Khái niệm thế giới quan và nhân sinh quan Triết học là một trong những khoa học xuất hiện từ rất sớm, sự ra đời của triết học gắn liền với sự nhận thức và cải tạo thế giới của con người
Trang 1ĐINH THỊ PHƯỢNG
THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở HUYỆN TÂN LẠC – TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐINH THỊ PHƯỢNG
THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở HUYỆN TÂN LẠC – TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Đình Cấp
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẾ GIỚI QUAN8 VÀ NHÂN SINH QUAN 8
1.1 Khái niệm thế giới quan, nhân sinh quan và các loại hình thế giới quan 8
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan 21
Chương 2: THỰC TRẠNG THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN TÂN LẠC – TỈNH HOÀ BÌNH HIỆN NAY 29
2.1 Tổng quan về huyện Tân Lạc và cộng đồng người Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình 29
2.2 Biểu hiện thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình 37
Chương 3:CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ MẶT TIÊU CỰC TRONG THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở TÂN LẠC - HOÀ BÌNH HIỆN NAY 79
3.1 Nhóm giải pháp vĩ mô 79
3.2 Nhóm giải pháp vi mô 86
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới quan và nhân sinh quan là những khái niệm cơ bản và quan trọng nhất của triết học Đó là vấn đề xuyên suốt trong lịch sử triết học từ sơ khai cho đến thời kỳ xã hội văn minh của nhân loại ở cả phương Đông lẫn phương Tây Thế giới quan và nhân sinh quan được hình thành bởi con người trong quá trình tìm hiểu, nhận thức về thế giới và chính bản thân mình Mặc
dù tri thức của con người luôn không ngừng phát triển rực rỡ với khát vọng ngày càng được khẳng định và hoàn thiện bản thân nhưng con người vẫn chưa thể giải đáp rõ hàng loạt những câu hỏi lớn: Thế giới là gì? bản chất của nó ra sao? con người từ đâu mà có? con người có vị trí, vai trò như thế nào trong
thế giới ấy? cuộc sống của con người có ý nghĩa gì? v.v
Thế giới quan và nhân sinh quan không phải là cái vô hình mà nó là cái hữu hình, nó không tồn tại dưới dạng tiềm ẩn mà được biểu hiển ra bên ngoài qua đời sống vật chất và đời sống tinh thần của chính con người Có thể thấy rằng mỗi nền triết học, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc mặc dù có những quan niệm chung nhất định nhưng cũng có sự khác biệt trong việc nhìn nhận về thế giới,
vũ trụ, nhân sinh Điều đó thể hiện trình độ nhận thức và cải tạo thế giới của
họ cũng như thể hiện lập trường, tư tưởng triết học của mỗi trường phái triết học, mỗi quốc gia, dân tộc đó Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về thế giới quan và nhân sinh quan nói chung có ý nghĩa rất lớn
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trong 54 dân tộc anh em, người Kinh là dân tộc chiếm đa số với trên 80% còn lại là các dân tộc thiểu số phần lớn là ở khu vực miền núi, biên giới, hải đảo v.v Điều đó cũng đã tạo nên sắc thái phong phú, sự đa dạng về thế giới quan, về nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, có thể thấy rằng phần lớn thế giới quan của những người dân tộc thiểu số còn mang nhiều yếu tố duy tâm, bảo thủ và thậm chí
Trang 5lạc hậu Thiết nghĩ, việc nghiên cứu về thế giới quan và nhân sinh quan của những người dân tộc thiểu số để đánh giá, nhận xét và giúp họ định hướng cho việc nhận thức và cải tạo thế giới Đồng thời để tổ chức thực hiện tốt chính sách dân tộc, chăm lo phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân
tộc thiểu số có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp phát triển đất nước
Là một người con của quê hương Tân Lạc, tác giả rất tự hào được sinh
ra và lớn lên trên một vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu đẹp và kiên cường cách mạng Tân Lạc là một huyện miền núi của tỉnh Hoà Bình, nơi đây là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc như: Kinh, Mường, Thái…nhưng người Mường chiếm đa số, được phân bố trên khắp địa bàn của huyện và trong đó vùng Mường Bi được suy tôn là cái nôi của người Mường Cùng với dòng chảy của thời gian và những biến động của lịch sử, thế giới quan, nhân sinh quan của người Mường cũng vận động, biến đổi theo những quy luật nhất định, vừa liên tục, vừa đứt đoạn, vừa độc lập, vừa kế thừa, vừa có sự đan xen những yếu
tố mới và cũ đã làm nên những nét độc đáo rất riêng của dân tộc Mường, góp phần tạo nên sắc thái chung trong thế giới quan và nhân sinh quan của cả cộng đồng người Việt Theo sử truyền và thực tế cho thấy người Mường có nhiều nét tương đồng và cùng nguồn gốc với người Kinh nhưng trong quá trình phân chia hệ thống cai trị của các bộ tộc khác nhau đã đưa số tộc người Mường trở thành dân tộc riêng biệt Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triển song do quá trình lịch sử đã để lại cho tộc người này tính tự ti, bảo thủ, chậm tiến bộ so với các dân tộc khác Người Mường tuy đã có nhiều cố gắng học hỏi để theo các dân tộc bạn về sự tiến bộ nhưng
ám ảnh về nguồn gốc, về quá khứ vẫn còn đeo đuổi mà họ chưa có thể thoát
ra được Vì vậy, đặt ra nhiệm vụ là phải nghiên cứu, tổng kết, đánh giá và rút
ra những kết luận đúng đắn khách quan để tạo cơ sở cho việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Đồng thời giáo dục và bỗi dưỡng thế
Trang 6giới quan duy vật biện chứng cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung và người Mường ở huyện Tân Lạc - tỉnh Hoà Bình nói riêng ngày càng
có hiệu quả
Việc đứng trên lập trường triết học Mác - Lênin để nghiên cứu thế giới quan và nhân sinh quan của đồng bào dân tộc Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình hiện nay, chỉ ra những yếu tố tích cực, phát hiện những giá trị tinh tuý của nó cũng như những mặt hạn chế của nó chính là một việc làm có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn Với tầm quan trọng và ý
nghĩa như vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn vấn đề: “Thế giới quan và nhân
sinh quan của người Mường ở huyện Tân Lạc - tỉnh Hoà Bình hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Triết học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Thế giới quan và nhân sinh quan nói chung không phải là vấn đề mới nhưng các công trình nghiên cứu riêng về thế giới quan và nhân sinh quan của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì hầu như không có Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực văn hoá học, dân tộc học, văn học…thì vấn đề thế giới quan và nhân sinh quan cũng được nghiên cứu với tầm cỡ, quy
mô và khía cạnh khác nhau Có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây:
- Các công trình nghiên cứu về thế giới quan và nhân sinh quan các dân
tộc thiểu số Việt Nam dưới góc độ văn hóa như: Đỗ Huy - Trường Lưu “bản
sắc dân tộc của văn hoá”, Viện Văn hoá, 1990; Huy Cận, “Suy nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Nguyễn Đức Từ
Chi, “Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người”, Nxb Văn hoá Dân tộc, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật , Hà Nội, 2003; Trần văn Bính (Chủ biên), “Văn
hoá các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004; Phan Hữa Dật, “Góp phần nghiên cứu dân tộc học
Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Trang 7Các công trình này trên cơ sở nghiên cứu về văn hoá và bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có đưa ra quan niệm của các dân tộc khác nhau về thế giới, về vũ trụ, về nhân sinh nhưng phần lớn các công trình chỉ nghiên cứu về các phong tục, tập quán của các dân tộc là chủ yếu và vấn
đề thế giới quan và nhân sinh quan chỉ được trình bày dưới dạng nhận định ở
góc độ văn hoá
- Những công trình nghiên cứu về người Mường như: Nguyễn Ngọc
Thanh, “Gia đình và hôn Nhân của người Mường ở Tỉnh Phú Thọ”, Luận án tiến sỹ khoa học lịch sử, Viện dân tộc học, Hà Nội, 1999; Vương Anh, “Tiếp
cận với văn hoá bản Mường” (nghiên cứu - tiểu luận), Nxb Văn hoá dân tộc
hà Nội, 2001; Hà Văn Linh,“Tổ chức xã hội cổ truyền và những biến đổi của
nó ở người Mường Thanh Sơn - Phú Thọ”,Luận án tiến sỹ khoa học lịch sử,
Viện dân tộc học, Hà Nội, 2005;“Người Mường ở Việt Nam”, Nxb Thông
Tấn, Hà Nội, 2008
Các công trình này chỉ ra những đặc trưng trong văn hoá của người Mường ở Thanh Hoá, Phú Thọ, Hoà Bình Qua đó nêu lên những quan niệm của người Mường về nguồn gốc vạn vật, quan niệm về chu kỳ đời người Đồng thời các công trình chỉ ra những nét đặc thù trong kinh tế cổ truyền
cũng như các lễ hội, phong tục tập quán của người Mường ở Việt Nam
- Một trong những công trình nghiên cứu về văn hoá người Mường
dưới góc độ triết học phải kể đến: Trần Từ (Nguyễn Đức Từ Chi),“Người
Mường ở Hoà Bình, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 1996
