HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGÔ VĂN PHONG CHỦ ĐỀ CẢI CÁCH THÔN QUÊ TRONG CÁC TÁC PHẨM BÁO CHÍ CỦA NHÓM TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Khảo sát báo Phong hóa – Ngày nay từ năm 1932 đến năm 1940
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ VĂN PHONG
CHỦ ĐỀ CẢI CÁCH THÔN QUÊ TRONG CÁC
TÁC PHẨM BÁO CHÍ CỦA NHÓM TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
(Khảo sát báo Phong hóa – Ngày nay từ năm 1932 đến năm 1940)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ VĂN PHONG
CHỦ ĐỀ CẢI CÁCH THÔN QUÊ TRONG CÁC
TÁC PHẨM BÁO CHÍ CỦA NHÓM TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
(Khảo sát báo Phong hóa – Ngày nay từ năm 1932 đến năm 1940)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 60.32.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Thoa
HÀ NỘI - 2013
Trang 3quả công bố trong luận văn hoàn toàn chính xác, chưa từng công bố trong bất cứ tài liệu nào, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGÔ VĂN PHONG
Trang 4Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Học viện báo chí và tuyên truyền Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng quí Thầy Cô trong Khoa Báo chí, Phòng Đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Thoa, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên, vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí Thầy Cô và các bạn
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2013
Học viên Ngô Văn Phong
Trang 5Chương 1 LÝ LUẬN VỀ TÁC PHẨM BÁO CHÍ VÀ GIỚI THIỆU BÁO
PHONG HÓA – NGÀY NAY 6
1.1 Những khái niệm cơ bản về báo chí và tác phẩm báo chí 6
1.2 Lược sử báo Phong hóa - Ngày nay 10
1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của báo Phong hóa – Ngày nay 19
1.4 Nội dung và hình thức của báo Phong hóa – Ngày nay 33
1.5 Vai trò của báo Phong hóa – Ngày nay đối với việc truyền bá canh tân đất nước 39
Chương 2 THỰC TRẠNG CHỦ ĐỀ CẢI CÁCH THÔN QUÊ CỦA NHÓM TỰ LỰC VĂN ĐOÀN TRÊN BÁO PHONG HÓA – NGÀY NAY 44
2.1 Tần số xuất hiện tác phẩm báo chí về chủ đề cải cách thôn quê 44
2.2 Nội dung cải cách thôn quê trên Phong hóa – Ngày nay 45
2.3 Phản ánh khát vọng cải cách thôn quê của nhóm Tự lực văn đoàn trong các tác phẩm báo chí trên báo Phong hóa – Ngày nay 61
Chương 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM NGHỀ NGHIỆP BÁO CHÍ RÚT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU CHỦ ĐỀ CẢI CÁCH THÔN QUÊ TRÊN BÁO PHONG HÓA – NGÀY NAY ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 84
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề xây dựng nông thôn mới 84
3.2 Những bài học kinh nghiệm nghề nghiệp báo chí của báo Phong hóa – Ngày nay đối với việc làm báo về xây dựng nông thôn mới hiện nay 87
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phong hóa - Ngày nay là hai tuần báo của nhóm Tự lực văn đoàn, xuất
hiện ở Hà Nội từ năm 1932 tới năm 1940, thời kỳ Bảo hộ thuộc Pháp Bắt đầu
từ ngày 22/9/1932, Phong hóa số 14 ra tám trang khổ lớn, trở thành tờ báo
trào phúng đầu tiên của nước ta Mục đích của báo được quảng bá lần đầu
trong Phong hóa số 13: “Bàn một cách vui về các vấn đề cần thiết: Xã hội,
chính trị, kinh tế, nói rõ về hiện tình trong nước…” Đó chính là sự thể hiện
tinh thần dân chủ và bình đẳng trong tư tưởng, trong hoạt động báo chí và văn
chương Sau này tờ báo rất nổi bật ở tính thời sự và giọng văn châm biếm
Trong nỗ lực kiến tạo một xã hội mới với một văn hóa mới, ngoài các hoạt động xã hội cụ thể, nhóm Tự lực văn đoàn đã thể hiện mục đích đó một cách công khai vào trong các tác phẩm báo chí, văn học, nhất là các tiểu thuyết đăng trên báo Phong hóa – Ngày nay Trong một số chủ đề xã hội và
nghệ thuật mà Tự lực văn đoàn theo đuổi thì chủ đề cải cách thôn quê là một
chủ đề chính, được thể hiện thông qua các bài báo, qua các nhân vật trong truyện ngắn, trong tiểu thuyết được đăng trên báo Phong hóa – Ngày nay Trong xã hội lúc bấy giờ, thậm chí đến tận ngày nay, có không ít nhà
nghiên cứu, khi nghiên cứu về chủ đề cải cách thôn quê của nhóm Tự lực
văn đoàn, đã nhận định rằng, đó là chương trình mang tính cải lương, không tưởng Thậm chí, có ý kiến phê phán nặng nề, cho rằng Tự lực văn đoàn đã bị lợi dụng để “đánh lạc hướng quần chúng” [15].Tuy nhiên, cũng không ít nhà nghiên cứu đã cho rằng, nếu lược bỏ đi yếu tố lịch sử, yếu tố chính trị…của
xã hội lúc đó, chủ đề cải cách thôn quê của Tự lực văn đoàn là rất mới và mang tính thời sự rất cao vào chính thời điểm đó
Chính vì vậy, nghiên cứu báo Phong hóa – Ngày nay để tìm ra được những cái hay, cái đẹp trong tư tưởng xây dựng nông thôn của nhóm Tự lực
Trang 7văn đoàn là việc làm có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng, Nhà nước đang thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới và báo chí đang được “lĩnh ấn tiên phong” trong việc tuyên truyền chủ trương quốc gia về xây dựng nông thôn mới Đồng thời, việc rút ra những bài học kinh nghiệm nghề nghiệp báo chí từ những tác phẩm báo chí của Tự lực văn đoàn cũng là việc làm hữu ích và cần thiết cho chính tác giả luận văn và cho những nhà báo hiện nay đang viết về vấn đề xây dựng nông thôn mới Do đó tác giả luận văn đã
chọn nội dung: Chủ đề cải cách thôn quê trong các tác phẩm báo chí của nhóm Tự lực văn đoàn (Khảo sát báo Phong hóa – Ngày nay từ năm 1932 đến năm 1940) làm đề tài Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành báo chí
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về báo Phong hóa – Ngày nay hay về nhóm Tự lực văn đoàn nhưng chủ yếu là ở các khía cạnh như văn học, thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết Cũng có một số bài nghiên cứu trên các tạp chí, các báo in, báo điện tử đã đề cập đến Chủ đề cải cách thôn quê của nhóm Tự lực văn đoàn trên báo Phong hóa – Ngày nay, tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu không tập trung vào các tác phẩm báo chí, mà chỉ tập trung vào
các tác phẩm văn học, như: Giới thiệu Phong hóa Ngày nay của GS Phạm
Thảo Nguyên và Nguyễn Trọng Hiền (Hoasen.edu.vn ngày 19/9/2012),
Phong hóa và những ước vọng xa vời của TS Hoàng Văn Quang (Bản tin số
255, Đại học quốc gia Hà Nội), Cải cách thôn quê - một chủ đề mang ý nghĩa
khai sáng trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn của PGS.TS Ngô Văn Giá
(Vietvan.vn, 11/9/2012), Tôi tìm lại Tự lực văn đoàn của TS Martina
Thucnhi Nguyễn (bbc.co.uk/Vietnamese, 25/9/2012)
Như vậy, chủ đề cải cách thôn quê của Tự lực văn đoàn trong các tác phẩm báo chí vẫn còn là một khoảng trống cần được nghiên cứu Đề tài mà
Trang 8tác giả luận văn lựa chọn không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước đây Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trước đây cũng sẽ là nguồn tư liệu quí giá cho tác giả luận văn có thể khảo cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu chủ đề cải cách thôn quê trong các tác phẩm báo chí của nhóm Tự lực văn đoàn nhằm tìm hiểu những giá trị tinh thần của chủ trương này và rút ra những bài học kinh nghiệm nghề nghiệp báo chí bổ ích cho những người làm báo đang viết về đề tài nông thôn, đặc biệt là đề tài về xây dựng nông thôn mới hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn cần phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Nghiên cứu lý luận về báo chí và tác phẩm báo chí
Nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam khi báo Phong hóa – Ngày nay ra đời và phát triển
Nghiên cứu về báo Phong hóa – Ngày nay
Nghiên cứu, khảo sát chủ đề cải cách thôn quê trong các tác phẩm báo chí của nhóm Tự lực văn đoàn trên báo Phong hóa – Ngày nay
Đánh giá những thành công và hạn chế của các tác phẩm báo chí viết
về chủ đề cải cách thôn quê trên báo Phong hóa – Ngày nay
Rút ra những bài học kinh nghiệm nghề nghiệp báo chí từ hoạt động báo chí của nhóm Tự lực văn đoàn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chủ đề cải cách thôn quê trong các tác phẩm báo chí của nhóm Tự lực văn đoàn trên báo Phong hóa – Ngày nay
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu
Các tác phẩm báo chí về chủ đề cải cách thôn quê trong tổng số 414 số của báo Phong hóa – Ngày nay, từ năm 1932 đến năm 1940 của nhóm Tự lực văn đoàn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận báo chí – truyền thông, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng nông thôn mới hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, nhằm đạt tới những mục đích đã đề ra Cụ thể:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: bao gồm các hình thức đọc, nghe, xem các tài liệu bằng văn bản, hình ảnh, băng từ, internet liên quan để tìm ra các tư liệu cần thiết phục vụ cho đề tài
Phương pháp thống kê được thực hiện với mục đích khảo sát tất cả các tác phẩm báo chí có liên quan đến đề tài cải cách thôn quê trên báo Phong hóa – Ngày nay
Các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Trên cơ sở các tư liệu
đã khảo sát, học viên sử dụng các phương pháp này để thực hiện mục đích nghiên cứu của mình
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Đóng góp về lý luận khoa học
Luận văn góp phần vào việc đánh giá một cách khách quan và công bằng
về một chủ đề báo chí có ý nghĩa khai sáng dưới thời thuộc Pháp – chủ đề cải
cách thôn quê của báo Phong hóa – Ngày nay
Trang 106.2 Đóng góp về thực tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo, bổ sung vào hệ thống tư liệu khoa học chung về lịch sử báo chí, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy
và học tập báo chí hiện nay
Từ việc rút ra những bài học kinh nghiệm nghề nghiệp báo chí, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho bất cứ ai đã, đang và sẽ bước vào nghề báo, đặc biệt hữu ích cho những nhà báo đang viết về đề tài nông thôn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
Luận văn gồm 3 chương
Trang 11Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TÁC PHẨM BÁO CHÍ VÀ GIỚI THIỆU
BÁO PHONG HÓA – NGÀY NAY
1.1 Những khái niệm cơ bản về báo chí và tác phẩm báo chí
1.1.1 Khái niệm báo chí
Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng (TTĐC), nhưng là
bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến TTĐC - trước hết phải nói đến báo chí
Báo chí là hiện tượng xã hội đa nghĩa, phức tạp và có nhiều cách tiếp cận không giống nhau trong các xã hội có thể chế chính trị khác nhau
Khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống trong tổng thể đang vận hành, báo chí cũng cần được tiếp cận từ quan điểm hệ thống: nhìn nhận báo chí như một tiểu hệ thống cấu thành hệ thống xã hội nói chung, trong đó, báo chí là một bộ phận cấu thành và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiểu hệ thống (hoặc hệ thống con)
Luật báo chí Việt Nam giải nghĩa:
Báo chí: là tên gọi chung đối với các loại hình: báo in, báo chí phát thanh, báo chí truyền hình, báo mạng điện tử
Báo in: là tên gọi loại hình báo chí được thực hiện bằng phương tiện in (Báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn)
Báo chí phát thanh: là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng phát thanh (chương trình phát thanh)
Báo chí truyền hình: là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng truyền hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện khác nhau)
Trang 12Báo mạng điện tử: là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin máy tính (Internet, Intranet) [36]
1.1.2 Khái niệm tác phẩm báo chí
Thuật ngữ “Tác phẩm” là danh từ gọi chung cho mọi loại tác phẩm: văn học, mỹ thuật, âm nhạc, khoa học, báo chí, kiến trúc…Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tác phẩm là một công trình do các nhà văn hóa – nghệ thuật, các nhà khoa học…tạo ra”[ 70, tr.851]
Các nhà nghiên cứu có rất những cách hiểu khác nhau về tác phẩm báo chí Nhà nghiên cứu H.Haas (Cộng hòa Liên bang Đức) đã viết: “Tác phẩm báo chí là các dạng bài viết phổ biến, thông dụng, với các chức năng khác nhau và có những đặc điểm chung về hình thức, cấu trúc và cả nội dung Tác phẩm báo chí được hình thành và được chứng minh trong lịch sử [60.tr.5]
Trong Tác phẩm báo chí, tập 1, các tác giả Tạ Ngọc Tấn và Nguyễn
Tiến Hài quan niệm: “Tác phẩm báo chí là một chỉnh thể, trong đó mối quan
hệ hữu cơ giữa nội dung và hình thức là quan hệ bên trong cơ bản của nó” [54, tr.7]
Các tác giả đã xem xét tác phẩm báo chí dưới góc độ văn bản học Tác phẩm báo chí được xem là “chỉnh thể”, bởi mỗi sự kiện cụ thể trong cuộc sống được chọn làm nội dung của tác phẩm, nhà báo phải lựa chọn cho nội dung ấy một hình thức chuyển tải phù hợp Ý kiến này đúng nhưng chưa đủ,
vì chưa khu biệt được sự khác biệt của tác phẩm báo chí với các loại tác phẩm khác (tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật…), bởi lẽ, bất cứ một tác phẩm nào – dù văn học, mỹ thuật, khoa học hay báo chí thì cũng đều bị ràng buộc trong mối quan hệ nội dung - hình thức dưới góc độ văn bản học
Tuy nhiên, các loại tác phẩm (văn học, báo chí, điện ảnh…) khác nhau
về bản chất (cả nội dung và hình thức), vì mục đích sáng tạo ra các loại tác phẩm ấy là khác nhau, cho những đối tượng tiếp nhận khác nhau Như vậy,
Trang 13những tác phẩm nào được đăng tải trên báo chí mà có nội dung chân thực và nhấn mạnh đến sự kiện thời sự nóng hổi, cập nhật, hoặc sự bày tỏ quan điểm, bàn luận về sự kiện thời sự đang diễn ra thì đó là tác phẩm báo chí Còn những tác phẩm nào cũng được đăng tải trên một sản phẩm báo chí nhưng chỉ nhấn mạnh về trí tưởng tượng và cảm xúc (như: tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, tạp văn, thơ…), hoặc chỉ làm dịch vụ (như: quảng cáo sản phẩm, giới thiệu việc làm, rao bán…) thì không gọi là tác phẩm báo chí, mà là tác phẩm văn học, tác phẩm làm dịch vụ, …)
Tại Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính Phủ, Chương 1, Điều 1, qui định: “Tác phẩm báo chí: là tên gọi chung cho tất cả các thể loại tin, bài, ảnh…đã được đăng, phát trên báo chí” [44, tr.42]
Theo Nghị định này, những tác phẩm được gọi là tác phẩm báo chí, trước hết phải là tác phẩm được “đăng tải trên báo chí” và mỗi tác phẩm báo chí có hình thức tương ứng là một thể loại báo chí cụ thể
Trong Giáo trình Tác phẩm báo chí đại cương xuất bản năm 2011, tái
bản lần 1 năm 2012, các tác giả Nguyễn Thị Thoa và Nguyễn Thị Hằng Thu
đã phân tích khá nhiều quan niệm khác nhau về tác phẩm báo chí, những điều
đã được qui định trong Luật báo chí và trong các văn bản qui phạm pháp qui khác về tác phẩm báo chí Vẫn trên cơ sở khẳng định chức năng cơ bản của tác phẩm báo chí là thông báo tin tức có thật và mỗi tác phẩm báo chí có hình thức tương ứng là một thể loại báo chí, các tác giả này đã chắt lọc những điểm tương đối tương đồng trong các quan niệm có từ trước, bổ sung những điểm còn thiếu (cả về quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài của tác phẩm báo
chí), từ đó đưa ra một khái niệm tương đối mở về Tác phẩm báo chí như sau:
“Tác phẩm báo chí là sản phẩm tư duy của phóng viên, nhà báo, lấy hiện thực khách quan (mang tính thời điểm) làm đối tượng nghiên cứu và phản ánh
Trang 14 Có hình thức tương ứng với nội dung thông tin (nội dung gồm: đề tài, chủ đề tư tưởng, chi tiết, chính kiến; hình thức gồm: kết cấu, ngôn ngữ, thể loại báo chí (thể loại báo chí gồm: tin, phỏng vấn, phóng sự, tường thuật, bình luận, bài phản ánh…)
Được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và là một
diện trên một sản phẩm báo chí
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm Tác phẩm báo chí của
cuốn Giáo trình Tác phẩm báo chí đại cương làm căn cứ qui chiếu để tìm ra
những tác phẩm báo chí của Tự lực văn đoàn trên Phong hóa – Ngày nay
1.1.3 Tác phẩm báo chí của nhóm Tự lực văn đoàn trên Phong hóa – Ngày nay
Dựa vào kiến thức báo chí và truyền thông được học trong nhà trường, căn cứ vào lý luận về tác phẩm báo chí và thể loại tác phẩm báo chí trong
Giáo trình Tác phẩm báo chí đại cương [60, tr.5-35 & tr.80-90] và kinh
nghiệm thực tiễn hoạt động báo chí của bản thân chúng tôi nhận thấy: ngoài tác phẩm văn học (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện tranh…), tác phẩm nghệ thuật (tranh biếm họa, ảnh nghệ thuật…), tác phẩm dịch vụ (quảng cáo sản phẩm, rao bán, nhắn tìm…), trên Phong hóa – Ngày nay còn hiện diện các tác phẩm báo chí thuộc các thể loại, như: Tin, Tường thuật, bài Phản ánh, Phóng sự, Bình luận,… Theo thống kê của tác giả, trong tổng số 414 số báo
Trang 15Phong hóa – Ngày nay thì số lượng tác phẩm báo chí được sử dụng trung bình trên mỗi số báo như sau:
Bảng 1: Số lượng tác phẩm báo chí trung bình trên một số báo Phong hóa – Ngày nay
Nguồn: Số liệu thống kê của tác giả Luận văn năm 2013
Tên báo Thể loại Tin
(tác phẩm)
Thể loại Tường thuật, bài Phản ánh
(tác phẩm)
Thể loại Phóng sự, phóng sự điều tra
(tác phẩm)
Thể loại Bình luận
(tác phẩm)
1.2 Lược sử báo Phong hóa - Ngày nay
1.2.1 Bối cảnh lịch sử ra đời của báo Phong hóa - Ngày nay
1.2.1.1 Bối cảnh về kinh tế - xã hội
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1929 - 1933 làm cho nền kinh tế xã hội của tất cả các nước tư bản chủ nghĩa đều bị đình trệ, nền dân chủ tư sản bị thủ tiêu và thay thế vào đó là nền chuyên chính của bọn phát xít Nước Pháp bước vào khủng hoảng có muộn hơn nhưng lại kéo dài và cũng như nhiều đế quốc khác muốn thoát khỏi tình trạng bi thảm của cuộc khủng hoảng, giới tư bản tài chính Pháp tìm cách trút hậu quả nặng nề của nó lên đầu nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa Đông Dương lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế từ rất sớm và ngày càng trầm trọng Nông nghiệp bị phá hoại nặng nề do giá nông sản bị sụt nhanh chóng: giá gạo từ 13,1 đ/tạ năm 1930 xuống còn 3,2 đ/tạ năm 1933; giá cao su
từ 20 france/kg năm 1929 xuống còn 4 france/kg năm 1931 Hàng ngàn hécta đồng ruộng bị bỏ hoang, hàng trăm đồn điền bị thu hẹp diện tích hoặc ngưng hoạt động Từ năm 1930 - 1933 diện tích đất hoang hóa từ 200.000 ha -
Trang 16500.000 ha Sản xuất gạo giảm từ 1.797.000 tấn năm 1928 xuống còn 959.000 tấn năm 1931
Sản xuất công nghiệp cũng bị đình đốn, nhất là ngành khai mỏ Hàng loạt nhà máy xí nghiệp đóng cửa, thương mại xuất nhập khẩu đều bị sút giảm, trị giá xuất khẩu giảm từ 18.000.000 đồng Đông Dương (năm 1929) chỉ còn 10.000.000 đồng Đông Dương (năm 1934), hàng vạn công nhân và lao động
bị sa thải hoặc nghỉ việc Để góp phần giải quyết khủng hoảng kinh tế ở chính quốc và giữ cho Đông Dương trong quỹ đạo thực dân, thực dân Pháp cho ngưng lại cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II theo quy mô lớn đang diễn ra, đồng thời chúng khẩn trương áp dụng những biệp pháp cấp thiết ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội Trước hết là việc Pháp cho thắt chặt hàng rào thuế quan, chỉ ưu tiên cho hàng hóa Pháp vào Đông Dương, kiên quyết giành độc quyền thương mại ở thị trường này Hàng Pháp vào Đông Dương từ chỗ chỉ chịu mức thuế thấp nhất (2,5%) đến việc miễn thuế hoàn toàn, trong khi hàng các nước vào thị trường này chịu thuế ngày một cao, có thứ phải nộp thuế 100% giá trị hàng hóa
Việc tăng thuế cũng là một biện pháp sớm được chú ý Thuế thân ở Bắc
Kỳ và Trung Kỳ tăng 20%, thuế môn bài tăng từ 3 - 8 lần Các biện pháp thu tài chính khác ở Đông Dương như mở công trái, lạc quyên, vay dài hạn… cũng được áp dụng, tất cả đã đem về cho ngân sách liên bang một nguồn thu lớn và tăng nhanh Chỉ tính năm 1930 có 17 khoản thu ngoài thuế đã đem về cho ngân sách 117.000.000 đồng Chính phủ Pháp còn quy định lại giá trị đồng bạc Đông Dương, tiến hành thu bạc cũ đổi bạc mới có lượng bạc kém hơn Chỉ tính khoản thu chênh lệch 7 gram/ đồng đã thu được 49.000.000 đồng
Đối với chủ tư bản người Pháp ở thuộc địa, chính quyền thực hiện “trợ cấp tài chính” để giúp họ khỏi bị phá sản Một số nhà tư bản được hợp nhất lại
cả vốn liếng vào quy mô kinh doanh, tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn để tồn tại và
Trang 17phát triển, nhất là trong các ngành trồng lúa, cao su, cà phê Trong quan hệ chủ
- thợ, chính phủ thực dân cho ban hành một số quy chế lao động mới như chế
độ lao động đới với phụ nữ, trẻ em, trách nhiệm vi phạm luật lệ lao động, hoà giải tranh chấp về lao động…, nhìn chung là các “qui chế” này chỉ nhằm bảo
vệ cho giới chủ tư bản, góp phần xoa dịu bởi mâu thuẫn của giới lao động
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội thuộc địa Việt Nam tiếp tục phân hóa, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp tiếp tục tăng lên Giai cấp nông dân và giai cấp vô sản là hai bộ phận đông đảo nhất trong
xã hội, cũng là hai đối tượng chủ yếu của chính sách bóc lột vơ vét của tư bản Pháp ở thuộc địa Họ lại có đời sống bị bần cùng hóa và hiện đang bị đe dọa trực tiếp bởi nạn chết đói, thất nghiệp không có cách nào chống đỡ Người Pháp lúc đó đã tận mắt nhìn thấy và loan báo “người ta có thể cầm chắc là nông dân sống ở cái mức cùng cực của đói kém và nghèo khổ”, còn công nhân thì những người chưa bị sa thải có đồng lương “không bao giờ vượt quá
từ 2 - 2,5 france/ ngày (tức là 20 - 25 xu/ ngày) Trong các xưởng dệt ngày làm việc từ 7 giờ sáng đế 9 giờ tối, ở các đồn điền công nhân phải làm việc từ
15 - 16 giờ một ngày…” Do đó các tầng lớp lao động như nông dân, thợ thủ công, vô sản, cùng những người làm nghề tự do ở cả thành thị và thôn quê, đều mong muốn đấu tranh cải thiện đời sống và chống lại xã hội thuộc địa Song ngay cả trong giai cấp địa chủ, tư bản và tầng lớp thượng lưu bản xứ cũng có những bộ phận gặp nhiều khốn khó vì bị phá sản, bị chèn ép, bị vỡ nợ bởi thuế má ngày một cao và không đủ sức cạnh tranh với tư bản Pháp Từ năm 1929 - 1933 ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn có 502 vụ án khánh tận và 160 vụ án phát mãi tài sản Đó cũng là lúc các thuộc địa nói chung, Đông Dương nói riêng, từ trong cùng cực của đời sống kinh tế, phải giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại bang bằng chính sức mạnh của mình Đông Dương trong cuộc khủng hoảng kinh tế không còn bình yên như trước
Trang 18nửa, đã trở thành một Đông Dương sôi động trong sự phân hóa của xã hội thuộc địa Điều kiện vật chất xã hội ấy là cơ sở cho sự phát triển các tư tưởng mới đang du nhập vào Việt Nam
1.2.1.2 Bối cảnh về văn hóa – chính trị
Đầu thế kỷ 20, mặc dù bị đàn áp, nhưng các phong trào yêu nước, như Đông du (Phan Bội Châu khởi xướng từ năm 1904 -1908), phong trào Duy tân (Phan Chu Trinh khởi xướng từ 1906-1908), mở trường Đông kinh nghĩa thục (Lương Văn Can đứng ra tổ chức, năm 1907), phong trào chống thuế ở Trung kỳ và vụ đầu độc quân Pháp ở Hà Nội (năm 1908), cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1908 -1913)…vẫn thay nhau nổ ra, khiến thực dân Pháp phải tính toán lại các chính sách cai trị nhằm đánh vào ý thức dân tộc của người bản xứ
Sự tác động về văn hóa, chính trị, tư tưởng, quân sự của các phong trào trên đối với xã hội là rất lớn Mặc dù đều thất bại, nhưng các phong trào yêu nước vẫn thay nhau bùng nổ khiến người Pháp phải tính toán lại các chính sách cai trị nhằm đánh vào
ý thức dân tộc của người bản xứ Ông G.Dumoutier, Thanh tra Giáo dục Bắc kỳ đã từng nhận định rằng, muốn thay đổi hình dáng, màu sắc của một cái cây, không thể bắt đầu với cái cây đã phát triển hoàn toàn, mà phải tác động từ hạt giống Muốn biến đổi một dân tộc cũng phải làm như vậy Nếu chúng ta muốn đặt được vĩnh viễn ảnh hưởng của nước Pháp trên phần đất này của thế giới thì phải làm cho họ tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta, dạy cho họ tiếng nói của chúng ta, phải bắt đầu từ nhà trường và chú ý trước tiên đến trẻ em…[52]
Để thu phục được tinh thần người Việt, họ lập ra tờ Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong tạp chí (1917) , cốt để tuyên truyền mạnh mẽ chính sách cai trị của thực dân Pháp, phê phán các phong trào yêu nước, tẩy chay lối học
cũ, và đề cao văn hóa, khoa học phương Tây
Trang 19Đến khi chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) kết thúc, ở Việt Nam bắt đầu rộ lên các phong trào sáng tác văn chương theo lối mới (chủ yếu theo
lề lối của Pháp), và báo chí là phương tiện truyền tải văn chương chủ yếu của thời kỳ này Trong số những tờ báo chuyên về văn chương thời đó, có lẽ để lại dấu ấn đậm nhất là hai tuần báo Phong hóa - Ngày nay của nhóm Tự Lực văn đoàn, mà người đứng đầu là nhà văn Nguyễn Tường Tam
Với chủ trương duy tân và cấp tiến, báo Phong hóa – Ngày nay lấy “trào phúng làm phương pháp, tiếng cười làm vũ khí”, để chỉ ra và thúc đẩy người dân trút bỏ những tập tục cũ, lạc hậu, đi vào con đường Âu hóa từ vật chất đến tinh thần Những tác phẩm báo chí luận bàn về thời sự xã hội, chính trị, kinh tế của Tự lực văn đoàn đã chứng tỏ nhóm làm báo Phong hóa – Ngày nay rất quan tâm đến xã hội, đến việc “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như tinh thần của nhà ái quốc Phan Chu Trinh đã bàn đến hồi đầu thế kỷ 20
1.2.2 Tiến trình phát triển của báo Phong hóa – Ngày nay
Trang 20Cộng sản Việt Nam, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Thực dân Pháp đã đàn
áp hết sức dã man các phong trào này Hàng loạt nhà yêu nước rơi vào cảnh tù đày Mọi hình thức đấu tranh vũ trang hầu như bị triệt tiêu Đúng vào lúc ấy, Nguyễn Tường Tam về nước Trong khoảng thời gian sống tại Pháp, ngoài việc học khoa học, ông còn chuyên tâm nghiên cứu về nghề báo và ông nhận thấy loại báo trào phúng là khá thích hợp với sở thích của nhiều người
Vì vậy, ngay sau khi về nước Nguyễn Tường Tam đã làm thủ tục để xin
phép ra tờ báo Tiếng cười
Tuy nhiên, việc xin phép ra báo Tiếng cười không thành, bởi chính
quyền thực dân luôn tìm cách trì hoãn việc cấp phép Đúng lúc đó ông biết tin người bạn của mình dạy ở trường Thăng Long là Phạm Hữu Ninh đang làm quản lý cho tờ Phong Hóa, đã ra 13 số báo, nhưng sắp sửa phải đình bản
vì không có gì mới mẻ để bạn đọc chú ý Chớp thời cơ, Nguyễn Tường Tam ngỏ ý mua lại Sau đó, ông Tam, với vai trò Giám đốc tờ báo, liền cùng với một nhóm anh em bạn hữu gồm có: Khái Hưng (Trần Khánh Giư, vốn là cây bút cốn cán giữ nhiêu mục quan trọng trên báo Phong Hóa suốt từ số 1 cho đến số 13), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), tạo thành một ban biên tập hoàn toàn mới Bắt đầu ngày 22 tháng 09 năm 1932, báo Phong Hóa số 14 ra 8 trang khổ lớn, được đánh giá là “một quả bom nổ giữa làng báo” Từ lúc này, Phong hóa chuyển hướng thành một tờ báo chuyên về văn hóa, nghệ thuật, mang đậm tính trào lộng
Phong hóa số 14 (22/9/1932), số đầu tiên do Nguyễn Tường Tam làm chủ bút) ghi rõ tôn chỉ, mục đích:
Hăng hái theo con đường mới, tìm lí tưởng mới
Không chịu khuất phục thành kiến
Không làm nô lệ ai, không xu phụng một quyền thế nào
Trang 21 Lấy lương tri mà xét đoán, theo lẽ phải mà hành động
Lấy thành thực làm căn bản
Lấy trào phúng làm phương pháp, tiếng cười làm vũ khí [52] Với mục đích phát triển lâu dài và tạo dựng vị thế trong làng báo, ngay khi vừa nắm tờ báo trong tay, Nguyễn Tường Tam đã rất chú trọng đến việc công tác nhân sự Ngoài mấy anh em trong nhà là Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), Nguyễn Tường Bách, ông còn mời nhiều cây bút nổi tiếng, đang “ăn khách” thời bấy giờ về làm cho Phong Hóa, như Trần Khánh Giư (Khái Hưng), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ), sau có thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu (em Trần Khánh Giư), Thế Lữ Nhiều người có bài cộng tác chặt chẽ, thường xuyên với Phong Hóa như Trọng Lang, Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ…
Vì vậy, ngay từ những số đầu tiên, Phong hóa đã thổi một luồng gió mới đầy sinh khí vào lòng bạn đọc, được đông đảo nhân dân khắp 3 miền hoan nghênh, ủng hộ
Báo in 8 trang khổ lớn Mặc dù giá bán khá cao so với những
tờ báo cùng thời (7 xu) nhưng Phong hóa liên tục phải tăng lượng
in Báo thường in 5000 bản nhưng có những số phải in tới 1 vạn bản (kỉ lục lúc bấy giờ) mà vẫn bán hết Bạn đọc thích Phong hóa, bởi tờ báo này tập trung phê phán những thói hư tật xấu, những tập tục lạc hậu, cổ hủ, hô hào Âu hóa, thúc đẩy phát triển văn học nghệ thuật theo lối mới Những nội dung này ít nhiều cũng đáp ứng được
kì vọng của nhân dân Cũng chính sự ủng hộ của bạn đọc là động lực thúc đẩy anh em Nguyễn Tường Tam tích cực khai phá các nội dung mới, tìm tòi những phương thức thể hiện sao cho hấp dẫn, dễ hiểu nhằm nâng cao dân trí và bán được nhiều báo
Trang 22Không khí làm báo Phong hóa đã được Tú Mỡ kể lại:
“Mỗi tuần lễ, tôi đến họp mặt với các anh từ tối thứ bảy, bàn soạn về việc viết lách cho báo, cặm cụi viết vẽ suốt cả ngày chủ nhật; mệt nhọc thì ra sân đá cầu, đánh bóng bàn để giải trí Thế là bước đầu chúng tôi có một “trại sáng tác” tuy còn nhỏ… Các anh có một sức làm việc ghê gớm, đáng phục, làm ngày làm đêm, tốn khá nhiều
cà phê, thuốc lá, làm việc đến rạc cả người, hom hem, xanh xám như Khái Hưng, ai không biết cứ tưởng là “dân làng bẹp” [52]
Để chủ động trong các khâu in ấn, sinh hoạt văn chương và chống lại
sự ép giá của các đầu nậu, đồng thời cải thiện đời sống cho anh em, Nguyễn Tường Tam cùng mọi người trong tòa soạn bàn bạc quyết định lập
Tự lực văn đoàn và gây dựng Nhà xuất bản Đời Nay thông qua hình thức đóng góp cổ phần
Mặc dù Tự Lực văn đoàn chính thức tuyên bố thành lập vào tháng 3 năm
1934, song, trên thực tế nó đã hình thành từ cuối năm 1932 Với cơ quan ngôn
luận là báo Phong Hóa, họ làm một cuộc cải cách xã hội bằng tiếng cười trào
phúng Họ đem những thói hư tật xấu và những hành vi đáng cười của những nhân vật “tai to mặt lớn” trong nhiều giới ra chế giễu Nhân vật Lý Toét, Xã Xệ
và Bang Bạnh như là ba kiểu người điển hình của mọi thứ tệ lậu này Bên cạnh
đó, các khuynh hướng sáng tác (như khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng hiện thực, ) đều đã có mặt, nhưng khuynh hướng bình luận – bút chiến chống phong kiến là nổi trội hơn cả Theo GS Dương Quảng Hàm, tác phẩm tiêu biểu
nhất của khuynh hướng này là cuốn Đoạn tuyệt (1934) và Lạnh lùng (1936)
Làm báo Phong hóa được khoảng 2 năm, Nguyễn Tường Tam xin phép
ra thêm tờ tuần báo Ngày nay (số đầu tiên ra ngày 30 tháng 1 năm 1935) nhưng để Nguyễn Tường Cẩm (là một công chức, anh của ông Tam) đứng tên Ban đầu, báo không có mục trào phúng, nhưng có mục phóng sự điều tra
Trang 23với nhiều hình ảnh đẹp, rất mỹ thuật Đây là sự mới lạ đối với độc giả lúc bấy giờ, nên rất được hoan nghênh Nhưng vì ấn loát quá tốn kém, lại phải chia sức người ra để làm, nên báo Ngày nay chỉ ra được 13 số thì phải đình bản
Sau số 150, ngày 31 tháng 5 năm 1935 báo Phong hóa bị đóng cửa ba tháng (số cuối 190 ra ngày 5 tháng 6 năm 1936), báo Ngày nay lại ra thay Nguyên nhân tại sao bị đóng cửa được bàn tán rất nhiều, do bài đả kích Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Tiến Lãng, hay vì loạt bài Hậu Tây Du Ký…? Nhưng thực ra vì tất cả, bởi vì Phong hoá dám đả kích các quan lại Nam triều Phong hoá trở nên một tờ báo thành công, được công chúng yêu thích nhất trên văn đàn, số in ra đã tới một vạn bản, xưa nay không có đối thủ
Tờ Ngày nay - trước đã ra kèm với Phong hóa - lại tiếp tục hoạt động
và dần thay thế Phong hóa Khi tục bản, báo chỉ có hai phần chính là “tiểu thuyết” và “trông tìm”, không có phần “trào phúng”, vì nó là nguyên nhân khiến tờ Phong hóa bị rút giấy phép Tuy nhiên, đến cuối năm 1936, vì thời cuộc thay đổi (nổ ra phong trào lập kiến nghị để chờ đón Ủy ban điều tra của Chính phủ bình dân Pháp phái sang), Tự Lực văn đoàn lại cho mở lại mục trào phúng nhưng giảm bớt so với trước, gọi là “cười nửa miệng” thôi
1.2.2.2 Giai đoạn 1937 – 1940
Bước sang những năm 1937- 1939, tờ Ngày nay trở thành một tờ báo chính trị, với những bài xã luận đanh thép của Hoàng Đạo, đề cập đến những vấn đề cấp thiết của thời đại Ngoài ra, đây cũng là nơi Tự lực văn đoàn cổ động cho phong trào Ánh Sáng (mục đích cải tạo nếp sống ở nông thôn) của họ Sau nhiều năm tháng chuẩn bị, ngày 16 tháng 8 năm 1937, Hội Ánh Sáng của Tự Lực văn đoàn ra đời Đây là một hình thức tổ chức “cải cách xã hội một cách êm thấm trong phạm vi luật pháp” (lời Hoàng Đạo), nhằm tập hợp đông đảo những người từ tâm trong nước, cùng nhau góp một phần công của để triệt phá dần những nhà ổ chuột, xây dựng những ngôi nhà kiểu mới hợp vệ sinh giá rẻ cho dân nghèo, đồng thời tiến hành các hoạt động cứu tế xã hội, v.v
Trang 24Ở giai đoạn này Tự lực văn đoàn cũng đã mở rộng cửa hơn để đón nhận thêm nhiều văn nghệ sĩ có tài khác như: Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Huy Cận, v.v Sau số 224 (ra ngày 07 tháng 09 năm 1940), báo Ngày nay bị nhà cầm quyền đóng cửa vĩnh viễn
Từ khoảng năm 1937, không khí của Chiến tranh thế giới thứ hai tác động mạnh đến đời sống xã hội Việt Nam Năm 1940, khi Nhật vào Đông Dương, Nguyễn Tường Tam và một số thành viên trong nhóm chuyển sang hoạt động chính trị
Cuối năm 1940, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí bị thực dân Pháp bắt giam rồi đày lên Sơn La Năm 1942, Nguyễn Tường Tam trốn sang Trung Quốc, Thạch Lam mất vì bệnh lao phổi tại Hà Nội
1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của báo Phong hóa – Ngày nay
1.3.1 Bộ máy quản lý
Theo di cảo viết tay “Đời làm báo” của Nguyễn Tường Tam - Nhất Linh, do Nguyễn Tường Thiết, con trai Nhất Linh cung cấp, có thể thấy sự tồn tại của Phong hóa – Ngày nay gắn chặt với sự phân công công việc rất rõ ràng trong tòa soạn Tự Lực Văn Đoàn gồm có bảy người, đó là:
Nguyễn Tường Tam - Trưởng đoàn - Bút hiệu: Nhất Linh, Đông Sơn, Tam Linh, Bảo Sơn, Lãng Du, Tân Việt, là Giám Đốc và Chủ bút báo Phong Hóa – Ngày Nay
Trần Khánh Giư - Bút hiệu: Khái Hưng, KH, Nhị Linh, Nhát Dao Cạo, Hàn Đãi Đậu, Bán Than
Nguyễn Tường Long - Bút hiệu: Tứ Ly, Hoàng Đạo, Tường Vân, Đạo Danh Phúc Vân
Nguyễn Đình Lễ tức Thứ Lễ - Bút hiệu: Thế Lữ, Lê Ta
Nguyễn Tường Lân - Bút hiệu: Thạch Lam, Việt Sinh, Thiện Sĩ
Hồ Trọng Hiếu - Bút hiệu Tú Mỡ
Trang 25 Ngô Xuân Diệu - Bút hiệu Xuân Diệu
Trước những diễn biến mới của tình hình chính trị xã hội yêu cầu các tờ báo phải có những thay đổi để tồn tại Từ tháng 7 năm 1936 , trên trang đầu, dưới chữ Ngày nay, có chữ Tiểu thuyết, Trông tìm, coi như hai nội dung của báo Đến số 25 ngày 13 tháng 9 năm 1936 có thêm: Tiểu thuyết, Trào phúng, Trông tìm Mục "Tiểu thuyết", lúc đầu đăng 4 kỳ hết một chuyện dài do Khải Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ phụ trách Mục
"Trào phúng" có thơ châm biếm của Tú Mỡ và các tiểu phẩm khác… Mục
"Hạt sạn" nhặt những từ ngữ lủng củng trên các báo khác để phê bình Mục
"Trông Tìm" bàn về các vấn đề chính trị,xã hội, văn hóa về sau có chuyên mục tiểu phẩm "Bùn lầy nước đọng" nói về cuộc sống của nhân dân nông thôn, và "Trước vành móng ngựa" về những chuyện lố lăng trước tòa án Từ năm 1937, báo đề cập đến những vẫn đề chính trị ngày càng nhiều: tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, những vấn đề thuộc về thuộc địa và
tự trị, đứng về phía mặt trận dân chủ trong đấu tranh cử vào Viện dân biểu Bắc Kỳ…
Ảnh trang đầu di cảo viết tay Đời làm báo của tác giả Nhất Linh
Trang 26Nguyễn Tường Cẩm làm giám đốc Ngày nay 5 số đầu, sau đó là Nguyễn Tường Lân, rồi đến Nguyễn Kim Hoàn Sau này, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Thạch Lam lần lượt thay phiên nhau làm chủ bút báo Ngày nay
1.3.2 Chủ bút và cộng tác viên của báo
Ban đầu, các cây bút trụ cột gồm có 7 thành viên Sau này thêm một số nhà văn, nhà thơ khá nổi tiếng, như: Huy Cận, Trọng Lang, Đoàn Phú Tứ, Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Phạm Cao Củng, Nguyễn Khắc Hiếu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Đinh Hùng, Nguyễn Công Hoan, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Tường Bách và các họa sĩ, như: Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường, Lê Minh Đức (tạo ra nhân vật Xã Xệ), v.v
Khuynh hướng sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn chủ yếu là lãng mạn
và hiện thực Tự lực văn đoàn là nhóm văn do Nhất Linh đứng đầu, có tôn chỉ, mục đích hoạt động cụ thể rõ ràng (xem Phong hóa số 87) Cơ quan ngôn luận ban đầu của nhóm là tờ báo Phong hóa – số 14 (22/09/1932) sau chuyển sang Ngày nay Đa số các thành viên nhóm Tự lực văn đoàn là những trí thức Tây học, trẻ tuổi Họ chịu ảnh hưởng của văn chương tiến bộ Pháp, chủ trương làm một cuộc cải tổ xã hội
Vừa mới ra đời, bằng hàng loạt bài viết, tranh ảnh khá ấn tượng, Phong hóa đã bắt đầu cuộc tuyên chiến với Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp chí, hai tờ báo đang thịnh hành lúc bấy giờ Họ triệt để chống tư tưởng nệ cổ của các nhà Nho như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Tăng Bí, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Trọng Thuật, … Cũng trên tờ báo này, các nhà văn Tự lực văn đoàn cho trình diện làng văn những tác phẩm rất mới mẻ từ nội dung, tư tưởng đến cốt truyện, cách hành văn: Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Đôi bạn, … Tự lực văn đoàn là nhóm văn học lãng mạn duy nhất ở nước ta từ năm 1932 đến 1940 có thể chiếm được vị trí ưu thế trên văn đàn công khai, thông qua việc đăng tải các tác phẩm của mình trên
Trang 27Nguyễn Tường Tam (1906-1963)
báo Phong hóa – Ngày nay Sách báo của nhóm Tự lực in đẹp nên bán rất chạy Đa số công chúng đánh giá cao sự đổi mới về ngôn ngữ thơ ca hay nghệ thuật tiểu thuyết của những nhà văn này Họ thật sự là một nhóm nòng cốt của trào lưu văn học lãng mạn trong những năm 1930 – 1945 Trường Chính đã từng nhận định: “Trong vòng tám năm, từ 1932 đến 1940, Tự Lực Văn Đoàn chiếm ưu thế tuyệt đối trên văn đàn công khai; sách báo họ in đẹp nhất, bán chạy nhất.” [6, tr 398,]
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, xét ở khía cạnh văn hóa, Tự lực văn đoàn còn có nhiều đóng góp hơn nữa Đó chính là khả năng phản ánh chân thật hiện thực của cuộc sống và số phận con người, của xã hội, của văn hóa dân tộc, từ đó hướng sự phát triển đến những giá trị tốt đẹp hơn
1.3.3 Một số cá nhân tiêu biểu của báo Phong hóa – Ngày nay
1.3.3.1 Nguyễn Tường Tam – Nhất Linh
Trong gia đình Nguyễn Tường, chỉ
duy nhất người anh cả Nguyễn Tường
Thụy là công chức ngành bưu điện không
dính líu đến văn nghệ và chính trị, 6 người
còn lại: Nguyễn Tường Cẩm, Nhất
Linh-Nguyễn Tường Tam, Tứ Ly Hoàng Đạo -
Nguyễn Tường Long, Nguyễn Thị Thế,
Thạch Lam-Nguyễn Tường Lân và bác sĩ
Nguyễn Tường Bách đều tham dự vào văn
chương và chính trị Nguyễn Thị Thế đã
viết hồi ký về gia đình Nguyễn Tường và
anh em Nhất Linh - những người có đóng
góp tích cực trong việc viết lách và quản trị các cơ sở báo chí, xuất bản, nhà
in của Tự Lực Văn Đoàn
Trang 28Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam, bút hiệu là: Đông Sơn, Tam Linh, Bảo Sơn, Lãng Du, Tân Việt Ông giữ chân Giám đốc kiêm Chủ bút tờ Phong Hóa và Thủ lĩnh Tự Lực Văn Đoàn Người gốc làng Cẩm Phô, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1906, tại huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, nguyên vì từ đời ông nội ra làm tri huyện ở Cẩm Giàng, gia đình đã định cư luôn tại đây
Năm 1923 Nguyễn Tường Tam thi đậu bằng Thành Chung Vì chưa đến tuổi vào trường cao đẳng, nên ông đi làm thư ký cho Sở Tài chính Hà Nội Tại đây ông quen thân với Hồ Trọng Hiếu – chính là nhà thơ Tú Mỡ sau
này Thời gian này, ông viết Nho Phong là cuốn tiểu thuyết đầu tiên, rồi lấy
vợ Năm 1924 ông vào trường Y khoa, nhưng học được mấy tháng, ông bỏ trường Y để thi vào trường Mỹ thuật, nhưng học ở đây được một năm rồi cũng bỏ
Năm 1926, Nguyễn Tường Tam vào Nam, gặp Trần Huy Liệu, Vũ Đình Di, định cùng nhau làm báo nhưng vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh, hai người này bị bắt, Nguyễn Tường Tam phải trốn sang Cao Miên, sống bằng nghề vẽ tranh để bán và vẽ phông màn cho các rạp hát Năm 1927 ông đi du học Pháp và đậu cử nhân khoa học về Lý Hóa Ở Pháp ông nghiên cứu về nghề báo và nghề xuất bản, đồng thời dành nhiều thì giờ nghiên cứu văn học Pháp và của các nước khác
Năm 1930 trở về nước, Nguyễn Tường Tam cùng hai em là Hoàng Đạo
và Thạch Lam xin ra tờ báo trào phúng Tiếng Cười, nhưng thiếu tiền, chưa ra được báo thì giấy phép quá hạn, bị rút
Từ 1930 đến 1932, Nguyễn Tường Tam dạy tư ở các trường Thăng Long và Gia Long Ở đây ông quen với Trần Khánh Giư - Khái Hưng Sẵn có
tờ Phong hóa của giáo sư Phạm Hữu Ninh sắp đình bản, ông mua lại và tiếp tục xuất bản tờ Phong hóa
Trang 29Kể từ ngày 22 tháng 9 năm 1932, báo Phong hóa số 14 ra tám trang lớn, có ban biên tập mới chịu trách nhiệm Nguyễn Tường Tam vừa là giám đốc cùng chủ bút, vừa là một cây viết rất tích cực và tài hoa Các truyện ngắn, truyện dài của ông xuất hiện đều đặn trên báo Phong hoá - Ngày nay trong suốt 9 năm Ông là văn hào của Việt Nam thời đó, với số lượng sách to lớn, rất có giá trị và được đông đảo người đọc hâm mộ
Báo Phong hoá chú trọng về văn chương và trào phúng Về minh hoạ cho báo, thoạt đầu chính Đông sơn Nhất Linh lo, ông vẽ cả những tranh vui cười Sau ông tạo ra nhân vật Lý Toét (PH số 48, 1933) ngày càng chuyên nghiệp hơn, rất nổi tiếng Hơn một năm sau, hoạ sĩ Bút Sơn ở Sài gòn sáng tác ra nhân vật Xã Xệ (PH số 89, 1934) Sau lại có nhân vật Bang Bạnh và Ba Ếch của Nguyễn Gia Trí thêm vào Bốn nhân vật này đã cùng ban biên tập hoạt động trên báo suốt từ 1933 tới 1940, không nhường bước một ai Tự lực văn đoàn dùng một lối văn bình dị, ít sử dụng chữ Hán, nhờ thế văn quốc ngữ trở nên trong sáng, nhiều người thích đọc
Về vai trò lãnh đạo của Nhất Linh, Tú Mỡ kể lại:
Anh Tam thuê một cái nhà nhỏ ở ấp Thái Hà để mấy anh em làm việc Tôi đi làm thì chớ, về đến đấy bàn bạc về cái tôn chỉ của nhà báo và soạn bài vở dự bị cho đủ in trong sáu tháng Anh Tam vừa viết, vừa vẽ Anh đặt ra mục này, mục nọ, giao cho mọi người Anh có lối làm việc rất khoa học Anh đã giao cho ai việc gì thì chỉ có chuyên việc ấy Nhiều lúc tôi muốn viết những bài thuộc về loại khác, anh khuyên chỉ nên chuyên về một lối Có lẽ là một điều rất hay cho chúng ta Tôi có thể nói, anh Tam là người đã tạo ra Tú
Mỡ vậy [56]
Nhà văn Trương Bảo Sơn mô tả phong cách làm báo của Nhất Linh:
Trang 30Anh bỏ hết mọi việc để làm báo: anh say mê tổ chức tòa soạn, nhà in, làm quảng cáo, soạn thảo và lựa chọn bài vở, vẽ tranh ảnh, thôi thúc anh em làm việc, chia công tác cho từng người Việc
gì anh cũng nghĩ tới một cách chu đáo và tất cả hướng vào một tôn chỉ, một mục đích rõ ràng là bài phong đả thực, xây dựng một đời sống mới, một xã hội mới, một nền quốc văn mới [47]
Tháng 12 năm 1936, trên báo Ngày nay, Nhất Linh phát động phong trào Ánh Sáng cùng nhóm Tự Lực, chống lại các nhà ổ chuột ở các khu lao động
Năm 1939 Nguyễn Tường Tam lập đảng Hưng Việt, sau đổi thành Đại Việt Dân Chính Hoạt động chống Pháp của ông trở thành công khai
Năm 1941, Nhất Linh chạy sang Quảng Châu, sau đó Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt, bị đưa lên Vụ Bản, Hoà Bình, đến 1943 mới được thả Năm 1942 Thạch Lam mất tại Hà Nội vì bệnh lao Hoàng Đạo
và Nguyễn Tường Bách sang Trung hoa Hoàng Đạo mất ở Quảng Châu tháng 8 năm 1948 trên một chuyến xe hoả
Sau những biến động, Nhất Linh ở lại Hương Cảng 4 năm và bắt đầu trở lại văn chương, ông viết nhiều lần Xóm Cầu Mới Năm 1951, Nhất Linh trở về Hà Nội, tuyên bố không thuộc đảng phái nào, không hoạt động chính trị Vào Nam, thường sống ở Đà Lạt Ông mở nhà xuất bản Phượng Giang, tái bản sách Tự lực văn đoàn Năm 1958 về Sài Gòn, cho ra tờ Văn Hóa Ngày Nay, phát hành được 11 số thì đình bản vì bị chèn ép của Chính phủ trong Nam thời đó Dính líu đến vụ đảo chính ngày 11 tháng 11 năm 1960, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm gọi ra xử ngày mùng 8 tháng 7 năm 1963
Để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự tử ngày mùng 7 tháng 7 năm 1963, trước khi bị xử một ngày
Trang 31Trần Khánh Giư (1896-1947)
1.3.3.2 Trần Khánh Giư – Khái Hưng
Khái Hưng tên thật là Trần Dư, hoặc
Trần Giư, Trần Khánh Giư Từ các âm chính
của tên Khánh Dư ông dùng một phép “nói lái
vui” thành Khái Hưng Ông còn có bút hiệu
khác là Nhị Linh, KH, Nhát Dao Cạo, Hàn Đãi
Đậu, Bán Than
Khái Hưng sinh năm 1896, trong một gia
đình quan lại tại Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Dương,
nay thuộc Hải Phòng Bố ông có năm bà vợ nên
nhiều dòng con cháu Thuở nhỏ ông bị bà dì
ghẻ ác nghiệt hành hạ tàn nhẫn Ông được đi
học chữ nho với thày đồ Lớn lên, học chữ Pháp tại trường trung học tây Albert Saraut, Hà Nội Sau khi đỗ tú tài I, ông không đi học tiếp, về mở đại lý bán dầu hỏa ở Ninh Giang Được ít lâu, Khái Hưng lên Hà Nội đi dạy cho trường tư thục Thăng Long của ông Phạm Hữu Ninh Khái Hưng gặp Nhất Linh tại đây Hai người cùng lý tưởng văn học và xã hội nên đã trở thành một đôi bạn tri kỷ, dù rằng Nhất Linh kém Khái Hưng 10 tuổi
Năm 1932, Khái Hưng tham gia vào ban biên tập tờ Phong hóa, nhanh chóng trở thành một trong các cột trụ của báo Các tác phẩm của ông từ 1932 tới 1940 thường đăng trên Phong hóa và Ngày nay, sau đó một phần được nhà xuất bản Đời Nay của Văn Đoàn in thành sách Những sách truyện của ông rất được công chúng hâm mộ
Sau khi báo Ngày nay bị thực dân Pháp đóng cửa 1940, Khái Hưng và Thạch Lam ra tờ Chủ Nhật, nhưng bị rút giấy phép sớm Sách Xuân Đời Nay cũng chỉ ra được một tập Năm 1941, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí và một số bạn bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam tại Hà Nội, sau bị đưa đi an trí ở Vụ Bản, Hòa Bình, tới năm 1943 mới được tha Năm 1945,
Trang 32Nguyễn Tường Long (1907-1948)
Khái Hưng cùng Hoàng Đạo, và Nguyễn Tường Bách cho ra tờ Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới, được 16 số thì đình bản Khái Hưng còn viết một số truyện ngắn, kịch ngắn trên các báo thời đó
Về gia đình - bà Khái Hưng tên là Lê Thị Hòa, hiệu là Nhã Khanh, hiểu biết chữ nho sâu rộng, người làng Dịch Diệp, Trực Ninh, Nam Định Bố là một vị Thượng Thư triều Nguyễn, gia đình rất khá giả, nên bà có ruộng nương
kế tự, lại khéo léo thu vén nên đã giúp nhiều cho kinh tế gia đình Ông bà sống rất thuận hòa, tuy hai người hiếm muộn, không con Nhất Linh đã cho Khái Hưng một đứa con trai của mình: Nguyễn Tường Triệu thành Trần Khánh Triệu Khái Hưng mất tích sau Tết Ðinh Hợi 1947 Khi biết ông đã qua đời, bà Khái Hưng trở bệnh tim nặng và từ trần năm 1954
1.3.3.3 Nguyễn Tường Long – Hoàng Đạo (1907 – 1948)
Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường
Long, các bút hiệu khác: Tứ Ly, Tường Vân,
đôi khi ký Phúc Vân (tên quy y Phật pháp) Ông
sinh ngày 16/11/1907, tại làng Hàn Giang,
huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Thuở nhỏ
Nguyễn Tường Long học trường huyện, tên là
Nguyễn Tường Tư (chính ra là Tứ), sau không
đủ tuổi để đi thi, gia đình khai thêm bốn tuổi
đổi tên thành Tường Long và đổi ngày sinh
(trên giấy khai sinh) thành 3/4/1903
Năm 1924, đậu bằng Cao đẳng tiểu học
Pháp và đỗ vào trường Luật Đông Dương tại Hà
Nội Năm 1927 ông tốt nghiệp trường Luật và vào làm tham tá Ngân khố Hà Nội Ông vẫn tiếp tục học thêm Năm 1929, đậu tú tài Pháp, làm tham tá lục sự trong các toà án Chính quyền Bảo Hộ Pháp ở các tỉnh Trung, Nam và Bắc
Trong thời gian này, có lần đã được bổ tri huyện, nhưng ông từ chối Nguyễn Tường Long lập gia đình với cô Marie Nguyễn Bình (1913-1975),
Trang 33được bốn người con: hai trai, hai gái Năm 1932, Nguyễn Tường Long đang làm việc ở Sài Gòn, được đổi về Hà Nội, cùng làm tờ Phong hoá với anh mình
Trên Phong hoá, Nguyễn Tường Long lấy bút hiệu là Tứ Ly (giờ xấu nhất trong ngày), viết những bài đả kích châm biếm toàn bộ hệ thống quan lại của chính quyền thuộc địa và Triều đình Huế, bài trừ hủ tục trong xã hội Việt Nam Những bài bình luận thời sự của ông, dẫn dắt tờ báo, điều khiển linh hồn cả hai tờ Phong hoá và Ngày nay
Ông có đồng quan điểm với Nhất Linh, chủ trương diệt ngu dốt, đả phá những phong tục cổ hủ, nâng cao dân trí và triệt để theo lối sống mới Bình luận của ông rất sắc bén và gây ảnh hưởng sâu đậm tới thanh niên thời bấy giờ Năm 1934, ông trở thành một trong bảy thành viên đầu tiên của Phong hóa
Nguyễn Tường Long đổi bút hiệu thành Hoàng Đạo (Giờ tốt nhất trong
ngày) Ông hoàn tất những hồ sơ lớn về Vấn đề thuộc địa, Vấn đề cần lao,
Công dân giáo dục, phụ trách mục: Người và Việc Ông thực hiện Trước vành móng ngựa – một loại phóng sự ghi lại những tình cảnh bi hài của dân nghèo
trước toà tiểu hình của Pháp đặt ra, nơi chính Hoàng Đạo có mặt, làm việc hàng ngày
Khi Trước vành móng ngựa còn đăng báo từng bài nhỏ hàng tuần,
người ta chưa thấy được hết ý nghĩa của loạt bài này Nhưng khi được thu góp tất cả trong một cuốn sách, thì đó chính là một lời tố cáo đanh thép nhất đối với chế độ nô lệ tàn nhẫn ghê gớm mà thực dân Pháp áp đặt lên dân thuộc địa Việt Nam nghèo đói Tác phẩm này còn hấp dẫn bởi nghệ thuật viết văn phóng sự của Hoàng Đạo Ông đã sử dụng ngôn ngữ đổi mới khá lạ so với thời đó: sắc cạnh, châm biếm, sâu sắc và đau đớn vô cùng
Ông mất đột ngột ngày 22/7/1948 (16/6 năm Mậu Tý), trên chuyến xe lửa từ Hương Cảng về Quảng Châu, thi hài ông được an táng tại thị trấn Thạch Long Trung Quốc
Trang 34Hồ Trọng Hiếu (1900 - 1976)
1.3.3.4 Hồ Trọng Hiếu – Tú Mỡ (1900 – 1976)
Hồ Trọng Hiếu sinh năm 1900 Nhà
nghèo, nên sau khi học xong trung học tại
trường bảo hộ nổi tiếng - Trường Bưởi, ông
không tiếp tục học lên cao, mà đi làm thư ký ở
Sở Tài chính để kiềm tiền nuôi mẹ, cô và bốn
em ăn học
Năm 1920, Tú Mỡ gặp Nguyễn
Tường Tam đến làm cùng sở Hai người
thành bạn tâm giao ngay, trao đổi những điều
tâm đắc, những việc văn chương đang thai
nghén, khuyến khích, an ủi lẫn nhau Dần dà Nguyễn Tường Tam tìm thấy sở đắc của Hồ Trọng Hiếu, đã khuyên : “Anh khá đấy, nên làm thơ hài hước đi, anh có khiếu về trào phúng đấy”[48] Câu nói của Nguyễn Tường Tam như đi vào “gan ruột và tâm trí” Hồ Trọng Hiếu
Hồ Trọng Hiếu lấy bút hiệu Tú Mỡ Có chân trong Tự lực văn đoàn từ ngày thành lập, ngày 27 tháng 5 năm 1934, Tú Mỡ viết mấy câu “cám ơn người đã biết đến ta” Ông là chuyên viên cười của Phong hóa - Ngày nay trong suốt thời gian hoạt động văn học từ 1932 tới 1940, phụ trách mục Giòng Nước Ngược, thơ hài hước đùa cợt chế diễu, nổi tiếng một thời Năm 1976,
Tú Mỡ mất, hưởng thọ 77 tuổi
Trang 35Nguyễn Tường Lân
(1910 - 1942)
1.3.3.5 Nguyễn Tường Lân – Thạch Lam (1910 -1942)
Thạch Lam sinh ngày 7-7-1910, tại Thái Hà Ấp, gần Hà Nội Bút hiệu: Việt Sinh, Thiện Sĩ Là con thứ sáu trong gia đình Nguyễn Tường Tên khai sinh hồi nhỏ
là Nguyễn Tường Vinh, năm 15 tuổi làm giấy khai sinh lại, đổi tên là Nguyễn Tường Lân Năm lên bảy, cha qua đời Thủa nhỏ học trường sơ học Cẩm Giàng tới 14 tuổi
15 tuổi, đỗ bằng cơ thủy, xin tăng 4 tuổi để được vào học ban thành chung
Đỗ bằng Thành Chung năm 16 tuổi, sau
đó, vào học trường canh nông, được một năm, xin thôi, vào học trường tây Albert Sarraut Sau khi đỗ tú tài phần thứ nhất, quyết định nghỉ học để tham gia công việc làm báo với các anh
Từ 1932, Thạch Lam bắt đầu làm báo, viết cho Phong hoá
Ngoài ra, Thạch Lam viết nhiều thể loại khác như: phê bình mỹ thuật, phê bình kịch nghệ, văn học, dịch thuật… Người ta còn kể mãi chuyện chiếc bánh Madeleine mà Thạch Lam không biết là bánh, đã dịch nhầm Khi được người đọc nhắc, lập tức ông đã thành thật xin lỗi độc giả trên báo Điều này
đã chứng minh sự thành thật hiếm có của một nhà văn
Trong khoảng thời gian dài, khi các anh lớn đi làm chính trị, Thạch Lam làm chủ bút báo Ngày nay Ông bao sân, nghĩa là viết tất cả những gì còn lại sau những bài của những tác giả khác, cho đầy tờ báo Công việc này rất nặng nhọc, lo từ đầu tới cuối tờ báo Thạch Lam tuy trẻ nhưng đã đứng vững và lãnh đạo báo Ngày nay tăng tiến đều, luôn nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các cộng sự viên và độc giả Điều này chứng tỏ tài năng và tư cách
Trang 36Nguyễn Thế Lữ (1907 - 1989)
của ông Có lẽ vì công việc nặng nề, lại thêm bị bệnh phổi nên sức khỏe Thạch Lam ngày một sút kém, chỉ nửa năm phải ngưng công việc
Thạch Lam mất ngày 28-6-1942 tại làng Yên Phụ cạnh Hồ Tây, Hà Nội,
vì bệnh lao
1.3.3.6 Nguyễn Thứ Lễ - Thế Lữ (1907 – 1989)
Thế Lữ tên thật là Nguyễn Đình Lễ, hoặc Thứ
Lễ Thứ Lễ nói lái thành Thế Lữ, có nghĩa là
Người khách phiêu du qua trần thế Ông dùng bút
hiệu Lê Ta, Lê Tây khi viết văn vui (bài: Lê Tây
viết cho Lê Ta, Ngày nay, số 169, trang 15) Các
tên của ông lập thành một vế câu đối, không ai đối
nổi: Thế Lữ làm quà hai thứ lễ : Một quả Lê tây,
một quả Lê ta
Thế Lữ sinh ngày 6 tháng 10 năm 1907, tại
Thái Hà Ấp, Hà Nội Bố là Nguyễn Thuận, làm
xếp ga đường sắt, người làng Phù Đổng, Tiên
Du, Bắc Ninh, nay là Gia Lâm, Hà Nội
Thế Lữ bắt đầu đi học trường bảo hộ Pháp Việt, đến năm thứ ba trung học thì xin nghỉ Năm 17 tuổi, lập gia đình với cô Nguyễn Thị Khương, 19 tuổi, thuộc họ đạo tỉnh Hà Nam, do mẹ hỏi cưới cho (Ông bà được ba trai, một gái Con trai đầu là Nguyễn Đình Nghi, sau này được ông hướng dẫn, bồi đắp đã trở thành một đạo diễn xuất sắc.) Thế Lữ là một người con rất có hiếu, trong thời gian làm việc ở Hà Nội, tháng tháng đều về Hải Phòng thăm nom
mẹ và vợ con
Năm 1932 khỏi bệnh lao, về Hà Nội làm nhà in, ông gửi truyện ngắn, thơ đến báo Phong hóa, bài nào cũng được đăng Nhất Linh đã viết trong bài
Nguyễn Thế Lữ, một nhân vật mới trong làng thơ mới, rằng: “Thơ Thế Lữ
bừng sáng rực rỡ với phong cách hoàn toàn khác lạ, từ ngôn từ tới giai điệu,
Trang 37Ngô Xuân Diệu (1916 - 1985)
từ ý tưởng tới cách chọn lọc chữ” [Nhất Linh, Thế Lữ một nhân vật mới trong
làng thơ mới, báo Phong hóa, số 54, ra ngày 7/6/1933]
Năm 1934 Thế Lữ trở thành một trong bảy thành viên của ban biên tập Phong hóa và hoạt động tích cực trên Phong hóa, Ngày nay tới năm 1940
Thế Lữ là một người làm báo tài hoa Ông viết phóng sự, bút chiến, văn vui…rất rất hấp dẫn, rất thu hút bạn đọc, như loạt bài Lê Ta Làm Báo, Lê Ta xuống Hải Phòng…
Năm 1940, Báo Ngày nay bị đình bản Năm 1942 ban kịch Thế Lữ được thành lập, khởi đầu rất thành công, nhưng phải tan rã vì những kiểm duyệt rất khắt khe của thực dân Pháp lúc đó Năm 1943 ông lập ban kịch Anh
Vũ cùng Vũ Đức Diên Ông phụ trách dàn cảnh và diễn kịch Từ năm
1945-1946 ông lưu diễn ở miền Trung, khi tới Quy Nhơn vì chiến tranh nên lại quay về Bắc Năm 1947 ông tham gia kháng chiến chống Pháp, viết kịch, dựng vở diễn liên tục Năm 1957 ông làm Chủ tịch hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tới khi nghỉ hưu Năm 1977 Thế Lữ trở về sum họp với gia đình vợ con tại TP HCM Ông mất ngày 3-6-1989, hưởng thọ 82 tuổi
Tác phẩm của ông, một phần lớn đã được NXB Đời Nay ấn hành trước 1945: Mấy Vần Thơ; Vàng và Máu; Bên Đường Thiên Lôi; Mai Hương và Lê Phong; Lê Phong Phóng Viên; Gói Thuốc Lá; Gió Trăng Ngàn; Trại Bồ Tùng
Linh…Sau 1945 có: Tay Đại Bợm và nhiều truyện ngắn, sách dịch, kịch bản…
1.3.3.7 Ngô Xuân Diệu – Xuân Diệu (1916 - 1985)
Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu, còn có
bút danh là Trảo Nha, sinh ngày 2-2-1916 Quê gốc
làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng
ông lại được sinh tại Gò Bồi, huyện Tuy Phước,
tỉnh Bình Định Cha là ông Ngô Xuân Thọ, tú tài
Hán học, làm thầy giáo tại Bình Định Mẹ là bà
Nguyễn Thị Hiệp
Trang 38Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn, học cha chữ nho, chữ quốc ngữ và cả chữ Pháp Năm 1927 học trung học ở Quy Nhơn, lúc này Xuân Diệu làm thơ
cổ thi và rất thích Tản Đà Ra Hà Nội học, đỗ tú tài I năm 1936, tại trường Trung học bảo hộ (Trường Bưởi) Vào Huế, học trường Khải Định, đỗ tú tài II năm 1937 Tại đây Xuân Diệu gặp Huy Cận đang học dưới hai lớp, hai người kết bạn thâm giao, tới hết cuộc đời Bắt đầu làm thơ và gửi cho báo Phong hóa - Ngày nay
Thế Lữ, người điều khiển tin Thơ và Tin Văn Vắn thời đó, đã giới thiệu
về Xuân Diệu: “Một tâm sự nồng nàn mà kín đáo, một linh hồn rạng rỡ mà say mê, đằm thắm hiện ra ở trong những điệu thơ êm dịu mà ái ân… của tấm lòng yêu thấm thía nhưng rụt rè… gợi cho ta thấy những hình ảnh, những tư tưởng bát ngát và tươi đẹp không ngờ” [49]
Từ năm 1938-1940 Xuân Diệu được Tự lực văn đoàn mời ra Hà Nội làm việc và ông trở thành thành viên thứ bảy của Tự lực văn đoàn Mùa đông
1938, cuốn Thơ Thơ ra mắt, xuất bản bởi Đời Nay, tựa của Thế Lữ và trình bày bởi họa sĩ Lương Xuân Nhị, đã được tiếp đón rất nồng hậu Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người dị ứng với lối diễn tả quá mới của Xuân Diệu Lúc này Xuân Diệu dạy học tại trường tư thục nổi tiếng Thăng Long
Về đời tư, Xuân Diệu đã lập gia đình với nghệ sĩ Bạch Diệp, nhưng chỉ sáu tháng sau, hai người li dị Ông mất ngày 2 tháng 2 năm 1985 tại Hà Nội
1.4 Nội dung và hình thức của báo Phong hóa – Ngày nay
1.4.1 Về nội dung
Nội dung chính của Phong hóa – Ngày nay là phê phán các thói tật xã hội Do được bạn đọc ủng hộ cổ vũ nên báo ngày càng lấn sâu vào các lĩnh vực chính trị, châm biếm tầng lớp quí tộc, phê phán các chính sách cai trị…
Vì vậy, nhà cầm quyền thực dân đã nhiều lần bắn tiếng đe dọa đóng cửa Phong hóa - Ngày nay Điều này không làm cho Phong hóa – Ngày nay nhụt
Trang 39chí Báo vẫn đều đặn mang tiếng cười sảng khoái đến cho dân chúng nhưng lại là mũi dùi đâm vào ruột gan tầng lớp thống trị Ví dụ: bài về ông nghị Lê Thăng có đoạn:
“Ông nghị Lê Thăng mới nhập vào đảng của ông Lục, nên có
vẻ hăng hái, nhiệt thành lắm Động có cái gì cãi nhau là ông đứng lên uốn éo cái mình liễu thướt tha, quay sang đông lại quay sang tây, híp mắt lại, mở rộng toác cái mồm, còn tay thì múa men trông dẻo quèo quẹo Điệu bộ của ông làm tôi nhớ đến con rươi nó nhảy đầm Nói cho đúng hơn, dáng dấp mềm mại của ông, điệu bộ uyển chuyển của ông giống như tạc khuôn dáng dấp, điệu bộ - xin lỗi ông
- của “con đĩ đánh bồng” hay của một cô đào múa bài bông Nói của đáng tội, có lẽ ông muốn chim cả viện nên mới uốn éo như
vậy” [Tứ Ly, Từ ông nghị này đến ông nghị khác, báo Phong Hóa, số
121, ra ngày 26/10/1934]
Bên cạnh đó, Phong hóa – Ngày nay còn bộc lộ một số quan điểm: phê phán sự lạc hậu, mê tín của các tôn giáo truyền thống như đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng, ca ngợi khoa học, triết học phương Tây Báo nhiều lần chê bai các tập tục, lễ nghi phong kiến đang đè nặng lên người dân thôn quê, đồng thời đề cao sự bình đẳng trong gia đình, coi trọng quyền công dân tại các thôn xóm…
Theo TS Hoàng Văn Quang: Việc châm biếm đả kích tầng lớp quan lại người Việt tuy thỏa mãn được tâm tư, tình cảm người dân, nhưng nó cũng cho thấy Phong Hóa chưa xác định được kẻ thù của dân tộc ta là chủ nghĩa đế quốc, thực dân, là triều đình phong kiến thối nát Nhiều khi báo còn gián tiếp
ca tụng người Pháp thông qua những bài viết ca ngợi văn minh, lối sống, khoa học phương tây, coi rẻ thuần phong mĩ tục của dân tộc Không những thế, đôi khi báo còn đưa người dân nghèo, ít học ra làm trò cười, coi họ như là lực cản
Trang 40của tiến bộ, là những người ăn bám, thậm chí là tác nhân kéo lùi bước tiến của
xã hội, của lịch sử Phong Hóa số ra ngày 4/8/1933 đăng bài Các trình độ học
thức của Nhị Linh (Trần Khánh Giư) đã đánh giá:
“Sự sống eo hẹp, khó khăn của dân quê ta phần lớn nguyên nhân là ở chỗ vô học trong đó có loại vô học cùng dân: Lúc nhúc như đàn cừu đói rét, chẳng ai đoái thương” Như vậy, theo Phong Hóa – Ngày Nay, nguyên nhân của mọi sự cùng khổ bất công trong
xã hội là do sự vô học của tầng lớp dân nghèo, chứ không phải xuất phát từ sự cai trị hà khắc của chính quyền thực dân, của chế độ phong kiến đớn hèn, mục ruỗng Tầm nhìn hạn hẹp và sai lầm này còn xuất hiện ở nhiều tờ báo đương thời Điều đó cho thấy, có thể,
do sự áp chế của nhà cầm quyền mà báo chí thời đó phải nói tránh
đi như vậy [Nhị Linh, Các trình độ học thức, Nhị Linh, Phong hóa,
số 58, ra ngày 4/8/1933]
Ngoài tư cách nhà văn, các thành viên Tự Lực Văn Đoàn còn là những nhà báo Họ đi lấy tin, tường thuật, bút chiến Bằng giọng hài hước họ diễu cợt các thói xấu của giới quan lại, trường giả Trong các tiết mục như: Câu chuyện hàng tuần, Điểm thời sự, Đọc sách, Trả lời bạn đọc, Ngày Nay nói chuyện mọi thành viên đều viết, và thường được bạn đọc phục vì tài và nể
vì tư cách (ngay cả những bức tranh khôi hài Lý Toét nhiều khi cũng được tạo thành do sự góp ý của nhiều thành viên và họa sĩ Những bức tranh này thường không ký tên tác giả)
Người viết những bài thời sự về xã hội, chính trị, kinh tế điều khiển linh hồn tờ báo là Tử Ly Hoàng Đạo Qua các loạt bài như: Từ nhỏ đến lớn; về người: Từ cao đến thấp; về việc: Bàn Ngang, nói ngược mà hiểu ra xuôi, cũng nhưloạt bài Hậu Tây Du ký, Đi thăm Khổng Tử Hoàng Đạo không đả phá thẳng vào Mẫu quốc và chế độ thuộc địa mà bắt đầu tấn công vào các quan lại người Việt bằng cách viết văn châm biếm và chế diễu Thêm vào đó, trên cả