Đảng ta đã sớm nhận thức về vị trí, vai trò của dân chủ trong quá trình đấu tranh cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân ngày càng tham gia nhiều hơn v
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHÙNG XUÂN DẦN
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRONG ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC PHƯỜNG Ở QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Ngành : Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước
Mã số : 60310203
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trần Văn Thắng
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Phùng Xuân Dần
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN
CHỦ CƠ SỞ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 9
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về dân chủ ở cơ sở 19
1.3 Vai trò của ủy ban nhân dân trong việc thực hiện dân chủ cơ sở 26
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC PHƯỜNG Ở QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 33
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Hai Bà Trưng 33
2.2 Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong Ủy ban nhân dân các phường ở quân Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội hiện nay 38
2.3 Đánh giá chung 42
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC PHƯỜNG Ở QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 64
3.1 Phương hướng 64
3.2 Giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong ủy ban nhân dân các phường ở quân Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay 68
3.3 Kiến nghị và đề xuất 89
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 97
Trang 4CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới
Trong xã hội ta, xã hội do nhân dân làm chủ thì dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội, vừa là cơ chế và phương thức để vận hành quyền lực của nhân dân trong quản lý Nhà nước và
tổ chức đời sống xã hội Đảng ta đã sớm nhận thức về vị trí, vai trò của dân chủ trong quá trình đấu tranh cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào công việc của Nhà nước: Tham gia xây dựng luật pháp, chính sách, hưởng quyền lợi và chủ động thực hiện tốt nghĩa vụ công dân
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII(tháng 6 năm 1997) về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nước XHCN trong sạch vững mạnh”, Ngày 18/02/1998 Bộ Chính trị (Khóa VIII) đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) ban hành các Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10, số 55/1998/NQ-UBTVQH10 và số 60/1998/NQ-UBTVQH10, Chính phủ đã cụ thể hóa Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bằng các nghị định, đó là: Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ quan và Nghị định số 07/1999/NĐ-CP
về thực hiện quy chế dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước Nghị định 29/1998/NĐ-CP đã được thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP, và đặc biệt Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/207/PL-UBTVQH về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Trang 6Thực tế đã khẳng định, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở sẽ tạo ra chuyển biến trong phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, phương thức điều hành và lề lối làm việc của các cấp chính quyền theo hướng sát dân và tôn trọng dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tạo thêm động lực mới thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội - an ninh - quốc phòng ở địa phương Động viên được sức mạnh của các tầng lớp nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng, đẩy lùi tiêu cực, suy thoái; tác động tích cực tới việc xây dựng đảng, củng cố chính quyền, xây dựng mặt trận, đoàn thể nhân dân vững mạnh
Chính vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong điều kiện hiện nay là vấn đề có tính chất tất yếu khách quan và cấp bách, nhất là khi mà cả nước nói chung, Quận Hai Bà Trưng nói riêng đang phấn đấu thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Qua thực tế triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của Quận Hai
Bà Trưng trước hết là dân chủ ở phường cho thấy, đây là một chủ trương đúng hợp lòng dân, khẳng định nguồn lực trong nhân dân là vô tận khắc phục
tư tưởng ỷ lại, bao cấp phát huy dân chủ đóng góp tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hôi
Trong những năm qua, dưới dự lãnh đạo, chỉ đạo của thành uỷ, ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ thành phố, sự lãnh đạo trực tiếp của quận uỷ, việc triển khai thực hiện các quy định về “Thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, việc thực hiện dân chủ trên địa bàn quận Hai Bà Trưng đã thu được một số kết quả tích cực Trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị được nâng lên Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tiếp tục đi vào cuộc sống, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của đảng, chính quyền, góp phần huy động sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện các phong trào thi đua yêu nước và các mục tiêu chung của quận, phát huy dân chủ thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế, văn hoá, an
Trang 7ninh quốc phòng của quận Hệ thống chính trị từ quận đến phường hoạt động có hiệu quả, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ, cán bộ, đảng viên ở cơ sở được nâng lên theo hướng “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân” Hiệu quả quản lý điều hành của bộ máy chính quyền có nhiều chuyển biến, công tác cải cách hành chính từng bước đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ CNH – HĐH và nguyện vọng của nhân dân
Bên cạnh những mặt đạt được còn tồn tại một số hạn chế như: Một số
ủy ban nhân dân chưa quan tâm đúng mức tới công tác thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm trong tổ chức thực hiện quy chế dân chủ, đặc biệt trên các lĩnh vực quản lý đất đai, trật tự xây dựng đô thị; Công tác tuyên truyền tại một số đơn vị chưa thường xuyên; Một bộ phận người dân chưa tích cực tham gia các hoạt động của tổ dân phố; Hoạt động của một số ban chỉ đạo quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thường xuyên, chưa cụ thể hoá sát với tình hình của đơn vị
Chính vì vây, đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng đang đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cần phải tiếp tục nghiên cứu giải quyết, nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Thực
hiện quy chế dân chủ cơ sở trong Ủy ban nhân dân các phường ở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành xây dựng đảng và chính quyền nhà nước của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Dân chủ và phát huy dân chủ cơ sở có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn đối với cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Cùng với những thành tựu cơ bản về kinh tế thì dân chủ cũng ngày càng được mở rộng, đổi mới
và thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Từ khi có chỉ thị
Trang 830-CT/TW của Bộ chính trị (khóa VIII), ngày 18/2/1998, về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thì nhiều nhà khoa học làm công tác lý luận đã nghiên cứu vấn đề này ở nhiều khía cạnh dưới nhiều góc độ khác nhau Tiêu biểu như:
- Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
- “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
- “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam”, Nxb Chính trị
quốc gia, 2005 của Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên…
- “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước
ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, 2005 của Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáu và
GS Hồ Văn Thông chủ biên
- “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong các trường trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội hiện nay - thực trạng và giải pháp”, Luận án Tiến
sĩ chính trị học của Nguyễn Thị Xuân Mai, 2004
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ với việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học của
Trang 9- Cơ sở lý luận - thực tiễn của phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và mấy vấn đề về xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở”, của
Đỗ Quang Tuấn, Tạp chí cộng sản, số 8, tháng 4/1998
- “Dân chủ cơ sở là điểm mấu chốt để thực hiện quyền dân chủ”, Tạp
chí quản lý nhà nước, số 1/1999 của Lê Minh Châu
- “Về dân chủ cơ sở”, của PGS Nguyễn Huy Qúy, Tạp chí Cộng sản,
số 4, tháng 2/2004
- “Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong quá trình đổi mới: Thành tựu, vấn
đề và giải pháp”, của GS, TS Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Lý luận chính trị,
dân, vì nhân dân Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Thực hiện quy chế
dân chủ cơ sở trong ủy ban nhân dân các phường ở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã Trên cơ sở đó đề xuất các
Trang 10quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở trong UBND các phường của quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của thực hiện quy chế dân chủ ở Phường;
- Đánh giá thực trạng trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, tìm ra nguyên nhân của ưu điểm và nguyên nhân của hạn chế
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở các phường của quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của UBND các phường trên địa bàn quân Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát thực trạng trong việc thực hiên quy chế dân chủ cơ sở của UBND các phường ở Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội, từ khi có chỉ thị 30 - CT/TW của Bộ chính trị (khóa VIII), ngày 18/02/1998, về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước nói chung, về dân chủ nói riêng Đặc biệt là những quan điểm về dân chủ ở cơ sở, và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…
Trang 11Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu
cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để phân tích khái quát các vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, xem xét vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn, các quan điểm của đảng và các quy định của pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn với việc triển khai thực hiện trên thực tế ở quận Hai Bà Trưng
- Phương pháp lịch sử đòi hỏi nghiên cứu việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở phải đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể Do vậy mỗi một tiêu chí đánh giá ưu điểm, hạn chế của việc thực hiện quy chế dân chủ ở phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng chỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi đặt chúng trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể
- Phương pháp thống kê: được sử dụng khi đánh giá thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả cũng sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp điều tra xã hội học …
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và những đóng góp của luận văn
- Đánh giá toàn diện việc thực hiện Quy chế dân chủ ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số phương hướng và các giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong Ủy ban nhân dân các phường ở quân Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 12- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về hoạt động thực hiện quy chế dân chủ ở ủy ban nhân dân các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng Luận văn sẽ góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về dân chủ, dân chủ cơ
sở, thực hiện dân chủ cơ sở… từ đó làm phong phú thêm những vấn đề lý luận của lĩnh vực này
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho các UBND phường thực hiện tốt các quan điểm của đảng, các quy định của pháp luât có liên quan đến việc thực hiện quy chế dân chủ ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên ngành xây dựng đảng và chính quyền nhà nước, hệ thống các trường chính trị của đảng, cho những người đang trực tiếp, gián tiếp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn quận Hai Bà Trưng nói riêng và cả nước nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Dân chủ - Dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ, do chữ Hy - Lạpdémos và kratos có nghĩa là nhân dân và
chính quyền Từ thời Hy - Lạp cổ đại, dân chủ đã được hiểu là “quyền lực thuộc về nhân dân”, hoặc “nhân dân cai trị” Ngày nay, có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về dân chủ, nhưng cốt lõi nhất của dân chủ vẫn là quyền làm chủ của nhân dân đối với quyền lực nhà nước Sự khác nhau căn bản giữa các nền dân chủ chỉ là ở chỗ ai được coi là nhân dân của nó
Khi nói đến dân chủ là nói đến quyền của nhân dân đối với quyền lực nhà nước được thiết lập như thế nào Dân chủ được thể chế hóa thành chế độ dân chủ Chế độ đó thể hiện trong kinh tế, chính trị, xã hội Chế độ đó khi được định hình thành nề nếp, thành lối sống, thành văn hóa thì đó là nền dân chủ Nền dân chủ là một cơ cấu xã hội với tư cách là một hệ thống, một chỉnh thể được vận hành theo những quy luật khách quan nhất định
Lịch sử nhân loại đã trải qua các mô hình dân chủ điển hình:
- Nền dân chủ quân sự cuối thời kỳ cộng sản nguyên thủy
- Nền dân chủ chủ nô Hy - Lạp, La Mã cổ đại
- Nền dân chủ tư sản
Chế độ dân chủ tư sản tuy là một bước tiến bộ lịch sử lớn lao so với thời Trung cổ nhưng vẫn là nền dân chủ phục vụ giai cấp tư sản, quyền lực thực sự vẫn tập trung vào giới chủ
Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản của giai cấp vô sản, với
sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận về một chế độ chủ nghĩa kiểu mới của giai cấp vô sản đã ra đời, đó là lý luận về nhà nước vô sản với chế độ
Trang 14công hữu về tư liệu sản xuất, quyền lực chính trị thuộc về đại đa số nhân dân lao động, không có áp bức bóc lột, mọi người đều tự do, bình đẳng
Cách mạng tháng Mười Nga (1917) đã mở đẩu cho sự ra đời của dân chủ vô sản với nhà nước vô sản hiện thực Mục tiêu cao cả của nhà nước vô sản là xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) không có người bóc lột người, mọi người đều tự do bình đẳng, nhân dân lao động làm chủ thực sự về chính trị, kinh tế và xã hội, tham gia quản lí nhà nước Đây là khác biệt về bản chất giữa dân chủ vô sản và dân chủ tư sản, giữa nhà nước tư sản với nhà nước vô sản do nhân dân lao động làm chủ Nền dân chủ XHCN là một bước phát triển mới trong lịch sử tiến hóa của nhân loại
Nền dân chủ XHCN ở Việt Nam được đánh dấu bằng sự ra đời nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa với bản Tuyên ngôn độc lập: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa ban cho họ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” Nền dân chủ XHCN kế thừa tính ưu việt và kinh
nghiệm của các nền dân chủ có trước nó Nội dung của nền dân chủ XHCN ở Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát:
- Nước ta là nước dân chủ
- Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
- Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
- Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Như vậy, bản chất của nền dân chủ ở nước ta là chế độ xã hội của dân,
do dân, vì dân Nền dân chủ ấy là hình thức cao của dân chủ vì quyền lực nhà nước thuộc về giai công nhân và nhân dân lao động, chiếm đại đa số dân cư Quyền lực nhà nước này được đảm bảo bằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – chính đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Quyền công dân và quyền con người được bảo vệ nhất quán trong luật pháp và trong thực tế đời sống Dân chủ XHCN dành cho đông đảo nhân dân lao động nên
nó mang bản chất tốt đẹp, nhân đạo, tiến bộ Quyền dân chủ của nhân dân
Trang 15được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Tuy nhiên, nền dân chủ XHCN ở Việt Nam có đặc thù riêng
Nền dân chủ XHCN được hình thành không phải từ cuộc cách mạng XHCN lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa mà từ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đổ thực dân đế quốc, đánh đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến tay sai, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân do nhân dân lao động là chủ, sau đó
đi thẳng lên chế độ XHCN, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Trình độ kinh tế - xã hội yếu kém do bị nô dịch và chiến tranh kéo dài, nhân dân chưa có kinh nghiệm trải qua mô hình dân chủ tư sản, ảnh hưởng của lệ làng, tư tưởng cục bộ, địa phương, tàn dư, phong kiến, gia trưởng còn
nặng nề, người dân quen dùng “Lệ” trong quan hệ xã hội hơn là dùng “Luật”
Những đặc điểm này chi phối rất rõ toàn bộ nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, nó tác động sâu sắc với nhiều mặt tiêu cực đến quá trình thực hiện dân chủ
Về bản chất, nền dân chủ XHCN có tính ưu việt cao hơn nền dân chủ tư sản, nhưng do trình độ kinh tế, dân trí, ý thức dân chủ của người dân và một số cán bộ còn thấp, do đó nền dân chủ XHCN ở Việt Nam chưa phải là nền dân chủ XHCN
ở mức chín muồi, hoàn thiện mà mới chỉ ở giai đoạn đầu, đang phát triển, đang từng bước hoàn thiện, còn mang tính chất quá độ, có mặt còn hạn chế
Thời kỳ đổi mới đã và đang đặt ra yêu cầu mới về tự do tư tưởng, thái
độ cầu thị, tinh thần tự phê bình và phê bình, công khai thông tin, quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra được thực thi và mở rộng trong nhiều lĩnh vực và thiết yếu
Tất cả những gì đạt được mới chỉ là bước đầu Nhiệm vụ tiếp tục dân chủ hóa xã hội, phát huy các động lực của sự phát triển đất nước còn nhiều việc phải làm Phải tiếp thu các giá trị văn minh dân chủ của nhân loại, xây dựng nền tảng kinh tê – xã hội và thiết chế dân chủ mới; đấu tranh xóa bỏ các tàn dư của chế độ tập trung quan liêu, thói quen, tâm lý phong kiến, tiểu nông
Trang 16và cả “di chứng nô lệ” còn rơi rớt dai dẳng trong xã hội và trong tư tưởng, nếp
nghĩ con người, đang cản trở sự phát triển của nền dân chủ XHCN
Khi phát triển kinh tế thị trường đinh hướng XHCN, những hiện tượng tiêu cực với những hành động vi phạm quyền dân chủ của nhân dân cũng nảy sinh Cũng từ tình hình đó, các phần tử cơ hội trong nước bị các thế lực phản động nước ngoài lôi kéo, mua chuộc đã giương những luận điệu mị dân, đòi
“dân chủ đa nguyên”, “đa đảng đối lập” và vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền” Do đó, sự phát triển xã hội đang đòi hỏi không chỉ mở rộng dân chủ,
dân chủ hóa xã hội mà phải có sự hoàn chỉnh hệ thống pháp luật phù hợp và thúc đẩy sự phát triển dân chủ, tăng cường kỷ cương, phép nước
Nhìn một cách khát quát, nền dân chủ ở nước ta đang ở giai đoạn đầu, đang được đổi mới, xây dựng, phát triển, đang tự khắc phục những yếu kém, những sai sót lệnh lạc, sẽ ngày càng được hoàn thiện Dù có đổi mới, xây dựng, phát triển nền dân chủ ở nước nào chăng nữa thì cũng không thể phủ nhận nguyên tắc: tất cả quyền lực là thuộc về nhân dân, nòng cốt là liên minh với công - nông - trí thức, do đảng Cộng sản lãnh đạo; sự thống nhất giữa dân chủ với kỷ cương theo hướng dân chủ hóa toàn diện, tạo động lực để phát triển, vì hạnh phúc của nhân dân
Dân chủ hóa hơn nữa chính là để phát triển các tiềm năng của con người và các năng lực xã hội, phát huy nội lực để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng đất nước giầu mạnh, văn minh Sự nghiệp dân chủ XHCN mới ở những chặng ban đầu còn nhiều việc phải làm, nhất là về mặt cơ chế, từ trung ương đến cơ sở
1.1.2 Cơ sở và Dân chủ cơ sở
1.1.2.1 Cơ sở
Nền dân chủ XHCN phải được thực hiện ở tất cả các cấp, các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, do đặc điểm của cơ sở, nên việc thực hiện dân chủ ở đây có vị trí đặc biệt quan trọng
Trang 17Cơ sở ở đây, được hiểu là đơn vị ở cấp dưới cùng nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất, công tác… của một hệ thống tổ chức, trong quan
hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên
Theo quan niệm triết học “Cơ sở là những yếu tố ban đầu, là điểm xuất phát để hình thành nên sự vật, là nền móng, nền tảng tạo nên sự vật đó Sự vật là gì và như thế nào đều tuỳ thuộc từ chất lượng của cơ sở”
Từ quan niệm trên có thể tiếp cận khái niệm cơ sở như sau:
Nếu quan niệm xã hội là một “cơ thể sống” có quy luật ra đời, tồn tại
và phát triển thì cơ sở là yếu tố cấu thành nhỏ nhất trong cấu trúc tổ chức xã hội, tạo thành cơ thể xã hội
Căn cứ vào không gian quản lý của nhà nước, cơ sở là không gian quản
lý nhỏ nhất của nhà nước đối với xã hội, là “địa chỉ” cuối cùng, là “điểm đến” cuối cùng của quản lý nhà nước Vì lẽ đó, cơ sở được gọi là đơn vị hành chính
cơ sở phân biệt với khối phố (làng, bản, ấp, thôn) là cộng đồng tự quản Đây cũng là điều giúp phân biệt quản lý nhà nước và tự quản cộng đồng Quản lý nhà nước lấy cơ sở xã, phường, thị trấn là “không gian quản lý” thì tự quản cộng đồng lấy nhà (gia đình) - tế bào tạo nên cộng đồng (thôn, làng, bản, ấp,
khối phố) để thực hiện tự quản
Dựa vào những nguyên lý của khoa học tổ chức, bộ máy nhà nước được xác định “là một tổng thể các cơ quan, tổ chức nhà nước được thành lập
và hoạt động trên cơ sở pháp luật, có những chức năng, thẩm quyền riêng, song có sự phân công và phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện những chức năng chung của nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức, quản
lý xã hội bằng pháp luật, đưa xã hội phát triển”, cơ quan nhà nhà nước là cơ
sở, là bộ phận tạo nên cơ thể nhà nước
Nếu xuất phát từ đời sống kinh tế của xã hội thì cơ sở là yếu tố tạo nên đời sống kinh tế, là đơn vị kinh tế, một thực thể kinh tế Tùy thuộc vào cơ cấu
Trang 18tổ chức, cơ chế hoạt động của đơn vị kinh tế, hình thức và thành phần sở hữu
mà đơn vị kinh tế có tên gọi khác nhau: có thể là hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty, xí nghiệp liên doanh,
xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, song đều là cơ sở của đời sống kinh tế
Vậy cơ sở theo nghĩa chung nhất, rộng nhất thì bao gồm 03 loại hình cơ sở: Các cơ quan nhà nước; các công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp…; xã, phường, thị trấn
Tuy nhiên, cơ sở được lấy làm đối tượng nghiên cứu của đề tài không phải là một đơn vị cơ sở bất kỳ nào (gia đình, cơ quan, công sở, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học…) mà là cơ sở với tư cách là một cấp quản lý nhà nước trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước bốn cấp hiện hành Cơ
sở đó chính là phường là cấp cơ sở của quản lý nhà nước Phường là cấp cơ sở
ở đô thị, được đặc trưng với quản lý đô thị
Vậy xét trên tổng thể, ở khía cạnh nghiên cứu của đề tài, cơ sở với tính cách là phường có những đặc điểm sau:
- Là đơn vị hành chính thấp nhất - xét về mặt không gian quản lý, là thực thể cấu thành đời sống kinh tế, là nền tảng của nhà nước, của đời sống kinh tế - xã hội
- Là hình ảnh thu nhỏ của đời sống xã hội, của nhà nước và của đời sống kinh tế; là nơi thể hiện trực tiếp, cụ thể bản chất của chế độ nhà nước, của chế độ xã hội; thể hiện trực tiếp sự hoàn thiện hay hạn chế, yếu kém của thể chế, của cơ chế và mô hình tổ chức quyền lực; thể hiện trực tiếp, cụ thể thái độ của người dân, là nơi mà việc làm, đời sống, tâm tư, nguyện vọng của người dân được bộc lộ đầy đủ, rõ rệt, cũng là nơi thể hiện và đánh giá trực tiếp hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả của toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị cơ
sở Như vậy có thể nói cơ sở là “điểm nhạy cảm” nhất của đời sống xã hội
- Cơ sở vừa là cấp hành động, tổ chức hành động, đưa đường lối, nghị quyết, chính sách pháp luật vào cuộc sống; vừa là nơi khởi nguồn cho sự hình thành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Trang 19Vậy có thể hiểu một cách khái quát về tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp
xã là quá trình tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về dân chủ tại các địa bàn dân cư, nơi mà người dân sinh sống, lao động, sản xuất ra của cải, vật chất Hay có thể hiểu đó là việc thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo “quyền làm chủ của người dân ở cơ sở” theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Do đặc thù của mô hình quản lý 4 cấp ở nước ta (Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nên việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã nói chung và trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng nói riêng được thực hiện theo các quy định của pháp luật và sự hướng dẫn, chỉ đạo của các cơ quan nhà nước cấp trên Tuy nhiên, trong phạm vi, quyền hạn của mình pháp luật cũng đã quy định rõ ràng trách nhiệm của hệ thống chính quyền cấp xã trong việc tổ chức thực hiện dân chủ: HĐND, UBND, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã; phối hợp với Uỷ ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã; Uỷ ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận có trách nhiệm giám sát việc thực hiện và tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cấp xã
Ngoài ra, trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phun, sóc (gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (gọi chung là tổ dân phố), của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã được quy định rất rõ ràng trong Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã (hiện nay là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)
Vậy có thể hiểu tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã là trách nhiệm của
cả hệ thống chính trị ở cấp xã theo quy định của pháp luật và sự hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên
Trang 20Cơ sở là nơi các tầng lớp nhân dân sinh sống hàng ngày, nơi sản xuất, kinh doanh, lao động, học tập của nhân dân, nơi nảy sinh những nhu cầu đa dạng, bức xúc hàng ngày trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội; nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của đảng và nhà nước, đồng thời cũng là nơi chủ trương, chính sách, pháp luật của đảng và nhà nước tác động trực tiếp đến đời sống của nhân dân; nơi có tổ chức cơ sở của đảng và chính quyền thay mặt cho đảng và nhà nước lãnh đạo nhân dân, quản lý xã hội Chính vì vậy, cơ sở là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một
1.1.3 Thực hiện dân chủ ở cơ sở của Ủy ban nhân dân phường
Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở là cả quá trình lâu dài, phải tiến hành từng bước từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Không thể sốt ruột, không vì những hiện tượng tiêu cực hay những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân ở nơi này, nơi khác, lúc này lúc khác mà phủ nhận hay mất niềm tin vào khả năng thực hiện dân chủ ở cở sở
Trang 21*Nội dung, bản chất dân chủ ở cơ sở là thực hiện quyền làm chủ của
các tầng lớp nhân dân ở cơ sở trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhằm bảo đảm cho mọi tổ chức và hoạt động ở cơ sở thực sự là của dân, do dân, vì dân
*Hình thức dân chủ ở cơ sở bao gồm hai hình thức: dân chủ đại diện
(dân chủ gián tiếp) và dân chủ trực tiếp
a Dân chủ trực tiếp là hình thức tham gia của mọi công dân một cách bình đẳng và trực tiếp vào những công việc chung và quyết định theo biểu quyết đa số Cũng có thể hiểu, dân chủ trực tiếp là sự thể hiện một cách trực tiếp ý chí của chủ thể quyền lực về những vấn đề quan trọng nhất
Có 3 cách cơ bản thể hiện quyền làm chủ trực tiếp của người dân: + Bầu cử: lá phiếu của cử tri quyết định trực tiếp người trúng cử
Ví dụ: Bầu cử trưởng thôn, đại biểu HĐND các cấp
+ Trưng cầu dân ý: để quyết định một vấn đề, nhà nước mang ra hỏi ý kiến của người dân và ý kiến của nhân dân có ý nghĩa quyết định về vấn đề đó
+ Bãi nhiệm đại biểu: cử tri đi bầu đại biểu và có quyền bãi nhiệm đại biểu khi người đó không còn xứng đáng với niềm tin của mọi người
Ngoài ra còn có hình thức “Diễn đàn nhân dân” và “Đối thoại với quan chức nhà nước” cũng là cách thể hiện quyền dân chủ trực tiếp của người dân
Do đó vấn đề không chỉ là nhận thức mà quan trọng hơn nữa là dân chủ trực tiếp phải được thiết chế hóa thành các bộ luật, điều luật, cơ chế hoạt động, hình thức biểu đạt và các tổ chức phụ trợ nhằm bảo đảm an toàn cho bộ máy dân chủ vận hành tối ưu và các cá nhân sống trong hệ thống dân sự đó phát huy quyền sáng tạo của mình Có như vậy thực hiện dân chủ ở cơ sở mới phát huy có hiệu quả và thực chất
b Dân chủ gián tiếp là hình thức nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua hoạt động của những
Trang 22người đại diện, cơ quan đại diện của mình ở các cấp chính quyền, ở MTTQ và các đoàn thể nhân dân
Ví dụ: Tại các kỳ họp quốc hội, HĐND các cấp Các đại biểu phát biểu, chất vấn… đó là việc đại biểu thay mặt nhân dân nói lên tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
Người dân không tự thực hiện quyền lực mà thông qua vai trò của một đại diện hay trung gian Hiện nay ở Việt Nam, người dân thực hiện quyền dân chủ gián tiếp thông qua quốc hội và HĐND các cấp Đây là những cơ quan do dân bầu, mang quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân Nhân dân có thể thông qua các cơ quan nhà nước khác, thông qua MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên
Trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở, hai hình thúc dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện có thể bổ khuyết và hỗ trợ lẫn nhau
Phường, là cấp cơ sở của quản lý nhà nước Phường là cấp cơ sở ở đô thị, được đặc trưng với quản lý đô thị
Pháp luật đã quy định rõ ràng trách nhiệm của hệ thống chính quyền cấp phường trong việc tổ chức thực hiện dân chủ, trách nhiệm của cán bộ, công chức phường, của cán tổ dân phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở phường trong Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã (hiện nay là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)
Trong việc thực hiện quy dân chủ ở phường, UBND phường là cơ quan
có vai trò quan trọng Vị trí, vai trò của UBND trong tổ chức thực hiện dân chủ phường được quy định cụ thể trong pháp lệnh thực hiện quy chế dân chủ
ở xã, phường, thị trấn
Vậy có thể hiểu thực hiện dân chủ ở cơ sở của UBND phường là quá trình theo quy định của pháp luật, UBND phường phải tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về dân chủ tại các địa bàn dân cư, nơi mà người dân
Trang 23sinh sống, lao động, sản xuất ra của cải, vật chất Hay có thể hiểu đó là việc thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo “quyền làm chủ của người dân ở cơ sở” theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về dân chủ
ở cơ sở
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chế độ dân chủ, quyền lợi và nghĩa
vụ của công dân bao giờ cũng đi liền với nhau Do đó không thể xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nếu mỗi công dân không tự giác thực hiện đúng luật pháp và hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với xã hội Pháp luật có liên quan rất mật thiết với vấn đề dân chủ Yếu tố bảo đảm để dân chủ vận hành trong một hành lang an toàn, không bị thiên lệch chính là pháp luật
Người nói: “Nhà nước đảm bảo quyền tự do dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, của nhân dân” [18, tr 586]
Có thể khái quát tư tưởng dân chủ của chủ tịch Hồ Chí Minh thành sáu phạm trù cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Dân chủ là quý báu nhất của nhân dân [17, tr 279]
Dân chủ là của báu vì đó là lý tưởng, là ước vọng của toàn thể nhân dân
ta về một xã hội tốt đẹp trong tương lai, một xã hội dân chủ theo đúng nghĩa của nó “dân làm chủ, dân là chủ”; vì “nó” đem lại quyền làm chủ vận mệnh của mình cho nhân dân, tạo ra những điều kiện, những tiền đề để toàn xã hội, cũng như mỗi cá nhân trong xã hội phát triển và hoàn thiện Con người nhờ có dân chủ và thông qua dân chủ mới có hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ điều này “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến” [16, tr 274]
Trang 24Dân chủ không chỉ là của quý của nhân dân mà đối với sự nghiệp cách mạng, dân chủ cũng là của quý bởi phát huy dân chủ sẽ động viên được lực lượng của toàn dân hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng, “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” [18, tr 592]
Thứ hai: Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ [16, tr 515]
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là người giữ vai trò quyết định trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, từ những chuyện nhỏ có liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như lựa chọn thể chế, lựa chọn người đứng đầu nhà nước Người dân có quyền làm chủ bản thân, nghĩa là có quyền được bảo vệ về thân thể, được tự do đi lại, tự
do hành nghề, tự do ngôn luận, tự do học tập… trong khuôn khổ luật pháp cho phép Người dân có quyền làm chủ tập thể, làm chủ địa phương, làm chủ
cơ quan, nơi mình sống và làm việc Người dân có quyền làm chủ các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội thông qua bầu cử và bãi miễn
Vì quan niệm dân là trên hết, nên Người cho rằng “mọi lợi ích là vì dân”, “mọi quyền hạn là của dân”, “mọi công việc do dân” Trong thiết chế của nền dân chủ ấy, nhân dân ở địa vị cao nhất và Người nói “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [17, tr 276]
Tóm lại, trong tư tưởng của Người, nhân dân là lực lượng dựng xây đất nước, là lực lượng hợp thành, nuôi dưỡng, bảo vệ các tổ chức chính trị, do vậy nhân dân có quyền làm chủ đất nước, làm chủ chế độ, làm chủ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Thứ ba: Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng để xây dựng chính quyền dân chủ mới ở nước ta
Trang 25Luận điểm về chính quyền dân chủ của Người, bao gồm một hệ thống quan niệm rất hoàn chỉnh Người nói một cách rõ ràng, dễ hiểu về bản chất và mục tiêu, về nội dung, chức trách và nhiệm vụ, về cơ cấu và cơ chế quyền lực,
về phương pháp hoạt động, về trách nhiệm phẩm chất và năng lực của nhân viên trong một nhà nước dân chủ
Người luôn luôn khẳng định bản chất nhân dân và bản chất dân chủ của chính quyền ta Người khẳng định “Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường chuyên chính để cho chính quyền ta thật sự là chính quyền của dân, phục vụ nhân dân, chống lại kẻ thù của nhân dân” [17, tr 289]
Người cho rằng chính quyền luôn lấy việc phục vụ lợi ích của nhân dân làm mục tiêu Cho đến trước lúc ra đi, Người vẫn còn nhắc lại những mục tiêu chiến lược ấy: Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh Đó chính
là những chiến lược lâu dài, cần có quyết sách thông minh và tài năng tổ chức điều hành để thực hiện
Trong quan niệm về chức trách và nhiệm vụ, Người nhấn mạnh tính chất “Người đầy tớ công cộng” của chính quyền đối với nhân dân Người dùng chữ “công bộc” (người đầy tớ trung thành) để nói một ý nghĩa mới của một chính quyền dân chủ
Để cho quyền dân chủ của nhân dân được thể hiện, để quyền lực nhà nước được bảo đảm, Người nhấn mạnh ba yếu tố sau:
- Phải có hiến pháp “thích hợp với sự phát triển của chế độ, bảo đảm được quyền tự do dân chủ cho các tầng lớp nhân dân”
- Phải có luật pháp “thật sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”
- Phải có một bộ máy chính quyền có đủ năng lực, phẩm chất, tinh giản, nhạy bén
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ vẫn còn giữ nguyên giá trị trong việc củng cố và xây dựng một chính quyền nhà nước dân chủ để phục vụ
Trang 26nhân dân có hiệu quả, hiệu lực, một chính quyền thật sự vì dân và do dân, chứ không phải là quyền lực riêng của một cá nhân hoặc là một nhóm người nào đó
Thứ tư: Đảng cũng ở trong xã hội [17, tr 279] Đảng từ trung ương đến
xã do dân tổ chức nên
Trong tư tưởng dân chủ, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò “cầm quyền” của đảng, nhưng Người rất ít nói đến quyền uy, quyền lực của đảng đối với dân, với nước Người luôn luôn nhấn mạnh yêu cầu phục vụ, phụng sự, làm đầy tớ của nhân dân
Đảng cũng ở trong xã hội, trước hết cần hiểu rằng, khi nói đảng ở trong
xã hội, nghĩa là đảng không bao giờ là một lực lượng siêu nhiên, siêu xã hội Đảng bao gồm những con người của đời thường, chịu những dấu ấn của mọi mối quan hệ xã hội hiện hữu Đảng không phải là tập thể của những thánh nhân, không bao giờ mắc sai lầm
Tuy thế, hiện thực của xã hội đang đặt ra vấn đề đảng phải đổi mới sự lãnh đạo và mọi hoạt động của mình Các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của đảng đều xác định yêu cầu đảng phải vươn lên ngang tầm của nhiệm vụ lịch
sử Không phải chỉ vì trong đảng đã xuất hiện sự trì trệ và lạc hậu về tư duy,
lề lối, tác phong và về đội ngũ cán bộ, mà còn là vì đất nước ta, xã hội và nhân dân ta đã phát triển và đạt tới một trình độ cao hơn trước, phong phú hơn trước về mọi mặt Hơn nữa, đòi hỏi mở rộng nền dân chủ trong xã hội là một tất yếu của tiến trình đổi mới
Thứ năm: Đoàn thể là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực
quyền lợi của dân, liên lạc mật thiết giữa dân với chính phủ
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, các đoàn thể trước hết phải là tổ chức của dân Trong dư luận xã hội có khi đoàn thể chỉ là của đảng, của chính quyền hoặc là của cán bộ đoàn thể mà thôi Nếu làm cho dân chấp nhận được đoàn thể
là của chính họ, nhất định sẽ có phong trào quần chúng rộng rãi, sẽ có phương thức hoạt động và sẽ có sự gắn bó chặt chẽ giữa đoàn thể và nhân dân
Trang 27Thứ sáu: Thực hiện những cải cách xã hội để nâng cao đời sống của
nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự
Phạm trù này chính là nói về giải pháp và phương thức thực hiện dân chủ Người quan niệm dân chủ là một hệ thống tổng hợp những thiết chế, luật
lệ, vừa là một chế độ xã hội, vừa là một phương thức văn minh của các mối quan hệ xã hội hiện đại vừa là một phong cách sống văn minh Dân chủ vừa là mục tiêu, là nội dung, là động lực phát triển xã hội
Sáu luận điểm dân chủ của chủ tịch Hồ Chí Minh với một hệ thống hàng trăm luận đề có nội dung phong phú, sâu sắc khác nhau, liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là một kho báu có giá trị lớn lao, luôn được đảng và nhà nước ta vận dụng trong quá trình thực hành dân chủ cũng như xây dựng và phát triển đất nước
Từ khi đảng và nhà nước ta tiến hành đổi mới, nền kinh tế của đất nước từng bước phát triển, cùng với đó là đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, đó chính là dân sinh Như một hệ quả tất yếu, kinh tế phát triển sẽ kéo theo trình độ nhận thức của nhân dân được nâng lên rõ rệt vì họ có điều kiện để học hành và tiếp xúc với nhiều kênh thông tin để nâng cao nhận thức Khi dân trí phát triển, người dân nâng cao nhận thức của mình về các quyền công dân, quyền về kinh tế, chính trị - xã hội trong mối quan hệ với chính quyền và hệ thống chính trị Nói cách khác, đòi hỏi về thực hiện quyền dân chủ, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở càng ngày càng nâng cao như một tất yếu khách quan trên con đường phát triển của nước ta Bởi vậy, việc nhân dân tìm hiểu thế nào là dân chủ, làm thế nào để thực hiện dân chủ, làm thế nào để quyền dân chủ của họ không bị xâm phạm… được coi là nhu cầu chính đáng của người dân Những điều này được thể hiện rõ nhất tại các kỳ họp quốc hội, HĐND các cấp, tại các hội nghị tiếp xúc cử tri… người dân đã thông qua những đại biểu dân cử chất vấn quốc hội, chất vấn những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền và đặc
Trang 28biệt hơn là người dân đã thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo đối với những cá nhân, tổ chức được coi là vi phạm pháp luật Đây có thể coi là bước tiến mới trong vấn đề dân chủ ở nước ta
Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về dân chủ của người dân càng được nâng lên Vì thế không ngừng mở rộng và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội là một đòi hỏi tất yếu của đời sống Quan điểm này được đảng và nhà nước ta vận dụng và hoàn thiện trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Được thể hiện rõ nhất tại các kỳ đại hội của đảng:
Đại hội VII đã thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nội dung: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp”
Tại Đại hội VIII, đảng ta khẳng định: “Xây dựng nền dân chủ XHCN là nội dung cơ bản đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của đảng và nhà nước” [46,tr.136]
Tư tưởng quan trọng này chính là cơ sở của Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18/2/1998, về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở Bộ chính trị chỉ rõ phải ban hành chỉ thị này là vì: “Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng
mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành luật pháp,
Trang 29chậm đi vào cuộc sống” và “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất Muốn vậy, nhà nước cần ban hành QCDC ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ
sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện”
Cùng với việc đề ra phương hướng, chiến lược phát triển đất nước một cách toàn diện và lâu dài, tại đại hội IX, đảng ta nhấn mạnh: “Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng Thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành” [47, tr 139]
Ðáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, đại hội X của đảng đã chỉ rõ: “Dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối gắn bó giữa đảng, nhà nước và nhân dân Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của đảng Mọi đường lối, chính sách của đảng và pháp luật của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có
sự tham gia ý kiến của nhân dân”
Vậy việc mở rộng và phát huy dân chủ là xu hướng khách quan của tiến
bộ xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi nước ta đang trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế Thực tiễn và lý luận đã khẳng định tính tất yếu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội không gì khác hơn là giành dân chủ cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, khẳng định quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, một xã hội không còn tha hóa, bóc lột, một cộng đồng người lao động
tự do và sáng tạo
Trang 301.3 Vai trò của ủy ban nhân dân trong việc thực hiện dân chủ cơ sở
Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa các quyền, các giá trị của dân chủ đã được quy định trong hiến pháp Đó là các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền của nhân dân lao động được tham gia vào quản lý nhà nước (Điều 53), quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin (Điều 69), quyền của nhân dân được kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy và cán bộ công chức nhà nước ( Điều 8), quyền bình đẳng nam nữ (Điều 63)…Sự ra đời của quy chế dân chủ cơ sở là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho các quy định của hiến pháp được thực hiện trên thực tế, làm cho nhân dân nắm vững và thực hiện được các quyền dân chủ của mình
Sau một quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, để nâng cao giá trị pháp lý của các quy định về dân chủ ở cơ sở, UBTVQH đã ban hành pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (thay thế nghị định 79/2003/NĐ-CP),34/2007/PL-UBTVQH11 Pháp lệnh này có 6 chương, 28 điều quy định những nội dung cần được giải trình trước dân; những nội dung cần được dân thảo luận và quyết định; những nội dung cần lấy ý kiến của dân trước khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung phải được dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền và công chức ở các cấp làng- xã; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và những người có liên quan trong quá trình thi hành dân chủ ở cấp xã Cụ thể như sau:
Một là, những nội dung cần công khai để dân biết:
Một trong những quyền trước tiên của nhân dân đó là quyền được biết
về tình hình chung đang diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đất nước, của địa phương và những vấn đề cụ thể có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân mỗi người dân, cũng như của gia đình và cộng đồng dân cư Điều 5 Pháp lệnh quy định những nội dung công khai:
Trang 31- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã
- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương
án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân
- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế
- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm chủ tịch và phó chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại điều 19 của pháp lệnh này
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
Trang 32- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Hai là, những nội dung nhân dân được bàn và quyết định trực tiếp:
“Dân bàn” là khâu thứ hai đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân Bàn
là tôn trọng quyền tự do ngôn luận của nhân dân, người dân được phát ngôn, biểu thị ý chí, nguyện vọng của mình đối với cộng đồng cũng như với chính quyền Không có cơ chế dân chủ thì nhân dân sẽ không có điều kiện “bàn” các vấn đề mình quan tâm Việc nhân dân được bàn bạc và quyết định những vấn đề thuộc lĩnh vực pháp luật cho phép đã giúp cho nhân dân nâng cao nhận thức, phát huy trí tuệ, tạo động lực thúc đẩy nhân dân tham gia, hưởng ứng nhiệt thành các chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước bằng việc đóng góp sức lực, của cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng
Xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế Như vậy, vấn đề “Dân biết”, để “bàn”, để “làm” là nhu cầu hết sức cấp bách và khách quan của mọi người dân Điều 10, 11, 12 quy chế quy định những nội dung, hình thức nhân dân bàn, quyết định trực tiếp:
- Về nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp
xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật
- Về hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
- Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những nội dung quy định tại Điều 10 của pháp lệnh này bằng một trong các hình thức sau đây:
+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;
Trang 33+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
+ Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp
+ Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
Ba là, những nội dung, hình thức mà nhân dân bàn, biểu quyết, tham gia ý kiến để cấp có thẩm quyền quyết định:
Ngoài việc người dân được “bàn” và quyết định những vấn đề cụ thể nêu trên, còn những vấn đề việc quyết định cuối cùng phải do chính quyền xã hoặc cấp trên thực hiện thì người dân cũng được tham gia bàn bạc, đóng góp
ý kiến để giúp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp trên
có những quyết sách đúng đắn và sáng suốt Thực tế đã chứng minh có nhiều chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước được xuất phát từ sáng kiến của quần chúng ở cơ sở Vì vậy, việc nhân dân bàn và tham gia ý kiến một số việc chủ yếu là thủ tục bắt buộc trước khi chính quyền xã hoặc cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền quyết định Những nội dung, hình thức mà nhân dân bàn, tham gia ý kiến để cấp có thẩm quyền quyết định gồm:
- Về những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết, Pháp lệnh quy định các
lĩnh vực sau:
+ Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố
+ Bầu, bãi nhiệm thành viên ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng
Trang 34- Về hình thức nhân dân bàn, biểu quyết, nhân dân bàn và biểu quyết
những vấn đề trên bằng một trong các hình thức dưới đây:
+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố;
+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
+ Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì
tổ chức lại cuộc họp
+ Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố
Bốn là, những nội dung nhân dân giám sát:
Giám sát là một nội dung thực hiện quyền dân chủ của nhân dân nhằm góp phần xây dựng đảng, xây dựng nhà nước và các đoàn thể nhân dân trong sạch, vững mạnh Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong phát hiện những khuyết điểm của cán bộ, công chức trong bộ máy của đảng và nhà nước để chấn chỉnh những sai phạm, đưa mọi hoạt động vào đúng nền nếp; kịp thời phát hiện những sai phạm để xử lý kỷ luật, tạo dựng trật tự kỷ cương, góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Do đó, quyền giám sát không chỉ thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan chuyên trách giám sát mà còn phải lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia Nhân dân cần được giám sát những gì có liên quan đến quyền lợi và nghĩa
vụ của họ, giám sát việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước địa phương, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, những người có trách nhiệm trong việc thực hiện những quy định về tài chính, kinh tế, quản lý sử dụng đất
Trang 35đai, chính sách xã hội là việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân… Tất cả những nội dung pháp lệnh quy định người dân có quyền được biết, được quyết định và được tham gia ý kiến thì người dân cũng có quyền giám sát Hình thức giám sát: Thông qua ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng; thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với các cơ quan công quyền; kiến nghị qua ủy ban mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên
Năm là, trách nhiệm của UBND phường trong tổ chức thực hiện dân chủ cơ sở:
Trách nhiệm của UBND phường trong tổ chức thực hiện dân chủ cơ sở được quy định cụ thể tại điều 17, điều 21 Pháp lênh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Theo quy định tại điều 17 về trách nhiệm tổ chức thực hiện những việc dân bàn và quyết định, UBND phường có trách nhiệm:
1 Uỷ ban nhân dân phường lập, thông qua kế hoạch thực hiện những nội dung nhân dân bàn và quyết định; phối hợp với ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp tổ chức thực hiện; chỉ đạo tổ trưởng tổ dân phố thực hiện kế hoạch đã được thông qua
2 Chủ tịch ủy ban nhân dân phường chịu trách nhiệm lập biên bản tổng hợp kết quả về những nội dung đã đưa ra nhân dân toàn cấp phường bàn và quyết định; tổ chức triển khai thực hiện những nội dung đã được nhân dân quyết định; phối hợp với ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam phường tổ chức việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm tổ trưởng tổ dân phố
3 Uỷ ban nhân dân phường báo cáo hội đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kết quả thực hiện các nội dung nhân dân bàn và quyết định tại kỳ họp gần nhất của hội đồng nhân dân
Theo điều 21, pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm
2007, tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trách nhiệm của chính quyền phường là:
Trang 361 Uỷ ban nhân dân phường có trách nhiệm lập, thông qua kế hoạch để lấy ý kiến nhân dân về những nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền cấp xã, trong đó nêu rõ cách thức triển khai, thời gian và trách nhiệm tổ chức thực hiện
2 Uỷ ban nhân dân phường phối hợp với ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp tổ chức thực hiện kế hoạch đã được thông qua
3 Chủ tịch ủy ban nhân dân phường chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức lấy ý kiến, tổng hợp ý kiến của cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; nghiên cứu tiếp thu ý kiến và thông báo với nhân dân về tiếp thu ý kiến của cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
Trường hợp chính quyền phường quyết định các nội dung quy định tại điều 19 của pháp lệnh này khác với ý kiến của đa số thì phải nêu rõ lý do và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
4 Đối với những nội dung do cơ quan có thẩm quyền giao cho chính quyền phường đưa ra lấy ý kiến nhân dân thì ủy ban nhân dân phường có trách nhiệm lập, thông qua kế hoạch thực hiện, trong đó nêu rõ cách thức triển khai, thời gian và trách nhiệm tổ chức thực hiện; chỉ đạo tổ chức thực hiện, tổng hợp ý kiến và báo cáo với cơ quan có thẩm quyền về kết quả lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn
5 Uỷ ban nhân dân phường báo cáo hội đồng nhân dân cùng cấp về quá trình và kết quả thực hiện các nội dung đưa ra lấy ý kiến nhân dân tại kỳ họp gần nhất của hội đồng nhân dân
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC PHƯỜNG Ở QUẬN HAI BÀ TRƯNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội quận Hai Bà Trưng
Quận Hai Bà Trưng nằm ở phía Đông Nam nội thành Hà Nội, là địa bàn
có vinh dự được mang tên hai vị Nữ anh hùng đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị Trước đây, vùng đất Hai Bà Trưng thuộc các tổng Hậu Nghiêm (sau đổi là Thanh Nhàn), Tả Nghiêm (sau đổi
là Kim Liên), Tiền Nghiêm (sau đổi là Vĩnh Xương) thuộc huyện Thọ Xương cũ; một số xã của huyện Thanh Trì, thuộc trấn Sơn Nam Thượng Từ năm 1954-
1961, vùng đất Hai Bà Trưng gồm các khu phố mang tên Bạch Mai, Hai Bà, Hàng Cỏ và một phần đất thuộc quận VI ngoại thành Hà Nội
Từ năm 1961-1981, gọi là khu Hai Bà (sau gọi là khu Hai Bà Trưng) Tháng 6/1981, khu Hai Bà Trưng chính thức gọi là quận Hai Bà Trưng gồm 22 phường: Nguyễn Du, Lê Đại Hành, Bùi Thị Xuân, Phố Huế, Ngô Thì Nhậm, Phạm Đình Hổ, Đồng Nhân, Đống Mác, Bạch Đằng, Thanh Lương, Thanh Nhàn, Cầu Dền, Bách Khoa, Quỳnh Lôi, Bạch Mai, Quỳnh Mai, Vĩnh Tuy, Minh Khai, Trương Định, Đồng Tâm, Giáp Bát, Tương Mai
Ngày 2/6/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số HĐBT, thành lập phường Mai Động thuộc quận Hai Bà Trưng trên cơ sở điều chỉnh diện tích và nhân khẩu của thôn Mai Động và xóm Mơ Táo của xã Hoàng Văn Thụ thuộc huyện Thanh Trì Sau khi điều chỉnh, quận Hai Bà Trưng có 23 phường
173-Ngày 14/3/1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số HĐBT, thành lập thêm phường Tân Mai trên cơ sở tách từ phường Giáp Bát Sau khi điều chỉnh, quận Hai Bà Trưng có 24 phường
Trang 3842-Tháng 10/1990, xã Hoàng Văn Thụ thuộc huyện Thanh Trì được sát nhập vào quận Hai Bà Trưng và đổi thành phường Hoàng Văn Thụ Sau khi điều chỉnh, quận Hai Bà Trưng có 25 phường
Ngày 6/11/2003, Chính phủ ra Nghị định số 132/2003/NĐ-CP, điều chỉnh toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các phường Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ (quận Hai Bà Trưng) về thuộc Quận Hoàng Mai quản lý Sau khi điều chỉnh, quận Hai Bà Trưng còn 20 phường
2.1.1 Trên lĩnh vực kinh tế
Trên địa bàn quận Hai Bà Trưng có nhiều nhà máy, xí nghiệp của Trung ương và Hà Nội như: Dệt Kim Đồng Xuân; cảng Hà Nội; cụm công nghiệp Minh Khai-Vĩnh Tuy với hàng chục xí nghiệp nhà máy, chủ yếu thuộc
- Lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng
- Lãnh đạo công tác tư tưởng
- Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ
- Lãnh đạo mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
- Xây dựng và tổ chức đảng
Trang 39Căn cứ vào chỉ đạo của thành ủy Hà Nội và đặc điểm tình hình của quận, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ phường ở quận Hai Bà Trưng đã được xác định như sau:
- Lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh quốc phòng, chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân Trong lãnh đạo phát triển kinh tế tập trung xác định xây dựng cơ cấu kinh tế theo đặc thù của từng phường Các phường tạo môi trường thông thoáng để các doanh nghiệp và tư nhân hoạt động trên địa bàn đúng pháp luật Lãnh đạo quản lý thu chi ngân sách, lập kế hoạch ngân sách và thực hiện nghĩa vụ thuế
Là quận đô thị các phường còn có nhiệm vụ quản lý đầu tư xây dựng các công trình, dự án hạ tầng cơ sở trên địa bàn phường và quản lý trật tự xây dựng, nhà đất, đất công, các công trình công cộng nằm trên địa bàn
Các đảng bộ có nhiệm vụ lãnh đạo chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, thực hiện hai trọng tâm của công tác văn hoá – xã hội là cuộc vận động “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và “ xây dựng con người mới Thủ đô thanh lịch văn minh”, thực hiện chinh sách xã hội với người có công, đối tượng thương binh liệt sĩ, thực hiện xoá nhà tranh tre dột nát, xoá đối giảm nghèo, lãnh đạo công tác y tế giáo dục
Lãnh đạo công tác an ninh quốc phòng, xây dựng thế trận nhân dân vững mạnh, thực hiện chương trình an ninh quốc phòng, đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo vệ an ninh chính trị ở Thủ đô Lãnh đạo ban chỉ đạo 197 và phong trào quần chúng nhân dân bảo vệ an ninh tổ quốc
- Nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn đảng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của đảng bộ, nâng cao chất lượng của đảng viên về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
Tiến hành công tác chính trị tư tưởng bằng công tác tuyên giáo, truyền thông, văn hoá thông tin, hướng dẫn dư luận xã hội, định hướng tư tưởng
Trang 40chính trị của đảng viên và nhân dân Thực hiện công tác dân vận và công tác tôn giáo ở phường
Đảng bộ các phường có nhiệm vụ quản lý đảng viên phát triển đảng viên mới, sắp xếp bố trí quy hoạch cán bộ trong hệ thống chính trị ở cấp phường, quản lý đảng viên đương chức sinh hoạt hai chiều theo quy định 76/QĐ-TW và thi hành kỉ luật của đảng, tiến hành phân loại đánh giá đảng viên và chi bộ hàng năm, thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn đảng ở
cơ sở
Thực hiện công tác kiểm tra, tập trung giải quyết khiếu nại tố cáo cán
bộ đảng viên, kiểm tra thu chi tài chính của đảng bộ
- Nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng chính quyền, củng cố HĐND, UBND, MTTQ, các đoàn thể và cơ quan ở phường trong sạch, hoạt động hiệu quả; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, từng bước hoàn thiện QCDC ở cơ sở
Đảng bộ phường có nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ
sở trong sạch vững mạnh gồm UBND, HĐND, MTTQ và các đoàn thể ở phường, quy hoạch, bố trí, sắp xếp, luân chuyển cán bộ chính quyền hợp lý; thực hiện cải cách tư pháp, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức ở phường; từng bước hoàn hiện QCDC ở phường
Nhiệm vụ chính trị nói trên có tính chất chung nhất cho khối đảng bộ phường Với mỗi đảng bộ phường, căn cứ vào đặc điểm riêng, các đảng bộ xây dựng nhiệm vụ chính trị và kế hoạch công tác có tính chất đặc thù cho đảng bộ mình và ưu tiên các nhiệm vụ có tính chất cấp thiết, bức xúc trong đời sống chính trị ở cơ sở
Từ các nhiệm vụ chính trị của các đảng bộ phường cho thấy trách nhiệm lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở của đảng bộ phường có quan hệ mật thiết với nhiệm vụ lãnh đạo thực hiên QCDC ở cơ sở Nội dung của QCDC ở cơ sở liên quan đến hầu hết các mặt công tác của đảng bộ