Nội dung của cuốn sách trình bày về vũ trụ luận của người Mường qua trang phục (hoa văn trên cạp váy Mường), qua những bài Mo Mường (những bài cúng tế trong nghi thức tổ chức đám tang)…Tuy nhiên vấn đề về thế giới
quan và nhân sinh quan cũng chưa được trình bày một cách rõ ràng
Trang 8- Những bài viết và công trình nghiên cứu về người Mường ở Hoà Bình có liên quan trực tiếp đến luận văn như: Trương Sỹ Hùng - Bùi
Thiện,“Vốn cổ văn hoá Việt Nam Đẻ đất đẻ nước”(tiếng Việt, tiếng Mường
ghi trọn ở Hoà Bình - Tập I và tậpII), Nxb văn hoá thông tin, Hà Nội, 1995;
Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Ngọc Thanh (chủ biên), Bùi Văn Sách,
Quách Thị Oanh, Đinh Văn Vượng,“Người Mường ở Tân Lạc tỉnh Hoà
Bình”, Nxb Văn hoá thông tin, 2003; Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoà Bình,“Mo Mường Hoà Bình”, Hoà Bình - Tháng 9/ 2011; Sở Văn hoá thông tin và du
lịch tỉnh Hoà Bình, Bùi Chí Thanh (chủ biên), “Văn hoá cồng chiêng của
người Mường Hoà Bình”, Hoà Bình, 2011
Các công trình này nghiên cứu tổng thể về các lĩnh vực kinh tế, văn hoá,
xã hội của người Mường ở Hoà Bình Đặc biệt vùng Mường Bi - Tân Lạc - Hoà Bình là địa bàn khảo sát chủ yếu, bởi lẽ nơi đây được suy tôn là cái nôi của người Mường, là nơi tập trung những nét hoang sơ nhất trong đời sống
của người Mường cổ
Như vậy, đã có rất nhiều công trình, bài viết về Người Mường với những mức độ và phạm vi khác nhau mà trên đây chỉ là một số công trình mang tính điển hình mà tác giả có dịp tìm hiểu Tuy chưa có công trình nào nghiên cứu về thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình nhưng chắc chắn đây sẽ là nguồn tư liệu quý báu và gợi mở cho tác
giả nhiều vấn đề trong quá trình nghiên cứu đề tài “Thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường ở huyện Tân Lạc - tỉnh Hoà Bình hiện nay”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu:
Từ việc nghiên cứu lý luận về thế giới quan nói chung, luận văn vận dụng vào việc khảo sát thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
Trang 9cực trong thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường ở huyện Tân Lạc,
tỉnh Hoà Bình hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lý luận về thế giới quan và nhân sinh quan
Làm rõ những biểu hiện thế giới quan và nhân sinh quan của người
Mường ở huyện Tân Lạc - Tỉnh Hoà Bình
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường ở
Tân Lạc - Hoà Bình hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường qua những biểu
hiện trong cuộc sống của họ hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu:
Do điều kiện không thể nghiên cứu tất cả những hoạt động trong đời sống của người Mường nói chung và do yêu cầu riêng của đề tài nên tác giả chỉ khảo sát những biểu hiện thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường qua đời sống vật chất và tinh thần đồng bào dân tộc Mường vùng Mường Bi, cái nôi của người Mường ở huyện Tân Lạc - Tỉnh Hoà Bình trong
giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận:
Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã công bố, có nội dung liên quan tới đề tài mà luận văn đề cập
Trang 10- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề; kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp: Lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy
nạp và diễn dịch, so sánh - đối chứng khảo sát, quan sát thực tế, phỏng vấn
chuyên gia, thống kê, nghiên cứu tài liệu v.v nhằm đạt tới mục đích mà luận
văn đã đề ra
6 Đóng góp mới của luận văn
Tổng hợp các công trình nghiên cứu về người Mường nói chung Trên
cơ sở đó luận văn trình bày một cách có hệ thống những nét khái quát về thế giới quan và nhân sinh quan của đồng bào dân tộc Mường trên địa bàn huyện
Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình
Rút ra một số kết quả và bài học kinh nghiệm góp phần làm tốt hơn việc phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong thế giới quan
và nhân sinh quan của người Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn sau khi hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo cho những vấn đề có liên quan và vận dụng vào giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan theo quan điểm duy vật biện chứng cho đồng bào dân tộc Mường ở huyện Tân Lạc - tỉnh Hoà Bình Đồng thời giúp cho những cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tại huyện Tân lạc và các tổ chức đoàn thể khác trong việc quản lý và nâng cao
hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn mình quản lý
8 Kết cấu nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
phần nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương, 7 tiết
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẾ GIỚI QUAN
VÀ NHÂN SINH QUAN
1.1 Khái niệm thế giới quan, nhân sinh quan và các loại hình thế giới quan
1.1.1 Khái niệm thế giới quan và nhân sinh quan
Triết học là một trong những khoa học xuất hiện từ rất sớm, sự ra đời của triết học gắn liền với sự nhận thức và cải tạo thế giới của con người Cùng với những hoạt động vật chất để đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của chính mình, năng lực tư duy của con người dần đạt đến một trình độ nhất định, tức là có thể sử dụng những khái niệm để diễn đạt nhận thức của mình về một vấn đề nào đó Có lẽ một trong những vấn đề đầu tiên mà triết học quan tâm
là vũ trụ xung quanh mình là như thế nào? nó từ đâu đến? nó vận động như thế nào? Vấn đề thứ hai là về chính bản thân con người; tiếp theo là con người
có nhận thức về vũ trụ thì đi đến các quyết định hoạt động để can thiệp vào thế giới khách quan để tìm kiếm sự tồn tại của mình Và lý giải cho những vấn đề trên đã tạo nên thế giới quan của chính con người, làm nên hệ thống những quan điểm của một chủ thể về thế giới, về những hiện tượng tự nhiên,
xã hội và các quy luật phát triển của chúng, về bản thân con người, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới
Theo nghĩa rộng, thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con
người nói chung, còn theo nghĩa hẹp thì khái niệm thế giới quan được sử
dụng với ý nghĩa là quan niệm của con người về thế giới tự nhiên, quan niệm
về con người, về xã hội loài người (nhân sinh quan) Đây cũng chính là cơ sở
để tác giả khảo sát những biểu hiện của thế giới quan và nhân sinh quan của cộng đồng người Mường ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, tức là khái niệm thế giới quan được sử dụng theo nghĩa hẹp
Trang 12Khái niệm “thế giới quan” đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu,
tiếp cận ở nhiều cấp độ và đưa ra những định nghĩa khác nhau Chẳng hạn như Từ điển Bách khoa triết học của Liên Xô năm 1983 đã đưa ra định nghĩa:
Thế giới quan - đó là hệ thống những quan điểm đối với thế giới khách quan và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó, là hệ thống những quan điểm về quan hệ của con người đối với hiện thực xung quanh và bản thân con người cũng như những lập trường sống
cơ bản của con người được quy định bởi những quan điểm đó, là niềm tin, lý tưởng, những nguyên tắc nhận thức và hoạt động, những định hướng giá trị [47, tr.375]
Hoặc trong Từ điển triết học của Nhà xuất bản Tiến Bộ - Matxcơva và
có sự bổ sung, sửa chữa của Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội, năm 1986 thì khái niệm thế giới quan được định nghĩa một cách ngắn gọn hơn:
Thế giới quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại Thế giới quan hình thành gồm những yếu tố thuộc về tất cả mọi hình thái ý thức xã hội [48, tr.539]
Bên cạnh đó, cuốn từ điển còn lý giải rõ: Theo nghĩa tổng quát đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội, các quan niệm triết học, xã hội, chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học v.v các quan niệm triết học hợp thành hạt nhân chủ yếu của thế giới quan Vấn đề cơ bản của triết học cũng là vấn đề chủ yếu của thế giới quan, đó là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức, tuỳ theo cách giải quyết vấn đề cơ bản đó mà người ta có thể chia thế giới quan triết học thành duy vật hay duy tâm Thế giới quan trực tiếp phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của con người đạt được trong từng giai đoạn lịch sử Trong xã hội có
Trang 13phân chia giai cấp thì thế giới quan cũng còn mang tính giai cấp Thế giới quan tiêu biểu của các xã hội cũng là thế giới quan của giai cấp thống trị xã
hội đó Trong Đại Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì thế giới
quan được định nghĩa: “là cách nhìn nhận và giải thích các hiện tượng tự
nhiên, xã hội thành hệ thống quan điểm thống nhất” [54, tr.1557]
Trên cơ sở quan niệm như vậy về thế giới quan, chúng ta có thể hiểu:
