩa xã hội, việc tôn trọng,bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo
và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân
Trang 20là nguyên tắc của người cộng sản Điều đó,
không chỉ thể hiện một cách nhất quán về
mặt pháp lí mà còn được thực hiện trên
thực tế một cách lâu dài Nguyên tắc này
xuất phát từ bản chất, nguồn gốc của tôn
giáo và bản chất của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa có điểm tương đồng, cùng mục
tiêu là xuất phát từ con người và vì con
người Bởi lẽ, trong phạm vi nhất định, tôn
giáo là nhân tố góp phần vào sự thành công
của cách mạng vô sản Chính vì vậy, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy ưu
điểm trong các tôn giáo và kết hợp nó lại
một cách tài tình: “Học thuyết Khổng Tử
có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức
cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó
là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Tôn Dật
Tiên có ưu điểm của nó chính sách của nó
thích hợp với điều kiện nước ta”(14) Về
điều này, Phiđen Cattơrô khẳng định:
“Chúng tôi có thể đồng ý với các giới răn
của Chúa vì nó rất giống chủ trương của
chúng tôi Nếu Giáo hội dạy đừng trộm
cắp, chúng tôi cũng áp dụng triệt để nguyên
tắc không trộm cắp Một trong những đặc
tính cách mạng của chúng tôi là xoá bỏ
trộm cắp, biển thủ và hối lộ Nếu Giáo hội
dạy “hãy yêu tha nhân như chính mình” thì
chính là điều chúng tôi khuyến khích thông
qua tính liên đới giữa người và người, các
điều này nằm trong bản chất của chủ nghĩa
cộng sản và chủ nghĩa xã hội”(15)
Thứ hai, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực
của tôn giáo là một quá trình gắn liền với quátrình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Nguyên tắc này đã được học thuyết Mácđặt nền tảng phương pháp luận ở việc công
bố chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử Học thuyết đó chothấy rằng, muốn thay đổi ý thức xã hộitrước hết phải thay đổi tồn tại xã hội, muốnxoá ảo tưởng trong tư tưởng con ngườiphải xoá nguồn gốc sinh ra nó: “Phê phánthượng giới biến thành phê phán cõi trần,phê phán tôn giáo biến thành phê phánpháp quyền, phê phán thần học biến thànhphê phán chính trị”(16)
Điều cần lưu tâm là việc xây dựng mộtthế giới hiện thực không còn đói nghèo,thất học, bất công, tham nhũng, cùngnhững tệ nạn xã hội và kìm chế được thiêntai là một quá trình lâu dài Điều đó chothấy, việc khắc phục tiêu cực của tôn giáo
sẽ không thể thực hiện được nếu tách rờiviệc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới,
để tăng khả năng gạt bỏ dần ảnh hưởng tiêucực của tôn giáo trong xã hội Dĩ nhiên, cầncoi trọng việc tuyên truyền thế giới quanbiện chứng duy vật bằng nhiều hình thức
Thứ ba, cần phân biệt nhu cầu tín
ngưỡng tôn giáo và sự lợi dụng tôn giáo vìmục đích ngoài tôn giáo
Trong xã hội chưa có giai cấp, niềm tintôn giáo chỉ biểu hiện thuần tuý ở nhận
Trang 21thức của con người về tự nhiên, xã hội.
Nhưng khi xã hội xuất hiện giai cấp thì tôn
giáo ít nhiều mang tính chất chính trị Do
đó, tôn giáo luôn tồn tại hai mặt: niềm tin
tôn giáo chân chính của quần chúng và một
bộ phận lợi dụng niềm tin tôn giáo của
quần chúng cho mục đích phi tôn giáo,
thậm chí mục đích chính trị phản động
Trên thực tế, sự phân biệt này không
đơn giản, nhưng lại là cần thiết, vì phân
biệt được hai mặt đó sẽ tránh được khuynh
hướng hoặc tả hoặc hữu khuynh trong việc
phát huy vai trò tích cực và hạn chế mặt
tiêu cực của tôn giáo Ở đây, V.I.Lênin nhắc
nhở là phải có quan điểm lịch sử cụ thể:
“Người mácxít phải biết chú ý đến toàn bộ
tình hình cụ thể”(17)
Trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau,
vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội
không như nhau Nghĩa là, thái độ của giáo
hội, giáo sĩ, tín đồ của các hình thức tôn
giáo về các lĩnh vực của đời sống xã hội có
sự khác biệt qua các thời kì Chẳng hạn, có
tôn giáo khi mới xuất hiện như một phong
trào bảo vệ lợi ích người nô lệ, người
nghèo Nhưng về sau, tôn giáo ấy biến
thành công cụ của giai cấp bóc lột thống
trị Có những giáo sĩ chân tu, suốt đời hành
đạo với ý nguyện “kính Chúa yêu nước”,
tha thiết sống “tốt đời đẹp đạo”, nhưng lại
có những “thầy tu” bán nước cho giặc
ngoại xâm Điều đó khiến cho người cộng
sản khi ứng xử với tôn giáo phải có quan
điểm lịch sử cụ thể để phân biệt mặt nhucầu tín ngưỡng tôn giáo và sự lợi dụng tôngiáo vì mục đích phi tôn giáo, nhằm xoá bỏ
sự lợi dụng đó.r
1 Về tôn giáo, tập 1 Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1994, tr 105
2 Sđd Tr 103
3 Sđd Tr 104.
4 Đặng Nghiêm Vạn Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam
hiện nay, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, tr.18.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 437
9 Viện Thông tin Khoa học Xã hội Tôn giáo và đời
sống hiện đại, tập 2 Hà Nội, 1997, tr 6-7.
10 V.I.Lênin Toàn tập, tập 17 Nxb Tiến bộ
Mátx-cơva, 1979, tr 510-526.
11 Một số hiểu biết về tôn giáo Tôn giáo Việt Nam.
Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội, 1993, tr 28.
12 Nguyễn Hùng Hậu Góp phần tìm hiểu quan
điểm của Mác: Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân,
Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995, tr 571.
17 V.I Lênin Toàn tập Tập 17 Nxb Tiến bộ
Mátx-cơva, 1979, tr 518.
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu Tôn 2009.- Số 2.- Tr.3 – 9.
Trang 22giáo.-Từ năm 1838, C.Mác đã bước vào
nghiên cứu lịch sử triết học Nội
dung 7 tập bút ký của ông có nhan
đề Lịch sử triết học về những trường phái
Êpia Quya, Khắc kỷ và Hoài nghi đã chứng
tỏ điều đó
Lúc đầu, C.Mác định viết một công trình
nghiên cứu sâu sắc về cả ba trường phái
Nhưng sau, ông giới hạn phạm vi hẹp hơn
, lấy Sự khác nhau giữa khoa học tự nhiên
của Đêmôcrít và Êpia Quya làm đề tài cho
bản luận án tiến sĩ của mình
Sở dĩ Mác giới hạn đề tài nghiên cứu vì
ông cần sớm có bằng tiến sĩ khoa học để
nhanh chóng cưới ny và tách
Gien-ny ra khỏi ảnh hưởng xấu của một bộ phận
gia đình Còn Bau-e (Hêghen trẻ) cũng
muốn C.Mác nhanh chóng chấm dứt "Hài
kịch của chuyện thi cử"sớm ở bên cạnh để
đỡ bị cô lập trong cuộc đấu tranh chống lại
xã hội đương thời
Phải chăng, vì tranh thủ thời gian mà
C.Mác chỉ đề cập đến vấn đề Triết học tự
nhiên của Êpia Quya, còn việc trình bày
tổng hợp cả ba trường phái sẽ được thực
hiện vào dịp khác Điều đó có lẽ cũng
không hoàn toàn như vậy Lí do ông nghiên
cứu vấn đề này còn ở chỗ, trong thời điểmlịch sử hiện thời, C.Mác và Hêghen đangtập trung phê phán tôn giáo gắn liền vớiphê phán chính trị-xã hội và để công việc
có hiệu quả thì cần phải đề cao chủ nghĩaduy vật vô thần của Êpia Quya Vì vậy,
C.Mác bước vào nghiên cứu đề tài: "Sự
khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và Êpia Quya".
