Nhờ việc thực hiện hai quyết định quan trọng này mà cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã được triển khai đại trà ở hầu hết các địa phương trên cả nước mang lại những hiệu quả thiết thực
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN LƯU VÂN
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG Ở CÁC PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG Ở CÁC PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 40
2.1 Những tác động ảnh hưởng đến cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 40 2.2 Tổ chức thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 49 2.3 Đánh giá về thực trạng cải cách tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông của một số phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng 57
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
CỬA LÊN THÔNG Ở CÁC PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 70
Trang 33.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành
phố Hà Nội 77
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
DANH MỤC CÁC THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐANG THỰC HIỆN 95
TẠI CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 95
TÓM TẮT LUẬN VĂN 107
Trang 4CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Uỷ ban nhân dân
MTTQ : Mặt trận tổ quốc
TTTHC : Thủ tục hành chính
CCHC : Cải cách hành chính
Trang 5Sơ đồ 1.1: Khái quát quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một
cửa liên thông tại UBND cấp xã
Sơ đồ 1.2 Quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất
Sơ đồ 2.1: Tổ chức UBND cấp xã
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cải cách hành chính được Đảng và Nhà nước ta xác định là một trong những nội dung quan trọng của quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện quyết định thành công của công cuộc đổi mới Ngay từ Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VII) tháng 01 năm 1995 đã khẳng định “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – cải cách một bước nền hành chính Nhà nước” [27 Tr, 1291]
Cải cách hành chính có ý nghĩa quan trọng vì Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là nhiệm vụ vừa mới
mẻ, vừa khó khăn, nặng nề Bản thân bộ máy nhà nước (mà trong đó trực tiếp
là bộ máy hành chính nhà nước) không đổi mới tổ chức hoạt động theo hướng nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý thì không thể hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó Chính vì tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính như vậy mà Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa
X ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01 tháng 8 năm 2007 đề về đẩy
mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý của bộ máy nhà nước Tại nghị quyết đã chỉ ra những điểm đã làm được và những điểm chưa làm được của công tác Cải cách hành chính Đặc biệt Nghị quyết đã đề ra: mục tiêu, yêu cầu giải pháp để đẩy mạnh cải cách hành chính Nghị quyết xác định: " Bảo đảm cho công tác cải cách hành chính thật sự là một khâu đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội và là một nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của các cấp uỷ và cơ quan hành chính nhà nước."
Trang 7Trong công cuộc cải cách hành chính, Chính phủ đã trình Quốc hội các
dự án luật như: Luật doanh nghiệp, bộ luật Dân sự, luật đầu tư, luật đất đai, luật thương mại … và đã ban hành nhiều Nghị định có thể nói đây là cơ sở cho việc cải cách thể chế khắc phục tình trạng thiếu luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế và xã hội Điều quan trọng là các dự án luật mà Chính phủ trình Quốc hội đã phản ánh được chủ trương của Đảng và của nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, thông qua đó giảm thiểu đáng kể sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế và thương mại nói chung và các hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng; Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đã được nâng lên nhất là về kiến thức quản
lý nhà nước, kỹ năng nghiệp vụ hành chính; thủ tục hành chính được công khai, minh bạch, chất lượng thủ tục hành chính được nâng lên, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: "Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, sinh hoạt của nhân dân"[21,
tr 324] Thủ tục hành chính và cơ chế thực hiện thủ tục hành chính có ảnh hưởng lớn và trực tiếp tới mọi mặt đời sống của công dân và sự phát triển kinh tế - xã hội Thủ tục hành chính không được cải cách sẽ là rào cản lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và chuyển đổi cơ chế kinh tế, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội Trong cải cách thủ tục hành chính, việc vận dụng cơ chế một cửa liên thông là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính
Từ những quan điểm chỉ đạo nêu trên Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 về Ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính ở
Trang 8địa phương (sau đây gọi là Quyết định 93/2007/QĐ-TTg) thay thế Quyết định 181/2003/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Nhờ việc thực hiện hai quyết định quan trọng này mà cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã được triển khai đại trà ở hầu hết các địa phương trên cả nước mang lại những hiệu quả thiết thực trong cải cách thủ tục hành chính, cải thiện mối quan hệ giữa nhà nước với công dân và tổ chức xã hội
Như vậy việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông được thực hiện từ năm 2007 khi Quyết định 93/2007/QĐ-TTg có hiệu lực Cơ quan thực hiện cơ chế một cửa liên thông được thực hiện ở ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã Tuy nhiên thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế liên thông chủ yếu được thực hiện ở cấp huyện và cấp tỉnh, ở cấp xã thực hiện rất ít, do đó có những cán bộ, công chức làm việc tại
bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hành chính cấp xã còn chưa thuộc hết các thủ tục hành chính, thậm chí còn chưa phân biệt được đâu là lĩnh vực thuộc cơ chế một cửa liên thông, đâu là lĩnh vực thuộc cơ chế một cửa Tuy vậy cấp xã lại là nơi gần dân nhất, là nơi trực tiếp đưa các quan quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống
Hiện nay các đề tài nghiên cứa về thực hiện cơ chế một cửa liên thông
ở cấp xã cung rất ít
Với lý do trên, em xin chọn đề tài: “cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước với mục đích mong sao cơ chế một cửa liên thông ở cấp xã ngày càng phát triển và số thủ tục liên thông cũng ngày một nhiều hơn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cải cách thủ tục hành chính không phải là một vấn đề nghiên cứu mới, vấn đề này đã và đang được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau trên các địa bàn khác nhau Có thể nêu ra một số nghiên cứu chủ yếu sau:
- Nguyễn Văn Thâm: Cải cách hành chính phục vụ dân (Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ tại Học viện Hành chính Quốc gia được thực hiện năm 1998) đã phân tích tương đối rõ nét nhu cầu cải cách hành chính, trong đó chú trọng tới cải cách thủ tục hành chính và khả năng triển khai cơ chế một cửa trong việc giải quyết thủ tục hành chính cho công dân và tổ chức;
- Trương Quang Vinh: “Cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một dấu tại cấp quận, huyện thành phố Hồ Chí Minh” (Luận văn Thạc sĩ Quản lý
hành chính công tại Học viện Hành chính Quốc gia, 2000) đã tập trung vào đánh giá và chỉ ra những ưu điểm và khuyết điểm mô hình một cửa, một dấu được triển khai thí điểm ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1995;
- Nguyễn Thị Ngọc Phượng: “Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa tại UBND thị xã Sóc Trăng – tỉnh Sóc Trăng” Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công tại Học viện Hành chính Quốc gia, 2000;
- Nguyễn Văn Thanh: “Hoàn thiện tổ chức theo cơ chế một cửa của UBND cấp huyện tỉnh Hà Tây” Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công
tại Học viện Hành chính Quốc gia, 2004;
- Nguyễn Đức Vượng, Nâng cao hiệu quả cơ chế một cửa trong công tác quản lý hành chính nhà nước tại cấp phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sỹ hành chính công, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,2007;
Trang 10- Nguyễn Xuân Cương: “Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Lâm Đồng”, Luận văn Thạc sĩ
Quản lý hành chính công tại Học viện Hành chính Quốc gia, 2005;
- Nguyễn Thị Tú: “Nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở cấp xã qua thực tiễn ở phường Tân Dân, Thành Phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ” Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng và chính quyền
Nhà nước tại Học viện Báo chí và tuyên truyền, 2011, tập trung giải quyết các vấn đề về cơ chế một cửa ở UBND cấp xã;
- Nguyễn Văn Nam (2006), Xây dựng mô hình “ một của liên thông”
và một số giải pháp để tiếp tục cải cách hành chính về đầu tư theo chế “ một cửa” tại tỉnh Bình Phước, Luận văn Thạc sĩ hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội;
- Ban chỉ đạo cải cách hành chính - UBND thành phố Hà Nội, cải cách hành chính ở thành phố Hà Nội, Tập I, Nhà xuất bản Hà Nội, 2003;
- Hiếu Giang - Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong giai đoạn mới theo tinh thần Đại hội XI của Đảng - Tạp chí Cộng sản số ra ngày 07/5/2012
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần quan trọng xây dựng nền tảng và cách thức triển khai mô hình tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính "một cửa" trong thực tiễn Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, vẫn chưa
có đề tài nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở cấp phường tại quận Hai Bà Trưng
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, Luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thực cải cách thủ tục hành
Trang 11chính theo cơ chế một cửa liên thông ở cấp phường trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở cấp xã trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trên cơ sở phương pháp luận, sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp thống kê và phân tích, tổng hợp tài liệu, điều tra xã hội học
Trang 126 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông
- Xác định những ưu điểm của quá trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở cấp phường qua thực tiễn ở các phường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp bảo đảm tiếp tục thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở cấp phường đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm rõ và phong phú thêm những vấn đề lý luận về giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông cấp phường nói riêng
- Ý nghĩa mặt thực tiễn:
+ Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần khắc phục những tồn tại đang cản trở việc thực hiện mô hình đảm bảo thực hiện tốt hơn giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở cấp xã
+ Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc hoạch định, lập kế hoạch tiếp tục hoàn thiện việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông ở các phường tại quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội Đồng thời, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các khóa đào tạo và bồi dưỡng cho công chức cấp xã…
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục thủ tục hành chính đang thực hiện tại cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, kết cấu luận văn bao gồm 03 chương, 8 tiết, tổng số 108 trang
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG
1.1 Chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách thủ tục hành chính
Việc hình thành chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về cải cách hành chính cũng như xác định nội dung, phương hướng, giải pháp thực hiện cải cách hành chính trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi, sáng tạo không ngừng trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước được khởi đầu từ Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986
Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, Đại hội VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương: thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước, theo phương hướng: xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp Tăng cường bộ máy của nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở thành một hệ thống thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt chức năng quản lý hành chính – kinh tế với quản
lý sản xuất – kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội Thực hiện một quy chế làm việc khoa học, có hiệu suất cao; xây dựng bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao với một đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị và năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối Tuy nhiên, nhìn
Trang 14chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn quá cồng kềnh, nặng
nề Chính vì vậy, Đại hội VII đã xác định: Tổ chức bộ máy Nhà nước và cán
bộ, đổi mới công tác cán bộ phù hợp với cơ chế mới [27 Tr, 1178] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược
ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do Đại hội VII thông qua
đã khẳng định về Nhà nước “phải có đủ quyền lực và có đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của nhà nước”
[27 Tr, 1211]
Trên cơ sở đó, cần tập trung làm tốt một số việc:
- Sửa đổi Hiến pháp, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Tiếp tục sửa đổi và xây dựng hệ thống pháp luật về kinh tế, văn hóa, xã hội, về hình
sự, dân sự, hành chính, về quyền và nghĩa vụ công dân… Nâng cao trình độ của các cơ quan nhà nước về xây dựng luật pháp, sớm ban hành luật về trình
tự xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật, đảm bảo cho Nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật Thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân
- Cải tiến tổ chức hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân để làm đúng chức năng quy định Đổi mới tiêu chuẩn đại biểu, chế độ bầu cử và quy chế hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
- Sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, coi trọng bàn bạc tập thể đồng thời đề cao trách nhiệm và quyền hạn cá nhân của người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu bộ máy quản lý và điều hành
- Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để xắp xếp lại tổ chức của mỗi cấp; đề cao quyền chủ động và trách nhiệm của địa
Trang 15phương, đồng thời đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước trung ương, xây dựng chính quyền xã, phường vững mạnh
- Tăng cường hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan bảo vệ pháp luật làm tốt nhiệm vụ
- Kiên quyết sắp xếp lại tổ chức và tinh giản biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp ngay từ năm 1991, làm cho bộ máy gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả Sớm ban hành quy chế viên chức nhà nước Xây dựng đội ngũ viên chức nhà nước có phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao và thành thạo nghiệp vụ
Sau Đại hội VII, từ 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển mạnh tư duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và về cải cách hành chính Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là yêu cầu bức xúc và là trọng tâm của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách hệ thống trong Nghị quyết Trung ương 8, đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy cùng quy chế hoạt động của hệ thống hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Có thể nói Nghị quyết là tiền đề quan trọng xây dựng và thực hiện cải cách hành chính trong thời gian qua Nghị quyết xác định: “ Cải cách thể chế của nền hành
Trang 16chính nhằm đáp ứng từng bước yêu cầu tăng cường quan hệ gắn bó giữa nhân dân với chính quyền và bảo đảm sự quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị trường”[27 Tr,1296] Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 Khoá VII đã
mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn chuyển biến thật sự trong cải cách hành chính ở Việt Nam
Đại hội VIII, sau đó là Hội nghị Trung ương 3, Trung ương 6 (lần 2) và Hội nghị Trung ương 7 (Khoá VIII) tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng
về cải cách hành chính, xác định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước và phải được tiến hành đồng bộ trong cả hệ thống chính trị
Đại hội IX (năm 2001) đã đưa ra một loạt chủ trương, biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…
Đại hội X (năm 2006) tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại và xác định một loạt các biện pháp quan trọng để đẩy mạnh cải cách hành chính
Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Nghị quyết Trung ương 5 Khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước đã làm rõ, cụ thể hoá những vấn đề hết
Trang 17sức quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới ở Việt Nam Nghị quyết xác định mục tiêu đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước
Đại hội XI (1/2011) tiếp tục khẳng định: “Tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả Thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính
và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia [21 Tr, 142]
“Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân ”[21 Tr, 250]
Việc cải cách thủ tục hành chính phải công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước các cấp
Từ thực tiễn hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng có thể khẳng định rằng cải cách hành chính nhà nước luôn là một chủ trương nhất quán, thể hiện tầm nhìn của Đảng trong lãnh đạo tổ chức và hoạt động của nhà nước, thông qua các biện pháp cụ thể ở từng giai đoạn phát triển của đất nước để cải cách, đổi mới nền hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển
Trang 181.2 Đặc điểm, vai trò, nguyên tắc, xây dựng, thực hiện và yêu cầu cải cách thủ tục hành chính
1.2.1 Khái niệm thủ tục hành chính
Hoạt động của bất kỳ tổ chức nào cũng phải tuân thủ theo những thủ tục nhất định Với ý nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một quy trình thống nhất gồm một loạt các bước, các công việc có liên quan chặt chẽ với nhau để giải quyết một công việc nào đó, nhằm đạt được kết quả mong muốn
Đối với nhà nước, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền để giải quyết công việc theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao Những quy định đó được gọi là quy phạm thủ tục Quy phạm thủ tục được đặt ra để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước và xác định hành vi của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ và quan trọng hơn để tổ chức, công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy luật của pháp luật Phạm vi hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện trên cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp
và tư pháp Do đó, trong hoạt động của nhà nước có thể phân biệt ra các loại thủ tục lập pháp (quy trình, thủ tục ban hành và sửa đổi Hiến pháp và luật), thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp (quy trình và thủ tục xét xử của tòa án) Mỗi lĩnh vực hoạt động của nhà nước có nội dung, hình thức, tính chất và yêu cầu khác nhau nên trình tự thủ tục khác nhau Trong lĩnh vực hành pháp, để giải quyết các công việc phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước bắt buộc phải tuân thủ theo trình tự, cách thức nhất định gọi là thủ tục hành chính
Tại khoản 1 điều 3 Nghị định Số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 06 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính giải thích như sau:
“Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều
Trang 19kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức
Như vậy, thủ tục hành chính là trật tự, cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ giữa các
cơ quan, bộ phận trong nội bộ nền hành chính và giữa các cơ quan hành chính
và tổ chức, công dân
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra và được công bố công khai để mọi người có thể thực hiện Mục đích là một mặt ràng buộc cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước trong quá trình thực thi công vụ; mặt khác để người dân và tổ chức tiến hành một cách thuận lợi và thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ Thủ tục hành chính có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, thủ tục hành chính được điều chỉnh bởi quy phạm thủ tục
hành chính Mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều phải được trật tự hóa nhưng không có nghĩa là mọi hoạt động quản lý nhà nước đều phải điều chỉnh bằng quy phạm thủ tục hành chính, mà có hoạt động tác nghiệp cụ thể trong nội bộ tổ chức nhà nước do các quy định nội bộ điều chính Chỉ có các lĩnh vực quan trọng phải được quy định trình tự và nội dung bởi pháp luật, nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hoạt động quản
lý Thủ tục hành chính là nhân tố đảm bảo cho hoạt động chặt chẽ và đúng chức năng quản lý của cơ quan nhà nước
Thứ hai, thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong
quản lý hành chính nhà nước Nghĩa là một thủ tục chỉ được coi là thủ tục hành chính khi nó điều chỉnh các vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Tổ chức hành chính được phân biệt với thủ tục tư pháp, khác với
Trang 20thủ tục tố tụng của các tòa án, kể cả tố tụng hành chính cũng không thuộc khái niệm thủ tục hành chính
Thứ ba, thủ tục hành chính rất đa dạng và phức tạp do phạm vi bao quát
của thủ tục hành chính rất rộng Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với bộ máy hành chính bao gồm các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, mỗi cơ quan thực hiện thẩm quyền của mình theo những thủ tục nhất định Hiện nay nền hành chính nước ta đang chuyển từ nền hành chính cai quản sang nền hành chính phục vụ làm cho hoạt động quản lý đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức, biện pháp Đồng thời với xu hướng hợp tác quốc tế, đối tượng quản
lý không chỉ trong phạm vi công dân trong nước, mà liên quan đến yếu tố nước ngoài và phải tuân thủ các cam kết quốc tế Do vậy, thủ tục hành chính
đa dạng, phong phú và tính phức tạp tăng lên rất nhiều
Thứ tư, thủ tục hành chính cần phải được thay đổi cho phù hợp với yêu
cầu thực tế của đời sống xã hội đặt ra trong từng giai đoạn Về bản chất, thủ tục hành chính do cơ quan nhà nước đặt ra để giải quyết các mối quan hệ giữa
cơ quan Nhà nước với nhau và giữa Nhà nước với công dân Trên một chừng mực nhất định, nó phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của chính người xây dựng nên Nếu thủ tục hành chính đó phù hợp với thực tế, yêu cầu khách quan đòi hỏi thì thủ tục hành chính sẽ mang lại kết quả tốt, thiết thực phục vụ cho cuộc sống Ngược lại, nhận thức không phù hợp với yêu cầu khách quan thì sẽ xuất hiện những thủ tục hành chính không phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội, cản trở sự phát triển của đời sống, kinh tế và xã hội Do đó để phù hợp với thực tiễn quản lý thủ tục hành chính có sự thay đổi thường xuyên
Bộ máy hành chính nhà nước bao gồm nhiều cấp với nhiều cơ quan và mỗi cơ quan phải đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ khác nhau tùy thuộc thẩm quyền, lĩnh vực, phạm vi quản lý Sự đa dạng, phong phú trong hoạt động
Trang 21quản lý hành chính nhà nước dẫn tới sự đa dạng, phong phú của các thủ tục hành chính Trong toàn bộ hệ thống các quy tắc pháp lý quy định trình tự, cách thức, thời gian thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhằm giải quyết nhiệm vụ của nhà nước và công việc của tổ chức, công dân tạo thành hệ thống quy phạm thủ tục Trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm
vụ và thẩm quyền của mình các cơ quan hành chính nhà nước, các cán bộ, công chức nhà nước được giao quyền quản lý phải tuân thủ các quy phạm thủ tục về trình tự, cách thức và thời hạn giải quyết công việc nhằm tạo nên sự thống nhất của việc áp dụng pháp luật trong việc thi hành công vụ
1.2.3 Vai trò của cải cách thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính có ảnh hưởng to lớn đến đời sống của công dân và hoạt động của mọi đối tượng trong xã hội, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế
- xã hội nói chung do đó là đối tượng quan trọng của cải cách
Cải cách thủ tục hành chính được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nội dung chủ yếu của cải cách hành chính ở nước ta Ngay từ năm 1994, trước khi cải cách hành chính được xem là trọng tâm của cải cách Đảng và Nhà nước, Nghị quyết 38/CP ngày 04 tháng 05 năm 1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức đã chỉ ra các thủ tục hành chính trên 7 lĩnh vực cơ bản có liên quan trực tiếp tới cuộc sống của dân cần quan tâm cải cách bao gồm: thủ tục cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư, xây dựng, sửa chữa nhà cửa, cấp đất, đăng ký kinh doanh, hành nghề; sở hữu và sử dụng phương tiện giao thông; hộ khẩu; xuất cảnh, nhập cảnh; trước bạ mua bán chuyển nhượng các loại tài sản; cho vay vốn; công chứng; thanh tra doanh nghiệp Hội nghị Trung ương 8 (Khóa VII) năm 1995 trong khi khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của cải cách nhà nước cũng xác định một trong ba nội
Trang 22dung chủ yếu cần tập trung cải cách là cải cách thể chế hành chính nhà nước, trong có có cải cách thủ tục hành chính
Trong những năm qua bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều nỗ lực trong cải cách thủ tục hành chính và coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác chỉ đạo, điều hành Những kết quả thu được đã góp phần thiết thực thúc đẩy môi trường kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống sinh hoạt của người dân, nhằm ổn định xã hội Những thành công của công cuộc cải cách thủ tục hành chính thể hiện trên hai mặt chủ yếu:
Một là, hệ thống thủ tục hành chính trở nên đơn giản hơn, số lượng thủ
tục cũng như số lượng hồ sơ trong một thủ tục giảm bớt: trong quá trình cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính là một trong những lĩnh vực được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo, trọng tâm là thực hiện Đề án 30
về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong giai đoạn 2007 – 2010 Kết thúc giai đoạn I của Đề án, các cơ quan có thẩm quyền đã thống kê và công khai được trên 5.700 thủ tục hành chính, trên 9.000 văn bản và trên 100.000 biểu mẫu thống kê thủ tục hành chính trong phạm vi cả nước Giai đoạn 2, các bộ, ngành
và địa phương đã tiến hành tự rà soát thủ tục hành chính và hoàn thành đúng tiến độ, đạt chỉ tiêu đơn giản hóa tối thiểu 30% thủ tục theo chỉ đạo của Thủ tướng Đến nay, đã có trên 5.500 thủ tục hành chính được rà soát, 453 thủ tục hành chính được kiến nghị bãi bỏ, hủy bỏ; 3.749 thủ tục hành chính được kiến nghị sửa đổi, bổ sung; 288 thủ tục hành chính được kiến nghị thay thế, đạt tỉ lệ đơn giản hóa 81%[41]
Hai là, các thủ tục hành chính đã trở nên công khai hơn và minh bạch
hơn, góp phần quan trọng vào việc xác lập một hệ thống tiêu chuẩn cho phép người dân có thể giám sát được các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện các thủ tục
Trang 231.2.4 Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải tiến hành cải cách hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Chúng ta đã tiến hành cải cách hành chính từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách Trên tinh thần đó, những năm qua công tác cải cách thủ tục hành chính trở thành nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong chương trình công tác của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thủ tục hành chính trên các lĩnh vực vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Đánh giá về chất lượng thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính trong những năm qua, trong Báo cáo tổng kết kết quả thực hiện Chương trình Tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010, Bộ Nội vụ khẳng định: Cải cách thủ tục hành chính tuy đã được thực hiện từ nhiều năm nay, nhưng nhìn chung vẫn chưa
“xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân” như mục tiêu đã đề ra Cụ thể là: nhiều mẫu đơn, mẫu tờ khai sử dụng từ ngữ khó hiểu, đa nghĩa… gây khó khăn trong việc khê khai, nhiều văn bản chưa chặt chẽ, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, văn bản thường xuyên thay đổi, ban hành hướng dẫn thực hiện chậm, đã gây khó khăn cho quá trình thực hiện và tạo nhiều khe hở trong quản lý, điều hành Còn tồn tại xu hướng cơ quan hành chính giành lợi nhuận
về phía mình, đẩy khó khăn về cho người dân gánh chịu trong giải quyết công
Trang 24việc của người dân, doanh nghiệp Nhiều nơi, nhiều chỗ kết quả giải quyết hồ
sơ hành chính trên một số lĩnh vực cho tổ chức, công dân đạt còn thấp so với yêu cầu, nhiều hồ sơ giải quyết chưa đúng hẹn, nhất là trên các lĩnh vực: đất đai, xây dựng, nhà ở Những bất cập nếu trên phản ảnh cụ thể qua các dấu hiệu chủ yếu sau:
- Hệ thống thủ tục hành chính còn rất nhiều phức tạp và chưa thống nhất Thủ tục hành chính được quy định, trong nhiều loại văn bản khác nhau,
từ văn bản quy phạm pháp luật, băn bản cá biệt đến công văn hành chính, do nhiều cấp có thẩm quyền ban hành Tính công khai minh bạch, khả năng tiếp cận, khai thác của người dân và tổ chức đối với thủ tục hành chính còn nhiều hạn chế
- Thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức mang dấu ấn của cơ chế quản lý cũ, nặng về xin – cho, không còn phù hợp với điều kiện đổi mới hiện nay Xu hướng các cơ quan quy định và thực hiện thủ tục hành chính dành thuận lợi cho mình, đẩy khó khăn cho cá nhân, tổ chức còn khá phổ biến Trong nhiều trường hợp, thủ tục hành chính còn phiền
hà, chồng chéo, trùng lắp không những khó áp dụng mà còn gây khó khăn, lẵng phí cả về thời gian, chi phí lẫn cơ hội kinh doanh, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tiêu cực, tham nhũng Thủ tục hành chính hiện đang là rào cản đối với tổ chức và công dân, làm giảm hiệu quả hoạt động cải cách hành chính
- Việc kiểm soát thủ tục hành chính còn chưa được thực hiện tốt và nặng tính chủ quan Nhìn chung, cơ quan nào quy định thủ tục hành chính, cơ quan đó tự rà soát, đánh giá Do đó, việc phát hiện đề xuất bãi bỏ hoặc sửa đổi những thủ tục hành chính không còn phù hợp, không thật sự hiệu quả Nhiều trường hợp thủ tục hành chính đã được bãi bỏ, sửa đổi theo hướng đơn giản, nhưng do không kiểm soát thường xuyên nên sau một thời gian lại biến tướng
Trang 25sang một hình thức khác tiếp tục gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp
Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu và trước hết
là do nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa vai trò và tầm quan trọng của thủ tục hành chính trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung cũng như hoạt động quản lý nhà nước nói riêng, việc thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính tại các Bộ, Ban ngành, địa phương còn xem nhẹ Nhà nước chưa có văn bản pháp lý ở tầm Luật để thống nhất điều chỉnh việc quy định thực hiện và kiểm soát thủ tục hành chính, dẫn đến tình trạng thủ tục hành chính được quy định tản mạn, không đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính như: chậm sửa đổi, bãi bỏ Các cơ quan hành chính nhà nước chưa thực sự chú trọng tới công tác thống kê, tập hợp thủ tục hành chính và cũng chưa thu hút sự tham gia tích cực của đối tượng chịu sự tác động của thủ tục hành chính, cũng như của các chuyên gia, các nhà khoa học trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thủ tục hành chính
Để giải quyết những bất cập còn tồn tại trên đây, cần phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong tương lai Khẳng định tầm quan trọng của thủ tục hành chính đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và cuộc sống của người dân, Đảng và Nhà nước đã xác định đây là một trong những trọng tâm của cải cách trong những năm tới Theo Nghị quyết số 30c/NQ/CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ về việc ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định cải cách thủ tục hành chính là một trong sáu trọng tâm chủ yếu của giai đoạn này
1.2.5 Các nguyên tắc xây dựng, thực hiện thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính có ý nghĩa quan trọng quyết định tới chất lượng hoạt động hành chính, phản ánh trực tiếp nhất mối quan hệ giữa công dân, tổ chức với nhà nước, do đó các cơ quan nhà nước khi tiến hành xây dựng và
Trang 26thực hiện các thủ tục hành chính (nhất là các loại thủ tục có liên quan trực tiếp tới đời sống của công dân và hoạt động của các doanh nghiệp) cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính bao gồm:
- Cần đảm bảo tính thống nhất của thủ tục hành chính Đây là yêu cầu
cơ bản nhằm giữ vững tính thống nhất và ổn định trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với đối tượng mà mình quản lý
- Bảo đảm tính chặt chẽ của các thủ tục: Quá trình xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính phải diễn ra đúng pháp luật, tuân thủ các quy định pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính Xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính thiếu chặt chẽ là nguyên nhân phát sinh sự rườm rà của các thủ tục, từ đó nảy sinh tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức
- Bảo đảm tính hợp lý của các thủ tục: Các thủ tục hành chính phải phù hợp với thực tế và nhu cầu khách quan của quá trình quản lý, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước
- Bảo đảm tính khoa học và khách quan trong quá trình xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính
- Bảo đảm tính rõ ràng, công khai, minh bạch của thủ tục hành chính
- Các thủ tục hành chính cần phải đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng và dễ tiếp cận
1.3 Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông
1.3.1 Sự hình thành và phát triển cơ chế một cửa liên thông
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải tiến hành cải cách hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Chúng ta đã tiến hành cải cách hành chính từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết
Trang 27quả rất đáng khích lệ Cải cách hành chính ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung: cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình cải cách Thủ tục hành chính liên quan không chỉ đến công việc nội bộ của một
cơ quan, một cấp chính quyền, mà còn đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản, đều phải thông qua thủ tục hành chính do các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết Nhận rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994
về cải cách một bước thủ tục hành chính mà mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của công dân, tổ chức, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp Yêu cầu của Nghị quyết là "nhằm tạo bước chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với tổ chức xã hội và giữa cơ quan nhà nước với công dân" Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính ở nước ta từng bước được định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trên lộ trình thực hiện Nghị quyết số 38/CP, cơ chế "một cửa" đã được thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh và sau đó là tại nhiều địa phương khác
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -
2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
Trang 28chính với mục tiêu cơ bản là "Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân Mở rộng cải cách thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép và thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm định, giám định"
Trên tinh thần đó, những năm qua công tác cải cách thủ tục hành chính trở thành nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong chương trình công tác của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương
Việc cải cách theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế "một cửa, một cửa liên thông" được triển khai mạnh trong quá trình thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế "một cửa" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đã tạo ra một cách thức giải quyết công việc hiệu quả cho công dân, tổ chức, đã thể chế hóa mối quan hệ giữa chính quyền và công dân thông qua việc thực hiện cơ chế "một cửa" Tại cấp tỉnh, 4 sở bắt buộc thực hiện cơ chế này là: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, đồng thời ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã cũng phải thực hiện quy chế này Cơ chế "một cửa" cấp huyện, cấp xã giải quyết những thủ tục hành chính
về cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất đai, giấy phép xây dựng, các quyết định đầu tư, đăng ký hộ khẩu và các vấn đề liên quan đến chính sách xã hội
Nếu việc thực hiện cơ chế "một cửa" tạo nên đột phá đầu tiên trong cải cách thủ tục hành chính trong những năm qua thì bước đột phá tiếp theo là thực hiện cơ chế "một cửa liên thông" theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg
Trang 29ngày 22-6-2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế
"một cửa", "một cửa liên thông" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg được ban hành trên cơ sở tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg Ngoài việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg, Quyết định số 93/2007/ QĐ-TTg đã quy định nhiều nội dung mới có tính hoàn thiện hơn nhằm thay đổi phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước các cấp ở địa phương, giảm phiền hà, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đem lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp Thực chất, cơ chế "một cửa liên thông" là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước Trên thực tế có nhiều loại
hồ sơ hành chính có liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cấp, nhiều
cơ quan, phải qua nhiều đầu mối mới có kết quả cuối cùng Cơ chế "một cửa liên thông" đặt ra yêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp trong quy trình xử lý hồ sơ, không để tổ chức, công dân cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác Người dân có nhu cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận lại kết quả tại một đầu mối Những cải cách này đã giúp cho cơ quan hành chính nhà nước phục vụ ngày càng tốt hơn những nhu cầu của người dân
Triển khai thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương đã tích cực, khẩn trương ban hành văn bản chỉ đạo, quán triệt triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, bố trí, thành lập các cơ quan, đơn vị chủ trì, chỉ đạo cơ quan hành chính các cấp tại địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện Theo báo cáo của các địa phương, cho tới nay đã có trên 85% cơ quan hành chính cấp tỉnh, 98% cơ quan hành
Trang 30chính cấp huyện và 95% cơ quan hành chính cấp xã đã triển khai thực hiện cơ chế "một cửa" Về thực hiện cơ chế "một cửa liên thông", đã có hơn 40 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành triển khai liên thông trên các lĩnh vực đất đai, đăng ký kinh doanh, xây dựng, lao động - thương binh và xã hội, cấp phép quảng cáo, cấp phép khai thác khoáng sản, hộ tịch, hộ khẩu, lý lịch
tư pháp giữa cơ quan hành chính cấp xã với cơ quan hành chính cấp huyện
và giữa các cơ quan hành chính cùng cấp với nhau
Có thể nhận thấy kết quả bước đầu của cải cách thủ tục hành chính thông qua thực hiện cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" là đã giảm việc đi lại của người dân, doanh nghiệp, giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính,
số hồ sơ hành chính giải quyết đúng hẹn đạt tỷ lệ cao, công khai, minh bạch, bình đẳng, tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư, tổ chức và doanh nghiệp trên các lĩnh vực cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, dự án đầu tư xây dựng
cơ bản, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
1.3.2 Khái niệm cơ chế một cửa liên thông
Thuật ngữ “cơ chế” thường được sử dụng cùng với các thuật ngữ khác
để tạo nên những khái niệm chuyên môn trong các lĩnh vực khoa học khác nhau Chẳng hạn, kinh tế học có “cơ chế kinh tế”; “cơ chế quản lý kinh tế”; tâm lý học có “cơ chế kích thích – phản ứng”, trong lĩnh vực cơ khí có “cơ chế vận hành của một hệ thống máy móc”, chính trị học có “cơ chế thực hiện quyền lực” và trong khoa học pháp lý chúng ta có “cơ chế áp dụng pháp
luật”… Tuy nhiên, nội dung của thuật ngữ “cơ chế” được giải thích rất khác
nhau
Như vậy, cơ chế luôn được giải thích gắn liền với hoạt động của một hệ thống các bộ phận tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình hoạt động của chúng
Trang 31Về phương diện khoa học có thể nhận thấy hai yếu tố cơ bản tạo thành
cơ chế: yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành) Yếu tố tổ chức
đề cập đến các thành viên (bộ phận) tham gia, cách thức hình thành tổ chức và cách thức tổ chức hệ thống Yếu tố hoạt động thể hiện sự phân công và hợp tác tham gia giữa các thành viên trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của
tổ chức
Tại khoản 2 điều 1 quyết định số 93/2007/QĐ-TTg định nghĩa về cơ chế một cửa liên thông như sau: Cơ chế một cửa liên thông là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước
1.3.3 Cơ quan thực hiện cơ chế một cửa liên thông
Thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg UBND thành phố Hà Nội
ban hành quyết định số 84/2009/QĐ-UBND ngày 01 tháng 7 năm 2009 Về
việc ban hành Quy định thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội (sau đây gọi là quyết định số 84/2009/QĐ-UBND) Tại khoản 2 điều 3 của quyết định số 84/2009/QĐ-UBND quy định các cơ quan áp dụng thực hiện cơ chế một cửa liên thông gồm:
- Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, các sở, ban, ngành và cơ quan tương đương sở, các cơ quan hiệp quản theo hệ thống ngành dọc thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội (sau đây gọi chung là Sở);
Trang 32- Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện);
- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã)
Các thủ tục hành chính thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông được quy định tại khoản 1 điều 3 của quy định về thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội (Ban hành kèm theo Quyết định số 84/2009/QĐ-UBND) được quy định như sau:
a) Thủ tục hành chính cùng thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của hai hay nhiều sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân thành phố;
b) Thủ tục hành chính cùng thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, cơ quan sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân thành phố
c) Thủ tục hành chính cùng thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của
cơ quan Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện và các sở, ban, ngành thuộc Thành phố:
d) Thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, gồm có:
Thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng cùng thuộc trách nhiệm của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và cơ quan hiệp quản thuộc ngành dọc cấp trên đóng trên địa bàn;
Thủ tục hành chính cùng thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của
Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã
* Như vậy theo quyết định số 84/2009/QĐ-UBND thì có hai hình thức liên thông:
Trang 33- Hình thức liên thông ngang là: Thủ tục hành chính cùng thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của hai hay nhiều sở, ban, ngành
- Hình thức liên thông dọc là: Thủ tục hành chính cùng thuộc trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, cơ quan sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân thành phố
1.3.4 Tổ chức, nhiệm vụ của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hành chính
Thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 ban hành Quy chế thực hiện cơ chế cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương UBND thành phố Hà Nội đã quy định tổ chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở Ủy ban nhân dân cấp xã do một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm trưởng bộ phận và có ít nhất 01 công chức chuyên trách và một số kiêm nhiệm Công chức chuyên môn của UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các bước của quy trình giải quyết thủ tục hành chính Các công chức này được bố trí làm việc tại bộ phận trực tiếp thực hiện cơ chế - bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Biên chế của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại xã, phường, thị trấn được bố trí 02 (hai) biên chế và lấy trong tổng biên chế được giao cho cấp xã theo quy định cụ thể như sau: đối với các xã có trên 10.000 dân được sử dụng
02 (hai) công chức ở chức danh văn phòng – thống kê làm chuyên trách tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; những xã có dưới 10.000 dân được sử dụng 01 (một) công chức ở chức danh văn phòng – thống kê làm chuyên trách và một chỉ tiêu hợp đồng làm kiêm nhiệm tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Đối với địa phương có quá nhiều giao dịch giải quyết công việc cho tổ chức, cá nhân mà cán bộ chuyên trách không thể giải quyết kịp thời thì Chủ tịch UBND cấp xã được sử dụng công chức cơ sở ở chức danh chuyên môn làm kiêm nhiệm tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả số kiêm nhiệm là các chức
Trang 34danh quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định Số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy định Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Thông thường, các công chức chuyên môn cấp xã được điều động đến bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là những công chức: Địa chính - Xây dựng - Môi trường - Nông nghiệp/ Đô thị;
Tư pháp - Hộ tịch; Văn phòng - Thống kê; Văn hóa - Xã hội
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở Ủy ban nhân dân cấp xã do một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm trưởng bộ phận
Những công chức này có nhiệm vụ :
- Tiếp nhận hồ sơ:
Trường hợp hồ sơ có đủ các giấy tờ theo quy định công chức tiếp nhận, viết giấy biên nhận hồ sơ theo mẫu, hẹn thời gian trả kết quả, ghi vào sổ nhật
ký
- Chuyển giao hồ sơ và trả kết quả:
Chuyển giao hồ sơ và nhận lại kết quả giải quyết từ các bộ phận chuyên môn của cơ quan chủ quản
Chuyển giao hồ sơ đến cơ quan khác liên quan để giải quyết theo thẩm quyền và nhận lại kết quả giải quyết theo quy trình liên thông
Thu phí, lệ phí đối với những công việc được thu phí, lệ phí (nếu có) theo quy định của pháp luật
Trang 35Cán bộ, công chức của cơ quan khác liên quan có trách nhiệm tiếp nhận
hồ sơ từ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan đầu mối, giải quyết theo thẩm quyền, đúng thời gian quy định và trả lại kết quả theo quy định cơ chế một cửa liên thông