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một người hoặc một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn thể xã hội về thế giới và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó, về chính bản thân cuộc sống con người và loài người
trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
Về nội dung, thế giới quan thể hiện những quan niệm của con người về
các vấn đề: Thứ nhất, về bản chất của thế giới, nghĩa là những quan niệm của con người về tự nhiên, xã hội, về hiện thực xung quanh Thứ hai, thể hiện
quan niệm của con người về chính bản thân con người, về mục đích, ý nghĩa cuộc sống của con người hay có thể hiểu là khả năng tự ý thức về bản thân, về
vị trí, vai trò của mình trong thế giới và trong quan hệ với những người xung
quanh Thứ ba, thể hiện quan niệm về khả năng của con người trong việc
nhận thức và cải tạo thế giới
Hiểu thế giới quan với ý nghĩa như vậy là bao hàm cả nhân sinh quan, tức là toàn bộ những quan niệm về cuộc sống của con người và loài người
Theo Từ điển tiếng Việt, nhân sinh quan “là quan niệm về cuộc đời, thành hệ
thống bao gồm lý tưởng, lẽ sống” [54, tr.764] Có thể hiểu một cách tổng quát
nhân sinh quan bao gồm những quan niệm về cuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? mục đích, ý nghĩa, giá trị ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? Cũng giống như thế giới quan, nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội của con người, mang tính giai cấp và tính lịch sử cụ thể, nội dung của nó biểu hiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng, hoài bão của con người trong mỗi
Trang 14chế độ xã hội cụ thể, nhân sinh quan là các hệ giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo
v.v và đóng vai trò định hướng cho cuộc sống của con người
Cũng theo cách hiểu thế giới quan như trên thì thế giới quan gồm có thế
giới quan cá nhân, thế giới quan giai cấp và thế giới quan xã hội
Thế giới quan cá nhân là những kinh nghiệm sống, những tri thức của
cá nhân nhất định về tự nhiên, xã hội và con người xung quanh Tri thức tích luỹ được giúp cá nhân có lập trường để bảo vệ những quan điểm của riêng mình Tri thức và niềm tin của mỗi người được phát triển đến một mức độ nào
đó sẽ tạo nên lý tưởng sống của người đó Như vậy, sự hình thành thế giới quan cá nhân là một quá trình lâu dài và phụ thuộc nhiều yếu tố, nhiều điều kiện khác nhau Chẳng hạn như: trình độ hiểu biết của từng người, chế độ xã hội, địa bàn sinh sống, điều kiện vật chất và tinh thần của cá nhân và nhất là yếu tố giáo dục Chính vì vậy, phẩm chất của thế giới quan cá nhân có thể thay đổi theo những yếu tố và điều kiện đó Do đó việc giáo dục thế giới quan đúng đắn, khoa học cho cá nhân là rất cần thiết cho một xã hội tiến bộ
Thế giới quan giai cấp là hệ thống những quan điểm của một giai cấp
về thế giới, về con người và vị trí, vai trò, lợi ích của giai cấp ấy, nó phản ánh
vị thế (tiến bộ hay lạc hậu) của giai cấp đó trong tiến trình lịch sử
Thế giới quan xã hội là một hệ thống những quan điểm về thế giới, về
vị trí, vai trò của con người trong thế giới được xây dựng trên những phạm trù, nguyên lý được trình bày trong học thuyết của giai cấp thống trị, trong đó lợi ích của giai cấp thống trị được trình bày như đại diện cho lợi ích toàn xã hội Thế giới quan xã hội do các nhà tư tưởng, các nhà lý luận xây dựng nên, nó
có thể khoa học, có thể không khoa học Điều này phải được thực tiễn kiểm
nghiệm, chứng minh là khoa học hay không
Thế giới quan của con người có cấu trúc phức tạp trong đó các yếu tố
cơ bản của thế giới quan là tri thức, niềm tin và lý tưởng
Trang 15Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan Cũng giống
như mọi ý thức xã hội, thế giới quan bao gồm những tri thức về tự nhiên, xã hội, con người nhưng không phải mọi tri thức đều là tri thức về thế giới quan
Mà chỉ là những tri thức nào biểu thị quan điểm chung về tồn tại và nhận thức mới là những tri thức về thế giới quan
Trong nội dung tri thức của thế giới quan, các quan điểm, những nguyên lý của triết học, những cái sinh ra biểu thị nguyên tắc phổ biến, những quan điểm về sự tồn tại thế giới đóng vai trò làm nền tảng cho mọi thế giới quan ở các giai đoạn phát triển của nó và có ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong nhận thức khoa học vì triết học phản ánh các quan điểm chung nhất về
thế giới
Niềm tin là một trạng thái tâm lý, tinh thần đặc biệt được phát triển trên
cơ sở của tri thức Nó là động lực thúc đẩy khát vọng nhận thức và cải tạo hiện thực của con người Niềm tin là nhân tố cơ bản không thể thiếu trong cấu trúc của thế giới quan Đó là sự hoà quyện một cách hữu cơ giữa tri thức, tình cảm và ý chí cá nhân trong mỗi con người Niềm tin được hình thành trên cơ
sở những tri thức và củng cố vững chắc bằng kinh nghiệm sống riêng Con người trở thành người với ý nghĩa cao quý của nó chỉ khi nào được khích lệ bởi một tư tưởng chân chính Con người làm một việc gì đó mà không có niềm tin vào sự đúng đắn của tư tưởng thì nó sẽ bị tước mất những xung động
ý chí, khát vọng, nghị lực, lòng nhiệt tình, sự cổ vũ cần thiết đối với kết quả của bất kỳ công việc gì, đặc biệt công việc có ý nghĩa xã hội to lớn Niềm tin
tư tưởng giúp con người vượt qua được chính mình và hình thành những công trạng vì những lý tưởng của mình Không có tâm hồn nóng bỏng của niềm tin, không có sự tác động của ngọn lửa rực cháy vào lý trí thì không sản sinh ra cái gì vĩ đại cả Niềm tin đòi hỏi hoạt động của mỗi người phải dựa trên cơ sở những tri thức khoa học và tuân theo những giá trị và chuẩn mực đúng đắn
Trang 16của xã hội Nếu con người sống mà không có niềm tin hoặc thiếu đi niềm tin thì dễ bị mất đi phương hướng trong hoạt động nhận thức và thực thực tiễn,
thậm chí có thể bị rơi vào bế tắc
Lý tưởng là một trong những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự hình
thành của thế giới quan Lý tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách đặc biệt trong ý thức của con người, là mục tiêu cao đẹp được phản ánh vào trong đầu óc của con người dưới hình ảnh mẫu mực và hoàn chỉnh mà
con người cần phấn đấu để đạt tới
Lý tưởng đúng đắn cao cả sẽ làm cho mỗi người hình thành niềm hy vọng lớn, góp phần làm cho họ có thái độ, lập trường sống đúng đắn, lao động, học tập và công tác tích cực, giúp cho họ vươn tới những giá trị cao đẹp; như lòng nhân ái, lòng vị tha và những phẩm chất tốt đẹp và giúp họ đấu tranh chống lại những cái cấu, cái tiêu cực và lạc hậu trong xã hội
Như vậy, trong ba yếu tố cấu thành thế giới quan, tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi đã trở thành niềm tin của con người qua sự thể nghiệm lâu dài trong cuộc sống của họ và sự hình thành lý tưởng là sự phát triển ở trình độ cao của
thế giới quan
1.1.2 Các loại hình thế giới quan
Thế giới quan ra đời, hình thành, phát triển, luôn luôn gắn với sự phát triển của thực tiễn xã hội và sự hiểu biết thế giới, nhận thức khoa học của con người nhằm giúp con người khám phá, chinh phục và cải tạo thế giới khách quan Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, lịch sử triết học từ trước tới nay xét dưới góc độ nhất định cũng là lịch sử đấu tranh giữa hai trường phái triết học, đồng thời là sự đấu tranh giữa hai loại hình thế giới quan Cuộc đấu tranh này xét cho cùng là để giải quyết vấn đề cơ bản của triết học cũng chính là vấn đề chủ yếu trong thế giới quan xoay quanh mối quan hệ giữa vật
Trang 17chất và ý thức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội và từ khi xã hội loài người có giai cấp đến nay có hai loại thế giới quan chủ yếu gắn với hai trường phái triết
học đó chính là thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm
Thế giới quan duy tâm là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới là
tinh thần và thừa nhận vai trò quyết định của các yếu tố tinh thần đối với thế giới vật chất nói chung, đối với con người, xã hội loài người nói riêng Các yếu tố tinh thần đó có thể là một lực lượng siêu nhiên nào đó tồn tại bên ngoài con người như: chúa trời, thượng đế, “tinh thần thế giới”, “ý niệm tuyệt đối” hay cũng có thể là ý thức của con người như tình cảm, ý chí, tri thức, kinh nghiệm v.v
Thế giới quan duy vật là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới
là vật chất, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị trí, vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực Thế giới quan duy vật thường gắn liền với các lực lượng xã hội tiến