Trong luận án của mình, luận điểm đầutiên được C.Mác nhấn mạnh là khôi phụcđịa vị triết học của Êpia Quya Thời cổ đại,học thuyết của nhà triết học này bị người
ta hiểu không đúng với thực chất tinh thầncủa nó, vì thế mà sự ảnh hưởng của nó tráihẳn với sự mong muốn của tác giả Chẳnghạn, khi bàn về đạo đức, Êpia Quya nói
“Thích thú, đó là mục đích cuối cùng của
con người” “Thích thú” được hiểu với
nghĩa con người đã thoát khỏi những đaukhổ cả về thể xác lẫn tâm hồn, con ngườiđược tự do
Nhưng giai cấp thống trị lại hiểu nó theo
ý nghĩa tầm thường trụy lạc, tô điểm chothú tính thấp hèn của họ Phải chăng chínhlòng căm ghét tôn giáo của Êpia Quya thểhiện trong học thuyết lại trở thành cái mà
Tư TưỞNG TÔN GIÁO TRONG LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA C.MÁC
?NGô Đức THịNH
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 23Công giáo ưa chuộng, khi ông nói: “Chúng
ta nên chọn người có tâm hồn cao thượng,
dựng thành tấm gương để khi chúng ta
sống được người đó luôn theo dõi và khi
chúng ta hành động được người đó luôn
nhìn thấy”.
Theo Êpia Quya "Người có tâm hồn cao
thượng " không phải là thần thánh, mà là
những con người hiện thực trong cộng
đồng người Nhưng giai cấp thống trị lại
hiểu đó là thần thánh, biến tư tưởng khoa
học của ông thành cái có lợi cho tôn giáo
Mặc dù trong học thuyết về đạo đức của
minh, ông đã nói rằng: "Đạo đức học của
tôi là chống lại tinh thần sợ hãi, sợ chết
trước thần linh".
Đến thời C.Mác, nhiều nhà tư tưởng
nghiên cứu Êpia Quya cũng chưa hiểu
được thực chất tinh thần của nó, nên không
tránh khỏi những nhận định sai lầm
Hêghen nghiên cứu Êpia Quya với thái độ
thiếu thiện cảm và khách quan, nên đã làm
lu mờ những tư tưởng triết học duy vật của
nó V.I.Lê nin viết: "Hêghen nghiên cứu
Êpia Quya là thể hiện một sự điển hình về
sự xuyên tạc và vu khống của một nhà duy
tâm đối với chủ nghĩa duy vật"(1)
Phái Hêghen trẻ coi Êpia Quya chỉ là
một trào lưu phụ, đỉnh cao triết học bấy giờ
là phái Hoài nghi Đến C.Mác, ông đã
nghiên cứu Êpia Quya một cách nghiêm
túc nên đã khôi phục được địa vị triết học
Êpia Quya bằng cách đề cao chủ nghĩa duy
vật vô thần vốn có trong triết học của ông
Có thể nói, chỉ với Mác, Êpia Quya mới
được đánh giá một cách đầy đủ nhất: “Với
tư cách là nhân cách sống vĩ đại thời cổ, người đã đem triết học giải phóng con người thoát khỏi sự sợ hãi, sợ chết trước thần linh”.
Như vậy, đề cao chủ nghĩa duy vật vôthần của Êpia Quya, C.Mác đã góp phầnvào cuộc đấu tranh chống lại xã hội đươngthời, chống lại tôn giáo của phái Hêghentrẻ (Thời kỳ này Mác tham gia vào pháiHêghen trẻ)
Bên cạnh sự khôi phục chủ nghĩa duyvật vô thần trong triết học Êpia Quya,C.Mác còn chỉ ra sự khác nhau căn bảngiữa triết học của Êpia Quya với triết họccủa Đêmôcrít
Thời C.Mác lưu hành khá phổ biến quanniệm cho rằng, triết học tự nhiên của ÊpiaQuya chỉ là sự giải thích triết học tự nhiêncủa Đêmôcrít Lép-nếch đã khái quát mộtcách khinh miệt rằng, cứ chỗ nào gọi làphát triển triết học Đêmôcrit thì thực chấtchỉ là làm nghèo nàn và tầm thường hóaĐêmôcrít mà thôi
Còn phái Hêghen trẻ cho rằng, triết họccủa Êpia Quya về căn bản không có gì khácvới triết học của Đêmôcrít, nó chỉ là sự lặplại một cách không thêm bớt
Trái với những quan điểm trên, C.Mác
đã chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa trườngphái triết học tự nhiên của hai ông, thể hiệntrong học thuyết về “sự rơi lệch hướng củanguyên tử so với đường thẳng”
Trang 24Hai ông đều cho rằng, nguyên tử và
chân không là cơ sở của thế giới, nên cả hai
đều là nhà duy vật vô thần Nhưng về hình
thức vận động của nguyên tử, quan niệm
của hai ông có khác nhau Đêmôcrít cho
rằng, trong sự vận động không ngừng và
rơi vào đường thẳng, các nguyên tử lớn
đụng vào nguyên tử nhỏ, từ vận động thẳng
sinh ra vận động ngang Như vậy, trong
vận động không có cái ngẫu nhiên mà chỉ
có cái tất nhiên tuyệt đối Còn Êpia Quya:
bên cạnh hai hình thức vận động cơ bản
thẳng và ngang, ông còn thêm một hình
thức vận động thứ ba, hình thức vận động
chệch hướng Nghĩa là, sự vận động của
nguyên tử đến một lúc nào đó, trong điều
kiện nào đó, có thể vận động chệch hướng
so với đường thẳng Đó là những điểm
khác nhau căn bản giữa triết học tự nhiên
của Êpia Quya so với triết học tự nhiên của
Đêmôcrít Chính vì thế, triết học của Êpia
Quya có ý nghĩa vô cùng sâu sắc
Qua luận điểm về "sự rơi lệch hướng
của nguyên tử" đã chống lại chủ nghĩa duy
tâm tôn giáo, khắc phục tính định mệnh
trong triết học Đêmôcrít
Khi Êpia Quya khẳng định nguyên tử có
thể rơi lệch hướng do nguyên nhân nội tại
bên trong của nó khác căn bản với quan
điểm của Đêmôcrít về nguyên nhân vận
động của các nguyên tử, có ngay từ đầu và
mang tính tất nhiên tuyệt đối, không đổi,
thể hiện tính định mệnh máy móc đấu tranh
tôn giáo Vì thế, Êpia Quya viết: "Thà thừa
nhận chuyện cổ tích về thần thánh còn hơn
làm nô lệ cho tính tất yếu có tính định mệnh của nhà tự nhiên Đêmôcrít".
Khi bàn đến “sự rơi chệch hướng của
nguyên tử”, Êpia Quya đã đề cập đến vấn
đề tự do Theo ông, tự do là "vô vi" (khônglàm gì), nghĩa là nó chỉ có được dưới hìnhthức riêng biệt, độc lập với thế giới xungquanh, bo bo trong bản thân nó Tự do thật
sự chỉ có trong vận động của nguyên tử,còn tự do của con người chỉ là sự tượngtrưng của tự do nguyên tử mà thôi Trongthế giới có áp bức, con người muốn có tự
do thì hãy quay lưng lại xã hội đó
Về vấn đề “tự do”, C.Mác cho rằng triết
học của Đêmôcrít vì có tính định mệnh nên
đã phủ nhận tự do của nguyên tử và đi đếnphủ nhận tự do của con người Còn triếthọc của Êpia Quya đã nêu ra được vấn đề
tự do, từ tự do của nguyên tử đến tự do củacon người Nhưng với quan niệm "vô vi",Êpia Quya đã sai lầm khi cho rằng, conngười muốn có tự do hãy quay lưng lại thếgiới đó, xã hội đó, bo bo trong bản thânmình Quan điểm này, theo C.Mác, có tính
mơ hồ, thụ động trong cách giải quyết, nên
nó không thể tồn tại trong hiện thực.C.Mác đã chỉ ra rằng, tự do trước hết phải
là tự do của con người Tự do chân chínhcủa con người chỉ được thực hiện trong sựcộng tác toàn diện giữa con người với conngười, trong cuộc đấu tranh cải tạo điềukiện sinh hoạt xã hội
Tuy C.Mác đã nhấn mạnh vào tự do củacon người, nhưng dù sao, quan niệm nàyvẫn trừu tượng, có tính duy tâm, mặc dù nó
Trang 25đã hé ra lập trường cách mạng, cải tạo thế
giới Quá trình hình thành thế giới quan
mới (duy vật biện chứng) tất yếu là vậy
Chính vì thế, khi đánh giá tác phẩm luận
án tiến sĩ Triết học của C.Mác, V.I.Lênin
đã viết: "Trong bản luận án này, C.Mác
còn phát biểu một quan điểm hoàn toàn
tiêm nhiễm chủ nghĩa duy tâm theo kiểu
Hêghen"(2).
Tuy vậy, C.Mác cũng đã công khai nêu
lên quan điểm vô thần của mình, thể hiện
trong việc đề cao chủ nghĩa duy vật vô thần
của Êpia Quya Đồng thời, C.Mác hé lộ tư
tưởng mới, triết học phải gắn bó với thựctiễn, gắn bó với cuộc sống Đây là conđường vận động độc lập của ông, tất yếu
nó sẽ dẫn ông đến những kết luận mới,không chỉ khác căn bản mà còn đối lậphoàn toàn với triết học Hêghen, mặc dù lúcnày ông còn coi Hêghen là "nhà tư tưởngkhổng lồ".r
…………
(1) Lênin toàn tập, Tập 18.Tr.150.
(2) Lênin toàn tập, tập 21.Tr.6 Xuất bản Sự thật 1963.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu tôn 2008.- Số 6.- Tr.3 - 5.
giáo.-và bảo vệ Tổ quốc Quan tâm giáo.-và tạo điều
kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo
hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo
đã được Nhà nước công nhận, đúng quy
định của pháp luật Đồng thời chủ động
phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với
những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại
đoàn kết dân tộc”(4)
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về công
tác tôn giáo luôn được Đảng ta quán triệt
và vận dụng sáng tạo trong những điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước; thể
hiện sự nhất quán trong việc xác định quan
điểm chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng,
cũng như xác định rõ nguyên tắc chỉ đạo,
chính sách, nhiệm vụ cụ thể của công tác
tôn giáo; phù hợp với tâm tư nguyện vọng
của đồng bào theo các tôn giáo; đã tạo điều
kiện thuận lợi để các tôn giáo hành đạotheo đúng pháp luật Do đó, công tác tôngiáo đã góp phần quan trọng trong việc xâydựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,phát huy sức mạnh của cả dân tộc trong sựnghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa.r
Trang 26Trong Lời nói đầu của tác phẩm
Góp phần phê phán triết học pháp
quyền của Hêghen, viết năm 1843,
Mác nêu: “ Việc phê phán tôn giáo là tiền
đề của mọi sự phê phán khác” Theo Mác,
giữa tôn giáo và các lĩnh vực nhà nước,
pháp luật có mối quan hệ mật thiết; rằng
nguồn gốc, bản chất của tôn giáo và hiện
thực cuộc sống có sự ràng buộc chặt chẽ
Khi đã xác định rõ mối dây liên kết ấy, Mác
cho rằng, phê phán thượng giới biến thành
phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo trở
thành phê phán pháp quyền, phê phán thần
học biến thành phê phán chính trị Tác
phẩm này cùng với một số tác phẩm khác
về sau cho thấy những quan điểm cơ bản
của Mác như sau:
1 Nguồn gốc, bản chất, tính chất của
tôn giáo
Mác đã nêu lên những cặp khái niệm
song trùng gắn bó mật thiết với nhau:
"thượng giới - cõi trần"; "tôn giáo - pháp
quyền"; "thần học - chính trị" Vấn đề đặt
ra là cơ sở của mối quan hệ giữa các khái
niệm ấy là gì? Mác đã chỉ ra nguồn gốc củamọi thần thánh ở ngay trong cõi trần, ởtrong mỗi con người và xã hội loài người
và con người sản sinh ra tôn giáo chứkhông phải tôn giáo tạo ra con người.Mảnh đất để tôn giáo nảy sinh và tồn tại,phát triển là những điều kiện vật chất hiệnthực, là tồn tại xã hội hay như cách gọi củaMác là "cõi trần"
Xét đến cùng, mọi thánh thần đều cónguồn gốc từ cuộc sống hiện thực xã hội.Đặc biệt là từ những hạn chế trong đờisống hiện thực mà con người phải đối mặtnhưng chưa có khả năng khắc phục mộtcách triệt để thì sự sáng tạo, tưởng tượng
ra các thánh thần để nương tựa, “nhờ vả”vào đó sẽ là một liệu pháp khá thông dụng.Theo Mác: “Ngay cả những ảo tưởng hìnhthành trong đầu óc con người cũng lànhững vật thăng hoa tất yếu của quá trìnhđời sống vật chất của họ, một quá trình cóthể xác định được bằng kinh nghiệm và gắnliền với những tiền đề vật chất ”(1) Cõitrần chính là căn nhà để thượng giới hoài
TỪ LUẬN ĐIỂM CỦA C.MÁC ĐẾN NHẬN THỨC
VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở NưỚC TA HIỆN NAY
?TS ĐOÀN TRIỆU LONG
Khoa Dân tộc và Tôn giáo, Học viện Chính trị
- Hành chính khu vực III
Trang 27thai và trú chân, cõi trần là mảnh đất hiện
thực để tôn giáo nảy mầm và phát triển, là
nguồn gốc mà từ đó tôn giáo có thể ra đời
Khi nói “phê phán thượng giới biến
thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo
trở thành phê phán pháp quyền ” ta còn
hiểu rằng đây là cách nói nhằm vạch rõ bản
chất của tôn giáo là sự phản ánh hư ảo
những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc
sống hằng ngày của con người “Thượng
giới biến thành cõi trần ” có nghĩa, thực
chất của thượng giới chỉ là ảo ảnh của một
hiện thực, một hiện thực đã bị khúc xạ qua
lăng kính của óc tưởng tượng để lung linh
chất cố hữu và cực kỳ quan trọng của tôn
giáo đó là tính chất chính trị, là mối quan
hệ giữa tôn giáo và nhà nước khi ông viết
“phê phán tôn giáo biến thành phê phán
pháp quyền, phê phán thần học biến thành
phê phán chính trị” Mác chỉ ra rằng, khi
một tôn giáo ra đời, giai cấp thống trị của
xã hội ấy, thời đại ấy đều thường tìm cách
tranh thủ, lợi dụng nó vào mục đích chính
trị của mình, tuyên truyền theo hướng có
lợi cho giai cấp mình Ngược lại, các tôn
giáo cũng thường nương mình vào các giaicấp thống trị để tồn tại và phát triển; rằngtôn giáo buộc mỗi phong trào xã hội vàchính trị phải mang hình thức thần học,muốn tạo ra một phong trào như vũ bão,cần phải đưa ra cho quần chúng (mà tìnhcảm được nuôi dưỡng bằng tôn giáo)những lợi ích thiết thân của họ dưới bộ áotôn giáo Sự nương tựa vào nhau giữa tôngiáo và chính trị phản ánh xu hướng thẩmthấu tất yếu, sự chi phối lẫn nhau không thểcưỡng lại được giữa các hình thái ý thức xãhội Mặt khác, nó cũng nêu lên tính chấtđặc thù của tôn giáo và của chính trị, đó là
sự chi phối và lợi dụng lẫn nhau để thựchiện lợi ích của mình
2 Phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo
“Phê phán thượng giới biến thành phêphán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thànhphê phán pháp quyền ” Luận điểm nàychính là cẩm nang nêu rõ phương châm vàphương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo củaMác Tôn giáo vừa là một thực thể xã hộivừa là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
Sự ra đời và tồn tại của nó từ hình thái phôithai cho đến nay mới khoảng 7 vạn nămnhưng nó là một nhu cầu tinh thần của một
bộ phận lớn nhân dân Từ xưa đến nay đã
có nhiều ý định và hành động thực tiễnmuốn xóa bỏ tôn giáo Nhưng những suynghĩ và hành động đó đều có một kết quảchung cuộc là sự thất bại Sự thất bại tất
Trang 28yếu ấy suy cho cùng là do nhận thức chưa
đúng về tôn giáo, từ đó không có một
phương pháp ứng xử hợp lý đối với vấn đề
tôn giáo
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động chính
trị - xã hội và nghiên cứu xã hội Đức hiện
thời, Mác vạch rõ sự phê phán tôn giáo
phải chuyển sang phê phán về chính trị và
pháp quyền, hay nói cách khác, một cuộc
cách mạng xã hội là điều tất yếu để thay
đổi những mối quan hệ kinh tế, xã hội hiện
tồn, thay thế một tồn tại xã hội đã lỗi thời,
phản động bằng một xã hội khác cách
mạng hơn, tiến bộ hơn Mác viết: “Đấu
tranh chống hoàn cảnh nước Đức! nhất
định phải thế! Bản thân hoàn cảnh đó
không còn là đối tượng đáng cho người ta
suy nghĩ nữa mà là một vật tồn tại đáng
khinh ”(2) Vì lẽ đó “phê phán thượng
giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán
tôn giáo trở thành phê phán pháp quyền”
Quan điểm duy vật khẳng định: tồn tại
xã hội quyết định ý thức xã hội Một tồn tại
xã hội với những hoàn cảnh hiện thực nhất
định sẽ quy định những ý thức xã hội tương
ứng với nó Tôn giáo được hình thành và
quy định bởi chính hiện thực xã hội mà nó
đang tồn tại Như vậy sẽ rất sai lầm nếu
chúng ta muốn xóa bỏ, phê phán tôn giáo
một cách máy móc mà không quan tâm tới
việc thay đổi những hoàn cảnh hiện thực,
những tồn tại xã hội mà nhờ đó tôn giáo đã
nảy sinh Mác, Ăngghen cho rằng: “khôngthể đập tan được mọi hình thái và sản phẩmcủa ý thức bằng sự phê phán tinh thần màchỉ bằng việc lật đổ một cách thực tiễnnhững quan hệ xã hội hiện thực đã sản sinh
ra tất cả những điều nhảm nhí duy tâmđó ”(3) và “Muốn thanh toán cái tôn giáo
ấy thì trước hết cần phải biết giải thíchnguồn gốc và sự phát triển của nó, xuấtphát từ những điều kiện lịch sử mà nó đãxuất hiện và đạt được sự thống trị ”(4).Như vậy, chính mảnh đất của hiện thựccuộc sống mới là yếu tố để quy định sự tồntại và bản chất của một tôn giáo và tôn giáochỉ mất đi khi những điều kiện sản sinh ra
nó không còn nữa Từ lý luận ấy, Mác Ăngghen đã cực lực lên án Đuyrinh, người
-đã nhân danh chủ nghĩa duy vật với ý đồbóp chết tôn giáo bằng các sắc lệnh cưỡngchế Mác cho rằng đó là hành động điêncuồng không những không làm cho tôngiáo mất đi mà còn kích thích cho tôn giáophát triển hơn, “ông Đuy-rinh không thểchờ đợi cho đến khi tôn giáo chết cái chết
tự nhiên đó của nó Ông ta tỏ ra Bi-xmáchơn cả Bi-xmác; ông ta ra những đạo luậttháng Năm tung bọn hiến binh tương laicủa ông ta ra truy kích tôn giáo, và do đó,ông ta đã giúp cho tôn giáo đạt tới chỗ thựchiện tinh thần tử vì đạo và kéo dài thêm sựtồn tại của nó”(5) “Cái chết tự nhiên” củatôn giáo mà Ăngghen nêu lên đó là việc
Trang 29thay đổi những thiết chế xã hội hiện thời,
là sự phê phán cõi trần, phê phán pháp
quyền hay phê phán chính trị
3 Vận dụng quan điểm của Mác
trong quản lý hoạt động tôn giáo ở nước
ta hiện nay
Xuất phát từ quan điểm trên của Mác,
chúng tôi xin nêu một số nhận thức về công
tác tôn giáo ở nước ta hiện nay như sau:
Thứ nhất, tôn giáo là một hình thái ý
thức xã hội nảy sinh và tồn tại trên cơ sở
một tồn tại xã hội nhất định, khi nào xã hội
vẫn còn những điều kiện để tôn giáo tồn tại
thì chừng ấy tôn giáo vẫn tiếp tục tồn tại và
phát triển
Thực tiễn nước ta cho thấy, trong thời
kỳ quá độ lên CNXH khi điều kiện vật
chất, kinh tế còn thấp kém, những tàn tích
của chế độ phong kiến, những di hại của
chủ nghĩa đế quốc còn không ít, vẫn còn
những điều kiện để tôn giáo tồn tại và sẽ
vẫn còn tồn tại lâu dài Đó là một thực tế
cần được nhận thức và khẳng định Vì lẽ
đó, thái độ nôn nóng, tả khuynh, muốn xóa
bỏ tôn giáo một cách nhanh chóng là hoàn
toàn sai lầm Theo Lênin, những lời tuyên
chiến ầm ĩ với chủ nghĩa duy tâm, những
mệnh lệnh ngăn cấm tín ngưỡng, tôn giáo
là những hành vi dại dột, vô chính phủ, làm
cho kẻ thù lợi dụng để kích động tình cảm
tôn giáo của tín đồ, làm cho họ ngày càng
gắn bó với tôn giáo, xa lánh thậm chí đi
đến chống lại công cuộc xây dựng CNXH.Xác định đúng điều này, Nghị quyết Trungương 7 khóa IX khẳng định: tôn giáo “đang
và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta” Đó
là một nhận thức đúng đắn, trên cơ sở ấy,chúng ta cần nhất quán chính sách tôntrọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡngtheo hoặc không theo một tôn giáo nào,quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theođúng pháp luật
Thứ hai, xuất phát từ nhận thức về sự
tồn tại lâu dài của tôn giáo, chúng ta cầnkhẳng định lại rằng: công tác tôn giáokhông phải và không thể là sự “phê phántôn giáo”, bài trừ tôn giáo bằng bạo lực, mà
là công tác vận động quần chúng
Với tính quần chúng rộng rãi và nhữngđóng góp của tôn giáo đối với đời sống vănhóa và tâm linh của một bộ phận quầnchúng, tôn giáo là vấn đề niềm tin tựnguyện của quần chúng và không thể ápđặt một cách cứng nhắc
Không những thế, bản thân tín ngưỡng,tôn giáo bao hàm những giá trị đạo đức tốtđẹp, những yếu tố văn hóa của dân tộc,nhân loại cần thiết được tôn trọng và bảo
vệ Vì vậy, thái độ đúng đắn đối với tôngiáo là động viên đồng bào nêu cao tinhthần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập vàthống nhất Tổ quốc, lấy mục tiêu “Dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
Trang 30minh” làm điểm đồng thuận để đồng bào
theo hoặc không theo tôn giáo đều phát huy
hết khả năng của mình cho sự nghiệp chung
Thứ ba, tôn trọng những nhu cầu tâm
linh, tín ngưỡng chính đáng của nhân dân,
đồng thời ngăn ngừa, kịp thời nghiêm trị
những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào
những mục đích chính trị phản động
Việc tôn trọng và đảm bảo những nhu
cầu về tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào
là cần thiết, tuy nhiên, việc tăng cường
trách nhiệm của các cơ quan quản lý tôn
giáo để ngăn ngừa sự lợi dụng của các thế
lực thù địch là rất quan trọng và cấp bách
Với tính phức tạp và nhạy cảm, tôn giáo
luôn là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù
địch lợi dụng vào những mục đích đen tối
Đặc biệt là đối với cách mạng Việt Nam
hiện nay, các thế lực thù địch trong và
ngoài nước luôn tìm cách lôi kéo, kích
động những tín đồ tôn giáo có quan điểm
cực đoan tiến hành những hoạt động chống
đối, đi ngược lại chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước Trên tinh thần đó,
Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Quan
tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn
giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ
của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước
công nhận, đúng quy định của pháp luật
Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên
quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ,
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”(6)
Thứ tư, “phê phán thượng giới biến
thành phê phán cõi trần ”
Muốn khắc phục những ảnh hưởng tiêucực của tôn giáo, trước hết cần phải tạo lậpđược một thế giới hiện thực không có ápbức, bất công, nghèo đói, thất học mộtthế giới hiện thực không còn cần đến “sựđền bù hư ảo” của tôn giáo mà có thể tìmthấy những hạnh phúc thật sự ngay trongcuộc sống Cụ thể, vấn đề đặt ra hiện nay
là phải đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH,thực hiện có hiệu quả việc phát triển kinh
tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân nói chung và đồngbào các tôn giáo nói riêng.r
………
(1),(3) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.38, 54.
(2) Lời nói đầu Góp phần phê phán triết học pháp
quyền của Hêghen, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962,
tr.9-10.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen: Sđd, t.19 tr.436 (5) Sđd, t.20 tr.439.
(6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chínhh trị quốc gia, Hà Nội, 2011,
tr.245.
Nguồn: Tạp chí Lý luận chính 2013.- Số 2.- Tr 17 – 20.
Trang 31trị.-Tôn giáo là một hiện tượng xã hội
phức tạp có liên quan và ảnh
hưởng đến nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội Những năm gần đây, trên thế
giới cũng như ở nước ta, tôn giáo có chiều
hướng phục hồi và phát triển đòi hỏi Đảng
ta phải có nhận thức mới về tôn giáo và
công tác tôn giáo
Một trong những cơ sở lí luận quan
trọng để Đảng ta có nhận thức mới về tôn
giáo và công tác tôn giáo là tư tưởng của
Ph Ăngghen về tôn giáo Tư tưởng của Ph
Ăngghen về tôn giáo nổi lên một số vấn đề
cơ bản sau:
Thứ nhất, tư tưởng Ph Ăngghen về
nguồn gốc ra đời của tôn giáo
Ph Ăngghen cho rằng: “Tôn giáo sinh
ra trong một thời đại hết sức nguyên thủy,
từ những khái niệm hết sức sai lầm, nguyên
thủy của con người về bản chất của chính
họ và về giới tự nhiên bên ngoài, xung
quanh họ Song bất cứ hệ tư tưởng nào,
một khi đã hình thành, đều phát triển gắn
liền với những với khái niệm đã có, coi đó
là những vật liệu của mình và phát triểnnhững vật liệu đó; nếu không thì nó đãkhông phải là một hệ tư tưởng, nghĩa là sựtheo đuổi những tư tưởng được coi lànhững thực thể độc lập, một sự phát triểnđộc lập và chỉ tuân theo những quy luật vốn
có của chúng mà thôi Việc những điềukiện sinh hoạt vật chất của con người - màtrong đầu óc của họ đang diễn ra quá trình
tư tưởng nói trên, rút cuộc lại quyết định
sự tiến triển của quá trình ấy, việc đó, tấtnhiên là họ không nhận thức được, nếukhông thì toàn bộ hệ tư tưởng đã cáochung” (1) Theo tư tưởng của Ph Ăng-ghen, tôn giáo không phải do Chúa tạo ra
mà do nhận thức ngu dốt, nhận thứcnguyên thủy của con người Con ngườikhông lí giải nổi những hiện tượng của tựnhiên Con người tưởng tượng ra trong cáchiện tượng đều có những vị thần trú ngụ,
có sức mạnh ngự trị, chi phối cuộc sốngcủa con người Khi đã hình thành thì chínhnhững tư tưởng đó đã quyết định hànhđộng của họ Như vậy, chính con người
Tư TưỞNG CƠ BẢN CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ TÔN GIÁO
-CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC NHẬN THỨC MỚI CỦA ĐẢNG VỀ TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
?THS NGUYỄN TIếN PHươNG
Học viện Chính trị - Hà Đông, Hà Nội
Trang 32sinh ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo
sinh ra con người Ý thức về Chúa là ý thức
trang trọng nhất của con người
Theo Ph Ăngghen, tôn giáo ra đời
không chỉ do nhận thức ngu dốt của con
người mà còn do sự bất lực của con người
trong cải tạo xã hội Ph Ăngghen khẳng
định: “Nhưng chẳng bao lâu, bên cạnh
những lực lượng thiên nhiên, lại còn có cả
những lực lượng xã hội tác động - những
lực lượng này đối lập với con người, một
cách cũng xa lạ lúc đầu cũng không thể
hiểu được đối với họ, và cũng thống trị họ
với cái vẻ tất yếu bề ngoài giống như bản
thân những lực lượng tự nhiên vậy Những
nhân vật ảo tưởng, lúc đầu chỉ không được
thêm từ phản ánh những sức mạnh huyền
bí của các lực lượng tự nhiên, thì nay lại vì
thế, có cả những thuộc tính xã hội và trở
thành những đại biểu cho các lực lượng
lịch sử Đến một giai đoạn tiến hóa cao hơn
nữa, thì toàn bộ những thuộc tính tự nhiên
và thuộc tính xã hội của nhiều vị thần được
chuyển sang cho một vị thần vạn năng duy
nhất, bản thân vị thần này cũng là chỉ là
phản ánh của con người trừu tượng”(2)
Như vậy, tôn giáo ra đời bắt đầu từ nhận
thức sai lầm của con người về hiện tượng
tự nhiên, sau đó chính là những lực lượng
xã hội Những cảnh tàn sát đẫm máu,
những ốm đau, bệnh tật, chết chóc, những
hiện tượng bóc lột nặng nề của giai cấp
thống trị làm cho họ cũng không hiểu nổi.Đặc biệt là sự bóc lột nặng nề của giai cấpthống trị làm cho người lao động nghèokhổ không chịu nổi đã vùng lên đấu tranh,nhưng vì không có đường lối đúng đắn nên
bị thất bại, bị dìm trong biển máu Từ đólàm cho con người tưởng tượng ra những
vị thần có sức mạnh vạn năng, che chở, cứuvớt họ Những vị thần do con người tưởngtượng ra đó cũng huyền bí, ngự trị, chi phốicuộc sống của họ Theo Ph Ăngghen sứcmạnh của các vị thần đó đến nay vẫn cònnguyên giá trị Đây là tư tưởng hết sức cơbản để chúng ta lí giải tại sao trong thời đạingày nay tôn giáo vẫn tồn tại và có xuhướng phát triển Ph Ăngghen viết: “Dướicái hình thức thuận tiện, cụ thể và có thểthích ứng được với tất cả mọi tình hình đó,tôn giáo vẫn có thể tiếp tục tồn tại với tưcách là một hình thức trực tiếp, nghĩa làmột hình thức cảm xúc trong quan hệ củacon người đối với các lực lượng xa lạ, tựnhiên và xã hội đang thống trị họ Nhưngchúng ta đã nhiều lần thấy rằng trong xãhội tư sản hiện nay, con người bị thống trịbởi những quan hệ kinh tế do chính họ tạo
ra Những tư liệu sản xuất do chính họ sảnxuất ra Do đó, cơ sở thực tế của sự phảnánh có tính chất tôn giáo của hiện thực vẫntiếp tục tồn tại và cùng với cơ sở đó thìchính ngay sự phản ánh của nó trong tôngiáo cũng tiếp tục tồn tại” (3)
Trang 33Thứ hai, tư tưởng của Ph Ăngghen về
bản chất của tôn giáo
Ph Ăng ghen đã nêu một luận điểm nổi
tiếng: “Nhưng tất cả mọi tôn giáo chẳng
qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong
đầu óc của con người - của những lực
lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng
ngày của họ; chỉ là phản ánh trong đó
những lực lượng ở trần thế đã mang hình
thức lực lượng siêu trần thế” (4) Như vậy
Ph Ăngghen khẳng định rất rõ ràng, bản
chất của tôn giáo là sự phản ánh hư ảo hiện
thực khách quan vào đầu óc con người Với
ý nghĩa đó, tôn giáo đã hướng con người
tin vào cái không có thực, lấy cái không có
thực để giải quyết những vấn đề hiện thực
Ph Ăngghen cho rằng: “Theo bản chất của
nó, tôn giáo là sự rút hết toàn bộ nội dung
của con người và giới tự nhiên, là việc
chuyển nội dung đó sang cái bóng ma
Thượng đế ở bên kia thế giới Thượng đế
này, sau đó, do lòng nhân từ, lại trả về cho
con người và giới tự nhiên một chút ân huệ
của mình” (5) Vì phản ánh hư ảo hiện thực
khách quan, đến một giai đoạn nào đó lòng
tin vào tôn giáo bị giảm sút nhưng sự giảm
sút đó diễn ra hết sức khó khăn Ph
Ăng-ghen luận giải: “Lòng tin dần yếu đi, tôn
giáo tan rã trước mặt nền văn hóa ngày
càng phát triển, nhưng con người vẫn chưa
hiểu rằng họ đã nghiêng mình trước bản
chất của chính mình và đã thần thánh hóa
nó như là một bản chất xa lạ nào đó Nằmtrong trạng thái vô thức như vậy, và đồngthời trong trạng thái không có tín ngưỡng,con người không thể có một nội dung tinhthần nào cả, nó tất yếu phải thất vọng đốivới chân lí, lí tính và giới tự nhiên, sự trốngrỗng và không có nội dung nào đó, sự tintưởng vào những sự kiện vĩnh cửu của vũtrụ Sẽ tiếp tục tồn tại cho tới khi nhân loạihiểu được rằng bản chất mà nhân loại sùngbái với tư cách là Thượng đế là bản chấtcủa chính mình, nhưng cho đến nay nhânloại vẫn chưa biết được, sẽ tiếp tục tồntại”(6)
Thứ ba, tư tưởng của Ph Ăngghen về thái
độ của Đảng công nhân đối với tôn giáo.
Trên cơ sở phân tích sự câu kết giữa tôngiáo với giai cấp bóc lột, Ph Ăng ghen đãđưa ra luận điểm: “Tách hẳn nhà thờ rakhỏi nhà nước Tất cả những đoàn thể tôngiáo, không trừ một đoàn thể nào, đều sẽđược nhà nước coi như là những hội tưnhân Những đoàn thể ấy không còn đượctrợ cấp bằng quỹ công nữa và mất hết mọiảnh hưởng đối với các trường học “Tuynhiên, người ta không thể nào cấm nhữngđoàn thể ấy thành lập những nhà trườngriêng của họ bằng những phương tiện riêngcủa họ và dạy ở đó những điều ngu xuẩncủa họ” (7) Đây là luận điểm hết sức quantrọng có vai trò định hướng cho Đảng côngnhân có thái độ ứng xử phù hợp với các tôn
Trang 34giáo coi tôn giáo là việc cá nhân Luận
điểm đó, một mặt tỏ rõ thái độ của Đảng
công nhân phải là người vô thần, mặt khác
tôn trọng tự do tôn giáo của một bộ phận
nhân dân Nhiệm vụ của Đảng công nhân
là phải truyền bá tư tưởng khoa học Ph
Ăngghen viết: “Giản đơn nhất là truyền bá
trong công nhân những sách báo duy vật
chủ nghĩa tuyệt vời của Pháp của thế kỉ
trước, những sách báo mà cho đến nay, cả
về hình thức lẫn nội dung, đều là thành tựu
cao nhất của tinh thần nước Pháp, những
sách báo ấy nếu xét về trình độ khoa học
lúc bấy giờ, thì hiện này vẫn có giá trị về
mặt nội dung, vẫn là một mẫu mực chưa
bao giờ có thể với tới được về mặt hình
thức” (8) Bên cạnh phải truyền bá tư tưởng
tiến bộ trong giai cấp công nhân, Ph
Ăng-ghen cũng đưa ra những tư tưởng định
hướng phương pháp giải quyết vấn đề tôn
giáo Ph Ăng ghen viết: “Cái tôn giáo mà
đế chế La Mã thế giới phải phục tùng và đã
thống trị một phần hết sức to lớn loài người
văn minh trong suốt l.800 năm thì người ta
không thể nào thanh toán được nếu chỉ
tuyên bố một cách giản đơn nó là cái vô
nghĩa do những kẻ lừa dối tạo ra Muốn
thanh toán cái tôn giáo ấy thì trước hết cần
phải biết giải thích nguồn gốc và sự phát
triển của nó, xuất phát từ những điều kiện
lịch sử mà nó đã xuất hiện và để được sự
thống trị”(9) Ph Ăng ghen đã phê phán
Đuy-rinh trong giải quyết vấn đề tôn giáo
là ra những đạo luật chống tôn giáo và tungbọn hiến binh truy kích tôn giáo Ph Ăng-ghen viết: “Ông Đuy-rinh không thể chờđợi cho đến khi tôn giáo chết cái chết tựnhiên đó của nó Ông ta làm một cách cănbản hơn Ông ta tỏ ra là Bixmác hơn cảBixmác; ông ra những đạo luật tháng Nămcòn nghiêm ngặt hơn, không chỉ chống đạoThiên Chúa, mà còn chống cả mọi tôn giáonói chung nữa; ông ta tung bọn hiến binhtương lai của ông ta ra truy kích tôn giáo,
và do đó, ông ta giúp cho tôn giáo đạt tớichỗ thực hiện tinh thần tử vì đạo và kéo dàithêm sự tồn tại của nó”(10)
Trên cơ sở tư tưởng chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và
Mác-tư Mác-tưởng của Ph Ăng ghen nói riêng, Đảng
ta đã đưa ra nhận thức mới về tôn giáo vàcông tác tôn giáo Thực chất nhận thức mớicủa Đảng ta về tôn giáo và công tác tôngiáo là quá trình nhận thức lại lí luận củachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về tôn giáo và công tác tôn giáo, trên
cơ sở đó bổ sung và làm phong phú thêm
lí luận này cho phù hợp với thực tiễn đổimới ở nước ta hiện nay
Nội dung nhận thức mới của Đảng ta
Trang 35tôn giáo là nhu cầu có thật và chính đáng
của một bộ phận quần chúng nhân dân Tôn
trọng và thỏa mãn nhu cầu này chính là tôn
trọng sự thật, tôn trọng khách quan và tôn
trọng con người Việc khẳng định trên đã
khắc phục tình trạng phân biệt giữa Lương
- Giáo, tạo nên bầu không khí mới trong
quan hệ cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Kể từ sau Nghị quyết 24 của bộ Chính
trị (khóa VI) Đảng ta còn có nhiều văn
kiện khác thể hiện tư duy mới về tôn giáo
và công tác tôn giáo Đặc biệt là Chỉ thị
37-CT/TW ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị
“Về công tác tôn giáo trong tình hình mới”,
một văn kiện quan trọng lần đầu tiên được
đăng tải công khai trên báo Nhân dân và
hàng loạt báo khác Tại Hội nghị Trung
ương 7 (Khóa IX) với Nghị quyết số 25
(12/3/2003) “Về công tác tôn giáo”, lần
đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, vấn đề tôn
giáo được đưa ra bàn bạc, quyết định ở cấp
Ban Chấp hành Trung ương
Thứ hai, tôn giáo đang và sẽ tồn tại
cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta, sự tồn tại của các tôn giáo
đã và đang là một thực tế khách quan Đây
là luận điểm mang tính đột phá trong nhận
thức của Đảng ta về vấn đề tôn giáo Nó
mở ra một lối thoát cho cách nhìn siêu
hình, định kiến tồn tại ở một số cán bộ
chính quyền địa phương Về tư tưởng, thừanhận sự khác biệt về thế giới quan tìm rađiểm tương đồng chung để thống nhất,đoàn kết toàn dân tộc, đã đưa đến môitrường đồng thuận rộng rãi tích cực trong
xã hội Trên bình diện văn hóa đồng bào cóđạo đã tích cực tham gia hướng ứng phongtrào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa ở khu dân cư, xây dựng gia đìnhvăn hóa Trên bình diện chính trị, xã hội,mối quan hệ giữa Nhà nước với các giáohội ngày càng được cải thiện
Thứ ba, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nghị quyết số 24/NQ-TW của Bộ Chínhtrị khóa VI, đã nhận định: “Đạo đức tôngiáo có nhiều điều phù hợp với công cuộcxây dựng xã hội mới”(11) Đại hội X củaĐảng ta chỉ rõ: “Phát huy những giá trị vănhóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo” (12).Đây là sự khẳng định đúng thực tế kháchquan, đạo đức tôn giáo đã có đóng góp nhấtđịnh vào quá trình kìm hãm tốc độ suythoái đạo đức trước tác động của mặt tráikinh tế thị trường và lối sống tiêu thụ Việckhẳng định đó có ý nghĩa to lớn trong huyđộng mọi nguồn lực tham gia vào sựnghiệp đổi mới hiện nay, nhất là kế thừa,phát huy những yếu tố hợp lí, những giá trịvăn hóa đạo đức tôn giáo vào việc xâydựng nền đạo đức mới, nền văn hóa tiên
Trang 36tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nếu lọc bỏ
những nội dung có sắc màu tôn giáo,
những chuẩn mực đạo đức tôn giáo có
đóng góp to lớn trong giải quyết mối quan
hệ giữa người với người, xây dựng tình yêu
thương con người Với quan điểm đó của
Đảng ta, đã động viên đồng bào tôn giáo
tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo,
từ thiện, xã hội y tế, giáo dục, phong trào
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư;
giúp nhau xóa đói, giảm nghèo; trợ giúp
người khó khăn, cơ nhỡ trong cộng đồng;
phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ bình
yên cho gia đình, thôn xóm và an toàn trật
tự mỗi cơ sở, mỗi khu dân cư Quan điểm
trên là nguồn động lực to lớn, tạo nên niềm
phấn khởi, cổ vũ đồng bào các tôn giáo,
nhất là các tín đồ, chức sắc tiến bộ, tích cực
tham gia vào phong trào thi đua yêu nước,
xây dựng các cộng đồng tôn giáo ngày
càng phồn vinh hạnh phúc, “sống tốt đời
đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước”, “nước
vinh đạo sáng”, “sống phúc âm giữa lòng
dân tộc”
Thứ tư, đồng bào các tôn giáo là một bộ
phận quan trọng trong khối đại đoàn kết
toàn dân tộc.
Đây là phương hướng chung thể hiện
đầy đủ nhất quan điểm của Đảng về tôn
giáo Sự khẳng định trên nhằm định hướng
việc hoạch định các chủ trương chính sách
của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc và mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh Sự khẳng định trên có sức cổ vũmạnh mẽ mọi người Việt Nam xóa bỏ bớtmặc cảm, định kiến, xây dựng lòng tin vàmôi trường đồng thuận để cùng nhau gắn
bó với lợi ích chung của đất nước
Nhận thức mới của Đảng ta về công tác tôn giáo
Thứ nhất, công tác tôn giáo có nội dung cốt lõi là vận động quần chúng
Điểm mới trong nhận thức của Đảng ta
về công tác tôn giáo hiện nay chính là việckhẳng định vai trò “cốt lõi” của công tác vậnđộng quần chúng trong công tác tôn giáo.Điều này là hoàn toàn phù hợp cả về líluận và thực tiễn Bởi vì, công tác tôn giáobao gồm nhiều hoạt động, thuộc nhiều lĩnhvực song nổi lên 3 mặt hoạt động chính là:quản lí nhà nước về tôn giáo, đấu tranhchống địch lợi dụng tôn giáo và công tácvận động quần chúng Ba mặt hoạt độngnày có quan hệ ảnh hưởng, bổ sung hỗ trợlẫn nhau, trong đó công tác vận động quầnchúng phải là nội dung cốt lõi, xuyên xuốt,nền tảng chi phối các mặt công tác khác.Các mặt công tác khác chỉ thành công khibiết dựa vào và làm tốt công tác vận độngquần chúng Khẳng định nội dung cốt lõicủa công tác tôn giáo là công tác vận độngquần chúng, không có nghĩa là đồng nhấtcông tác tôn giáo với công tác vận động
Trang 37quần chúng Ngược lại, trong điều kiện
mới, nhất là khi các thế lực thù địch đang
tăng cường lợi dụng tôn giáo để chống phá
cách mạng, thì công tác quản lí nhà nước
về tôn giáo và công tác đấu tranh chống
địch lợi dụng tôn giáo chống chế độ cần
được đặc biệt coi trọng, nhằm làm thất bại
các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi
dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”;
“dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào
công việc nội bộ của Việt Nam
Thứ hai, công tác tôn giáo là trách
nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức
tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội, do đó, công tác tôn giáo không
chỉ là trách nhiệm của chính quyền các cơ
quan chức năng mà còn là trách nhiệm của
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân,
của toàn bộ hệ thống chính trị
Trong Điều 7 của “Pháp lệnh Tín
ngưỡng, Tôn giáo” của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định rõ:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có tránh nhiệm:
Tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn
giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn
giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phản ánh
kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của
nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tínngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước cóthẩm quyền; tham gia tuyên truyền, vậnđộng chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, người
có tín ngưỡng, các tổ chức tôn giáo và nhândân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôngiáo; tham gia xây dựng và giám sát việcthực hiện chính sách, pháp luật về tínngưỡng, tôn giáo
Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn củamình, các cơ quan Nhà nước chủ động phốihợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các tổ chức thành viên của Mặttrận trong việc tuyên truyền, vận động thựchiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng,tôn giáo
Thứ ba, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của đồng bào các tôn giáo.
Đây cũng là trách nhiệm của công táctôn giáo, để giúp đồng bào các tôn giáo,bên cạnh niềm tin tôn giáo là niềm tin có
cơ sở thực tế vào đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước
Với quan điểm trên, đòi hỏi các cấp, cácngành, các địa phương cần tăng cường đầu
tư và thực hiện có hiệu quả các dự án,chương trình, mục tiêu quốc gia, đẩy mạnhtốc độ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội,xóa đói, giảm nghèo cho nhân dân cácvùng khó khăn, đặc biệt quan tâm các vùngđông đồng bào có đạo và vùng dân tộc
Trang 38thiểu số.
Quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín
ngưỡng của quần chúng; tôn trọng tín
ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân
tộc và đồng bào có đạo Thông qua đó tăng
cường sự đồng thuận giữa những người có
tín ngưỡng tôn giáo khác nhau; đồng thời,
tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo,
những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng
tôn giáo làm phương hại đến lợi ích của
quốc gia
Thực hiện chính sách nhất quán về tôn
giáo của Đảng, Nhà nước là cơ sở để đồng
bào các tôn giáo không chỉ quan tâm đến
“việc đạo” mà còn quan tâm cả “việc đời”,
quan tâm đến cuộc sống hiện thực của cá nhân
và cả cộng đồng, nhất là thấy được quyền và
nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thứ tư, bảo hộ các tôn giáo hợp pháp
hoạt động theo pháp luật
Tự do tín ngưỡng tôn giáo là một quyền
nhân thân cơ bản của nhân dân cũng được
đề cập trong Bộ luật Dân sự, được bảo vệ
bằng pháp luật và được cụ thể hóa trong
các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng
ở mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn Sau 5
năm thực hiện, Nghị định số
26/1999/NĐ-CP, “Về các hoạt động tôn giáo” đã được
thay thế bằng “Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn
giáo” Sự ra đời của “Pháp lệnh Tín
ngưỡng, Tôn giáo” là một minh chứng, một
bước tiến và một lần nữa tiếp tục khẳng
định nguyên tắc nhất quán trong chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta là tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo.Thực tế, những chủ trương, chính sáchtín ngưỡng, tôn giáo không phải chỉ đượckhẳng định ở Hiến pháp, pháp luật haytrong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng màđược thể hiện sống động trong cuộc sốnghằng ngày
Cho đến nay, Nhà nước ta đã công nhận
tư cách pháp nhân cho 13 tổ chức tôn giáo
và tiếp tục xem xét theo tinh thần của
“Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo” Có thểkhẳng định, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
đã và đang diễn ra bình thường ở mọi nơitrên đất nước Việt Nam
Rõ ràng là chỉ có trên cơ sở đó, các chếtài pháp luật, các biện pháp quản lí nhànước về đất đai, xuất bản, đối ngoại, giáodục - đào tạo và các quy định của chínhquyền các cấp liên quan đến tôn giáo mới
có tính khả thi mang lại hiệu quả; công tácchống địch lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáotuyên quyền mê tín dị đoan, trục lợi cánhân, lợi dụng tôn giáo vào các mục đíchchống đối Đảng, Nhà nước và chế độ,phòng chống các tệ nạn xã hội và nhữngbiểu hiện không lành mạnh trong đời sốngvăn hóa xã hội mới được sự hỗ trợ và sựtham gia tích cực, tự giác của đồng bào cóđạo, các biện pháp chống phản động trongtôn giáo mới thiết thực
Thứ năm, ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín
Trang 39ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi
ích chung của đất nước, vi phạm tự do tôn
giáo của nhân dân.
Công tác tôn giáo không đơn thuần là
công tác tư tưởng, mà cốt lõi là công tác
vận động quần chúng, tổ chức thuyết phục
giáo dục quần chúng quán triệt, thực hiện
thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng
Đó là cuộc đấu tranh gay go quyết liệt và
phức tạp làm thất bại âm mưu thủ đoạn của
các thế lực thù địch hòng lợi dụng tôn giáo
để lôi kéo mua chuộc quần chúng chống
phá cách mạng Việt Nam Công tác tôn
giáo có tác động lớn đến xây dựng, phát
triển lực lượng cách mạng của quần chúng,
có ảnh hưởng lớn đến quá trình tồn tại, phát
triển của dân tộc, của đất nước và sự sống
của toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Đảng
lãnh đạo Do đó, ngoài việc phải tăng
cường đầu tư và đẩy mạnh tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất,
văn hóa cho nhân dân các vùng khó khăn,
đặc biệt là đồng bào tôn giáo, “tạo điều
kiện cho các tôn giáo hoạt động bình
thường theo đúng chính sách, pháp luật của
Nhà nước” (13), nhằm bảo vệ quyền tự do
tôn giáo của nhân dân thì cũng phải thực
hiện tốt sự bảo hộ của Nhà nước về các
hoạt động tôn giáo hợp pháp, đúng pháp
luật, đảm bảo cho các sinh hoạt tín ngưỡng,
tôn giáo của tín đồ, chức sắc được diễn ra
bình thường, ổn định; kiên quyết ngăn chặn
có hiệu quả hoạt động lợi dụng tự do tín
ngưỡng, tôn giáo chống phá sự nghiệp cách
mạng của nhân dân Việt Nam
Như vậy, từ khi có Nghị quyết số 24 –NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VI), nhất
là sau Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hànhTrung ương khóa IX đến nay, nhận thứccủa Đảng ta về tôn giáo và công tác tôngiáo đã có sự đổi mới một cách hệ thống,đồng bộ, trên tất cả các mặt từ tư duy đếnhành động; từ tư tưởng đến tổ chức Điều đó
đã góp phần to lớn làm “hạ nhiệt” các “điểmnóng” tôn giáo, ổn định tình hình chính trịtrong nước vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.r
11 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ
bảy, BCH Trung ương khóa IX, Nxb CTQG, H., 2003, tr.46.
12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ
bảy, BCH Trung ương khóa X, Nxb CTQG, H., 2006, tr.122
13.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ
bảy, BCH Trung ương khóa IX, Nxb CTQG, H., 2003, tr.51.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo.- 2013.- Số 2.- Tr.3-10.
Trang 40Từ lâu tôn giáo đã từng là đối tượng
nghiên cứu của nhiều lĩnh vực
khoa học và hiện nay đang được sự
quan tâm của nhiều người
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
-Lênin đã để lại cho nhân loại những giá trị
lớn lao trên lĩnh vực khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội - nhân văn, trong đó có tôn
giáo Mặc dù C Mác, Ph Ăngghen và V.I
Lênin không coi tôn giáo là đối tượng
nghiên cứu chủ yếu của mình, nhưng trong
sự nghiệp cách mạng mà các ông lãnh đạo
đã vấp phải lực cản không nhỏ từ phía giáo
hội Một số giáo sĩ phản động ra sức chống
phá cách mạng, cả trên phương diện học
thuyết đến hiện thực
Đến nay, qua một thời kì dài trải nghiệm
từ thực tế, chúng ta có điều kiện và thời
gian nghiên cứu để đánh giá các quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo một
cách đầy đủ và sâu sắc hơn Có những quan
điểm của các ông sống dài qua năm tháng,
trở thành nguyên lí cho mọi thời đại.Nhưng có những vấn đề liên quan đến tôngiáo thời các ông chưa được đặt ra, hoặcđến nay đang bị lịch sử vượt qua cần đượchoàn thiện và bổ sung
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Lênin đưa ra những quan điểm của mình
Mác-về vấn đề tôn giáo (nếu lấy dấu mốc nămmất của C Mác năm 1883, Ph Ăngghennăm 1895 và V.I.Lênin năm 1924) cho đếnnay đã trên dưới một thế kỉ Khoảng thờigian ấy thế giới đã có những biến đổi quantrọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,tôn giáo không thể không thay đổi khi chịu
sự tác động của hoàn cảnh lịch sử mới nhất là xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.Học thuyết Mác-Lênin là học thuyết mở,chứ không phải như một công thức toánhọc đúng cho mọi thời đại Vì vậy, nhậnthức lại để bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện
-và phát triển những quan điểm của chủ
ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ TÔN GIÁO TRưỚC SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA THỜI ĐẠI NGÀY NAY
?PGS, TS NGUYỄN Đức Lữ
Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh