HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ĐỖ MINH ANH NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA CÁI BỘ PHẬN VÀ CÁI CHỈNH THỂ VỚI TƯ CÁCH LÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA C.MÁC TRONG BỘ “TƯ BẢN Ngành
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐỖ MINH ANH
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA CÁI BỘ PHẬN
VÀ CÁI CHỈNH THỂ VỚI TƯ CÁCH LÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA C.MÁC TRONG BỘ “TƯ BẢN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐỖ MINH ANH
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA CÁI BỘ PHẬN VÀ CÁI CHỈNH THỂ VỚI TƯ CÁCH LÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA C.MÁC TRONG BỘ “TƯ BẢN
Ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS BÙI THANH QUấT
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS Bùi Thanh Quất Kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và có cơ sở rõ ràng Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khoa học khác
Hà Nội, ngày10tháng08năm 2014
Tác giả luận văn
ĐỖ MINH ANH
Trang 4MỞ ĐẦU 1 Chương 1 : LƯỢC SỬ VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
CÁI BỘ PHẬN VỚI CÁI CHỈNH THỂ TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 10
1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận với cái chỉnh thể trong triết
học Hy Lạp cổ đại 11 1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận với cái chỉnh thể trong triết
học trung cổ Tây Âu 16 1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận với cái chỉnh thể trong triết
học Phục hưng - khai sáng 17 1.4 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận với cái chỉnh thể trong triết
học cổ điển Đức 21 1.5 Khái niệm bộ phận và chỉnh thể theo quan điểm Mác-xít 28
Chương 2:NGUYÊN TẮC THỐNG GIỮA CÁI BỘ PHẬN VÀ CÁI
CHỈNH THỂ ĐƯỢC C.MÁC VẬN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨATRONG BỘ “TƯ BẢN” 32
2.1 Khái quát về bộ “Tư bản” 32 2.2 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể một số tác
phẩm trước “Tư bản” của C.Mác 37 2.3 C.Mác vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh
thể trong quá trình nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong bộ “Tư bản” 44 2.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận
và cái chỉnh thể của C.Mác trong “Tư bản” 65
KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Hồ Chí Minh viết:“Non song Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn
ở công học tập của các em” [40, tr.33] Đã gần 70 năm kể từ ngày lời dặn dò
đó được viết ra, và cũng kể từ ấy lời dặn dò đã trở thành nhiệm vụ không những chỉ đối với những học sinh Việt Nam, mà hơn thế nữa là còn đối với mọi thế hệ người Việt Nam yêu nước, nhiệm vụ đó là: cần phải làm những gì
tốt đẹp nhất, để đưa đất nước có thể “sánh vai được với các cường quốc năm châu” Tuy nhiên, nhận thức ra làm sao và hành động như thế nào để có thể đưa Việt Nam “sánh vai được với các cường quốc năm châu” theo như lý
tưởng của Người, thực sự đó là một điều cần phải trăn trở ở mỗi người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh
Đối với những người làm công tác triết học ở Việt Nam nhiệm vụ ấy bước đầu được hiểu là: với thế giới quan triết học Mác-Lênin cần tự giác thực hiện trước hết là trong nhận thức, sau đó là trong hành động, ra làm sao, như
thế nào để vươn tới được tầm vóc về cái “triết của Việt Nam đã trở thành cái triết hiện đại” được hiểu như là:
Cái triết đang sinh thành, cái triết khách quan của quá trình ra đời, hình thành nên một Việt Nam Mới trong tương tác với một Thế Giới Mới, tức là tương tác với cái thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa toàn diện - tức cũng là trong tương tác với một Thế Giới chỉnh thể đang sinh thành, đang ra đời [54, tr 7]
Với ý nghĩa đó, việc nắm được thực chất tinh thần những nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, để vận dụng vào việc xem xét xã
Trang 6hội Việt Nam hiện đại là một yêu cầu hết sức quan trọng Song, việc nhận nhìn về một thời đại, một xã hội luôn luôn vấp phải những vấn đề hóc búa cả
về lý luận lẫn thực tiễn Tuy nhiên, theo tinh thần đã được đề ra ở trên thì giải pháp hiệu quả duy nhất đó là học tập và vận dụng sự phân tích khoa học theo phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà C.Mác đã thể hiện và trình bày như một kiểu mẫu trong bộ “Tư Bản” Trong số những phương pháp được C.Mác vận dụng và thể hiện khi nghiên cứu hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa trong bộ “Tư Bản” cần phải nói tới nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể Dưới góc độ của vấn đề được đặt ra ở đây, nguyên tắc này có thể được xem như một nguyên tắc khả hữu để đưa tới một
nhận thức: “minh triết về một Việt Nam đang được tạo ra trong cái thế giới chỉnh thể và minh triết về cái thế giới chỉnh thể đang được tạo ra, trong đó
phải có Việt Nam như một bộ phận cấu thành hữu cơ” [54, tr 8]
Với ý nghĩa đó, người viết lựa chọn đề tài: Nguyên tắc thống nhất giữa cái
bộ phận và cái chỉnh thể với tư cách là phương pháp nghiên cứu của C.Mác trong bộ “Tư bản” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành triết học
2.Tình hình nghiên cứu
“Tư bản” là tác phẩm quan trọng bậc nhất của chủ nghĩa Mác, do đó cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm này Điều đó cho thấy bộ “Tư bản” chứa đựng rất nhiều những suy tư, tìm tòi khoa học trên nhiều phương diện, cho nên nó thực sự là một chất kích thích, một kho tàng hấp dẫn đối với tư duy khoa học nói chung và tư duy triết học nói riêng
* Một số công trình nghiên cứu về bộ “Tư bản”
M.M.Rô-den-tan (1962): Những vấn đề về phép biện chứng trong bộ
“Tư bản” của Mác, Nxb Sự thật, HN Đây là công trình nghiên cứu công phu
về bộ “Tư bản”, tác giả đã tập trung khai thác những vấn đề về mặt phương pháp luận triết học được C.Mác thể hiện trong tác phẩm Thông qua công
Trang 7trình này tác giả đã trình bày khá đầy đủ những phương diện cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật của C.Mác, đồng thời tác giả cũng cho thấy được sự vận dụng chính những phương pháp nghiên cứu của C.Mác trong “Tư bản” vào công trình của mình một cách nhuần nhuyễn Công trình này cho đến nay vẫn được xem như một trong những công trình tiêu biểu hàng đầu về nghiên cứu “Tư bản” trên lập trường của triết học Mác-Lênin Ở Việt Nam từ bấy lâu nay, nó vẫn có một sức ảnh hưởng rộng rãi, sâu đậm trong giảng dạy và nghiên cứu triết học Người viết kế thừa từ công trình này cách thức tiếp cận
bộ “Tư bản” từ khía cạnh triết học Mác-Lênin
Đ.I.Rô-den-be: Giới thiệu về bộ “Tư bản”, Nxb Sự thật Đây là bộ sách
được chia làm ba tập tương ứng với mỗi tập tác giả lần lượt giới thiệu ba quyển của bộ “Tư bản” (Tập I được xuất bản năm 1969, tập II được xuất bản năm 1971, Tập III được xuất bản năm 1973) Đây là công trình nghiên cứu khá chi tiết và toàn diện về bộ “Tư bản” Thông qua mỗi tập, tác giả đã lần lượt giới thiệu những nội dung cơ bản của bộ “Tư bản”, đồng thời cũng làm sáng tỏ phần nào những giá trị về mặt phương pháp luận được C.Mác vận dụng trong quá trình nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Như nhiệm vụ mà tác giả đã đề ra trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất, công trình này tập trung chủ yếu vào việc hiểu rõ đối tượng và trình tự nghiên cứu của mỗi phần cũng như mỗi chương trong bộ “Tư bản”, đồng thời cũng cố gắng làm rõ quá trình phát triển tư duy lý luận của C.Mác thông qua bộ “Tư bản” Những cố gắng của tác giả trong ba tập sách cho thấy tác giả đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra Điểm cơ bản của công trình này, là khai thác
bộ “Tư bản” chủ yếu từ khía cạnh là một tác phẩm kinh tế chính trị học Lênin Tất nhiên bên cạnh đó, tác giả cũng có đề cập và thể hiện được những giá trị về mặt phương pháp luận triết học của C.Mác trong “Tư bản”, mặc dù khía cạnh đó không phải là chủ yếu Công trình này thực sự là một tài liệu dẫn
Trang 8Mác-nhập cho những ai thực hiện những bước đầu trong việc tiếp cận bộ “Tư bản” một cách khoa học Người viết kế thừa từ công trình này cách tiếp cận những phạm trù trong “Tư bản” dưới khía cạnh kinh tế chính trị học Mác-Lênin
T.I Ôi- déc- man và V.A Léc- Tooc- xki (Chịu trách nhiệm xuất bản)
