Có thể kể đến các công trình, như: “Chân dung công chúng truyền thông” 2001, “Xã hội học báo chí” 2006 của Trần Hữu Quang, “Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo quản lý” 2000 d
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐINH KIM TUẤN
NHẬN DIỆN CÔNG CHÚNG BÁO ĐỒNG NAI
(Khảo sát tư liệu năm 2013)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60.32.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2Tôi xin chân thành tri ân các thầy cô ở Khoa Báo chí và các khoa liên quan tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, cùng các thầy cô tham gia giảng dạy lớp cao học báo chí khóa 18 (2012-2014) tại TP.Hồ Chí Minh, đã nhiệt tình truyền đạt phương pháp, kiến thức, kinh nghiệm giúp tôi trưởng thành hơn trong hoạt động nghề nghiệp và bước đầu có phương pháp nghiên cứu khoa học
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp ở báo Đồng Nai, gia đình và các thành viên lớp cao học báo chí khóa 18 đã động viên, khích lệ tôi thêm động lực vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn này
TP.Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Đinh Kim Tuấn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng
- Phó trưởng Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Các kết quả công bố trong luận văn là hoàn toàn chính xác Các trích dẫn, tham khảo đều rõ nguồn
Tác giả luận văn
Đinh Kim Tuấn
Trang 4Chương 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG CHÚNG VỚI BÁO ĐỒNG NAI 26
2.1 Báo Đồng Nai - lịch sử hình thành và phát triển 26 2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu công chúng báo Đồng Nai 34 2.3 Phân tích đặc điểm cơ bản các nhóm công chúng báo Đồng Nai 35
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
CÔNG CHÚNG BÁO ĐỒNG NAI 58 3.1 Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển công chúng của báo
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.6: Đánh giá về mức độ đáp ứng của báo trước vấn đề dư luận
Bảng2.10: Báo Đồng Nai điện tử cần làm gì để đáp ứng tốt hơn nhu
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Trang
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Truyền thông đại chúng theo PGS,TS Nguyễn Văn Dững là một hệ thống (hoặc mạng lưới các phương tiện truyền thông) hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin, chia sẻ nhằm lôi kéo và tập hợp, giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội và nhân dân nói chung
tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội đã và đang đặt ra
Theo đó, bản chất của hoạt động báo chí nói riêng và hoạt động truyền thông nói chung là hướng đến công chúng Nếu xem tác phẩm báo chí là một sản phẩm tinh thần thì người tiêu thụ sản phẩm ấy là công chúng Công chúng
là một thực thể đa dạng, có vai trò rất quan trọng trong quy trình truyền thông
và trong đời sống báo chí Chẳng hạn, trong mô hình truyền thông SMCR của Wilbur Schramm, chủ thể truyền thông (source) phát ra một thông điệp (message) qua một kênh (channel) đến người nhận (receiver) Như vậy, công chúng chính là mục tiêu, là đích đến của hoạt động truyền thông Không có người nhận thì mọi thông điệp đều trở nên vô nghĩa Nhưng công chúng không chỉ là đích đến của hoạt động báo chí mà còn là đối tượng để nhà báo, chủ thể truyền thông muốn tác động để từ đó tác động đến xã hội Do vậy, trong quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí, công chúng có vai trò quyết định Mặt khác, báo chí và các sản phẩm truyền thông khi lưu thông trên thị trường đều là hàng hóa Người làm báo không phải vì tiền, không lấy lợi nhuận làm cứu cánh, nhưng muốn duy trì và phát triển tờ báo, để từ đó thực hiện sứ mệnh cao cả của mình thì phải tuân thủ quy luật làm báo là phải bán được báo Ở phương diện này, công chúng là người tiêu dùng, là khách hàng của tòa soạn và phóng viên
Trang 8Công chúng tiếp nhận truyền thông nói chung và báo chí nói riêng không thụ động mà thường có sự chọn lọc, phản hồi về phía chủ thể phát tin Vì lẽ
đó, ngay từ đầu thế kỷ XX, đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu nhận diện về công chúng, vai trò của công chúng trong hoạt động báo chí Ở những nước
có nền báo chí phát triển, nhiều cơ quan báo chí đã có bộ phận nghiên cứu công chúng hoạt động chuyên nghiệp Như ở Liên bang Nga, một số báo có trung tâm hoặc viện nghiên cứu công chúng…
Tuy nhiên, việc nghiên cứu công chúng truyền thông chưa được quan tâm đúng mức ở các cơ quan báo chí Việt Nam Trên thưc tế, việc xác định công chúng nhiều khi chỉ mới dừng lại ở mức chủ quan, áp đặt, hoặc chỉ xác định nhu cầu công chúng chung chung Tình trạng này dẫn đến việc có nhiều hoạt động, nhiều sản phẩm báo chí không mang lại hiệu quả, thậm chí thất bại, dẫn đến thay đổi sản phẩm, thay đổi tổ chức Do vậy, việc tìm hiểu công chúng truyền thông là một yêu cầu thường xuyên, cấp bách nhằm nghiên cứu các giải pháp căn cơ, cập nhật cho hoạt động của mỗi cơ quan báo chí Bên cạnh đó, nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng luôn biến đổi nên việc nghiên cứu phải được thực hiện thường xuyên làm căn cứ khoa học để cơ quan báo chí không ngừng cải tiến nội dung và hình thức
Báo Đảng là một bộ phận quan trọng làm nên diện mạo chung của nền báo chí Việt Nam Trong lịch sử hình thành và phát triển, báo Đảng đã có những đóng góp to lớn Ngoài tờ Nhân dân của Trung ương Đảng, hiện tại ở
63 tỉnh, thành trong cả nước đều có báo Đảng địa phương Hệ thống báo Đảng đã có nhiều đóng góp trong các giai đoạn lịch sử Tuy nhiên hiện nay, báo Đảng nói chung và báo Đảng địa phương như báo Đồng Nai nói riêng đang có những khó khăn, mà chủ yếu là sản phẩm báo chí chưa đến được với đông đảo công chúng Một mặt, trong bối cảnh hiện nay, công chúng đòi hỏi
Trang 9thông tin ngày càng cao Mặt khác, sự cạnh tranh thông tin giữa các cơ quan báo chí, các loại hình báo chí, việc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến cho các cơ quan báo chí không thể không nghiên cứu và đề ra các giải pháp phát triển công chúng
Do vậy, những vấn đề đặt ra là: nhóm công chúng báo Đảng, đặc biệt
là công chúng báo Đảng của một địa phương năng động như Đồng Nai, có những đặc điểm gì đặc trưng so với cộng đồng công chúng truyền thông báo chí? Mức độ và thái độ tiếp nhận thông tin báo Đồng Nai của nhóm công chúng này như thế nào? Làm sao để cơ quan báo Đảng vừa làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền vừa đáp ứng nhu cầu công chúng? Nhằm làm rõ
hơn những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Nhận diện công chúng báo Đồng
Nai” (khảo sát tư liệu năm 2013) làm đề tài tốt nghiệp chương trình cao học
báo chí của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu công chúng truyền thông thực sự đã trở thành một chuyên ngành được nhiều học giả quan tâm Trên thế giới, khoa học nghiên cứu công chúng truyền thông đại chúng đã có hơn 100 năm nay và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quan niệm, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu khác nhau về vấn đề này Trong đó, nhiều tác giả coi việc nghiên cứu công chúng là một bộ phận, một khâu không thể thiếu trong khi nghiên cứu truyền thông đại chúng
Ở Việt Nam, nghiên cứu công chúng là lĩnh vực mới, nhưng chỉ riêng trong vòng 20 năm qua, vấn đề này đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu Theo các tài liệu mà chúng tôi có dịp tiếp cận được, hiện có các xu hướng tiếp cận về công chúng báo chí: tiếp cận công chúng dưới góc độ xã hội học và tiếp cận công chúng dưới góc độ báo chí truyền thông Cụ thể như sau:
Trang 10- Theo các tài liệu chúng tôi tiếp cận được, có hai hướng nghiên cứu công chúng từ bình diện xã hội học
+ Một là nghiên cứu lý thuyết về xã hội học Có thể kể đến các công trình, như: “Chân dung công chúng truyền thông” (2001), “Xã hội học báo chí” (2006) của Trần Hữu Quang, “Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo quản lý” (2000) do Vũ Đình Hòe chủ biên, các công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến công chúng truyền thông của PGS,TS Mai Quỳnh Nam…
Trong đó, PGS,TS Mai Quỳnh Nam có nhiều công trình nghiên cứu về mối tương tác hai chiều giữa cơ quan truyền thông với công chúng, gợi mở các hướng nghiên cứu khác nhau cho các cơ quan báo chí trong quá trình nghiên cứu công chúng, như: “Dư luận xã hội, mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu” (Tạp chí Xã hội học, số 1, 1995); “Truyền thông đại chúng
và dư luận xã hội” (Tạp chí Xã hội học, số 53, 1996); “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông” (Tạp chí Xã hội học, số 4, 2001)
Trong “Chân dung công chúng truyền thông”, tác giả Trần Hữu Quang
đã tiến hành phỏng vấn, điều tra, khảo sát sự tiếp cận và tiếp nhận của công chúng đối với các phương tiện truyền hình, phát thanh và báo viết tại 4 quận, huyện điển hình ở thành phố Hồ Chí Minh Nhờ có số liệu khảo sát này mà cuốn sách đã làm nổi bật lên ý tưởng về truyền thông và phát triển Cuốn sách cũng lưu ý một cách thẳng thắn đến tính gay gắt và cấp bách của việc tiếp tục nâng cao dân trí, tạo điều kiện cho phong cách tiếp cận và tiếp nhận tích cực thông tin đại chúng có thể đến được nhiều hơn với các nhóm xã hội bị thua thiệt về học vấn, vị trí xã hội
+ Hai là các nhà xã hội học đã nghiên cứu các trường hợp cụ thể, phân tích điều tra từ thực tiễn các khía cạnh của công chúng - truyền thông, như: “Hệ
Trang 11thống mass media với công chúng” của Đỗ Thái Đồng; “Truyền thông đại chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” của Trần Hữu Quang; “Nhu cầu đọc báo của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh” của Bành Tường Chân…
Ở hướng nghiên cứu này, tựu trung các tác giả nhìn đối tượng nghiên cứu là công chúng dưới góc nhìn xã hội học, từ đó tìm hiểu mối quan hệ truyền thông đại chúng và dư luận xã hội, báo chí và công chúng… và mục đích nghiên cứu công chúng để nhằm phân tích đối tượng, tìm ra các thông số
về cộng đồng công chúng, như: dân tộc, giới, nghề nghiệp, nhu cầu, các tín điều tôn giáo…
- Trên thế giới, nghiên cứu công chúng được xem như là nghiên cứu một
bộ phận, một khâu không thể thiếu của quy trình truyền thông Nhóm tác giả Boutlier Betal, Liebes, Katz coi vấn đề tâm lý, quyền người tiếp nhận là hướng nghiên cứu về “nội dung của các media”, nghiên cứu riêng hiện tượng tiếp thu và sự giải mã thông điệp mang tính xã hội sâu sắc của cá nhân người tiếp nhận
Riêng McQuail (Đại học Amsterdam) trong cuốn “Mass Communication Theory” (1994) có đề cập đến 4 mô hình truyền thông: khán, thính giả, độc giả (tức công chúng truyền thông) và sự tác động của truyền thông; cấu trúc công chúng, các kiểu công chúng, quy mô công chúng…
Ở Việt Nam, nghiên cứu về công chúng có nhiều sách, công trình tìm hiểu vấn đề này Có thể kể đến các công trình, như:
Trong “Truyền thông đại chúng” (2001), tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng
“việc nghiên cứu, nắm rõ tính chất, đặc điểm, nhu cầu của đối tượng tác động bao giờ cũng là một trong những yếu tố hàng đầu bảo đảm hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng [50, tr.28] Trong công trình này, tác giả có bàn về
Trang 12cơ chế tác động, hiệu quả xã hội của truyền thông đại chúng, phân tích sự phụ thuộc của hiệu quả xã hội đối với sự tiếp nhận của công chúng và quá trình tiếp nhận thông tin của công chúng
PGS,TS Nguyễn Văn Dững có nhiều công trình nghiên cứu về công chúng, chẳng hạn như trong công trình “Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)” (2011), tác giả bàn sâu về đối tượng của báo chí, đối tượng tác động của báo chí Theo tác giả, “trước hết đối tượng tác động của báo chí và truyền thông đại chúng là công chúng xã hội Công chúng
xã hội được hiểu là quần thể dân cư rộng lớn, chịu sự tác động và chi phối của báo chí (cũng như các kênh truyền thông đại chúng khác), ở đó không phân biệt thành phần, giai cấp, lứa tuổi, trình độ… xét về mặt nhân khẩu học - xã hội” [10, tr.75]
Trong công trình “Cơ sở lý luận báo chí” (2012), PGS, TS Nguyễn Văn Dững đã dành hẳn một chương về công chúng báo chí, trong đó làm rõ đối tượng tác động, nhận diện công chúng báo chí và cơ chế tác động của báo chí Trong công trình “Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản” (2012), PGS,
TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và TS Đỗ Thị Thu Hằng đã đề cập vấn đề nghiên cứu công chúng trong chu trình truyền thông
Trong bài nghiên cứu “Cơ chế tác động của báo chí” công bố trên tạp chí Khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), PGS, TS Nguyễn Văn Dững coi công chúng là mắt xích cần yếu trong cơ chế tác động của báo chí
- truyền thông
Trong công trình “Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo” (2013), tác giả
Đỗ Thị Thu Hằng đã làm rõ tâm lý sáng tạo của người làm báo, giao tiếp báo chí, tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng và kỹ năng viết báo, tổ chức sản phẩm báo chí tiếp cận tâm lý công chúng
Trang 13Bên cạnh các công trình tìm hiểu, nghiên cứu các cơ sở lý luận về công chúng truyền thông, ở Việt Nam còn xuất hiện một xu hướng nghiên cứu phổ biến tiếp cận công chúng ở một phương diện, một khía cạnh của vấn đề, như: theo nhóm đối tượng đặc thù (theo giới, độ tuổi…) hay theo nhóm đối tượng của loại hình báo chí, hoặc tìm hiểu ảnh hưởng của một loại hình báo chí đến một nhóm công chúng… Có thể kể đến các công trình, như: “Báo chí với trẻ em” (2004); “Phương pháp điều tra thính giả” (2003) của Đài Tiếng nói Việt Nam; “Nghiên cứu tác động của báo chí đối với việc xây dựng lối sống tích cực của thanh niên, sinh viên hiện nay” (1998) của Học viện Báo chí và Tuyên truyền; “Công chúng báo phát thanh hiện nay - khảo sát công chúng Đài Tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội từ 8-1993 đến 8-2004” (2004) của Phạm Thị Thanh Tịnh; “Ảnh hưởng của internet đối với công chúng Hà Nội” (2004) của Phạm Thị Thành…
Ngoài ra, trong những năm qua, đã có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn cao học… nghiên cứu liên quan đến vấn đề công chúng báo chí Chúng tôi có thể liệt kê một số luận án, luận văn, như:
+ Luận án tiến sĩ của Trần Bá Dung về “Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội” (2008) đã mô tả thực trạng nhu cầu thể hiện qua mô thức tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội; xem xét nhu cầu của công chúng như là một nguyên nhân chi phối cơ bản đối với quá trình truyền thông; chỉ ra các mối quan hệ có tính quy luật, những nhân tố tác động tới nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội
+ Luận án tiến sĩ của Trần Hữu Quang về “Truyền thông đại chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” (1998) đã làm rõ mức độ, cách thức tiếp nhận các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14+ Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Thu Hằng về “Quan hệ công chúng của các tờ báo dành cho thanh niên hiện nay” (khảo sát các tờ báo: Tiền Phong, Thanh Niên và Tuổi Trẻ) (2009) trên cơ sở chỉ ra 4 mâu thuẫn đã đề ra các giải pháp tương ứng nhằm phát triển quan hệ công chúng ở tòa soạn báo dành cho thanh niên
+ Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Phương Thảo về “Hiệu quả truyền thông đại chúng với công chúng thanh niên đô thị - nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng - 2006” đã phân tích hoạt động tiếp nhận thông tin của công chúng cũng như dư luận xã hội của giới trẻ ở thành phố Hải Phòng
+ Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tôn Hoàn về “Nghiên cứu công chúng báo Đảng các tỉnh Đông Nam bộ qua báo Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương (2007-2010) đã phân tích thực trạng công chúng, nêu lên những nỗ lực của các tòa soan báo nhằm tác động đến công chúng và từ đó đề ra các giải pháp cải thiện mối quan hệ giữa báo đảng các tỉnh miền Đông Nam bộ với công chúng Nhìn chung, các công trình nghiên cứu công chúng báo chí ở Việt Nam
đã được thực hiện trên các bình diện: xã hội học, tâm lý học, báo chí học Việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn công chúng ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã được quan tâm Tuy nhiên, đến nay, chưa
có công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về công chúng đối với báo
Đảng địa phương ở riêng tại Đồng Nai Do vậy, đề tài “Nhận diện công
chúng báo Đồng Nai” (khảo sát tư liệu năm 2013) là đề tài không trùng lắp
với các nghiên cứu trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng báo Đồng Nai, góp
Trang 15phần hình thành cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp phát triển công chúng của báo Đồng Nai, cũng như nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền của báo Đồng Nai đối với các nhóm công chúng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn giải quyết các nhóm nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý thuyết về công chúng truyền thông, phương pháp luận và cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng
- Khảo sát, làm rõ thực trạng tiếp nhận thông tin của công chúng báo Đồng Nai hiện nay với những khía cạnh, như: mức độ đọc báo, thái độ tiếp nhận, nhu cầu thông tin…
- Nghiên cứu các yếu tố có tính chất quy luật, ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng
- Khái quát hóa và nhận diện các nhóm công chúng hiện tại, công chúng tiềm năng của báo Đồng Nai
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển công chúng của báo Đồng Nai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công chúng - các nhóm công chúng của Báo Đồng Nai trong thời điểm khảo sát, ở cả hai sản phẩm: Báo
Đồng Nai bản in và báo Đồng Nai điện tử
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Thời gian 1 năm, từ tháng 1-2013 đến hết tháng
12-2013
Trang 16Không gian nghiên cứu: địa bàn tỉnh Đồng Nai
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Về mặt lý luận
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu: Cơ sở phương pháp luận tiếp cận đối tượng là những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về báo chí
Luận văn còn sử dụng các lý thuyết về báo chí học, xã hội học truyền thông, lý thuyết công chúng và công chúng truyền thông, tâm lý học báo chí, văn hóa truyền thông
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp điều tra, thu thập, xử lý thông tin:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Hệ thống, phân tích các thông tin có
sẵn trong tài liệu (kết quả các cuộc điều tra xã hội học, báo cáo của tỉnh Đồng Nai, báo Đồng Nai…), từ đó rút ra những thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài Ngoài ra, chúng tôi còn phân tích nội dung, hình thức của báo Đồng Nai từ tháng 1-2013 đến tháng 12-2013
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (an-két): Triển khai bảng hỏi để
thu thập thông tin khảo sát từ các nhóm đối tượng công chúng trong tỉnh Mục tiêu của phương pháp này là thu thập các đánh giá của công chúng liên quan đến báo Đồng Nai để từ đó làm cơ sở phân tích, đánh giá về công chúng của báo: công chúng của báo đã được đáp ứng như thế nào và cần phải làm gì để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công chúng hiện nay
Số phiếu phát ra là 600, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu điển hình, trong đó phân chia theo khu vực: nông thôn (290 phiếu) - thành thị (310 phiếu); nam (360 phiếu) - nữ (240 phiếu)
Trang 17- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu lãnh đạo và các
trưởng phòng ban chuyên môn của báo Đồng Nai, phỏng vấn cộng tác viên, bạn đọc và đại lý phát hành báo Đồng Nai Trong đó có 1 trưởng ban công tác bạn đọc của báo Đồng Nai, 1 cộng tác viên của báo, 1 giám đốc truyền thông doanh nghiệp và 1 bạn đọc lâu năm
- Phương pháp quan sát: Qua quan sát, tác giả nắm rõ hơn về tâm lý tiếp
nhận thông tin và thói quen mua báo, đọc báo của bạn đọc
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Ở nước ta, từ khi xuất hiện báo chí cách mạng đến
nay, những nghiên cứu về báo Đảng chủ yếu tập trung vào quy trình sản xuất, những công thức chung cho loại hình báo chí này, mà chưa tìm hiểu nhiều về công chúng của sản phẩm Trên thực tế, vai trò của công chúng đối với các cơ quan báo chí nói chung và đối với báo Đảng địa phương nói riêng
là không nhỏ
Về mặt lý luận, căn cứ trên nguồn tài liệu tương đối đa dạng và phong phú, cộng với việc khảo sát đối tượng nghiên cứu, luận văn góp phần cung cấp, hệ thống những lý luận chung về công chúng dưới góc nhìn của báo chí học, từ đó làm cơ sở để nghiên cứu các giải pháp để phát triển công chúng Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm, hay tiếp tục nghiên cứu đầy đủ, toàn diện hơn về vấn đề này
- Ý nghĩa thực tiễn: Xét về mặt thực tiễn, luận văn như là một gợi mở
góp phần để các nhà báo, các nhà quản lý báo chí - truyền thông có một hướng tiếp cận mới phục vụ trong công tác chuyên môn Đối với tác giả, luận văn bàn về hướng phát triển công chúng của cơ quan tác giả đang công tác Điều này góp phần giúp ích trong công tác chuyên môn, cân nhắc những ưu điểm - khuyết điểm của thực trạng công chúng hiện nay để góp phần xây dựng báo Đồng Nai ngày một chuyên nghiệp
Trang 187 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục hình, danh mục bảng, danh mục biểu đồ và phụ lục nằm ở phần đầu và cuối, luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết Cụ thể các chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công chúng báo chí
Chương 2: Mối quan hệ giữa công chúng với báo Đồng Nai
Chương 3: Các giải pháp phát triển công chúng báo Đồng Nai
Trang 19Trong khi đó, TS Trần Hữu Quang, trong “Xã hội học báo chí”, có nêu:
Công chúng là một tập hợp xã hội được cấu thành một cách phức tạp bởi nhiều giới, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau và mỗi người đều đang sống trong những mạng lưới xã hội và những mối quan
hệ xã hội nhất định Khi nghiên cứu về công chúng của một phương tiện thông tin đại chúng, người ta không thể tách những độc giả hay khán thính giả này ra khỏi môi trường sống của họ,
mà ngược lại, phải đặt họ vào trong các hoàn cảnh sống cũng như các mối quan hệ xã hội của họ [42, tr.267-268]
Còn theo PGS,TS Nguyễn Văn Dững, công chúng báo chí có thể được hiểu là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí gây ảnh hưởng hoặc hướng vào để gây ảnh hưởng Như vậy công chúng báo chí được xem xét trong mối quan hệ với sản phẩm báo chí, với cơ quan báo chí và với nhà báo
Trang 20[11, tr.139] Theo PGS,TS Nguyễn Văn Dững, công chúng có thể được nhìn nhận từ các bình diện khác nhau: là quần thể cư dân, không phân biệt giai cấp, giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp…; là nhóm đối tượng chuyên biệt, theo những tiêu chí nhất định về nhân khẩu học - xã hội học; đối tượng tác động, gây ảnh hưởng, công chúng và khách hàng - thị trường của báo chí;
là nguồn tin và sức mạnh xã hội của báo chí, nguồn sáng tạo của báo chí; là đầu ra, là khách hàng - thị trường của báo chí Có công chúng trực tiếp, công chúng gián tiếp; công chúng đích và công chúng liên quan… tạo thành khái niệm báo chí Cụ thể:
+ Công chúng đích là nhóm công chúng mà báo chí truyền thông hướng
tới để gây ảnh hưởng theo những mục đích đã định, không chỉ trước mắt mà
cả trong kế hoạch cũng như chiến lược truyền thông dài hạn
+ Công chúng liên quan là nhóm công chúng liên quan đến nhóm công
chúng đích mà nếu báo chí truyền thông gây được ảnh hưởng với nhóm công chúng này sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả ảnh hưởng đối với công chúng đích
+ Công chúng thực tế là công chúng mà báo chí đã và đang tác động gây
ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp Công chúng thực tế là công chúng đã và đang chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp hay gián tiếp của thông tin báo chí
+ Công chúng trực tiếp là những người chịu tác động trực tiếp từ sản
phẩm báo chí
+ Công chúng gián tiếp là những người chịu ảnh hưởng gián tiếp sản
phẩm báo chí thông qua nhóm công chúng trực tiếp nhờ ảnh hưởng lây lan Nói tóm lại, công chúng là một bộ phận quan trọng của quá trình truyền thông, là đối tượng tiếp nhận thông điệp của sản phẩm truyền thông Công chúng báo chí là người đọc, người nghe, người xem các sản phẩm của báo in,
Trang 21báo nói, báo hình và báo mạng điện tử Công chúng có thể là đại chúng, một nhóm đối tượng hay một cá thể nhất định tiếp nhận thông tin từ các loại hình báo chí
Công chúng là nguồn cảm hứng sáng tạo và là nguồn lực sáng tạo của báo chí Đồng thời, công chúng báo chí còn là khách hàng: mỗi khi sản phẩm báo chí là hàng hóa, thì món hàng hóa ấy được mua và tiêu dùng bởi công chúng
Có thể thấy, công chúng báo chí là một vấn đề phức tạp Việc nghiên cứu công chúng đòi hỏi phải có cái nhìn tổng hợp, toàn diện và đặt đối tượng trong một tọa độ văn hóa: thời gian - không gian - chủ thể cụ thể
1.1.2 Nhận diện công chúng báo chí
TS Trần Hữu Quang trong cuốn “Xã hội học báo chí” cho rằng một số đặc trưng chính của công chúng là: tính chất quảng đại, đông đảo; tính chất không đồng nhất (nghĩa là bao gồm nhiều giới, nhiều tầng lớp khác nhau) và tính chất nặc danh (một mặt, các nhà truyền thông không thể biết đích xác công chúng của mình gồm những ai; mặt khác, trong khối công chúng mênh mông đó, cũng không ai biết ai) Do đó, không nên quan niệm công chúng như một đối tượng nghiên cứu thuần nhất hay đồng dạng, mà cũng không thể coi đó như một tập hợp bao gồm những cá nhân đơn lẻ và rời rạc nhau Theo
TS Trần Hữu Quang, những dữ kiện đầu tiên để tiến hành một cuộc điều tra
về công chúng của một tờ báo chẳng hạn, là thống kê về các đặc điểm nhân khẩu học (như: nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi tác, nơi cư trú…) và sau đó là các đặc điểm xã hội (như: nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng gia đình, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội…) [42, tr.268]
Trong số các đặc điểm cá nhân, thông thường người ta nhận thấy trình độ học vấn đóng vai trò tác động mạnh nhất đối với hành vi và cách thức sử dụng
Trang 22các phương tiện truyền thông đại chúng Việc nắm bắt các đặc điểm của công chúng độc giả là một yêu cầu cần thiết đối với bất cứ tổ chức truyền thông nào Khi biết được diện mạo của đối tượng truyền thông, nhà truyền thông mới có thể thường xuyên tính toán, điều chỉnh và cải tiến cả nội dung, hình thức lẫn văn phong của tờ báo cho thích hợp và hiệu quả
Theo TS Đỗ Thị Thu Hằng trong “PR - Công cụ phát triển báo chí”, để xác định khái niệm công chúng báo chí, cần xem xét những dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất, công chúng báo chí là một nhóm xã hội rộng lớn, được
phân chia thành các nhóm công chúng khác nhau theo các đặc điểm nhân khẩu học, địa bàn cư trú, độ tuổi, giới tính, nghề
nghiệp, học vấn… Thứ hai, công chúng báo chí có thể chịu ảnh
hưởng của các tác động báo chí, một cách trực tiếp và gián tiếp
Thứ ba, chỉ có thể xác định được khái niệm công chúng báo chí
trong mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan báo chí, thể hiện ở mục đích tác động thông qua các tác phẩm báo chí cũng như các hoạt động, từ đó gây ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của
họ [17, tr.54]
Trong công chúng truyền thông cần đề cập tới công chúng đích và công chúng liên quan; công chúng tiềm năng và công chúng thực tế; công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp…
- Dựa vào tiêu chí độ tuổi có thể chia thành: Nhóm công chúng cao tuổi,
nhóm công chúng trung niên, thanh niên, công chúng trẻ em ở các nhóm tuổi các nhau
- Dựa vào tiêu chí giới có thể chia thành: nhóm công chúng nam - nữ
- Dựa vào tiêu chí nghề nghiệp có thể chia thành: nhóm công chúng là cán bộ công chức, nông dân, làm nghề tự do, quản lý doanh nghiệp…
Trang 23Ngoài ra, có thể căn cứ vào địa bàn cư trú để chia thành các nhóm công chúng nông thôn, thành thị, miền núi… Căn cứ vào mức độ mở rộng hay thu hẹp phạm vi ảnh hưởng của các loại hình sản phẩm báo chí khác nhau để chia thành nhóm công chúng hiện thời (nhóm công chúng đang chịu ảnh hưởng của báo chí) và nhóm công chúng tiềm năng (nhóm công chúng mà cơ quan báo chí có điều kiện và khả năng lôi kéo họ vào diện ảnh hưởng của mình) Căn cứ vào tính ổn định của nhóm công chúng trong tác động mà có nhóm công chúng truyền thống và không truyền thống
Như vậy, từ mục tiêu và đối tượng tác động chính của cơ quan báo chí,
có thể chia công chúng thành 2 nhóm: công chúng mục tiêu và công chúng liên quan Trong đó, Công chúng mục tiêu là nhóm công chúng quan trọng nhất, là đối tượng tác động chính của tờ báo Công chúng liên quan là nhóm công chúng khác, có liên quan và có ảnh hưởng đến khả năng tác động đến nhóm công chúng mục tiêu
Dựa vào mối quan hệ giữa công chúng với các loại hình báo chí có thể chia thành: công chúng báo in, công chúng phát thanh, công chúng truyền hình, công chúng báo mạng điện tử
Dựa vào mối quan hệ giữa công chúng với từng nhóm, hoặc từng sản phẩm báo chí, có thể phân chia thành các nhóm công chúng khác nhau: công chúng của sản phẩm báo chí kinh tế, thể thao, giải trí…
1.1.3 Đặc điểm và vai trò của công chúng
Theo tác giả Mai Quỳnh Nam, trong “Truyền thông đại chúng và dư luận
xã hội”, công chúng của truyền thông đại chúng có bốn đặc điểm sau:
- Thuộc mọi tầng lớp xã hội, bất kể địa vị, nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn… Vì thế, công chúng có những đặc trưng dị biệt với nhau
Trang 24- Nói đến công chúng của truyền thông đại chúng là nói đến cá nhân nặc danh Khi hướng đến đại chúng, báo chí không thể biết cụ thể ai là ai Có nghĩa là truyền thông đại chúng có thể đến với bất kỳ ai, không riêng một cá nhân nào
- Các thành viên của truyền thông đại chúng thường cô lập nhau xét về mặt không gian Điều đó khiến họ ít tương tác, tức là giữa họ không có mối quan hệ gì
- Công chúng của truyền thông đại chúng hầu như không có tổ chức hoặc nếu có thì cũng rất lòng lẻo, vì thế họ rất khó tiến hành chung những hành động xã hội
Từ bốn đặc điểm trên có thể thấy rằng công chúng của truyền thông đại chúng là một thực thể rất phức tạp, không bao giờ là một nhóm người thuần nhất, có những đặc trưng tương đồng lẫn dị biệt phong phú Công chúng là đối tượng tiếp nhận và phục vụ chính yếu của người làm báo Công chúng mục tiêu là đối tượng cụ thể, riêng biệt của từng tờ báo
Hình 1.1: Vai trò của nhóm công chúng mục tiêu
Ngày nay do trình độ dân trí nâng cao, phân công lao động rõ ràng, các yếu tố về môi trường xã hội… nên đã tạo ra các xu hướng chuyên biệt trong nhu cầu truyền thông và mục đích sử dụng thông điệp truyền thông của một vài nhóm công chúng Cơ quan báo chí dựa vào đó để thông tin phù hợp với
Trang 25đối tượng tiếp nhận Có thể khái quát vai trò của nhóm công chúng mục tiêu ở hai phương diện: Chủ thể hoàn thiện quy trình truyền thông và chủ thể mang lại lợi ích về kinh tế cho tờ báo
1.1.4 Mối quan hệ giữa công chúng và báo chí
Mối quan hệ giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện dư luận xã hội mang tính chất biện chứng Một mặt các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm thỏa mãn tối đa những nhu cầu ngày càng tăng của công chúng Mặt khác, bản thân công chúng lại đặt ra các yêu cầu mới đối với hoạt động của hệ thống này Sự phát triển trong mối quan hệ ấy thể hiện tính tích cực chính trị - xã hội của bản thân hệ thống báo chí và của công chúng báo chí
Không có thực tiễn phong phú, đa dạng; không có đòi hỏi bức thiết của đời sống, truyền thông đại chúng khó có sự đổi mới, tìm tòi để tăng cường chất và lượng thông tin Và ngược lại, từ sự nỗ lực của các phương tiện truyền thông đại chúng, cường độ dư luận xã hội, sự định hướng công chúng được tăng cường và tạo ra những hiệu quả xã hội nhất định Quan sát quá trình đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các tệ nạn xã hội trên báo chí những năm qua, có thể thấy sự nỗ lực của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội
- Tiếp cận từ quan điểm hệ thống, báo chí là một tiểu hệ thống thành viên của hệ thống xã hội trong tổng thể Báo chí tồn tại và hoạt động chịu sự tác động, chi phối của hệ thống xã hội cũng như các tiểu hệ thống khác thông qua các mối quan hệ ràng buộc, chi phối lẫn nhau trong cùng hệ thống và vận động trong các điều kiện lịch sử xác định Trong các quan hệ ấy, mối quan hệ giữa báo chí và công chúng luôn có ý nghĩa khoa học - thực tiễn đặc biệt, được giới khoa học xã hội học, chính trị học cũng như hoạt động chính trị,
Trang 26văn hóa, xã hội thường xuyên chú ý trong sự quan tâm đặc biệt từ các phương diện và mục đích khác nhau
Trong lý luận và thực tiễn, mối quan hệ của báo chí và công chúng là một trong những vấn đề có vị trí nền tảng và vai trò trung tâm, thu hút tâm lực của các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý cũng như hoạt động tác nghiệp của nhà báo Năng lực và hiệu quả tác động của báo chí vào công chúng và đời sống xã hội cũng qua mối quan hệ này, với những hình thức và mối quan hệ tác động rất linh hoạt, tức thời; và hàm chứa trong bản thân nó những vấn đề vừa cơ bản vừa bức thiết của công chúng và đời sống
xã hội Mặt khác, mối quan hệ tác động giữa báo chí - công chúng cũng là những chỉ báo rất quan trọng cho thấy thái độ, niềm tin của công chúng và đời sống xã hội đối với thể chế xã hội nói chung và với báo chí nói riêng
Báo chí và công chúng có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng xét trên
cả hai bình diện lý luận và thực tiễn hoạt động; công chúng vừa là đối tượng, là đối tác của báo chí và ngược lại Các luồng ý kiến, nhận định của công chúng là nội dung quan trọng hàng ngày mà báo chí truyền thông đăng tải; và từ công chúng lại đến lượt nó nảy sinh ra sự kiện - tin tức báo chí Báo chí lại là phương tiện chuyển tải các sự kiện, mối quan tâm của công chúng; báo chí vừa có thể phản ánh và biểu đạt dư luận, vừa có thể định hướng công chúng
1.2 Công chúng báo Đảng địa phương
1.2.1 Hệ thống báo Đảng địa phương
1.2.1.1.Sơ lược lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam
Báo chí cách mạng Việt Nam ra đời với dấu mốc là tờ Thanh Niên ra số đầu tiên ngày 21-6-1925 Lịch sử của báo chí cách mạng Việt Nam gắn liền với lịch sử của dân tộc
Trang 27Có thể phân kỳ lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam thành các thời kỳ như sau:
- Thời kỳ vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Các tờ báo ra đời và hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, bị thực dân Pháp đàn áp không thương tiếc Các tờ báo thời kỳ này chủ yếu dưới hình thức bí mật, có giá trị động viên to lớn để mọi người tin vào con đường cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc
- Thời kỳ 1930-1945: Báo chí gắn bó chặt chẽ với những cao trào vận động cách mạng Thời kỳ này các báo cách mạng ra công khai hoặc cử người tham gia các báo để tranh thủ mở rộng quy mô tác động vào quần chúng nhân dân Ngoài báo chí công khai và bí mật, thời kỳ này còn xuất hiện các tờ báo trong nhà tù, có ý nghĩa nâng cao nhận thức, củng cố ý chí của những cán bộ cách mạng bị tù đày
- Thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954: Báo chí cách mạng là bộ phận không thể thiếu của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 cũng như tiến trình chống thực dân Pháp
- Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 1955-1975: Báo chí cách mạng phản ánh kịp thời cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc và các phong trào thi đua, những cuộc vận động lớn ở miền Bắc
- Thời kỳ từ sau năm 1975 đến nay: Báo chí có điều kiện phát triển
về mọi mặt và giữ vai trò ngày càng to lớn, không thể thiếu trong đời sống
xã hội
Báo chí cách mạng Việt Nam bắt nguồn trước hết từ khuynh hướng yêu nước, dân chủ trong báo chí hợp pháp Báo chí cách mạng Việt Nam đã tiếp thu, kết thừa di sản báo chí cách mạng, dân chủ và tiến bộ trên thế giới và đồng thời là sản phẩm tất yếu của quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ của
Trang 28nhân dân Việt Nam Báo chí cách mạng Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng chính trị tư tưởng, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao cả của mình
1.2.1.2 Báo Đảng địa phương
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, báo chí Việt Nam nói chung và báo Đảng các tỉnh, thành phố nói riêng đã trải qua chặng đường dài đầy gian nan, thử thách và ngày càng trưởng thành, phát triển Lịch sử phát triển của báo Đảng các tỉnh, thành phố là một bộ phận không thể tách rời của lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam
Ở Việt Nam, báo chí dù là loại hình nào cũng đều thuộc cơ quan của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội Tên gọi báo Đảng là để chỉ đơn vị báo chí có cơ quan chủ quản là tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam Báo Đảng gồm hai cấp trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Ở cấp trung ương có tờ nhật báo Nhân dân và các báo, tạp chí của các Ban xây dựng Đảng Trung ương Ở cấp tỉnh, thành có tờ báo thuộc Đảng bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Quy định 338 ngày 26-11-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tổ chức, bộ máy của báo Đảng tỉnh xác định rõ nội dung của báo Đảng địa phương: Chức năng, nhiệm vụ của báo Đảng các tỉnh là thông tin, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng bộ, chính quyền địa phương; giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lối sống lành mạnh, truyền thống tốt đẹp, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Báo Đảng tham gia tích cực cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, nêu gương các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; tham gia tổng kết thực tiễn, đúc rút và phổ
Trang 29biến kinh nghiệm, góp phần bổ sung, hoàn thiện quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương, đưa đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống Báo Đảng đã tổ chức tiếp nhận, xử 1ý, đăng tải thông tin kịp thời, chính xác; thực hiện là diễn đàn của nhân dân theo quy định của pháp luật; góp phần xây dựng đảng bộ và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh Đặc biệt, trên lĩnh vực đấu tranh tư tưởng, báo Đảng phải thể hiện là công cụ chủ động đấu tranh kiên quyết, sắc bén với những âm mưu và hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời tích cực giám sát, phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các biểu hiện tiêu cực, góp phần định hướng tư tưởng và dư luận xã hội Quy định trên cũng xác định rõ tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động và mối quan hệ giữa cơ quan chủ quản, cơ quan quản lý và các
cơ quan liên quan
1.2.2 Công chúng báo Đảng địa phương: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra
Trong các giai đoạn lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc, báo Đảng địa phương có sự thay đổi về công chúng Cụ thể, trong những năm kháng chiến, báo chí cách mạng có công chúng hạn chế, chủ yếu là lực lượng cán
bộ, chiến sĩ tham gia kháng chiến và các tầng lớp nhân dân yêu nước, còn đối tượng ở những vùng khác ít có điều kiện tiếp cận với báo Đảng Sau ngày đất nước thống nhất, các loại hình báo chí có điều kiện phát triển
Báo Đảng địa phương nói chung có nội dung phản ánh mọi mặt hoạt động của địa phương Đây là nét đặc trưng của báo Đảng ở địa phương Ngoài
ra, báo Đảng địa phương cũng có thông tin tình hình quốc tế và trong nước
Trang 30Cũng từ đó, báo Đảng địa phương có lượng bạn đọc đặc thù, trong đó cán bộ, đảng viên là đối tượng đáng kể
Trong thời kỳ bao cấp, cũng như các cơ quan báo chí khác, hệ thống báo Đảng địa phương chưa thực sự quan tâm đến đối tượng bạn đọc của mình, nội dung thông tin còn đơn điệu, khô khan, chưa thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở nghiêm khắc:
Báo chí cũng phải hợp lý hóa Đừng bày biện ra nhiều thứ Làm
ít nhưng làm cho hẳn hoi Không hợp lý hóa lại như thế thì rốt cuộc báo viết ra không ai muốn đọc mà tốn kém một trăm thứ Đoàn thể cứ co cổ lại chịu tiền để mấy chú làm báo ngồi vẽ voi,
vẽ ngựa mà không ai đọc Tóm tắt Bác nói chừng đó các chú nghiên cứu lại [Hồ Chí Minh - Nói chuyện tại Hội nghị lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, trang 129, tập 7]
Lời nói của Người là điều những người làm báo, nhất là báo Đảng địa phương phải suy nghĩ để tìm ra các giải pháp phát triển công chúng báo chí
Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về công chúng và công chúng báo chí Theo đó, công chúng là một bộ phận quan trọng của quá trình truyền thông, là đối tượng tiếp nhận thông điệp của sản phẩm truyền thông Công chúng báo chí là người đọc, người nghe, người xem các sản phẩm của báo in, báo nói, báo hình và báo mạng điện tử Công chúng
có thể là đại chúng, một nhóm đối tượng hay một cá thể nhất định tiếp nhận thông tin từ các loại hình báo chí
Trang 31Sau khi nhận diện một số khái niệm, như: công chúng, công chúng báo chí, đặc điểm - vai trò của công chúng…, chúng tôi tập trung làm rõ mối quan
hệ biện chứng, xét trên cả bình diện lý luận và bình diện thực tiễn, giữa công chúng - báo chí
Ngoài ra, trong chương này, chúng tôi đã tập trung tìm hiểu về công chúng báo Đảng địa phương Cụ thể là đã tìm hiểu hệ thống báo Đảng địa phương và các đặc điểm của công chúng báo Đảng địa phương Qua đó cho thấy lịch sử phát triển của báo Đảng địa phương là một bộ phận không thể tách rời của lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam
Việc làm rõ những vấn đề chung về lý luận ở chương 1 chính là tiền đề cho những khảo sát, nhận định và kiến nghị được người viết trình bày trong chương 2 và chương 3 của luận văn
Trang 32Chương 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG CHÚNG VỚI BÁO ĐỒNG NAI
2.1 Báo Đồng Nai - lịch sử hình thành và phát triển
2.1.1 Khái quát về tỉnh Đồng Nai
2.1.1.1 Đặc điểm, tình hình tỉnh Đồng Nai
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km về hướng Tây Đồng Nai có diện tích tự nhiên 5.907,1 km2, bằng 1,76% diện tích của cả nước và bằng 19,4% cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Dân số của tỉnh đến cuối năm 2013 là trên 3 triệu người, trong đó: Dân số khu vực thành thị 35% và dân số khu vực nông thôn 65%
Đồng Nai hiện có 40 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 91,4% Công giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính ở Đồng Nai, chiếm khoảng 60% dân số Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 ước đạt là 12,6%; GDP bình quân đầu người cuối năm 2013 đạt 46 triệu đồng, tương đương 2.300 USD
Tỉnh Đồng Nai có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua, như: quốc lộ 1, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần đây Chính phủ mới đưa vào khai thác sử dụng đoạn cao tốc Dầu Giây - Long Thành - thành phố Hồ Chí Minh tạo thuận lợi trong liên kết vùng; hoàn thành việc nâng cấp quốc lộ 51 Biên Hòa - Vũng Tàu; tuyến đường tránh Biên Hòa (đường Võ Nguyên Giáp)
Đồng Nai gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, gần cụm cảng Sài Gòn, cụm Cảng Thị Vải - Vũng Tàu Ngoài ra, tuyến đường cao tốc Bến Lức - Nhơn Trạch dự kiến sẽ đưa vào sử dụng giai đoạn 1 với quy mô 4 làn xe trước
Trang 33năm 2017; cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết dự kiến hoàn thành giai đoạn 1 với quy mô 4 làn xe trước năm 2016
Các trục kinh tế động lực: Biên Hòa - Long Thành; trục kinh tế Biên Hòa
- Trảng Bom - Long Khánh - Xuân Lộc; trục kinh tế Thống Nhất - Định Quán
- Tân Phú - Long Khánh - Cẩm Mỹ và hình thành một loạt các tuyến đường vành đai như 768, 769, 25 B, vành đai 3, 4 nối các vùng kinh tế trọng điểm… thuận lợi trong giao thương trong nước và quốc tế
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai
Hiện tại Chính phủ đã làm việc với Đồng Nai và một số nhà đầu tư để triển khai đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng, như: Cảng hàng không quốc tế Long Thành với diện tích trên 5.000hécta, công suất đón, trả khoảng 100 triệu khách/năm và vận chuyển 5 triệu tấn hàng hóa hàng/năm; Cảng nước sâu Phước An, trọng tải tàu 60.000 DWT; tuyến đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu; đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu v.v
Trang 34Liên tục nhiều năm qua, Đồng Nai là một trong những địa phương đi đầu trong việc mở ra hàng loạt các khu công nghiệp và thu hút lượng lớn lao động từ mọi miền của đất nước đến làm ăn, sinh sống, phần lớn là lực lượng lao động trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
Đến nay, Đồng Nai đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép quy hoạch phát triển 34 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 11.380hécta Tính đến tháng 12-2013, tỉnh Đồng Nai có 31 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất 9.724,2hécta, tỷ lệ cho thuê đạt gần 65% diện tích đất công nghiệp dành cho thuê, đã có 36 quốc gia và vùng lãnh thổ hoạt động đầu tư gần 1.200 dự án Bên cạnh đó, Chính phủ đã chấp thuận và Đồng Nai đã tiến hành thành lập khu công nghiệp công nghệ cao tại huyện Long Thành (500 hécta), khu liên hợp công nông nghiệp tại huyện Xuân Lộc và huyện Thống Nhất (2.186 hécta), khu công nghệ cao chuyên ngành công nghệ sinh học tại huyện Cẩm Mỹ (209 hécta) mở ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư vào Đồng Nai
Bên cạnh các khu công nghiệp, Đồng Nai đã quy hoạch và phát triển 45 cụm công nghiệp và làng nghề với diện tích khoảng 2.080 hécta nhằm tạo thuận lợi cho việc đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ…
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Với phương châm “chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp”, nhiều năm nay, tỉnh Đồng Nai đã thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài vào đầu
tư tại các khu công nghiệp Đồng Nai (năm 2013 đạt trên 1,6 tỷ USD), tạo thuận lợi cho công nghiệp Đồng Nai phát triển nhanh chóng Đội ngũ công nhân phát triển mạnh về số lượng và chất lượng cả khu vực quốc doanh, ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 35Công nghiệp phát triển đã thúc đẩy phát triển nông nghiệp và các ngành dịch vụ, kết cấu hạ tầng, như: giao thông, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, thương mại, đầu tư phát triển…
Có thể nói, kinh tế Đồng Nai đã đạt được những thành tựu đáng kể trong thời kỳ đổi mới đất nước, là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước
về tốc độ tăng trưởng kinh tế, chủ yếu nhờ vào sự phát triển ngành công nghiệp Quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, tích lũy cơ sở vật chất kỹ thuật khá đồng bộ, tạo tiền đề cho việc giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh
tế cao và bền vững
2.1.2 Quá trình hình thành - phát triển của báo Đồng Nai
2.1.2.1 Sơ lược về báo Đồng Nai
Trong lịch sử, báo chí Đồng Nai gắn liền với sự hình thành và phát triển của báo chí vùng Nam bộ và là một trong những tờ báo Đảng địa phương ra đời khá sớm ở miền Nam
Trước năm 1945, Đồng Nai chưa có tờ báo riêng mang tính chất địa phương, nhưng cũng đã có một số người làm việc, cộng tác cho một số tờ báo
ở Sài Gòn Từ tháng 6-1946, tờ báo mang tên Đồng Nai được in ronéo chính thức ra đời, làm nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân trong kháng chiến Tuy chỉ có 2 trang/kỳ và mỗi kỳ chỉ in 300-500 bản nhưng tờ báo mang ý nghĩa đặc biệt và có tác động tích cực trong đời sống kháng chiến
Cuối năm 1948, báo Đồng Nai đổi thành báo Biên Hòa, xuất bản 3 ngày/kỳ, in chữ chì nên thông tin nhanh nhạy hơn, phản ánh kịp thời tình hình chiến đấu của quân dân ta, góp phần cổ vũ, động viên rất lớn cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân vững niềm tin vào chiến thắng
Trang 36Giai đoạn này, báo không chỉ lưu hành trong chiến khu mà còn được bí mật chuyển vào vùng tạm chiếm để tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến
Tháng 5-1951, hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên, tờ báo Biên Hòa cũng được đổi thành báo Thủ Biên, in 4 trang khổ A3, ra 3 ngày/kỳ với số lượng 400-500 tờ/kỳ Từ đây cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tờ báo bám sát đời sống kháng chiến
và phục vụ cuộc kháng chiến Đội ngũ làm báo vừa cầm bút vừa cầm súng làm nhiệm vụ
Sau năm 1954, với Hiệp định Genève, nhiều cán bộ kháng chiến tập kết
ra Bắc, số còn lại bị địch lùng sục, bắt bớ, tù đày; nhiều cơ sở cách mạng bị địch đánh phá ác liệt, báo Thủ Biên tạm thời đình bản
Tháng 6-1961, Trung ương Cục miền Nam thành lập lại tỉnh Biên Hòa Tỉnh quyết định cho xuất bản trở lại báo Đồng Nai sau gần 15 năm gián đoạn Đến năm 1966, trước yêu cầu nhiệm vụ mới trong kháng chiến chống Mỹ, ba tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh sáp nhập thành tỉnh Long Bà Biên, báo cũng được đổi tên thành báo Giải Phóng
Sau ngày đất nước thống nhất, thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, báo Đồng Nai số đặc biệt Tết Bính Thìn năm 1976 đã ra mắt bạn đọc Cũng từ đó, trong điều kiện khó khăn, báo đã gầy dựng, đào tạo đội ngũ làm báo để đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới
Tiếp nối truyền thống các tờ báo tiền thân, sau năm 1975 báo Đồng Nai
đã không ngừng phát triển Báo Đồng Nai liên tục cải tiến và tăng kỳ, nâng cao chất lượng để phục vụ nhu cầu thông tin ngày càng cao của bạn đọc, đáp ứng xu thế phát triển của báo chí hiện đại và nhu cầu thông tin của bạn đọc trong tỉnh, trong khu vực
Trang 37Hình 2.2: Quyết định bổ nhiệm Ban biên tập
và bìa báo Xuân Đồng Nai năm 1976
Trong những ngày đầu thành lập (tính thời điểm sau năm 1976), báo Đồng Nai có 8 trang nội dung, phát hành hàng tuần Trong quá trình phát triển, báo hiện nay in 2 màu, 16 trang nội dung (kèm phụ trương quảng cáo có giấy phép riêng, mỗi kỳ khoảng 4 trang), phát hành 4 kỳ/tuần (thứ hai, thứ ba, thứ năm, thứ bảy) Nội dung chủ yếu tập trung cập nhật, phản ánh tình hình thời sự, chính trị, kinh tế - xã hội, những vấn đề người dân quan tâm trong tỉnh, trong nước và thế giới Hình thức phản ảnh bằng các tin, bài, ảnh, chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề, phóng sự, điều tra… Từ ngày 1-7-
2013, Báo Đồng Nai thực hiện một số cải tiến về nội dung và hình thức Trong đó, về hình thức, số ra ngày thứ bảy được in 4 màu
Ngoài báo in, báo Đồng Nai có trang thông tin điện tử trên mạng internet được cập nhật hàng ngày Báo Đồng Nai điện tử được chính thức phát lên
Trang 38mạng internet ngày 20-12-2001 và được truy cập theo địa chỉ: baodongnai.com.vn Ngày 26-4-2005, Báo Đồng Nai đã nâng cấp báo Đồng Nai điện tử và có thêm phần tiếng Anh Ngày 1-7-2011, báo tiếp tục thay đổi giao diện…
Báo Đồng Nai điện tử hiện nay có số lượt truy cập bình quân khoảng 35.000 lượt/ngày, đột biến có những ngày lên đến trên 50.000 lượt Báo Đồng Nai điện tử đã trở thành một kênh thông tin bổ ích để độc giả cả nước và bà con kiều bào nước ngoài hiểu hơn về bản sắc văn hóa và những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội mà tỉnh Đồng Nai đã đạt được… Đây cũng là một kênh thông tin quan trọng để các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm hiểu và đến làm ăn, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh nhà
Ngoài ra, báo Đồng Nai cũng xuất bản ấn phẩm phụ là Thế Giới Gia Đình, phát hành ngày thứ tư hàng tuần Đây là ấn phẩm giải trí, ra số đầu tiên vào tháng 1-2010 và đến đầu tháng 7-2014, do khó khăn về kinh phí, ấn phẩm
đã tạm ngưng xuất bản
2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của báo
Báo Đồng Nai là đơn vị sự nghiệp của Tỉnh ủy Đồng Nai, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; có chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ tỉnh, là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh; là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với nhân dân
Báo Đồng Nai có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng
và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của tỉnh và đất nước; góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Trang 39Hình 2.3: Trang bìa một số báo Đồng Nai
Báo thông tin trung thực, kịp thời và đúng định hướng các sự kiện diễn
ra trong tỉnh và một số sự kiện nổi bật diễn ra trong nước và thế giới
Báo phản ánh trung thực những tâm tư, nguyện vọng chính đáng, những kiến nghị, kinh nghiệm và sáng kiến của mọi tầng lớp nhân dân
Báo phát hiện, nêu gương người tốt việc tốt, nhân tố mới; đấu tranh phòng, chống và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác
Báo đấu tranh kiên quyết, có trọng tâm, trọng điểm, chính xác, đúng pháp luật, kịp thời chống lại các thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của nước ta
Trang 402.1.2.3 Tổ chức bộ máy, nhân sự
- Bộ máy của báo Đồng Nai, gồm:
+ Ban biên tập: Tổng biên tập và các phó tổng biên tập
+ Phòng Tòa soạn
+ Phòng Báo điện tử
+ Phòng Tổ chức - hành chính
+ Trung tâm Dịch vụ - quảng cáo báo chí
+ Ban Văn hóa - xã hội
Cùng với việc bảo đảm tôn chỉ, mục đích của một tờ báo Đảng địa phương, báo Đồng Nai đã từng bước đổi mới về nội dung lẫn hình thức Nội dung tuyên truyền của báo ngày càng gắn với cuộc sống, bám sát những vấn
đề thời sự mà bạn đọc quan tâm; đồng thời phản ánh được nhiều hơn những tâm tư, nguyện vọng của người dân và bạn đọc
2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu công chúng báo Đồng Nai
- Để nắm rõ thực trạng công chúng báo Đồng Nai, chúng tôi đã làm bảng hỏi an-két và tiến hành khảo sát với 600 phiếu hỏi được thực hiện tại TP.Biên Hòa, TX.Long Khánh và các huyện: Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Định Quán, Tân Phú, Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Trảng Bom, Long Thành và Nhơn Trạch trong tháng 5-2014 Các đối tượng khảo sát thuộc đủ lứa tuổi, thành phần xã hội, nghề nghiệp, địa bàn cư trú ở thành thị và nông thôn