1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra ở đảng bộ học viện quân y giai đoạn hiện nay

127 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 850,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và chỉ đạo, hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương về lãnh đạo, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ Quân đội; công tác k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

DOÃN VĂN MẬU

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ỦY BAN KIỂM TRA Ở ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN QUÂN Y

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

DOÃN VĂN MẬU

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ỦY BAN KIỂM TRA Ở ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN QUÂN Y

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Ngành: Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước

Mã số: 60 31 02 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lê Trọng Hanh

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Luận văn đã được bổ sung, sửa chữa theo ý kiến của Hội đồng chấm Luận văn

Ngày 10 tháng 10 năm 2014 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS – TS TRƯƠNG NGỌC NAM

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Trọng Hanh Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực, bảo đảm tính khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, tin cậy

Hà Nội, ngày 5 tháng 10 năm 2014

Tác giả luận án

Doãn Văn Mậu

Trang 5

KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG 9

1.1 Những vấn đề lý luận về công tác kiểm tra, giám sát 9 1.2 Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra Đảng 32

Y-NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 39

2.1 Ủy ban kiểm tra và những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y 39 2.2 Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y 62

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ỦY BAN KIỂM TRA Ở ĐẢNG BỘ HỌC VIỆN QUÂN Y GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 81

3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của UBKT ở Đảng bộ Học viện Quân y thời gian tới 81 3.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của

Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y giai đoạn hiện nay 86

KẾT LUẬN 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của UBKT các cấp trong Đảng bộ quân đội có vai trò rất quan trọng trong xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh làm cơ sở xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng chính trị làm cơ

sở, bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược: “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, chống phá Đảng từ trong nội bộ; mặt trái của cơ chế thị trường đang tác động mạnh mẽ tới phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của không ít cán bộ, đảng viên, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế độ, làm suy giảm mối quan hệ máu thịt quân - dân Vì vậy, nâng cao chất lượng kiểm tra giám sát của UBKT đảng uỷ các cấp trong Đảng

bộ Quân đội còn có ý nghĩa góp phần giữ gìn kỷ luật Đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và chỉ đạo, hướng dẫn của

Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương về lãnh đạo, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ Quân đội; công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y những năm qua đã thực hiện tương đối toàn diện và có hiệu quả các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của Ủy ban kiểm tra Quân ủy Trung ương; thực hiện tốt nhiệm vụ trên các mặt công tác, trong đó trọng tâm quán triệt, giáo dục và kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới về chấp hành cương lĩnh chính trị, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Qua kiểm tra đã kết luận rõ những ưu, khuyết điểm của tập thể, cá nhân, xử lý kịp thời vi phạm; qua giám sát nhận

Trang 8

xét, đánh giá cụ thể từng nội dung giúp cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được những ưu điểm, khuyết điểm của mình ngăn ngừa vi phạm Qua đó

đã góp phần giữ vững nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, tăng cường sự đoàn kết và kỷ luật trong Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của

tổ chức đảng, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên Tuy nhiên, nhận thức của một số cấp uỷ về công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế, một

số uỷ ban kiểm tra chưa chú trọng thực hiện kiểm tra tổ chức Đảng cấp dưới

và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, đặc biệt là cấp uỷ viên cùng cấp Vì vậy chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của UBKT ở Đảng bộ Học viện Quân y có lúc còn thấp chưa đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đề ra

Do đó, việc nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nói chung và chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y nói riêng là yêu cầu cấp thiết để xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, học viện vững mạnh toàn diện; xây dựng Học viện trở thành trường trọng điểm Quốc gia, là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị hiện đại đáp ứng tốt sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay Vì

thế tác giả chọn vấn đề “Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban

kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên

cứu luận văn thạc sỹ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Những công trình này đã đề cập tới nội dung, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng dưới những mức

độ và khía cạnh khác nhau

* Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ và các đề tài khoa học:

+ Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Đổi mới công tác kỷ luật trong Đảng

nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới”,

Trang 9

Đề tài này, GS, TS Nguyễn Thị Doan, làm Chủ nhiệm, năm 2005 Đề tài đã đề cập toàn diện và khai thác sâu sắc cơ sở lý luận về KT,GS Song đề tài chưa đặt vấn đề liên hệ về công tác KT,GS ở một số địa phương hoặc bộ ngành nào cụ thể…

+ Đề tài khoa học cấp bộ "Công tác giám sát trong Đảng giai đoạn

hiện nay" của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm

2007 do Tiến sỹ Đặng Đình Phú làm Chủ nhiệm (đã nghiệm thu và in thành sách) đã đi sâu nghiên cứu nội dung giám sát trong Đảng của UBKT và các tổ chức Đảng các cấp

Đề tài đã phân tích mối quan hệ giữa kiểm tra và giám sát Song các nội dung khác về công tác KT,GS và thi hành kỷ luật của Đảng… công trình hầu như không đề cập đến

+ Trương Thị Thông, Luận án PTS năm 1996 “Nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách của Đảng trong tình hình hiện nay”,

bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Luận án đã tập trung đi sâu phân tích những vấn đề cơ bản về lý luận và quan điểm về đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách của Đảng; thực trạng, nguyên nhân và xu hướng phát triển của công tác kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách; phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách của Đảng hiện nay… Ngoài nội dung về đội ngũ kiểm tra, các nội dung khác mà luận văn cần đề cập thì đề tài này chưa đề cập đến

+ Nguyễn Thế Tư, luận án Tiến sĩ năm 2004 “Nâng cao chất lượng kiểm

tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của UBKT huyện uỷ ở các tỉnh Duyên hải Miền Trung hiện nay”, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Luận án đi sâu nghiên cứu những nguyên nhân vi phạm, các quy trình, và các biện pháp kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm mà chưa đi sâu phân tích làm rõ vấn đề khác liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát

Trang 10

+ Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, 2003 của tác giả Lê Văn Cơ; “Hoạt

động của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ các trung đoàn đủ quân ở Binh đoàn Hương Giang trong giai đoạn hiện nay”

Luận văn đã tập trung đi sâu phân tích tính đặc thù của môi trường hoạt động quân sự, nêu ra các yêu cầu, biện pháp của hoạt động Ủy ban kiểm tra + Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, 2005 của tác giả Bùi Thế

Đăng.“Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng

cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ các trung đoàn, lữ đoàn đủ quân ở Quân khu 1 giai đoạn hiện nay”,

Luận văn đã đi sâu phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò và ý nghĩa nâng cao hiệu quả kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, nhưng đề tài chưa đi sâu phân tích mối quan hệ giữa đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiêu vi phạm với các hình thức kiểm tra, giám sát khác của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

+ Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, 2004 của tác giả Nguyễn Công Dân; “Về

đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng, nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới”,

+ Danh Tha: “Chất lượng công tác kiểm tra ở Ủy ban kiểm tra huyện ủy

Châu Thành – Kiên Giang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, khóa luận tốt nghiệp đại học, năm 2006

+ Lê Minh Sơn: Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra ủy Tỉnh ủy Bình

Định giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, 2007

+ Trần Quang Công “Chất lượng công tác kiểm tra ở Ủy ban kiểm tra

tỉnh Ủy Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” luận văn thạc sỹ xây dựng Đảng

và chính quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2012

- Các bài nghiên cứu đăng trên tạp chí:

+ Phan Diễn “Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổi mới

phương thức lãnh đạo của Đảng” Tạp chí kiểm tra, Số 2-2004;

