BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRẦN THỊ HẢI YẾN TƯ TƯỞNG TỪ BI BÁC ÁI CỦA PHẬT GIÁO VÀ TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG CỦA NHO G
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ HẢI YẾN
TƯ TƯỞNG TỪ BI BÁC ÁI CỦA PHẬT GIÁO VÀ
TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG CỦA NHO GIÁO -
SỰ THỐNG NHẤT VÀ KHÁC BIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ HẢI YẾN
TƯ TƯỞNG TỪ BI BÁC ÁI CỦA PHẬT GIÁO VÀ
TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG CỦA NHO GIÁO -
SỰ THỐNG NHẤT VÀ KHÁC BIỆT
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS NGUYỄN BẰNG TƯỜNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Chương 2: SỰ THỐNG NHẤT VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG TỪ
BI BÁC ÁI CỦA PHẬT GIÁO VÀ TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG CỦA NHO GIÁO 32
2.1 Sự thống nhất giữa tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo 322.2 Sự khác biệt giữa tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo 43
Chương 3: VĂN HÓA KHOAN DUNG - SỰ KẾ THỪA PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VÀ NHO GIÁO TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 62
3.1 Cơ sở hình thành văn hóa khoan dung ở Việt Nam hiện nay 62 3.2 Những đặc điểm của văn hóa khoan dung ở Việt Nam hiện nay 75
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang ra sức phấn đấu để có cuộc sống sung túc về kinh tế, lành mạnh về văn hóa và tình thần, cũng như có một nền hòa bình bền vững trên toàn thế giới Tuy nhiên, có không ít những sự đe dọa ước vọng cao đẹp và chính đáng đó của con người Đó có thể là những mâu thuẫn xung đột về văn hóa, chủng tộc, dân tộc, xã hội, tôn giáo và kinh tế đang diễn ra khắp nơi trên thế giới Do vậy, nhiều cuộc chiến tranh, đấu tranh đã diễn ra ở rất nhiều khu vực trên thế giới Tuy nhiên, đôi khi một cuộc chiến tranh tàn khốc nào đó kết thúc thì một cơn lốc bạo lực mới lại xuất hiện Điều này xảy ra là do sự kích động và trỗi dậy của những tư tưởng cực đoan Nhiều cuộc khủng bố xảy ra, những sự căng thẳng về vấn đề dân tộc, về sự phát triển của những trào lưu tư tưởng mới đang âm thầm tái diễn Bên cạnh đó, những mâu thuẫn và xung đột về văn hóa phát sinh là do xu hướng áp đặt văn hóa, lấn át văn hóa từ phía các nước có ưu thế về kinh tế, kỹ thuật và công nghệ Đồng thời, trên thế giới,
xu hướng đấu tranh chống lại sự áp đặt “đồng hóa” văn hóa cũng xuất hiện Chính vì vậy, vấn đề văn hóa giao tiếp đang được đặt ra trên toàn cầu Bước sang thế kỷ XXI, con người hướng đến, văn hóa ứng xử giữa các quốc gia, các dân tộc, các khu vực mong muốn xây dựng “thế kỷ đối thoại”, và tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo giáo hay tư tưởng khoan dung của Nho giáo được nhắc lại nhiều và được phát triển để trở thành nền tảng có thể thỏa mãn mong muốn đó
Từ bi bác ái của Phật giáo và Khoan dung của Nho giáo đã là yêu cầu với tư cách là vấn đề triết học hiện thời – là phẩm hạnh, đức tính đạo đức – chính trị
và văn hóa, chống lại mọi hình thức kỳ thị, phân biệt chủng tộc và văn hóa
Tư tưởng Từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng Khoan dung của Nho giáo
đã được tiếp thu trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Dù hơn 1000 năm chịu sự thống trị của chế độ phong kiến
Trang 5phương Bắc, 100 năm dưới ách thống trị của thực dân và đế quốc, dân tộc Việt Nam vẫn thể hiện một tinh thần nhân văn sâu sắc – chúng ta “mở đường hiếu sinh” khi kẻ thù bại trận Và đến bây giờ, Việt Nam vẫn sẵn sàng làm bạn với các nước trên thế giới, kể cả với những nước đã từng là kẻ thù trước đây của mình, trên tinh thần hợp tác để cùng phát triển Có thể nói, Phật giáo, Nho giáo
đã có con đường thâm nhập và phát triển lâu bền ở Việt Nam, và cùng với văn hóa bản địa đã làm nên những giá trị tích cực Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế hóa hiện nay, những giá trị ấy lại càng được nâng lên sâu sắc, giúp ích cho xu thế toàn cầu Vì vậy, tìm hiểu hai dòng tư tưởng có những điểm khác biệt nhất định nhưng cũng có sự thống nhất, đan xen để làm nên tinh thần hướng thiện, cởi mở sâu sắc trong văn hóa giữa người với người
Bên cạnh đó, Unesco cũng không phủ nhận rằng sự khác biệt giữa các nền
văn hóa có thể dẫn đến tranh cãi bất đồng thậm chí xung đột Mục đích của Lời
kêu gọi khoan dung do Tổng giám đốc Unesco Federico Mayor nêu ra, trước
hết làm cho sự khoan dung ăn sâu trong tâm trí mọi người không như một thái
độ ứng xử, mà cả trong những cách bố trí của sự vận hành xã hội và chính trị, chi phối và tạo dựng mối quan hệ giữa con người với con người Vì vậy, nhân loại cần phải đoàn kết, chống lại sự đồng hóa, thiếu khoan dung, không từ bi bác ái cả trong tinh thần lẫn cách sống từ mỗi cá nhân cho đến toàn thể nhân loại Và cho đến những năm gần đây, thực trạng bất ổn trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của các quốc gia và các khu vực cho thấy cần phải nhìn nhận sắc nét về tư tưởng từ bi bác ái trong Phật giáo và tư tưởng khoan dung trong Nho giáo, để thấy được sự thống nhất và khác biệt, song cùng hướng đến mục tiêu chung là văn hóa hướng thiện, nhân ái trong cộng đồng
Để chúng ta có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo, tác giả quyết định chọn đề tài
Trang 6nghiên cứu: “Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung
của Nho giáo – sự thống nhất và khác biệt” làm luận văn thạc sĩ triết học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo hiện nay có rất nhiều các công trình, tài liệu đã công bố
thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau, nhất là trong những năm gần đây:
Nghiên cứu về tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo cũng có rất nhiều tác
phẩm và bài viết nghiên cứu: “Mấy vấn đề về Phật giáo trong lịch sử Việt
Nam” (2010) của Nguyễn Đức Sự và Lê Tâm Đắc, “Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam” (2002) của Nguyễn Hùng Hậu, “Cơ duyên tồn tại và phát triển của Phật giáo Việt Nam hiện nay” (2010) của Vũ Minh Tuyên
Tư tưởng khoan dung trong lĩnh vực tôn giáo có thể kể đến “Tinh thần
khoan dung và sự hoà giải trong tư duy của người Ấn Độ” (2006) của Hajine
Nakamura, hay loạt bài viết của Hoàng Thị Thơ: “Vài suy ngẫm về khoan
dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam” (2007), “Khoan dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam” (2008) và
“Khoan dung Phật giáo cho lợi ích chung của đất nước trong bối cảnh toàn cầu” (2008) Liên quan đến tư tưởng khoan dung trong vấn đề tôn giáo Việt
Nam có “Tôn giáo và khoan dung: trường hợp của Việt Nam” (1997) của Đỗ Quang Hưng; “Khoan dung tôn giáo - Một triết lý nhân sinh của người Việt” (2007) của Đỗ Lan Hiền, “Tính khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam” (2008) và “Từ ngày quốc tế khoan dung suy nghĩ về tính khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam” (2008) của Nguyễn Đức Lữ Riêng về
vấn đề khoan dung văn hoá ở Việt Nam, có “Bao dung là một lối sống văn
hoá” (1994) của Đỗ Huy; “Tư tưởng khoan dung của Khổng Tử và sự thể hiện của nó ở Nguyễn Trãi” (2011) của Trần Nguyên Việt, v.v
Trang 7Trong “Lịch sử Triết học Trung Quốc” của PGS Hà Thúc Minh, tác giả
đã lược khảo sự hình thành và phát triển triết học Trung Quốc, phân kỳ các thời kỳ lịch sử triết học Trung Quốc, đặc biệt coi trọng Nho giáo với đỉnh cao
là tư tưởng Khổng Mạnh Tác giả chỉ điểm những nét nổi bật của các học thuyết nhưng cho độc giả thấy được ngàn năm văn hóa, bề sâu trầm tích triết học của Trung Hoa
Trong “Khổng Tử” của Lý Tường Hải, tác giả đã phân tích sâu sắc từng lát
cắt quan trọng trong thân thế và tư tưởng của Khổng Tử để thấy được học thuyết của ông là đỉnh cao của Nho giáo Phương Đông Học thuyết của Khổng
Tử được tác giả tìm hiểu ở những phương diện quan trọng như: vai trò của quân tử và thánh hiền, lý tưởng xã hội an thuận thái hòa, khung cảnh sống với trời hòa đồng và đặc biệt, tác giả dành một phần để phân tích làm rõ tư tưởng của Khổng Tử đối với sự phát triển lịch sử tư tưởng văn hóa Trung Hoa
Trong “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, tác giả phân tích sự phát triển từ
Nho giáo sơ kỳ của Khổng Tử cho đến các giai đoạn Nho giáo đời sau ở Trung Quốc và Việt Nam Đặc biệt, tư tưởng của Khổng Mạnh được tác giả phân tích sâu sắc với các quan niệm về Trời, Thiên mệnh, Nhân, Lễ, Chính danh, Quân tử, Xã hội lý tưởng Không chỉ làm rõ những tiến bộ trong tư tưởng, tác giả còn chỉ ra những hạn chế trong tư tưởng của Nho giáo như: độc tôn Nho giáo, coi thường phụ nữ
Bên cạnh các tác giả viết về Nho giáo, Phật giáo cũng được khai thác dưới
nhiều góc độ khác nhau Trong “Giải thoát luận Phật giáo” của TS Nguyễn
Thị Toan, tác giả đã phân tích xoay quanh phạm trù “giải thoát” – phạm trù trung tâm của giáo lý Phật giáo Bằng giọng văn sắc sảo, lập luận chặt chẽ, tác giả đã có những phân tích cụ thể khoa học, khái quát được những lý luận cơ bản về quan niệm giải thoát của Phật giáo nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng và ảnh hưởng của nó đối với đời sống của người Việt Nam trong lịch sử
Trang 8cũng như hiện nay; từ đó, đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng cho việc kế thừa có chọn lọc những ảnh hưởng này
Trong “Bước đầu học Phật” của Hòa thượng Thích Thanh Từ, tác giả đi
vào giải quyết những khái niệm rất thông dụng để tạo nền tảng cơ bản trong nhận thức của con người về đạo Phật, tránh cách hiểu sai lầm méo mó, như: tam quy, ngũ giới, sám hối, luân hồi, từ bi, nghiệp báo Có thể thấy, xuất thân từ một người tu hành, tác giả lý giải các vấn đề bằng nhân sinh quan Phật giáo, không đua ra khái niệm mà bằng các cách hiểu thông thường, rất dễ đi vào nhận thức của người Việt Nam
Nhìn chung, các tác giả phân tích dưới góc độ học thuật của Phật giáo, Nho giáo hoặc dưới góc độ ảnh hưởng đối với Phật giáo, Nho giáo Việt Nam, hoặc dưới thế đối sánh với Phật giáo, Nho giáo của một số quốc gia khác, và đều thu được những thành tựu rất lớn trong nghiên cứu Nhưng chưa có tác phẩm nào phân tích sâu sắc sự tác động qua lại giữa tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và
tư tưởng khoan dung của Nho giáo Đây cũng là một vấn đề có nhiều ảnh hưởng to lớn đối với đời sống văn hóa tinh thần của xã hội Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc phân tích làm rõ tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo dưới góc độ triết học, luận văn nghiên cứu sáng tỏ vấn đề sự thống nhất và khác biệt giữa tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và
tư tưởng khoan dung của Nho giáo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra cho mình những nhiệm vụ:
Trang 9Làm rõ tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo dưới góc độ triết học: sự ra đời, nội dung tư tưởng
Trình bày tư tưởng khoan dung của Nho giáo dưới góc độ triết học: khái niệm, cơ sở hình thành và yếu tố cấu thành, nội dung tư tưởng
Phân tích sự thống nhất và khác biệt giữa tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo
Khái quát được sự kế thừa và phát triển tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo
và tư tưởng khoan dung của Nho giáo trong thực tiễn Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ nội dung, phạm vi nghiên cứu cũng như mục đích đặt ra của
đề tài, đối tượng nghiên cứu là tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng
khoan dung của Nho giáo
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo, đồng thời, nghiên cứu tư tưởng khoan dung của các nhà triết học tiêu biểu phương Đông và phương Tây
Làm rõ sự tương đồng và khác biệt của tư tưởng từ bi bác ái Phật giáo và
tư tưởng khoan dung Nho giáo; từ đó, khái quát cơ sở hình thành và văn hóa khoan dung ở Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được xây dựng trên cơ sở tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và
tư tưởng khoan dung của Nho giáo, từ đó, phân tích, đánh giá sự tương đồng,
Trang 10khác biệt và mức độ ảnh hưởng của nó đối với việc hình thành văn hóa khoan dung Việt Nam hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình làm luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu, trong
đó chủ đạo đó là: Dựa vào những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Phương pháp nghiên cứu, phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch
sử, so sánh đối chiếu giữa Phật giáo và Nho giáo, giữa truyền thống và hiện đại, hệ thống hóa các tri thức
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Làm rõ ảnh hưởng của sự tác động qua lại giữa tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo trong quá trình phát triển
- Làm rõ ở giai đoạn lịch sử hiện nay, tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo
và tư tưởng khoan dung của Nho giáo ảnh hưởng đến văn hóa khoan dung Việt Nam trong quá trình hội nhập với thế giới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu tương đối có hệ thống từ góc độ triết học đối với tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo; từ đó, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt, giá trị, ý nghĩa của nó đối với văn hóa khoan dung Việt Nam
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử triết học và góp phần vào việc tạo dựng lý luận trong việc giáo dục và đào tạo, nhằm hướng đến việc biết cách tiếp cận và tiếp thu cái mới, biết cách hướng đến đối thoại
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 11Chương 1
TƯ TƯỞNG TỪ BI BÁC ÁI CỦA PHẬT GIÁO VÀ TƯ TƯỞNG
KHOAN DUNG CỦA NHO GIÁO
1.1 Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo
1.1.1 Thân thế của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế
kỷ VI trước công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan hiện nay Ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt, đạo Phật với triết lý đạo đức nhân sinh sâu sắc đã trở thành một trong những ngọn
cờ của phong trào đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội ở Ấn Độ đương thời Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng triết lý của Thích
Ca Mâu Ni Phật theo tiếng Phạn gọi là Bouddha, tiếng Hán phiên âm là “Phật đà”, và tiếng Hán độc âm là “Phật” Phật có nghĩa là đấng giác ngộ và giác ngộ người khác (giác giả giác tha) [3, tr.145] Phật, theo các tín đồ Phật giáo
là bậc thánh nhân thấu suốt hết thảy mọi lẽ của tạo hóa và có thể chỉ bảo cho
ta giải thoát khỏi luật luân hồi sinh tử
Người sáng lập ra Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni Thích Ca Mâu Ni có tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhattha), họ là Cù Đàm (Gautama), con đầu của vua Tịnh Phạn, thuộc bộ tộc Sakiya, có kinh đô là thành Catìlavệ (Kapilavatha) Vua Tịnh Phạn kết hôn với hai chị em ruột ở xứ Devadaha, bà chính hậu là Maya, sau này là mẫu thân thái tử Siddhattha Phật Thích Ca sinh ngày 8 tháng
4 khoảng năm 563 trước Công nguyên và mất năm 483 trước Công nguyên Trong Nidanakattha (Duyên khởi luận) viết rằng: Siddhattha được sinh ra tại khu vườn Lumbini thuộc Kapilavathu, trong khi hoàng hậu Maya đang
Trang 12trên đường về quê song thân ở Devadaha để sinh con Tất cả thần dân khắp nơi tổ chức ăn mừng và kéo về kinh đô Kapilavatha để vui với hoàng gia Và trong lễ đặt tên, vua đặt tên con là Siddhattha (Tất Đạt Đa), họ là Gotama (Cồ Đàm) Năm 7 tuổi, theo học các đạo sĩ Bàlamôn, Tất Đạt Đa đã tỏ ra là người
có trí thông minh lạ thường và sức khỏe tuyệt luân, sống trong giàu sang nhung lụa và tránh xa nỗi ưu lo phiền não Tuổi trẻ Tất Đạt Đa không được rời khỏi nơi hoàng cung, chỉ sử dụng thời gian vào việc giải trí, vui chơi, yến tiệc, học hành, lễ bái, tế tự Tất Đạt Đa không hề biết và không hề thấy những gì là đen tối, cực nhọc, xấu xa, bất hạnh đang xảy ra xung quanh mình Năm 17 tuổi, Tất Đạt Đa đã được đức vua cha cho sớm kết duyên cùng công chúa Da Du Đà La
Kể từ đó Tất Đạt Đa mới có điều kiện tiếp xúc với xã hội hiện thực
Theo truyền thuyết, lí do dẫn tới những bước ngoặt trong tâm hồn trí tuệ của Tất Đạt Đa là những cảnh tượng bất ngờ tại bốn cửa hoàng cung Tất Đạt Đa tận mặt nhìn thấy một cụ già đầu bạc lưng còng, chân chùn gối mỏi, đi đứng mệt nhọc; một người bệnh hoạn đau khổ; một thây ma theo sau có những người khóc than sầu não; một đạo sĩ nghiêm trang khả kính Tất Đạt Đa càng nhận chân rằng tất cả những lạc thú, hạnh phúc mà mình đang thọ hưởng đều mang tính giả tạm vô thường Cộng với lần tiếp chuyện cùng vị đạo sĩ ung dung, mà thoáng hiện đằng sau con người này một con đường giải thoát, Tất Đạt Đa quyết định thoát khỏi ngục vàng, tìm ra một lối thoát, một cuộc sống chân thật
có ý nghĩa và cao đẹp hơn, một con đường dẫn tới giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người và hướng đến an lạc, giải thoát cho chúng sinh khỏi cảnh khổ ải của nghiệp chướng luân hồi Nửa đêm mồng bảy tháng hai, Tất Đạt Đa lặng lẽ rời cung ra đi tìm chân lý Lúc ấy Tất Đạt Đa vừa tròn 29 tuổi và đã có một người con trai tên là Rahula
Tất Đạt Đa đi khắp nơi học đạo, lần lượt học hầu hết các đạo nhưng nhận thấy không đạo nào giúp chứng ngộ được chân lý cao thượng Trải qua kinh
Trang 13nghiệm đời sống và tu luyện, Tất Đạt Đa đã nhận thấy rằng tu khổ hạnh chỉ làm suy giảm tinh thần và trí tuệ, còn lối sống lợi dưỡng vật chất thì chỉ làm chậm trễ
sự tiến bộ của đạo đức và tâm trí Đó là hai thái cực cần phải tránh, và con đường đúng đắn là “trung đạo”, con đường tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân
lý, con đường dẫn tới sự yên tĩnh và sự bừng sáng của tâm hồn trí tuệ Sau 48 ngày đêm nhập định, Tất Đạt Đa đã ngộ đạo, nhận thức rõ căn nguyên sinh thành, biến hóa của vũ trụ vạn vật, tìm ra nguồn gốc nỗi khổ và từ đó chỉ ra phương pháp diệt trừ nỗi khổ cho chúng sinh Tất Đạt Đa trở thành Phật Thích
Ca Mâu Ni, còn gọi là Đức Phật Lúc ấy Đức Phật vừa đúng 35 tuổi
Sau khi đắc đạo, liên tục trong 45 năm, Thích Ca Mâu Ni đi khắp nơi trên đất Ấn Độ thuyết pháp, truyền đạo của mình, giác ngộ cho chúng sinh Ngoài
80 tuổi, sau khi truyền đạo cho người cuối cùng là cụ già 120 tuổi, Đức Phật nằm dưới hai hàng cây Sala, quay đầu về hướng Bắc, mặt ngoảnh về hướng Tây, diệt độ nhập Niết Bàn
1.1.2 Nội dung tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo
Cái gốc của Phật giáo là từ bi bác ái Và từ bi bác ái là cứu khổ cứu nạn
chúng sinh Trong “Từ điển Phật học” xuất bản năm 2010, Ban biên dịch
Đạo Uyển chỉ rõ: Từ bi bác ái là đức hạnh cao quý của Phật giáo, là lòng thương yêu chúng sinh tuyệt đối không có tính chất luyến ái, vô phân biệt, vô
điều kiện [4, tr.12] Theo “Gốc của đạo Phật là từ bi bác ái” xuất bản năm
1902, Đại chúng Hòa thượng Giai Minh chỉ rõ: Từ bi là đem cái gốc, cái cội của khổ bởi đâu mà ra, chỉ cho rành, vạch cho rõ, cho mọi người thấy được Bác ái là đem cái cách diệt trừ cho tuyệt cái thất nghiệp khổ Không có nỗi khổ nào mà con người không phải nếm trải Và vì vậy, không có cái đạo nào cao hơn là cái đạo làm cho hết nỗi khổ trong cuộc đời Như vậy, từ bi bác ái chính là cứu khổ chúng sinh [45, tr.20]
Trang 14Dưới giác độ là một lát cắt của văn hóa khoan dung phương Đông, tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo cũng chính là con đường tìm tòi, phát hiện, và giải quyết những nỗi khổ đau, hướng con người đến cuộc sống, lý tưởng tốt đẹp hơn Đây chính là triết lý nhân sinh sâu sắc, luận giải toàn diện mọi mặt của phạm trù trung tâm “Khổ”, được hội tụ trọn vẹn trong “Tứ diệu đế”
1.1.2.1 Khổ đế
Khổ tiếng Phạn là Dukkha, tiếng Pali là Duhkha Nội dung của Khổ đế tập trung xoay quanh đời là khổ, tồn tại là khổ “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển” Chữ Dukkha được cấu tạo bởi hai từ: Du là khó và kha là chịu Như vậy, nghĩa của Dukkha là khó chịu, bứt dứt, dày vò, đau đớn, cực khổ, buồn phiền Phật cho rằng cái làm cho con người đau đớn, buồn phiền đó là khổ Ngay cách nhìn này chứng tỏ Phật giáo không trốn tránh cuộc sống, không tô hồng cuộc sống mà dũng cảm nhìn vào hiện thực: đời là bể khổ Vậy, nội dung của khổ gồm những gì? Trong Phật giáo có nhiều cách phân loại khổ: nhị khổ, tam khổ, tứ khổ, ngũ khổ, bát khổ song tiêu biểu nhất là bát khổ:
Bát khổ gồm; sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly (yêu nhau mà phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau mà phải ở gần nhau), cầu bất đắc (cầu mà không được như ý), ngũ thụ uẩn (năm yếu tố tụ lại thành nỗi khổ)
Cái khổ của Phật giáo còn mang ý nghĩa triết lý sâu sa hơn nhiều, nó còn bao hàm, chỉ sự không hoàn thiện, vô thường, xung đột, trống rỗng Hạnh phúc và đau khổ là tương đối Cuộc sống không thể chỉ có hạnh phúc hay đau khổ Như vậy, dukkha ở đây không phải khổ theo nghĩa thông thường, mà nó chỉ là những gì vô thường Phật nói, “Tất cả những gì vô thường là dukkha” Nhưng dukkha còn được hiểu như là trạng thái bị quy định, đó mới là khía cạnh triết học quan trọng Con người bị quy định, ràng buộc bởi sắc (vật chất), thụ (tình cảm), tưởng (trí), hành (ý) và thức, bởi sự kết hợp giữa chúng