bộ, đang lên, họ cần đổi mới thế giới quan sao cho phù hợp với lợi ích của họ Thế giới quan duy vật cổ đại phản ánh thế giới một cách mộc mạc, chất phác, ngây thơ nhưng về cơ bản đúng với những hiện tượng khách quan muôn màu, muôn vẻ Kế thừa những tinh tuý của thế giới quan duy vật cổ đại, thế giới quan duy vật cận đại bằng phương pháp phân tích qua thực nghiệm đã giải phóng khoa học tự nhiên ra khỏi thần học, khẳng định thắng lợi của trí tuệ con người đối với các tín đồ tôn giáo Thế giới quan duy vật cận đại là hệ tư tưởng của giai cấp tư sản cách mạng đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ, nó trở thành vũ khí tư tưởng đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến Bên cạnh đó, thế giới quan duy vật cận đại còn là một trong những tiền đề lý luận cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác (vào những năm 40 của thế kỷ XIX) và từ đó nó phát triển đến giai đoạn cao là thế giới quan duy vật biện chứng Thế giới quan duy vật cũng thừa nhận
sự tồn tại của các hiện tượng tinh thần song mọi biểu hiện của tinh thần đều có nguồn gốc từ vật chất và do vật chất quyết định Các nhà triết học duy vật khẳng
Trang 18định khả năng nhận thức sự vật hiện tượng của ý thức con người Thế giới quan
duy vật hoàn toàn đối lập với thế giới quan duy tâm, tôn giáo
Xét theo lịch sử phát triển, triết học chia thế giới quan thành ba loại hình:
thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học
Thế giới quan huyền thoại (bao gồm cả thần thoại) là phương thức cảm
nhận thế giới đặc trưng cho “tư duy nguyên thuỷ” đó là hình thái biểu hiện tập trung và khái quát thế giới quan của người nguyên thuỷ Nhưng không phải mọi huyền thoại đều trở thành thế giới quan, chỉ có những huyền thoại giải thích thế giới có tính chất hệ thống hoá và có tính chất vũ trụ quan, nhân sinh quan mới là thế giới quan Trong huyền thoại các yếu tố tri thức và cảm xúc,
lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và cái hoang đường hoà quyện vào nhau thể hiện qua quan niệm của con người, của cộng đồng người về nguồn gốc thế giới, về chủ nghĩa và vị trí của con người trong thế giới đó Những biểu tượng cảm tính được nhân cách hoá thành các vị thần
trong huyền thoại cũng tạo ra cơ sở cho sự ra đời của thế giới quan tôn giáo
Thế giới quan tôn giáo là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách
hư ảo, hoang đường, thể hiện niềm tin của con người vào sức mạnh của các lực lượng siêu nhiên đối với thế giới, đối với con người Thế giới quan tôn giáo ra đời khi xã hội loài người có sự phận chia giai cấp, khi trình độ hiểu biết, nhận thức của con người về hiện thực khách quan còn hết sức thấp kém, khi con người còn bất lực trong việc giải thích và tìm ra bản chất của các hiện tượng tự nhiên và xã hội Vì vậy, con người đã thần thánh hoá các hiện tượng
tự nhiên, xã hội, đã gán cho chúng một bản chất “siêu tự nhiên”, một sức mạnh “siêu thế gian” Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người Niềm tin tôn giáo được thể hiện qua các hoạt động tôn giáo thể
hiện sự sùng bái các lực lượng siêu nhiên
Trang 19Xét về bản chất thì thế giới quan thần thoại và thế giới quan tôn giáo có quan hệ chặt chẽ với thế giới quan duy tâm Tuy nhiên, cần thấy một khía cạnh khác của tôn giáo đó là sự thể hiện nguyện vọng được giải thoát khỏi những đau khổ và vươn tới hạnh phúc của con người Nền tảng trong thế giới quan tôn giáo là niềm tin tôn giáo bao hàm cả niềm tin vào khả năng đạt được một cuộc sống tốt đẹp Mặt tích cực đó đã làm cho tôn giáo tồn tại trong hầu hết các dân tộc trên thế giới và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của xã hội với
nhiều mức độ khác nhau Nếu như thế giới quan huyền thoại chưa có hệ thống,
hỗn độn thì thế giới quan tôn giáo có hệ thống nhất định Có thể nói thế giới quan tôn giáo là sự hệ thống hoá thế giới quan huyền thoại và do đó cao hơn thế giới quan huyền thoại Tính quy luật chung của sự hình thành thế giới quan tôn giáo là đi từ đa thần đến nhất thần Đó là thế giới quan huyền thoại và thế giới
quan tôn giáo cùng đồng hành và cùng tồn tại cho đến ngày nay
Thế giới quan triết học: Xuất hiện khi tư duy con người được mài sắc
cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp của hoạt động thực tiễn, được đánh dấu khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, xuất hiện tầng lớp lao động trí óc trong xã hội cổ đại, con người bước đầu có ý thức về mình như một thực thể tách khỏi giới tự nhiên Tư duy của con người hướng vào chính hoạt động của bản thân mình và khi tư duy trừu tượng của con người đã phát triển, lúc này ý thức xã hội phân hoá thành các hình thái ý thức
xã hội: hệ tư tưởng chính trị, đạo đức, pháp quyền, nghệ thuật, khoa học, triết
học v.v
Thế giới quan triết học có ý nghĩa không chỉ đơn thuần về mặt lý luận
và nhận thức, mà nó còn có ý nghĩa lớn lao về mặt thực tiễn nữa Biểu hiện cách nhìn bao quát với vũ trụ, quyết định thái độ và là kim chỉ nam cho cho hành động của con người Nhờ đã phát hiện những quy luật khách quan của tự nhiên và của xã hội nên thế giới quan khoa học và tiến bộ hướng những hoạt
Trang 20động của con người đúng theo xu hướng phát triển Ở đây, tác giả cũng xin
lưu ý thêm khái niệm thế giới quan và khái niệm thế giới quan triết học có
một sự khác nhau rất lớn Thế giới quan được hiểu đó là một hệ thống những quan niệm về thế giới khách quan, trong đó các yếu tố cảm xúc, tri thức và niềm tin hoà quyện vào nhau, còn thế giới quan triết học là khái niệm có tính
hệ thống, lý luận và tổ chức theo một lôgic nhất định, trên cơ sở đó có thể triển khai các thao tác suy luận của tư duy để gia tăng kiến thức có thể ứng dụng cho các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Nói cách khác thế giới quan triết học phải trở thành phương pháp luận
Khác với huyền thoại và giáo lý tôn giáo, triết học diễn tả quan niệm của con người về thế giới dưới dạng hệ thống lý luận trong đó các phạm trù, quy luật giữ vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới của con người Khi triết học xuất hiện với tư cách là hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới, tri thức triết học giúp cho con người tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn và các tri thức do các khoa học khác đưa lại làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác Do vậy triết học đã trang bị những tri thức phổ quát nhất làm cơ sở lý luận cho thế giới quan và có thể dùng thế giới quan triết học
ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Tiếp cận vấn đề thế giới quan từ giác độ nhận thức khoa học có thể phân chia thành thế giới quan tiền khoa học, thế giới quan phi khoa học và
thế giới quan khoa học
Thế giới quan tiền khoa học là những quan niệm được hình thành qua
những trải nghiệm trong cuộc sống với trình độ nhận thức còn thấp kém Những quan điểm này chưa có căn cứ khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên
nên phản ánh hiện thực chưa đầy đủ, chưa chính xác
Trang 21Thế giới quan phi khoa học do không được dựa trên tri thức khoa học
nên cơ bản là đối lập với thế giới quan khoa học, trong đó có những biểu hiện của thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo, phản ánh sai lầm, hư ảo hiện thực Thế giới quan phi khoa học còn có thể là phản khoa học, phản ánh
xuyên tạc hiện thực
Thế giới quan khoa học là những quan điểm của con người về thế giới
và vị trí của con người trong thế giới, được xây dựng trên cơ sở những tri thức khoa học Khoa học tạo tiền đề, xác lập tư tưởng, là lý thuyết soi rọi hoạt động thực tiễn, khoa học vừa là nhân tố thức đẩy nhận thức của con người phát triển vừa là nhân tố để xác định chân lý Do vậy, thế giới quan khoa học
là những quan điểm phản ánh các sự vật hiện tượng, các quá trình đang diễn
ra một cách khách quan, đúng đắn Thế giới quan không chỉ đem lại hiểu biết đúng mà còn chỉ ra cách thức hoạt động phù hợp, tạo dựng niềm tin cho con
người trên bước đường chinh phục thế giới
Thế giới quan khoa học có sự gắn bó mật thiết với thế giới quan duy vật bởi cùng tin vào sức mạnh hiện thực, của sự thật và khả năng nhận thức vô tận của con người Cũng như thế giới quan duy vật, thế giới quan khoa học đối lập với thế giới quan duy tâm, tôn giáo, thế giới quan khoa học phát triển vào thời kỳ Phục hưng đã góp phần đẩy lùi thế giới quan tôn giáo, giải phóng con người khỏi sự trói buộc tinh thần của chủ nghĩa duy tâm, của nhà thờ, của những tín điều tôn giáo và mở đường cho những phát minh khoa học nở rộ
trong những thời kỳ sau đó, đặc biệt là thời kỳ cận đại
Nếu phân chia theo đặc điểm chính trị - xã hội và giai cấp của sự phản ánh hiện thực thì ngày nay có rất nhiều loại hình thế giới quan trong đó có hai loại thế giới quan đối lập nhau: thế giới quan cộng sản chủ nghĩa và thế
giới quan tư sản
Thế giới quan cộng sản chủ nghĩa (hoặc thế giới quan xã hội chủ nghĩa)
Khái niệm này không dùng để chỉ thế giới quan của một trường phái triết học
Trang 22mà là để chỉ thế giới quan của giai cấp vô sản, giai cấp đang lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc cách mạng xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa
và cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới Thế giới quan cộng sản chủ nghĩa phản ánh lập trường của giai cấp vô sản và của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh nhằm thủ tiêu áp bức, bóc lột và xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng Thế giới quan cộng sản chủ nghĩa là thế giới quan khoa học dựa trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin, phản ánh đúng hiện thực khách quan, phân tích hiện thực khách quan một cách khoa học, từ đó có thể gọi đây là thế
giới quan Mác - Lênin - thế giới quan duy vật biện chứng
Thế giới quan tư sản là loại hình thế giới quan biện hộ, bảo vệ hệ thống
quan hệ xã hội tư bản chủ nghĩa phản động, lỗi thời Điều đó không chỉ giải thích việc nó xuyên tạc các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, thế giới quan tư sản thường truyền bá chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, ích kỷ và tâm trạng bi quan, chán nản
Ngoài hai loại hình thế giới quan nói trên, ở Việt Nam do bị ảnh hưởng rất sâu sắc sự thống trị của giai cấp phong kiến kéo dài hàng ngàn năm cho đến nay ở nước ta còn tồn tại những tàn tích của thế giới quan phong kiến, thế giới quan của các tầng lớp tiểu tư sản, thế giới quan nguyên thuỷ của vùng xa
xôi hẻo lánh thuộc các dân tộc ít người
Có thể thấy thế giới quan thuộc về lĩnh vực tư tưởng, tinh thần của xã hội và thế giới quan được chia thành nhiều loại hình khác nhau Khi xem xét dưới góc độ bản chất xã hội của tư tưởng thì các khái niệm thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, thế giới quan duy vật biện chứng, thế giới quan Mác - Lênin là đồng nhất và có thể khẳng định đó là thế giới quan khoa học thể hiện những quan điểm, quan niệm duy vật, biện chứng khoa học về thế giới, về con người
và vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Nhưng xét về giá trị khoa học, tư tưởng chính trị - giai cấp thì các khái niệm này lại có sự phân biệt nhất định Khi dùng khái niệm thế giới quan khoa học là muốn phân biệt với thế
Trang 23giới quan phi khoa học, thế giới quan phản khoa học, thế giới quan tôn giáo Khi dùng khái niệm khái niệm thế giới quan duy vật biện chứng là để phân biệt với thế giới quan duy tâm, siêu hình và khi dùng khái niệm thế giới quan Mác - Lênin là muốn phân biệt với các thế giới quan phi mácxit, khi dùng khái niệm thế giới quan cộng sản chủ nghĩa hay thế giới quan xã hội chủ nghĩa là muốn thể hiện tư tưởng, tinh thần của giai cấp công nhân, cũng là tư tưởng chủ đạo của các nước đang có xu hướng đi lên xã hội chủ nghĩa, khái niệm này còn
được sử dụng khi muốn thể hiện sự đối lập với thế giới quan tư sản
Thế giới quan có vai trò đặc biệt trong đời sống của con người và xã hội loài người Thế giới quan là trình độ đặc biệt của tinh thần, là sự tổng hợp của nhận thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin, ý chí…tạo nên cơ sở cho con người tiếp tục tìm hiểu thế giới, xác định thái độ, cách thức hoạt động, ứng xử Thế giới quan thực hiện nhiều chức năng: chức năng nhận thức, chức năng xác lập giá trị, chức năng đánh giá, chức năng điều chỉnh hành vi…khái quát
lại là chức năng định hướng cho toàn bộ hoạt động của con người Có thể
hình dung thế giới quan như một thấu kính qua đó con người nhìn nhận thế giới xung quanh, nhận thức bản thân mình, xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống, chủ động lưa chọn phương thức hành động và sinh sống của riêng mình Thế giới quan đúng đắn sẽ là tiền đề xác lập nhân sinh quan tích cực Ngược lại, thế giới quan phản khoa học dễ làm hình thành nhân sinh quan tiêu cực Như vậy, thế giới quan quy định cả tình cảm, thái độ, hành vi của con người trong quan hệ với thế giới xung quanh và với những người khác Sự đúng sai ngay từ thế giới quan sẽ quy định sự thành công hay thất bại tất yếu của con người trong quá trình thực hiện mục tiêu Từ nguyên tắc phương pháp luận rút
ra là để có thể tổ chức thành công mọi viêc, bất luận khó dễ phải bắt đầu ngay
từ vấn đề chung là khâu xác định tư tưởng, vấn đề thế giới quan Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học, lập trường duy vật triệt để thống nhất
Trang 24hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, thống nhất giữa tính khoa học, tính cách mạng và đặc biệt việc phát hiện vai trò của thực tiễn, thế giới quan duy vật biện chứng đã thể hiện trình độ phát triển cao nhất của các loại
thế giới quan trong lịch sử triết học
Bên cạnh đó, thế giới quan còn là cơ sở để phân chia triết học thành duy vật hay duy tâm Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa duy vật mang tính khoa học, vì vậy nó phải trải qua giai đoạn thử thách và kiểm nghiệm, còn chủ nghĩa duy vật thì có một sự tiện lợi vì nó đặt niềm tin ở một đấng sáng tạo nào
đó mà không cần phải có sự phân tích và kiểm nghiệm Có lẽ đó cũng là lý do cho sự tồn tại như cặp bài trùng của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
trong lịch sử triết học
Thế giới quan, ngoài tính duy vật hay duy tâm về mặt lập trường triết học thì nó còn mang tính lịch sử, tính giai cấp Dù ở thời đại nào với trình độ nào thì những vấn đề triết học đầu tiên vẫn là câu hỏi về thế giới khách quan xung quanh mình, nó được tóm tắt trong câu hỏi có tính chất nêu vấn đề “thế giới quanh ta là gì?” Những câu trả lời khác nhau trong các lĩnh vực là cơ sở cho sự phân loại các ngành khác nhau Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học làm cho chúng ta tưởng chừng như các khoa học độc lập và tách biệt, song nhiệm vụ của triết học vẫn là đưa ra một cái nhìn tổng quát trên cơ sở
những thành tựu của các khoa học khác nhau
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thế giới quan và nhân sinh quan
1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong mối quan hệ giữa môi trường, hoàn cảnh và con người, giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan thì môi trường, hoàn cảnh, hay điều kiện khách quan giữ vị trí chi phối chủ yếu đến mọi hoạt động của chủ thể, quyết định vai trò của nhân tố chủ quan Theo đó, quy luật hình thành và phát triển
Trang 25thế giới quan, nhân sinh quan thông qua mối tương quan giữa những quan niệm của con người với các phương diện khác của đời sống xã hội chính là sự khẳng định vai trò của con người trong quá trình chắt lọc những tri thức, những tinh hoa của nhân loại tạo nên sự phong phú cho đời sống vật chất và tinh thần của mình Những mặt, những nhân tố (mang tính cụ thể) tạo nên hoàn cảnh hiện thực (có tính thời điểm) ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người, đến sự hình thành và phát triển thế giới quan như: yếu tố tự nhiên,
yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị - xã hội
Thứ nhất, những tác động của môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên gồm tất cả những gì có trong thiên nhiên và những quyền năng của nó có thể tác động đến con người Đó là những gì trực tiếp gần gũi với con người, những gì dễ cảm nhận, dễ thấy, dễ thấy như đất đai, sông núi, nắng mưa, hạn hán, lũ lụt, thời tiết và những gì khó nhận biết như hiện tượng bão từ, hiệu ứng nhà kính hay các hành tinh xa xôi trong vũ trụ
Tự nhiên hoạt động theo các quy luật của nó, mọi sự tồn tại của tự nhiên và các quy luật vận động đó tác động nhất định đến con người và sự hình thành,
phát triển thế giới quan và nhân sinh quan của con người
Môi trường tự nhiên trực tiếp tác động đến hành động nhận thức và sinh hoạt của các cá nhân trong đó, tác động đến việc sản xuất và tổ chức đời sống cộng đồng, quy định sự phát triển của mỗi cá nhân Tuy nhiên, môi trường tự nhiên không ảnh hưởng trực tiếp hay có ý nghĩa quyết định mà chỉ
có ảnh hưởng gián tiếp đến sự hình thành và phát triển thế giới quan nhưng không mạnh mẽ và quan trọng bằng sự ảnh hưởng của môi trường xã hội
Thứ hai, sự tác động của môi trường kinh tế
Thế giới quan, nhân sinh quan và môi trường kinh tế là những phương diện khác nhau của đời sống xã hội, nhưng giữa chúng tồn tại mối quan hệ
Trang 26biện chứng; trong mối quan hệ đó, cơ sở kinh tế sẽ quyết định nội dung, tính
chất, hình thức biểu hiện của thế giới quan và nhân sinh quan
Sự phát triển về chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn hóa và nghệ thuật đều dựa vào phát triển kinh tế Triết học Mác đã chỉ rõ nguồn gốc phát sinh của mọi ý thức xã hội là từ cơ sở kinh tế, nền kinh tế như thế nào sẽ sản sinh và quy định bộ mặt tinh thần, sắc thái văn hóa của xã hội như thế ấy Chẳng hạn như trong thời đại ngày nay, trước tác động của quốc tế hóa kinh
tế, quan niệm của con người về thế giới xung quanh và về chính bản thân con
chắc chắn sẽ có những biến đổi Một mặt, khi hội nhập kinh tế quốc tế sẽ đem
lại những ý nghĩa về hạnh phúc, về sự tiến bộ xã hội đích thực cho nhân loại Các vấn đề liên quan đến đời sống con người như: nhu cầu ăn, uống, lao động, thông tin…được đáp ứng trên phạm vi toàn cầu, chất lượng cuộc sống của người dân, sự thịnh vượng về kinh tế của các quốc gia được nâng cao rõ rệt, mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong quan niệm của con người được khẳng định Sự tiếp thu khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá, lưu giữ, phát triển những giá trị văn hóa đặc sắc, những quan niệm tiến bộ và những giá trị nhân văn của dân tộc, tạo cơ hội giao lưu, tìm hiểu, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại,
làm giàu thêm những giá trị văn hóa truyền thống Mặt khác, khi hội nhập
kinh tế quốc tế cũng có thể hướng con người đến lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỷ, mê đắm lợi ích vật chất và xu hướng làm giàu không lành mạnh Điều này dẫn tới phân hóa giàu nghèo, suy thoái đạo đức cá nhân và gia đình Một
số người do kiếm được đồng tiền một cách dễ dàng, phi pháp nên có lối sống trác táng, góp phần làm tăng các tệ nạn xã hội, sói mòn văn hóa truyền thống Hơn nữa, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một số các quốc gia kém phát triển bị phụ thuộc vào các nước giàu, dẫn tới nguy cơ bị đồng hóa, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, làm suy giảm sức mạnh dân tộc và có thể dẫn
Trang 27đến mất chủ quyền quốc gia Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng cao cũng bị tác động và ảnh hưởng tương tự; sự mở rộng của thị trường băng đĩa đã làm cho nhu cầu thưởng thức các loại hình nghệ thuật dân gian của giới trẻ giảm
đi và đang có nguy cơ mất hẳn Đó là xu thế khách quan của thời đại nhưng lại được thể hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người (những chủ thể kinh tế) Chính vì vậy môi trường kinh tế có tác động không nhỏ tới sự hình
thành thế giới quan của con người
Thứ ba, những tác động của môi trường văn hoá - xã hội
Môi trường văn hoá - xã hội là một hệ thống các quan hệ hiện hữu giữa con người với con người và giữa con người với thế giới do con người chế tạo
ra Môi trường xã hội không phải là không gian tĩnh, trong đó bao gồm các cá nhân và đồ vật tồn tại độc lập, mà là hệ thống bao gồm hai mối quan hệ có tính phổ biến: quan hệ giữa các chủ thể trong cộng đồng và quan hệ giữa các chủ thể với thế giới do con người sáng tạo Môi trường xã hội có tính phổ rộng, bao gồm từ môi trường rất cụ thể, ổn định và gần gũi với con người như gia đình, bạn bè đến những môi trường linh hoạt và rộng lớn như các phương tiện thông tin, các tổ chức xã hội trực tiếp và gián tiếp tác động tới sự hình
thành và phát triển thế giới quan của con người
Bất kỳ môi trường xã hội nào cũng bao hàm hai yếu tố đó là: các quan
hệ xã hội hiện thực, hiện hữu, công khai và các yếu tố văn hoá ngầm ẩn Như vậy, sự đan xen và chi phối lẫn nhau giữa quan hệ xã hội hiện tại của các thành viên trong cộng đồng với các khuôn mẫu văn hoá cộng đồng đã tạo ra môi trường văn hoá - xã hội của cộng đồng đó Môi trường xã hội là điều kiện cần thiết để con người hình thành nhân cách, góp phần tạo nên động cơ, mục đích, cung cấp phương tiện, điều kiện cho hoạt động giao lưu của con người Nhờ đó, con người chiếm lĩnh các sức mạnh bản chất của xã hội loài người (các kinh nghiệm xã hội, các giá trị văn hoá v.v ) để hình thành những quan
Trang 28điểm, lập trường, thái độ của mình về thế giới, sự vật xung quanh, về con
người và chính bản thân mình
1.2.2 Truyền thống
Truyền thống đó là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục tập quán, thói quen lối sống và cách ứng xử của cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên
ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài
Truyền thống có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành, phát triển thế giới quan và nhân sinh quan của con người Lịch sử cho thấy rằng truyền
thống mang trong bản thân nó tính hai mặt rõ rệt: Một là, truyền thống góp
phần suy tôn, giữ gìn những gì là quý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển, cho sự vận động đi lên của cộng đồng dân tộc Xét từ mặt này thì truyền thống mang ý nghĩa giá trị tích cực, là cái góp phần tạo nên sức mạnh, là chỗ
dựa không thể thiếu của dân tộc trên đường đi tối tương lai Hai là, truyền
thống đồng thời cũng còn là mảnh đất hết sức thuận lợi cho sự dung dưỡng, duy trì và làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi mà điều kiện và hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi Mặt thứ hai này có tác dụng không nhỏ trong việc kìm hãm, níu kéo, làm chậm sự phát triển của một quốc gia, dân tộc nào đó, nhất là khi quốc gia, dân tộc này hạn chế giao lưu hoặc thi hành chính sách
đóng cửa với thế giới bên ngoài vì các lý do khác nhau
Truyền thống không bao giờ có thể có nếu nó chỉ là một sự kiện, một hiện tượng tự nhiên hoặc một sự áp đặt từ bên ngoài bắt chúng ta theo Cái được coi là truyền thống chỉ khi nào nó trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống chúng ta; chỉ khi nào nó bảo tồn cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào
nó có khả năng phát triển cuộc sống của chúng ta Do đó, cái gì có thể được gọi là truyền thống phải được xem xét từ ba khía cạnh của cuộc sống con người: truyền thống như là một phần của cuộc sống, truyền thống như là
Trang 29phương tiện để bảo tồn cuộc sống và truyền thống như là sức mạnh định hướng phát tiển cuộc sống Nói tóm lại, truyền thống không thể được nhận thức ngoài văn cảnh của các giá trị bởi lẽ sự hình thành của truyền thống cũng
tuân theo mô hình giống như mô hình hình thành giá trị
Ngày nay, khi những tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội loài người biến động mạnh mẽ và nhanh chóng đến mức không có cơ may nào mà lại không đi kèm với những nguy cơ Thực
tế đã chỉ ra rằng lối thoát cho những lo lắng của con người về giá trị của sự phát triển nằm ở truyền thống, hay nói một cách thoả đáng hơn nằm ở văn hoá
mà trong đó truyền thống là một nhân tố đáng kể Kinh nghiệm của các xã hội
đã đạt tới trình độ phát triển cao cho thấy rằng bằng cách không lãng quên truyền thống, khai thác các giá trị nhân bản của truyền thống, làm cho các giá trị hiện đại ăn nhập không mâu thuẫn các giá trị truyền thống Đó là con đường tự nhiên và tất yếu mà các xã hội dù muốn hay không dù nhận thức được hay chưa nhận thức được cũng đều phải thực hiện để đạt tới phát triển bền vững Rõ ràng với tính cách là các khuôn mẫu văn hoá, giá trị truyền thống ngay cả trong điều kiện phức tạp hiện thời của quá trình phát triển Xã hội càng phức tạp thì lại càng làm cho truyền thống lộ rõ khả năng tác động tích cực của nó đến thế giới quan và nhân sinh quan của con người
Trang 30ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần, và làm chủ được các mặt
như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần, cách ứng xử trong xã hội
Bên cạnh đó, giáo dục còn là quá trình truyền thụ, lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội, thành tựu văn hoá của loài người và tạo ra sự biến đổi thực sự trong các lực lượng bản chất của con người Đây là nét đặc trưng nổi bật của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội đặc biệt Các lực lượng bản chất của con người là thể lực, trí lực, động cơ, nhu cầu, năng lực, trí tuệ v.v Trong quá trình giáo dục phải tạo ra sự biến đổi thực sự về các hiện tượng đó ở cả đối tượng giáo dục và nhà giáo dục và kinh nghiệm lịch sử - xã hội đúc kết lại thành những thành tựu văn hoá, các di sản xã hội, nó bao hàm một nội dung rất rộng: kinh nghiệm sản xuất, chiến đấu, những định lý, định luật khoa học
và những tư tưởng lớn trong lịch sử Những kinh nghiệm truyền thụ trong quá trình giáo dục phải là những kinh nghiệm trong lịch sử - xã hội (đã được xã hội thừa nhận), trong quá trình giáo dục có tính đến kinh nghiệm của cá nhân Nhưng nếu truyền thụ của cá nhân đơn thuần, sẽ sa vào giáo dục kinh nghiệm
chủ nghĩa
Sự hình thành và phát triển thế giới quan của con người chỉ được diễn
ra trong quá trình con người tích cực tham gia các loại hình hoạt động và các mối quan hệ muôn hình muôn vẻ trong xã hội, nhằm chiếm lĩnh các kinh nghiệm trong xã hội, các giá trị văn hoá của loài người Quá trình giáo dục gồm
cả tác động của các yếu tố sinh học cũng như tác động của các yếu tố xã hội, cả tác động của hoạt động tổ chức và lãnh đạo của nhà giáo dục cũng như tác động của hoạt động và giao lưu của người học và được diễn ra không chỉ ở nhà trường mà ở cả gia đình, cơ sở sản xuất xã hội Với quan niệm như vậy, quá trình giáo dục là hình thái cơ bản và chủ yếu của sự phát triển thế giới quan của
Trang 31con người Giáo dục là con đường ngắn nhất giúp cho con người phát triển, bỏ
qua những mò mẫm không cần thiết trong cuộc đời của mỗi người
Tóm lại, sự phát triển của con người là toàn bộ sự phát triển, hoàn thiện
về thể chất và tinh thần, nó bị chi phối bởi hàng loạt những yếu tố chủ quan
và khách quan Nhân cách con người là tổ hợp những phẩm chất xã hội Sự phát triển của thế giới quan, nhân sinh quan được thực hiện dưới ảnh hưởng của hệ thống các quan hệ xã hội mà con người sống, hoạt động và giao lưu Hoàn cảnh sống, những điều kiện kinh tế - xã hội, những giá trị truyền thống của dân tộc và giáo dục là những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành
và phát triển thế giới quan và nhân cách của mỗi con người Trong đó giáo dục với tư cách là một hoạt động đặc biệt có vai trò chủ đạo, có ảnh hưởng quyết định trong sự phát triển thế giới quan, ảnh hưởng đến những quan niệm
sống, sự phát triển nhân cách của mỗi con người
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN
CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN TÂN LẠC – TỈNH HOÀ BÌNH
HIỆN NAY 2.1 Tổng quan về huyện Tân Lạc và cộng đồng người Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình
2.1.1 Khái quát chung về huyện Tân Lạc
Tân Lạc là huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hoà Bình, cách thành phố Hoà Bình 30 km; nằm ở vị trí 21º27´- 21º35´ vĩ bắc và 105º6´- 105º23´ kinh đông; Phía Đông giáp huyện Cao Phong, phía Tây giáp huyện Mai Châu, phía Bắc giáp huyện Đà Bắc, phía Nam và Tây Nam giáp huyện Lạc Sơn và huyện Bá Thước (tỉnh Thanh Hoá); tổng diện tích tự nhiên 53.204,75ha; dân số trên 82.000 người, trong đó dân tộc Mường chiếm 83,5%, dân tộc Kinh chiếm 16%, còn lại là các dân tộc khác Toàn huyện có 24 xã, thị trấn, đó là: Ngọc Mỹ, Đông Lai, Thanh Hối, Tử Nê, Mãn Đức, Quy Hậu,
Mỹ Hoà, Phong Phú, Địch Giáo, Tuân Lộ, Quy Mỹ, Do Nhân, Lỗ Sơn, Gia
Mô, Ngổ Luông, Quyết chiến, Lũng Vân, Nam Sơn, Bắc Sơn, Phú Vinh, Phú
Cường, Trung Hoà, Ngòi Hoa và thị trấn Mường Khến
Tân Lạc là vùng đất cổ, nơi hội tụ bản sắc văn hoá Mường Người dân
Tân Lạc tự hào là quê hương của nền “Văn hoá Hoà Bình” nổi tiếng Những hiện vật do nhà khảo cổ do nhà khảo cổ và địa chất học người Pháp Mađơlen Côlaini tiến hành khai quật vào năm 1926 tại một số hang động như: hang Chiềng Khến (Mãn Đức), hang Mường Chuông (Mỹ Hoà), hang Mường Khang (Quy Hậu), hang Trâu (Địch Giáo) đã tìm thấy những công cụ ghè đẽo, rìu mài lưỡi bằng đá cuội với các hình dáng khác nhau phản ánh đặc trưng đồ
kỹ nghệ của con người thuộc hậu kỳ đồ đá cũ, sơ kỳ đồ đá mới, ngang với văn hoá Sơn Vi có khung liên đại mở đầu cách ngày nay khoảng 18.000 năm đến
Trang 337.500 năm Như vậy đây là một trong những trung tâm người nguyên thuỷ chuyển hoá từ bầy người đến bộ lạc Từ những phát hiện khảo cổ học trên có thể khẳng định nền văn hoá Hoà Bình và văn hoá Đông Sơn đã từng tồn tại và
phát triển trên quê hương Tân Lạc
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân Tân Lạc đã hun đúc cho mình truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm và ách thống trị của bọn phong kiến, Lang đạo
Trong sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước lập nên nhà Đinh (năm 968) của Đinh Bộ Lĩnh (hiệu là Đinh Tiên Hoàng), đã có sự giúp
đỡ của các quan lang Mường Bi Dưới thời Lý - Trần, nhân dân các Mường thuộc Tân Lạc ngày nay đã cùng các dân tộc vùng Tây Bắc đứng lên giúp triều đình đánh đuổi quân xâm lược Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hoá) Trong cuộc tiến quân ra giải phóng Đông Quan, kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh, giành độc lập, nghĩa quân đã được nhân dân Hoà Bình, trong đó có nhân dân Tân Lạc nhiệt tình giúp đỡ Cuối thế kỷ XIX, giặc cờ đen đến chiếm đóng, nhân dân Mường Bi đã anh dũng đứng lên chống quân xâm lược Năm Minh Mạng thứ 14, cuộc khởi nghĩa do
Lê Duy Lương lãnh đạo chống lại triều đình nhà Nguyễn đã lấy Mường Bi và Mường Âm (Yên Thuỷ) làm căn cứ Nghĩa quân phần đông là con em địa phương do các thủ lĩnh người Mường Bi chỉ huy như: Đinh Thế Giáp, Đinh
độ Lang đạo ác nghiệt, xây dựng quê hương mới; trực tiếp chiến đấu với quân
Trang 34Pháp hàng trăm trận dọc đường 12, phối hợp với bộ đội bức rút hàng loạt đồn bốt trong chiến dịch Lê Lợi (11 - 1949); góp sức người, sức của cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ Đến thời kỳ chống Mỹ (1954 - 1975), quân và dân Tân Lạc chi viện tối đa sức người, sức của cho tiền tuyến, chiến đấu kiên cường đánh trả máy bay giặc Mỹ tới bắn phá, góp phần bảo vệ Miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Với những công lao, đóng góp trong hai cuộc kháng chiến, lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Tân Lạc được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, xã Ngổ Luông được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động trên mặt trận giáo dục, 07 bà mẹ Việt Nam anh hùng: mẹ Bùi Thị Phối (thị trấn Mường Khến), mẹ Bùi Thị Thịnh (Phong Phú), mẹ Bùi Thị Quyệnh (Quy Mỹ), mẹ Đinh Thị Hệu (Quy Mỹ), mẹ Bùi Thị Đỏi (Lỗ Sơn), mẹ Bùi Thị Ịa (Thanh Hối), mẹ Bùi Thị Niệu (Địch Giáo) và 02 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân:
Quách Văn Thắm (Mãn Đức), Bùi Văn Tình (Lỗ Sơn)
2.1.2 Lịch sử tộc người Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình
2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế và đời sống vật chất
Người Mường, còn gọi là người Mol, Mual, Moi, Moi bi, Au tá, Ao tá
là một trong năm dân tộc có số dân đông nhất trong cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 1999, dân tộc Mường cả nước có 1.137.515 người, chiếm 1,5% dân số cả nước Theo số liệu thống kê năm 2010, số người Mường của tỉnh Hoà Bình được phân bổ như sau: 486513 người /786960 tổng số dân trong tỉnh = 61,82% Trong đó, người Mường ở huyện Tân Lạc là 63 551 với bốn dòng họ chính : Đinh, Quách, Bạch, Hoàng
- Về lịch sử tộc người:
Theo nhiều nhà khoa học thì người Mường và người Kinh xưa kia có cùng một nguồn gốc, trong quá trình lịch sử lâu dài đã dẫn đến sự chia tách thành hai dân tộc Mường và Kinh Cho đến ngày nay hai dân tộc này có nhiều
Trang 35nét văn hoá giống và khác nhau Nhưng qua áng Sử thi “Đẻ đất, đẻ nước” nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn học và ngôn ngữ học khẳng định rằng cư
dân Mường là cư dân bản địa, hình thành tại chỗ
- Tính đặc thù trong kinh tế
Người Mường ở Tân Lạc cư trú, sinh sống lâu đời trong vùng núi cao
và các thung lũng hẹp, địa hình chia cắt phức tạp và có độ dốc lớn, nơi có nhiều sông, suối và hồ đầm lớn, đất đai thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp Đời sống chủ yếu dựa vào rừng núi và những thung lũng đất
bằng, hẹp để sản xuất lúa nước, lúa nương, hoa màu như ngô (đổ - lể), sắn (củ
cáo), khoai (khoai), đậu (tậu), vừng (wuồng) v.v trong đó cây lúa với hàng
chục loại giống khác nhau đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong các loại giống cây trồng Ngoài ra người Mường còn sớm phát triển chăn nuôi gia cầm,
gia súc như trâu, bò, gà, lợn v.v
Trước đây nền kinh tế của người Mường ở Tân Lạc mang tính sản xuất nhỏ theo kiểu tự túc, tự cấp Sau năm 1999, với dự án 135 của Chính phủ hỗ trợ phát triển kinh tế cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn, đã tạo ra những bức đột phá trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của đồng bào Mường, nhờ đó mà mức sống và thu nhập của người dân được cải thiện Nếu như trước đây tập quán thả rông trâu bò từ lâu đã trở thành phổ biến, chuồng lợn, gà vịt được làm dưới gầm sàn hoặc góc vườn thì ngày nay nhiều hộ gia đình người Mường đã đầu tư xây dựng chuồng trại theo quy mô lớn, đảm bảo
vệ sinh và đủ tiêu chuẩn để chăn nuôi, trồng trọt Ngoài trâu, bò, lợn, gà thì hiện nay nhiều gia đình còn chăn nuôi dê, bò lai, bò sữa, ong, đào ao nuôi cá v.v Việc trao đổi, mua bán hàng hóa trong vùng Mường cũng diễn ra phong phú và nhộn nhịp không khác gì các chợ miền xuôi, đây là điều kiện thuận lợi
để người dân thoát dần ra khỏi tập quán canh tác cũ, nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của đồng bào
Trang 36Nghề thủ công truyền thống của người Mường chủ yếu là nghề mộc, đan lát, dệt vải Trước đây, gia đình người Mường nào cũng có khung cửi, họ
tự trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải, người phụ nữ làm ra những vuông vải cho mình, cho những người trong gia đình và làm của hồi môn đem đến nhà chồng Sự khéo léo thể hiện trong những vuông vải trở thành một trong những tiêu chuẩn về giá trị của người phụ nữ Mường Mặc dù rất khéo léo nhưng nghề mộc của người Mường chỉ dừng lại ở phạm vi tương trợ, giúp nhau dựng nhà, làm khung cửi, làm đuống, cối giã gạo hoặc phục vụ cho sản xuất vui chơi chứ không chuyên mộc, không làm hàng hóa; việc đóng các đồ
gia dụng, làm gạch, xây nhà chỉ phổ biến trong thời gian gần đây
2.1.2.2 Thiết chế xã hội và cộng đồng
Người Mường quần cư sinh sống trong các đơn vị là xóm (quêl) và
mường Mường là tổ chức xã hội trên xóm và là tổ chức xã hội lớn nhất của
người Mường, dùng để chỉ một địa vực cư trú, một thái ấp, một vùng dân cư, hay để chỉ địa vực cai quản của một lang cun, lang đạo hay thổ tù nào đó Cũng giống như các vùng Mường khác, tổ chức mường của người Mường ở Tân Lạc không quy định phạm vi lớn, bé và có bao nhiêu xóm hợp thành và
có mường lớn bao chùm lên các mường khác nhỏ hơn
Xóm là tổ chức xã hội dưới mường, là tập hợp dân cư thành cộng đồng
theo một địa vực lãnh thổ nhất định Xóm được hình thành ở các bãi, gò cao hoặc chạy dọc theo thung lũng, sông suối, nơi diễn ra các hoạt động lao động sản xuất hàng ngày Mỗi xóm chỉ có khoảng vài chục nóc nhà và đều có một con đường đất chạy thẳng qua giữa làng, nhà của người Mường đều quay lưng vào núi, quay mặt trước nhà ra suối hoặc cánh đồng, trong xóm thường có nhiều dòng họ sinh sống, nhưng bao giờ cũng có một dòng họ là hạt nhân, dòng họ ấy
có thể chiếm tới một nửa hoặc quá nửa số nóc nhà trong xóm
Trang 37Về tổ chức làng xóm và thiết chế xã hội của người Mường ở Tân Lạc khá khắt khe Họ sống dưới chế độ dường như là tiền phong kiến, mỗi làng có một Thổ Tù, mỗi xóm có một Thổ Lang Quan hệ giữa tầng lớp quý tộc thống trị với tầng lớp bị trị cũng rất rõ ràng, bộ máy cai trị của Thổ tù trong các
mường được tổ chức rất phức tạp Đứng đầu cai quản cả mường là Lang cun, dưới Lang cun là Lang tạo (cai quản 7 - 8 xóm), và đứng đầu các xóm và các chiềng là các Ậu Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Chính quyền Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa quyết định xóa bỏ cơ cấu chính quyền cũ, thay vào đó là một bộ máy hành chính mới và hệ thống các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội
Hệ thống tổ chức hành chính mới được áp dụng đồng bộ trong cả nước đã làm cho tổ chức xã hội cổ truyền của người Mường thay đổi cơ bản Dù vậy, cơ cấu tổ chức hành chính mới vẫn được xây dựng trên cơ sở là các làng và xóm trước đây, nên không có sự xáo trộn về địa bàn quản lý hành chính, những mối quan hệ làng xóm, những tập tục, lễ nghi truyền thống vẫn được duy trì,
kế tục và phát huy với nhiều mức độ khác nhau
- Về đặc điểm gia đình và hôn nhân:
Người Mường nói chung thuộc tộc người phụ hệ, gia đình Mường cổ truyền thường tồn tại hai loại cơ bản là gia đình lớn và gia đình nhỏ
Gia đình lớn: Đây là dạng gia đình rất phức tạp về thành phần và cách
tổ chức sinh hoạt Thường trong các gia đình này có nhiều thế hệ như: ông bà,
bố mẹ, các con và các cháu, số lượng người trong kiểu gia đình này rất nhiều,
có thể lên tới 15, 18 người, họ cùng sống, làm và ăn chung
Gia đình nhỏ: Đây là dạng gia đình chỉ gồm có vợ, chồng và con cái
của họ; họ sống, sản xuất và chi tiêu độc lập Tuy vậy, vị trí của người vợ trong gia đình vẫn không được cải thiện, họ vẫn phải phụ thuộc vào người cha, người chồng, sự phân công lao động trong gia đình vẫn theo giới tính và độ
tuổi như đã nêu
Trang 38Trong giai đoạn hiện nay, các gia đình lớn của người Mường có xu thế tách thành các tiểu gia đình và gia đình hạt nhân, xu thế ấy trở nên khá phổ biến trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường hiện nay Quan hệ nam - nữ trong mỗi gia đình được bình đẳng hơn, vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình được khẳng định, quan hệ hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu được chú trọng, các tiêu chuẩn kết hôn môn đăng hộ đối không quá khắt khe như trong quan niệm cổ truyền Cùng với đó các chức năng của gia đình kết hợp với nhau hài hòa hơn, và được điều chỉnh theo tiêu chí của gia đình hiện đại Vấn
đề thực hiện kế hoạch hóa gia đình đã phần nào làm cho quan niệm “đông con
nhiều cháu mới là có phúc” trong chức năng tái sản xuất ra con người của các
cư dân Mường mờ dần (nhưng chưa hẳn đã hết) Chức năng kinh tế được chú
ý phát triển, việc làm chủ đồi rừng, phát triển diện tích trồng chè, vườn cây ăn quả và cả sự trao đổi buôn bán hàng hóa với các vùng đã làm cho cuộc sống vốn khép kín của người Mường xưa được mở rộng Vấn đề nuôi dạy con, hướng dẫn con cách cư xử và phân công công việc theo giới tính vẫn được duy trì Việc đầu tư cho con cái học hành, tạo mọi điều kiện cho con phát triển những năng lực cá nhân (không phân biệt trai, gái) đã phần nào xóa bỏ
quan niệm lạc hậu trọng nam khinh nữ vốn rất nặng nề trong xã hội Mường
cổ truyền
2.1.2.3 Nét đặc thù trong văn hóa dân gian
Khi nói đến sắc thái văn hóa nói chung, văn hóa của tộc người Mường nói riêng khó có thể phân định một cách rạch ròi đâu là văn hóa vật thể và đâu
là văn hóa phi vật thể, bởi đằng sau những hiện tượng, những vật thể cụ thể bao giờ cũng ẩn chứa những yếu tố tinh thần, tâm linh, tín ngưỡng Những nét văn hóa độc đáo của người Mường được thể hiện một cách tinh tế trong những vật dụng hàng ngày, trong lao động sản xuất, trang phục, kiến trúc, thơ
ca, lễ hội, trong sự sinh thành và các mối quan hệ của con người Do vậy, khi
Trang 39đề cập đến những sắc thái văn hóa của dân tộc Mường, tác giả chỉ đề cập vấn
đề ở những nét cơ bản mang tính liệt kê
Có thể nói, vốn văn nghệ dân gian của người Mường đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn hoá chung của dân tộc Nền văn học nghệ thuật dân gian Mường không những đồ sộ về khối lượng mà còn phong phú về thể
loại Các truyện thơ Út lót Hồ Liêu, Nàng Nga Hai Mối, Nàng Ờm Chàng
Bồng Hương, Con Côi…Thơ ca cũng có nhiều hình thức như: Thường đang,
bộ mẹng, hát đúm
Lễ hội của người Mường khá phong phú, nó ra đời, tồn tại và phát triển
trên nền tảng của nền nông nghiệp ruộng nước, tiêu biểu là hội ném còn, hát
đối, sắc bùa cùng với hệ thống tín ngưỡng của nhân dân Mường là vô cùng
phong phú Từ đó dẫn đến sư phong phú các nghi lễ thờ phụng Lễ Khai hạ
Mường Bi, lễ Khuống mùa, lễ cầu mưa, lễ ăn cơm mới, lễ mừng nhà mới, lễ tang ma, lễ cưới hỏi Những lễ hội này cho đến nay nhìn chung vẫn được
duy trì, những hủ tục phần nào đã được loại bỏ và khắc phục, những giá trị truyền thống quý báu ngày càng được bảo tồn và phát huy
Nhìn chung, với môi trường cảnh quan đẹp và hùng vĩ, cùng với phương thức sản xuất, những thiết chế xã hội, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã ảnh hưởng, tạo nên nhận thức, quan niệm, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và tạo nên những nét riêng trong tâm linh, tín ngưỡng, trong sinh hoạt văn hoá, lễ hội của cộng đồng dân tộc Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình Tuy nhiên, cần phải thấy rằng ngoài những yếu tố cốt lõi của thế giới quan như tri thức, niềm tin, lý tưởng và những yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự hình thành thế giới quan của con người như điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống hay giáo dục thì đối với người Mường, yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến sự hình thành và phát triển thế giới quan và nhân sinh quan của họ lại là văn hoá (bao gồm cả cả văn hoá vật chất và phi vật chất) Điều đó lý giải
Trang 40vì sao trong quan niệm của người Mường về thế giới vạn vật xung quanh, về con người và cuộc sống loài người vừa có những nét chung vừa có những nét
riêng rất độc đáo
2.2 Biểu hiện thế giới quan và nhân sinh quan của người Mường Mường ở Tân Lạc - Hoà Bình
2.2.1 Biểu hiện của thế giới quan
Trời đất sinh ra như thế nào, tại sao lại có lụt lội, gió mưa, sấm chớp, con người do đâu mà có, tại sao con người có cái ăn để sống, rồi già để chết?
Đó là tất cả những điều được người Mường lý giải từ rất sớm Tất nhiên, trong xã hội nguyên thuỷ thì chưa thể có triết học, nhiều lắm cũng chỉ là những mầm mống của tư tưởng triết học hay là tư duy tiền triết học Phải đến thời đại văn minh, tức là khi xã hội phân chia giai cấp thì triết học thực sự mới có điều kiện ra đời, nghĩa là trình độ tư duy trừu tượng và các tri thức khoa học của con người đã phát triển đến mức đòi hỏi và có khả năng khái quát các tư tưởng triết học Nói thế có nghĩa là, người Mường dù có quan niệm riêng của mình về thế giới, về con người nhưng chưa thể coi đó là một
hệ thống như triết học theo đúng khái niệm khoa học của từ này mà những tư tưởng của họ chỉ được coi là những tư tưởng triết học, những mầm mống triết
học còn rất rời rạc và lẻ tẻ
2.2.1.1 Thế giới quan qua nghi lễ đám tang
Điều đáng ngạc nhiên là thế giới quan của người Mường lại có thể rút
ra từ nghi lễ tang ma của họ, một trong những nghi thức tôn giáo “đậm đặc” thể hiện khá tập trung những tập tục cổ truyền của người Mường Như mọi nghi lễ lớn của bất cứ dân tộc nào, tang lễ Mường thể hiện trên lễ tiết, những quan niệm về vũ trụ, và nhân sinh quan của dân tộc Các phong tục này đã bắt
rễ lâu đời, ăn sâu vào tâm khảm của người dân, là chất liệu góp phần xây
dựng nên cái bản sắc - bản ngã của dân tộc Mường