BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TÀO THANH HUYỀN QUẢNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM QUA TẠP CHÍ DU LỊCH VÀ TRANG TIN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TÀO THANH HUYỀN
QUẢNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM QUA TẠP CHÍ DU LỊCH VÀ TRANG TIN TỨC
DU LỊCH TRỰC TUYẾN CỦA TỔNG CỤC DU LỊCH
(KHẢO SÁT TỪ THÁNG 6/2012 ĐẾN THÁNG 6/2013)
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TÀO THANH HUYỀN
QUẢNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM QUA TẠP CHÍ DU LỊCH VÀ TRANG TIN TỨC
DU LỊCH TRỰC TUYẾN CỦA TỔNG CỤC DU LỊCH
(KHẢO SÁT TỪ THÁNG 6/2012 ĐẾN THÁNG 6/2013)
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Phạm Minh Sơn
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Quảng bá du lịch Việt Nam qua Tạp chí
Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch (khảo sát
từ tháng 6/2012 đến tháng 6/2013)” do chính tác giả nghiên cứu và viết dưới
sự hướng dẫn của PGS TS Phạm Minh Sơn Kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả, chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Mọi số liệu trong luận văn này đều trung thực, các thông tin trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn đảm bảo tuân thủ quy định về bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Quan hệ công chúng và Quảng cáo - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng - giáo viên chủ nhiệm, Trưởng khoa Quan hệ Công chúng và Quảng cáo, cùng các thầy
cô giáo đã dạy bảo tận tình và chỉ dẫn tôi trong 2 năm học vừa qua
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Minh Sơn, trưởng khoa Quan hệ quốc tế - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này Tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức bổ ích về lĩnh vực truyền thông, du lịch cũng như tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc của thầy
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú, anh chị hiện đang là cán bộ của Tổng cục Du lịch, Tạp chí Du lịch và Trung tâm thông tin Du lịch đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp số liệu để tôi hoàn thành luận văn Cảm ơn tập thể lớp Quan hệ công chúng K17 đã gắn bó, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn với tất cả sự nỗ lực của bản thân nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, tôi mong nhận được sự đánh giá, góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn nữa
Xin trân trọng cảm ơn
Tác giả luận văn
Tào Thanh Huyền
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CNTT : Công nghệ thông tin
THPT : Trung học phổ thông
TTXVN : Thông tấn xã Việt Nam
VH-TT & DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1 Mô hình truyền thông của Shannon và Weaver
Biểu đồ 1.2 71% người Việt được khảo sát biết đến slogan du lịch
Việt Nam
Biểu đồ 1.3 56% du khách nước ngoài được khảo sát không biết đến
slogan du lịch Việt Nam
Biểu đồ 2.1 Luồng thông tin quảng bá từ Tạp chí Du lịch
Biểu đồ 2.2 Số lượng nhân lực du lịch tăng đều sau từng năm
Biểu đồ 2.3 90% khách du lịch nội địa sẵn sàng đi du lịch ít nhất 1
lần trong năm
Biểu đồ 2.4 Đối tượng hướng đến của trang Tin tức du lịch trực tuyến
Biểu đồ 3.1 Kênh truyền thông du khách quốc tế sử dụng để du lịch
Việt Nam
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Cuốn “Viet Nam Tourist Guidebook”
Hình 1.2 Cuốn “World Heritage Sites in Viet Nam”
Hình 1.3 Cuốn “Bản đồ du lịch Việt Nam”
Hình 1.4 Logo du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 – 2004
Hình 1.5 Logo và slogan du lịch Việt Nam giai đoạn 2004 – 2005
Hình 1.6 Logo và slogan du lịch Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011
Hình 1.7 Logo và slogan du lịch Việt Nam giai đoạn 2012 – 2015
Trang 7MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM 8
1.1 Cơ sở lý luận cho hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam 8 1.2 Thực trạng ngành du lịch Việt Nam và vai trò, nhiệm vụ của quảng bá
du lịch 25
Chương 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM QUA TẠP CHÍ DU LỊCH VÀ TRANG TIN TỨC DU LỊCH TRỰC TUYẾN 41
2.1 Khái quát về Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến trong quảng
bá du lịch Việt Nam 41 2.2 Hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam trên hai kênh truyền thông của Tổng cục Du lịch 56
Chương 3 : ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ DU LỊCH VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM QUA CÁC KÊNH TRUYỀN THÔNG CỦA TỔNG CỤC DU LỊCH 76
3.1 Đánh giá hoạt động quảng bá du lịch qua Tạp chí Du lịch và trang Tin tức
du lịch trực tuyến 76 3.2.Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quảng bá du lịch qua các kênh truyền thông của Tổng cục Du lịch 82
KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch đang ngày càng trở thành một trong những công cụ có hiệu quả nhất trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo trên thế giới do tiềm năng tạo ra nhiều việc làm mới Theo tổ chức Du lịch thế giới, du lịch là ngành tạo ra nhiều việc làm nhất trên thế giới, với 207 triệu việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp, 75% hành khách của ngành hàng không quốc tế là du khách Du lịch toàn cầu mỗi năm mang lại thu nhập hơn 514 tỷ USD Tại 83% nước trên thế giới, du lịch là 1 trong 5 nguồn thu ngoại tệ lớn nhất, riêng tại các nước vùng Carribe, 50% GDP là từ du lịch Hơn 80% du khách quốc tế là công dân 20 nước châu Âu, Mỹ, Canada và Nhật Bản Pháp đang là nước đón nhiều du khách nước ngoài nhất (khoảng 75 triệu lượt), tiếp đó là Tây Ban Nha (53 triệu lượt), Mỹ (41.9 triệu lượt), Trung Quốc hiện đứng thứ 5 trong danh sách này, có thể nhanh chóng chiếm ngôi vị của Pháp để trở thành nước thu hút nhiều khách du lịch nhất Du khách từ châu Á-Thái Bình Dương đã tăng từ 81.8 triệu lượt người năm 1995 lên 131 triệu lượt năm 2002, chiếm gần 11,5% tổng số du khách thế giới
Rõ ràng, du lịch chính là phương tiện chuyển giao của cải tự nguyện lớn nhất từ các nước giàu sang các nước nghèo, đồng thời khoản tiền do du khách đem lại cho các khu vực nghèo đói trên thế giới còn lớn hơn viện trợ chính thức của các Chính phủ
Đối với Việt Nam, du lịch là ngành công nghiệp không khói hàng năm đem lại một nguồn thu ngoại tệ không nhỏ cho đất nước Điểm mạnh của du lịch Việt Nam chính là tiềm năng du lịch dồi dào Chúng ta có một lợi thế quan trọng đó chính là bản sắc văn hoá độc đáo, phong phú, đa dạng Trong giai đoạn hiện nay, khi mà toàn cầu hoá đang bùng nổ như vũ bão thì sự tìm kiếm những nét riêng, độc đáo nhằm tôn vinh vẻ đẹp “hoà nhập nhưng không
Trang 9hoà tan” lại trở thành một vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia Cái gọi là “đậm đà bản sắc dân tộc” chính lá thứ tạo ra sức hút, sức hấp dẫn riêng không thể hoà lẫn của mỗi nước, mỗi vùng, mỗi khu vực trong bức tranh chung của thế giới
Quảng bá là một hoạt động không thể thiếu trong ngành du lịch Tại Việt Nam, Tổng cục Du lịch là nơi chịu trách nhiệm quảng bá hình ảnh đất nước
để thu hút khách du lịch đến Việt Nam Là một hoạt động quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến ngành du lịch của đất nước, quảng bá cần được tiến hành cẩn thận, tỉ mỉ Quảng bá như thế nào? Cần đưa ra những thông tin gì, hình thức ra sao? Tất cả những câu hỏi trên cần được các chuyên viên truyền thông của Tổng cục Du lịch giải đáp và tiến hành Đây là một công việc khó, đòi hỏi chuyên môn cao
Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, có tới 85% khách du lịch không quay trở lại Việt Nam Nguyên nhân là do khâu quảng bá quá rầm rộ nhưng trên thực tế lại không được như vậy Có thể thấy, việc mời mọc khách du lịch đến Việt Nam đã là một vấn đề nan giải và việc chứng minh cho những người
đó thấy Việt Nam tuyệt vời như những gì chúng ta đã quảng bá lại là một điều khó khăn gấp trăm lần Bởi vậy, hoạt động quảng bá không phải là phô bày hết cái đẹp, thậm chí là khuếch đại chúng lên mà cần quảng bá đầy đủ và khéo léo về đất nước và con người Việt Nam Song song với hoạt động quảng bá, Tổng cục Du lịch cũng cần phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ quảng bá có hiệu quả như tăng cường ý thức người dân tại các địa điểm du lịch hay đầu tư đúng lúc, đúng chỗ cho hoạt động quảng bá
Hiện nay, Tổng cục Du lịch có các kênh để quảng bá du lịch như Tạp chí
Du lịch, báo Du lịch, trang Tin tức du lịch trực tuyến www.dulichvn.org.vn, trang web chính thức của Tổng cục Du lịch www.vietnamtourism.gov.vn Với các kênh thông tin này, Tổng cục Du lịch có thể cung cấp thông tin về du lịch
Trang 10trong nước và ngoài nước tới du khách Tuy vậy, liệu các kênh thông tin này có hoạt động hiệu quả hay không? Có điểm gì cần lưu ý và khắc phục?
Trên đây là những lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài luận văn thạc sỹ:
“Quảng bá du lịch Việt Nam qua Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch
trực tuyến của Tổng cục Du lịch (khảo sát từ tháng 6/2012 đến tháng
6/2013)” Qua nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng có thể đưa ra một số giải
pháp giúp tăng cường hoạt động quảng bá hình ảnh của đất nước Việt Nam qua các kênh truyền thông của Tổng cục Du lịch, từ đó góp phần giúp người Việt Nam hiểu rõ thêm về đất nước mình, đồng thời giúp bạn bè thế giới biết đến Việt Nam như một điểm đến an toàn, thân thiện với vẻ đẹp riêng mang đậm tính dân tộc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Du lịch là ngành công nghiệp không khói mang lại lợi nhuận không hề nhỏ cho rất nhiều quốc gia Bởi vậy, không ít những công trình nghiên cứu được tiến hành với đối tượng là ngành du lịch, đặc biệt là hoạt động quảng bá
du lịch, trong đó nổi bật là các nghiên cứu:
- Strategic Management for Travel and Tourism - David Campbell và
George Stonehouse (NXB A Butterworth-Heinemann Title, 2002)
- The Business of Tourism - Chris Holloway và Neil Taylor (NXB
Financial Times, 2006)
- Travel and Tourism: an industry primer – Paul S.Biederman (NXB
Prentice Hall, 2007)
- International Tourism: Cultures and Behavior – Các giáo sư tại Đại học
Temple, bang Philadelphia, Mỹ (NXB A Butterworth-Heinemann Title, 2008)
- Tourism at the Grassroots: Villagers and Visitors in the Asia Pacific -
John Connell và Barbara Rugendyke (NXB Routledge, 2008)
Trang 11- Tourism: Principles and Practice – Prof Chris Cooper (NXB Financial
Times, 2008)
- Outlines & Highlights for Travel and Tourism: Industry Primer - Paul
S.Biederman (NXB Academic Internet Publishers Incorporated, 2010)
- Travel and Tourism in Vietnam – báo cáo được thực hiện bởi trang web
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Là một nước có tiềm năng du lịch lớn, Việt Nam cũng không ngừng nghiên cứu về lĩnh vực du lịch Do vậy hiện nay ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành Có thể kể đến vài công trình sau:
- Du lịch 3 miền – bộ sách của tác giả Bửu Ngôn (NXB Thanh Niên, 2008)
- Non Nước Việt Nam – bộ sách gồm 3 tập của tác giả Phạm Côn Sơn
(NXB Phương Đông, 2008)
- Chiến Lược Và Chiến Thuật Quảng Bá Marketing Du Lịch – Nguyễn
Văn Dung (NXB Giao thông vận tải, 2009)
- Cẩm nang du lịch – bộ sách của tác giả Phạm Côn Sơn (NXB Văn hóa
thông tin, 2011)
- Du lịch Á, Âu, Mỹ - Trần Đình Ba (NXB Văn hóa thông tin, 2011)
Trang 12- Di sản Thế giới ở Việt Nam – Trung tâm Thông tin Du lịch, Tổng cục
Du lịch (NXB Thanh Niên, 2012)
- Bản đồ du lịch Việt Nam (Viet Nam Travel Atlas) – Trung tâm Thông
tin Du lịch, Tổng cục Du lịch (NXB Tài Nguyên - Môi Trường Và Bản Đồ Việt Nam, 2013)
- Xây dựng và quảng bá Thương hiệu Du lịch Việt Nam giai đoạn
2011-2015 – TS Hà Văn Siêu (Tham luận tại Hội nghị triển khai kế hoạch công tác
năm 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 25-26/2/2011)
- Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với du lịch Việt Nam bước sang thập kỷ tới 2011-2020 – TS Hà Văn Siêu (Bài báo khoa học
đăng ngày 17/10/2011 trên website của Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch)
- Phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam - Những vấn đề đặt ra – Đỗ
Cẩm Thơ (Đề tài nghiên cứu, Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, 2013) Những nghiên cứu này đưa ra một cái nhìn rõ nét hơn về du lịch Việt Nam Tuy vậy, vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam qua Tạp chí Du lịch và trang tin tức Du lịch của Tổng cục Du lịch, do vậy, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ của mình với hi vọng góp một phần nhỏ bé giúp cho du lịch nước nhà được phát triển đồng thời làm phong phú thêm những công trình nghiên cứu về du lịch Việt Nam
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng hoạt động quảng
bá du lịch Việt Nam qua Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch, luận văn đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động này thông qua các kênh truyền thông của Tổng cục Du lịch
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam thông qua Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch
Trang 13- Khảo sát, làm rõ thực trạng hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam thông qua Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch
- Đánh giá hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam thông qua Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam qua các kênh truyền thông của Tổng cục Du lịch
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam qua Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam trên hai kênh truyền thông của Tổng cục Du lịch từ tháng 6/2012 đến tháng 6/2013
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của triết học duy vật lịch sử, triết học duy vật biện chứng; quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam và lý luận chung về xúc tiến quảng bá du lịch và luật du lịch
Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các sách mang tính lý
luận, các văn bản mang tính tổng kết và đánh giá về kết quả thực hiện các hoạt động quảng bá du lịch, nghiên cứu tạp chí, các trang website, phân loại thu thập thông tin, xử lý dữ liệu, quan sát thực tế quá trình triển khai các hoạt động quảng bá du lịch qua các phương tiện truyền thông Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống các khái niệm về quảng bá du lịch, vai trò – chức năng – nhiệm vụ của hoạt động quảng bá du
Trang 14lịch; đồng thời kế thừa những kết quả đã được công nhận về thực trạng và hiệu quả của các hoạt động quảng bá du lịch qua phương tiện truyền thông để làm cơ sở cho việc so sánh, đánh giá các kết quả khảo sát, tìm được những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Được sử dụng nhằm thu thập các
ý kiến đánh giá về thực trạng hoạt động quảng bá du lịch qua tạp chí và website của Tổng cục Du lịch
- Phương pháp quan sát: Qua thực tiễn và quá trình nghiên cứu, người làm
luận văn tiếp cận và tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, hoạt động quảng bá du lịch qua Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn người tham gia
quảng bá du lịch của Tổng cục Du lịch để có cái nhìn rõ nét hơn về hoạt động này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Đề tài sẽ góp phần khẳng định tầm quan trọng của hoạt động quảng bá
du lịch thông qua báo chí và cổng thông tin trực tuyến, bên cạnh đó cũng đề xuất một số giải pháp giúp hoạt động quảng bá trên hai phương tiện này hiệu quả hơn
- Đề tài cũng góp phần thúc đẩy người dân Việt Nam cũng như lãnh đạo các cấp các ngành, đặc biệt là ngành Du lịch quan tâm hơn đến ngành công nghiệp không khói quan trọng này Nghiên cứu sẽ chỉ ra được ưu, nhược điểm của các hoạt động quảng bá trên Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch để từ đó các cán bộ của trong ngành có thể rút ra bài học và giúp du lịch nước nhà phát triển theo kịp thế giới
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo đối với những người quan tâm đến hoạt động quảng bá du lịch tại Việt Nam
7 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được
kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ DU LỊCH VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận cho hoạt động quảng bá du lịch Việt Nam
1.1.1 Khái niệm Quảng bá du lịch:
Cho đến nay, thuật ngữ “quảng bá” được nhắc đến nhiều trên các
phương tiện truyền thông đại chúng, các tài liệu nghiên cứu gắn liền với quảng bá hình ảnh, quảng bá thương hiệu; song vẫn chưa có một định nghĩa
cụ thể, thống nhất về quảng bá “Quảng bá” là một từ Hán Việt được ghép từ chữ “quảng”, có nghĩa là rộng lớn và chữ “bá”, có nghĩa là làm lan rộng Vì
vậy, có thể hiểu quảng bá là tuyên truyền rộng rãi
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Quảng bá là phổ biến rộng rãi bằng các
phương tiện thông tin” Quảng bá cũng được hiểu là “những hoạt động nhằm tạo ra hoặc thúc đẩy lợi ích, lợi nhuận cho một cá nhân, một sản phẩm, một
đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi người có một cách hiểu về
du lịch khác nhau Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa
Ở nước Anh, du lịch xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi Tiếng Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ “Le Tour” có nghĩa là cuộc dạo
Trang 16chơi, dã ngoại,… Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng, “Du lịch” được hiểu như sau: “Du” có nghĩa là đi chơi, “Lịch” là lịch lãm, từng trải, hiểu biết, do
đó, du lịch được hiểu là việc đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức
Như vậy, có khá nhiều khái niệm Du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội
Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ
Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là
một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật,…
Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên
Trang 17nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch, chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết, … Chính vì vậy, toàn
xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác
Theo Pháp lệnh du lịch (do Ủy ban thường vụ Quốc hội nước CHXNCN Việt Nam công bố ngày 08/02/1999): Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Quảng bá du lịch chính là hoạt động truyền bá rộng rãi hình ảnh của đất nước để thúc đẩy và phát triển ngành du lịch của đất nước Hình ảnh của đất nước chính là một bức tranh tổng thể của quốc gia với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nước đó (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, khoa học, nghệ thuật, thể thao, cảnh quan thiên nhiên, ) Hình ảnh đất nước được tạo dựng từ hình ảnh đặc sắc về một lĩnh vực cụ thể nào đó Bởi vậy, khi quảng
bá du lịch, cần chọn những đặc điểm nổi trội để thôi thúc mọi người muốn trải nghiệm và đến nơi đó
Để có thể quảng bá du lịch, cần phải thông qua các kênh quảng bá đó là phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài, truyền hình, hoặc phương
Trang 18tiện truyền thông mới như mạng xã hội Những kênh này sẽ giúp thông điệp quảng bá đến với nhiều người nhờ độ phủ sóng rộng lớn Ngoài ra, thông qua các sự kiện du lịch, người làm quảng bá cũng có thể giới thiệu hình ảnh đất nước đến với du khách
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc quảng bá du lịch tại Việt Nam
Quy định chung của Nhà nước trên lĩnh vực du lịch
Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn đến thành công trong việc phát triển du lịch Nó có thể kìm hãm nếu đường lối sai với thực tế Chính
sách phát triển du lịch có hai loại: Thứ nhất là chính sách chung của Tổ chức
du lịch thế giới đối với các nước thành viên; Thứ hai là chính sách của cơ
quan quyền lực tại địa phương, quốc gia đó Loại thứ hai có ý nghĩa quan trọng hơn cả vì nó huy động được sức người, căn cứ vào khả năng thực tế tại mỗi vùng, quốc gia đó để đưa ra chính sách phù hợp
Đối với việc thúc đẩy du lịch Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã đề cập trong Đại Hội VIII như sau: Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam tương xứng với tiềm năng du lịch của đất nước theo hướng du lịch văn hoá, du lịch môi trường sinh thái Xây dựng các chương trình và điểm hấp dẫn về văn hoá, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Huy động nguồn nhân lực của nhân dân tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng
ở những khu du lịch, tập trung ở những trung tâm lớn Nâng cao trình độ văn hoá và chất lượng dịch vụ với các loại khách khác nhau Đẩy mạnh việc huy động vốn trong nước đầu tư vào khách sạn, chuyển các nhà nghỉ, nhà khách
từ cơ chế bao cấp sang kinh doanh khách sạn và du lịch
Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực của thủ tục visa trên lượng du khách, chính phủ Việt Nam đã sớm có sáng kiến về visa như từ tháng 1/2004 bãi bỏ thị nhập cảnh cho du khách Nhật đến Việt Nam từ 15 ngày trở xuống Tháng 7/2004, sáng kiến này cũng được áp dụng với du khách Hàn Quốc Các nước
Trang 19Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore và Lào cũng có các thỏa hiệp visa với Việt Nam
Riêng với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì năm 2007 đã có quyết định số 564 /QĐ-BVHTTDL về chương trình Hành động của ngành Du lịch Trong đó có nêu rõ những nhiệm vụ xúc tiến quảng bá, phát triển thị trường như sau:
- Nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường và các thị trường trọng điểm cần ưu tiên trong tình hình hiện tại
- Nghiên cứu, đầu tư nâng cao chất lượng của công tác xúc tiến quảng bá
du lịch ở nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu quả quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam ra thị trường và thu hút khách
- Đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cả trong nước và
ở nước ngoài nhằm mở rộng thị trường khách cả trong và ngoài nước, góp phần vào sự tăng trưởng của du lịch Việt Nam
- Mở rộng phạm vi các công cụ sử dụng trong công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam, trong đó vai trò của internet được coi trọng đặc biệt
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế tiếp nhận và sử dụng các nguồn tài trợ cho công tác xúc tiến du lịch
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến ở trung ương
và các địa phương
Rõ ràng, vai trò của công cụ quảng bá là vô cùng quan trọng, đặc biệt là internet Nhờ các công cụ này mà các chính sách của nhà nước tới được với người dân Riêng với Tổng cục Du lịch, tất cả các tờ báo, tạp chí, trang thông tin trực thuộc Tổng cục đều đưa những tin tức mới nhất về những hội thảo, văn bản, quyết định, về vấn đề du lịch của Nhà nước cũng như của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 20 Truyền thông
Truyền thông là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc quảng bá du lịch bởi thông tin được chuyển tải nhanh nhất đến cộng đồng cư dân chính là
nhờ vào quá trình truyền thông Trong tác phẩm “Sức mạnh của tin tức truyền
thông”, Michael Schudson đã nhận định rằng “nhiều thông tin đến với người dân nói chung qua truyền thông chứ không qua chuyên gia trung gian”
Vậy truyền thông là gì? Truyền thông (communication) là quá trình chia
sẻ thông tin; là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin
Về mô hình truyền thông thì mô hình của Shannon được dùng phổ biến
vì đây nó mang tính khái quát và tổng hợp
Biểu đồ 1.1: Mô hình truyền thông của Shannon và Weaver
Trang 21Nhìn vào mô hình có thể thấy rõ 6 yếu tố trong truyền thông Đó là nguồn, thông điệp, phương tiện truyền (hay còn gọi là kênh), người nhận, đích (hay còn gọi là hiệu quả và phản hồi), nhiễu
Thứ nhất, về nguồn thông tin Ở đây, với bối cảnh truyền thông cho du lịch thì nguồn phát sẽ là cán bộ truyền thông của Tổng cục du lịch Hẹp hơn trong khuôn khổ của đề tài thì đó là những phóng viên, biên tập viên của Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến Đây là những người quyết định việc đưa ra những thông điệp gì, cách thức đưa thông điệp như thế nào Bởi nhiệm vụ của những cá nhân này rất quan trọng nên họ cần có chuyên môn và nghiệp vụ vững chắc Chỉ có hiểu về ngành du lịch thì mới có thể đưa thông tin chính xác và hữu hiệu đến với độc giả
Nhận thức được điều này, các biên tập viên và phóng viên của Tạp chí
Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch thường được tập huấn về kỹ năng và chuyên môn Bên cạnh đó, các cán bộ này còn được giao lưu, trao đổi nghiệp vụ để có thể phát huy được thế mạnh của mình cũng như hạn chế những điểm yếu
Thông điệp là yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình truyền thông Thông điệp sai có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới hiệu quả của việc quảng bá
du lịch Việt Nam, thậm chí có thể gây ra khủng hoảng truyền thông Ở đây, thông điệp truyền thông được chuyển tải qua các bài báo trên Tạp chí Du lịch
và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch
Nội dung của các bài báo tương đối đa dạng như các văn bản, quy định mới về du lịch được Nhà nước và các cơ quan chức năng ban hành; thông tin
về hội nghị, hội thảo, festival du lịch; bài viết giới thiệu về danh lam thắng cảnh, Tất cả đều nhằm mục đích cung cấp những thông tin cần thiết và hữu ích cho độc giả
Thông điệp truyền thông trong bài báo cần phải được truyền tải một cách
dễ hiểu và đúng quy tắc Bên cạnh đó, thông điệp truyền thông cũng cần
Trang 22chính xác bởi chúng được truyền tải tới nhiều người nên một khi sai lầm sẽ dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng Những người tiếp nhận thông tin cũng sẽ
có hành vi lệch lạc khi họ nhận được thông điệp không đúng Ngoài ra, thông điệp truyền thông phải phù hợp và hấp dẫn, tùy từng đối tượng khác nhau mà tạo ra những thông điệp khác nhau
Riêng với trang Tin tức du lịch trực tuyến, do được trình bày bởi hai ngôn ngữ Anh và Việt nên thông điệp cần được cân nhắc kỹ lưỡng, làm sao cho phù hợp với đối tượng Bên cạnh đó, logic của tiếng Việt và tiếng Anh không giống nhau nên người làm truyền thông cần phải am hiểu về cả hai ngôn ngữ
Để thông điệp đến được với người nhận cần thông qua phương tiện truyền, hay còn gọi là kênh Kênh truyền thông có thể mang tính chất đại chúng hoặc mang tính cá biệt
Truyền thông đại chúng được hiểu là một quá trình truyền đạt thông tin đến các nhóm cộng đồng đông đảo trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng
Các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại bao gồm: báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, sách, phim và video, các phương tiện truyền thông mới
Các phương tiện truyền thông mới là khái niệm ra đời sau và được hiểu bao gồm việc truyền đạt thông tin thông qua internet, bao gồm các loại hình như: web, báo điện tử
Ở đây, kênh truyền thông được sử dụng đó là Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến của Tổng cục Du lịch
Kênh truyền thông có tính chất cá biệt là loại kênh mà phía nguồn phát
và nguồn nhận trao đổi hai chiều với nhau, có thể giao tiếp mặt đối mặt qua điện thoại, thư từ, nối mạng
Trang 23Các kênh truyền thông cá biệt có hiệu lực cao bởi vì nó tạo cơ hội giao tiếp và phản hồi cá nhân, phía nguồn phát có thể đưa ra những giải pháp kịp thời để đáp ứng lại những phản ứng của người nhận
Kênh truyền thông cá biệt có ba loại chính đó là:
- Kênh có tính chất biện hộ Là các nhân viên truyền thông tiếp xúc với đối tượng chính
- Kênh có tính chất chuyên gia Là việc các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao phát biểu với các đối tượng chính
- Kênh có tính chất xã hội Là những người bạn, thành viên trong gia đình, đoàn thể nói chuyện với nhau, loại kênh này có tác dụng rất rộng rãi vì
Người nhận là đối tượng tiếp nhận thông điệp Ở đây chính là độc giả của Tạp chí Du lịch và trang Tin tức du lịch trực tuyến Độc giả có thể chia làm nhiều đối tượng, tùy từng đối tượng mà có những thông điệp và cách thức truyền tải khác nhau Có thể sắp xếp độc giả theo độ tuổi, giới tính, sở thích,
Người nhận là nhân tố quan trọng trong quá trình truyền thông Phải xác định được người nhận là ai thì việc tạo thông điệp của nguồn phát mới hiệu quả Bên cạnh đó, người nhận cần phải có một phông kiến thức nhất định để
có thể giải mã được thông điệp và điều chỉnh hành vi của mình
Đích đến của quá trình truyền thông chính là hiệu quả của quá trình và việc phản hồi của người nhận Trước đây, báo chí thường truyền thông một chiều, nghĩa là chỉ có phóng viên, biên tập viên viết bài cho độc giả đọc và
Trang 24không có công cụ phản hồi cho độc giả Hiện tại, báo chí đã phát triển với độ tương tác cao, độc giả có thể bày tỏ quan điểm của mình ngay dưới bài viết (đối với tác phẩm online) hoặc gửi thắc mắc về hòm thư điện tử của tạp chí
Để nâng cao độ tương tác giữa tòa soạn báo và độc giả, Tạp chí Du lịch cũng
đã có thêm một trang nhờ các chuyên gia giải đáp thắc mắc của độc giả Điều này khiến sợi dây liên kết giữa tòa soạn và người đọc trở nên bền vững hơn Qua những góp ý của độc giả, cán bộ truyền thông có thể hiểu hơn về thị hiếu của người đọc, từ đó điều chỉnh bài viết của mình sao cho tiếp cận được càng nhiều đối tượng càng tốt Bên cạnh đó, độc giả cũng giúp các sản phẩm báo chí có chất lượng hơn Rất nhiều bài báo được ra đời nhờ những phát hiện của người đọc Có thể nói, độc giả chính là kho tin tức khổng lồ
Ngoài ra trong quá trình truyền thông còn có thể có nhiễu Đó là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫn đến tình trạng thông tin, thông điệp sai lệch Nhiễu ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình truyền thông, càng qua nhiều khâu chuyển tiếp trong thông tin thì nhiễu càng lớn
Để truyền thông hiệu quả cũng cần phải chú ý đến điều kiện cơ sở hạ tầng như máy tính, mạng internet, Ví dụ như người thành phố sử dụng điện thoại, máy tính kết nối internet nhiều hơn thì sẽ tập trung vào đối tượng đó Còn đối với đồng bào vùng sâu vùng xa, nơi người dân khó có cơ hội tiếp xúc với báo chí thì
có thể giới thiệu tờ báo bằng việc mang tạp chí để tặng cho trường học, nhà văn hóa, già làng, mỗi khi các phóng viên có dịp đi công tác viết bài
Trang 25của nhân loại Sức phát triển luôn đi cùng với truyền thông Muốn quảng bá
du lịch tốt cần phải có sự hỗ trợ của các kênh thông tin đại chúng bao gồm rất nhiều hình thức như: báo in, tạp chí, truyền hình, phát thanh, internet, Mỗi loại hình đều có thế mạnh riêng phù hợp với từng kế hoạch quảng bá và từng đối tượng nhất định
Báo in, tạp chí:
Ưu điểm của việc quảng bá du lịch trên các ấn phẩm báo in và tạp chí đó
là thông tin có tính xác thực cao và người đọc có thể mang theo dễ dàng Đối với khách du lịch, đôi khi những tờ báo, tạp chí còn như một người bạn đồng hành, chỉ đường cho họ trên hành trình tìm hiểu và khám phá nét đẹp của du lịch Việt Nam
Những thông tin cập nhật và những bài giới thiệu quảng bá chất lượng cao luôn được đăng tải thường xuyên trên các chuyên trang du lịch của các tờ báo lớn Báo in là một công cụ quan trọng trong việc đưa tin những chính sách, định hướng phát triển du lịch giúp cho khách nước ngoài và những nhà đầu tư có thêm thông tin thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư vào ngành du lịch tại Việt Nam
Ngoài báo in, việc tiếp thị hình ảnh du lịch Việt Nam còn có sự đóng góp lớn của số lượng ngày càng nhiều các Tạp chí Du lịch Có thể nói trong giai đoạn hiện nay, số lượng và chất lượng của các tờ Tạp chí Du lịch đang ngày được cải thiện và trở thành công cụ hữu hiệu giúp quảng bá du lịch Việt Nam, đưa hình ảnh nước ta ra với trường quốc tế
Tạp chí Du lịch ở Việt Nam có một đặc điểm chung là hầu hết đều được phát hành miễn phí, đặt tại các địa điểm du lịch, quầy hướng dẫn du lịch, các khách sạn nhà hàng, khu resort hay trên máy bay Nội dung hầu hết đều đề cập đến nét đẹp của Việt Nam với phong cách mới mẻ nhưng sâu sắc, chân thực Đặc biệt việc sử dụng hình ảnh minh họa mang tính nghệ thuật giúp khách du lịch hình dung rõ ràng hơn về địa điểm đó, thu hút họ đến du lịch tại đó
Trang 26Tạp chí Du lịch Việt Nam hiện nay vô cùng phong phú và được xuất bản với nhiều thứ tiếng: tiếng Việt (Tạp chí Du lịch), tiếng Anh (The Guide, Timeout, Vietnam Pathfinder, Vietnam Discovery, ), Song ngữ Anh Việt (Heritage, Travellive, ), tiếng Nhật (Sketch )
Phát thanh, truyền hình
Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã chú ý đầu tư mạnh mẽ vào việc quảng bá thông qua kênh truyền thông phát thanh truyền hình Với thế mạnh là việc truyền tải thông tin kèm hình ảnh, âm thanh; phát thanh truyền hình trở thành kênh thông tin không thể thiếu trong chiến lược quảng
bá thương hiệu Việt Nam
Với sự phối hợp giữa Tổng cục Du lịch, Đài truyền hình Việt Nam và tại trợ của Hàng không Việt Nam, liên tục phát sóng trên VTV1 Chương trình
“Việt Nam – vẻ đẹp tiềm ẩn”; thực hiện một số cuộc tọa đàm, phóng sự trên VTV2 và VTV4 Nhiều bài viết, phóng sự, chuyên đề đã được phát và đăng tải trên sóng của Đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam, đài truyền hình VTC Trong đó hình ảnh của các bãi biển ở Nha Trang – Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, lễ hội Canaval Hạ Long, Con đường Di sản miền Trung, Liên hoan Văn hóa – Du lịch Đà Nẵng, Hè Phố biển Nha Trang chỉ là một trong số rất nhiều chương trình truyền hình độc đáo quảng bá du lịch biển Việt Nam Với việc xây dựng các chương trình giới thiệu về đất nước con người, về các điểm du lịch trọng điểm của Việt Nam phát sóng định kỳ trên “Du lịch qua màn ảnh nhỏ” của VTV2 và VTV4, các địa điểm du lịch Việt Nam lần lượt được giới thiệu một cách rõ nét và sống động với sự đầu tư tương đối chuyên nghiệp Sự ra đời kênh VTV4 và các chương trình bằng tiếng Anh dành cho người nước ngoài sinh sống, làm việc và du lịch ở Việt Nam cũng như những người Việt Nam ở nước ngoài với các chương trình như Expat Living, Hidden Charm cung cấp và các dịch vụ du lịch trên cả nước
Trang 27Cung cấp tư liệu, thông tin thời sự về hoạt động của ngành và phối hợp với VTV1 tổ chức các buổi trao đổi, tọa đàm, đối thoại về du lịch Trong một
số sự kiện xúc tiến quan trọng ở cả trong và ngoài nước, mời đại diện của VTV tham dự, kịp thời phản ánh rộng tãi hoạt động của ngành trên sóng truyền hình
Bên cạnh đó, ngành du lịch cũng hợp tác với Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng định kỳ vào thứ tư và chủ nhật hàng tuần “Tìm hiểu chính sách du lịch”, “Bảo vệ môi trường du lịch”, “Ý kiến doanh nghiệp”, “Câu chuyện hướng dẫn viên”, “Đi đâu, xem gì, ăn gì” và trang tin du lịch trong nước, quốc
tế “Việt Nam – Đất nước con người”, “Nhìn ra thế giới”, “Thư bạn yêu du lịch” để từ đó tiếp thị du lịch Việt Nam
Một trong những hình thức quảng bá du lịch đang được Việt Nam hướng đầu tư mạnh là xuất hiện trên các kênh truyền hình nổi tiếng thế giới như BBC, CNN, Fashion, Arirang, Discovery, NHK, CCTV cũng như các kênh truyền hình tại Italy, Úc, Anh,
Blog, internet
Đến ngày 22/12/2007, trang web www.vietnamtourism.com của ngành
Du lịch tròn 10 năm tuổi với số lượng truy cập là 9.806.501 lượt Hiện nay, với 5 phiên bản tiếng Việt, Anh, Pháp, Trung và Nhật, trang web đã trở thành
“địa chỉ có uy tín nhất trong lĩnh vực du lịch tại Việt Nam”
Chương trình đã từng bước đầu tư nâng cấp hệ thống trang thiết bị tin học phục vụ quảng bá trên mạng internet gồm 4 máy chủ riêng biệt, máy chuyên dụng thiết kế công nghệ cao, bổ sung thiết bị mạng và phần mềm hỗ trợ để nâng cao hiệu quả website; đồng thời, thuê bao server và đường truyền dùng riêng (tốc độ 128kb), duy trì tên miền phục vụ quản lý, cung cấp và khai thác thông tin Trên cơ sở đó, đã xây dựng, duy trì, nâng cấp các website: www.vietnamtourism.gov.vn: trang thông tin điện tử của Tổng cục Du lịch (bằng tiếng Anh và tiếng Việt)
Trang 28www.vietnamtourism-info.com và www.dulichvn.org.vn: trang thông tin
du lịch trực tuyến, thể hiện bằng 2 ngôn ngữ Anh, Việt
www.myhotelvietnam.com: hệ thống đặt phòng trực tuyến
Mặc dù, ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua cũng đã có các chương trình giới thiệu trong và ngoài nước trên nhiều phương tiện truyền thống Tuy nhiên, việc tiếp thị du lịch Việt Nam trên internet hiện nay còn bị
bỏ trống rất lớn, chưa phát huy được tiềm năng của loại hình quảng cáo hết sức hiệu quả này Đây là một yếu điểm của ngành du lịch Việt Nam, nếu không sớm thay đổi thì sẽ bỏ phí rất nhiều các thị trường khách hàng tiềm năng, đồng thời, ngành quảng cáo số Việt Nam cũng mất đi cơ hội lớn để phát triển
Có thể thấy, nhu cầu tìm hiểu thông tin về ngành du lịch qua internet tại Việt Nam không hề nhỏ Trong 5 năm trở lại đây, nhu cầu này đã tăng đến hơn 32 lần Mỗi tháng có hơn 5 triệu lượt tìm kiếm bằng tiếng Việt về các sản phẩm du lịch như: du lịch trong nước, tour nước ngoài, đặt phòng khách sạn, các loại hình du lịch… Những tháng cao điểm, con số có thể lên đến 8 triệu lượt Đấy là chưa kể số liệu thống kê về số người sử dụng, khai thác dịch vụ internet ở Việt Nam Theo số liệu tháng 12/2010 từ VNNIC, có tới ¼ dân số Việt Nam đang sử dụng internet, tương đương 27 triệu người Như vậy, rõ ràng tiềm năng quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam rất lớn, không chỉ dành riêng cho ngành du lịch mà tất cả các ngành nghề
Một lợi ích có thể nhìn thấy rõ nhất khi thực hiện các kế hoạch quảng cáo du lịch online là có thể thống kê được gần đúng khách hàng tiềm năng (nếu dùng quảng cáo truyền thống, con số này chỉ là ước lệ với sai số lớn) Nhờ tính cá nhân hóa, đồng thời giúp người xem có thể tương tác với thông điệp quảng cáo một cách gần gũi và thiện cảm nên quảng bá trực tuyến
rõ ràng là cách quảng bá tiết kiệm được nhiều chi phí hơn cho ngành du lịch Việt Nam
Trang 29Rất nhiều tổ chức ở những quốc gia khác trong khu vực như Singapore, Malaysia, Indonesia hay Đài Loan đang khai thác rất hiệu quả các kênh quảng
bá trực tuyến tại thị trường nước ta để tiếp cận đến khách hàng Việt Nam Vậy tại sao, ngành du lịch Việt Nam có được nhiều điều kiện thuận lợi như thế lại không biết cách tận dụng để nâng tầm giá trị thương hiệu du lịch Việt?
Rõ ràng, đã đến lúc ngành du lịch cần thay đổi tư duy và “chi mạnh tay” cho những hình thức quảng cáo trực tuyến như quảng cáo pay per click trên Google, tối ưu hóa website (SEO), mạng xã hội, online banner để tận dụng những ưu thế của online marketing, tìm hướng đi mới cho ngành du lịch trực tuyến của nước nhà
1.1.3.2 Sách và các phương tiện Multimedia
Hiện nay, sách về du lịch trên thị trường hiện nay có khá nhiều bởi đây
là một lĩnh vực khá rộng Chỉ riêng cẩm nang du lịch đã chiếm một số lượng lớn bởi trên thế giới hiện nay có rất nhiều quốc gia đẩy mạnh phát triển du lịch và là điểm đến mơ ước của nhiều người Việt Nam Đối với Tổng cục Du lịch, rất nhiều đầu sách phục vụ cho việc quảng bá du lịch Việt Nam đã được phát hành, cả bằng ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
Ví dụ như cuốn “Viet Nam Tourist
Guidebook” Đây là ấn phẩm chính thức có
uy tín trên thị trường trong và ngoài nước
hơn 10 năm nay Cuốn sách dày 600 trang
giới thiệu về vẻ đẹp của đất nước và con
người Việt Nam, giới thiệu các di tích, danh
thắng của 63 tỉnh, thành phố, đồng thời cung
cấp những thông tin cần thiết như: thủ tục thị
thực xuất nhập cảnh, hải quan, địa chỉ các đại
sứ quán nước ngoài tại Việt Nam, hệ thống
Trang 30giao thông đến và rời khỏi Việt Nam, các công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng, điểm mua sắm, điểm vui chơi giải trí… kèm theo các sơ đồ và bản đồ chỉ dẫn Cuốn sách là cẩm nang cần thiết cho du khách và các hướng dẫn viên Hiện nay, ấn phẩm này đã được tái bản lần thứ 7 với số lượng in là 7000 bản
Tiếp theo là cuốn “World Heritage Sites in Viet Nam” Ấn phẩm được thiết kế đẹp mắt, nội dung thông tin phong phú đầy
đủ về 18 di sản thế giới tại Việt Nam (tự nhiên, văn hóa vật thể, phi vật thể và tư liệu), kèm theo nhiều hình ảnh sinh động, thông tin
về dịch vụ du lịch, sơ đồ chỉ dẫn chi tiết của từng điểm di sản… Đây sẽ là cẩm nang hữu ích dành cho du khách khi tìm hiểu, khám phá về các Di sản thế giới ở Việt Nam đã được UNESCO công nhận
Để cung cấp và hỗ trợ thông tin cho du
khách tham quan, tìm hiểu các điểm du lịch của
Việt Nam, Trung tâm Thông tin du lịch (Tổng
cục Du lịch) tái bản lần thứ 8 sách “Bản đồ du
lịch Việt Nam – Viet Nam Travel Atlas”, phiên
bản 2013-2014, song ngữ Việt - Anh Là một
trong những cuốn sách thu hút sự quan tâm của
nhiều bạn đọc, “Viet Nam Travel Atlas” cung
cấp đầy đủ bản đồ du lịch các vùng miền của
Việt Nam, bản đồ du lịch chi tiết trung tâm các
thành phố lớn, kèm theo các thông tin tiện ích
Hình 1.2: Cuốn “World
Heritage Sites in Viet Nam”
Hình 1.3: Cuốn "Bản đồ
Trang 31như: chỉ dẫn (index) về các điểm du lịch, khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí…; thể hiện khoảng cách giữa các điểm du lịch, các trung tâm hành chính; thông tin cần biết cho du khách,… Sách được thiết kế, trình bày đẹp, in 4/4 màu với nhiều hình ảnh minh họa sống động Đây sẽ là cẩm nang du lịch không thể thiếu cho du khách trong nước và quốc tế khi muốn tự mình tìm hiểu và khám phá các vùng miền trên đất nước Việt Nam
Một trong những ấn phẩm được nhiều người đón đọc nhất là “Non nước Việt Nam” Nội dung sách đề cập đến các địa điểm du lịch tại 64 tỉnh, thành trên cả nước “Non nước Việt Nam” đã được tái bản đến lần thứ 11 Ngoài ra, Tổng cục Du lịch còn phát hành một số sách như “Xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch”, “Luật du lịch” với song ngữ Việt – Anh
Bên cạnh việc phát hành sách, Tổng cục Du lịch đã xây dựng và phát hành
một số sản phẩm quảng bá công nghệ cao như đĩa CD “Di sản thế giới ở Việt
Nam”, “Việt Nam”, “Du lịch Lễ hội Việt Nam”, “Niên giám du lịch Việt Nam”,
“Khám phá Hạ Long”, “Du lịch Đăk Lăk”, “Atlas địa lý Việt Nam” và gần đây nhất là “Việt Nam – vẻ đẹp bất tận”
Đối với sản phẩm phim quảng bá thì Tổng cục Du lịch đã cho ra bộ phim
“Việt Nam” dài 20 phút và “Con đường Di sản miền Trung” với thời lượng 15 phút
1.1.3.3 Thông qua các sự kiện du lịch
Các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật là những cơ hội thuận lợi để mỗi nước giới thiệu và quảng bá nét đẹp của nền văn hóa, con người và cảnh quan thiên nhiên của đất nước đó Thông qua việc tìm hiểu văn hóa, công chúng sẽ nhận thức sâu sắc hơn và toàn diện hơn, từ đó có nhu cầu muốn tìm hiểu và khám phá, cũng như lựa chọn địa điểm du lịch
Ngoài các hoạt động giao lưu văn hóa, còn có các hội trợ, triển lãm du lịch và ngày hội du lịch Mục đích của các hoạt động này là thúc đẩy du lịch trong nước bằng cách giới thiệu các địa điểm du lịch, cung cấp thông tin đất nước, văn hóa, con người với công chúng nước đăng cai tổ chức Vì thế đây là
Trang 32một trong những phương thức quảng bá thương hiệu du lịch khá hiệu quả Cũng thông qua các hoạt động này, mỗi nước có thể giao lưu, tìm hiểu và học hỏi những kiến thức về du lịch, thúc đẩy thương hiệu du lịch từ các nước tham gia hội chợ Thông thường, các hoạt động triển lãm du lịch thường gắn liền với các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật Việt Nam đã xúc tiến các hoạt động này khá thành công bằng việc tổ chức các ngày Việt Nam tại Đức, Anh, Thụy Điển, Singapore, Tây Ban Nha, Pháp,
1.2 Thực trạng ngành du lịch Việt Nam và vai trò, nhiệm vụ của quảng bá du lịch
1.2.1 Khái quát về du lịch Việt Nam
1.2.1.1 Lịch sử phát triển ngành du lịch Việt Nam
Ở Việt Nam ngành du lịch đã hình thành và phát triển hơn 50 năm nay, song hoạt động du lịch chỉ thực sự phát triển ở những năm thập niên 90 của thế kỷ trước, gắn liền với chính sách hội nhập Trong các giai đoạn phát triển, mặc dù có những khó khăn nhất định, nhưng du lịch Việt Nam vẫn phát triển
và duy trì được tốc độ tăng trưởng, dần khẳng định là một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân
Sau khi giành được độc lập tự do trên một phần của đất nước, mặc dù còn có rất nhiều vấn đề quan trọng cần giải quyết song Đảng ta đã có sự quan tâm đến hoạt động du lịch Chỉ 6 năm sau ngày giành chiến thắng Điện Biên Phủ, với Nghị định 26/CP ngày 9/7/1960 của Hội đồng Chính phủ, Công ty
du lịch Việt Nam đầu tiên của nước ta được thành lập Đây là lần đầu tiên nước ta có một cơ quan chuyên trách về vấn đề du lịch và ngày 9/7 cũng được coi là ngày thành lập của ngành Du lịch Việt Nam
Ngày 23/1/1979, Thủ tướng đã ban hành Nghị định 32/CP chính thức thành lập Tổng cục Du lịch Sự ra đời của Tổng cục Du lịch cho thấy Đảng và Nhà nước đã đánh giá cao vai trò của du lịch trong giai đoạn mới Điều đó đã
Trang 33tạo ra bước ngoặt mới đối với hoạt động du lịch Việt Nam Với cơ sở vật chất lớn mạnh, quyền hạn được mở rộng, giai đoạn này Tổng cục Du lịch trực tiếp quản lý trên 30 công ty du lịch trong cả nước cùng với hàng trăm khách sạn, nhà hàng, biệt thự, hàng ngàn phương tiện, hàng vạn cán bộ công nhân viên
có trình độ và kinh nghiệm để phục vụ khách trong và ngoài nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu sự khởi đầu cho một giai đoạn mới của đất nước Đó là đường lối đổi mới Luồng gió này đã đem lại nguồn sinh lực cho tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, giáo dục, quản lý Với chính sách mở cửa: Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, du lịch nước ta đã thực sự có điều kiện khởi sắc Có thể nói, đây là mốc thứ ba trong lịch sử phát triển du lịch Việt Nam hiện đại Từ sau Đại hội VI, nền kinh tế đất nước đã bắt đầu có
sự chuyển đổi về cơ bản Thêm vào đó, năm 1990 được chọn là Năm Du lịch
Việt Nam đã góp phần thúc đẩy một cách đáng kể hoạt động du lịch nước nhà
Hoạt động kinh doanh du lịch đã mở ra nhiều ngành, nhiều cơ quan, không chỉ trong phạm vi các thành phần kinh tế nhà nước mà còn ở cả những thành phần kinh tế khác Trước xu thế đó, du lịch không chỉ còn được coi là một hoạt động văn hóa xã hội thuần túy nữa mà đã được khẳng định còn là một ngành kinh tế quan trọng của đất nước Ngày 9/4/1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định
119 HĐBT về việc thành lập Tổng Công ty Du lịch Việt Nam Tên đối ngoại của Tổng Công ty Du lịch Việt Nam là Vietnamtourism Sự xuất hiện của Tổng Công ty du lịch Việt Nam trong hoạt động du lịch quốc tế đã thu hút được sự quan tâm của bè bạn và du khách năm châu Kể từ đây hoạt động du lịch quốc tế của nước ta mới chính thức được ghi nhận Số lượng khách quốc tế vào Việt Nam năm 1990 là 250.000 lượt, năm 1992 đã lên đến 440.000 lượt Tốc độ tăng trưởng trung bình năm khá cao, đạt khoảng trên 30%
Trang 34Ngày 26/10/1992, Chính phủ đã ra Nghị định số 05/CP về việc thành lập lại Tổng cục Du lịch như một cơ quan độc lập ngang Bộ thuộc Chính phủ - quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cả nước Sự kiện này đã tạo ra một
cơ hội to lớn cho sự phát triển của du lịch Việt Nam 14 Sở du lịch đã được thành lập ở các tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú và hoạt động du lịch sôi động nhất Sau thời điểm này, ngành du lịch Việt Nam đã thực sự có những chuyển biến đáng kể Số lượng khách, kể cả khách quốc tế và nội địa tăng lên nhanh chóng Năm 1994, con số khách quốc tế lên tới 1.018.000 du khách quốc tế năm 1994, sớm hơn 4 năm so với dự tính cả các chuyên gia WTO Tốc độ tăng trưởng trung bình năm của du khách quốc tế giai đoạn 1992 -
1994 đạt trên 60% đã làm nhiều đối tác và chuyên gia về du lịch của WTO phải ngạc nhiên
Ngày 24/12/1996, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII đã ra Nghị quyết 02-NQ/HNTW về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 Trong Nghị quyết chỉ rõ: Một trong những nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm là nghiên cứu các vấn đề lịch sử, dân tộc tôn giáo, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, triết học xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc dưới góc độ du lịch Nghị quyết này đã làm phong phú thêm nguồn tài nguyên du lịch, góp phần thu hút du khách, phát triển du lịch nước nhà
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng đã dành rất nhiều thời gian và sự quan tâm tới lĩnh vực du lịch Để phát triển du lịch Việt Nam theo quan điểm bền vững, về mặt tài nguyên, Đại hội chỉ rõ cần phải: bảo tồn và khai thác vẻ đẹp cảnh quan thiên và các di tích lịch để phát triển du lịch Ngày 25/12/2002, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV
về việc cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam Đến nay Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã có trên 260 hội viên trực tiếp và 15 Hiệp hội ở các tỉnh
Trang 35Ngày 31/7/2007, Quốc hội khóa 12 ra Nghị quyết quyết định thành lập
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam trên cơ sở sáp nhập Ủy ban Thể dục Thể thao, Tổng cục Du lịch và mảng văn hóa của Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam Bộ trưởng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và đồng chí Hoàng Tuấn Anh Kể từ khi sáp nhập, các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổ sung, tạo môi trường cho du lịch hoạt động thông thoáng Nhờ thực hiện chính sách đổi mới đường lối kinh tế, trong những năm gần đây ngành
du lịch Việt Nam đang ngày một khởi sắc, thu hút được nhiều du khách trong nước và quốc tế Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã không ngừng tăng trưởng liên tục: với 5.049.855 lượt (năm 2010), 6.014.032 lượt (năm 2011) và 6.847.678 lượt (năm 2012) Bên cạnh đó, khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh chóng: trên 28 triệu lượt (năm 2010), 30 triệu lượt (năm 2011) và 32,5 triệu lượt (năm 2012); khách du lịch ra nước ngoài đang có xu hướng tăng trưởng rõ rệt Đây là những con số đáng mừng cho ngành du lịch nước ta Để có thể đạt được những thành công
đó, Đảng và Nhà nước ta đã biết phát huy lợi thế tiềm năng du lịch của đất nước một cách hợp lý và hiệu quả
1.2.1.2 Tiềm năng du lịch Việt Nam
Việt Nam có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú
Nước ta với hơn 3000km bờ biển, nhiều khu vực có đảo, biển đẹp như
Hạ long, Nha Trang, Phú Quốc Dọc bờ biển Việt Nam có gần 125 bãi biển thuận lợi cho phát triển du lịch, trên 30 bãi biển được đầu và khai thác trong
đó có khu vực có tiềm năng lớn đã được đầu tư phát triển Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có hệ động thực vật rất phong phú và đa dạng, diện tích rừng lớn chiếm khoãng 37% diện tích đất Chúng ta đã thành lập được trên 100 khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm 27 vườn quốc gia, 34 khu
Trang 36văn hóa lịch sử, văn hóa, môi trường và 44 khu văn hóa Đến hết năm 2010 Việt Nam được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới Tiềm năng sinh vật nước ta có ý nghĩa to lớn về kinh tế, du lịch
Các điều kiện tự nhiên, khí hậu nước ta rất thuận lợi cho phát triển du lịch Với lợi thế tự nhiên như nà chúng ta có thể phát triển du lịch sinh thái, thành lập các khu thăm quan nghĩ dưỡng gần gủi với thiên nhiên đặc biệt là rất tốt cho sức khỏe của du khách khi đến đây
Tài nguyên du lịch của nước ta phân bố tương đối tập trung Điều đó đó góp phần hình thành các lãnh thổ du lịch trên cả nước Mỗi lãnh thổ có một sắc thái riêng, tạo nên các tuyến du lịch xuyên quốc gia, không lặp lại giữa vùng này với vùng khác nên không làm nhàm chán du khách
Việt Nam có 54 dân tộc cùng với nó là những nét văn hóa đa dạng mang bản sắc riêng, đặc sắc của từng vùng miền Chính nét đó đã làm nên bản sắc, cốt cách, hình hài dân tộc Việt Nam Các lễ hội văn hóa có sức hút to lớn với
du khách thập phương trong và ngoài nước Các di tích lịch sử - văn hóa là tài nguyên hàng đầu của du lịch Cho đến nay nước ta có khoãng 4 vạn di tích các loại trong đó có gần 3000 di tích được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Các di tích này đã và đang được khai thác nhất định vào phát triển du lịch
Sự đa dạng của nguồn tài nguyên cả về thiên nhiên (bãi biển, hang động, lớp phủ thực vật, động vật quý hiếm, nhiều cảnh quan thiên nhiên độc đáo) lẫn nhân văn (các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán, các làng nghề thủ công, sự đa dạng về bản sắc văn hóa các dân tộc ) là điều kiện
để phát triển du lịch với nhiều loại hình và thời gian khác nhau
Điểm nổi bật của du lịch Việt Nam là sự an toàn Đây là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn điểm đến của du khách Với hình ảnh tổng thống Nga Dmitry Medvedev đi bộ từ Hồ gươm đến khách sạn, tổng thống Mỹ Bill Clinton đi dạo quanh hồ Gươm đã minh chứng cho điều này với du khách
Trang 37quốc tế, bên cạnh đó Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế như APEC
14, ASEAN 17, ASEM 19 Đây có thể coi là những tiềm năng lớn giúp du lịch của Việt Nam phát triển
1.2.1.3 Logo và slogan du lịch Việt Nam qua các thời kỳ
Logo và slogan du lịch được coi là lời mời gọi ngắn gọn nhất, cô đọng nhất và súc tích nhất và rất hiệu quả thông qua hình ảnh, chữ viết để giới thiệu
về lợi thế, tiềm năng du lịch của các quốc gia đối với du khách quốc tế
Slogan giúp gây ấn tượng đối với các vị khách du lịch Ví dụ như trong vùng Đông Nam Á, slogan du lịch của Malaysia: “Malaysia, truly Asia” (Malaysia, châu Á đích thực) đạt hiệu quả rất lớn và được nhiều người biết đến nhất trong khu vực Thái Lan với “Amazing Thailand” (Thái Lan kỳ diệu)
và Lào với “Laos: Simply beautiful” (Lào: Vẻ đẹp giản đơn) cũng được nhiều người ưa chuộng Những quốc gia này đều giữ nguyên slogan và chỉ thay đổi chiến dịch quảng bá
Đối với Việt Nam, từ năm 2001 đến nay, logo và slogan du lịch Việt Nam đã được thay đổi tổng cộng 4 lần với những điểm nổi bật riêng Tuy vậy, hiệu quả đem lại chưa thực sự lớn
Biểu đồ 1.2: 71% người Việt được khảo sát biết đến slogan du lịch Việt Nam
Trang 38Biểu đồ 1.3: 56% du khách nước ngoài được khảo sát
không biết đến slogan du lịch Việt Nam
Khảo sát 250 người Việt Nam, gồm khách du lịch, sinh viên tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội và cán bộ tại Tổng cục Du lịch thì có 178 người biết đến slogan du lịch của Việt Nam, chiếm 71% tổng số phiếu Tuy vậy, có tới
28 du khách nước ngoài trên tổng số 50 du khách được hỏi không biết đến slogan du lịch Việt Nam, chiếm 56% tổng sô phiếu Điều này cho thấy, việc quảng bá slogan Việt Nam ra thế giới còn nhiều bất cập
Logo và slogan du lịch Việt Nam năm 2001 – 2004:
Hình 1.4: Logo du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 – 2004
Trang 39Việt Nam lần đầu tiên đã có biểu tượng (logo) và slogan để quảng bá cho
du lịch và ngoài nước trong chương trình hành động quốc gia về du lịch Lần thiết kế logo và slogan lần đầu tiên này, nước ta lấy slogan là “Việt Nam – điểm đến của thiên niên kỷ mới” với hình ảnh cô gái Việt đội nón lá cười rạng
rỡ, hình ảnh cô gái sau đó đã được hiện diện ở nhiều chỗ cả trong nam ngoài bắc và thậm chí ra ngoài quốc tế, chính logo và slogan này lần đầu tiên đã giới thiệu về du lịch Việt Nam với du khách quốc tế và tô đậm hình ảnh đất nước trong con mắt của các du khách quốc tế Câu slogan “Điểm đến của thiên niên kỷ mới” thực sự đã thành công bởi nó khơi gợi chí tò mò của du khách tuy nhiên vẫn hơi dài và khó nhớ, thiết kế logo chưa thể hiện được nét đặc thù của du lịch Việt Nam, cộng với chiến dịch quảng bá chưa chuyên nghiệp Logo và slogan này được du lịch Việt Nam sử dụng đến năm 2004 và ngành du lịch thấy cần phải thay đổi bằng một chiến dịch quảng bá khác đó là
sự ra đời của logo du lịch giai đoạn 2004 - 2005
Logo và slogan du lịch Việt Nam năm 2004 – 2005
Hình 1.5: Logo và slogan du lịch Việt Nam giai đoạn 2004 – 2005
Giai đoạn này du lịch Việt Nam đã chọn slogan “Hãy đến với Việt Nam” (Welcome to Vietnam) Logo và slogan này ngay lập tức bị sự phản đối
Trang 40của các chuyên gia và độc giả “Welcome to Vietnam” là một câu nói hết sức bình thường không chút sáng tạo, không gợi lên sự tò mò hay bất cứ điều gì
Có thể nói câu slogan này là một thất bại Cùng với slogan du lịch, logo giai đoạn này là cô gái mặc áo dài cách điệu, thể hiện đặc trưng của dân tộc Việt Nam, tuy vậy, nó lại quá đơn điệu và không bắt mắt Do bị phản đối quyết liệt nên logo và slogan này chỉ tồn tại đến năm 2005
Logo và slogan du lịch Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011
Hình 1.6: Logo và slogan du lịch Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011
Lần này ngành du lịch đã mở hẳn một cuộc thi về thiết kế logo và slogan cho du lịch Việt Nam, phần thắng thuộc về logo búp sen uốn lượn hình chữ S với slogan “Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn” (Vietnam – The hidden charm) Lần đầu tiên logo và slogan ngành du lịch Việt Nam được đánh giá là đẹp và ấn tượng Cùng với logo và slogan này là những kế hoạch truyền thông, marketing chuyên nghiệp Tuy nhiên logo và slogan này vẫn không tránh khỏi sự phản đối của vài chuyên gia, họ cho rằng từ “tiềm ẩn” không hợp lý Cuối cùng logo và slogan này đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong 5 năm, giai đoạn 2006 - 2011, ngành du lịch Việt Nam cũng đã đến lúc phải có một logo và slogan mới