Trang 15Các yếu tố đó là vô thường Sự kết hợp những cái vô thường lại càng vô thường Bởi vậy, ngũ uẩn là khổ, con người, cuộc đời con người là khổ
Tóm lại, dukkha có 3 nghĩa chính:
1 Nó chỉ sự khổ đau thông thường
2 Nó chỉ sự khổ đau do thay đổi (vô thường) gây nên
3 Nó như là một trạng thái bị quy định
Ngay cả C Mac và Ph Ăngghen - những nhà cách mạng vĩ đại trong lịch
sử nhân loại cũng không hề phủ nhận nỗi đau khổ của con người Nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội, Mac phát hiện ra một sự thật là: lịch sử các xã hội tư hữu là lịch sử của áp bức, bóc lột, lịch sử của sự tha hóa lao động C.Mac kết luận: chế độ tư hữu biến nhân loại thành bầy thú dữ cắn xé lẫn nhau vì mỗi người có một lợi ích khác với người khác Xã hội càng phát triển con người càng trở thành nô lệ của những người khác hoặc nô lệ cho sự đê tiện của chính mình Trong xã hội tư bản, toàn bộ giá trị thặng dư của giai cấp tư sản đều có nguồn cội từ phần lao động không được trả công của người công nhân
Sự thống trị của đồng tiền, sự bần cùng hóa của người lao động, sự tha hóa lao động, sự phân cực giàu nghèo nảy sinh ngay trong xã hội tư bản phồn vinh
đó phải chăng lại không phải là bi kịch lớn nhất của loài người?” [24, tr.320] Tuy nhiên, C.Mac tiếp cận nỗi khổ ở góc độ xã hội, Phật Thích Ca tiếp nhận nỗi khổ ở góc độ tâm – sinh lý C Mac tìm thấy hạnh phúc từ trong cuộc sống thực tại và coi hạnh phúc trong đời sống thực tại là cái đích để phấn đấu trong đời sống con người, Phật Thích Ca nhìn hạnh phúc trong cuộc sống thực tại là giả tạm, là nguyên nhân của khổ đau
1.1.2.2 Tập đế
Nguyên nhân của khổ có nhiều, nhưng trước hết là do dục vọng Dục là muốn, lòng ham muốn Dục có nhiều loại, có ham muốn những điều tốt đẹp,
Trang 16cao thượng, ham muốn mang lại niềm vui hạnh phúc cho mọi người, nhưng cũng có những ham muốn thấp hèn, xấu xa, cá nhân, ích kỷ, hướng về lợi riêng tư Bước đầu trong quá trình bước trên đường đạo, Phật giáo chủ trương phải từ bỏ những dục vọng xấu Nhưng khi cái xấu đã hoàn toàn biến mất, cái tốt cũng không còn, vì hai mặt mâu thuẫn, một mặt mất thì mặt kia cũng không tồn tại Và lúc đó chính là không còn dục, kể cả xấu lẫn tốt, từ đó không còn tái sinh luân hồi, đạt đến quả vị Phật
Phật giáo cho rằng chính dục vọng thể hiện dưới các dạng bằng nhiều cách
là nguyên nhân sâu xa của mọi hình thức đau khổ và sinh ra sự liên tục của tồn tại Nhưng đó không phải là nguyên nhân đầu tiên và duy nhất dẫn đến dukkha
Nó là nguyên nhân trực tiếp dễ thấy, nguyên nhân chủ yếu và phổ biến nhất, nguyên nhân đứng hàng đầu của những nguyên nhân Dục vọng ấy lấy ý tưởng sai lạc về sự tồn tại của một cái ngã do vô minh đẻ ra làm trung tâm Dục vọng không chỉ là ham muốn của cải, tiền tài, sức mạnh mà còn là sự ràng buộc với các ý tưởng, lý thuyết, lý tưởng, các quan niệm, tìn ngưỡng Theo Phật, mọi bất hạnh, xung đột trên thế giới này từ nhỏ đến lớn đều trực tiếp hay gián tiếp bắt nguồn từ dục vọng Thế giới là nô lệ của dục vọng
Từ dục dẫn đến tham Đôi khi dục mới chỉ là ý đồ, ý muốn nhưng tham thì
ý đồ, ý muốn này đã tương đối định hình và dẫn đến việc thực hiện bằng hành động hành vi cụ thể Tham cũng có vô vàn loại: Tham của cải, vật chất, tham
ăn uống, thỏa mản khoái lạc, tham sống kéo dài tuổi thọ, tham danh vọng quyền uy Càng tham nhiều càng khổ lắm Khi lòng tham không được thỏa mãn, sự chiếm đoạt không được thực hiện thì con người trở nên tức giận, bực tức, nóng nảy, cáu gắt, đó là sân Sân cũng là nguyên nhân cuả khổ Đức Phật
đã từng nói: “Thà mống lên trăm ngàn lần lòng tham, chứ đừng khởi lên một
sự sân hận Làm hại tới lòng tốt đại từ đại bi không gì hơn thế” [12, tr.87] Khi đã tức giận, nóng nảy, cáu gắt thì nó làm cho tâm phiền não, u buồn, ruột
Trang 17gan cồn cào, lòng dạ như thiêu đốt Tâm nóng bừng giận dữ dưới cơn bão lửa Với cái tâm nóng nảy, mất bình tĩnh thì không thể có cái nhìn khách quan được Như vậy, si là nguyên nhân của đau khổ theo nghĩa nó làm cho tâm rối, thần loạn, trí tuệ mê mờ, con người trở nên ngu đần, mê muội, không phân biệt được phải trái, trên dưới, trước sau, đi vào con đường lầm lạc Vô minh theo nghĩa rộng bao gồm cả thân, sân, dục vọng mù quáng và tạo nên cái nghiệp Như vậy, Phật giáo giải thích nỗi khổ của con người bắt đấu từ nguyên nhân vô minh do tham, sân, si Ở đây, sự khổ đau do 12 nguyên nhân tạo ra thành chu trình khép kín trong khổ đau đời người
1 Vô minh: tối tăm, ngu dốt, nhấm lẫn, mê hoặc, không sáng suốt, trí tuệ
mờ tối Do vô minh không nhận ra thực tướng vô ngã mà sinh ra vọng tâm, cho rằng ta thực sự tồn tại trên hết lâu dài Khẳng định cái tôi tức là khẳng định dục vọng nên sinh ra tham lam ích kỷ tạo nên nghiệp ác trong vòng luân hồi
2 Hành: hoạt động của ý thức, dao động của tâm, là khuynh hướng hành động ích ký tạo nghiệp ác
3 Thức: tâm thức từ chỗ cân bằng trở nên mất cân bằng, chỉ biết yêu quý
lo lắng cho cái tôi
4 Danh sắc: là sự phối hợp, tập hợp giữa vật chất và tinh thần Sự tập hợp của danh sắc sinh ra lục căn (sáu cơ quan cảm giác)
5 Lục nhập: là khả năng, quá trình tiếp xúc, thu nhận của các cơ quan cảm giác
6 Xúc: là sự tiếp xúc phối hợp giữa lục căn và lục nhập: mắt tiếp xúc với màu sắc, tai tiếp xúc với âm thanh, mũi tiếp xúc với hương vị, lưỡi tiếp xúc với vị, thân tiếp xúc với ngoại vật, ý tiếp xúc với pháp
7 Thụ: sau tiếp xúc là cảm thụ Quan cảm thụ mà khoan khoái thú vị, dễ chịu, thụ hưởng hoặc đau đớn, khó chịu
Trang 188 Ái: thèm muốn, ham muốn, nảy sinh dục vọng
9 Thủ: đã ham muốn dẫn đến chiếm lấy, giữ lấy, đoạt lấy
10 Hữu: thể hiện, xuất hiện hành động tạo nên nghiệp
11 Sinh: đã tạo nghiệp tức là có nhân ắt có quả sinh ra Cái khổ sinh ra mang tính tất yếu, nghiệp báo
12 Lão – tử: đã có sinh tất có già rồi chết
Trong mười hai nguyên nhân thì cái nọ là nguyên nhân của cái kia, chúng vừa là nhân vừa là duyên của nhau, nối tiếp không dứt dẫn đến kết quả chung
là khổ Cuộc đời con người là một mắt xích trong chuỗi dài vô tận của những nhân quả luân hồi không dừng
1.1.2.3 Diệt đế
Nguyên nhân của nỗi khổ đã được chỉ ra, và Diệt đế là chân lý cho rằng nỗi khổ có thể diệt trừ được “Không có gì tồn tại vĩnh viễn, cả niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và bất hạnh; Cái gì mà người ta tìm được nguyên nhân thì cũng sẽ tìm được phương pháp diệt trừ Hiểu được nguyên nhân của khổ, diệt những nguyên nhân đó thì sẽ hết khổ đau” [4, tr.90] Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt nỗi phiền não, nguyên nhân đưa đến khổ đau và chấm dứt sự khổ đau Nguyên nhân sâu xa khởi đầu của khổ là vô minh, từ đó có sự vận động của thập nhị nhân duyên Nếu trí tuệ sáng suốt, không mờ tối, hiểu được thực tướng của tồn tại sẽ không vọng tâm tham dục, không hành động tạo nên nghiệp khổ
Ananda nói “Cái bệnh mà Phật tìm thuốc chữa là bệnh khổ đau do sự hủy diệt của tất cả cái gì sinh thành, tập hợp và không lâu bền sinh ra Đau khổ, vô ngã, vô thường là đặc tính của tất cả sự vật tập hợp, của tất cả cái gì không có
tự tính Trong tất cả những vật ấy thì cái ngã (trái với vô ngã) là vật loại hay
Trang 19hình tướng xác định là cái đáng cho ta chú trọng Tất cả hiện hữu ấy đều phải duy trì bởi vật chất hay tinh thần Đấy là một định lý như lửa phải được nuôi bằng nhiên liệu Do vậy, nên thế giới đang cháy và chúng ta phải bị đốt cháy Lửa của ý thức về cái tôi, về tự kỷ là tham sân si Chỉ có thể dập tắt lửa bằng đạo đức thích hợp, bằng cái sáng suốt của trí tuệ Lửa chỉ tắt khi hết nhiên liệu Sự tắt là tịch diệt Niết Bàn làm cho ta mát mẻ” [66, tr.65] Niết Bàn trong Phật giáo là “cái gì tuyệt đối không dung ngã, không có hạn lượng, không có nơi chốn Cái tôi càng lớn thì càng xa Niết Bàn Hễ hữu ngã là luân hồi mà vô ngã là Niết Bàn” [51, tr.76] Người đã đạt tới Niết Bàn là người hạnh phúc nhất trần gian, họ thoát ra khỏi cái tôi và cuộc sống thế tục Và đạt tới trạng thái này, con người đã được giải thoát khỏi bể khổ cuộc đời
1.1.2.4 Đạo đế
Chân lý này chỉ ra con đường cụ thể để lên cõi Niết bàn, diệt trừ những nguyên nhân đâu khổ, hay chính là cách thức giải pháp diệt khổ, giải thoát khỏi vòng luân hồi Niết Bàn có nhiều nghĩa dịch Niết (Nir) là ra khỏi, Bàn (Vana) là rừng mê Niết Bàn là ra khỏi rừng mê Để giải thoát cần có ba cái phải học (tam học): Giới, Định, Tuệ
1 Giới: là những khuyên răn, những điều cấm, những quy định cho người
tu hành không phạm sai lầm, không vướng vào dục lạc
2 Định: phương pháp giúp người tu hành không tán loạn thâm tâm, nhờ
đó mà loại trừ tư tưởng, ý nghĩa xấu, tạo điều kiện cho trí tuệ sáng suốt
3 Tuệ: trí tuệ sáng suốt, diệt trừ vô minh dục vọng, chứng ngộ được chân
lý nhà Phật làm điều thiện
Trong Phật giáo có nhiều con đường dẫn đến Niết Bàn, thông thường con đường thông qua bát chính đạo là phổ biến hơn cả
Trang 201 Chính kiến: thấy rõ, hiểu đúng tứ diệu đế và đạt đến sự hiểu biết, xa lìa khỏi mọi phiền não Đây cũng chính là một trong những khâu cuối cùng, bước vào giải thoát, nhập Niết Bàn
2 Chính tư duy: thấy rõ tứ diệu đế, tư duy, suy nghĩ đúng, từ bỏ mọi dục vọng bất thiện
3 Chính ngữ: dùng chân lý mà tu khẩu, không nói dối, không nói ác, không tạo bất hòa
4 Chính nghiệp: dùng chân lý mà từ tà nghiệp của thân, giữ vững thân nghiệp thanh tịnh, hành động chân chính, không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm
5 Chính mệnh: tam nghiệp (thân, khẩu, ý) thanh tịnh, thuận theo chính pháp mà nuôi sống mệnh, sống bằng nghề nghiệp chân chính, xa lìa những thới xấu của cuộc sống trần gian
6 Chính tinh tiến: dùng chân lý mà gắng tu đạo, đi theo con đường tu hành, cố gắng làm thiện, trừ ác trong suy nghĩ, hành động
7 Chính niệm: luôn nghĩa về chính pháp, đọc kinh niệm Phật, gạt bỏ ý nghĩ sai lầm, hành động bất chính
8 Chính định: dùng chân lý mà thiền định, tập trung tư tưởng, giữ cho thâm tâm yên lặng vững vàng, trí tuệ sáng suốt, xa lìa mọi phiền não
Thực hành tu luyện đạo tốt mới có thể giác ngộ chân lý nhà Phật, chứng quả Niết Bàn, giải thoát khỏi bể khổ trầm luân
1.1.3 Từ bi bác ái là phương thức giải thoát trong triết học Phật giáo
Triết học Phật giáo luôn đề cập đến phương thức giải thoát và coi đó là vấn đề thường trực trong thế giới quan và nhân sinh quan Đây là cứu cánh cho con người trong cuộc đời đầy bế tắc, là con đường cho con người giải
Trang 21phóng nỗi khổ đau thể xác và tinh thần trong đời sống thực tại, tìm về với hạnh phúc đích thực, phấn đấu sống để hướng tới miền cực lạc vô biên Tứ diệu đế - bốn chân lý lớn, đã chỉ ra các nỗi khổ, nguyên nhân nỗi khổ, con đường diệt khổ và hạnh phúc tối thượng mà con người cần đạt tới là cõi Niết Bàn – chân như tịch diệt Tứ diệu đế chính là phương thức giải thoát cho tất
cả chúng sinh trong cuộc đời mà triết học Phật giáo đã chỉ ra
Theo các kinh sách triết học và tôn giáo cổ Ấn Độ, từ giải thoát có rất nhiều nghĩa, người ra có thể xem xét nó qua các mặt khác nhau như trạng thái, mục đích, phương tiện và kết quả Và người ta cũng có thể xem xét nó ở các bản thể luận hay mặt nhận thức luận, mặt triết học, mặt tâm lý cũng như mặt đạo đức, tôn giáo Phái Mimansa cho rằng giải thoát là phải thực hiện nghiêm mọi luật lệ, quy tắc, nghi thức của thánh kinh Veda và luật lệ của xã hội đẳng cấp Phái Vedanta đặc biệt chú trọng tới việc phát triển trí tuệ để giác ngộ, giải thoát Phái Yoga dạy cho con người tìm lại bản chất của mình để trở thành chính mình bằng con đường thực hành Yoga, hủy bỏ đam mê và sự quan tâm tới thế giới bên ngoài mà đi sâu vào thực thể bên trong để đạt tới trạng thái tinh thần trong sáng, bất động [22, tr.19]
Phạm trù giải thoát trong triết học Phật giáo Ấn Độ về cơ bản là cởi bỏ những ràng buộc của thế giới hiện tượng thường biến, cắt đứt vòng sinh tử luân hồi bằng con đường tu luyện tâm linh, thực hành đạo đức, mài giữa trí tuệ để đạt tới Niết Bàn “Gỉải” nghĩa là gỡ ra, cởi ra, chia tách ra hay giải thích cho rõ; chữ “thoát” nghĩa là vượt ra khỏi sự trói buộc, vượt ra ngoài sự ràng buộc… Giải thoát là cởi mở sự ràng buộc của vật chất và ý thức vươn đến hạnh phúc tự do theo nguyên nghĩa “Giải thoát có nghĩa là lìa bỏ mọi trói buộc mà được tự tại Cởi bỏ sự trói buộc của nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả của tam giới Còn là tên khác của Niết Bàn để lìa bỏ sự trói buộc Còn chỉ tên gọi khác của Thiền định như tam giải thoát, bất tư nghị giải thoát Thoát ràng
Trang 22buộc và được tự tại là đức tính của Thiền định” [56, tr.54] Trong triết lý Phật giáo Ấn Độ, giải thoát tức là trạng thái đời sống tinh thần con người vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc của thế giới nhục dục, là sự “diệt” hết mọi dục vọng hay dập tắt ngọn lửa dục vọng và đạt tới cảnh trí Niết bàn với cái tâm tuyệt đối thanh tịnh, không vọng động, an lạc, bất sinh, bất diệt và tự do, tự tại, bằng con đường tu luyện đạo đức giữ nghiêm giới luật và tu luyện tri thức, thiền định, thực nghiệm tâm linh để đạt tới giác ngộ theo: “Tam học” (Giới – Định – Tuệ) Tóm lại, phạm trù giải thoát trong Phật giáo được giải thích là sự cởi bỏ những ràng buộc của nghiệp báo luân hồi, những nỗi khổ của thế gian
để được tự do, tự tại trong tâm thức
Theo Phật giáo, con người phải tìm giải thoát bởi cuộc đời là bể khổ
“Nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới chứa tích lại còn nhiều hơn nước ngoài bốn bể” [54, tr.12], nỗi khổ nhiều hơn cát sông Hằng (hằng hà sa số), áo cà sa tượng trưng cho nỗi khổ vô lượng Nỗi khổ chỉ sự khổ đau thông thường; hay sự khổ đau do thay đổi (vô thường) gây nên; hoặc như là một trạng thái bị quy định Đây là một vấn đề nhân loại chứ không của riêng ai Quan niệm hữu thân hữu khổ của Thích Ca có sự gặp gỡ với quan niệm của Lão Tử “ta sở dĩ đau khổ nhiều vì có tấm thân mình” [44, tr.24], Trang Tử
“Trời đất cho ta hình hài, làm ta đau khổ vì phải sinh tồn” [44, tr.36] Ngay cả các triết gia Phương Tây cũng thừa nhận “Cuộc đời là một cơn ác mộng” [10, tr.45] (Schopennhauer), hay như Jacob Boehme “Nếu tất cả núi là sách và nếu tất cả hồ là mực, cây cối là bút viết, vẫn không đủ để miêu tả sự thống khổ trong đời sống” [10, tr.59]
Những yếu tố điều kiện tự nhiên, lịch sử xã hội Ấn Độ đã tác động đến cách nhìn của Thích Ca trong việc nhận thức cuộc đời Tuy nhiên, khi nhìn cuộc đời là bể khổ, Thích Ca không khuyên con người chấp nhận đau khổ mà phải tìm cách diệt khổ giải thoát Trong Kitô giáo, linh hồn sẽ được siêu thoát
Trang 23lên thiên đường, về với đấng tối cao Trong Đạo giáo, giải thoát là lên chốn bồng lai tiên cảnh trường sinh bất tử Trái lại, Phật giáo không thừa nhận có linh hồn bất tử, không phải lên thiên đường trở về với Chúa mà là tận diệt cái
cá thể đầy những ham muốn nhục dục với sự u tối của kiếp người để đạt tới Niết Bàn Niết Bàn là sự đoạn trừ dục vọng, dứt nghiệp luân hồi, thanh tịnh tuyệt đối Ở Niết Bàn không còn sự trôi chảy của thời gian tuyến tính mà là sự ngưng đọng vĩnh cửu của không gian, thời gian trong tâm thức con người Như vậy, Niết Bàn trong Phật giáo không phải là một cõi cực lạc có vị trí không gian, thời gian như Thiên đường của Kitô giáo Niết Bàn là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động, diệt
ái dục, xóa vô minh, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não Thích Ca đạt tới trạng thái ấy khi ông nhìn thấy Sao Mai mọc, lúc ông đang ngồi dưới gốc cây bồ đề Ông coi đó là một cảm giác an lạc vô biên, tự do vô hạn, là hạnh phúc tuyệt đối của sự giải thoát Đạt tới Niết Bàn là đạt tới giác ngộ giải thoát Vì coi giải thoát là cứu cánh trong toàn bộ giáo lí của mình nên Phật giáo được coi là đạo giải thoát hay đạo diệt khổ Giải thoát là xóa bỏ vô minh, dập tắt dục vọng, vượt lên khỏi sự ràng buộc của thế giới hiện tượng, chấm dứt sinh tử, nhập Niết Bàn – một trạng thái tâm linh thanh tịnh, an lạc, bất sinh bất diệt, tự do,
tự tại Theo Phật giáo, con đường giải thoát phải bằng hướng nội và sự nỗ lực
tự thân, thực hiện nghiêm túc Bát chính đạo Xuyên suốt Bát chính đạo là chữ Thiện: suy nghĩ Thiện, hành động Thiện Đó là tinh thần từ, bi, hỷ, xả mà Phật gọi là “tứ vô lượng tâm”: Từ là lòng tốt, lòng yêu thương con người, đem lại lợi ích, an lạc cho chúng sinh; bi là lòng xót thương chúng sinh, từ tấm lòng này mà cứu nạn cứu khổ cho chúng sinh; hỷ là lòng vui, tự mình vui cùng chúng sinh khi họ làm được điều thiện; xả là tha thứ cho người và tự mình hy sinh để đem lại an lạc cho chúng sinh [5, tr.36] Đây là phương thức thực hành để đoạn diệt khổ đau, giải thoát cho con người khỏi những phiền
Trang 24muộn thế tục, đạt cõi Niết Bàn Phật dạy: “Tất cả chúng sinh không phân biệt sang hèn, giàu nghèo đều có thể giải thoát để trở thành Phật”, hay “Ta là Phật
đã đành, chúng sinh là Phật sẽ thành” [2, tr.166]
Từ bi bác ái là phương thức giải thoát trong triết học Phật giáo, được tập trung trong Tứ diệu đế với bốn luận đề được ví như “Dấu chân voi là dấu chân to nhất Bốn thánh đế là tối thượng nhất” [27, tr.3] Như vậy, con đường giải thoát của Phật giáo là một triết lý mang tính nhân bản sâu sắc với niềm tin vào sức mạnh tự giải thoát của cá nhân con người, hơn nữa, giải thoát ở đây là sự tự khai phóng những năng lực tinh thần từ chiều sâu tâm thức của mỗi con người bằng trí tuệ, đạo đức và đạt tới trạng thái tinh thần tự do tuyệt đối, vĩnh cửu Chính bởi vậy, giải thoát luận của Phật giáo được coi là đỉnh cao trong tư tưởng giải thoát của Ấn Độ cổ đại
1.2 Tư tưởng khoan dung của Nho giáo
1.2.1 Thân thế và sự nghiệp của Khổng Tử
Khổng Tử (551-479 TCN) là người nước Lỗ Ngày nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông Khổng Tử hộ Khổng, tên Khâu, tự là Trọng Ni Tổ tiên trước kia là Khổng Phòng Thúc vốn dòng dõi quý tộc nước Tống, con cháu khi sa sút chạy sang Lỗ Cha là Thúc Lương Ngột, một võ quan, khoảng gần
70 tuổi ông mới sinh ra Khổng Khâu Ba tuổi mồ côi cha, lớn lên trong cảnh bần hàn nhưng Khổng Khâu rất siêng năng, học giỏi và thích chơi trò tế lễ Ông suốt đời tự học, đi đâu cũng học, thấy cái gì không hiểu hỏi ngay, đi với
ai cũng có thể học người đó
Năm 19 tuổi, Khổng Khâu lấy vợ sinh một người con trai đặt tên là Lý, tự
Bá Ngư Ông làm Ủy lại cho nhà họ Quý coi việc cân đong thóc ở kho, coi việc nuôi bò dê dùng vào việc cúng tế, làm việc chăm chỉ nghiêm túc Từ năm
Trang 2522 tuổi đã bắt đầu dạy học Năm 33 tuổi ông đến kinh đô nhà Chu để khảo sát
tế lễ ở miếu đường, sau đó trở về Lỗ, học trò theo học ngày càng đông
Nước Lỗ có loạn, ông qua nước Tề rồi lại trở về nước Lỗ dạy học và nghiên cứu sách Khoảng 50 tuổi, Khổng Tử được vua Lỗ mời ra làm quan Trung đô tế (cai quản Kinh đô), cách một năm thì cải chức làm quan Đại tư khấu (Thượng thư bộ hình), rồi ngài giữ chức tướng quốc Ông đặt ra luật lệ
để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định rõ việc tống táng người chết Lớn nhỏ không phân biệt trai gái, không lẫn lộn, người đi ngoài đường thấy của rơi không nhặt, kẻ gian phi không có, hình pháp đặt ra không hề dùng đến Trong thời gian trọng nhậm, nhờ tài cai trị của ngài, nước Lỗ yên bình,
cả bốn phương đều noi theo, xem là mẫu mực Lo sợ nước Lỗ hùng mạnh, nước Tề đã mua chuộc làm cho vua Lỗ bỏ bê chính sự, xa rời và nhạt nhẽo với Khổng Tử Ông theo chủ nghĩa tôn quân, dẫu thế nào cũng phải giữ cho trọn cái đức của vua, nên ông mới nhân một điều lỗi nhỏ mà bỏ đi, để không
lộ điều dở của vua Ông rời quê hương cùng đồ đệ đi chu du thiên hạ, truyền
bá đạo lý của mình Sau mười bốn năm trời ròng rã, qua lại bảy nước nhưng vẫn không ai tin dùng ông, thậm chí không gặp được minh quân thi hành đạo, nhiều phen rất nguy khốn Khoảng cuối đời còn lại, ông trở về nước Lỗ dạy học Tiếng tăm của Khổng Tử truyền khắp nơi nên học trò theo học ông rất đông Sử ký chép ông có khoảng 3000 học trò, trong đó có 70 người vào loại giỏi gọi là hiền, trong đó có 10 hiền triết, 2 Á thánh là Nhan Hồi và Tăng Sâm Ông về ở nước Lỗ đến mùa xuân năm Canh Thân là năm thứ 39 đời vua Kinh vương nhà Chu, người nước Lỗ đi săn bắt được con kỳ lân, què chân trước bên tả, ai cũng cho là điềm không lành, đem thả ra ngoài đồng Hơn hai năm sau, ông dậy sớm đi tiêu dao trước cửa và hát “Thái sơn kỳ đổi hồ? Lương mộc kỳ hoài hổ? Triết nhân kỳ nuy hồ?” [43, tr.87] (Núi Thái Sơn có
lẽ đổ chăng? Cây lương mộc có lẽ nát chăng? Người triết nhân có lẽ nguy
Trang 26chăng?) Thầy Tử Cống nghe ông hát như vậy đến hỏi thăm, bảy ngày sau ông mất Khi ông mất, học trò quây quần bên mộ chịu tang ba năm rồi mới khóc lóc từ biệt nhau hết sức đau thương Hàng trăm người làm nhà ở lại, lập thành làng Khổng Ông được tôn vinh là “Chí thánh tiên sư” Trương Ấm Lân cho rằng: hoài bão lớn nhất của Khổng Tử là chính trị nhưng thành tựu lớn nhất của Khổng Tử là giáo dục [40, tr.63] Học trò của Khổng Tử thường gọi là Nho sĩ Nho là những người đương thời chuyên về tế lễ Người ta cho rằng đất nước có hai việc trọng đại đó là việc binh và việc cúng tế Sĩ trước thời Xuân Thu dùng để chỉ quân đội Quân lính ra trận mỗi xe có một nghìn sĩ Nhưng về sau sĩ dùng để chