1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam vinaconex từ năm 2005 đến nay)

228 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng ngày, lật từng trang báo, bạn đọc đều cảm nhận thấy tờ báo đó ít nhiều đều có những thông tin liên quan đến DN như những trang quảng cáo sản phẩm, tin hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VINACONEX từ năm 2005 đến nay)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Dững

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2012

TÁC GIẢ

Tào Khánh Hƣng

Trang 4

MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

VHDN Văn hóa doanh nghiệp

DN Doanh nghiệp

ASEAN Hiệp hội quốc gia các nước Đông Nam Á

BCHTW Ban chấp hành Trung ương

LILAMA TCT Lắp máy Việt Nam

VIGLACERA TCT Thủy tinh & Gốm sứ xây dựng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 16

1.1 Các khái niệm cơ bản……… 16

1.2 Văn hóa doanh nghiệp và những vấn đề đặt ra……….23

1.3 Vai trò của báo chí trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp hiện nay … 45

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP……… 67

2.1 Đánh giá kết quả khảo sát……….67

2.2 Tác động tích cực của báo chí với Văn hóa doanh nghiệp……… 72

2.3 Tác động tiêu cực……….96

CHƯƠNG III: NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO TÁC ĐỘNG CỦA BÁO CHÍ XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 105

3.1 Những vấn đề cần đặt ra……… 105

3.2 Giải pháp và kiến nghị bổ sung thông tin về VHDN trên báo chí…… 113

KẾT LUẬN 125

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

PHỤ LỤC 132

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

 Phần Bảng khảo sát và bảng hỏi

Bảng 1.1: Khảo sát kiểm đếm số lƣợng tin, bài báo Xây dựng các năm 2008,

2009, 2010, 2011 và 6 tháng đầu năm 2012 (Tách từng năm đánh số a, b, c) Bảng 1.2: Khảo sát kiểm đếm số lƣợng tin, bài báo Kinh tế hợp tác các năm

2009, 2010, 2011 và 6 tháng đầu năm 2012 (Tách từng năm đánh số a, b, c) Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số liệu các báo nêu trên

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp số liệu kết quả khảo sát phiếu hỏi

Bảng 2.3: Bảng tổng hợp điều tra DN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Các doanh nhân Việt Nam luôn khát khao cùng dân tộc phấn đấu làm giàu chính đáng tại chính DN của mình DN Việt Nam luôn vươn lên giữ vững ngôi vị trong nước và vươn tầm thị trường khu vực, thị trường toàn cầu Nhiều DN Việt đã tham gia trong cung ứng trong chuỗi sản phẩm toàn cầu của các tập đoàn toàn cầu thể hiện một bước tiến lớn trong phát triển thị trường và đa dạng hóa thị trường Đây cũng là những bước dài trong tư duy

DN và tiến tới xây dựng DN bền vững

Bất kỳ quốc gia nào đều coi DN là nòng cốt làm tăng thêm của cải vật chất cho xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, làm cho xã hội giàu lên, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Do vậy, việc xây dựng và phát triển DN được coi là nhiệm vụ hàng đầu ở mỗi quốc gia Nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và mới bước những bước chân đầu tiên thực sự vào nền kinh tế toàn cầu Việc DN thành công hay thất bại đều tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong phạm

vi cả nước cũng như trong từng địa phương, nơi nào có nhiều DN kinh doanh hiệu quả, kinh tế nơi đó chắc chắn phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện Nước ta đã đề ra Chiến lược phát triển DN nhằm đến 2010, cả nước có 500.000 DN, nhiều DN có tầm cỡ thế giới Con số đó đã gần đạt được năm 2010 và tính đến hết tháng 4/2012, cả nước có khoảng 463.800

DN còn hoạt động, giảm mạnh so với con số hơn 647.600 được đăng ký sau khi cơn bão kinh tế toàn cầu càn quét Tính thêm đến hết quý 2 gần 38% DN xin phá sản so với tổng số đã đăng ký ở thời điểm cao nhất tháng 3/2011, nhiều DN lao đao Đến lúc này mới nhận thấy rõ sự phát triển thiếu quy mô

và thiếu bền vững của DN Việt Nam Một điều sâu xa hơn nữa, các ông chủ

Trang 8

DN Việt chưa xây dựng cho mình văn hóa kinh doanh bản lĩnh và bền vững Chưa áp dụng những kiến thức thực sự về quản trị DN để điều hành tốt hơn, văn minh hơn trong DN của mình Chỉ có 0,2% lãnh đạo DN có bằng tiến sĩ, 0,93% từng học thạc sĩ, còn nếu tách riêng thạc sĩ về quản trị kinh doanh chỉ

có 0,36% Số DN hoạt động tự do, người lãnh đạo học hết cấp 3 chiếm tới 57,6% Như vậy để xây dựng VHDN cần có thêm nhiều “kênh” khác nữa để nâng cao tri thức cho chính DN trong nước

Trong bối cảnh hội nhập, các DN đều bình đẳng trước các cơ hội tiếp cận thông tin, công nghệ, vốn tín dụng, tài nguyên, nhân lực và nguồn lực bên ngoài Các cơ quan nhà nước tích cực đổi mới cơ chế, chính sách, sắp xếp lại các tổ chức… tạo thuận lợi cho yêu cầu nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh của DN hiện có và khuyến khích phát triển thêm nhiều DN tư nhân mới

Khi cánh cửa vào WTO đã mở các DN nước ngoài được vào kinh doanh tại Việt Nam và các DN Việt được phép bán hàng hóa vào các nước thành viên WTO với mức thuế nhập khẩu cắt giảm dần, thủ tục thông quan,

và cơ chế tránh đánh thuế hai lần đều là thuận lợi cho các DN XNK Nhờ đó, tạo điều kiện cho các DN mở rộng năng lực sản xuất, bảo đảm đầu tư hiệu quả Tuy nhiên, hội nhập đã đặt ra yêu cầu khắt khe hơn về thị trường, cạnh tranh giá cả, vốn, nhân lực giữa sản phẩm của DN nước ta với sản phẩm của

DN nước ngoài Các DN Việt Nam muốn vươn ra thị trường quốc tế phải đối mặt với nhiều thách thức hơn, nhiều rào cản pháp lý, đối thủ mới, và hạn chế kinh nghiệm kinh doanh toàn cầu Các kinh nghiệm đó đều là một phần những giá trị của DN cần suy nghĩ tận dụng triệt để các nhân tố nhưng phải bảo đảm bền vững các giá trị nhân văn trong tổ chức sản xuất vận hành Những câu hỏi như Tại sao chúng ta phải bán giá rẻ để rồi bị kiện bán phá

Trang 9

giá? Tại sao sản phẩm dán nhãn nước ngoài luôn được ưa chuộng trong khi thực tế sản phẩm đó sản xuất tại Việt Nam? Các DN tạo dựng niềm tin vào sản phẩm hay chỉ cần bán được nhiều hàng? Chính sách bảo hộ các DN trong nước, nhất là DN nhà nước được bãi bỏ khiến DN nhỏ và vừa gặp khó khăn Các DN được bình đẳng cạnh tranh kinh doanh, không kể DN nhà nước, DN tư nhân hay DN có vốn đầu tư nước ngoài Các DN Việt Nam như những chiếc thuyền thúng cùng ra khơi nhưng chưa hiểu phía trước là những đoàn tàu lớn sắp đi vào bờ

Những biến động của bối cảnh kinh tế thế giới có tác động tích cực và tiêu cực đối với nền kinh tế nước ta Năm 2008 là năm cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra Do bị ảnh hưởng của suy thoái như hầu hết các nền kinh tế, kinh tế nước ta mặc dù có mức tăng trưởng cao nhưng vẫn thấp hơn các năm trước và không đạt kế hoạch đề ra Năm 2009, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chịu tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng Chính phủ và các DN nỗ lực tìm giải pháp chống suy giảm kinh tế và đến năm 2012 là kết quả thực sự của cuộc khủng hoảng không thể chống đỡ do các tác động cả chủ quan và khách quan tác động vào nền kinh tế Những biến động đó càng tôi luyện cho những DN có cơ cấu tổ chức hợp lý và có nền tảng VHDN giữ vững được vị trí của mình, ngược lại sẽ phải phá sản

Hàng ngày, lật từng trang báo, bạn đọc đều cảm nhận thấy tờ báo đó ít nhiều đều có những thông tin liên quan đến DN như những trang quảng cáo sản phẩm, tin hoạt động sản xuất kinh doanh của DN như khởi công xây dựng, ra mắt sản phẩm mới, ý kiến của các DN về vấn đề này hay vấn đề kia

… “Các tờ báo nào cũng mong muốn là bạn của mọi nhà, mang đến cho bạn

đọc của mình những thông tin luôn mới lại không đề cập đến một đối tượng cực kỳ nhạy cảm và năng động là DN” [26, tr.127] Số đầu báo trong nước

Trang 10

tăng nhanh, trong đó có nhiều đầu báo chuyên về kinh tế, sản phẩm tiêu dùng, giới thiệu DN và doanh nhân điển hình, những báo chuyên ngành liên quan đến hoạt động kinh doanh - quản trị DN Dù lớn hay nhỏ, DN ở những mức độ khác nhau đều muốn có thông tin để chèo thuyền ra “biển lớn” Báo chí vừa là người cung cấp thông tin cho DN, vừa là người giới thiệu, quảng bá, giới thiệu các DN ra thế giới Mặt khác, qua báo chí, thế giới cũng biết về Việt Nam và tìm kiếm cơ hội kinh doanh, đối tác cho hợp tác liên doanh, liên kết, đầu tư, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội, những phong cách xây dựng VHDN mới mẻ và độc đáo Vì vậy, báo chí trở thành cầu nối, giúp họ tìm được những thông tin cần thiết

Đối với cá nhân người làm luận văn, trong quá trình công tác nhiều năm nay, bản thân đã tiếp xúc, gắn bó với nhiều DN, tổ chức Vì vậy, tôi nhận thấy báo chí đã có những tác động nhất định đến hoạt động của DN, cùng đồng hành với DN trên bước đường phát triển sản xuất kinh doanh của họ Với mong muốn được tìm hiểu sâu sắc hơn về những tác động của báo chí

với DN, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Vai trò của Báo chí truyền

thông với vấn đề xây dựng VHDN” và tham vọng hơn nữa trong tương lai

có thể xây dựng thước đo văn hóa cho DN tự nhận diện mình, tự đổi mới mình và xây dựng nét văn hóa riêng giúp DN phát triển dài hơi và bền vững hơn

2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu đề tài:

DN ngày càng quan tâm đến truyền thông và báo chí là một phần trong giới truyền thông được DN quan tâm Các trang báo dưới nhiều hình thức khác nhau muốn phát triển được đều cần có quảng cáo, tin bài của DN

Trang 11

Trên các số báo, DN chiếm dung lượng khá lớn để thông tin, tuyên truyền về những vấn đề các DN quan tâm như tình hình thị trường, giá cả, cách thức quản trị DN, giới thiệu cổ vũ các DN, doanh nhân điển hình, phê phán DN làm ăn không trung thực, các dự án ma, các công trình chưa hoàn thành, các xu thế mới, các định hướng phát triển, các thay đổi chính sách nhà nước tác động đến DN… Qua những thông tin trên báo chí mà DN nắm bắt được, bản thân các DN đã có những điều chỉnh cho hoạt động sản xuất của

họ Điều này chứng tỏ báo chí đã đóng một vai trò quan trọng đối với hoạt động các DN Tuy nhiên, các tài liệu viết về cách thức thông tin, tuyên truyền về DN trên báo chí sao cho hiệu quả không có, thậm chí những tài liệu viết về DN do báo chí nghiên cứu cũng chưa nhiều và cụ thể Qua tìm hiểu tại một số thư viện, tôi nhận thấy những quyển luận văn viết về đề tài

có liên quan đến vai trò của báo chí trong xây dựng VHDN chưa có Tôi chưa tìm thấy được một quyển luận văn hay khóa luận nào viết về vai trò của báo chí với DN hay đề cập về mối quan hệ của báo chí với DN Vì vậy, quyển luận văn sẽ xới lên phần nào thực tiễn những tác động của báo chí với việc xây dựng VHDN qua việc tập trung vào khảo sát, nghiên cứu cách thức thông tin cho DN trên báo, cũng như những kinh nghiệm thực tiễn mà bản thân người viết luận văn qua nhiều năm có dịp tiếp xúc, gần gũi với DN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Vai trò của báo chí đối với xây dựng VHDN

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thông tin (chủ yếu là các bài viết) liên quan đến hoạt động của DN trên các báo và tạp chí sau đây:

Trang 12

Báo Xây dựng (khảo sát và đánh giá từ năm 2005 - 2012)

Báo Kinh tế hợp tác Việt Nam (khảo sát và đánh giá từ năm 2005 - 2012)

Ngoài ra, tác giả còn tham khảo thêm một số bài viết đăng trên báo điện

tử và nhiều bài báo, bài viết, chuyên đề khác Song song đó tác giả cũng dành nhiều thời gian nghiên cứu các tài liệu về định hướng xây dựng văn hoá DN của TCT CP Xuất nhập khẩu & Xây dựng Việt Nam –Vinaconex (Bộ Xây dựng):

Định hướng chiến lược xây dựng thương hiệu Vinaconex

Vinaconex xây những giá trị dựng những ước mơ

Doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu ngành Xây dựng

Thời điểm tiến hành khảo sát luận văn (từ 6/2012 – 10/2012 ) là khoảng thời gian DN cả nước đang chống chọi với cơn bão thị trường suy giảm khả năng thanh toán Đây cũng là thời điểm kiểm chứng sâu sắc DN nào xây dựng nền VHDN tốt có cơ may trụ vững, và ngược lại các DN phá sản là những DN bị tác động sâu sắc bởi thiếu đi những kinh nghiệm quản trị Đây cũng là giai đoạn thanh lọc DN lớn nhất trong lịch sử kinh doanh tại Việt Nam

Trong quá trình làm khảo sát báo, tác giả đã chọn lọc những tin, bài viết liên quan đến hoạt động của DN để phân tích Ngoài ra tác giả luận văn còn tham khảo thêm một số báo và tạp chí khác để có thêm những trích dẫn sinh động cho luận văn

Trang 13

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng vai trò báo chí tác động tới xây dựng VHDN, phân tích kinh nghiệm và tìm kiếm giải pháp khuyến nghị nhằm tiếp tục nâng cao vai trò của báo chí trong quá trình xây dựng VHDN

4.2 Nhiệm vụ:

Trong phạm vi của Luận văn này tôi xác định những nhiệm vụ cụ thể như sau:

 Làm rõ về mặt lý luận vai trò của báo chí với VHDN;

 Nghiên cứu sâu hơn các vấn đề VHDN tạo tiền đề cho các quan điểm nhằm đánh giá VHDN thông qua các kênh báo chí

 Nghiên cứu những điều kiện thuận lợi (chính trị, kinh tế, xã hội ) cho việc tuyên truyền phục vụ DN, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, luật pháp qui định về việc báo chí thông tin hỗ trợ xây dựng VHDN

 Khảo sát thực trạng thông tin cho DN trên báo chí

 Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò thông tin của báo chí đối với VHDN

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về VHDN và phát triển VHDN Đặc biệt NQTW5 khóa VIII về tác động của báo chí truyền thông trong phát triển VHDN Đồng thời cũng dựa vào tình hình thực tế báo chí đăng tải thông tin về VHDN

Trang 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

 Nghiên cứu tài liệu, bài viết (bao gồm: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh)

 Khảo sát các tin bài liên quan đến VHDN trên báo Xây dựng, Kinh tế hợp tác Việt Nam, Thời báo Kinh doanh

 Phương pháp điều tra xã hội học đối với các DN, gồm:

 Điều tra xã hội học bằng sử dụng phỏng vấn anket để tổng hợp ý kiến của các DN về mức độ, hình thức thông tin, hiệu quả thông tin mà DN lĩnh hội được từ báo in

 Phương pháp phỏng vấn sâu, gồm:

 Với lãnh đạo một số DN có quan hệ thân thiết với báo chí và từng được báo chí thông tin, viết bài về VHDN

 Với lãnh đạo một số cơ quan báo chí cách thức thông tin VHDN

 Với lãnh đạo của TCT Vinaconex, Lilama, Viglacera về kinh nghiệm xây dựng VHDN Những bài học từ trong nước

 Với các chuyên gia từng nghiên cứu về xây dựng VHDN ở nhiều quốc gia khác hy vọng tìm kiếm nét đặc trưng về xây dựng VHDN tại Việt Nam và các tiêu chí đánh giá VHDN

 Phương pháp tổng hợp, phân loại, phân tích được áp dụng để xử

lý các bảng hỏi điều tra xã hội học, từ đó tìm ra nhu cầu và cách thức thông tin phục vụ DN Phương pháp này cũng được áp dụng

để xử lý với thông tin trên Báo Xây dựng (từ năm 2008 – 2012) và Thời báo Kinh doanh đánh giá thực trạng VHDN hiện tại và đưa ra giải pháp về cách thức thông tin trong tương lai

Trang 15

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Nhiều DN thu thập thông tin phục vụ cho kinh doanh và xây dựng phong cách riêng cho DN lấy thông tin từ báo chí, thậm chí, đã có DN sử dụng báo chí làm mục tiêu để giúp họ tăng thêm lợi nhuận cho DN Báo chí luôn đồng hành cùng với DN, hỗ trợ thông tin giúp DN và lên tiếng đề nghị tháo gỡ khó khăn cho DN (về chính sách thuế, thị trường tiêu thụ sản phẩm…) khi họ gặp phải Chính bởi vậy, luận văn sẽ làm sáng tỏ sự tương tác giữa báo chí và DN trong xây dựng VHDN, các khía cạnh của VHDN, một số tiêu chí chính của VHDN Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp tích cực cho cơ quan báo chí khi thông tin về DN, một số cơ chế phối hợp thường xuyên giữa báo chí và DN

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu về VHDN Chương II: Thực trạng vai trò của báo chí truyền thông với VHDN Chương III: Những vấn đề đặt ra và kiến nghị

Trang 16

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Doanh nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, DN có nghĩa là làm công việc kinh doanh [2, tr.227] Còn Từ điển Tiếng Việt giải thích DN là nghề buôn bán kinh doanh [33, tr.260]

Luật DN năm 2005 (điều 4) cho rằng “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Hiện nay, khái niệm DN thường được dùng để chỉ các loại hình DN: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, DN tư nhân, công ty hợp doanh thuộc

các thành phần kinh tế

1.1.2 Truyền thông

Truyền thông (Communication) có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông là một trong những hoạt động căn bản của con người và xã hội loài người Con người và xã hội không thể tồn tại cũng như hoạt động nếu không có trao đổi thông tin Hoạt động truyền thông vừa là hình thức liên hệ, vừa là điều kiện của mọi liên hệ, quan hệ giữa con người và con người, giữa con người và xã hội Nhờ truyền thông, con người trao đổi lẫn nhau tư tưởng, tình cảm, những kinh nghiệm lao động sản xuất cùng những kinh nghiệm sống Nhờ truyền thông, con người tạo ra quan hệ giữa cá nhân và xã hội

Trang 17

Nội dung thông tin có thể là ý nghĩ, tư tưởng cũng có thể là thái độ hoặc cảm xúc Khi con người liên kết với nhau trong một cộng đồng, họ phải có truyền thông để hiểu biết lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm làm ăn sinh sống cũng như tự vệ Mọi hoạt động của con người và xã hội, mọi quan hệ người, mọi hình thức giao tiếp hướng nội hay hướng ngoại đều cần đến thông tin và

do đó đều cần đến truyền thông

Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về truyền thông Theo cuốn

“Lý thuyết truyền thông” của Khoa Tuyên truyền - Học viện Báo chí và tuyên truyền xuất bản năm 2008 thì từ những năm 1970, các định nghĩa về truyền thông đã được thống kê tiêu biểu một số góc độ tiếp cận như sau:

 Góc độ ký hiệu bằng lời: Truyền thông là sự trao đổi với nhau tư duy hoặc ý tưởng bằng lời (John R.Hober, 1954)

 Góc độ sự hiểu biết của người: Truyền thông là quá trình qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu chúng ta Đó là một quá trình liên tục, luôn thay đổi và biến chuyển để ứng phó với tình huống (Martin P.Andelsm)

 Góc độ quá trình truyền tải: Truyền thông là sự chuyển tải thông tin

ý tưởng, tình cảm, kỹ năng bản thân hành động của quá trình truyền tải được gọi là truyền thông (Berelson và Steines, 1964)

 Góc độ công cộng: Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây

là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người (Frank Dance, 1970)

 Góc độ thời gian, tình huống: Quá trình truyền thông là quá trình chuyển đổi từ tình huống đã có cấu trúc như một tổng thể sang tình huống khác theo một thiết kế được ưu ái hơn (Bess Sondel, 1956)

Trang 18

 Góc độ quyền lực: Truyền thông là cơ chế qua đó quyền lực được thể hiện (S Schaehter, 1951)

Từ những góc độ trên, qua nhiều phân tích, cuốn sách “Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản” do PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên),TS Đỗ Thu Hằng- Học viện Báo chí và tuyên truyền đã đúc rút ra một khái niệm truyền thông như sau:

“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình

cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành

vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/ nhóm/cộng đồng/xã hội.”

VHDN cần nhiều hơn nữa sự giao tiếp ở mức cao các hoạt động quản trị nhằm hướng đến những lợi ích cho DN VHDN rất cần các hoạt động truyền thông khác nhau để tuyên truyền, phổ biến các định hướng, phong cách, phương pháp, cách thức và sự linh hoạt trong từng công việc

1.1.3 Văn hoá

Văn hoá là một từ đa nghĩa, nó được giải thích bằng nhiều cách khác nhau Cho dù đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hoá, nhưng có một điểm chung mà các nhà nghiên cứu đều thừa nhận: văn hoá là phẩm chất đặc hữu chỉ có ở con người, nó là cái làm phân biệt giữa con người với động vật Đời sống con người có mối liên hệ mật thiết với văn hoá, nhưng văn hoá phải do quá trình lao động, học tập rèn luyện mà đạt được, chứ không phải là cái di truyền theo đường sinh học Không có con người và hoạt động của con người thì không có văn hoá Ngược lại, không có văn hoá, con người sẽ không thể tồn tại như một sinh thể xã hội Văn hoá được trao truyền và

Trang 19

quảng bá theo con đường kế thừa xã hội thông qua việc sử dụng các hệ thống biểu tượng (ngôn ngữ mà xã hội có được)

Khi nói về văn hoá một cách chung nhất, định nghĩa của tổ chức khoa học, giáo dục, văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO) được nhiều người đồng

tình và chấp nhận: “Văn hoá là tổng thể những nét đặc sắc về tinh thần và

vật chất, tri thức và cảm xúc, tiêu biểu cho một xã hội hay một tập đoàn xã hội, bao gồm ngoài nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền căn bản của con người, các hệ thống giá trị, các truyền thống và các tín ngưỡng”{8,tr 10}

Tổng Giám đốc Ferderico Mayor trong lễ phát động thập kỷ thế giới

phát triển văn hoá cũng đã đưa ra định nghĩa về văn hoá: “Văn hoá là tổng

thể sống động các hoạt động sáng tạo (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống, thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” {4, tr 23}

Ở Việt Nam, nghiên cứu văn hoá với tư cách là một khoa học khá muộn, nhưng những nhận định, quan niệm về văn hóa có từ rất sớm Gắn với những tên tuổi như Lê Quý Đôn (1773), Phan Kế Bính (1915), Đào Duy

Anh (1938) Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có quan niệm về văn hoá: “Vì

lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hoá, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là Văn hoá”{24.tr 314}

Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu văn hóa ngày càng nhiều, phong phú Gắn với những tên tuổi như: GS Trần Văn Giàu, GS Trần

Trang 20

Quốc Vượng, GS Hoàng Vinh, GS Trần Văn Bính Những công trình đóng góp ấy đã cho chúng ta một cái nhìn tương đối đầy đủ, hoàn chỉnh về văn hoá Việt Nam

Xã hội truyền thống Việt Nam đã sản sinh ra các loại hình cộng đồng như gia đình, làng, xã, tộc người, dân tộc, tôn giáo tương ứng sẽ có các dạng văn hóa cộng đồng như: văn hoá gia đình, văn hoá làng xã, văn hoá tộc người, văn hoá dân tộc; các văn hoá tôn giáo như Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo Nền kinh tế hiện đại làm xuất hiện các dạng cộng đồng mới như:

DN, công ty, trang trại, tập đoàn xuyên quốc gia tương ứng sẽ có các dạng văn hoá cộng đồng mới như: VHDN, văn hoá trang trại, văn hoá tập đoàn trong đó VHDN tác động mạnh tới các cá nhân và cả tập thể DN vì cùng trong môi trường làm việc và tương tác thường xuyên nhất

1.1.4 Văn hoá doanh nghiệp

Đã có nhiều khái niệm khác nhau về văn hoá DN có thể nêu một số khái niệm thường gặp sau:

“VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức,

các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu

xa của DN” (Georges de Sainte Marie – Chuyên gia Pháp về DN vừa và

nhỏ)

Theo Tổ chức Lao động Thế giới ILO “VHDN là sự tổng hợp đặc biệt

các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống, những thái độ ứng

xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”

“VHDN hay văn hoá công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà

thành viên trong DN học được trong quá trình giải quyết các vấn đề với môi

Trang 21

trường xung quanh” (Edgar H.Schein – Chuyên gia Đức nghiên cứu tổ

chức)

“VHDN là tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích

ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các nhân viên, nhưng quy tắc đó đã

tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vấn đề cấp thiết trong hiện tại VHDN là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của tổ chức đồng thuận và có ảnh hưởng đến phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên, đó là tổng hợp những quan điểm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh… (E.H Schein – Nhà xã hội học người Mỹ)

Các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng “VHDN là trạng thái tinh thần,

vật chất đặc sắc của DN được tạo nên bởi hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong một điều kiện lịch sử xã hội nhất định”

Như vậy VHDN được xây dựng chủ động trong suốt quá trình hoạt động của DN Các hoạt động bao gồm hoạt động sản xuất, bán hàng, các quan hệ tác động qua lại, các giải pháp cho những vấn đề bên trong và bên ngoài đặt ra cho DN VHDN thể hiện trong các nhân tố nhu cầu, mục đích, phương hướng hoạt động, thương hiệu của DN VHDN tạo cho DN các bản sắc riêng, nét riêng khác biệt với các DN khác

1.1.5 Xây dựng văn hoá trong Doanh nghiệp

Trước khi nghiên cứu về văn hoá DN, ta cần phân biệt một số thuật ngữ khác gần với VHDN như văn hóa kinh doanh, văn hoá kinh tế

Văn hoá kinh doanh theo cách phân tích của các nhà nhân học Mỹ, đó

là một kiểu văn hoá, một tiểu văn hoá trong nền văn hoá dân tộc rộng lớn

Trang 22

Theo GS Đỗ Minh Cương, “văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố

văn hoá trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, cái văn hoá mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ ” {11, tr 69} Theo cách hiểu

này, văn hoá kinh doanh là một hoạt động của VHDN Hệ thống giá trị trong văn hoá kinh doanh được hình thành trong quá trình kinh doanh, còn giá trị trong VHDN được tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và trong quá trình giải quyết các mối quan hệ cả bên trong và bên ngoài DN Mỗi DN đều có thể xây dựng cho mình một kiểu văn hoá mang đặc điểm của nền văn hoá kinh tế đất nước nhưng trong mỗi DN lại tạo cho mình những phong cách đặc thù riêng Và chính nét đặc trưng ấy là thế mạnh, là

sức mạnh tinh thần của chính DN ấy Ngày nay, trong cơ chế thị trường

cùng với sự hội nhập toàn cầu về kinh tế, việc vận dụng các giá trị văn hoá vào hoạt động quản trị kinh doanh đã trở nên hết sức cần thiết đối với các

DN trên thế giới nói chung và các DN Việt Nam nói riêng Nghiên cứu về sự thịnh vượng của các công ty có quá trình phát triển lâu dài tại Mỹ và Nhật, các chuyên gia nghiên cứu đều có chung một kết luận, đó là do các DN này

đã xây dựng được văn hoá DN vững mạnh

Thuật ngữ “văn hoá DN” tuy mới được du nhập vào Việt Nam nhưng hiện nay nó đã trở lên quen thuộc và được nhắc đến ở bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, đặc biệt là các cơ quan công sở hay các phương tiện thông tin đại chúng Vậy VHDN là gì? Cũng như khái niệm văn hoá, mặc dù được sử dụng rất nhiều và cũng có khá nhiều các trường phái, tổ chức nghiên cứu phạm trù này, nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về

VHDN Theo TS Đỗ Minh Cương: “VHDN (Văn hoá công ty) là một dạng

của văn hoá tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hoá mà DN

Trang 23

làm ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của DN và tác động tới tâm tư, tình cảm, lý trí và hành vi của các thành viên trong DN” Nói cách khác “VHDN chính là lối ứng xử, lối sống và hoạt động, lối suy nghĩ và bảng các giá trị của DN”

PGS TS Dương Thị Liễu, Trưởng bộ môn văn hoá kinh doanh, Đại học Kinh tế quốc dân thì cho rằng: VHDN là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của DN, có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên trong DN Trong bài viết với tựa đề “VHDN là gì” đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 31-2002 ra ngày 25-7-2002, tác giả Ngô Minh

Khôi đã đưa ra một khái niệm VHDN như sau: “VHDN hay bản sắc văn hoá

DN” là hệ thống các chuẩn mực về tinh thần và vật chất, quy định mối quan

hệ, thái độ và hành vi ứng xử của tất cả các thành viên trong DN, hướng tới những gì tốt đẹp đã được xã hội đồng tình, tạo ra nét riêng độc đáo, đồng thời là sứ mạng lâu bền của DN, thể hiện qua sức mạnh của sản phẩm trên thương trường”

Đó là ba trong số rất nhiều các định nghĩa khác nhau về VHDN, tuy

nhiên tất cả các định nghĩa này đều thống nhất khi cho rằng: Văn hoá DN là

giá trị tinh thần, là chuẩn mực hành vi, là bản sắc, là những nét độc đáo tạo nên sự phát triển bền vững của DN

1.2 Văn hóa doanh nghiệp và những vấn đề đặt ra

1.2.1 Nhận diện Văn hóa doanh nghiệp

VHDN không tự nhiên mà có, VHDN phải nằm trong chiến lược phát triển của DN mới xây dựng được VHDN Việc xây dựng VHDN phải là một

dự án được thực hiện trong một thời gian dài Thông thường, việc tổ chức thực hiện dự án xây dựng VHDN ở công ty cần có sự hỗ trợ của các đơn vị

Trang 24

tư vấn độc lập và rất chuyên nghiệp, VHDN được xác định bằng các tiêu chí

cụ thể và khi triển khai cần có các nhân tố sau:

Hình thành quan niệm giá trị của DN vì các quan niệm hiện đại coi VHDN là yếu tố tạo niềm tin và hướng dẫn cho hành động của DN Niềm tin

là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của DN tạo nên các đặc trưng cơ bản cần quan tâm Quan niệm giá trị của DN ảnh hưởng tác động đến chính giá trị của người lao động trong tập thể DN đó VHDN phải mang đặc trưng thời đại Trong một giai đoạn xã hội nào đó nếu các giá trị vật chất, đồng tiền đang được sùng bái thì chỉ những thước đo bằng vật chất duy nhất là tiền và

bị chi phối bởi đồng tiền Ngược lại trong xã hội hiện đại giá trị DN, con người được biểu hiện bằng sự phát triển bền vững và những đãi ngộ vật chất

Từ đặc trưng này, trong quá trình xây dựng VHDN cần tập trung vào các tiêu điểm hoặc 1 tiêu điểm mấu chốt chi phối các tiêu điểm khác để bảo đảm vật chất cho người lao động Áp lực vật chất cho người lao động lớn hơn nhiều so với áp lực tinh thần

VHDN cũng cần tính toán tới hiệu quả kinh tế, vì hoạt động DN tạo ra lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nếu không có lợi nhuận việc tập trung xây dựng VHDN sẽ bị ảnh hưởng theo, nguồn chi bị hạn chế Việc xây dựng VHDN thường áp dụng khi DN có lãi và định hướng tới sự phát triển bền vững Thực tiễn phát triển kinh tế trong lịch sử khi khủng hoảng kinh tế xảy

ra trong cộng đồng DN không ít tên tuổi vang bóng một thời được coi là đi đầu trong xây dựng VHDN bị phá vỡ chỉ trong chốc lát Khi kinh doanh thua

lỗ, bộ máy tổ chức bị xáo trộn hàng loạt người lao động mất việc làm và VHDN cũng biến mất

Trách nhiệm xã hội trong VHDN cũng hình thành nên các giá trị trong

DN, vì DN là thành viên của xã hội Trách nhiệm xã hội thể hiện ở giá trị vật

Trang 25

chất và tinh thần Một DN được coi là có văn hoá chỉ khi giành được sự tôn trọng, con người được sáng tạo, được cống hiến và được ghi nhận Trách nhiệm xã hội biểu hiện cả ở những nỗ lực xây dựng và bảo vệ môi trường sống Nếu DN phá hỏng môi trường sống ắt sẽ bị cộng đồng từ chối và có nguy cơ phá sản Việc VHDN tôn trọng cộng đồng bằng các ích lợi môi trường đã được nhiều doanh nhân áp dụng thành công và trở thành tiêu chí không thể thiếu của các DN hiện đại

Trách nhiệm xã hội của DN còn thể hiện ở tiêu chí “vì khách hàng” bởi

lẽ tất cả các giá trị thể hiện qua sản phẩm và qua cam kết hành động của DN

 Giá trị hữu hình của DN là tài sản và cơ sở vật chất của DN được duy trì thường xuyên tăng lên

 Giá trị vô hình của DN được đo bằng niềm tự hào của người lao động trong DN khi được làm việc trong DN được cộng đồng xã hội tôn vinh và ủng hộ

Các DN thành công đều xây dựng cho người lao động của mình niềm tin, niềm tự hào khi làm việc tại DN Sự ghi nhận và tôn vinh của xã hội vì những cống hiến của DN cho cộng đồng là những tiền đề tốt để DN phát triển mạnh hơn, vững chắc hơn

Việc hình thành quan niệm giá trị tương tự như “giá trị tinh thần” cho

DN Giá trị tinh thần là niềm tin và sự theo đuổi kiên trì, kiên định được hình thành trong suốt quá trình sản xuất và kinh doanh của tập thể nhân viên trong DN Việc sử dụng tôn chỉ, mục tiêu, yêu cầu thời đại, phương hướng phát triển… đều mang theo những ý nghĩa văn hoá mà DN theo đuổi Tinh thần của DN phải có đặc trưng riêng biệt được hình thành trong một điều kiện nhất định phản ánh nhu cầu và diện mạo tinh thần của DN Tinh thần

Trang 26

của DN cũng cần có đặc trưng về văn hoá và thời đại của dân tộc, bởi nếu trong quá trình đổi mới không có sự kết hợp giữa DN với đặc điểm riêng của quốc gia sẽ khó đạt được thành công Tinh thần DN được thể hiện chủ yếu qua các yêu cầu sau:

 Có đặc trưng riêng biệt của DN khi thiết kế xây dựng giá trị DN việc lựa chọn Logo, Slogan phải tôn lên các giá trị đặc trưng không thể xoá nhoà hay nhầm lẫn trong thực tiễn Các DN khác khó bắt chước hoặc

bị phạt nếu bắt chước Việc xây dựng đặc trưng riêng thể hiện ở các hình thức và bản chất hoạt động của DN, các hình thức thể hiện VHDN phải kết hợp nhuần nhuyễn và cảm nhận chung phải “ĐẸP”

 Phù hợp với đặc tính dân tộc: Ngôn ngữ, hình ảnh DN thể hiện phải phù hợp với giá trị thời đại và đặc trưng dân tộc DN Việt Nam phải lấy những hình ảnh thân thương, gần gũi với người Việt Nam làm nền tảng xây dựng thương hiệu và VHDN tránh lấy những nét đặc trưng văn hoá khác, hay sự khác biệt trong tâm trí khách hàng để xây dựng văn hoá cho riêng mình

 Thể hiện quan điểm giá trị của DN: Sáng tạo tinh thần cho DN thông qua ngôn ngữ và hình ảnh là những bước đầu mang tính hình thức Các giá trị DN thể hiện phải dễ hình dung và có tính thực tiễn cho các

DN, để tập thể người lao động, người quản lý và lãnh đạo đều tôn trọng các giá trị và áp dụng các giá trị đó hiệu quả, năng động

 Có ý nghĩa sâu sắc: Giá trị được thể hiện ra ngoài cho DN phải có

ý nghĩa sâu sắc Điều đó có nghĩa là phải được lựa chọn kỹ lưỡng, có tác động mạnh tới các đối tượng tiếp nhận Chỉ khi đó việc sáng tạo văn hoá tinh thần cho DN mới thực sự nằm trong chuỗi giá trị văn hoá của DN

Trang 27

 Thuận tiện khi lưu chuyển và lưu trữ: Ngôn ngữ và hình ảnh phải

dễ lưu chuyển và lưu trữ, không quá phức tạp dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thuộc

và quan trọng nhất là dễ khắc sâu trong tâm trí khách hàng, người tiêu dùng và cán bộ công nhân viên trong DN

1.2.2 Đặc điểm Văn hóa doanh nghiệp

1.2.2.1 Cơ chế tồn tại của Văn hóa doanh nghiệp

Với mỗi DN cơ chế tồn tại cần có bao gồm:

Mối quan hệ giữa những người đồng sở hữu, mối quan hệ này thể hiện trong điều lệ của DN Một số trường hợp còn có những thoả thuận riêng ghi trong các biên bản họp hội đồng thành viên, đại hội cổ đông… Chế độ lãnh đạo của DN bao gồm: Cơ cấu tổ chức lãnh đạo, hình thức lãnh đạo, phương thức lãnh đạo, các quan hệ ngang, dọc trong lãnh đạo Về mặt ý nghĩa cơ cấu lãnh đạo cũng là một biểu hiện của quan niệm giá trị Phương thức lãnh đạo rất phong phú, đa dạng Người lãnh đạo chọn lựa phương thức nào, tư duy nào sẽ thể hiện trên thực tế như vậy Nếu nhà lãnh đạo chọn phương thức độc quyền thì giá trị của họ không bao gồm sáng tạo tinh thần cho DN

Việc xác định hợp lý cơ cấu trong DN đặc biệt quan trọng, bởi các nhân

tố lãnh đạo, môi trường kinh doanh, tố chất văn hoá, tư tưởng của nhân viên trong DN đều ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức Nếu phương thức lãnh đạo thay đổi hệ tư tưởng của nhân viên cũng thay đổi theo

Chính sách quản lý của DN là những quy định trong hoạt động quản lý nhân sự, sản xuất, kinh doanh, đầu tư, phân phối Chính sách quản lý DN là phương tiện hữu ích thực hiện mục tiêu DN, đó là những quy định và quy tắc nhân viên phải tuân thủ Nó có thể làm cho mọi hoạt động của nhân viên phù hợp với yêu cầu của DN trong sản xuất kinh doanh và do đó nó hình

Trang 28

thành VHDN Tính chuẩn mực của chính sách quản lý DN trong một thời gian dài tạo thành thói quen của nhân viên, từ đó tạo ra sự gắn kết giữa nhân viên và DN Ví dụ chính sách làm việc trọn đời trong các công ty Nhật tạo ra

sự trung thành tuyệt đối của các nhân viên làm việc lâu dài trong công ty và trở thành nét đặc thù cho bất kỳ DN Nhật nào làm việc khắp thế giới

Một khía cạnh khác của VHDN chính là hành động của nhân viên về VHDN Việc lãnh đạo và người lao động, thể hiện VHDN trong hành động của nhân viên chính là làm cho VHDN thực sự sống động trong mỗi hoạt động của DN VHDN lúc này thể hiện trong từng cá thể linh hoạt kết hợp với các yếu tố cá nhân, quan niệm cá nhân, giá trị sống của cả hệ thống Hành động nhân viên biểu hiện VHDN ở các yếu tố sau đây:

cá nhân hình thành sớm và tương đối ổn định thể hiện bản sắc của cá nhân trong cộng đồng, các giá trị cá nhân khó có thể thay đổi mà chỉ có thể thích ứng với VHDN trong từng điều kiện cụ thể

nhau luôn có nhu cầu khác nhau và đó là động lực của sự phát triển, song

DN không thể tiêu chuẩn hoá nhu cầu của cá nhân Để hành động của cá nhân đồng nhất với đặc trưng của VHDN và trở thành biểu hiện của VHDN cần tìm hiểu kỹ nhu cầu tâm lý của từng cá nhân trong DN, trên

cơ sở đó có những biện pháp điều chỉnh thích hợp và phù hợp

Xây dựng chuẩn mực hành động: Hành động của các cá nhân

luôn có xu hướng tự do hay tự phát Để mọi hành động đều thống nhất với tinh thần của DN và là biểu hiện của VHDN cần có tiêu chuẩn cho hành động của nhân viên khi làm việc tại DN Ban đầu các chuẩn mực

Trang 29

này là cưỡng bức đến giai đoạn sau là biểu hiện sinh động thực tế VHDN khi đã là tự giác

khuyến khích phù hợp là cách để khẳng định vai trò, vị thế và địa vị của các cá nhân tham gia cộng đồng

Nâng cao trình độ văn hoá của nhân viên: Trình độ văn hoá bao

gồm cả nhận thức xã hội và thực tiễn chỉ ra rằng ở những DN có trình độ văn hoá nhân viên cao thì ý thức tuân thủ VHDN cũng rất nhanh và thuận lợi

1.2.2.2 Nhu cầu xây dựng văn hóa trong Doanh nghiệp

Từ những khái niệm nêu trên cho thấy văn hóa trong DN có nhiều cách đánh giá và nhìn nhận khác nhau Nếu góc nhìn nhận của người chủ DN khác với người quản lý nhà nước về VHDN lại càng khác với các nhà nghiên cứu quan niệm VHDN Việc hiểu biết về VHDN và sử dụng công cụ văn hóa như một bàn tay vô hình để quản trị DN là một nghệ thuật vô cùng khó và phức tạp với những nhà nghiên cứu nhưng lại là cách vô cùng dễ với nhà quản trị DN tài ba được cài đặt sẵn tư duy xây dựng DN có văn hóa và bản sắc, hài hòa phù hợp với văn hóa quốc gia và bản sắc của khu vực

Đặc biệt VHDN chú trọng vào các mục tiêu sau đây:

Mục tiêu thứ nhất: Tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm, làm cho sản

phẩm có bản sắc, có cá tính, có giá trị khác biệt, nhờ vậy có sức cạnh tranh mạnh mẽ, giành ưu thế trên thương trường Trong thời đại ngày nay, cạnh

tranh bằng giá cả, chất lượng sản phẩm và mà một yếu tố không kém phần quan trọng đó là hàm lượng văn hoá có trong sản phẩm Hàm lượng văn hoá trong sản phẩm càng cao thì giá trị, sức cạnh tranh của sản phẩm càng lớn

Trang 30

Tại sao sản phẩm của Hàn Quốc rất được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng, đặc biệt là thời trang và mỹ phẩm, có nhiều nguyên nhân nhưng có

lẽ sự xâm nhập về văn hoá là nguyên nhân quan trọng nhất Trước khi xuất khẩu sản phẩm, các nước có nhiều kinh nghiệm trong thương mại quốc tế như Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản thường xuất khẩu văn hoá trước Công cụ hữu hiệu thực hiện điều này chính là phim ảnh Nếu so sánh một sản phẩm của Nhật Bản khách hàng cảm nhận ngay sự bền chắc, tỉ mỉ trong

tư duy công nghệ và giải pháp kỹ thuật, các phương án dự phòng, sản phẩm

có hình thức gọn, thấp/ lùn, nhãn hiệu dập chìm… so với sản phẩm Hàn Quốc có nét khác biệt rõ ràng Sản phẩm Hàn Quốc thiên nhiều về hình thức bóng bẩy, thời trang, màu sắc truyền thống, đa chức năng Sản phẩm của Mỹ

có nét riêng, có nhiều góc cạnh, nhiều nét đột phá nhưng bao giờ cũng phải mang biểu tượng hay ý nghĩa văn hóa gắn với hình ảnh nước Mỹ Sản phẩm bán tại châu Âu phải có nét truyền thống và gần gũi với thiên nhiên, cổ xưa Sản phẩm của châu Âu phân biệt khá rõ tầng lớp sử dụng hay đẳng cấp của sản phẩm

Mỗi quốc gia, thậm chí mỗi DN đã xây dựng riêng cho mình một đế chế văn hóa mà ở đó những giá trị cốt lõi được duy trì và vận hành bởi các tiêu chuẩn đã được ấn định như là một cam kết bảo đảm uy tín Các tiêu chuẩn

đó không thể liệt kê vì nó khác nhau ở mỗi quốc gia và cách hiểu cũng khác nhau ở mỗi nước Người mua sản phẩm mua bao gồm luôn: sản phẩm, dịch

vụ, nguồn gốc, xuất xứ, quá trình sản xuất an toàn, sản phẩm có làm phương hại đến môi trường không, công nhân sản xuất có được đối xử tốt, có được trả thù lao thoả đáng, DN làm ăn có chân chính…

Mục tiêu thứ hai: Tạo ra sự phát triển bền vững cho DN thông qua sự

phát triển của mỗi thành viên trong DN Trong mọi thời đại, đặc biệt là

Trang 31

trong nền kinh tế tri thức, con người luôn là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của các DN Trong bối cảnh ngày nay, việc tuyển mộ được người tài là rất khó khăn, nhưng việc sử dụng và giữ chân họ trung thành, một lòng một dạ cống hiến cho DN còn khó hơn nhiều

Người tài giỏi là những người có chuyên môn nổi bật trong DN, có nhu cầu được thừa nhận khả năng làm việc của mình, là người cần thiết, đáng tin cậy, gắn bó, trung thành với DN Một người Giám đốc giỏi là những người tinh mắt, biết phát hiện người tài và sử dụng họ đúng lúc, đúng chỗ Trong mọi xã hội, vấn đề đối nhân xử thế vẫn là chìa khoá giúp chủ DN có được lòng trung thành của nhân viên cấp dưới Điều đó càng hiệu quả hơn khi áp dụng ở Việt Nam bởi vì dân tộc Việt Nam là dân tộc duy tình DN muốn giữ chân được họ, khiến họ một mực trung thành, phấn đấu và cống hiến cho công ty không cách nào khác là phải thoả mãn nhu cầu của họ một cách khoa

học và có văn hóa Nhu cầu ngày nay không đơn thuần là vấn đề cơm áo gạo tiền, ăn no mặc ấm mà còn nhu cầu được thăng tiến, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu được thể hiện mình…

Trang 32

Abraham Maslow (1908-1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ, nghiên cứu nhiều năm đã giúp ông phát hiện

ra rằng: Ở mỗi con người đều có 5 nhu cầu: như hình bên Hàm lượng mỗi nhu cầu này ở mỗi con người là hoàn toàn khác nhau Khi mỗi nhu cầu này được thoả mãn ở mức nhất định thì con người bộc lộ mong muốn cao hơn

Mà đỉnh cao là muốn thấy mình trong một đội ngũ, cộng đồng, tổ chức, công đoàn, đoàn thanh niên, hội xây dựng, hội kiến trúc sư, các hiệp hội, muốn được hoà nhập, muốn được chia sẻ (Thực tế đã chứng minh: Khi người ta sống một mình người ta sẽ trở thành người cục cằn, hung dữ và tư duy không phát triển)

Khi nhu cầu này được đáp ứng thì người ta mong mỏi có được uy tín (Prestige) trong cộng đồng do mình tham gia xây dựng Uy tín này thể hiện

ở nhu cầu muốn được mọi người quý mến, đối xử bình đẳng, bác ái Và nhu cầu cao nhất của con người là nhu cầu muốn bộc lộ cái tôi, muốn áp đặt bản thân mình cho người khác

Đáng chú ý là lý giải của Maslow về vai trò của từng loại nhu cầu trên Khi một nhu cầu chưa được giải quyết thỏa đáng thì các nhu cầu khác

sẽ không thúc đẩy được cá nhân đó hoạt động, còn nhu cầu đã được thoả

Trang 33

mãn thì nhu cầu bậc trên sẽ thay thế nó đóng vai trò làm động cơ thúc đẩy Như vậy các nhu cầu có tính văn hoá cao (từ 1 đến 3 từ trên xuống) có vai trò cao hơn so với nhu cầu có tính tự nhiên, bản năng Nhu cầu tự thân vận động, tự thể hiện, sáng tạo là nhu cầu cao nhất của mỗi con người, đó cũng

là động cơ thúc đẩy, tiềm tàng, mạnh nhất trong mỗi con người Nhà quản lý giỏi là người biết khai thác tốt các nhu cầu này để tạo động lực cho người lao động, giúp họ phát huy tối đa sự thông minh sáng tạo, lòng nhiệt tình và tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái của mình

5 nấc thang nhu cầu của Maslow giải thích cụ thể và cặn kẽ về nhu cầu của các cá nhân, nhưng cần phải chú trọng thêm là Maslow nghiên cứu đưa

ra quan điểm phù hợp với văn hóa và lối sống châu Âu, châu Mỹ Các học giả sau này đã có những nghiên cứu khác để đánh giá lại sự phù hợp của nấc thang nhu cầu có thực sự phù hợp với người châu Á Mà sự khác biệt thể hiện từ nấc thang thứ 3 Văn hóa người châu Á thích được xã hội chấp nhận những cá biệt nên cách tư duy người châu Á khác với châu Âu Người châu

Á luôn muốn được tạo nên sự khác biệt với cộng đồng hơn là chỉ nhu cầu tham gia vào cộng đồng đó Vì nhu cầu thích khác biệt nên những cái khác biệt có thêm nhu cầu được ngưỡng mộ Và khi được ngưỡng mộ thì duy trì ngưỡng mộ đó ít thay đổi nữa Tính tự tôn dân tộc, tự tôn địa phương của người châu Á có sự mãnh liệt khác hẳn với người châu Âu Đó là tự hào vì cộng đồng mình tham gia, tự hào những nét chung của cả cộng đồng Nên người châu Á tính cộng đồng cao, sống theo ý thức chung của cả cộng đồng Người châu Á hiếm khi có quan điểm riêng, mạch lạc, rõ ràng mà chỉ cần đi theo tiếng gọi «tinh thần» nhiều hơn là ý thức rõ ràng về nhu cầu bản thân Các nhà quản trị nên hiểu sự khác biệt văn hóa của các quốc gia có nguyên nhân và nguồn gốc như thế nào, từ đó hiểu sự tác động của văn hóa tới lối

Trang 34

sống và hành vi của người lao động Nếu nhà quản trị nắm rõ hành vi văn hóa có nguồn gốc và ý thức bản năng như thế nào sẽ nhanh chóng điều hành đúng và đầy đủ phù hợp với từng vùng văn hóa

Mục tiêu thứ ba: tạo ra nhân hoà Người ta thường nói rằng một người

muốn làm được việc lớn thì phải có “Thiên thời, địa lợi, nhân hoà“ Thiên thời hiện nay không quan trọng bằng địa lợi, địa lợi không quan trọng bằng nhân hoà và nhân hoà thì không có sẵn Trong một tập thể có thể có nhiều người giỏi, thông minh, năng động, sáng tạo, đó là những điều tốt nhưng không phải lúc nào tổ chức đó cũng phát triển mà đôi khi lại kìm hãm nhau nếu không có nhân hoà Một đội bóng có nhiều ngôi sao nhưng không có sự đoàn kết, các cầu thủ chỉ biết thể hiện bản thân mình mà không biết phối hợp, tôn trọng và hợp tác với đồng đội thì đội bóng đó rất khó có thể giành chiến thắng và không thể có vị trí cao trong bảng xếp hạng

VHDN gồm các nhân tố cấu thành trong DN như sau:

 Sự cảm thông: Nếu ai cũng giống nhau xã hội trở thành robot,

xã hội vốn là sự khác biệt các thuộc tính giữa con người để bổ sung cho nhau thế mạnh và thế yếu VHDN giúp cho các thành viên trong một

DN, một tổ chức dễ dàng chấp nhận cái tôi, cái khác biệt của người khác để cùng xây dựng tổ chức

 Tính tôn trọng: Tôn trọng khách hàng, tôn trọng đối tác, tôn trọng đồng nghiệp, tôn trọng môi trường, không huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên, tôn trọng người lao động; không quát tháo, chửi bới, cấp trên tôn trọng cấp dưới, cấp dưới tôn trọng cấp trên (trên ra trên, dưới ra dưới) Sự tôn trọng được biểu hiện ở chỗ người ta sẵn sàng nói lời cảm

ơn, xin lỗi “Cảm ơn, xin lỗi" hai từ bí ẩn, đơn giản nhưng hóa giải được nhiều vấn đề trong cuộc sống cũng như trong công việc

Trang 35

 Sự chia sẻ: VHDN tạo cho con người mong muốn chia sẻ

“Chia sẻ” là từ bí ẩn, nó là chìa khoá của mọi sự thành công Ở đâu có

sự chia sẻ thì ở đó có thắng lợi Chia sẻ là cùng nhau gánh vác công việc, cùng nhau hưởng thụ những thành quả đạt được, đồng cam cộng khổ, cảm thông và giúp nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống

 Tinh thần hợp tác: Đây cũng là điểm yếu nhất trong các DN của chúng ta Xuất phát điểm của chúng ta là nền kinh tế tiểu nông, làm ăn nhỏ lẻ, do vậy tư tưởng tự cấp tự túc đã ăn sâu vào tâm trí mỗi người dân Việt Nam Thời đại ngày nay đã thay đổi, thời đại của nền kinh tế nông nghiệp đã qua đi, thay thế là nền kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, thay vì ngăn sông cấm chợ, đóng cửa nền kinh tế là xu thế hội nhập toàn cầu về kinh tế

 Cấp độ cao nhất của nhân hoà là sự cộng hưởng

VHDN tại các quốc gia phát triển được thể hiện đa dạng và sâu sắc hơn nữa, ngoài các thuộc tính trên còn được xem xét các thuộc tính sau:

 Các đặc tính dân tộc: Là các nét đặc trưng của văn hóa quốc gia thể hiện trên sản phẩm như màu trang trí, kiểu dáng, tính năng sử dụng, phần mềm sử dụng, ngôn ngữ sử dụng…

 Môi trường đa văn hóa: Phải chấp nhận các thuộc tính của các quốc gia khác để có thể bán hàng hiệu quả hơn, sản phẩm có màu sắc trung tính, có thể tùy chọn ngôn ngữ, có thể thay đổi bổ sung tính năng phù hợp từng quốc gia, tuân theo các tiêu chuẩn toàn cầu…

Trang 36

 Môi trường theo tiêu chuẩn DN: Nhiều DN đặt ra tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn chung để khẳng định chất lượng và thương hiệu tuyệt đỉnh hơn…

 Các thuộc tính địa phương: Các nét đặc trưng địa phương được

áp dụng trên sản phẩm nhằm cung cấp riêng cho khu vực, địa phương

đó

Trong DN cũng vậy, mỗi người đều phải có động cơ làm việc, ai ai cũng có ý thức trách nhiệm xây dựng, phát triển DN mình Thực tế cho thấy trong các DN Việt Nam và đặc biệt là các DN Nhà nước, đa số người lao động vẫn chưa thực sự có ý thức làm chủ, trong tư duy vẫn là ngườiđi làm thuê, làm công ăn lương Ðộng cơđến cơ quan không phải là công việc, không phải là vì khách hàng, vì sự phát triển của DN mà là vì cho có mặt và cuối tháng nhận lương Họ coi trách nhiệm phát triển DN là trách nhiệm của một nhóm người – Ban lãnh đạo Đó là một trong những nguy cơ lớn nhất của các DN Việt Nam Muốn tồn tại, phát triển trong cơ chế thị trường chúng ta phải thay đổi ngay thói quen và tư duy kiểu cũ

1.2.3 Cấu trúc Văn hóa doanh nghiệp

Để hình dung ra cơ cấu văn hoá một cộng đồng người, chúng ta có thể tham khảo quan niệm văn hoá của nhà nghiên cứu người Pháp - ông Jean Ladrière cho rằng: văn hoá của một cộng đồng người biểu hiện ra như một tổng thể bao gồm các bộ phận như sau:

Hệ thống ý niệm: gồm tập hợp những khái niệm và biểu tượng, dựa vào

đó, các nhóm xã hội khác nhau tìm cách lý giải mình và giải thích thế giới thông qua triết học, khoa học, tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 37

Hệ thống giá trị liên quan đến các chuẩn mực cho phép phân biệt thực

giả, đánh giá tốt/xấu, nhận định đúng/sai trong những tình huống hành động

cụ thể Hệ thống biểu hiện bao gồm các thể thức và hình thức trình bày, qua

đó các tình cảm, ý niệm bộc lộ ra và có thể cảm nhận một cách cụ thể Hệ thống biểu hiện quan trọng nhất là hệ thống nghệ thuật

Hệ thống hành động bao gồm các tri thức công nghệ học, cho phép làm

chủ ở mức độ nào đó môi trường tự nhiên, các thể chế xã hội, dựa vào đó cộng đồng tự tổ chức và quản lý số phận của mình

Các bộ phận biểu hiện trên rất hợp lý trong điều kiện nước ta, dựa vào

đó có thể xây dựng mô hình VHDN Việt Nam bao gồm các thành tố sau:

1.2.3.1 Triết lý hay đạo lý kinh doanh

Triết lý: Là những tư tưởng có tính triết học được con người rút ra từ cuộc sống của họ; là thứ triết học về đạo lý, triết học của hành động Triết lý kinh doanh hay còn gọi là đạo lý kinh doanh là tư tưởng, quan điểm của DN

về kinh doanh; được khái quát thành lý tưởng, tôn chỉ, mục đích, phương châm hành động giúp cho DN đạt hiệu quả cao trong sản xuất, kinh doanh Triết lý kinh doanh còn được cụ thể hoá bằng các chuẩn mực đạo đức, hệ thống giá trị và có khi được cô đọng trong một câu khẩu hiệu ngắn gọn Nó quan hệ sâu sắc với động cơ hành động của DN, tạo thành định hướng có tính chất chiến lược cho sự phát triển, đồng thời còn là tiêu biểu cho đạo đức của bản thân DN đó Vì thế triết lý kinh doanh là cốt lõi của phong cách DN,

là hạt nhân, là trụ cột của VHDN

Tập hợp các triết lý của mình phát triển thành một hệ thống lý luận và đem phổ biến cho toàn đội ngũ, nhằm duy trì các phương thức và phong thái hoạt động đã đem lại thành công cho DN Đây là con đường hình thành triết

Trang 38

lý của hầu hết các DN lớn có truyền thống lâu đời và tiếp tục thành đạt cho đến nay

1.2.3.2 Xây dựng bộ quy tắc ứng xử cho Doanh nghiệp

DN cần đặt ra những quy định, nguyên tắc, chuẩn mực, quy định cách ứng xử trong DN Những quy định, nguyên tắc ấy vừa là trách nhiệm, vừa là

ý thức, động lực nhằm thúc đẩy các thành viên trong công ty hướng tới mục tiêu vì sự phát triển của DN, vì lợi ích cộng đồng Xây dựng quy tắc ứng xử cho tất cả các mối quan hệ: quan hệ trong bộ phận lãnh đạo, quan hệ giữa các đồng nghiệp, quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, quan hệ với khách hàng

Ngoài những quy tắc mà chính DN đề ra, DN cũng chịu trách nhiệm trước một số quy định của cộng đồng Đó là hệ thống quản lý ISO, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, tiêu chuẩn SA quy định về chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội

 Công cụ: gồm máy móc, trang thiết bị, khí cụ, nhà xưởng;

 Con người: kiến thức, kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm, thói quen

 Thông tin: gồm các bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ liệu

Trang 39

 Tổ chức: thể hiện trong bố trí, sắp xếp, điều động, quản lý các yếu tố

Công nghệ là một thành tố đóng vai trò quan trọng trong VHDN Tất cả các yếu tố công nghệ sẽ hỗ trợ, giúp cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN đạt hiệu quả cao Hệ thống công nghệ trong hoạt động của DN còn được GS.TS Hoàng Vinh chỉ rõ vai trò của nó trong việc không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của mọi khâu công tác trong hoạt động của DN như:

 Lựa chọn phương hướng hoạt động cho DN

 Chuẩn bị cơ sở vật chất đầy đủ cho hoạt động DN

 Hoàn thiện kiến thức về nhập hàng trong DN

 Nắm vững bí quyết đặt giá trong kinh doanh

 Tuyển chọn nhân viên phù hợp với đặc thù của DN

 Nghệ thuật tiêu thụ hàng hoá

 Marketing, quảng cáo

 Thực hiện đầy đủ các yếu lĩnh trong quản trị DN như thu thập

và xử lý thông tin nhanh nhậy; nắm vững kỹ năng giao tiếp trong đàm phán; thực hiện các nghi lễ phù hợp trong giao tiếp, rèn luyện khả năng diễn giải,thuyết phục, điều khiển hội nghị {40, tr 14}

Hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại tạo một môi trường làm việc hiệu quả, năng suất Đưa những tiến bộ khoa học, CNTT vào hoạt động, sản xuất sẽ giúp DN đáp ứng những đòi hỏi luôn luôn thay đổi của thị trường, theo kịp thời đại Để thành công trên thương trường, DN cần có một chiến lược marketing, quảng cáo, quan hệ công chúng hiệu quả Đó là một nghệ

Trang 40

thuật tinh tế đòi hỏi không thể thiếu yếu tố văn hoá nhằm cảm hoá, lôi cuốn được người tiêu dùng

1.2.3.4 Nhân cách doanh nhân trong Văn hóa doanh nghiệp

Nhân cách vừa là chủ thể văn hoá của DN, lại là người đại diện mang giá trị của tiểu văn hoá ấy Yêu cầu về nhân cách của người lãnh đạo DN chính là: tinh thần hợp tác, khả năng quyết đoán, có năng lực tổ chức, thái độ tin cậy khi giao việc cho người khác, dám chịu trách nhiệm, ứng biến linh hoạt, dám mạo hiểm và nêu gương sống vì đạo đức, được cộng đồng, xã hội thừa nhận Nước Nhật đã khái quát thành bốn tiêu chuẩn đối với doanh nhân: Độ lượng, khoan dung; hiểu rõ nghề nghiệp, quyết đoán; dám chịu trách nhiệm, công bằng Trong thời đại ngày nay, người lãnh đạo DN cần phải năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, có hiểu biết trong nhiều lĩnh vực để phù hợp với yêu cầu thực tiễn Muốn vậy, cần có thời gian rèn luyện, không thể ngày một ngày hai Tuy nhiên, không phải trong hoàn cảnh nào họ cũng đều đúng, nên cần có tinh thần tiếp thu, học hỏi thường xuyên

1.2.3.5 Hệ thống biểu hiện trong hoạt động của Doanh nghiệp

Hệ thống biểu hiện còn được gọi là diện mạo văn hoá của DN (dịch từ thuật ngữ Cultural Configuration) Đó là những biểu hiện bên ngoài của hệ thống VHDN, là những cái dễ nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận trực tiếp được khi quan sát, tiếp xúc với DN

Kiến trúc đặc trưng: Kiến trúc đặc trưng của DN bao gồm kiến trúc nội

thất và kiến trúc ngoại thất của DN Hầu hết các công ty đều muốn gây ấn tượng đối với mọi người về sự khác biệt, thành công và sức mạnh của họ bằng những công trình kiến trúc đặc biệt và đồ sộ Ví dụ các Ngân hàng, kho bạc, bưu điện thường được thiết kế khá đồ sộ, nhiều ngân hàng sơn mầu đen

Ngày đăng: 24/11/2021, 19:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Khảo sát ý kiến về đăng tải thông tin của DN trên báo  (tham khảo từ khảo sát của đồng nghiệp) - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2.3 Khảo sát ý kiến về đăng tải thông tin của DN trên báo (tham khảo từ khảo sát của đồng nghiệp) (Trang 132)
Bảng 2-1a Báo Xây dựng năm 2008 - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2 1a Báo Xây dựng năm 2008 (Trang 134)
Bảng 2-1b Báo Xây dựng năm 2009 - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2 1b Báo Xây dựng năm 2009 (Trang 145)
Bảng 2-1c Báo Xây dựng năm 2010 - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2 1c Báo Xây dựng năm 2010 (Trang 156)
Bảng 2-1d Báo Xây dựng năm 2011 - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2 1d Báo Xây dựng năm 2011 (Trang 166)
Bảng 2-1e Báo Xây dựng 6 tháng đầu năm 2012 - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2 1e Báo Xây dựng 6 tháng đầu năm 2012 (Trang 176)
Bảng 2-2a Báo Kinh tế Hợp tác Việt Nam năm 2009 - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2 2a Báo Kinh tế Hợp tác Việt Nam năm 2009 (Trang 181)
Bảng 2-2b Báo Kinh tế hợp tác Việt Nam năm 2010 - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2 2b Báo Kinh tế hợp tác Việt Nam năm 2010 (Trang 186)
Bảng 2-2c Báo Kinh tế hợp tác Việt Nam năm 2011 - Vai trò của báo chí truyền thông với vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp (khảo sát báo xây dựng, thời báo kinh doanh và tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam   vinaconex từ năm 2005 đến nay)
Bảng 2 2c Báo Kinh tế hợp tác Việt Nam năm 2011 (Trang 191)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w