(1986): “Lịch sử phép biện chứng Mác-xít: từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác đến giai đoạn Lênin”, Nxb: Tiến bộ, Mát-xcơ-va Đây là công trình khoa học
công phu của tập thể tác giả các nhà triết học Liên Xô trước đây, do vậy đây
là công trình nghiên cứu triết học Mác chuyên sâu Sách được chia ra làm ba phần, trong đó riêng phần thứ hai dành trọn sự nghiên cứu cho những vấn đề triết học của bộ “Tư bản”, mà cơ bản là những vấn đề thuộc về phương pháp luận Phần hai của bộ sách gồm tám chương (từ chương IV đến chương XI) tương ứng với mỗi chương là một tác giả phụ trách, do vậy mỗi chương thể hiện như một tiểu luận triết học về bộ “Tư bản” Thông qua tám chương của phần hai, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu của C.Mác sử dụng trong
bộ “Tư bản” đã được các tác giả trình bày một cách sâu sắc, toàn diện Đồng thời do mỗi tác giả phụ trách một chương, chính vì vậy cuốn sách đã thể hiện được sự tiếp cận triết học đến bộ “Tư bản” được thực hiện từ nhiều phương thức khác nhau Bởi vậy cuốn sách còn thể hiện không những chỉ là sự kế thừa, phát huy mà còn là tinh thần sáng tạo làm giàu có thêm di sản lý luận của triết học C.Mác Người viết kế thừa từ công trình này cách thức khai thác
bộ “Tư bản” trên bình diện phương pháp luận triết học Mác
E.V.I-Len-côv: “Lôgic học biện chứng”, Nxb Văn hóa thông tin, HN,
2002 Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về lôgic học biện chứng, tuy nhiên hàm chứa trong nội dung công trình này cũng có đề cập nhiều những vấn đề về phương pháp nghiên cứu của C.Mác trong “Tư bản” Tác giả của công trình với tư duy biện chứng sắc xảo, đã thực sự thể hiện được thực chất phương pháp nghiên cứu của Mác trong “Tư bản” So với nhiều công trình
Trang 9nghiên cứu cùng thuộc mảng đề tài, thì công trình này tỏ ra có những điểm sâu sắc hơn trong cách tiếp cận và trình bày vấn đề Luận văn đã cố gắng học hỏi nhiều phong cách tư duy biện chứng sắc xảo của tác giả, đặc biệt là cách tiếp cận với lịch sử triết học theo tinh thần biện chứng duy vật, cũng như cách hiểu đối với các phạm trù triết học Mác
* Một số công trình nghiên cứu thể hiện nguyên tắc thống nhất giữa
Trần Đức Thảo (1988): “Vấn đề con người và chủ nghĩa “Lý luận không có con người””, Nxb TP.HCM, TP.HCM Đây là công trình nhằm bảo
vệ và phát huy quan điểm triết học duy vật biện chứng về vấn đề con người, đồng thời phê phán chủ nghĩa “Lý luận không có con người” đã được phái Althusser xây dựng những năm 1960 ở Pháp, gắn liền với “cách mạng văn hóa vô sản” của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc Thông qua tác phẩm này, tác giả đã thể hiện rõ nét nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể trong quá trình tiếp cận và trình bày những quan điểm của triết học C.Mác
về vấn đề con người
Hai công trình trên đây của cố Giáo sư Trần Đức Thảo đã là những tiền
đề lý luận trực tiếp, được người viết luận văn này kế thừa trong quá trình thực
Trang 10hiện luận văn của mình, đặc biệt là trong phần tiếp cận với vấn đề giai cấp vô sản trong bộ “Tư bản” và một số tác phẩm trước “Tư bản” của C.Mác
Bùi Thanh Quất (2006): Biện chứng trong “Tuyên ngôn độc lập”; (2011) Góp thêm suy nghĩ về minh triết và minh triết Việt, báo cáo tham gia
tọa đàm khoa học “minh triết có ích gì cho hiện nay”, Trung tâm minh triết
Việt; (2012) Đôi điều trăn trở về “Thời đại Hồ Chí Minh” Những công trình
này được thể hiện dưới dạng một bài báo hoặc một báo cáo khoa học có dung lượng ngắn gọn xúc tích Điểm chung trong những công trình này là: trong khi tiếp cận vấn đề xã hội Việt Nam hiện trong tương quan với thế giới hiện nay, tác giả đã thể hiện nguyên tắc thống nhất biện chứng giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể Đây là những tiền đề lý luận trực tiếp được người viết luận văn này kế thừa trong suốt quá trình triển khai luận văn, đặc biệt là trong việc thấy
ra ý nghĩa của nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể trong nhận thức xã hội Việt Nam hiện nay
Ngoài những công trình đã được khái quát trên đây, còn một số công trình khoa học, bài báo được tác giả tiếp cận và tham khảo trong quá trình
thực hiện luận văn như: Đanien Benxaiđơ (1988): “Mác người vượt trước thời đại: Những niềm vinh quang và nỗi đau khổ của một công cuộc mọi hiểm có tính chất phê phán (thế kỷ XIX-XX)”, Nxb Chính trị quốc gia, HN Nguyễn Trọng Chuẩn, IU.K.Pletnicốp (2009): “Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội”, Nxb Khoa học xã hội, HN V.P.Cu-dơ-min (1986): “Nguyên lý tính hệ thống trong lý luận và phương pháp của C.Mác”, Nxb Sự thật, HN Ô-guy- xtơ-cooc-nuy (1976-1979): “C.Mác và Ph.Ăngghen cuộc đời và hoạt động”,Nxb Sự thật, HN (Gồm 6 tập: Tập I, 1976 Tập II,III,IV 1978 Tập V,
1979 Tập VI, 1980) P.N.Phê-đô-xê-i-ép (chủ biên) (1975): “C.Mác tiểu sử” (hai tập), người dịch: Trần Việt Tú,Nxb: Khoa học xã hội, HN Trần Đức Thảo (1956): “Hạt nhân duy lý” trong triết học Hêghen”, tập san ĐH (văn
Trang 11khoa)số 6 -7; Trần Đức Thảo (1995): “Lịch sử tư tưởng trước Mác”, Nxb Khoa học xã hội, HN; Trần Đức Thảo (1996): “Tìm về cuội nguồn của ngôn ngữ và ý thức”, Người dịch: Đoàn Văn Chúc, Nxb Văn hóa thông tin, HN Trần Đức Thảo (2004): “Hồi ký”, nguồn:http://viet-studies.info Trần Đức Thảo (2004) “Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng”, Nxb Đại học
quốc gia HN, HN…
Những công trình nói trên, trực tiếp hoặc gián tiếp, ở các mức độ và khía cạnh khác nhau, đã thể hiện nguyên tắc thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình khoa học độc lập nào nghiên cứu chuyên biệt, trực tiếp và có hệ thống về vấn đề nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể được C.Mác vận dụng trong bộ “Tư bản” Xuất phát từ chính yêu cầu của việc nắm vững thực chất những nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác trong công tác triết học ở Việt Nam hiện nay, đối chiếu với tình hình nghiên cứu trên, người viết chọn đề tài:
Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể với tư cách là phương pháp nghiên cứu của C.Mác trong bộ “Tư bản” làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên phương diện phân tích, làm rõ nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể trong nghiên cứu được C.Mác sử dụng trong bộ “Tư bản”, thấy ra ý nghĩa của nguyên tắc phương pháp luận này trong việc nhìn
nhận, đánh giá các vấn đề chính trị xã hội hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Lược sử về nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể trong lịch sử triết học
Trang 12- Phân tích nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể trong nghiên cứu được C.Mác vận dụng trong bộ “Tư bản”
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và
cái chỉnh thể trong nghiên cứu được C.Mác vận dụng trong bộ “Tư bản”
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ quá trình C.Mác
vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể trong bộ
“Tư bản” chủ yếu trên hai nội dung là: “hàng hóa sức lao động” và “người công nhân”
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng
và phương pháp luận biện chứng duy vật Đồng thời luận văn cũng kế thừa những thành quả của công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, phân tích, tổng hợp, diễn dịch và quy nạp…
- Phương pháp thu thập thông tin: luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu
6 Đóng góp mới của luận văn
Đề tài là một sự chủ động tiếp cận và bước đầu giải quyết vấn đề theo
sự định hướng và khẳng định nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể trong triết học, đã được C.Mác chủ động sử dụng trong bộ “Tư bản”, đồng thời tạo bước đi ban đầu đối với những ai quan tâm tới vấn đề dung nguyên tắc này để nhận thức xã hội hiện đại
Trang 137 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy triết học Mác-Lênin Đồng thời, có thể vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể trong “Tư bản” của C.Mác vào việc nhận nhìn các vấn đề của xã hội hiện nay
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn có cấu trúc gồm 2 chương và 9 tiết
Trang 14Chương 1 LƯỢC SỬ VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA CÁI BỘ PHẬN
VỚI CÁI CHỈNH THỂ TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Trong quá trình tồn tại và phát triển con người với tư cách là một bộ phận của chỉnh thể thế giới, cho nên nó luôn phải thiết lập và duy trì mối quan
hệ mật thiết với chỉnh thể ấy, nghĩa là con người phải liên tục thực hiện mối quan hệ “song trùng” (nói theo cách của C.Mác): liên hệ giữa con người với
tự nhiên và liên hệ giữa con người với nhau Sự liên hệ ấy khác với sự liên hệ của các giống loài khác ở chỗ: nếu như ở những giống loài khác cách thức liên hệ được thực hiện thụ động, do phải tuân theo những quy luật sinh học thuộc về bản năng, bởi vậy mang tính một chiều Ngược lại, ở con người sự liên hệ ấy, ngoài những tính chất có ở những giống loài khác thì yếu tố đặc trưng phân biệt là: nó thực hiện sự liên hệ một cách có ý thức, thông qua sự liên hệ, con người phản chiếu thế giới vào trong bản thân mình theo cách của mình Chính vì vậy, nó nhận thức thế giới như “thân thể vô cơ” (nói theo cách của C.Mác), như đời sống kéo dài của chính nó, đồng thời nó cũng thấy chính bản thân mình như thế giới được có nó theo cách thức đặc thù của nó
Trong thời kỳ cổ đại khi phương thức sản xuất của con người có sự gắn bó mật thiết với tự nhiên, hay nói đúng hơn là chưa có sự phân tách giữa con người với tự nhiên trong phương thức sống, thì thế giới quan đặc trưng trong giai đoạn này là con người nhìn thế giới như một bức tranh sinh động, toàn vẹn, tuy nhiên chưa được giải thích một cách chi tiết Truyền thống đó bị mai một dần dần khi phương thức sống của con người thay đổi, cụ thể khi quá trình phân công lao động xã hội nảy sinh Khi đó, từng bộ phận người sẽ gắn với từng bộ phận của điều kiện và địa bàn sản xuất, chính vì vậy mỗi người sản xuất là một cá tính bị quy định theo chính điều kiện địa bàn sản xuất của
họ Quá trình đó được thực hiện ngày càng sâu sắc, thì hệ quả kéo theo cũng
Trang 15ngày càng rõ rệt: sự hiểu biết mang tính chỉnh thể bị phá vỡ để thay vào đó là
sự hiểu biết mang tính bộ phận, mảnh đoạn ngày càng tăng cường Song do chỗ, con người là một bộ phận thuộc chỉnh thể tự nhiên, chính bởi vậy sự không thể tách rời của nó với toàn bộ chỉnh thể là một sự thực (cả về phương thức sinh tồn lẫn phương thức tư duy) Trong quá trình sống của mình, nó không thể không tự giác thực hiện quá trình thâm nhập, hòa quyện vào chỉnh thể một cách tự giác, nếu như nó không muốn tự kéo mình xuống ngưỡng của
sự thoái hóa, thậm chí là tuyệt diệt
Sự thay đổi về phương thức sống như vậy được phản ánh tập trung nhất trong triết học, với tư cách là sự phản tư thời đại
1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận với cái chỉnh thể trong triết học Hy Lạp cổ đại
Nếu như xem khởi điểm của triết học Tây Âu là từ triết học của Ta-lét, thì ngay từ những suy tư triết học đó đã đụng chạm tới vấn đề bộ phận và chỉnh thể Bởi khi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi như: thế giới bắt nguồn
từ đâu, trật tự của thế giới được thiết lập trên cơ sở nào, có hay không sự vận động và phát triển trong thế giới thì các nhà triết học bắt buộc phải đụng chạm tới vấn đề bộ phận và chỉnh thể, bởi tự tính của những nội dung đó đã hàm chứa vấn đề này Chính vì vậy, có thể thấy được sự thể hiện vấn đề trong các luận điểm của các nhà triết học trong thời kỳ này theo những cách thức khác nhau Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ nó được thể hiện ở trình độ nào: tự phát hay tự giác Sự tự giác trong cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề rõ ràng là một quá trình
Xem xét lịch sử triết học Hy-lạp cổ đại, có thể thấy triết học Hê-ra-clít
đã đề cập tới vấn đề bộ phận và chỉnh thể, song còn mang nặng tính tự phát và chủ yếu được đề cập dưới khía cạnh bản thể, hay nói rõ hơn là: đề cập trên
Trang 16phương diện chỉnh thể thế giới có con người, nhưng con người chưa thể hiện mình đầy đủ với tư cách là bộ phận của chỉnh thể
Trong triết học của Hê-ra-clít, điểm đặc sắc là, ông xem thế giới như một sinh thể sống động, tức là nó có quá trình phát sinh, phát triển và biến đổi không ngừng, tuy nhiên sự biến đổi đó không phải là hỗn độn mà là sự biến đổi tuân theo những quy luật khách quan, mà ông gọi là Lô-gốt Khi ông nói:
“mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng” [83, tr.181], thì vấn đề không chỉ dừng lại
với ý nghĩa là lửa - bản nguyên, cơ sở của mọi vật, mà thực chất còn muốn nói đến một phương diện khác, đó là trong tất cả mọi sự, mọi vật đều có sự thể hiện của chỉnh thể, bản chất của mỗi sự vật đều mang trong mình nó bản chất của chỉnh thể Cái đích trong quá trình nhận thức của con người cần phải đạt được là: nhận thức Lô-gốt, tức nghĩa là những quy luật khách quan (hay cũng có thể nói là phương thức sống của chỉnh thể) Chính vì vậy, theo ông hiểu biết nhiều chưa chắc đã là nhà thông thái, mà phải là sự hiểu biết đạt tới tính thống nhất về chỉnh thể thế giới Như vậy, trong triết học của Hê-ra-clít vấn đề chỉnh thể và bộ phận được đặt ra với ý nghĩa là nguyên tắc của nhận thức theo tinh thần biện chứng cho dù còn mang nặng tính ngây thơ, tự phát
Vấn đề bộ phận và chỉnh thể được thể hiện rõ ràng hơn trong những quan điểm triết học của trường phái Ê-lê Họ lập luận rằng các sự vật hiện tượng trong thế giới là phong phú, đa dạng muôn hình, muôn vẻ tuy nhiên đều
có sự thống nhất chung là ở chỗ “Tồn tại” Bản chất của “Tồn tại” lại là bất biến, vĩnh viễn và không thể mất đi được Mặc dù các sự vật không ngừng biến đổi từ sự vật này sang sự vật khác, từ dạng tồn tại này sang dạng tồn tại khác nhưng bản thân “Tồn tại” nói chung không thay đổi Nó là sự đồng nhất với chính bản thân nó Theo cách quan niệm này các nhà triết học Ê-lê được đánh giá là siêu hình Tuy nhiên, nếu nhìn ở phương diện tích cực, thì có thể
Trang 17thấy rằng trong quan niệm đó đã thể hiện được sự trưởng thành vượt bậc về tư duy trừu tượng trong triết học, tư duy muốn vươn tới sự hiểu biết mang tính tổng quát, toàn vẹn về thế giới Song, do chỗ tuyệt đối hóa tính toàn vẹn của tồn tại thế giới, cho nên “Tồn tại” trong triết học của trường phái Ê-lê dễ đưa tới hình dung về một chỉnh thể bất động, nhợt nhạt, thiếu sinh khí và không
có sự thống nhất trong đa dạng của những bộ phận cấu thành
Một bước tiến mới trong cách đặt vấn đề giải quyết vấn đề bộ phận và chỉnh thể trong triết học Hy-lạp cổ đại được thể hiện thông qua triết học của A-na-xa-gor Ông không nhất trí với các quan điểm nhất nguyên của các nhà triết học tiền bối, vì ông cho rằng với quan điểm đó thì họ không giải thích được tính thống nhất nhưng đồng thời cũng rất đa dạng của thế giới Chính vì vậy, ông quan niệm, mỗi sự vật chỉ có thể được nảy sinh từ khởi nguyên củachính nó, tức là các hạt giống (trủng tử), do vậy số lượng các hạt giống với
tư cách là khởi nguyên là cái tạo nên các sự vật, hiện tượng trong thế giới là
vô cùng, vô tận Tuy nhiên, các sự vật, hiện tượng trong thế giới lại có quá trình chuyển hóa, biến hóa không ngừng Do vậy, bất kỳ hạt giống nào cũng đều không thuần nhất, mà nó chứa đựng trong đó hạt giống của tất cả mọi sự vật còn lại nhưng ở mức độ nhỏ hơn Nó tựa như một chỉnh thể chứa đựng
mọi cái đang tồn tại Luận điểm nổi tiếng cho thấy điều đó là: “mọi cái được trộn lẫn trong mọi cái” [83, tr.199] Điều đó cho thấy, A-na-xa-gor đã hiểu
được về tính thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể, ở phương diện mỗi cái bộ phận là sự thể hiện trong nó toàn bộ cái chỉnh thể
Với tham vọng tạo ra một hệ thống triết học mới, dựa trên sự kế thừa trực tiếp di sản triết học của Xô-crát và của các nhà triết học tiền bối Triết học Pla-tôn đã tạo nên một bước đột phá, mà như sự đánh giá của Hê-ghen sau này là có ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển tư tưởng nói chung, tới văn hóa tinh thần của nhân loại Từ cách đặt vấn đề rằng: nhận thức chân
Trang 18chính phải đạt tới là nhận thức khái niệm về sự vật, mà khái niệm được hiểu
là sự thống nhất xuyên qua các sự vật riêng lẻ Pla-tôn thấy rằng sự thống nhất
đó không chỉ tồn tại trong phạm vi của nhận thức con người, thực chất nó là một tồn tại chân thực với tư cách là bản nguyên của thế giới Song, tồn tại đó không thể là sự đồng nhất trực tiếp với sự vật cảm tính cụ thể, riêng lẻ, nó phải thuộc về một thế giới khác Chính vì vậy, theo ông thế giới chân thực là thế giới của các ý niệm, còn thế giới của các sự vật cụ thể chỉ là sự thể hiện của thế giới đó Tuy vậy, thực chất nó vẫn là một chỉnh thể, vấn đề chỉ là tính quyết định nằm ở thế giới ý niệm Quan điểm đó được đánh giá là duy tâm
Trong nhận thức, Pla-tôn quan niệm cái đích của quá trình nhận thức là phải đạt tới ý niệm về sự vật, muốn đạt tới lý tưởng đó thì con người phải sử
dụng khả năng nhận thức lý tính của mình: “con người tiếp cận với mỗi sự vật chỉ duy nhất bằng các phương tiện của tư duy, không sử dụng thị giác, một giác quan nào khác trong quá trình suy luận” [8, tr.128] Để thực hiện quá
trình này, Pla-tôn có nêu sự minh họa về “sự hồi tưởng của linh hồn” theo đó nhận thức của con người là sự “nhớ lại” những gì đã có, vì linh hồn là một bản chất lý tưởng nên nó phải thuộc về thế giới ý niệm Do đó, trước khi đến
cư trú trong thể xác con người, nó tồn tại dưới dạng thuần túy, bởi vậy nó có thể tự do liên hệ và in lại những dấu ấn của chỉnh thể thế giới ý niệm ở trong bản thân mình Sự nhận thức của con người sau này chỉ là sự tái hiện lại những dữ kiện đã được thiết lập từ trước mà thôi, hay nói khác đi đó chỉ là sự khai triển phù hợp các bộ phận được quy định từ chỉnh thể Minh họa và kiến giải này gây nhiều tranh cãi trong triết học, nhưng nếu nhìn ở phương diện tích cực sẽ thấy rằng Pla-tôn là người đầu tiên giải quyết vấn đề thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể (đồng thời cả với nguyên tắc thống nhất giữa lịch
sử và lôgic, đồng đại và lịch đại) với ý nghĩa là một nguyên tắc của nhận thức, một cách sâu sắc Theo đó, thì có thể hiểu được rằng nhận thức mỗi cá
Trang 19nhân,với tư cách là cái bộ phận, luôn luôn được đặt trong mối tương quan của chính nó với toàn bộ chỉnh thể, với tư cách là nhận thức của toàn bộ loài người Như vậy, cũng có thể hiểu là thông qua nhận thức của mỗi cá nhân, thì loài người đang triển khai nhận thức theo những cách thức đặc thù, phù hợp với mỗi cá nhân ấy Nói ngược lại, nhận thức của mỗi cá nhân là sự bị quy định của chỉnh thể nhận thức của cả loài, do vậy mà nhận thức của mỗi cá nhân là sự biểu hiện nhận thức của cả loài, là sự triển khai phù hợp nhận thức của cả loài theo cách đặc thù của chính nó Chính vì vậy, mà tri thức về cái bộ phận cần phải được hiểu là sự thể hiện ra làm sao để đạt đến chỗ mô phỏng được toàn bộ chỉnh thể hiền hiện và sinh động như nó mang trong mình Triết học của Pla-tôn là bước đầu tự giác trong cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề
Nhìn chung trong triết học Hy-lạp cổ đại, các nhà triết học dù tự phát hay tự giác, đều bắt buộc phải đụng chạm tới nguyên tắc thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể trong khi triển khai hệ thống triết học của mình Tuy nhiên, sự thể hiện nguyên tắc này chủ yếu tập trung dưới khía cạnh bản thể luận chứ chưa thực sự trở thành nguyên tắc của nhận thức triết học Một số ít nhà triết học đã đề cập đến nguyên tắc này với tư cách là nguyên tắc của nhận thức nói chung, song cũng chỉ dừng lại ở việc đặt vấn đề hoặc đi xa hơn một chút thì chủ yếu giải quyết vấn đề dưới khía cạnh tính quy định của chỉnh thể đến bộ phận, nhưng chưa có sự nhìn nhận rằng nhận thức cái bộ phận cần đặt vào trong mối tương quan với chỉnh thể Song về đại thể, các nhà triết học Hy-lạp cổ đại đều thể hiện được tinh thần biện chứng quý báu, đó là thấy thế giới như là:
Một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ
và những sự tác động qua lại trong đó không có cái gì là đứng nguyên, không thay đổi, mà tất cả đều vận động, biến đổi, phát sinh và mất đi… nhưng cách nhìn ấy, dù cho nó có nắm đúng tính chất chung về toàn bộ bức tranh về các hiện tượng vẫn
Trang 20không đủ để giải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn
bộ và chừng nào chúng ta chưa biết được những chi tiết ấy thì chúng ta chưa hiểu rõ được bức tranh toàn bộ ấy [27, tr 35]
1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận với cái chỉnh thể trong triết học trung cổ Tây Âu
Nét nổi bật trong triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ là sự phụ thuộc hoàn toàn của nó vào thần học Ki-tô giáo, chính vì vậy khi đánh giá về thời kỳ này theo quan điểm truyền thống thì chủ yếu tập trung vào những mặt tiêu cực
Trong triết học thời kỳ này, vấn đề bộ phận và chỉnh thể cũng được đề cập khá nhiều, song nội dung và tính chất thì đối lập với tinh thần của triết học thời kỳ Hy-lạp cổ đại Theo quan điểm của các nhà triết học thời kỳ này, thế giới là một công trình sáng tạo vĩ đại của thiên chúa, mỗi sự, mỗi vật đều
là do bàn tay tạo tác của chúa trời mà nên, do đó ẩn sâu trong mỗi sự, mỗi vật, đều chứa đựng cái được gọi là “Bản chất Chúa” Chính vì vậy, lý tưởng của con người là vươn tới “Bản chất Chúa” nhưng con đường không phải bằng lý tính thông thường mà cơ bản là niềm tin Như vậy, thế giới ở đây là một chỉnh thể thống nhất nhưng đó chỉ là sự thể hiện của một ý đồ tạo tác mang tính siêu việt, do đó cái thế giới đó là thế giới không có tự tính, thế giới của một trò chơi sắp đặt và đồng thời con người không thể nào đạt đến sự nhận thức chân thực, toàn vẹn về nó bằng lý tính thông thường Những tri thức đạt được trên hầu hết các lĩnh vực đều được xem như ân huệ từ sự “Mặc khải” của thiên chúa đối với con người Thiên chúa là vĩnh hằng, tuyệt đối, cho dù về nguyên tắc con người không thể nhận thức được, song vẫn cứ là một lý tưởng hấp dẫn
lí trí loài người Tuy nhiên vấn đề là ở chỗ, con người với tư cách là con người trong thế giới đó sẽ không được công nhận đầy đủ giá trị và địa vị, kể
cả nó có được nói rằng là sáng tạo đặc biệt đầy ân sủng theo như hình bóng của thiên chúa thì sự việc cũng không có gì thay đổi, bởi xét tới cùng nó chỉ
Trang 21được công nhận là địa vị và giá trị của sản phẩm, mà sản phẩm này lại không phải của chính nó, không phải thuộc về nó, nó không có ngôi của kẻ sáng tạo, của chủ thể tự giác ở đây Cho nên, tính quy định của chỉnh thể đến bộ phận
là tuyệt đối và đó cũng là phương diện nhấn mạnh của nguyên tắc nhận thức
về tính thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể, còn sự linh hoạt, bản sắc của bộ phận trong tương quan với chỉnh thể thì hầu như bị triệt tiêu
Với ý nghĩa đó, thì sự rèn luyện về mặt phương pháp tư duy kể cả có được trong triết học thời kỳ này cũng không đưa tới một giá trị chân thực, vì
vô hình chung đối tượng của nhận thức là không chân thực, chủ thể của nhận thức cũng bị hủy hoại tính chân thực
1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận với cái chỉnh thể trong triết học Phục hưng - khai sáng
Triết học thời kỳ này được đánh dấu bằng cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên với thuyết nhật tâm của Cô-péc-ních, nó đã thách thức với uy quyền tuyệt đối của giáo hội Từ đây trở đi, khoa học tự nhiên cũng như các
bộ môn khoa học khác mới được giải phóng khỏi thần học Ki-tô giáo
Bru-nô là nhà triết học, nhà khoa học tự nhiên vĩ đại thời kỳ phục hưng
ở I-ta-li-a là người bảo vệ thuyết nhập tâm của Cô-péc-ních Ông được đánh giá là nhà tự nhiên thần luận, nghiêng về lập trường duy vật hơn cả Phạm trù trung tâm của triết học Bru-nô là “Duy nhất” được lấy từ phái “Pla-tôn mới”, được diễn giải dưới ngôn ngữ tự nhiên thần luận của mình “Duy nhất” chính
là thượng đế tồn tại dưới dạng tự nhiên được hiểu như một thế giới độc lập, chứ không phải do một cái gì đó sáng tạo ra Mọi sự vật chỉ là những biểu hiện cụ thể của “Duy nhất”, sự vật thì biến đổi không ngừng nhưng “Duy nhất” thì bất biến (rất gần với quan niệm về “Tồn tại” của Par-me-nít) Tiếp tục quan niệm khẳng định tính thống nhất của vũ trụ, ông nhận thấy chân lý:
“mọi sự vật đều nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong tất cả mọi vật Chúng
Trang 22ta ở trong vũ trụ và vũ trụ nằm ở trong chúng ta” [84, tr 21] Trong quan
niệm này của Bru-nô đã cho thấy, ông đặt vấn đề về bộ phận và chỉnh thể một cách hết sức biện chứng, đồng thời mang khuynh hướng duy vật khoa học
Tuy nhiên, nét nổi bật trong phương pháp tư duy triết học thời kỳ này là
sự chi phối mạnh mẽ, sâu sắc của lối tư duy siêu hình trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học cổ điển của Niu-tơn Chính vì vậy, mối quan hệ giữa bộ phận và chỉnh thể hầu như không được giải quyết theo tinh thần của phép biện chứng Hệ thống triết học của Đề-các-tơ là một minh chứng cho lối
tư duy siêu hình
Khởi điểm của triết học Đề-các-tơ là hoài nghi, ông không tin vào những gì được xem như tường thành chân lý, đã tồn tại dài lâu trong suốt thời
kỳ trung cổ Đề-các-tơ thấy rằng đã gọi là tri thức khoa học thì phải thỏa mãn những yêu cầu, đó là: phổ biến và nhất quán, muốn đạt được điều đó thì con đường đi hợp lý và lành mạnh phải là lý tính của con người chứ không phải là niềm tin Do đó, Đề-các-tơ thấy rằng chỉ có trong toán học với những phương pháp của nó thì con người mới có thể đạt được những tri thức như vậy Chính
vì vậy, triết học Đề-các-tơ là sự thể nhiệm phương pháp của toán học dưới góc độ triết học Trong khi đề ra những nguyên tắc của nhận thức khoa học
ông nhấn mạnh: “chia mỗi sự vật phức tạp, trong chừng mực có thể làm được, thành các bộ phận cấu thành nên nó để tiện nhất cho việc nghiên cứu
chúng” [84, tr.72] Như vậy, vấn đề thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể
cũng được đề cập đến và được giải quyết ở mức độ nhất định Tuy nhiên, nó lại không được thể hiện một cách nhất quán theo tinh thần của phép biện chứng trong toàn bộ triết học của ông, bởi Đề-các-tơ chỉ chú ý đến sự phân tích chỉnh thể thành các bộ phận riêng rẽ, mà không thấy được rằng trong tự tính thì mỗi bộ phận là sự thống nhất của các bộ phận còn lại trong bản thân
nó, hay nói khác đi nó là sự thể hiện của toàn bộ cái chỉnh thể của nó theo
Trang 23cách đặc thù Bởi vậy, dưới con mắt của ông, thế giới là sự song hành của hai thực thể: một là vật chất, một là tinh thần Hai thực thể đó tồn tại độc lập với nhau, chính vì vậy chúng không có sự thống nhất tự thân để cố kết thành một chỉnh thể mà sự thống nhất đó lại được thực hiện từ bên ngoài, từ một “cái thứ ba”, đó chính là thượng đế Đó cũng chính là bước thụt lùi đưa tới chủ nghĩa duy tâm trong triết học Đề-các-tơ, mà nguyên nhân căn bản bắt nguồn từ vấn
đề phương pháp luận
Đối lập với quan điểm của Đề-các-tơ, triết học của Xpi-nô-za mang tinh thần biện chứng sâu sắc Nhà triết học Hà Lan coi cơ sở và nền tảng thế giới quan của mình là học thuyết về giới tự nhiên như một thực thể duy nhất, tồn tại như là nguyên nhân tự nó, giới tự nhiên ấy, được hiểu cũng chính là bản thân thượng đế chứ không phải đứng trên giới tự nhiên như một lực lượng sáng tạo Giới tự nhiên như một thực thể được Xpi-nô-za hiểu bao gồm những
đặc tính sau: thứ nhất, nó đang tồn tại, toàn vẹn và đầy đủ; thứ hai, nó tồn tại
hoàn toàn độc lập Ngoài toàn bộ giới tự nhiên được hiểu như một thực thể duy nhất thì trên thế gian này không có một cái gì khác Mọi sự vật chỉ là các dạng biểu hiện khác nhau của cùng một thực thể Thực thể là nguồn gốc chung, là cơ sở, là bản chất của mọi sự vật kể cả vật chất lẫn tinh thần, vì vậy mối quan hệ giữa sự vật và thực thể là mối quan hệ hữu cơ giữa tính thống
nhất và tính nhiều vẻ của giới tự nhiên Ông nói: “tôi hiểu chúa là thực thể tuyệt đối vô hạn, thực thể cấu thành từ vô số đặc tính, trong đó mỗi đặc tính đều biểu thị bản chất vĩnh hằng và vô hạn” [8, tr.373]; thứ ba, thực thể là vô
cùng tận về không gian và vĩnh hằng về thời gian, do đó mà thực thể là không thể phân chia được bởi nếu như thế thì nó đã trở thành các sự vật chứ không còn là thực thể nữa Như vậy, vướng mắc về hai thực thể tồn tại song song trong triết học của Đề-các-tơ được Xpi-nô-za biến thành hai thuộc tính của
một thực thể thống nhất và duy nhất, ông khẳng định: “không có thực thể hữu
Trang 24hạn, không có hai thực thể ngang hàng nhau, một thực thể này không thể sinh
ra một thực thể khác” [8, tr 373-374] Thực chất Xpi-nô-za đã giải quyết vấn
đề thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể theo tinh thần triệt để của phép biện chứng Nó thể hiện rõ ràng ở việc, ông đã khắc phục được những hạn chế trong triết học của Đề-các-tơ khi quan niệm về vật chất và ý thức, và mối quan hệ giữa chúng thông qua “cái thứ ba” mà Đề-các-tơ đành phải gán nó là chúa trời, thì Xpi-nô-za cho nó là “thiên nhiên hiện thực vô hạn”:
Chính qua con người mà thiên nhiên đã thực hiện một cách rõ ràng nhất chính hành động mà chúng ta quen gọi là “tư duy” Trong con người qua bộ mặt của nó, tự nhiên tư duy, chứ hoàn toàn không phải là sinh thể hay một khởi điểm hay một nguyên tắc, đặc biệt trú
ẩn ngoài nó, nào đó Trong con người thiên nhiên vì thế tư duy về chính mình, ý thức về chính mình, cảm giác về chính mình và tác động tự bản thân lên chính mình [13, tr 59-60]
Như vậy, cũng có nghĩa rằng con người bằng hoạt động của mình là sự triển khai một cách có ý thức của chỉnh thể tự nhiên Đời sống con người là sự mang vác tự nhiên một cách tự giác
Gần gũi với tinh thần của những quan điểm trên trong học thuyết về
“Đơn tử”, Lép-nít đã quan niệm “Đơn tử” là những phần tử đơn giản nhất mà trong bản thân nó đã có sự thống nhất giữa vật chất và tinh thần Chính chúng
là thực thể tạo sinh ra thế giới phong phú đa dạng Mỗi đơn tử có tính độc lập tương đối tuy nhiên cũng có sự liên hệ hữu cơ với nhau Toàn bộ chúng, nhờ mối liên hệ phổ biến đã tạo thành một chuỗi vô tận, gắn liền mọi sự vật trong
thế giới thành một khối thống nhất tựa như một cơ thể sống Do đó,“mỗi đơn
tử là một chiếc gương sống về thế giới, phản ánh toàn bộ vũ trụ dưới dạng đặc thù của mình” [84, tr 102] Quan điểm của Lép-nít thể hiện tư duy biện chứng
sâu sắc đã mở đường cho các nhà triết học cổ điển Đức sau này
Trang 25Nhìn chung, các nhà triết học thời kỳ này đã có ý thức tự giác trong việc đặt vấn đề và giải quyết vấn đề về sự thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể Tuy nhiên, do sự chi phối của phương pháp tư duy siêu hình mà sự giải quyết vấn đề rút cuộc đã đưa tới chủ nghĩa duy tâm trong triết học mà Đề-các-
tơ là một điển hình Đặc trưng của lối tư duy siêu hình đã đưa tới sự hình dung thế giới như một tổng số các bộ phận giản đơn, cố kết với nhau theo lối
cơ học, máy móc Do đó, tự thân mỗi bộ phận là một tồn tại độc lập, tách rời khỏi những bộ phận khác Tính quy định của chỉnh thể đến bộ phận bị đơn giản hóa trở thành tính quy định của một cộng thể đến các cá thể
Tuy nhiên, tinh thần tư duy biện chứng vẫn được thể hiện khá đặc sắc ở một vài nhà triết học mà Xpi-nô-za là một điển hình Trong triết học của Xpi-nô-za những chướng ngại trong phương pháp tư duy của Đề-các-tơ được khắc phục, đồng thời ông đã mở ra một khuynh hướng tư duy mới đó là tư duy biện chứng tự giác, chính khuynh hướng tư duy này đã có sự ảnh hưởng sâu sắc đến nền triết học cổ điển Đức sau này
1.4 Nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận với cái chỉnh thể trong triết học cổ điển Đức
Người mở đầu nền triết học cổ điển Đức là Can-tơ, trải dài qua
Phích-tơ, Sê-linh và hoàn thiện, đạt đỉnh cao ở Hê-ghen Nét nổi bật của nền triết học cổ điển Đức là phương pháp tư duy biện chứng sắc sảo, đó là cách nhìn nhận vấn đề dựa trên mâu thuẫn nội tại, khách quan và sự chuyển biến từ hình thái này sang hình thái khác, cho dù phương pháp tư duy biện chứng đó lại nằm trong vỏ bọc của triết học duy tâm, nhưng chắc hẳn nó vẫn là suối nguồn
để bất kỳ nền triết học nào sau đó muốn nhìn nhận rõ chân tướng của mình cũng phải tìm về
Triết học của Can-tơ là một bước đột phá trong cách đặt vấn đề, bởi theo ông các nhà triết học trước ông có xu hướng tập trung đi tìm hiểu về thế
Trang 26giới bên ngoài mà ít chú ý đến chính bản thân con người Ông nhận thấy tính vấn đề ở chỗ, đã gọi là thế giới bên ngoài thì có nghĩa không phải là thế giới của mình thuộc về mình, chính vì vậy con người không thể nào có một nhận thức đầy đủ, toàn vẹn, chân thực về thế giới ấy Sự mải miết chạy theo thế giới bên ngoài sẽ tạo nên những kết quả không nhất quán trong kết luận khoa học Mặt khác, đã gọi là tri thức khoa học cần phải đảm bảo yếu tố tất yếu và phổ quát Do đó, Can-tơ chuyển hướng nghiên cứu vào chính con người, ông cho rằng: vấn đề là ở chỗ không chỉ xem tự nhiên như thế nào và ra làm sao
để con người thực hiện đời sống của mình, ngược lại cần phải xem xét xem con người ra làm sao và như thế nào trong quá trình nhận thức tự nhiên Bởi
tự nhiên không có con người và tự nhiên có con người được nhận thức là hoàn toàn khác nhau Theo lập luận đó, thì Can-tơ thấy rằng tri thức của con người có được là do sự phù hợp của đối tượng trước ý thức, chứ không phải là
sự phù hợp của ý thức trước đối tượng Trong ý thức con người có những kết cấu mặc định, để trong quá trình va chạm với hiện thực, thông qua đó con người thu nhận được những cảm giác về hiện thực, những dữ kiện đó được thống nhất trong hình thức tồn tại tinh thần là khái niệm Còn bản thân thế giới như thế nào thì con người mãi mãi không biết, thế giới đó tồn tại một cách tự nó, độc lập với ý thức của con người, thế giới mà Can-tơ gọi là “Vật
tự nó” Theo cách lập luận đó dễ đưa tới cách hiểu là: Can-tơ đã phân tách thế giới ra thành hai mảng hoàn toàn biệt lập với nhau Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ hơn thì sẽ thấy rằng khi thừa nhận “Vật tự nó” là tồn tại khách quan, độc lập với suy nghĩ của con người, nó là bất khả tri trong nhận thức luận, xét về nguyên tắc, tuy nhiên trên thực tế thì hoạt động thực tiễn của con người vẫn
va chạm với “Vật tự nó”, coi đó là đối tượng hoạt động của mình.Mặt khác trong giới hạn của giác tính, thì nhận thức của con người bị ước chế trong khuôn khổ của hiện tượng luận, tuy nhiên con người vẫn luôn có khát vọng
Trang 27vươn tới tri thức tuyệt đối, vươn tới sự tự do vô điều kiện điều đó được thể hiện dưới dạng các ý niệm của lý tính (như linh hồn, chúa trời) Như vậy, lý tính của con người luôn có xu hướng xâm nhập vào lĩnh vực “Vật tự nó” với
tư cách là lý tưởng tuyệt đối, mục đích tột cùng, cho dù, trong mỗi bước đi của nó luôn gặp phải mâu thuẫn không thể giải quyết được (những An-ti-nô-mi) Cách đặt vấn đề của Can-tơ hết sức sâu sắc, bởi hầu hết từ xưa đến nay nhận thức của loài người từng lầm tưởng rằng nhận thức của mình đã bao quát được toàn bộ chỉnh thể của thế giới xung quanh Do vậy, có xu hướng ngộ nhận cái nhận thức trong tính mảnh đoạn là cái nhận thức thực sự về chỉnh thể Chính vì không thấy được rằng con người chỉ nhận thức được những gì là phù hợp với năng lực của nó, hay cũng có nghĩa là nó chỉ nhận thức được những gì mà nó với tư cách chủ thể đã và đang tạo ra Theo nghĩa
lý đó, thì Can-tơ đã tiến tới rất gần chủ nghĩa duy vật lịch sử coi con người vừa là chủ thể đồng thời cũng là sản phẩm của chính mình Chính vì vậy, nhận thức của mỗi cá nhân cũng là nhận thức của cả loài với tư cách sự cô kết, sựđúc rút, sự thể hiện theo những cách đặc thù Trong tương quan của nhận thức con người với “Vật tự nó”, thì đó là một tiến trình vô tận, mà ở đó con người thực hiện sự tự do một cách tuyệt đối, tự coi mình là mục đích của chính mình
Về thực chất, nhận thức của bản thân con người trong tương quan với hiện thực luôn là một mâu thuẫn mà sự triển khai và giải quyết vô cùng tận mâu thuẫn đó tạo nên sự phát triển của nhận thức Đó thực sự là quá trình biện chứng của sự vươn lên hòa nhập với chỉnh thể thế giới một cách tự giác của nhận thức loài người Cách đặt vấn đề bộ phận và chỉnh thể của Can-tơ thực
sự mang tinh thần biện chứng sâu sắc, điều mà trước đó triết học hầu như chưa làm được
Trang 28Tiếp tục truyền thống coi con người là trung tâm của những suy tư triết học, Phích-tơ triển khai hệ thống triết học của mình Triết học của Phích-tơ tập trung trong phạm trù “Cái tôi tuyệt đối”, theo cách hiểu của ông thì chính
là sự thể hiện của một con người lý tưởng theo đúng nghĩa của từ này Hoạt động của “Cái tôi tuyệt đối” là nguồn gốc của mọi vật trên thế giới, từ “Cái tôi tuyệt đối” sinh ra “Cái tôi” và “Cái không - tôi”, quá trình tương tác giữa
“Cái tôi” và “Cái không - tôi” với tư cách hai mặt đối lập được hiểu như quá trình con người thực hiện sự nhận thức và cải tạo giới tự nhiên để trở thành con người lý tưởng, tức nghĩa để trở thành cái tôi tuyệt đối Theo cách đặt vấn
đề như vậy, Phích-tơ đã thể hiện mối quan hệ giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể theo tinh thần biện chứng, tuy nhiên nó còn mang nặng màu sắc thần bí duy tâm Tiếp thu những tư tưởng này của triết học Phích-tơ, Sê-linh đã cải biến “Cái tôi tuyệt đối” của Phích-tơ thành cái “Tuyệt đối” theo nghĩa là sự tồn tại của một thực thể tinh thần sáng tạo ra muôn loài Bản thân cái “Tuyệt đối” là sự đồng nhất tự trong chính nó của tinh thần và vật chất (gần gũi với quan điểm thực thể của Xpi-nô-za) Cái “Tuyệt đối” là một chỉnh thể thống nhất trong đó mọi sự vật liên hệ hữu cơ với nhau thông qua đấu tranh của các mặt đối lập, nó vận động và phát triển qua các giai đoạn mà đỉnh cao là sự xuất hiện con người, thông qua con người cái tuyệt đối có thể tự nhận thức về mình Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người là công cụ để cái
“Tuyệt đối” tự soi tỏ chính bản thân mình
Đỉnh cao trong nền triết học cổ điển Đức là triết học Hê-ghen với “hạt nhân duy lý” là phép biện chứng Đúng như đánh giá của C.Mác:
Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hê-ghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hê-ghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy Ở Hê-ghen, phép
Trang 29biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần
bí [30, tr 35]
Kế thừa tư tưởng của các nhà triết học đi trước, mà trực tiếp là Can-tơ,
Phích-tơ, Sê-linh, Hê-ghen cho rằng:“Phàm cái gì xứng đáng với tên gọi là triết học, thì bao giờ cũng lấy ý thức về sự thống nhất tuyệt đối của cái mà lý trí chỉ thừa nhận trong sự phân ly của cái đó, làm cơ sở cho học thuyết của mình” [11, tr 211] Do đó, triết học của Hê-ghen xuất phát từ “Ý niệm tuyệt
đối”, ông xem nó là cơ sở cho toàn bộ hiện thực và việc thể hiện được nó với đầy đủ mâu thuẫn nội tại cùng với diễn biến của sự chuyển hóa từ trạng thái
này sang trạng thái khác, đó thực sự là công việc của triết học, ông nói:“bản thân tư duy theo phương thức nhận thức của triết học này cần phải được nắm bắt trong sự tất yếu của nó, cũng như cần được biện minh về năng lực của nó trong việc nhận thức cái tuyệt đối” [6, tr 47] Trong triết học của Hê-ghen cho
thấy rõ ông đặc biệt coi trọng vấn đề phương pháp trong nhận thức triết học, bởi vậy khi quan niệm về “Ý niệm tuyệt đối” ông cho rằng, tinh thần sáng tạo ra giới
tự nhiên và con người Mọi sự vật, hiện tượng từ tự nhiên cho đến những sản phẩm của hoạt động con người, chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối Con người là sản phẩm, và cũng là giai đoạn phát triển cao nhất của tinh thần tuyệt đối Thông qua hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người tinh thần tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình, trở về chính bản thân mình Điều đó cho thấy Hê-ghen đặc biệt chú ý tới nguyên tắc thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể với ý nghĩa là phương pháp nhận thức triết học Bởi vậy:
Tồn tại đơn nhất chỉ là một mặt nào đó của ý niệm; do đó,
ý niệm còn cần đến những hiện thực khác là những hiện thực cũng xuất hiện như là tồn tại đặc thù và có vẻ độc lập; chỉ có
Trang 30trong toàn bộ và trong quan hệ lẫn nhau của những hiện thực ấy, khái niệm mới được thực hiện [11, tr 208-209]
Theo lý đó, khi đề cập tới vấn đề bộ phận và chỉnh thể nhất thiết cần phải lưu ý rằng, cái bộ phận chỉ là cài bộ phận khi và chỉ khi nó là cái bộ phận của chỉnh thể, còn cái chỉnh thể là sự thống nhất (hay tính không thể tách rời) trong đa dạng của các bộ phận hợp thành Đó thực sự là sự đồng nhất biện chứng của hai mặt đối lập Mỗi sự vật tồn tại không bao giờ là một sự trừu tượng riêng cho nó, vì nó, bởi nếu như vậy không thể hình dung nổi nó là cái
gì, chỉ khi ở trong một cái khác nó mới thực sự có đời sống, có sinh khí, do đó trong quan hệ với cái khác đó nó thiết lập quan hệ với chính mình, vì thế quan
hệ đó giờ được hiểu là sự thống nhất của quan hệ với chính mình và quan hệ với cái khác
Nguyên tắc thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thểđược thể hiện rõ nét trong quan niệm của Hê-ghen về ý thức con người như là sản phẩm của lịch
sử Trong tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần” ông đã tiếp cận được quan điểm, coi nhân cách và ý thức con người như là sản phẩm của lịch sử, tất nhiên lịch sử nhân loại được biểu hiện ra như là hiện thân của “Ý niệm tuyệt đối” Tiến trình lịch sử của loài người luôn bao hàm và tự thực hiện trong nó nguyên tắc kế thừa Do đó, quá trình phát triển ý thức của mỗi con người được thể hiện ra như là sự “đi tắt” của toàn bộ những gì mà lịch sử nhân loại
đã trải qua Do đó, xã hội được hiểu như là “thực thể của mỗi cá nhân, và như vậy là cái gì đó bên ngoài cá nhân - là thế giới vô cơ của con người” [84,
tr.199] Với ý nghĩa đó, hoạt động của con người càng phát triển bao nhiêu, thì ý thức của con người càng mang bản chất xã hội bấy nhiêu, hay nói đúng hơn thì nó lại càng là sự hiện thân hoàn thiện của “Ý niệm tuyệt đối” bấy nhiêu Quan niệm về nhận thức của con người là tiền đề để ông trình bày quan niệm về triết học và lịch sử triết học Hê-ghen quan niệm lịch sử triết học loài
Trang 31người là sự thể hiện đời sống của tư duy loài người trong tính chỉnh thể, còn mỗi giai đoạn, mỗi trường phái triết học lại biểu hiện ra như là một bộ phận, một mảnh đoạn của toàn bộ cái chỉnh thể ấy Do đó, ông nói:
Nơi các nền triết học tỏ ra khác nhau ấy, lịch sử triết học cho thấy rằng chỉ có một triết học ở các giai đoạn hình thành khác nhau, và mặt khác, cho thấy rằng các nguyên tắc đặc thù làm nền tảng cho từng mỗi một hệ thống đều chỉ là các chi nhánh của một và cùng một cái toàn bộ [6, tr 52]
Đồng thời mỗi giai đoạn, mỗi trường phái triết học với tư cách là cái bộ phận thì nó là sự quy định của toàn bộ cái chỉnh thể, hay nói khác đi nó là sự thể hiện của sự triển khai toàn bộ cái chỉnh thể trong chính mình thông qua phương thức đặc thù của chính mình, do đó:
Mỗi bộ phận của triết học là một cái toàn bộ triết học, là một vòng tròn khép kín trong chính mình, nhưng trong mỗi bộ phận ấy, ý niệm triết học hiện diện trong một tính quy định hay một yếu tố đặc thù Sở dĩ vòng tròn riêng lẻ ấy cũng phá vỡ do sự giới hạn của yếu tố của nó, chính là vì nó là [tính] toàn thể ở bên trong nó và nó đặt cơ sở cho một phạm vi tiếp theo Cho nên, cái toàn bộ thể hiện ra như một vòng tròn của các vòng tròn; mỗi vòng tròn của nó là một mắt khâu thiết yếu [tất yếu và cần thiết] khiến cho hệ thống của những yếu tố riêng biệt ấy của nó tạo nên
ý niệm toàn bộ - và ý niệm này cũng xuất hiện ra trong mỗi một vòng tròn riêng lẻ [6, tr 53]
Xuất phát từ những quan điểm trên về triết học và lịch sử triết học, ghen đã xây dựng hệ thống triết học của mình như là sự thể hiện của toàn bộ lịch sử triết học nhân loại Cho nên, mỗi phạm trù triết học của ông tương ứng
Trang 32với một học thuyết triết học trong lịch sử, vì thế hệ thống triết học của ghen như Ph.Ăng-ghen nhận xét:
Hê-Bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng lớn hơn bất cứ hệ thống nào trước kia và phát triển, trong lĩnh vực đó, một sự phong phú
về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên… vì ghen không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà ông còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của
Hê-ông tạo thành thời đại [29, tr 397]
Có thể nói trong triết học của Hê-ghen, nguyên tắc thống nhất giữa cái
bộ phận và cái chỉnh thể được thể hiện ra như một nguyên tắc có tính chất bao trùm, xuyên suốt toàn hệ thống Chỉ cho tới triết học của Hê-ghen, thì sự thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể mới được giải quyết trên tinh thần triệt để của phép biện chứng Tuy nhiên, đó là phép biện chứng được đặt trên lập trường của thế giới quan duy tâm, cho nên nó cần phải được “dựng ngược lại” (nói theo cách của C.Mác) theo tinh thần của chủ nghĩa duy vật biện chứng Công việc đó được C.Mác thực hiện một cách xuất sắc trong bộ
sự vật mà tạo nên các khái niệm trên
* Khái niệm trừu tượng - cụ thể
Cái trừu tượng có thể được hiểu là một phương diện, một khía cạnh, một bản sắc bị tách rời của sự vật trong quá trình con người nhận thức về nó, cái cụ thể thì được hiểu là một sự vật, sự việc, quá trình xuất hiện trong quá
Trang 33trình nhận thức ở giai đoạn nhận thức cảm tính với tư cách là một cái toàn vẹn tuy nhiên chưa được làm rõ về chiều sâu bản chất, theo đó cái cụ thể sẽ được hình dung tiếp tục là một sự vật, một sự việc, một quá trình toàn vẹn đã được
nhận thức lý tính làm rõ về khía cạnh chiều sâu bản chất,“cái cụ thể sở dĩ là cái cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó là sự thống nhất của cái đa dạng” [38, tr 63]
* Đối với khái niệm cái riêng - cái chung
Cái riêng được hiểu là một sự vật, một sự việc, một quá trình nhất định Cái chung được hiểu là những mặt, những thuộc tính, những quan hệ… được lặp đi, lặp lại nhiều lần mang tính ổn định ở nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau
Khái niệm cái bộ phận dùng để chỉ: một yếu tố, một phần tạo nên đời sống sinh động của cái chỉnh thể, một yếu tố, một bộ phận sẽ không là gì nếu như ly khai khỏi chỉnh thể, bởi vậy nó được xác định bản sắc, vị trí, vai trò khi và chỉ khi được đặt trong quan hệ, trong tương tác với tổng thể các bộ phận còn lại của chỉnh thể, và với bản thân cái chỉnh thể Do đó, nó là sự thể hiện của bản thân cái chỉnh thể theo phương thức đặc thù của chính nó, hay cũng có thể nói nó là cái bộ phận mang tính chỉnh thể Còn cái chỉnh thể thì được hiểu như là: tính tất yếu nội tại, không thể phân tách được của các bộ phận cấu thành, tuy nhiên nó không phải là một tồn tại nhất thành bất biến,
Trang 34bất khả xâm phạm, mà sự thực nó là một tồn tại đầy sinh khí, một tồn tại được hiểu như một quá trình sống động, phức tạp
C.Mác là người tiếp nhận xuất sắc thành quả tư duy triết học nhân loại, đặc biệt là tư duy biện chứng của Hê-ghen, trong đó có nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể, đã được giải quyết triệt để trên tinh thần của phép biện chứng Cho nên, đối với C.Mác trong khi xem xét bất kỳ vấn đề nào, ông luôn luôn có ý thức đặt nó trong tương quan với toàn bộ chỉnh thể đã thiết định nên nó Do đó, bản thân tư duy của C.Mác là tư duy mang tầm vóc chỉnh thể Với ý nghĩa ấy, nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể theo quan điểm của triết học Mác có thể được hiểu là: Trong khi nhận thức mỗi cái bộ phận, thì nhất thiết luôn luôn phải đặt nó trong mối tương quan với các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể, cũng như với bản thân cái chỉnh thể Chính vì vậy, nói về cái bộ phận, thì thực chất là đồng thời nói
về toàn bộ cái chỉnh thể đã thiết định nên nó Cho nên, mỗi cái bộ phận là sự phóng chiếu, sự mang vác cái chỉnh thể theo cách thức riêng, phù hợp với tính tất yếu nội tại của bản thân nó Mặt khác, cái chỉnh thể được hiểu là sự không thể phân tách được của các bộ phận cấu thành Bởi lẽ đó, cái chỉnh thể chỉ có thể được làm sáng tỏ thông qua sự phân tích, theo dõi toàn bộ các bộ phận hợp thành của nó
Đồng thời, bản thân cái chỉnh thể trong tính tất yếu nội tại của nó là đời sống được hiện hình Do đó, mối quan hệ giữa cái chỉnh thể và cái bộ phận là một mâu thuẫn biện chứng Chỉnh thể quy định nên bộ phận, song sự vận động, chuyển hóa, biến đổi của cái bộ phận tất yếu sẽ đưa tới sự vận động, chuyển hóa, biến đổi của chỉnh thể, điều đó cũng đồng nghĩa là cái chỉnh thể
sẽ không còn là cái chỉnh thể như cũ Bởi vậy, khi đó sự quy định của chỉnh thể đến bộ phận sẽ được thực hiện theo phương thức mới, tính chất mới,
Trang 35tương ứng với sự vận động, chuyển hóa, biến đổi diễn ra trong bản thân cả cái
bộ phận và cái chỉnh thể
Bên cạnh đó, sự phân biệt giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể là rất tương đối, điều đó tùy thuộc vào những điều kiện xem xét sự vật (không gian, thời gian, quan hệ…) Cho nên, mỗi cái bộ phận vừa là cái bộ phận vừa là cái chỉnh thể, đồng thời mỗi cái chỉnh thể cũng vừa là cái chỉnh thể vừa là cái bộ phận Do vậy, cái bộ phận và cái chỉnh thể có thể được hiểu theo nhiều tầng bậc, mức độ khác nhau Chính vì vậy, cả cái bộ phận và cái chỉnh thể đều vô cùng, vô tận như nhau
Trang 36Chương 2
NGUYÊN TẮC THỐNG GIỮA CÁI BỘ PHẬN VÀ CÁI CHỈNH THỂ
ĐƯỢC C.MÁC VẬN DỤNG TRONG BỘ “TƯ BẢN”
2.1 Khái quát về bộ “Tư bản”
“Tư bản” là một tác phẩm vĩ đại của C.Mác, kết quả của suốt 40 năm làm việc (từ đầu những năm 40 của thế kỷ XIX đến khi ông từ trần)
C.Mác bắt tay vào việc nghiên cứu khoa kinh tế chính trị một cách có hệ thống từ cuối năm 1843 ở Pa-ri Nghiên cứu các sách, báo kinh tế, ông tự đặt cho mình mục đích viết một tác phẩm lớn phê phán chế độ đương thời và khoa kinh tế chính trị tư sản Những công trình nghiên cứu đầu tiên của ông trong lĩnh vực đó đã được thể hiện trong nhiều tác phẩm trước “Tư bản” Sau một thời gian gián đoạn do những sự kiện của cuộc cách mạng 1848
- 1849, C.Mác tiếp tục những công trình nghiên cứu kinh tế của mình ở Luân- Đôn Ở đây, ông nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện lịch sử kinh tế của các nước khác nhau thời kỳ đó, nhất là của nước Anh, nơi chủ nghĩa tư bản phát triển nhất lúc bấy giờ
Công việc nghiên cứu của C.Mác diễn ra trong những điều kiện khó khăn, do đó có nhiều khi phải tạm ngừng Tuy nhiên, đến năm 1857, C.Mác
đã làm xong được công việc chuẩn bị to lớn cho phép ông bắt tay vào việc khái quát hóa và hệ thống hóa những tư liệu đã thu thập được
Từ tháng 8-1857 đến hết tháng 6-1858, C.Mác đã hoàn thành được một bản thảo quan trọng; đó gần như là bản sơ thảo của bộ “Tư bản” sau này Bên cạnh
đó, tháng 11-1857, C.Mác còn soạn một đề cương cho tác phẩm của mình
Đồng thời, C.Mác quyết định rằng, tác phẩm do ông viết sẽ được ra từng tập một và tập đầu, trên một mức độ nào đó, nhất thiết phải là một công trình hoàn chỉnh, bao quát phần đầu của quyển một, gồm 3 chương: 1) Hàng hóa,
Trang 372) Tiền hay lưu thông giản đơn, 3) Tư bản Nhưng vì những lý do chính trị, chương thứ ba đã không được đưa vào trong biến thể cuối cùng của tập đầu,
tức là trong cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, đặc biệt C.Mác
đã viết lại chương nói về hàng hóa và soạn lại một cách căn bản chương nói
về tiền, lấy trong bản thảo năm 1857-1858 cho “tập đầu”
Cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” ra đời năm 1859 Chẳng bao lâu sau, ông dự định thực hiện cả “tập hai”, tức là công bố chương nói về tư bản mà ta đã nhắc đến ở trên, chương cấu thành nội dung chủ yếu của bản thảo những năm 1857 - 1858 C.Mác bắt đầu trở lại công việc nghiên cứu khoa kinh tế chính trị ở Viện bảo tàng Anh Tuy nhiên, ngay sau ít lâu, C.Mác đã phải tạm hoãn công việc nghiên cứu để hoàn thành những công việc quan trọng tức thời
Đến tháng 8-1861, ông mới bắt đầu viết một bản thảo lớn và kết thúc bản thảo đó vào giữa năm 1863 Với một khối lượng lớn gần 200 tờ in, gồm 23 quyển vở, bản thảo đó cũng được đặt tên giống như quyển viết năm 1859
“Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” Phần lớn các quyển vở đó bàn về lịch sử các học thuyết kinh tế Trong năm quyển vở đầu và nhất là trong các quyển vở XIX, XXIII, C.Mác trình bày những đề tài của tập I bộ Tư bản Ở đây, C.Mác phân tích việc chuyển hóa của tiền thành tư bản, trình bày học thuyết giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối và đề cập đến nhiều vấn đề khác.Đặc biệt, quyên vở XIX và XX đã đặt cơ sở vững chắc cho chương 13 của tập I bộ Tư bản, “máy móc đại công nghiệp” Các quyển vở XXI, XXIII
đã làm sáng tỏ các vấn đề thuộc về các tập khác nhau của bộ “Tư bản” Toàn
bộ các quyển XVI, XVII được dành cho những vấn đề của tập III bộ “Tư bản”.Như vậy, ở một mức độ nhất định, bản thảo những năm 1861-1863 cũng
đã đề cập đến những vấn đề cả bốn tập của bộ “Tư bản”
Trang 38Trong quá trình làm việc sau đó, C.Mác quyết định xây dựng toàn bộ tác phẩm của mình theo bản đề cương mà ông đã vạch ra trước đây Trong bức thứ gửi cho Cu-ghen-man ngày 13-10-1866, C.Mác viết: Toàn bộ tác phẩm được phân thành những phần như sau: Quyển I - Quá trình sản xuất của tư bản, quyển II - Quá trình lưu thông của Tư bản, quyển III - Toàn bộ quá trình sản xuất của tư bản (gồm cả sản xuất và lưu thông của tư bản), quyển IV -Lịch sử các học thuyết kinh tế C.Mác cũng bỏ cả kế hoạch trước đây dự định
in tác phẩm thành những tập riêng và ông đặt nhiệm vụ chuẩn bị cho xong toàn bộ tác phẩm trước
Vì vậy, C.Mác tiếp tục khẩn trương chuẩn bị cho tác phẩm của mình, đặc biệt là chuẩn bị những phần còn chưa được phát triển đầy đủ trong bản thảo những năm 1861 -1863 Trong thời gian hai năm rưỡi (từ tháng 8 - 1863 đến cuối năm 1865), bên cạnh việc nghiên cứu thêm một khối lượng lớn các tài liệu, C.Mác đã viết một bản thảo lớn mới, bản này chính là cấu thành bản viết đầu tiên, được soạn một cách chi tiết, từ ba tập lý luận của bộ “Tư bản” Và chỉ sau khi toàn bộ tác phẩm được viết xong (tháng giêng-1866), C.Mác mới bắt tay vào việc gọt giũa để cho in, và hơn thế nữa, theo lời khuyên của Ph.Ăng-ghen, ông quyết định chuẩn bị đưa ra in không phải toàn bộ tác phẩm ngay lập tức, mà đưa ra in trước hết tập đầu bộ “Tư bản”
Sau khi tập I của bộ Tư bản ra đời (tháng 9-1867), C.Mác vẫn tiếp tục xem lại tập đó vì phải chuẩn bị in mới bằng tiếng Đức và cho những bản dịch
ra tiếng nước ngoài Ông đã sửa chữa lại rất nhiều đoạn trong bản in lần thứ hai (1872), đã có những chỉ dẫn rất quan trọng nhân dịp xuất bản bằng tiếng Nga năm 1872 và là bản dịch đầu tiên ra tiếng nước ngoài của bộ “Tư bản”, ông cũng đã soạn lại một phần lớn bản dịch tiếng Pháp và biên tập bản đó (bản này được in thành những tập trong những năm 1872-1875)
Trang 39Sau khi tập I bộ “Tư bản” ra đời, C.Mác cố sức sớm nhất hoàn thành toàn bộ tác phẩm “Tư bản” Nhưng C.Mác đã không thực hiện được ý định
ấy Chỉ sau khi C.Mác mất, thì hai tập tiếp theo của bộ “Tư bản” mới được Ph.Ăng-ghen đưa xuất bản Tập thứ hai được xuất bản năm 1885 và tập thứ ba được xuất bản năm 1894 Bằng việc đó, Ph.Ăng-ghen đã cống hiến vô giá vào kho tàng của chủ nghĩa Mác
Sau khi C.Mác mất, Ph.Ăng-ghen đã biên tập bản dịch tiếng anh của tập
I, bộ Tư bản (xuất bản năm 1887), đã chuẩn bị đề xuất lần thứ ba (1883) và lần thứ tư (1890), quyển I bằng tiếng Đức Ngoài ra, sau khi C.Mác mất, tập I
bộ “Tư bản” đã được dịch và xuất bản ra nhiều thứ tiếng
Trong bản in lần thứ tư băng tiếng Đức (1890), dựa trên những lời chỉ dẫn của C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã biên tập lại nguyên bản và những chú thích của tập I bộ “Tư bản” Hiện nay, trên toàn thế giới, tác phẩm này được in lại
và dịch theo bản in này
Quyển IV “các học thuyết giá trị thặng dư” của C.Mác đã được Cau-xki xuất bản lần đầu tiên trong những năm 1905, 1910 Những bản do Cau-xki xuất bản có nhiều hạn chế và thiếu trung thực so với nguyên bản Vì vậy, vào những năm 1954 -1961, trên cơ sở thẩm tra và xác minh rõ nội dung tác phẩm, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô mới chuẩn bị xong bản thảo và năm
1962 cho ra mắt quyển IV sát đúng hơn cả so với nguyên bản của C.Mác
C.Mác là người tiếp nhận xuất sắc nhất thành quả tư duy triết học biện chứng của Hê-ghen, trong đó có nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể, đã được giải quyết triệt để trên tinh thần của phép biện chứng, nên bản thân tư duy của C.Mác là tư duy mang tầm vóc chỉnh thể trong việc nghiên cứu, nhận nhìn bất kỳ một sự vật cụ thể nào - “mảnh đoạn”, “bộ phận” - Do vậy, đối với ông bất kỳ vấn đề nào cũng luôn được xem xét dưới cách
Trang 40nhìn chỉnh thể Sống trong thời đại có nhiều biến động dữ dội, tư duy của C.Mác đã thể hiện ra như sự phản ánh sâu sắc, toàn diện những sự chuyển mình của xã hội Do đó, ngay từ hồi trẻ C.Mác đã có sự quan tâm đặc biệt tới những vấn đề chính trị-xã hội Ngay từ những suy tư ban đầu ấy, C.Mác đã luôn tự giác xuất phát từ chỉnh thể xã hội tư bản chủ nghĩa khi nhận thức mỗi hiện tượng xã hội, đó có thể là những hiện tượng kinh tế, hoặc những hiện tượng đạo đức, luật pháp… Chính vì vậy, trong nhiều tác phẩm trước “Tư bản”, C.Mác đã tiến hành phê phán xã hội tư bản chủ nghĩa từ những phương diện nhất định của xã hội đó Tuy nhiên, phải đến “Tư bản”, thì ông mới có cơ hội thực hiện sự phê phán một cách toàn diện và sâu sắc
Có thể tiếp cận “Tư bản” của C.Mác từ nhiều khía cạnh khác nhau
Và cho dù tiếp cận ở bất kỳ khía cạnh nào đi chăng nữa, thì cũng có thể thấy được sự nhất quán nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thể của tư duy C.Mác theo những tầng bậc, những mức độ khác nhau Tuy nhiên, chỉ khi tiếp cận bộ “Tư bản” từ góc độ triết học, mới có thể thấy được nguyên tắc thống nhất giữa cái bộ phận và cái chỉnh thểcủa
tư duy C.Mác một cách toàn diện nhất Điều đó thể hiện ở chỗ là: có thể xuất phát từ bất kỳ vấn đề nào, bất kỳ hiện tượng nào trong “Tư bản” cũng tất yếu đưa tới sự hình dung về toàn bộ chỉnh thể xã hội tư bản chủ nghĩa tồn tại như một cơ thể sống động Do vậy, từ cơ thể xã hội ấy không những ta có thể hiểu về nó, mà còn có thể hiểu được những hình thái xã hội trước nó, cũng như đoán định, hình dung một cách khoa học về hình thái xã hội được sinh ra từ sự diệt vong tất yếu của nó Cho nên, với nhãn quan của nhà biện chứng duy vật, bên cạnh việc:
Tìm ra quy luật của những hiện tượng mà ông nghiên cứu,
và hơn thế nữa, điều đặc biệt quan trọng đối với ông là quy luật về sự biến hóa và phát triển của những hiện tượng đó,