Trang 11

+ Phương Đông: Hải Phòng nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát Tạp

chí kiểm tra, số 6 năm 2012

+ Lê Hồng Liêm: Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

đối với công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua Tạp chí kiểm tra,

số 05 năm 2012

+ Nguyễn Hữu Nhân: Công tác kiểm tra, giám sát góp phần quan trọng

thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng tại Đảng bộ TP Hồ Chí Minh Tạp chí kiểm tra, số 7 năm 2012

+ Trương Tấn Sang: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng góp

phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, Tạp chí Kiểm tra, số 4/2007

+ Nguyễn Thị Doan: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phục vụ bầu

cử đại biểu Quốc hội khóa XII, Tạp chí Kiểm tra số 4/2007

+ Nguyễn Minh Quang: Đảng bộ Lai Châu tăng cường công tác kiểm

tra, giám sát theo điều 30- Điều lệ Đảng, Tạp chí Kiểm tra, số 5/2007

+ Nông Đức Mạnh: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng,

Tạp chí Kiểm tra, số 7/2007

+ Trần Quang Đảng: Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám

sát của Uỷ ban Kiểm tra Đảng ủy cơ sở ở Đảng bộ Học viện Thanh Hóa, Tạp chí Kiểm tra, số 7/2007

+ Trần Quý Cứ: Suy nghĩ về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng,

Tạp chí Kiểm tra, số 7/2007

- Sách in:

+ Uỷ ban Kiểm tra Trung ương: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

với công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng, Hà Nội, 2004

+ Nguyễn Thị Doan (chủ biên), Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật

nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006

Trang 12

+ Ủy ban Kiểm tra Trung ương: Công tác kiểm tra, giám sát và thi

hành kỷ luật trong Đảng, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội, 2007

+ Tiến sỹ Lê Hồng Liêm: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

với phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay Nhà xuất bản chính

trị Quốc gia, Hà Nội, 2012

Những tài liệu này ở góc độ khác nhau đã từng bước làm rõ phương hướng

và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát một cách chung nhất Tuy nhiên, chất lượng công tác kiểm tra, giám sát ở một uỷ ban kiểm tra cụ thể trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì chưa được các tác

giải đi sâu nghiên cứu Đề tài “Chất lượng công tác kiểm tra giám sát của Ủy

ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y giai đoạn hiện nay” tác giả sẽ đi sâu

nghiên cứu thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng công tác kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y Điểm mới của đề tài là nghiên cứu chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của UBKT ở Đảng bộ Học viện Quân y, một đơn vị đào tạo cán bộ y tế cho quân đội và cả nước, chăm sóc, điều trị phục vụ nhân dân và nghiên cứu khoa học, những người vừa là thầy giáo vừa là thầy thuốc hằng ngày tiếp xúc, giải quyết công việc với đồng chí, đồng đội, với thương bệnh binh và nhân dân

3 Mục đích, nhiệm vụ

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm sáng tỏ thêm một số vấn đề cơ bản về lý luận công tác kiểm tra, giám sát; từ đó khảo sát,đánh giá đúng thực trạng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y;đề xuất những phương hướng, giải phápnâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y giai đoạn hiện nay

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích đề ra, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về công tác kiểm tra, giám sát

- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y hiện nay

- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn:Chất lượng công tác kiểm tra,

giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y

4.2.Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu chất lượng công tác

kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y trong thời

gian từ năm 2006 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận văn chủ yếu là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, tổng kết thực tiễn và trao đổi, tọa đàm với cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ Học viện Quân y

6 Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn

Luận văn đánh giá đúng thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y

Trang 14

Khi đánh giá thực trạng tác giả làm sáng tỏ từng vấn đề để tìm ra thực trạng cụ thể về chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động và thực hiện công tác kiểm tra của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y, đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra ở Đảng bộ Học viện Quân y giai đoạn hiện nay

Đề tài là tài liệu chuyên khảo về công tác kiểm tra, giám sát và là tài liệu tham khảo cho học viên Học viện Quân y và cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát ở Học viện Quân y

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương 6 tiết

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG

1.1 Những vấn đề lý luận về công tác kiểm tra, giám sát

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm kiểm tra

Theo từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội, thì kiểm tra được hiểu là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét…” theo từ điểm Luật học kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét” Như vậy, kiểm tra là việc xem xét lại những hoạt động của tổ chức hoặc con người để nhận xét, đánh giá kết quả so với yêu cầu, mục đích

đã được xác định từ trước Việc đánh giá, nhận xét đúng, sai, tốt, xấu, ưu điểm hay khuyết điểm, công hay tội của một tổ chức, một cá nhân nào đó phải căn cứ vào những quy định hoặc tiêu chí của văn bản hiện hành so với hành

động và kết quả thực tế của đối tượng được kiểm tra

1.1.1.2 Khái niệm giám sát

Theo đại từ tiếng Việt do Nguyễn Như ý (chủ biên) thì giám sát là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” [97, tr 728]; hoặc “là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh”

Nhận thức của con người bao giờ cũng là một qúa trình Tổ chức dù vững mạnh, con người dù có tài năng, có khoa học và công nghệ phát triển cao, cũng không thể một lúc hiểu biết hết được mọi vấn đề, mọi sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ, chuẩn xác Vì vậy, muốn đạt được kết quả trong thực

Trang 16

tiễn, phải kiểm tra, giám sát nghĩa là phải xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét, phải kiểm tra, giám sát toàn bộ từ ý định, chủ trương, kế hoạch, hành động; kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung, sửa đổi những thiếu sót, chưa đồng

bộ, chưa phù hợp hoặc sai lầm, lệch lạc, bảo đảm ý định, chủ trương, kế hoạch, hành động được đúng đắn, chuẩn xác hơn, chất lượng, hiệu quả đạt được tốt đẹp hơn Do đó, hoạt động có ý thức là hoạt động có kiểm tra, giám sát

Từ những phân tích trên cho thấy, kiểm tra, giám sát là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc, sâu sắc của hoạt động có ý thức của một tổ chức và con người trong xã hội Ý thức càng cao, tổ chức càng quan trọng, con người càng ở cương vị chủ chốt; nhiệm vụ càng nặng nề, phức tạp, càng đòi hỏi phải coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra, giám sát

Xét về chủ thể và phạm vi tiến hành thì hoạt động kiểm tra đa dạng hơn hoạt động thanh tra Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc thể là các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (Đảng, Đoàn thanh niên, Mặt trận, Hội phụ nữ….) ở một góc độ kiểm tra có thể là sự xem xét thực tế để đánh giá, nhận xét hoạt động của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào trong xã hội Khi con người lao động có ý thức thì đã xuất hiện một yêu cầu tất yếu là phải kiểm tra Theo Ăngghen “mỗi hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người vừa chứa đựng trong đó những yếu tố của kiểm tra” và “ đối với mỗi con người tự nhiên, mỗi cộng đồng nguyên thủy, kiểm tra được xem như là phương thức hành động để thực hiện mục đích” Như vậy kiểm tra xuất hiện trước thanh tra và xuất hiện trước khi có sự ra đời của Nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người

Qua kiểm tra có thể phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đặt ra Kiểm tra gắn liền với công việc của một tổ chức, một cá nhân nhất định Kiểm tra hướng đến việc xem xét tính phù hợp hay

Trang 17

không phù hợp của một kế hoạch, chương trình công tác đã vạch ra và khả năng thực hiện kế hoạch, chương trình đó

1.1.1.3 Kiểm tra, giám sát của Đảng

Kiểm tra của Đảng: là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là

việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc

vi phạm của các cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Giám sát của Đảng: là việc các tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá

hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng

Kiểm tra, giám sát là công tác quan trọng của Đảng, hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng; đó là hoạt động mang tính tổ chức chặt chẽ, sự tác động một cách sâu sắc, có hệ thống và có định hướng của chủ thể kiểm tra, giám sát đối với đối tượng kiểm tra, giám sát

Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị có sự thống nhất chặt chẽ nhất về tổ chức và con người, do vậy công tác kiểm tra, giám sát của Đảng không những là một tất yếu khách quan mà còn là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động có ý thức của mọi tổ chức và con người trong xã hội Mọi hoạt động của Đảng từ việc đề ra cương lĩnh, nghị quyết đến triển khai tổ chức thực hiện vừa là hoạt động kiểm tra, giám sát vừa là hoạt động chịu sự kiểm tra, giám sát của thực tiễn Đảng phải tự kiểm tra chính ngay trong những chủ trương, nghị quyết của mình ban hành ra, kiểm tra công việc, kiểm tra, giám sát con người, kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, kiểm tra đảng viên Thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là cơ sở để thực hiện tốt các yêu cầu về công tác xây dựng Đảng

Trang 18

Như vậy kiểm tra, giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của các cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước Kiểm tra, giám sát là công tác quan trọng của Đảng, hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng; đó là hoạt động mang tính tổ chức chặt chẽ, sự tác động một cách sâu sắc, có hệ thống và có định hướng của chủ thể kiểm tra, giám sát đối với đối tượng kiểm tra, giám sát

1.1.1.4 Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Công tác kiểm tra: là các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy phối

hợp với ủy ban kiểm tra cùng cấp tham mưu, giúp cấp ủy xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra hàng năm thuộc lĩnh vực phụ trách; tham gia các cuộc kiểm tra của cấp ủy hoặc chủ trì kiểm tra khi được cấp ủy giao; xây dựng chương trình, kế hoạch và chủ động sử dụng bộ máy của mình tiến hành kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên hoặc phối hợp với ủy ban kiểm tra và các cơ quan tham mưu, giúp việc khác của cấp ủy (theo sự chỉ đạo của cấp ủy) để tiến hành công tác kiểm tra; giúp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy theo dõi, đôn đốc tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra; tham gia ý kiến và giúp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy kết luận các nội dung kiểm tra thuộc lĩnh vực được giao

Công tác giám sát: là các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy phối

hợp với ủy ban kiểm tra cùng cấp tham mưu, giúp cấp ủy, ban thường vụ cấp

ủy xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát hàng năm thuộc lĩnh vực phụ trách; xây dựng chương trình, kế hoạch và sử dụng bộ máy của mình tiến hành giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên hoặc phối hợp với ủy ban kiểm tra và các cơ quan tham mưu, giúp việc khác của cấp ủy (theo sự chỉ đạo của cấp ủy) để tiến hành công tác giám sát

Trang 19

Từ khái niệm công tác kiểm tra, giám sát ta thấy:Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có một số đặc điểm cơ bản sau:

Một là, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được tiến hành trong hệ

thống tổ chức Đảng, theo phương pháp, nguyên tắc công tác đảng Mọi hoạt động kiểm tra, giám sát phải tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, minh bạch, có lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể; nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc

bao trùm, xuyên suốt toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng

Hai là, đối tượng, phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng có điểm

khác nhau cơ bản đối với đối tượng, phương pháp điều tra, kiểm tra, thanh tra củacác cơ quan bảo vệ pháp luật, thể hiện: đối tượng kiểm tra, giám sát của Đảng là đảng viên, tổ chức đảng; mọi đảng viên, tổ chức đảng khi được kiểm tra, giám sát thì vừa là đối tượng, vừa là chủ thể tự kiểm tra, giám sát Đây là nét đặc thù quy định bản chất, phương thức hoạt động, mục tiêu, yêu cầu, tác dụng và hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng Với tư cách là đối tượng kiểm tra, giám sát mọi đảng viên hoặc

tổ chức đảng được kiểm tra, giám sát phải chấp hành nghiêm túc mọi yêu cầu, nội dung, quy trình, quy chế kiểm tra, giám sát; là chủ thể tự kiểm tra, giám sát thì đảng viên, tổ chức đảng phải chủ động, tự giác thực hiện đầu đủ quyền và trách nhiệm trong cuộc kiểm tra, giám sát Bất cứ người đảng viên dù có sai lầm nghiêm trọng đến đâu khi tổ chức đảng có thẩm quyền chưa tiến hành thẩm tra, xác minh, chưa có kết luận và chưa có quyết định kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng thì người đó vẫn là đảng viên, vẫn với tư cách là chủ thể đang cùng tiến hành kiểm tra, giám sát Bất cứ

tổ chức đảng nào vi phạm nhưng tổ chức đảng có thẩm quyền chưa kỷ luật giải tán thì tổ chức đảng đó vẫn hoạt động như những tổ chức đảng khác Kiểm tra, giám sát trong Đảng khác với hoạt động điều tra của cơ quan bảo vệ pháp luật Đối tượng trong giai đoạn điều tra gọi bị can, giai đoạn truy

Trang 20

tố gọi là bị cáo, khi chấp hành bản án gọi là phạm nhân Mỗi giai đoạn tố tụng

có thể bị hạn chế những quyền nhất định, như giai đoạn điều tra có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc bị tạm giam… ” điều tra chỉ xác định trách nhiệm cá nhân còn kiểm tra, giám sát của Đảng xác định

cả trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể Tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên khi được kiểm tra thì trái lại, không được coi đối tượng kiểm tra như trên

mà chỉ coi đó là cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc có khuyết điểm cần được xem xét làm rõ, mặc dù có trường hợp đối tượng kiểm tra có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng, có thể phải khai trừ ra khỏi Đảng, nhưng chưa có quyết định chính thức của tổ chức đảng có thẩm quyền thì đối tượng kiểm tra vẫn là đảng viên, vẫn có quyền sinh hoạt, hoạt động theo quy định của Đảng

Trong điều tra thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự còn tự phê bình và phê bình trong Đảng là yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đòi hỏi đảng viên và tổ chức đảng trung thực trước Đảng

Khác với hoạt động điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật, hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng không chỉ chờ khi có vụ việc phát sinh mới tiến hành kiểm tra, giám sát và không thể kết thúc kiểm tra ngay khi khẳng định được đối

tượng có sai phạm, tiêu cực, mà hoạt động kiểm tra, giám sát trong Đảng phải “chủ

động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”

Phương pháp kiểm tra, giám sát của Đảng cũng mang tính đặc thù, phải dựa vào tổ chức đảng, phát huy tinh thần tự giác của đối tượng kiểm tra, giám sát; coi sự chuyển biến về tính tự giác, tự phê bình, tự sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của đối tượng kiểm tra, giám sát là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả Trong trường hợp, khi được kiểm tra, giám sát mọi đảng viên đều phải

đề cao tính tự giác, tinh thần tự phê bình, tự kiểm tra, tự giám sát để thực

Trang 21

hiện nghiệm túc trách nhiệm của mình với tư cách là đối tượng kiểm tra, giám sát cũng như với tư cách là đồng chủ thể kiểm tra, giám sát

Ba là, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát được thể hiện chủ yếu

và tập trung ở tính giáo dục, không chỉ đối với đảng viên đang là đối tượng kiểm tra, giám sát mà còn có tác dụng cho cả tập thể, cả tổ chức đảng, không chỉ giáo dục, cảnh báo, răn đe về những sai lầm, vi phạm đang là dấu hiệu để kiểm tra, mà còn biểu hiện ở chỗ, thông qua kiểm tra làm thức tỉnh lương tâm, khơi dạy bản chất người cộng sản, tính tiên phong gương mẫu, ý thức tự tu dưỡng rèn luyện ở mỗi đảng viên

Bốn là, trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, kiểm tra, giám

sát và tự kiểm tra, giám sát gắn bó chặt chẽ với nhau Sự thống nhất chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát và tự kiểm tra, giám sát là điều kiện căn bản

để công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đem lại hiệu quả thiết thực, là cơ

sở để đối tượng kiểm tra, giám sát tự giác nhận thấy hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm, sai lầm của mình, từ đó có quyết tâm khắc phục, sửa chữa, tiến bộ, trưởng thành

Năm là, trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, kiểm tra và giám

sát đều là hoạt động nội bộ của Đảng, do cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện nhưng có sự khác nhau tương đối về mục đích, đối tượng cũng như phương thức tiến hành Kiểm tra đòi hỏi phải đi sâu thẩm tra xác minh, kết luận xử lý kỷ luật (nếu vi phạm đến mức phải xử lý), đưa ra yêu cầu buộc đối tượng phải thực hiện, còn giám sát chủ yếu là thường xuyên theo dõi, quan sát, nhận xét, đánh giá, kịp thời tác động để phát huy ưu điểm, uốn nắn sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, không đi sâu thẩm tra xác minh, không kết luận, xử lý kỷ luật, trường hợp phát hiện đối tượng có dấu hiệu vi phạm mới tiến hành kiểm tra, kết luận, xử lý Song kiểm tra, giám sát có mối quan hệ chặt chẽ; muốn thực hiện tốt việc

Trang 22

giám sát thì phải kiểm tra, theo dõi, xem xét tình hình thực tế của đối tượng được giám sát; ngược lại muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên giám sát để đưa ra quyết định kiểm tra kịp thời, chuẩn xác

1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin về công tác kiểm tra, giám sát

- Về vị trí, vai trò của kiểm tra, giám sát

Thời C.Mác và Ph.Ăngghen, do điều kiện hoàn cảnh lúc đó nên trong các các phẩm của mình hai ông chưa đi sâu đến công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát, nhưng đã thể hiện rõ quan điểm của mình về kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát trong quản lý kinh tế, xã hội Theo hai ông để đạt được kế hoạch và mục tiêu đề

ra thì phải tiến hành kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát Kiểm tra, kiểm soát là phương thức quan trọng để thực hiện mục tiêu

Vấn đề kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một trong những vấn đề quan trọng được Lênin đặc biệt quan tâm Ngay từ khi Cách mạng năm 1917 nổ ra và những năm đầu của Nhà nước Xô Viết, Lênin đã có nhiều bài viết, bài phát biểu trong các hội nghị đề cập đến vấn đề kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát

V.I.Lênin ít dùng từ “giám sát” mà thường dùng từ “kiểm tra”, “kiểm

soát” một cách linh hoạt… để bảo vệ thành quả của cách mạng và nhanh chóng

xây dựng một xã hội mới Theo Lênin, kiểm tra, kiểm soát đã bao hàm cả giám sát Lênin luôn coi công tác kiểm tra, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu và là một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với tổ chức đảng, cơ quan nhà nước Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì những người cộng

sản phải nắm chắc công cụ kiểm tra, kiểm soát, coi đó như là: “Những nhiệm vụ

đã trở thành tự nhiên đối với những người xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền”[48, tr 298].

Sau khi Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thành công, giai cấp vô sản

Nga đã giành được chính quyền và thực hiện “việc tước đoạt kẻ đi tước đoạt”

Trang 23

Trọng tâm của cuộc đấu tranh cách mạng Nga lúc đó chuyển sang lĩnh vực quản lý đất nước, trong đó bao hàm hai nhiệm vụ: tổ chức kiểm kê, kiểm soát việc sản xuất, phân phối sản phẩm và nâng cao năng suất lao động Theo

Lênin “trọng tâm của cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đang chuyển sang

công tác tổ chức việc kiểm kê, kiểm soát” [50, tr.221]

Theo Lênin, khi Đảng có chính quyền, Đảng Cộng sản phải cầm quyền lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị và các lĩnh vực khi các đường lối, chủ trương, chính sách đã được xác định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và trọng tâm của sự lãnh

đạo phải chuyển từ “việc soạn thảo các sắc lệnh, mệnh lệnh sang việc lựa

chọn người và kiểm tra sự việc thực hiện” [ 53, tr.450] Lênin còn nhấn mạnh:

“ Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy

và chỉ có ở đấy” [54, tr.19]

Nếu như cán bộ lãnh đạo và các cơ quan của Đảng và Nhà nước “chỉ bù

đầu, bù tai” vào những công việc vụn vặt, chìm đắm trong cái biển giấy tờ và cái vũng lầy chủ nghĩa quan liêu mà quên mất nhiệm vụ trọng tâm: lựa chọn cán bộ kiểm tra, kiểm soát, phát triển kinh tế thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là một mớ giấy lộn” [50, tr.451]

Lênin cho rằng việc kiểm kê, kiểm soát toàn dân để “điều tiết đời sống

kinh tế” là nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ qua độ

lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện, Lênin viết “Thống kê và kiểm soát đó

là điều chủ yếu cần thiết cho cả việc “tổ chức” lẫn hoạt động đều đặn của xã hội Cộng sản chủ nghĩa, trong giai đoạn đầu của nó” [ 48, tr.124]

- Về mục đích, ý nghĩa và nội dung của công tác kiểm tra, giám sát

Nói về mục đích của công tác kiểm tra, kiểm soát, Lênin cho rằng mục đích cao nhất của công tác kiểm tra, kiểm soát là hoàn thiện quy trình lãnh đạo của

Trang 24

Đảng, bao gồm các khâu: ra quyết định, tổ chức thực hiện và kiểm kê, kiểm tra,kiểm soát nhằm phát hiện người tốt, việc tốt, ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của Đảng, góp phần xây dựng các tổ chức đảng và các đoàn thể chính trị xã hội trong sạch vững mạnh Ý nghĩa, tác dụng lớn nhất của kiểm tra là để sửa

chữa uốn nắn công việc, ngăn ngừa thiếu xót và sai lầm Người chỉ rõ “…Công

tác kiểm tra không chỉ có nhiệm vụ, thậm chí không phải là nhiệm vụ chủ yếu là

“tóm tắt” và “vạch mặt” mà đúng hơn là nhiệm vụ “biết sửa chữa” Sửa chữa một cách chính xác và kịp thời- đó là nhiệm vụ chính…” [53,tr.158]

Lênin chỉ rõ nội dung và nhiệm vụ chính của công tác kiểm tra là: kiểm tra

“việc” và kiểm tra “người”, ở tất cả các lĩnh vực, trong đó đặc biệt kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước Lênin nhấn mạnh: phải kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta đã tuyên bố hàng giờ, quyết định hàng phút; mặt khác kiểm tra việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của các nhân viên và đội ngũ cán bộ, đảng viên

- Về phương pháp, hình thức tổ chức kiểm tra

Bất kỳ một hoạt động nào, muốn phát huy được tác dụng đều phải có phương pháp và hình thức thích hợp Theo Lênin muốn đạt được hiệu quả cao trong công tác kiểm tra, giám sát cần phải thực hiện đồng bộ các phương pháp

và hình thức kiểm tra

Hình thức và phương pháp kiểm tra phải linh hoạt, kết hợp tốt kiểm tra

thường xuyên, đột xuất, định kỳ Theo Lênin: “phải kiểm tra thường xuyên,

liên tục kết hợp với từng thời gian (mỗi tuần một lần, một tháng, hay hai tháng một lần, tùy theo tính chất và tầm quan trọng của công việc, rồi sau đó bất thình lình), cần phải tiến hành kiểm tra thực sự trên thực tế từng “công việc” một Đó là điều quan trọng và cần thiết nhất Phải nêu kết quả từng lần kiểm tra” [55,tr.215]

Trang 25

Hình thức kiểm tra là từ dưới lên và từ trên xuống trong đó coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân Lênin luôn nhắc nhở các cấp ủy, tổ chức đảng

và chính quyền Xô Viết, các cán bộ lãnh đạo phải thường xuyên chăm lo thu hút đông đảo quần chúng lao động trực tiếp tham gia kiểm tra, coi đây là việc

có ý nghĩa to lớn Lênin chỉ ra kinh nghiệm trong lãnh đạo là phải biết kết hợp các ban kiểm tra, các ban, ngành, đặc biệt đối với những cán bộ chủ chốt

“không nên” tự mình làm “tất cả”, làm quá sức mà vẫn không kịp, làm một lúc cả hàng hai chục việc mà không được việc nào ra trò” [52,tr.293]

Theo Lênin khi tiến hành kiểm tra, phải kết hợp tốt các hình thức kiểm tra trực tiếp và kiểm tra gián tiếp Tuy nhiên người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của kiểm tra trên thức tế, chứ không phải chỉ kiểm tra trên giấy tờ sổ sách Về mối quan hệ giữa kiểm tra và kỷ luật trong đảng; Lê nin coi kỷ luật Đảng là

kỷ luật sắt và có vị trí cực kỳ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng

Trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ” “tả khuynh” trong phong trào cộng sản, Lênin khẳng định: “những người Bônsêvich sẽ không giữ được chính quyền tôi

không nói được đến hai năm rưỡi mà ngay đến cả hai tháng rưỡi cũng không được nữa, nếu Đảng ta không có kỷ luật hết sức nghiêm minh, kỷ luật sắt thực sự” [51,tr.46] Đảng chỉ có thể tồn tại, phát triển và giữ vững được vai trò

lãnh đạo khi đảng thường xuyên siết chặt kỷ luật, kể cả dùng biện pháp mạnh

mẽ nhất mà Lênin gọi là thanh đảng

Tóm lại có thể thấy tư tưởng của Lênin về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được thể hiện tập trung ở những nội dung chủ yếu sau:

- Tính tất yếu phải kiểm tra, kiểm soát

- Những nội dung cơ bản của kiểm tra, kiểm soát

- Chủ thể và đối tượng của kiểm tra, kiểm soát

- Bộ máy và hình thức, phương thức tiến hành kiểm tra, kiểm soát

Trang 26

1.1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát

1.1.3.1 Về công tác kiểm tra của Đảng

Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện, hoàn cảnh không giống với nước Nga, Hồ Chí Minh đã quán triệt, vận dụng tư tưởng của Lênin về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng một cách sáng tạo, hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, Tư tưởng đó được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, Hồ Chí Minh có cách tiếp cận, tìm ra những luận cứ mới để

khẳng định tích tất yếu phải tiến hành kiểm tra, giám sát Hồ Chí Minh cho rằng, kiểm tra, giám sát là một nội dung, một khâu không thể thiếu trong quy trình lãnh đạo của Đảng Lãnh đạo phải cụ thể, không quan liêu; phải dân chủ bàn bạc, phải kiểm tra, không kiểm tra thì không biết kết quả ra sao, không hiểu sai lệch thế nào để sửa chữa

Theo Hồ Chí Minh, “Phải luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng

Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân” [61, tr 249]

Hồ Chí Minh đã khẳng định “chính sách đúng là nguồn gốc của

thắng lợi” “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ

và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng

vô ích Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời” “Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như ngọn đèn “pha” Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ Có thể nói rằng:

Trang 27

chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu kiểm tra” [ 61, tr.520-521]

Hai là, Mục đính, ý nghĩa, tác dụng của kiểm tra, Người khẳng định

“Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm tròn

nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân Do

đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” [63, tr 287 –

288] “Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất

định tiến bộ gấp mười gấp trăm” [ 61, 520, 521] Người còn nhấn mạnh, có sự

kiểm tra đôn đốc của Đảng và nhân dân Đảng sẽ thành trong sạch, kiểu mẫu và Người yêu cầu các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra

Ba là, nội dung kiểm tra, Hồ Chí Minh yêu cầu cấp ủy các cấp phải tiến

hành kiểm tra toàn diện về mọi mặt, kiểm tra các tổ chức và kiểm tra các mệnh

lệnh, nghị quyết Người viết “Kiểm tra như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt

hay xấu (đó là kiểm tra người); “mới biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết” (tức kiểm tra, làm rõ sự đúng sai của bản thân các quyết định của Đảng) Người nhấn mạnh: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra” [ 61, Tr 287 – 288, 521]

Bốn là, hình thức, phương pháp kiểm tra, Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp ủy

phải biết kết hợp linh hoạt các hình thức, biện pháp kiểm tra Trong đó người

nhấn mạnh “Kiểm tra phải có hệ thống nghĩa là khi đã có nghị quyết thì phải

lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy Có như thế mới kịp thời thấy

rõ những khuyết điểm và khó khăn, để sửa đổi các khuyết điểm và tìm cách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khăn” Trong kiểm tra phải khắc phục bệnh

quan liêu, mệnh lệnh, không đi sâu, đi sát phong trào, không nắm được tình hình cụ thể của ngành hoặc của địa phương mình Người chỉ rõ “Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo, mà phải đi đến tận nơi”; “ Kiểm tra

Trang 28

phải dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình, để tỏ rõ hết mọi khuyết điểm và tìm cách sửa chữa khuyết điểm ấy Như thế, thì cán bộ càng thêm

trọng kỷ luật và lòng phụ trách” [61, Tr 521] “Muốn chống bệnh quan liêu,

bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi” [62, tr 287 – 288]

1.1.3.2 Về công tác giám sát của Đảng

Hồ Chí Minh thường dùng cách nói về giám sát một cách linh hoạt, bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu; bao hàm cả giám sát trong Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, giám sát đối với cán bộ, đảng viên, công chức, vì hầu hết cán bộ, công chức đều là đảng viên, là công bộc của nhân dân

Theo Hồ Chí Minh, khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách đúng, thì việc thành công hay thất bại của đường lối, chủ trương, chính sách trong thực tế còn

do cách tổ chức công việc, do việc lựa chọn cán bộ và do việc kiểm tra, kiểm soát (tức phải giám sát) xem việc có thực hiện được đến nơi đến chốn hay không Việc giám sát phải từ nhiều phía, cả từ trong Đảng, cơ quan nhà nước, trong cán bộ, đảng viên, công chức ra ngoài; từ quần chúng nhân dân và các đoàn thể nhân dân vào trong Đảng, cơ quan nhà nước; cả từ trên xuống và từ dưới lên Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ phải tăng cường giám sát để quản

lý, giáo dục, rèn luyện họ, để giúp họ tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của người cộng sản Đặc biệt là người lãnh đạo trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội) phải luôn rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Chính vì thế, công tác giám sát được Người hết sức chú trọng và đề cập ngay từ ngày đầu của chính quyền cách mạng non trẻ Hồ Chí Minh đã đề nghị nhân dân tích cực giám sát Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên, công chức Từ

Trang 29

đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích, ý nghĩa, tác dụng của công tác giám sát là giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách trong thực tế cuộc sống, thấy được tổ chức, cá nhân nào chấp hành tốt, tổ chức, cá nhân nào chấp hành không tốt, có gì đúng đắn, sai lệch, có

gì không phù hợp cần phải uốn nắn, bổ khuyết Đồng thời, Người yêu cầu phải luôn chú trọng và thường xuyên tiến hành công tác giám sát trong Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên

Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ hình thức và phương pháp giám sát Về hình thức giám sát, Người cho rằng có hai hình thức là giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp Trong đó, giám sát gián tiếp là cần thiết, hỗ trợ cho giám sát trực tiếp; giám sát gián tiếp dễ mắc bệnh quan liêu, hình thức Giám sát trực tiếp là chính

và chủ yếu, phải tiến hành thường xuyên, liên tục mới đem lại kết quả cao Về phương pháp giám sát, một mặt phải tiến hành giám sát của tổ chức đối với tổ chức, của tổ chức đối với cá nhân, mặt khác phải thực hiện việc đảng viên, công chức giám sát lẫn nhau, giám sát của cấp trên đối với cấp dưới và của đoàn thể nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên, công chức… Một trong những phương pháp giám sát có hiệu quả nhất, để tìm thấy khuyết điểm để sửa chữa là dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình Đấy là phương cách giúp nhân dân giám sát cơ quan thay mặt mình Đó cũng là cách tốt nhất để nhân dân tham gia trực tiếp, thường xuyên và có hiệu lực vào công việc của Đảng, Nhà nước Người còn chỉ rõ thực hiện giám sát thông qua phê bình của quần chúng mới đầy đủ, mới đem lại kết quả cao nhất

Theo Hồ Chí Minh, công tác giám sát phải được chú trọng và tiến hành đồng thời cả từ hai phía, không được coi nhẹ phía nào Phía thứ nhất là từ cấp trên, từ lãnh đạo đối với cấp dưới Phía thứ hai là từ quần chúng nhân dân đối với cơ quan Đảng, nhà nước và cán bộ, đảng viên, công chức Người còn yêu

Trang 30

cầu phải thực hiện việc giám sát một cách toàn diện, đồng bộ nhiều hình thức, biện pháp mới đem lại kết quả cao

Tuy nhiên, Người cũng lưu ý, muốn thực hiện công tác giám sát có chất

lượng, hiệu quả, phải “khéo” cả trong “phương pháp và hình thức” thực

hiện, phải sáng tạo, linh hoạt, uyển chuyển trong từng trường hợp cụ thể, không rập khuôn máy móc Song việc giám sát của Đảng, Nhà nước phải trên

cơ sở và đúng các nguyên tắc, phương pháp cơ bản của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; phải đảm bảo công khai, dân chủ giữa chủ thể giám sát

và đối tượng giám sát; không được dùng các phương pháp giám sát nghiệp vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật

Tư tưởng Hồ Chí Minh là luận điểm mang tính nguyên tắc, là vấn đề cốt lõi bản chất trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng Chính vì vậy Đảng ta phải vận dụng linh hoạt sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát trong từng giai đoạn của cách mạng

1.1.4 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Quân đội về công tác kiểm tra, giám sát

1.1.4.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác kiểm tra, giám sát

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam Sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng bắt nguồn từ sự đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng, được bảo đảm bằng sự thống nhất vật chất về tổ chức Để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo và sứ mệnh lịch sử của mình trước giai cấp và dân tộc là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản, phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra, giám

Trang 31

sát mới góp phần thiết thực và có hiệu quả trong việc phòng ngừa và khắc phục những nguy cơ có thể nảy sinh của Đảng cầm quyền

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với việc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, Đảng ta đã rất quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát, coi đây là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho mục tiêu, lý tưởng, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng được thực hiện nghiêm túc có hiệu quả; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; giữ gìn sự trong sạch về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, tiêu cực; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng

Đảng ta khẳng định kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là việc tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của các cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước.Do đó ngay khi thành lập,Đảng ta đã coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, điều đó được thể hiệnở Điều lệ vắn tắt của Đảng tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 3/2/1930, nội dung ghi rõ: “Điều tra các việc” và Điều lệ Đảng chính thức được thông qua tháng 10 năm 1930 đã quy định: Trách nhiệm của đảng viên

và cán bộ là giữ gìn kỷ luật đảng một cách nghiêm khắc Tất cả các đảng viên đều phải chấp hành các Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, của Đại hội, của Trung ương và của thượng cấp cơ quan…đối với vấn đề vi phạm kỷ luật thì

do toàn bộ chi bộ hay cấp đảng bộ tra xét

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I (3/1935) chỉ rõ “Cần giữ kỷ luật sắt cho

đảng, những phần tử đi trái với đường lối chính trị chung của đảng, của Quốc tế Cộng sản mà không chịu sửa lỗi, những kẻ không phục tùng Nghị quyết, Điều lệ, phá hoại kỷ luật của đảng thì nhất thiết phải khai trừ” [18, tr.25]

Trang 32

Xuất phát từ vị trí, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát và để công tác này đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng tốt hơn, ngày 16 tháng 10 năm

1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban kiểm tra Trung ương cơ quan kiểm tra chuyên trách đầu tiên của Đảng Đây là mốc đánh dấu hết sức quan trọng đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951), Đảng ta chỉ rõ: Đảng lao động Việt Nam phải có kỷ luật nghiêm minh, kỷ luật sắt

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) khẳng định: phải tăng cường kiểm tra của Đảng đối với cán bộ và cơ quan Nhà nước, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng cho Đảng và Nhà nước Nghị quyết Đại hội đã nêu rõ: Lãnh đạo mà không có kiểm tra thì lãnh đạo sẽ trở thành quan liêu Đại hội Đại biểu lần thứ IV (12/1976) Đảng yêu cầu công tác kiểm tra phải được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên và có hệ thống đối với đường lối, nghị quyết, chính sách của Nhà nước, không kiểm tra coi như không lãnh đạo Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3/1982), Đảng ta đã tổng kết thực

tiễn rát ra những vấn đề có tính quy luật: Kiểm tra là một trong những chức

năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng; Lãnh đạo mà không có kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo

Như vậy, suốt thời kỳ thành lập cho đến trước thời kỳ đổi mới (1986) Đảng ta luôn quan tâm tới công tác kiểm tracoi đây là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng

Bước vào thời kỳ đổi mới, đã có một số đảng viên giao động về tư tưởng, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Đặc biệt còn xuất hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng trên nhiều lĩnh vực Vì vậy Đảng tiếp tục đề ra nhiều quan điểm mới về công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật Đảng

Trang 33

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) tiếp tục khẳng định các quan điểm về kiểm tra của Đảng và nhấn mạnh: Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện Đó cũng là biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu Mọi tổ chức từ cơ quan Đảng đến cơ quan Nhà nước và quần chúng, mọi lĩnh vực hoạt động từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không có ngoại lệ đều nằm dưới sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền Trung ương Đảng và các cấp ủy đảng đều phải nắm chắc công tác kiểm tra, sử dụng các kết quả kiểm tra vào việc chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết Mỗi cấp ủy trong từng thời gian đều phải có chương trình kiểm tra tập trung vào những công tác chủ yếu, vào các đơn vị trọng điểm, sử dụng và phát huy vai trò của ủy ban kiểm tra và các Ban của Đảng với các Ban thanh tra của Nhà nước và kiểm tra của quần chúng; kiểm tra phải đi đôi với kết luận rõ ràng và xử lý đúng đắn