Cán bộ, công chức làm nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông có trách nhiệm ghi chép đầy đủ các thông tin vào sổ nhật ký, biểu mẫu; lưu trữ hồ sơ, tài liệu, thông tin, theo quy định
1.3.5 Các nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông
Theo điều 2 Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Ban hành kèm theo quyết định số 93/2007/QĐ-TTg), việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước phải đảm bảo 5 nguyên tắc sau:
Một là, thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật Đây là
nguyên tắc này yêu cầu phải giảm tối đa được các loại giấy tờ cần thiết, thủ tục càng đơn giản thì càng tiết kiệm được chi phí cho tổ chức và công dân, đồng thời hạn chế được tham nhũng của cán bộ, công chức khi giải quyết công việc Trong quá trình thực hiện xây dựng thủ tục cần nghiên cứu, xem xét những thủ tục cần thiết và phải được thể hiện rõ ràng, tránh tình trạng hiểu sai các quy định
Hai là, công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ,
hồ sơ và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân Nguyên tắc này đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân thuận tiện cho việc tiếp cận với các mẫu biểu, mức lệ phí của từng thủ tục hành chính
Ba là, Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Với nguyên tắc này, khi giải quyết công việc người dân chỉ cần đến một địa
Trang 36điểm duy nhất vẫn có thể thõa mãn đươc yêu cầu công việc Đây là điểm khác biệt căn bản so với cơ chế trước đây, người dân phải đi đến nhiều cơ quan nhà nước mới có thể giải quyết được công việc
Bốn là, Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, cá
nhân Nguyên tắc này đòi hỏi cán bộ, công chức khi giải quyết thủ tục cho tổ chức và công dân không được quan liêu, đùn đẩy trách nhiệm, tuân thủ về thời gian giải quyết Để làm được điều đó, các cơ quan hành chính nhà nước phải xác định quy trình chuẩn khi giải quyết công việc liên quan đến công dân, tổ chức từ đó tính thời gian cần thiết để giải quyết xong công việc, tránh tình tráng ứ đọng hồ sơ
Năm là, Đảm bảo sự phối hợp giải quyết công việc giữa các bộ phận,
cơ quan hành chính nhà nước để giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân Các cơ quan phải có sự phối hợp chặt chẽ để đảm bảo công việc được giải quyết thống nhất, tránh tình trạng bộ phận này phải đợi bộ phận kia giải quyết Đồng thời đây cũng là nguyên tắc rất cần thiết khi thực hiện mô hình giải quyết công việc theo cơ chế một cửa liên thông
1.3.6 Quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông tại UBND cấp xã
Theo quy định của Quyết định 93/2007/QĐ-TTg, tất cả các thủ tục hành chính do cấp xã thực hiện có liên quan tới công dân và tổ chức sẽ được tiến hành tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại cấp xã theo một quy trình thống nhất Quy trình này về cơ bản gồm các bước chính sau đây:
Bước 1: Tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải quyết công việc liên hệ, nộp
hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp xã
Bước 2: Cán bộ tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và phân loại thủ tục hành
chính:
Trang 37+ Trường hợp hồ sơ đầy đủ, đúng theo quy định thì viết phiếu hẹn trả kết quả cho công dân
+ Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, không hợp lệ cần bổ sung thì cán bộ tiếp nhận có trách nhiệm viết giấy hướng dẫn ghi rõ loại giấy tờ cần bổ sung, hoàn thiện
+ Trường hợp hồ sơ không thuộc thẩm quyền đơn vị mình thì hướng dẫn công dẫn tới cơ quan có thẩm quyền theo quy định
Bước 3: Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ
sơ hành chính chuyển hồ sơ tới bộ phận chuyên môn giải quyết theo quy định
Bước 4: Bộ phận chuyên môn báo cáo lãnh đạo, bổ sung văn bản thuộc
thẩm quyền của UBND cấp xã Và chuyển hồ sơ đến cơ quan hành chính nhà nước khác: cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thuộc Ủy ban, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp xã
Bước 5: Sau khi có kết quả cán bộ, công chức nhận về chuyển lại cho
bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ hành chính
Bước 6: Bộ phận tiếp nhận và trả quả có trách nhiệm trả kết quả cho
công dân theo phiếu hẹn
Trang 38Các bước của quy trình này có thể được mô tả trên sơ đồ sau:
Bước
Bước 2
Cán bộ, công chức tiếp nhận và trả kết
quả
Bước 3
Cán bộ, công chức chuyên môn và Bộ phận tiếp nhận HS
chuyên môn
Bước 5
Cán bộ, công chức của cơ quan khác liên
quan
Bước 6
Cán bộ, công chức tiếp nhận và trả kết
quả
Sơ đồ 1.1: Khái quát quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo
cơ chế một cửa liên thông tại UBND cấp xã
1.3.7 Những ưu điểm của cơ chế một cửa liên thông
Theo điều 1 của quy chế Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Ban hành kèm theo
Cơ quan liên quan tiếp nhận hồ sơ
và giải quyết theo thẩm quền, đúng thời gian theo quy định cơ chế một
cửa liên thông
Trang 39Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg) quy định vềCơ chế một cửa, cơ chế một cửa liờn thụng như sau:
1 Cơ chế một cửa là cơ chế giải quyết cụng việc của tổ chức, cỏ nhõn, bao gồm cả tổ chức, cỏ nhõn nước ngoài (sau đõy gọi là tổ chức, cỏ nhõn)
thuộc trỏch nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chớnh nhà nước, từ
hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chớnh nhà nước
2 Cơ chế một cửa liờn thụng là cơ chế giải quyết cụng việc của tổ
chức, cỏ nhõn thuộc trỏch nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chớnh
nhà nước cựng cấp hoặc giữa cỏc cấp hành chớnh từ hướng dẫn, tiếp nhận
giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chớnh nhà nước
So sỏnh giữa thực hiện cơ chế một cửa với thực hiện cơ chế một cửa liờn thụng ta thấy cơ chế một cửa liờn thụng cú những ưu điểm cơ bản sau đõy:
Một là, cụng dõn chỉ phải đến một cơ quan hành chớnh trong khi thủ tục liờn quan đến nhiều cơ quan hành chớnh
Trước đõy, để giải quyết cụng việc cú liờn quan đến quyền và nghĩa vụ của mỡnh, cỏ nhõn, tổ chức phải đến từng bộ phận chuyờn mụn của nhiều cơ quan hành chớnh nhà nước để được thụ lý giải quyết thỡ nay cụng dõn chỉ việc nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hành chớnh của UBND cấp xó, vớ dụ:
- Thủ tục: Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản:
+ Bước 1: Chủ sử dụng đất, sở hữu nhà kê khai hồ sơ đề nghị cấp GCN
Trang 40+ Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (01
+ Bước 5: Thủ tục cấp GCN tại UBND Quận (27 ngày làm việc)
+ Bước 6: Nhận lại kết quả và trả kết quả cho cụng dõn
Sơ đồ thực hiện quy trỡnh như sau:
(1 ngày làm việc)
3
Cán bộ, công chức địa chính, xác minh, kiểm tra hồ sơ xin cấp GCN
(2 ngày làm việc)
4 Công khai và thẩm
hồ sơ trình UBND quận cấp GCN
22 ngày làm việc
5 Thủ tục cấp GCN tại UBND Quận