1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh bến tre thực trạng và giải pháp phát triển

138 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với đài Trung ương và đài tỉnh, trong những năm qua, hệ thống các đài truyền thanh cơ sở Đài truyền thanh cấp huyện và các xã, thị trấn cả nước nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HUỲNH THIỆN TÀI

HỆ THỐNG TRUYỀN THANH CƠ SỞ

CỦA TỈNH BẾN TRE - THỰC TRẠNG

VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

Ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC DŨNG

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến người thân trong gia đình và bạn bè thân thiết - những người đã luôn sát cánh động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Huỳnh Thiện Tài

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu nêu trong luận văn là trung thực; những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Huỳnh Thiện Tài

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG

1.1 Đặc điểm của tỉnh Bến Tre, công chúng phát thanh ở Bến Tre 8 1.2 Hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre hiện nay 14

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG TRUYỀN

2.1 Thực trạng hoạt động của Đài truyền thanh cơ sở tại Bến Tre 30 2.2 Những vấn đề đặt ra đối với hệ thống Đài truyền thanh cơ sở ở

Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG

TRUYỀN THANH CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE 63 3.1 Một số nhận xét về nguyên nhân của những thành công, hạn chế 63 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hệ thống

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ TT&TT : Bộ Thông tin và Truyền thông Đài PT-TH : Đài phát thanh và truyền hình Đài TNVN : Đài Tiếng nói Việt Nam

Sở TT&TT : Sở Thông tin và Truyền thông TTCS : Truyền thanh cơ sở

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: So sánh về kinh phí hoạt động của một số đài truyền

Bảng 2.1: Công suất máy phát và diện phủ sóng của đài huyện 42

Bảng 2.2: Đánh giá chất lượng chương trình đài truyền thanh cơ sở 51

Bảng 3.1: So sánh dự toán ngân sách phân bổ năm 2014 64

Trang 7

huyện, thị; cấp phường, xã, thị trấn Theo các tác giả của các cuốn sách Báo

phát thanh, Lý luận báo phát thanh, Phát thanh trực tiếp thì riêng hai cấp

huyện, thị và cấp phường, xã, thị trấn còn được gọi chung bằng một thuật ngữ: "truyền thanh cơ sở"

Có thể nói, quá trình hình thành của ngành phát thanh luôn gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Cùng với đài Trung ương và đài tỉnh, trong những năm qua, hệ thống các đài truyền thanh cơ sở (Đài truyền thanh cấp huyện và các xã, thị trấn) cả nước nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công việc thông tin tuyên truyền góp phần củng cố vững chắc sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước

Tỉnh Bến Tre hiện có 9 đài truyền thanh cấp huyện, thành phố và 164 đài truyền thanh xã, thị trấn Thực tế hoạt động truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh hiện nay đang trong xu hướng ổn định và ngày càng phát triển Bên cạnh việc tăng cường thời lượng phát sóng, các Đài còn nổ lực cải tiến chương trình, mở thêm chuyên mục theo hướng phục vụ ngày càng cao lượng thông tin thời sự và nhu cầu học tập, giải trí của các tầng lớp dân cư, từng bước đáp ứng nhu cầu thông tin tuyên truyền tại địa phương

Trong thành quả chung của ngành phát thanh cả nước thì các Đài truyền thanh cơ sở có một vị trí quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống chính trị tại địa phương Mặc dù có nhiều đóng góp to lớn trong công tác thông tin tuyên truyền nhưng đến nay các đài truyền thanh cấp huyện, thị vẫn chưa được công nhận là cơ quan báo chí Đội ngũ cán bộ, biên tập viên, phóng viên các đài trong hệ thống này vẫn chưa được công nhận là nhà báo

Trang 8

Riêng tại tỉnh Bến Tre, các đài truyền thanh cấp huyện, thành phố vẫn chưa

có sự thống nhất trong quản lý nghiệp vụ chuyên môn như từ phương thức sản xuất chương trình cho đến những vấn đề cụ thể như: cấu trúc chương trình, cách thể hiện tác phẩm Bên cạnh đó là những khác biệt về định mức phân

bổ cho hoạt động thường xuyên; kinh phí đầu tư trang thiết bị; chế độ nhuận bút; cơ cấu, số lượng nhân sự không đồng nhất Ngoài ra đối với các đài xã phần lớn trang thiết bị kỹ thuật xuống cấp, chế độ chính sách, đãi ngộ chưa tương xứng Đó chính là những rào cản làm ảnh hưởng đến hoạt động và chất lượng thông tin tuyên truyền tại địa phương

Làm thế nào để hạn chế những bất cập ấy, đồng thời tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động để hệ thống các đài này vươn lên, xứng tầm với vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và là diễn đàn của nhân dân địa phương?

Như vậy, đề tài “Hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre - Thực

trạng và những giải pháp phát triển” có nhiệm vụ làm sáng tỏ thực trạng hoạt

động của hệ thống các đài truyền thanh cấp huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh; cấp phường, xã, thị trấn qua những ưu thế, hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần đưa hoạt động truyền thanh cơ sở ở tỉnh này ngày càng phát triển để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, xứng đáng

là cơ quan ngôn luận của Đảng và là diễn đàn của nhân dân tại địa phương

Đó là những lý do đã khiến chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu

“Hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre - thực trạng và giải pháp phát

triển” cho luận văn Thạc sĩ Báo chí học của mình

Mong muốn của chúng tôi là tìm ra các giải pháp tích cực và hiệu quả nhằm hạn chế những nhược điểm, phát huy hơn nữa những ưu thế của các đài truyền thanh cấp huyện, thành phố và các xã, thị trấn trong tỉnh Từ đó, góp phần cùng hệ thống phát thanh cả nước nói chung và hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre nói riêng ngày càng làm tốt hơn nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền trong công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cùng với báo chí cả nước, báo chí tỉnh Bến Tre đã có sự phát triển mạnh và có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quê hương Đồng Khởi Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về hoạt động báo chí, phát thanh hay truyền thanh được triển khai thực hiện trên địa bàn

Trong quá trình khảo sát các tư liệu liên quan để thực hiện luận văn này, chúng tôi thấy có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Theo trình tự thời gian có thể kể một số nghiên cứu cụ thể như sau:

Về các công trình nghiên cứu, lý luận, giáo trình đã xuất bản thành sách đã có:

Cuốn sách Nghề báo nói của tác giả Nguyễn Đình Lương do Nhà xuất

bản Thông tin in và phát hành năm 1993; Nội dung sách gồm bảy phần, trong

đó đã đề cập một cách tổng quát về đặc trưng, phương pháp, thể tài và những vấn đề thuộc về nguyên lý, kỹ năng và quy trình nghề báo phát thanh; phát thanh với thính giả v.v

Giáo trình Báo phát thanh do các tác giả của Khoa Báo chí, Phân viện

Báo chí và Tuyên truyền và Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) biên soạn (Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002) có tổng cộng 20 chương, đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại

Chuyên luận: Lý luận báo phát thanh của tác giả Đức Dũng do Nhà xuất

bản Văn hóa - Thông tin in và phát hành năm 2003, gồm 9 chương, trong đó có đề cập đến những vấn đề của đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh

Tài liệu Phát thanh - Truyền thanh nông thôn do Ban Địa phương, Đài

TNVN dịch và lưu hành nội bộ, tái bản năm 2005

Giáo trình Phát thanh trực tiếp do GS,TS Vũ Văn Hiền và TS Đức

Dũng chủ biên (Nxb Lý luận chính trị, Hà nội, 2007)

Liên quan đến đề tài, tác giả cũng đã tham khảo một số công trình nghiên cứu về hoạt động báo chí phát thanh của các tác giả như:

Trang 10

- Luận án tiến sĩ Báo chí học của Đinh Thị Thu Hằng (thực hiện năm

2012 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề “Sự vận động, phát

triển của tin phát thanh ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay”

- Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng của Phạm Thị Thanh Phương (thực hiện năm 2008 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu

đề: “Hệ thống phát thanh, truyền hình các tỉnh miền Đông Nam Bộ”

- Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Truyền thông đại chúng của Nguyễn Thị Minh Diễm, thực hiện năm 2009 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền có

tiêu đề: “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh cấp tỉnh khu vực Bắc

sông Hậu, đồng bằng sông Cửu Long”

- Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng của Lâm Thị Thu Hồng, thực

hiện năm 2009 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, có tiêu đề “Nâng cao chất

lượng hoạt động truyền thanh cấp huyện, thị ở các tỉnh miền Đông Nam bộ”

- Khóa luận chuyên ngành Báo chí của Nguyễn Văn Bảy, thực hiện

năm 2009, với tiêu đề: “Chương trình Thời sự phát thanh, Đài Phát thanh và

Truyền hình Bến Tre” đã đề cập và phân tích một cách có hệ thống chương

trình thời sự phát thanh

- Khoá luận chuyên ngành Báo chí của Trần Đắc Xuyên, thực hiện năm

2000 tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, với đề tài: “Thử đi tìm một mô

hình cho phát thanh cấp huyện”

Trong các luận văn trên, chỉ có luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng của Lâm Thị Thu Hồng là có đề cập hoạt động truyền thanh cấp huyện, thị Tuy nhiên luận văn này chọn đối tượng là các đài truyền thanh cấp huyện, thị

và phạm vi khảo sát là ở các tỉnh miền Đông Nam bộ Khóa luận của Nguyễn Văn Bảy được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bến Tre, nhưng đối tượng khảo sát chỉ dừng lại ở chương trình phát thanh truyền hình cấp tỉnh

Như vậy, luận văn “Hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre -

Thực trạng và giải pháp phát triển” là một đề tài nghiên cứu mới, không

trùng lặp với các công trình đã công bố

Trang 11

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn này là nhằm làm sáng tỏ về thực trạng hoạt động của các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn tại tỉnh Bến Tre, qua đó đề xuất một số giải pháp cấp bách, có tính khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống các đài truyền thanh cơ sở trong tỉnh

Để thực hiện mục đích nêu trên, tác giả luận văn phải thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu lý luận báo chí, truyền thông và các văn bản, tài liệu liên quan để hệ thống hóa một hệ thống lý luận cần thiết, tạo cơ sở cho công tác khảo sát, đánh giá thực tiễn

- Tìm hiểu vị trí, vai trò, đặc điểm của hoạt động truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh

- Tìm hiểu chất lượng và hiệu quả tác động của các chương trình truyền thanh trên địa bàn, đồng thời đánh giá những ưu điểm và hạn chế của hệ thống truyền thanh này

- Xác định những vấn đề đang đặt ra đối với các đài cấp huyện, thành phố và các xã, thị trấn trong tỉnh để từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động truyền thanh cơ sở

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng hoạt động và những vấn

đề đang đặt ra của các đài truyền thanh cấp huyện, thành phố và các xã, thị trấn tại tỉnh Bến Tre

Thời gian khảo sát từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2013

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về vai trò, chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng;cơ sở lý luận chuyên ngành báo chí, truyền thông và lý luận báo chí chuyên ngành phát thanh

Trang 12

Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng

tôi vận dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu: Nghiên cứu một số sách, báo, tài

liệu về báo chí phát thanh, cơ sở lý luận báo chí để tìm kiếm những kiến thức

lý thuyết phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp khảo sát thực tế: Nhằm tìm hiểu, xác định diện mạo

chung của các đài truyền thanh cơ sở tại tỉnh Bến Tre cùng với những đặc điểm, ưu thế và hạn chế của các đài này

- Các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp hiện trạng,

rút ra được những kết luận cần thiết, qua đó đề ra những giải pháp nhằm phát huy ưu điểm, hạn chế điểm yếu, góp phần nâng cao chất lượng các chương trình và vị thế, vai trò của các đài truyền thanh cơ sở trong tỉnh

- Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện đối với nhiều đối tượng

là cán bộ lãnh đạo địa phương, lãnh đạo Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Bến Tre; với lãnh đạo Ban Tuyên giáo và các đài huyện, thành phố để thu thập những ý kiến bổ sung cho luận văn

- Phương pháp điều tra xã hội học (với 532 phiếu) được phát ra ở các

huyện và thành phố trong tỉnh, qua đó thu thập những ý kiến thực tế, cung cấp cho việc triển khai các luận điểm khoa học cần thiết trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa lý luận:

Luận văn là sự vận dụng những kiến thức mà tác giả đã được tiếp thu trong chương trình cao học Báo chí tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền để nhận xét, đánh giá một thực trạng của đời sống báo chí tại địa phương - cụ thể là hoạt động của các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn ở tỉnh Bến Tre

Những cứ liệu thực tế của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy về những vấn đề có liên quan đến báo chí phát thanh nói chung và về hệ thống truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn nói riêng

Trang 13

Ý nghĩa thực tiễn

- Qua việc làm sáng tỏ diện mạo, vai trò, vị trí của các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn ở tỉnh Bến Tre trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội ở địa phương, luận văn cung cấp những

dữ liệu thực tế, xác thực, cụ thể về hoạt động của các đài truyền thanh cấp huyện, thành phố và các xã, thị trấn ở tỉnh Bến Tre cho cán bộ lãnh đạo, quản

lý báo chí nói chung và ở các địa phương trong tỉnh nói riêng Từ đó có những chủ trương, định hướng, cơ chế phù hợp nhằm lãnh đạo, quản lý hoạt động này hiệu quả hơn

- Những giải pháp mà luận văn nêu ra có thể là tài liệu tham khảo để các đài truyền thanh trong tỉnh Bến Tre nghiên cứu, áp dụng nhằm cải tiến cách thức tổ chức, hoạt động, phát huy hơn nữa thế mạnh của từng đài trong bối cảnh hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 14

Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG TRUYỀN THANH CƠ SỞ TẠI BẾN TRE

1.1 Đặc điểm của tỉnh Bến Tre và công chúng phát thanh ở Bến Tre

1.1.1 Vài nét về tỉnh Bến Tre

Bến Tre là một trong 13 tỉnh thành của đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 Cù lao lớn: An Hoá, Bảo và Minh do phù sa của bốn nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên) bồi tụ qua nhiều thế kỷ Về vị trí địa lý, phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km; đường bộ nối liền Thành phố Bến Tre với TP Hồ Chí Minh (qua Long An và Tiền Giang) dài 86 km, cách TP Cần Thơ 120 km Diện tích: 2.315 km2; dân số 1.255.946 người (số liệu điều tra 1/4/2009); đơn vị hành chính gồm 8 huyện và 1 thành phố, 164 xã, phường và thị trấn; trung tâm tỉnh

lỵ là Thành phố Bến Tre

Là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, Bến Tre là nơi sinh ra và hội tụ của những danh nhân như: Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu, Sương Nguyệt Anh, Võ Trường Toản, Nguyễn Ngọc Thăng.v.v Bến Tre còn là một trong những địa phương giàu truyền thống cách mạng Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nổi bật là trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bến Tre đã lập nhiều chiến công vang dội như: Phong trào Đồng khởi diễn ra ngày 17-1-1960 ở xã Định Thủy, Mỏ Cày (nay là Mỏ Cày Nam) rồi nhanh chóng lan rộng toàn miền Nam, với sự ra đời của “Đội quân tóc dài cầm súng” và “Ba mũi giáp công” (được ghi vào Từ điển lịch sử Quân sự Việt Nam), và tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do Trung ương cục miền Nam và Quân ủy miền chủ trì, với những thành tích xuất sắc đạt được trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954-1968, Bến Tre được tuyên dương danh hiệu “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”… Qua hai

Trang 15

cuộc kháng chiến và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bến Tre có trên 35.000 liệt sĩ, gần 20.000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; có trên 2.100 Bà mẹ Việt Nam anh hùng…

Bến Tre còn là quê hương của 23 vị tướng; 76 cá nhân và hơn 100 đơn

vị được phong tặng anh hùng vũ trang; có 4 Anh hùng Lao động Năm 1985, Bến Tre được Chủ tịch nước tặng Huân chương Sao vàng cho những thành tích đạt được trong 2 cuộc kháng chiến Có thể kể một số người con tiêu biểu quê hương như: Ca Văn Thỉnh, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định, Huỳnh Tấn Phát, Võ Viết Thanh, Tạ Thị Kiều, Nguyễn Hữu Vị, Lê Văn Dũng, Trương Vĩnh Trọng, Nguyễn Thị Kim Ngân.v.v

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, Bến Tre là một trong những tỉnh nghèo nhất của đồng bằng sông Cửu Long, với địa lý cách trở, bốn bề sông nước bao bọc, lại bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, cơ sở hạ tầng yếu kém, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, nhưng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bến Tre đã phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết thống nhất, vượt qua khó khăn, nỗ lực phấn đấu giành được những thành tựu to lớn Tuy đời sống nhân dân có được nâng lên, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp so với mặt bằng chung của khu vực và cả nước, sự hưởng thụ về đời sống tinh thần, nhu cầu thông tin và việc tiếp nhận thông tin vẫn còn nhiều hạn chế.v.v

1.1.2 Đặc điểm công chúng phát thanh tỉnh Bến Tre

Nhìn chung, công chúng phát thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh Bến Tre rất

đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều tầng lớp thành phần như công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức và cán bộ nghỉ hưu… Do địa bàn phủ sóng rộng và phục vụ trên cả hai hệ thống vô tuyến và hữu tuyến, nên công chúng phát thanh đông đảo hơn nhiều so với truyền hình và báo in Những năm gần đây, với sự phát triển của hệ thống truyền thanh không dây - một thành tựu mới của công nghệ thông tin hiện đại, đã góp phần tăng thêm thế mạnh vượt trội

và sức sống diệu kỳ của radio, đưa tiếng nói truyền thanh lan xa, toả rộng, len

Trang 16

lỏi khắp mọi địa bàn, khu phố, ngỏ hẻm Đặc biệt, nơi vùng sâu, vùng xa hệ thống loa phóng thanh không chỉ làm sôi động cuộc sống mà còn trở thành người bạn gần gũi, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cộng đồng

Là địa phương còn nhiều khó khăn so với các tỉnh trong khu vực, điều kiện sống và mức thu nhập thuộc dạng trung bình, tuy nhiên không vì thế mà lượng công chúng nghe đài ở Bến Tre ít hơn so với khu vực

Trong số công chúng thính giả nghe đài ở Bến Tre có thể xác định nhiều nhóm với các đặc điểm khác nhau:

- Tầng lớp trí thức: Đối với nhóm công chúng này, đây được xem là

nhóm tri thức hàng đầu, có trình độ học vấn và nhận thức cao Họ thường xuyên nghe đài, đọc báo, xem tivi và truy cập internet để nắm bắt thông tin thời sự trong nước và quốc tế Đặc biệt là những thông tin có liên quan đến đời sống và công việc của họ Cho nên họ đọc, xem và nghe một cách có chọn lọc những chương trình, chuyên mục phục vụ cho công việc hay phù hợp với lĩnh vực của họ Đặc thù của họ đều là công nhân viên chức, công việc ổn định nên nhìn chung thời gian đọc báo, xem tivi là không nhiều Do đó, truyền thanh, với thế mạnh riêng của mình là phát thanh mỗi ngày 2 buổi sáng, chiều và thời gian phát thanh cũng không phải trong giờ hành chính nên việc tiếp nhận thông tin qua hệ thống truyền thanh cũng là một lợi thế không nhỏ đối với nhóm đối tượng công chúng này

- Nông dân: Đây được xem là nhóm đối tượng công chúng có số lượng

lớn của tỉnh Họ được xem là nhóm đối tượng chính và không thể thiếu của hệ thống truyền thanh cơ sở Đối với nông dân, công việc của họ thường xuyên bận biệu với ruộng vườn, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời Tuy nhiên không vì thế mà họ không quan tâm đến hệ thống thông tin đại chúng Sau một ngày lao động mệt nhọc, họ thường xem tivi, đọc báo, nghe đài

Đặc biệt, hiện nay, các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn trong tỉnh, với mạng lưới loa phát thanh phủ khắp từ huyện, thành phố đến phường, xã, thị trấn, khu phố đã tạo nhiều thuận lợi cho người nông dân

Trang 17

trong việc nắm bắt tin tức, tiếp cận kiến thức khoa học - kỹ thuật hiện đại để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời nghe các chương trình giải trí Hệ thống truyền thanh đã trở thành người bạn đồng hành, gần gũi với nhà nông, bởi họ có thể vừa lao động sản xuất hay vừa làm việc nhà, vừa nghe đài Hiện nay, đa số gia đình nông dân đều có tivi nhưng họ chỉ xem vào buổi tối, thời gian không nhiều, còn báo in thì tốn kém và không cập nhật trên địa bàn nông thôn như ở các thành phố lớn

- Công nhân: Là địa phương còn nhiều khó khăn, nhưng những năm

gần đây, nhờ sự nỗ lực của tỉnh nên lĩnh vực công nghiệp, thương mại dịch vụ

đã có bước phát triển đáng kể Đi cùng với đó là, một số khu công nghiệp, công ty, doanh nghiệp tư nhân đã hình thành và đi vào hoạt động khá sôi nổi

Từ đó đã giải quyết công ăn, việc làm cho hàng ngàn công nhân lao động có việc làm và thu nhập ổn định Nhóm đối tượng công chúng này mặc dù chiếm

số lượng không nhiều so với mặt bằng các thành phần chung của tỉnh Tuy nhiên, đối với hệ thống thông tin đại chúng họ cũng rất quan tâm Các loại hình báo chí mà họ tiếp cận chủ yếu là radio và tivi Trong đó, radio và mạng lưới truyền thanh qua loa công cộng là một phương tiện truyền thông chủ yếu nhất để chuyển tải thông tin và các chương trình giải trí phục vụ nhu cầu đời sống tinh thần cho lực lượng công nhân ở các khu nhà trọ Riêng các phương tiện khác như báo in và báo điện tử, họ ít quan tâm hơn

- Thanh niên, học sinh, sinh viên: Đây là nhóm công chúng năng động,

thích khám phá, nghiên cứu, tìm tòi cái mới, nên thường tiếp xúc với công nghệ hiện đại, các chương trình giải trí, đọc báo, xem truyền hình, game online, truy cập internet nhiều hơn là nghe đài Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận không nhỏ đối tượng này vẫn coi radio và hệ thống loa truyền thanh là người bạn đồng hành bởi sự tiện lợi, rẻ tiền phù hợp với điều kiện của thanh niên, học sinh và sinh viên vùng nông thôn

- Người hưu trí và người nội trợ: Đối tượng này thường xuyên sử dụng các

phương tiện truyền thông do có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn những người lao

Trang 18

động, công chức đương nhiệm Các vị hưu trí thường xuyên nắm bắt tin tức thời

sự hàng ngày thông qua các phương tiện truyền thông, truyền đạt, trao đổi kinh nghiệm bản thân cho con cháu Các cụ và những người nội trợ thường nghe đài phát thanh nhiều hơn báo in hoặc truyền hình do phát thanh dễ có điều kiện tiếp xúc, có thể nghe vào lúc thể dục buổi sáng hay những lúc đi bộ nhàn tản, nấu ăn, may vá, làm vườn, trông nhà Người nội trợ thường là những thính giả trung thành của các chuyên mục tư vấn, giải đáp thắc mắc hay chương trình văn nghệ

Nhìn chung trong quá trình nghiên cứu nhóm đối tượng công chúng, tác giả luận văn đã tiến hành thu thập thông tin bằng nhiều biện pháp khác nhau, đặc biệt là sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để phân tích, tổng hợp, đánh giá một cách nghiêm túc và có độ chính xác cao Trong đó, tác giả đã tiến hành điều tra xã hội học nhằm đánh giá nhu cầu của công chúng về chất lượng, hiệu quả chương trình truyền thanh của huyện, thành phố và các xã, thị trấn bằng bảng phiếu trưng cầu ý kiến thính giả Đồng thời, cũng đã tiến hành lấy ý kiến của cán bộ lãnh đạo các đài truyền thanh huyện, thành phố và các

xã, thị trấn về tình hình, đặc điểm hoạt động của các đài từ cấp huyện, đến cấp

xã bằng bảng hỏi qua phiếu điều tra

Chúng tôi đã thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT), Đài Phát thanh

- Truyền hình Bến Tre (PT-TH), lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) các huyện, thành phố và các xã, thị trấn; một số lãnh đạo đã nghỉ hưu; một số thính giả nghe đài trực tiếp cho ý kiến về chất lượng, hiệu quả tuyên truyền và định hướng phát triển của các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn trong tỉnh Đặc biệt, chúng tôi cũng đã phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo, cán bộ phụ trách tổ chức sản xuất chương trình; phóng viên các đài huyện, thành phố và cán bộ truyền thanh các xã, thị trấn về phương pháp sáng tạo tác phẩm, quy trình sản xuất, những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động của ngành

Nhằm đảm bảo tính khách quan trong quá trình khảo sát, đánh giá đúng thực trạng về hoạt động truyền thanh ở cơ sở, tác giả luận văn đã gửi

Trang 19

phiếu điều tra cho lãnh đạo 9 Đài truyền thanh các huyện, thành phố và 90 phiếu điều tra cho cán bộ Đài truyền thanh các xã trong tỉnh Nhìn chung, quá trình điều tra khảo sát, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo từ cấp tỉnh, huyện đến cấp xã Từ đó cho thấy, sự quan tâm của lãnh đạo các cấp đối với hoạt động truyền thanh cơ

sở (TTCS) như thế nào và qua đó cũng thấy được vai trò quan trọng của hệ thống TTCS có tác động và ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị, xã hội

ở địa phương

Tuy nhiên, kết quả điều tra khảo sát cũng cho thấy, vẫn còn một số lãnh đạo Đài truyền thanh cấp huyện, thành phố chưa thật sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động truyền thanh ở địa phương mình nên dẫn đến đài cấp huyện và cấp xã chỉ hoạt động cầm chừng, thiếu định hướng chiến lược và một kế hoạch cần thiết cho sự phát triển

Trong quá trình điều tra, khảo sát, tác giả cũng đã thu thập nhiều tài liệu có liên quan như báo cáo hoạt động các đài truyền thanh cấp huyện và xã; các chương trình, kế hoạch phát triển mạng lưới truyền thanh, cũng như nhiều chương trình, chuyên mục phát thanh, khảo sát các phòng thu âm và các trang thiết bị kỹ thuật, máy móc, thiết bị chuyên dụng của hệ thống TTCS

Bên cạnh việc khảo sát, tác giả cũng tranh thủ thời gian để tiếp xúc cán

bộ lãnh đạo trong ngành truyền thanh đã nghỉ hưu, cũng như một số cán bộ phóng viên có kinh nghiệm, thâm niên ở các đài truyền thanh cấp huyện để trao đổi, nắm bắt thêm những thông tin có liên quan đến đề tài

Trong quá trình điều tra khảo sát đối với công chúng phát thanh trên địa bàn, tác giả đã phát 548 phiếu xin ý kiến thính giả ở 27 xã của 9 huyện và thành phố trong tỉnh

Do điều kiện về thời gian và sự phân bố dân cư mỗi địa phương đều khác nhau nên trong quá trình phát phiếu xin ý kiến, tác giả đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận chuyển, đi lại, đặc biệt là vận động, thuyết phục các

hộ gia đình trực tiếp cho ý kiến vào phiếu điều tra, khảo sát

Trang 20

Kết quả số phiếu nhận lại là 532 phiếu, đạt 97% tổng số phiếu phát ra

Có 16 phiếu bị thất lạc, không thu hồi được

Phiếu xin ý kiến thính giả được tác giả đưa ra 5 câu hỏi mở, trong mỗi câu hỏi có từ 6 đến 10 câu hỏi phụ.Đối tượng khảo sát bao gồm các thành phần từ trí thức đến nông dân, công nhân, học sinh, cán bộ hưu trí để nhằm đảm bảo sự khách quan trong quá trình nhận xét, đánh giá những vấn đề mà tác giả đưa ra Qua đó cũng cho thấy sự quan tâm, hiểu biết của từng đối tượng công chúng đối với hệ thống TTCS

Nhìn chung trong quá trình điều tra, khảo sát, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm trong lần tổ chức đầu tiên Tuy nhiên, theo ý kiến chủ quan của tác giả, đây là thành công về công tác điều tra nhu cầu thông tin của công chúng nghe đài tại tỉnh Bến Tre và các số liệu thu được qua khảo sát

sẽ là cơ sở khách quan, khoa học, có thể phục vụ tốt cho nhiệm vụ nghiên cứu

đề tài này

Để sử dụng kết quả điều tra, khảo sát một cách có hệ thống, tác giả luận văn đã tập hợp nhiều phương pháp khác nhau để thống kê, phân tích, tổng hợp các dữ liệu thu thập được từ phiếu xin ý kiến thính giả, trên cơ sở có đối chiếu, so sánh với các nguồn dữ liệu khác để rút ra những kết luận khách quan nhất và khả thi nhất

1.2 Hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre hiện nay

1.2.1 Những đặc điểm chung

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống TTCS đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng và không thể thiếu trong đời sống chính trị, xã hội ở mỗi địa phương, nhất là các vùng nông thôn trong cả nước Mặc dù, những năm gần đây, ở nước ta đã xuất hiện một số ý kiến thể hiện sự hoài nghi về tính hiệu quả của hệ thống các đài TTCS, tuy nhiên, đó chỉ là thiểu số những

ý kiến chưa đồng nhất và chỉ xảy ra ở các thành phố lớn Còn đối với các địa phương khác, mà cụ thể là ở tỉnh Bến Tre, vai trò, vị thế của hệ thống TTCS chẳng những sẽ không giảm đi mà còn ngày một được nâng cao, đảm bảo là

Trang 21

công cụ thông tin, tuyên truyền hữu hiệu, gần gũi, thiết thực và phù hợp với điều kiện, nhu cầu của công chúng vùng nông thôn

Về mô hình quản lý các đài cơ sở, ở nước ta hiện đang tồn tại “ba mô hình” quản lý đối với các đài truyền thanh cấp huyện, thị, cụ thể như sau:

- Mô hình 1: Đài PT-TH tỉnh quản lý trực tiếp, toàn diện các đài truyền

thanh cấp huyện; UBND huyện quản lý về nội dung chương trình của các đài huyện và có trách nhiệm huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho hoạt động của các đài huyện (còn gọi là mô hình quản lý theo chiều dọc)

- Mô hình 2: UBND huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh quản lý toàn

diện về bộ máy, biên chế nhân sự và kinh phí hoạt động của các đài huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh; Đài tỉnh chỉ tham gia hướng dẫn, bồi dưỡng về mặt nghiệp vụ; tư vấn, hỗ trợ các huyện đầu tư trang bị cơ sở vật chất cho đài huyện theo quy hoạch phát triển ngành PT-TH; giúp các đài huyện khắc phục các sự cố kỹ thuật (còn gọi là mô hình quản lý theo chiều ngang)

- Mô hình 3: UBND huyện không quản lý trực tiếp mà thông qua phòng

Văn hoá và Thông tin để quản lý, điều hành đài huyện

Trong ba mô hình quản lý trên, tỉnh Bến Tre bắt đầu áp dụng mô hình 2

từ đầu năm 2004 đến nay, thay thế mô hình 1 được áp dụng từ 1996 đến cuối năm 2003 Hiện nay phần lớn các địa phương trong cả nước đều đang áp dụng

mô hình 2 này (UBND huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh quản lý toàn diện

về bộ máy, biên chế nhân sự và kinh phí hoạt động của các đài huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh; đài tỉnh chỉ tham gia hướng dẫn, bồi dưỡng về mặt nghiệp vụ; tư vấn, hỗ trợ các huyện đầu tư trang bị cơ sở vật chất cho đài huyện theo quy hoạch phát triển ngành PT-TH; giúp các đài huyện khắc phục các sự cố kỹ thuật) Việc áp dụng mô hình này cho thấy có những ưu điểm và hạn chế sau:

Đài huyện có vị trí, vai trò tương đương với các phòng, ban trực thuộc UBND huyện và chịu sự chỉ đạo về nội dung của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Việc quản lý của đài tỉnh chủ yếu là giúp đỡ, hỗ trợ về chuyên môn nghiệp

Trang 22

vụ, hướng dẫn các đài huyện đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, phát triển mạng lưới theo đúng định hướng quy hoạch của ngành Nhìn chung, thực hiện mô hình này thì tất cả mọi việc đều do UBND huyện quản lý và quyết định Từ

đó dẫn đến mối quan hệ giữa đài huyện và đài tỉnh không thường xuyên, rời rạc, mọi quan hệ chủ yếu qua việc tham gia cộng tác tin, bài của lực lượng phóng viên, họp mặt cộng tác viên, hoặc đài huyện gặp sự cố về mặt thiết bị,

kỹ thuật mà ngoài tầm kiểm soát của đài huyện nên cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ

Sự lỏng lẻo trong quan hệ giữa hệ thống ngành dọc cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của các đài huyện

Như đã nêu ở trên, tỉnh Bến Tre hiện có 8 đài truyền thanh huyện, 1 đài thành phố và 164 đài truyền thanh xã, phường, thị trấn Không chỉ làm nhiệm

vụ chuyển tải chương trình thời sự của huyện, cộng tác tin, bài và tiếp âm các chương trình của đài tỉnh và đài trung ương, hơn 15 năm qua các đài huyện, thành phố trong tỉnh còn là những công tác viên đắc lực trên lĩnh vực truyền hình của đài PT-TH tỉnh nhà Riêng đối với các đài truyền thanh cấp xã càng được khẳng định vai trò không thể thiếu đối với hệ thống chính trị cơ sở trong công tác tuyên truyền và tiếp chuyển thông tin thời sự phát thanh hằng ngày đến công chúng tại địa phương

Là cấp cơ sở của hệ thống truyền thanh 4 cấp, các đài truyền thanh huyện, thành phố ở Bến Tre đã góp phần tích cực trong việc đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước; thông tin tình hình, sự kiện của huyện mình đến với người dân vùng sâu, vùng xa Các đài truyền thanh huyện, thành phố đã mang đến cho họ những kiến thức khoa học kỹ thuật, giúp họ có thêm những kinh nghiệm làm ăn giỏi và thụ hưởng những chương trình văn nghệ, giải trí đậm đà bản sắc văn hoá địa phương Trong những nỗ lực không ngừng ấy, các đài truyền thanh huyện, thành phố đã đảm trách ngày càng tốt hơn vai trò, nhiệm vụ của mình khi là “chiếc cầu nối” giữa Đảng - chính quyền với nhân dân, là diễn đàn để nhân dân chia sẻ, bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, bức xúc của mình

Trang 23

Về cơ cấu tổ chức bộ máy, đài truyền thanh các huyện, thành phố trong tỉnh có số lượng từ 6 đến 8 biên chế Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, kinh phí hoạt động và trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thanh cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại mỗi địa phương

Theo Thông tư số 475-TTG ngày 28-9-1978 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về tổ chức ngành phát thanh và truyền thanh ở cấp tỉnh và huyện đã nêu rõ: Đài truyền thanh huyện là cơ quan sự nghiệp trực thuộc UBND huyện, nằm trong hệ thống chuyên môn cả nước của ngành PT-TH, có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

a/ Làm chức năng một cơ quan tuyên truyền, một công cụ chỉ đạo sản xuất của Uỷ ban nhân dân huyện

- Tổ chức việc tiếp âm Đài Tiếng nói Việt Nam, đài phát thanh tỉnh trong phạm vi toàn huyện

- Trực tiếp quản lý đài truyền thanh thị trấn, huyện lỵ

b/ Quản lý sự nghiệp của ngành trong phạm vi huyện:

- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp quản lý các cơ sở vật chất kỹ thuật, hướng dẫn và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán

bộ, công nhân hoạt động của ngành trong mạng lưới truyền thanh của huyện

- Phối hợp chặt chẽ với các ban chuyên môn và các đoàn thể của huyện trong công tác tuyên truyền [5, tr.2]

Đối với Đài truyền thanh các xã, thị trấn:

Hệ thống truyền thanh cấp xã, thị trấn có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các hoạt động chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là ở các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Không thể so sánh với các đài phát thanh mang tính chuyên nghiệp nhưng có thể nói hệ thống đài truyền thanh xã, thị trấn cũng có những ưu thế nổi bật Đó là khả năng thông tin nhanh, phục vụ kịp thời tất cả các tầng lớp nhân dân cư trú trong địa bàn Thông tin của đài cơ sở thường sát thực, trực

Trang 24

tiếp, liên quan đến cuộc sống cụ thể của cư dân trong địa bàn Tại nhiều địa phương ở nước ta hiện nay, hệ thống đài cơ sở là công cụ của Đảng bộ và chính quyền địa phương trong công tác phổ biến tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, góp phần không nhỏ trong việc phổ biến, thực hiện các nhiệm vụ của địa phương về tất cả các mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh trật tự, sản xuất và đời sống của nhân dân trong địa bàn

Tuy nhiên, hoạt động của các đài truyền thanh các xã, phường, thị trấn hiện có nhiều khó khăn và hạn chế Hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất của đa

số các đài truyền thanh cấp xã đều thiếu và yếu, hầu hết các máy móc, trang thiết

bị kỹ thuật đã lạc hậu, xuống cấp Trình độ chuyên môn của người làm chương trình còn hạn chế, đơn thuần là đọc văn bản mà chưa thực sự có những bài viết, tin tức tóm tắt để người dân dễ hiểu, dễ nhớ Chính điều này làm cho nội dung một số chương trình phát thanh đơn điệu, nhàm chán, không thu hút được sự quan tâm của người dân, dẫn đến công tác TTCS chưa đạt hiệu quả cao

Căn cứ Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 16 tháng 02 năm 2009 Phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020 và Quyết định 1212/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, ngày 5 tháng 9 năm 2012 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai

đoạn 2012 - 2015; UBND Tỉnh Bến Tre đã xây dựng Kế hoạch thực hiện

chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở vùng sâu, vùng xa đến năm 2020 Theo đó, năm 2012, Sở TT&TT và Đài PT-TH Bến Tre cũng đã

hoàn thành việc xây dựng báo cáo kinh tế kỹ thuật - tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống thông tin và truyền thông cơ sở đến năm 2020.Theo báo cáo thiết kế, tỉnh Bến Tre sẽ đầu tư 39,5 tỷ đồng từ nguồn ngân sách hỗ trợ của Trung ương để đầu tư nâng cấp toàn bộ hệ thống đài truyền thanh các huyện, thành phố và các xã, thị trấn trong tỉnh [33]

Có thể nói, thực trạng hoạt động của các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bến Tre thời gian qua đã có nhiều

Trang 25

chuyển biến tích cực Các cấp uỷ đảng và chính quyền quan tâm đến hoạt động truyền thanh ngày càng nhiều hơn Đặc biệt các đài TTCS đã từng bước phát huy vai trò, nhiệm vụ của mình, làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, xứng đáng với vai trò làm cầu nối giữa Đảng - Chính quyền với quần chúng nhân dân Nhìn chung các đài truyền thanh đều bắt đầu thực hiện cải tiến nâng cao chất lượng, quy trình sản xuất chương trình và hiệu quả bước đầu đã cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại địa phương

Đối với các đài truyền thanh cấp huyện, hiện nay đang trong quá trình đầu tư hệ thống thiết bị sản xuất chương trình theo kỹ thuật số Trong đó, gồm

hệ thống truyền thanh không dây, hệ thống dàn dựng sản xuất chương trình phát thanh, hệ thống dựng hình phi tuyến kết nối truyền dẫn tin, bài, hình ảnh qua đường truyền Internet ADSL, camera và máy ghi âm kỹ thuật số, máy tính xách tay cho phóng viên là những nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền của đài huyện, kể cả cộng tác trên trên sóng PT -

TH của đài tỉnh

Đối với các đài truyền thanh xã, thị trấn cũng đang trong quá trình thay

da đổi thịt Nếu như trước đây, phần lớn mày móc, trang thiết bị kỹ thuật của các đài đều cũ kỹ, xuống cấp trầm trọng, thì hiện nay, các địa phương bắt đầu nâng cấp hoặc trang bị mới hệ thống truyền thanh Theo đó, xu hướng các đài đều tập trung phát triển hệ thống loa không dây và loa kèn, với hệ thống máy tăng âm công suất từ 800W trở lên và nhiều phụ kiện hiện đại Cùng với truyền thanh hữu tuyến, mạng lưới truyền thanh không dây được tăng cường tận các khu phố, xóm ấp đã từng bước nâng cao chất lượng phát sóng, mở rộng địa bàn phủ sóng và giảm thiểu tình trạng lấn chiếm không gian, ảnh hưởng mỹ quang đô thị của đường dây truyền thanh hữu tuyến

Hiện nay, nhiệm vụ của các đài truyền thanh cấp huyện, thành phố ở Bến Tre không những xây dựng chương trình phát sóng hàng ngày, mỗi ngày

có thời lượng 30 phút, các đài truyền thanh còn là cánh tay đắc lực trong việc cộng tác với Đài PT-TH Bến Tre, Báo Đồng Khởi, các Trang thông tin điện

Trang 26

tử tổng hợp của tỉnh, huyện và các Tờ tin nội bộ ở địa phương Ngoài ra các đài truyền thanh còn sản xuất các băng, đĩa video clip phục vụ cho tuyên truyền thành tựu của các ban ngành, đoàn thể, đồng thời truyền thanh trực tiếp một số hội nghị, sự kiện quan trọng của huyện nhà

Đối với cấp xã, ngoài nhiệm vụ tiếp âm thường xuyên mỗi ngày 2 buổi, các đài truyền thanh còn có nhiệm vụ xây dựng chương trình địa phương tham gia phát sóng trên đài huyện mỗi tháng 1 kỳ Bên cạnh đó, còn theo dõi, nắm bắt thông tin, viết tin bài cộng tác về huyện, đồng thời còn phải xây dựng chương trình địa phương, mỗi tuần 2 chương trình, mỗi chương có thời lượng

5 phút Có thể nói, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thiếu đồng bộ trong quá trình hoạt động, nhưng nhìn chung các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn trong tỉnh luôn được Đảng bộ, chính quyền quan tâm, tăng cường đầu tư, tạo cơ sở cho hoạt động phát thanh, truyền thanh không ngừng phát triển Hiệu quả công tác tuyên truyền đã cơ bản đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin trong các tầng lớp nhân dân

1.2.2 Vị trí, vai trò, chức năng của các Đài truyền thanh cơ sở

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống TTCS cho thấy, kể từ khi

ra đời cho đến nay, hệ thống đài TTCS (bao gồm các đài truyền thanh huyện, thị và phường, xã) luôn là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống báo chí của cả nước Đài TTCS ví như cánh tay nối dài của Đài TNVN và Đài PT-TH tỉnh Đặc biệt, ở những khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, nơi có số lượng thính giả chiếm tới hơn 80% của cả nước, vai trò và tầm quan trọng của hệ thống này luôn được khẳng định ngày càng cao bởi tính tiện lợi và phù hợp với điều kiện của vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Là đài cơ sở, song hệ thống truyền thanh này luôn có những ưu thế nổi bật và có những đặc tính thuận tiện không kém các loại hình báo chí khác, đó

là thông tin sát thực, trực tiếp, cụ thể đến từng người dân trong địa bàn Không chỉ là tiếng nói của chính quyền, đài cơ sở còn là diễn đàn của nhân dân địa phương, là tai mắt của chính quyền, là tiếng nói của tập thể nhân dân

Trang 27

với Đảng, Nhà nước và với chính quyền cơ sở Nó giúp cho mỗi công chúng tiếp nhận thông tin kể cả khi đang làm việc và bất cứ ở đâu Mỗi công chúng trong xã hội (trừ người khiếm thính) muốn nghe và tiếp nhận được những thông tin xảy ra trong xã hội, chỉ cần có một chiếc radio rẻ tiền thì có thể thu được sóng của chương trình phát thanh hoặc có thể nghe trực tiếp ở các loa phóng thanh công cộng được phủ khắp ở các vùng nông thôn, kệ cả tận xóm, ấp

Trong thực tế hệ thống đài TTCS vẫn đang phát huy tác dụng một cách tích cực, thậm chí có nơi còn coi đài truyền thanh là một nguồn thông tin không thể thiếu được đối với cư dân trên địa bàn Ở nhiều địa phương nước ta hiện nay, hệ thống các đài truyền thanh

xã, phường, thị trấn vẫn đang là một công cụ tuyên truyền sắc bén Chuyện cấy cày, thời vụ, làng trên xóm dưới, rồi các hoạt động của địa phương như bầu cử, đại hội, tiêm chủng, hội họp, ma chay, hiếu hỷ… đều gắn bó với âm thanh quen thuộc của những chiếc loa công cộng [8, tr.265]

Thực tế cho thấy có những loại nội dung mà chỉ có đài truyền thanh xã, thôn bản, xóm ấp mới có, chẳng hạn như có đài đã thường xuyên thực hiện

việc thông báo cho nhân dân trong địa bàn: “Thưa bà con! Ngày mai là ngày

tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 5 tuổi, mời bà con có con em trong độ tuổi đến Trạm y tế xã để tiêm ngừa! Hay mời bà con đúng 8 giờ ngày mai đến UBND xã để dự Họp mặt ngày đại đoàn kết toàn dân tộc, kỉ niệm ngày Thương binh Liệt sĩ…”

Ở tỉnh Bến Tre, hệ thống các đài truyền thanh huyện, thành phố và các

xã, thị trấn nhìn chung đều được hình thành từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng Sự ra đời của hệ thống truyền thanh cơ sở là nhằm tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và tình hình, hoạt động của địa phương đến các địa bàn dân cư Ngay sau khi thành lập đài phát thanh tỉnh, lần lượt các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn trong tỉnh cũng đã bắt đầu ra đời

Trang 28

Dù đến nay chưa có một báo cáo hay văn bản chính thức nào đánh giá sâu hiệu quả và tác động của hệ thống TTCS trong tỉnh Tuy nhiên một thực

tế cho thấy rằng hệ thống đài truyền thanh cấp huyện, thành phố và các xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bến Tre vẫn tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng của mình trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội tại địa phương

1.2.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động của hệ thống đài cơ sở ở Bến Tre

sự nghiệp phát thanh, truyền hình và TTCS Đến nay, 100% huyện, thành phố

và xã, phường, thị trấn đã có đài truyền thanh; tỉnh đã ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức, quản lý hoạt động của đài truyền thanh các cấp; tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ truyền thanh cấp huyện và cấp xã được củng cố, phát triển về số lượng và nâng cao về chất lượng 100% đài truyền thanh cấp huyện và 70% đài truyền thanh cấp xã đã tự xây dựng được nội dung chương trình để phát sóng trên hệ thống đài truyền thanh cấp huyện Nội dung, chương trình hoạt động từng bước được đổi mới; đã bám sát định hướng chỉ đạo tuyên truyền của cấp ủy, chính quyền, kịp thời tuyên truyền, cổ

vũ, động viên, góp phần đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và đến với người dân; đóng góp tích cực vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền, tạo tiền đề thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng của địa phương

Để tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống đài truyền thanh cấp huyện và cấp xã trên địa bàn tỉnh, đồng thời nhằm xác định

Trang 29

rõ những quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cơ bản và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy toàn bộ hệ thống thông tin cả nước không ngừng phát triển theo Quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cũng như Nghị quyết Đại hội IX của Đảng

đã xác định tầm quan trọng của việc lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản trong công cuộc phát triển đất nước: “Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng, báo chí, xuất bản làm tốt chức năng tuyên truyền thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ” [20, tr.116]

Chăm lo cho sự nghiệp phát triển báo chí, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã tiếp tục khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ: “Tạo điều kiện cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển, nâng cao chất lượng tư tưởng và văn hoá, vươn lên hiện đại về mô hình, cơ cấu tổ chức và

cơ sở vật chất - kỹ thuật; đồng thời xây dựng cơ chế quản lý phù hợp, chủ động, khoa học” [21, tr.107]

- Sự quan tâm hỗ trợ của đài PT-TH Bến Tre trong việc hướng dẫn, kiểm tra, tư vấn về nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ thuật phát thanh - truyền hình và định hướng đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật theo quy hoạch:

Trong những năm qua, cùng với Đài TNVN, đài PT-TH tỉnh đã đầu tư nguồn kinh phí đáng kể thực hiện các chương trình mục tiêu “xoá đói thông tin”, hỗ trợ và cung cấp nhiều thiết bị phát thanh, truyền thanh cho các địa phương, cơ sở, đặc biệt là đối với các xã vùng nông thôn, biên giới biển, vùng sâu vùng xa của tỉnh Ngoài ra, đài tỉnh không chỉ tham gia bồi dưỡng về mặt chuyên môn, nghiệp vụ như tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn viết tin, bài,

kỹ thuật quay phim, dẫn chương trình phát thanh… mà còn thường xuyên hướng dẫn các đài huyện về đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, phát triển mạng lưới theo đúng định hướng quy hoạch của ngành Đồng thời tổ chức các hoạt động chuyên ngành như họp mặt ngày Báo chí cách mạng, họp mặt cộng tác viên, sơ tổng kết hoạt động ngành, kỉ niệm ngày thành lập đài PT-TH và các phong trào văn hóa văn nghệ nhằm tạo điều kiện giao lưu, gặp gỡ giữa công tác viên và

Trang 30

phóng viên chuyên nghiệp Qua đó xây dựng tình hữu nghị, đoàn kết gắn bó giữa những người làm báo không chuyên và các nhà báo thực thụ

- Ưu thế về kỹ thuật đơn giản, tiện lợi, khả năng đưa tin nhanh, gần gũi công chúng

Trong thời đại mà nhu cầu nắm bắt thông tin ngày càng trở nên bức thiết - không chỉ chiếm ưu thế về khả năng to lớn trong việc cung cấp cho công chúng những thông tin nhanh nhất - phát thanh còn có lợi thế hơn hẳn trong việc tiếp cận nguồn tin đối với những địa điểm xa xôi, hiểm trở, cách xa các trung tâm đô thị Thông tin truyền dẫn qua phát thanh, về tổng thể đều nhanh hơn hẳn truyền hình và báo [25, tr.102]

Là một bộ phận trong hệ thống báo phát thanh của tỉnh, các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn ở tỉnh Bến Tre đã khai thác tốt tiềm năng lợi thế đó Thời gian qua, bên cạnh những thành qua chung của hệ thống TTCS, các đài đã không ngừng đầu tư thêm trang thiết bị kỹ thuật, mạnh dạn đưa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ phóng viên; đổi mới công nghệ phát thanh, thay đổi kết cấu chương trình… đó là một minh chứng cho sự quyết tâm của các đài, nhằm từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin, tuyên truyền, đồng thời còn tạo sự cạnh tranh giành lấy nhiều nhóm đối tượng công chúng

Theo thống kê của Sở TT&TT, đến nay toàn tỉnh Bến Tre có 60% đài cấp xã có hệ thống truyền thanh hữu tuyến, 20% đài có hệ thống truyền thanh không dây và 20% đài sử dụng hệ thống loa kèn; 100% đài truyền thanh huyện, thành phố đã đầu tư máy dựng hình phi tuyến tính và truyền tín hiệu về đài PT-TH tỉnh, Báo Đồng Khởi

và các Trang thông tin điện tử qua đường truyền Internet, từ đó giúp cho việc cộng tác tin, bài thuận lợi hơn, tin tức đảm bảo tính thời sự hơn, vì trước đây việc cộng tác tin, bài với các báo, đài cấp trên chủ yếu qua đường Bưu điện, hoặc gửi qua trung gian Điều này gây rất

Trang 31

nhiều khó khăn, bất tiện cho các đài địa phương, nhất là việc thông tin chuyển đi bị chậm trễ, mất tính thời sự, kể cả những thông tin gửi đi bị thất lạc [34].

1.2.3.2 Những khó khăn, hạn chế

- Hệ thống trang thiết bị, cơ sở vật chất của đa số các đài truyền thanh cấp huyện và xã đều thiếu và yếu, hầu hết các máy móc, trang thiết bị kỹ thuật

đã lạc hậu, xuống cấp

Theo khảo sát của tác giả tại 9 đài huyện, thành phố cho thấy: Mặc dù

có nhiều đổi mới so với trước, nhưng xét trên bình diện chung thì các đài huyện vẫn còn nhiều hạn chế nhất định Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, chưa đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là trong xu hướng phát triển, hội nhập quốc tế và xu hướng cạnh tranh thông tin hiện nay

Riêng đối với hệ thống đài truyền thanh xã, phường, thị trấn có một thực tế khiến những người làm công tác truyền thanh luôn trăn trở là sự hạn chế trong đầu tư cơ sở vật chất, cán bộ làm công tác TTCS không ổn định, thay đổi thường xuyên, thiếu chuyên môn nghiệp vụ, chế độ phụ cấp thấp Ngoài ra, do điều kiện ngân sách ở xã còn nhiều khó khăn nên việc đầu tư mới gần như chưa thực hiện, hàng năm bằng nguồn ngân sách huyện bổ sung thêm trang thiết bị còn quá ít nên không đáp ứng yêu cầu hoạt động, trang thiết bị chưa đồng bộ dẫn đến chất lượng kỹ thuật, âm thanh còn hạn chế

- Nhân lực thiếu và không đồng bộ khiến hoạt động của các đài truyền thanh gặp khó khăn, thiếu tính ổn định

Trong hoạt động của hệ thống truyền thanh, vấn đề nhân lực được xem

là khâu quan trọng nhất quyết định hiệu quả công việc của ngành Xét về góc

độ quản lý, kể từ đầu năm 2004, sau khi chuyển giao từ Đài PT-TH tỉnh, các đài truyền thanh huyện, thành phố trong tỉnh đều đặt dưới sự quản lý toàn diện của UBND huyện về bộ máy, biên chế nhân sự và kinh phí hoạt động Thực tế, vấn đề nhân sự đài truyền thanh cấp huyện tại Bến Tre còn nhiều điều bất cập, mỗi nơi mỗi khác, không ai giống ai, huyện ít, huyện nhiều, đây

Trang 32

cũng là điều băn khoăn, trăn trở của những người làm công tác truyền thanh ở huyện, thành phố trong suốt thời gian qua

Theo thống kê, trong tất cả 9 đài truyền thanh cấp huyện có tổng số 65 nhân sự vừa làm công tác truyền thanh, vừa làm công tác phát thanh, truyền hình cộng tác cho Đài PT-TH tỉnh, nên lực lượng phóng viên, biên tập và kỹ thuật viên thực hiện nhiệm vụ trên cả 2 lĩnh vực Trong đó, huyện có số nhân

sự nhiều nhất là Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam, mỗi đơn vị 8 biên chế, huyện có biên chế thấp nhất là huyện Giồng Trôm, Bình Đại và Ba Tri chỉ 6 biên chế Điều đáng nói ở đây là việc phân bổ biên chế không theo yêu cầu công việc và cũng không căn cứ vào dân số ở từng huyện, thành phố, khiến không ít đài gặp nhiều khó khăn trong thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình

Bên cạnh đó, thời gian qua, việc điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán

bộ quản lý ở các đài huyện sang các lĩnh vực khác và ngược lại phần nào cũng

đã gây nhiều bất cập cho hoạt động lãnh đạo, điều hành ở các đài Tại Bến Tre, trong vòng 5 năm trở lại đây có trên 10 cán bộ lãnh đạo đài đã chuyển ngành do được huyện điều động, bổ nhiệm sang công tác khác và tương tự số lượng ấy từ ngày khác chuyển về đài Điều đáng lo ngại là việc điều động, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo đài truyền thanh phần lớn là không có hoặc không đúng nghiệp vụ chuyên môn

Riêng đối với hệ thống đài xã, thị trấn thời gian qua cũng cho thấy sự xáo trộn đáng kể Theo thống kê của tác giả, trong 2 năm 2012 và 2013, toàn tỉnh có đến 30% cán bộ đài xã bị biến động, trong đó có biến động do chuyển sang công tác khác theo chiều hướng phát triển hơn, có trường hợp chuyển do không phù hợp với sở trường công việc, một số nghỉ do công việc gia đình, điều kiện kinh tế khó khăn…

- Nguồn kinh phí hạn hẹp nên các đài rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng

Bến Tre là địa phương còn nhiều khó khăn nên ngân sách dành cho đầu

tư phát triển còn nhiều hạn chế, trong đó nguồn kinh phí dành cho sự nghiệp báo chí nói chung và hệ thống phát thanh nói riêng chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ

Trang 33

giọt Theo báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược thông tin năm 2012 của Sở TT&TT cho thấy, tổng chi ngân sách cho hệ thống phát thanh từ tỉnh, huyện đến xã hàng năm là trên 5 tỷ đồng, nếu trừ hệ thống phát thanh tỉnh thì hệ thống TTCS mỗi năm được ngân sách đầu tư khoảng 4 tỷ đồng, một con số quá khiêm tốn so với hệ thống TTCS khá rộng lớn trong toàn tỉnh

Bên cạnh đó, đến thời điểm này, việc tính toán phân bổ kinh phí hoạt động cho các đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn trong tỉnh vẫn chưa có

sự thống nhất chung, chưa lấy tính chất, yêu cầu công việc làm cơ sở tính toán Chế

độ mua sắm, đầu tư trang bị cơ sở vật chất cũng mỗi nơi, mỗi khác

Có thể so sánh nguồn kinh phí hoạt động giữa các đài huyện, thành phố

sẽ thấy rõ sự khác nhau, trong khi yêu cầu, cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các địa phương gần như là không có gì thay đổi:

Bảng 1.1: So sánh về kinh phí hoạt động của một số đài truyền thanh

huyện, thành phố

TT Số đài huyện khảo sát

Ngân sách cấp năm

2012

Kinh phí hoạt động thường xuyên

Nhuận bút hàng tháng

Nguồn: Đài PT&TH Bến Tre

Một nguyên nhân mà đa số các đài truyền thanh huyện gặp phải là nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên thấp, trong khi trong hoạt động

Trang 34

thường phát sinh những khoản chi ngoài dự kiến, như sửa chữa máy móc, trang thiết bị kỹ thuật bị hư hỏng Tất cả các khoản cho này đều rất lớn, ngoài tầm cân đối của đài huyện Bên cạnh đó, việc xin chủ trương, đề nghị UBND huyện cấp kinh phí lại là một vấn đề gian nan, thủ tục rờm rà, mất nhiều thời gian, trong khi yêu cầu công việc luôn gấp rút, máy móc, thiết bị không đảm bảo gây rất nhiều khó khăn trong hoạt động

Riêng đối với các đài cấp xã, vấn đề kinh phí cũng gặp những khó khăn không kém Bởi thực tế, nguồn ngân sách địa phương có hạn, nên tất cả các khoản chi ở đây đều chỉ rất nhỏ giọt Theo phản ánh của các đài xã, thì nguồn kinh phí hoạt động chung ở khoảng 5 triệu đồng/năm/đài, trong đó đài có kinh phí cao nhất vào khoảng 12 triệu và thấp nhất là 3 triệu/năm

- Theo phân cấp quản lý, đài truyền thanh cơ sở là cơ quan thông tin, tuyên truyền của Đảng bộ và chính quyền địa phương, nhưng không phải là

cơ quan báo chí

Một vấn đề khá bức xúc mà từ lâu những người làm công tác truyền thanh cấp huyện luôn băn khoăn, đó là không được công nhận là cơ quan báo chí, nhiều phóng viên mặc dù có đủ kinh nghiệm và trình độ chuyên môn nhưng cũng không được xét cấp thẻ nhà báo chuyên nghiệp Việc không được công nhận là cơ quan báo chí là một trở ngại lớn đối với hoạt động của các đài truyền thanh cấp huyện Một thực trạng qua điều tra cho thấy, phần lớn phóng viên đài huyện khi tác nghiệp còn mang mặc cảm tự ti, e dè, thiếu tự tin khi giáp mặt các đồng nghiệp ở các cơ quan báo chí chuyên nghiệp

Đối với nước ta, Luật Báo chí quy định các cơ quan báo chí bao gồm: báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử Đài truyền thanh cấp huyện không phải là cơ quan báo chí, nhưng trong chuỗi hoạt động chuyên môn lại không khác gì một cơ quan báo chí chuyên nghiệp Trong hoạt động, đài huyện vẫn

có nhiệm vụ cập nhật thông tin, đưa tin hàng ngày, phát sóng hàng ngày, chịu trách nhiệm về nội dung thông tin…, cung cấp một lượng lớn thông tin quan trọng trên các phương tiện thông tin đại chúng cấp tỉnh Một vấn đề khó khăn

Trang 35

là đài huyện không được công nhận là cơ quan báo chí do đó hoạt động của các đài truyền thanh huyện dựa trên những cơ sở pháp lý nào, phóng viên đài huyện tác nghiệp với những phương tiện thiết bị như những nhà báo chuyên nghiệp, tuy nhiên bản thân họ không được cấp giấy hành nghề Vì vậy nếu

chiếu theo Luật Báo chí thì số phóng viên đài truyền thanh cấp huyện tác

nghiệp đều vi phạm luật! Vấn đề trên phải giải quyết thế nào để vừa đảm bảo chức năng nhiệm cụ của phóng viên đài huyện, vừa đảm bảo đúng luật định Dẫu biết, đài huyện hoạt động dựa trên quy chế của mỗi địa phương, song điều đó không có nghĩa các quy chế đó sẽ đúng luật định Điều đó đã dẫn đến

sự không thống nhất về cơ sở pháp lý, đồng thời tạo ra những bất công trong hoạt động truyền thanh ở cấp huyện

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, sau khi đã trình bày một số vấn đề, tác giả đã khái quát toàn diện bộ mặt của hệ thống TTCS của tỉnh Bến Tre Với đặc thù là địa phương còn nhiều khó khăn của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, song lại

là quê hương giàu truyền thống cách mạng, hệ thống truyền thanh cơ sở ở đây được hình thành khá sớm Những ưu thế của truyền thanh như khả năng thông tin nhanh nhạy, gần gũi, thiết thực đã cơ bản đáp ứng nhu cầu của công chúng trên địa bàn

Bên cạnh những thuận lợi về sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, sự hỗ trợ của ngành chuyên môn, hoạt động của hệ thống TTCS ở Bến Tre cũng còn nhiều khó khăn, yếu kém về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, tài chính Những khó khăn cũng là nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của hệ thống TTCS trên địa bàn

Chương 2 của luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động TTCS trên địa bàn tỉnh Bến Tre qua các vấn đề: chất lượng, nội dung thông tin; những thành quả nổi bật và những hạn chế tồn tại cần khắc phục; những vấn

đề đặt ra đối với hệ thống TTCS ở Bến Tre hiện nay là gì?

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG

TRUYỀN THANH CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE

2.1 Thực trạng hoạt động của đài truyền thanh cơ sở tại Bến Tre

- Về nhân sự, cơ cấu tổ chức:

Qua khảo sát ở 9 đài truyền thanh huyện, thành phố và các xã, thị trấn cho thấy, toàn tỉnh có tổng số 65 nhân sự vừa làm công tác truyền thanh, vừa làm công tác phát thanh, truyền hình cộng tác cho đài PT-TH tỉnh, nên lực lượng phóng viên, biên tập và kỹ thuật viên thực hiện nhiệm vụ trên cả 2 lĩnh vực Trong đó, huyện có số nhân sự nhiều nhất là Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam, mỗi đơn vị 8 biên chế, huyện có biên chế thấp nhất là huyện Bình Đại, Giồng Trôm và Ba Tri chỉ 6 biên chế [phụ lục]

Điều đáng nói ở đây là việc phân bổ biên chế không theo yêu cầu công việc và cũng không căn cứ vào dân số ở từng huyện, thành phố khiến không ít đài gặp nhiều khó khăn trong thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình Đối với huyện Ba Tri là địa phương có diện tích, số dân và bộ máy hành chính cấp xã lớn nhất tỉnh, với 355 km2; dân số trên 191.000 người và

24 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn Tuy nhiên, về đội ngũ biên chế, đài truyền thanh huyện Ba Tri chỉ có 6 biên chế chính thức được duy trì xuyên suốt hơn 15 năm qua

Về bộ máy tổ chức của các đài huyện được sắp xếp giống nhau và được

tổ chức thành 3 bộ phận gồm :

- Ban lãnh đạo - biên tập

Trang 37

- Tổ phóng viên - phát thanh viên - văn phòng

- Tổ kỹ thuật - kế toán - thủ quỹ

Trong đó, Ban lãnh đạo đài thông thường là 2 người thường được phân chia trách nhiệm cụ thể: Thủ trưởng đơn vị phụ trách chung, đồng thời chịu trách nhiệm về khâu nội dung, duyệt chương trình; Phó trưởng đài phụ trách điều phối lịch công tác cho phóng viên, phụ trách kỹ thuật và mạng lưới TTCS

Tuy nhiên trên thực tế, do số lượng biên chế ít nên trong cơ cấu tổ chức, hầu hết cán bộ viên chức của đài đều phải kiêm nhiệm thêm nhiều nhiệm vụ khác, như phóng viên kiêm phát thanh viên, quay phim, văn phòng, hay kỹ thuật kiêm thủ quỹ, kế toán, phóng viên… Nhìn chung, mỗi cán bộ viên chức đài truyền thanh huyện đều phải là một người đa năng mới đảm đương được công việc hàng ngày Hiện tại, qua khảo sát ở các đài huyện cho thấy, công việc kiêm nhiệm không chỉ đối với các bộ phận cấp dưới mà ngay

cả ở bộ máy Ban lãnh đạo đơn vị Một số đài huyện như Ba Tri, Giồng Trôm, Thạnh Phú, Thành phố Bến Tre, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, các chức danh trưởng, phó đài ngoài nhiệm vụ quản lý, điều hành công việc chung, còntác nghiệp như một phóng viên thực thụ

Phỏng vấn sâu ông Đặng Văn Bảy, Trưởng Đài Truyền thanh thành phố Bến Tre khẳng định:

Thực hiện việc kiêm nhiệm là vấn đề bắt buộc trong tình hình khó khăn về biên chế hiện nay Đối với cán bộ viên chức mới vào nghề thì còn khó khăn, bỡ ngỡ nhưng lâu dần sẽ quen Tuy có vất vã nhưng cái được là giúp cán bộ viên chức trở thành người đa năng Thực tế việc việc kiêm nhiệm ở các khâu chưa có gì bị động, mà trước mắt nó giảm thiểu về mặt huy động nhân lực Sau nữa, giúp biên tập viên chủ động được công việc, rút ngắn thời gian thực hiện, hoàn chỉnh chương trình [phụ lục]

Còn đối với các đài cấp xã, do chỉ có một cán bộ chuyên trách nên bộ máy tổ chức rất đơn giản nhưng thực chất về chức năng, nhiệm vụ là vô cùng

Trang 38

khó khăn Có thể khái quát sơ bộ về công việc hàng ngày của một cán bộ truyền thanh cấp xã như sau: tiếp âm Đài TNVN, Đài PT-TH Bến Tre, Đài truyền thanh huyện, sau đó phát thanh chương trình địa phương Để có chương trình địa phương đòi hỏi cán bộ truyền thanh phải viết tin bài, trong

đó ít nhất là phải viết từ 4 tin trở lên/chương trình, riêng phần bài có thể sưu tầm hoặc sử dụng trên các báo in và báo mạng Ngoài việc tham gia viết tin bài cho chương trình địa phương, tham gia cộng tác với đài huyện, cán bộ đài còn phải trực tiếp vận hành, bảo trì, sửa chữa hệ thống đài của xã, ghi chép nhật ký chương trình, lưu trữ tư liệu thông tin hằng ngày để theo dõi, đồng thời còn phải thực hiện các công việc như trực điều chỉnh âm thanh hoặc truyền thanh trực tiếp các hội nghị, sự kiện quan trọng…

2.1.1.2 Về đối tượng phục vụ

Công chúng của báo phát thanh rất rộng lớn và đa dạng Đó là quần thể dân cư không phân biệt trình độ học vấn, mọi đối tượng (chỉ trừ người khiếm thính) đều có thể tiếp nhận thông tin qua Radio, qua tiếp âm của đài TTCS

Như vậy, có thể hiểu báo chí nói chung, hệ thống phát thanh, truyền thanh nói riêng có chức năng là công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước,

là diễn đàn của quần chúng nhân dân nên đối tượng phục vụ của các đài rất rõ ràng Đó là cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, mà đa số là bà con nông dân Chính vì vậy, khi xây dựng chương trình phát sóng, truyền thanh, xác định thời lượng mỗi chương trình, bố trí thời điểm truyền, phát sóng các chương trình, nhìn chung các đài đều hướng đến đối tượng của mình

Qua khảo sát 9 đài cập huyện và một số đài xã, thị trấn trong tỉnh cho thấy các chương trình thời sự, chuyên mục, tiết mục đều hướng đến công chúng của riêng mình như ở đài truyền thanh huyện Ba Tri, mỗi tuần xây

dựng 7 chuyên mục gồm, chuyên mục Xây dựng Đảng, chuyên mục Kinh tế;

Văn hoá xã hội; Quốc phòng an ninh; Tuyên truyền pháp luật; Nông thôn mới; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Trung bình mỗi

ngày một chuyên mục để hướng đến thính giả là công chúng thân thiết

Trang 39

củamình Ở huyện Bình Đại có các chuyên mục như Học tập và làm theo Bác,

Pháp luật đời sống, Môi trường, an toàn giao thông, Gia đình và trẻ em, Trả lời thư bạn nghe đài, Câu chuyện truyền thanh Ở đài Thành phố Bến Tre có

các chuyên mục Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, An

toàn giao thông, Bảo vệ môi trường, Dân số - kế hoạch hóa gia đình, Pháp luật, Phòng chống HIV/AIDS và chuyên mục Xây dựng nông thôn mới Ở

huyện Thạnh Phú có chuyên mục Tư tưởng Hồ Chí Minh, tài nguyên môi

trường, an toàn giao thông, sức khỏe và cuộc sống, pháp luật và đời sống, tuổi trẻ, công đoàn Nhìn chung, các chuyên mục ở đài truyền thanh cấp

huyện có khác nhau, nhưng cũng có một số chuyên mục gần như giống nhau

hoàn toàn, đó là chuyên mục Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh, An toàn giao thông và Tài nguyên môi trường

Về hình thức và chất lượng nội dung các chuyên mục cho thấy, các đài

đã có những cố gắng trong việc xây dựng đều đặn các chuyên mục phát sóng hàng ngày Về thể loại có sự phong phú, đa dạng trên các lĩnh vực quan tâm trong đời sống xã hội, chất lượng cơ bản đáp ứng nhu cầu hưởng thụ tinh thần của công chúng nghe đài

Cũng như hệ thống đài cấp huyện, các đài truyền thanh các xã, thị trấn luôn đặt mục tiêu hướng đến là những đối tượng công chúng khá đa dạng trên địa bàn Đó là cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, mà đa số là bà con nông dân Mặc dù việc xây dựng chương trình truyền thanh ở cấp xã cũng còn nhiều vấn đề bất cập, thiếu thường xuyên, chất lượng không đảm bảo, nhưng công việc tiếp âm và truyền thanh mỗi ngày cũng nhằm mục tiêu chuyển tải những thông tin cần thiết và bổ ích đến quần chúng nhân dân trên địa bàn

2.1.1.3 Về quy trình sản xuất chương trình

- Cấu trúc chương trình

Qua điều tra, khảo sát cho thấy đa phần các đài huyện đều xây dựng cấu trúc chương trình phát thanh khá giống nhau, với thời lượng phát sóng mỗi chương trình là 30 phút, thời gian phát sóng mỗi ngày 2 buổi sáng từ 6

Trang 40

giờ 30 phút đến 7 giờ, buổi chiều từ 17 giờ 30 phút đến 18 giờ Riêng chỉ mỗi đài thành phố Bến Tre phát sóng ngày 3 buổi, sáng, trưa và chiều

Dù có vài điểm khác nhau do chưa có sự thống nhất chung trong quản

lý nhưng về tổng thể, cấu trúc chương trình truyền thanh của các đài huyện, thành phố thường bao gồm chương trình thời sự địa phương và kèm theo là các chuyên mục, tiết mục được bố trí cố định theo trình tự thời gian hàng ngày Trong đó 15 phút dành cho chương trình thời sự địa phương, 10 phút dành cho chuyên mục và 5 phút còn lại sử dụng cho việc nhạc xen và nhạc cắt Bình quân, mỗi chương trình sử dụng 5 đến 8 tin, 2 bài viết và các thể loại khác như phỏng vấn, ghi nhanh, tường thuật, phát biểu

Đối với các chuyên mục, tiết mục, mỗi đài có cách sắp xếp, bố trí khác nhau, như ở đài truyền thanh huyện Ba Tri, mỗi tuần xây dựng 7 chuyên mục gồm, thứ hai: chuyên mục xây dựng Đảng; thứ ba: chuyên mục kinh tế; thứ tư: văn hoá xã hội; thứ năm: quốc phòng an ninh và tuyên truyền pháp luật; thứ sáu: nông thôn mới; thứ bảy: học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

và Chủ nhật là chuyên mục điểm tin trong tuần Ở huyện Bình Đại mỗi tuần xây

dựng 7 chuyên mục, trong đó thứ hai chuyên mục Học tập và làm theo Bác; thứ ba: Pháp luật đời sống; thứ tư: Vệ sinh môi trường; thứ năm: An toàn giao thông; thứ sáu: Gia đình và trẻ em; thứ bảy: Trả lời thư bạn nghe đài và Chủ nhật là

Câu chuyện truyền thanh Ở đài huyện Thạnh Phú các chuyên mục gần giống

như huyện Bình Đại, tuy nhiên Thạnh Phú có thêm các chuyên mục Sức khoẻ và

cuộc sống, Pháp luật và đời sống, Tuổi trẻ, Công đoàn

Nhìn nhận một cách khách quan cho thấy, chương trình phát thanh không chỉ cung cấp thông tin mà còn là kênh giải trí cho công chúng Do đó,

tỷ lệ thông tin và giải trí trên sóng phát thanh phải hài hòa Thông tin không chỉ hướng đến đời sống thường nhật, phải mềm hơn, thiết thực hơn mà liều lượng còn phải đồng bộ với tính chất giải trí, bổ ích, trở thành món ăn tinh thần của các tầng lớp nhân dân

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w