Đại hội V đã có sửa đổi, bổ sung từ nhiệm vụ “kiểm tra những vụ đảng viên (kể cả cấp ủy viên cùng cấp) vi phạm Điều lệ Đảng… sang nhiệm vụ kiểm tra đảng viên (kể cả cấp ủy viên cùng cấp) chấp hành Điều lệ Đảng”

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần hứ VII của Đảng (6/1991) diễn ra trong tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, thời cơ và thách thức đan xen lẫn nhau Vì vậy Đảng tiếp tục khẳng định vị trí, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng Báo cáo chính trị tại Đại hội VII nêu rõ: “Tổ chức tốt việc kiểm tra các quyết định của Đảng…Tăng quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp, chú trọng việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, kiểm tra

tư cách đảng viên, kể cả ủy viên và các tổ chức Đảng theo Điều lệ Đảng”.[15, tr.81] và quy định phương pháp thành lập Ủy ban kiểm tra các cấp, Điều lệ Đại hội VII quy định: Ủy ban kiểm tra các cấp do Ban chấp hành đảng bộ cùng cấp bầu gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy, và

Trang 34

nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra cũng được bổ sung đó là kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới chấp hành nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng; kiểm tra quy chế làm việc của cấp ủy cấp dưới

Đại hội lần thứ VIII của Đảng (7/1996) chỉ rõ: Tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra đảng Đề cao trách nhiệm các cấp ủy đảng và các ban của cấp ủy, đồng thời tăng cường nhiệm vụ, quyền hạn cho ủy ban kiểm tra các cấp Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Kiểm tra và giữ gìn kỷ luật Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng…các tổ chức Đảng, trước hết là cấp ủy, Bộ Chính trị và các ban thường vụ cấp ủy cần tiến hành kiểm tra các ban để tổ chức thường xuyên việc kiểm tra…Củng cố kiện toàn bộ máy ủy ban kiểm tra các cấp, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kiểm tra về đường lối, quan điểm, pháp luật, kinh tế, nghiệp vụ và phong cách làm việc Xây dựng đội ngũ kiểm tra có phẩm chất chính trị tốt, công tâm,trong sạch, đúng năng lực, kể cả kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng [16, tr.150-151] Đồng thời tại các Nghị quyết của Đảng cũng

đã khẳng định rõ tầm quan trọng của công tác kiểm tra: Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, tổ chức đảng và đảng viên chịu chấp hành kiểm tra của Đảng

Cũng trong nhiệm kỳ này, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 29 –CT/TW, ngay 14 tháng 2 năm 1998 về tăng cường công tác kiểm tra Đảng Chỉ thị nêu rõ: “Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng Các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy có trách nhiệm lãnh đạo và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) khẳng định:

“việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa tốt;

Trang 35

kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm Tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, không chấp hành nghị quyết, chỉ thịcủa Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, báo cáo không trung thực,vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ làm cho một số nghị quyết của Đảng khó vào cuộc sống ” [ 20, Tr 76-77] Vì vậy, Đại hội đã xác định: “Tăng cường công tác kiểm tra của các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, tập trung vào các nội dung chủ yếu: thực hiện các nghị quyết, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; củng cố và đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên” [20, tr.146]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006) tiếp tục khẳng định vị trí, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, coi đây là một trong những nhiệm vụ và giải pháp lớn đối với công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ tới Nghị quyết chỉ rõ: Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát với nhận thức và yêu cầu mới Đồng thời bổ sung chức năng giám sát, tăng thẩm quyền và trách nhiệm xem xét kỷ luật của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, góp phần xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới

Nghị quyết Trung ương năm (khóa X) Ban Chấp hành Trung ương xác định: phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cấp ủy các cấp, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra, trước hết là người đứng đầu cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng Qua hơn bảy năm thực hiện đến nay quan điểm của Nghị quyết này vẫn là những nội dung cốt cõi trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, đảng ta tiếp tục khẳng định: Tập trung “kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị,

Trang 36

quy định của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãnh phí, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán

bộ, đảng viên ” [ 23, tr 262- 263]

Tóm lại, quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng ta luôn luôn khẳng định: kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ tất yếu, là nhu cầu không thể thiếu được với các tổ chức đảng và đảng viên từ đó xác định đúng mục đích, ý nghĩa, vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng Nhiệm vụ của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp luôn luôn được bổ sung và không ngừng hoàn thiện qua các thời kỳ Đại hội

để phù hợp với bối cảnh từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định kiểm tra, giám sát là một chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng, nếu lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo

Trong mỗi giai đoạn cách mạngkhác nhau đều có những nhiệm vụ cần phải được giải quyết trong thực tế Vì vậy, Đảng ta coi công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ quan trọng, trực tiếp và thường xuyên của toàn Đảng Công tác kiểm tra, giám sát là “một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng” là “biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu”

để góp phần xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức

1.1.4.2 Quan điểm của Đảng bộ Quân đội về công tác kiểm tra, giám sát

Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát trong quân đội theo quy định của Điều lệ Đảng, ngày 13 11 1961 Bộ Chính trị - BCHTW Đảng (khoá III) ra Nghị quyết số 30/ NQ-TW về thành lập hệ thống Ủy ban kiểm tra các cấp trong Quân đội Nghị quyết chỉ rõ: “Tổ chức UBKT các cấp trong Đảng bộ Quân đội” Việc thành lập UBKT các cấp trong Đảng bộ Quân đội theo đúng qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức UBKT

Trang 37

các cấp được xác định trong Điều lệ Đảng Về mặt tổ chức căn cứ vào tình hình tổ chức quân đội, từ đảng uỷ trung đoàn (tương đương) trở lên mới tổ chức UBKT, từ cấp đảng uỷ bộ phận tiểu đoàn (tương đương) trở xuống do

số lượng đảng viên ít, sinh hoạt không tập trung, không có cơ quan giúp việc, chỉ cần phân công một uỷ viên phụ trách công tác kiểm tra Từ đó đến nay hệ thống UBKT các cấp trong Đảng bộ Quân đội được tổ chức theo qui định của Điều lệ Đảng; hướng dẫn của BCHTW, và từ đó đến nay công tác kiểm tra, giám sát trong Quân đội được thực hiện theo Điều lệ Đảng Cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều

lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và cấp mình Ủy ban kiểm tra của đảng

ủy các cấp trong Quân đội tổ chức và hoạt động theo Điều lệ Đảng và quy định của Bộ Chính trị Ủy ban kiểm tra của đảng ủy các cấp làm việc theo chế

độ tập thể, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp và sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của ủy ban kiểm tra cấp trên

Nghị quyết Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ 2011 - 2015 xác định: Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, thực hiện đồng bộ giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát; giám át phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm; chủ động phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm ngay từ cơ sở Cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cương lãnh dạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả Chú trọng kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp, gắn với kiểm tra, giám sát cá nhân là cấp ủy viên, cán bộ chủ trì cấp ủy và chỉ huy cơ quan, đơn vị, để làm rõ trách nhiệm giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh

Trang 38

hoạt đảng gắn với kiểm tra, giám sát việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Xem xét, giải quyết kịp thời dứt điểm đơn thư tố cáo, khiếu nại kỷ luật liên quan đến tổ chức đảng và đảng viên đảm bảo đúng nguyên tắc, quy định Kiên quyết xử lý nghiêm minh các vụ việc vi phạm đã được kiểm tra, kết luận”

1.2 Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra Đảng

1.2.1 Quan niệm chất lượng

Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù còn luôn thay đổi Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS

9000: 2000, đã đưa ra định nghĩa sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp

các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) giải thích “Chất lượng” là

“Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [99,tr.144]

Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản năm 1998, với nghĩa thường dùng trong đời sống

xã hội, chất lượng được hiểu là “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người,

sự vật” hoặc “ Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [97, tr 331]

Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng:

- Thuật ngữ chất lượng biểu thị trực tiếp thuộc tính tồn tại trong nhiều lĩnh vực và sự vật khác nhau, như chất lượng quản lý, chất lượng công tác, chất lượng phục vụ, chất lượng sản phẩm

Trang 39

- Theo quan niệm trên, chất lượng chỉ tính chất đặc biệt của sự vật, như đặc tính vật chất (như máy móc, hóa học, sinh vật học), đặc tính cảm quan như ngũ giác (nghe, ngửi, nhìn….) cảm nhận được, đặc tính hành vi như lễ

độ, chân thành, chân chính, đặc tính thời gian như sự chính xác, đáng tin cậy, đặc tính công năng như tốc độ của máy bay…

- Chất lượng hàm chỉ thỏa mãn yêu cầu, nhu cầu, thị hiếu của người khác: ví dụ chất lượng mẫu mã hàng hóa, chất lượng phục vụ đáp ứng nhu cầu người được phục vụ, mức độ hoàn thành và nhanh chóng của công việc; chất lượng công tác; mức độ phục vụ công việc, nhiệt tình, hăng hái

- Chất lượng dùng tính từ để biểu đạt có nghĩa là: kém, tốt hoặc ưu tú Như vậy, qua các cách tiếp cận ở trên cho thấy khái niệm chất lượng

mà chúng ta đang nói ở đây chính là trình độ, năng lực, mức độ, thái độ, phạm

vi công tác (làm việc) của một một cơ quan, tổ chức

- Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là hiệu quả, khả năng hoàn thành công việc, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng nhằm xây dựng,

tổ chức thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị, giải quyết các vấn đề trong sinh hoạt nội bộ đảng, giữ gìn kỷ luật đảng Đặc biệt đó còn là mức độ trong việc hoàn thành nhiệm vụ, trong hoạt động lãnh đạo của công tác kiểm tra đảng Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của đảng là muốn đề cập tới nội dung, phương pháp và kết quả của công tác kiểm tra, giám sát

Từ lý luận và thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có thể

hiểu chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra là toàn bộ

những giá trị hoạt động của ủy ban kiểm tra nhằm hoàn thành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Điều lệ Đảng; thực hiện công tác tham mưu giúp cấp ủy và nhiệm vụ cấp ủy giao góp phần năng

Trang 40

cao năng lực lãnh đạo, uy tín của Đảng, xây dựng nội bộ Đảng trong sạch vững mạnh

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát ở mỗi cấp của Đảng phụ thuộc

vào nhiều yếu tố như nhận thức của cấp ủy Đảng, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát; vai trò tham mưu của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra Bên cạnh đó chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra còn phụ thuộc vào phương thức lãnh đạo, cơ chế quản lý,ý thức tổ chức kỷ luật của đảng viên và tổ chức đảng trong toàn đảng bộ và cả chất lượng các quyết định của tổ chức đảng; ngoài ra còn phụ thuộc vào sự phối kết hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra ở mỗi đảng

bộ của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân (trong quân đội)

Đánh giá chất lượng công tác kiểm tra, giám sát được đánh giá trên cơ sở những tiêu chí cụ thể

1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra của Đảng

Thứ nhất, ủy ban kiểm traphải thực hiện tốt nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định

- Chủ động phát hiện và kịp thời kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp

dưới khi có dấu hiệu vi phạm

Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng; là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Vấn đề đặt lên hành đầutrong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là chủ động phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên

Kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ thường xuyên của ủy ban kiểm tra các cấp, do ủy ban kiểm tra các cấp chủ động, trực tiếp tiến hành Thực hiện nhiệm vụ này chính là tạo điều kiện để ủy ban kiểm tra tập trung lực lượng, thời gian kiểm tra có trọng tâm,

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bảo (2000), Điều lệ Đảng từ Đại hội đến Đại hội (lý luận và thực tiễn), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng từ Đại hội đến Đại hội
Tác giả: Lê Huy Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
2. Bộ Chính trị (2008), "Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 158-TW, ngày 12/5/2008 của Bộ Chính trị về ban hành Quy chế chất vấn trong Đảng", Tạp chí Kiểm tra, (8), tr.16-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 158-TW, ngày 12/5/2008 của Bộ Chính trị về ban hành Quy chế chất vấn trong Đảng
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2008
3. Nguyễn Văn Chi (2006), “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng", Tạp chí Kiểm tra, (5), tr.6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng
Tác giả: Nguyễn Văn Chi
Năm: 2006
4. Phạm Thị Hải Chuyền (2008), "Công tác giám sát của Đảng sau hơn hai năm thực hiện”, Tạp chí Kiểm tra, (7), tr.3-4-5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giám sát của Đảng sau hơn hai năm thực hiện
Tác giả: Phạm Thị Hải Chuyền
Năm: 2008
5. Nguyễn Văn Chức (2007), “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát gắn với xử lý trách nhiệm người đứng đầu”, Tạp chí Kiểm tra, (4), tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát gắn với xử lý trách nhiệm người đứng đầu”, "Tạp chí Kiểm tra
Tác giả: Nguyễn Văn Chức
Năm: 2007
6. Nguyễn Thị Doan (2002), “Tăng cường công tác kiểm tra của Đảng góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng”, Tạp chí Cộng sản, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác kiểm tra của Đảng góp phần ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2002
7. Nguyễn Thị Doan (2004), “Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, kỷ luật trong Đảng ở giai đoạn cách mạng mới”, Tạp chí Cộng sản, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, kỷ luật trong Đảng ở giai đoạn cách mạng mới”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2004
8. Nguyễn Thị Doan (2004), “Tăng cường công tác giám sát trong Đảng”, Tạp chí Cộng sản, (22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác giám sát trong Đảng”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2004
9. Nguyễn Thị Doan (chủ biên) (2006), Đổi mới công tác kiểm tra kỷ luật nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác kiểm tra kỷ luật nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới
Tác giả: Nguyễn Thị Doan (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Nguyễn Thị Doan (2007), “Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phục vụ bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII”, Tạp chí Kiểm tra, (4), tr.17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phục vụ bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII”, "Tạp chí Kiểm tra
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2007
11. Trần Trọng Dực (2008), “Giám sát là việc làm thường xuyên, liên tục”, Tạp chí Kiểm tra, (2), 13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát là việc làm thường xuyên, liên tục”, "Tạp chí Kiểm tra
Tác giả: Trần Trọng Dực
Năm: 2008
12. Phan Diễn (2004) “Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”. Tạp chí kiểm tra, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”
13. Phươg Đông (2012): Hải Phòng nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát. Tạp chí kiểm tra, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Phòng nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát
Tác giả: Phươg Đông
Năm: 2012
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w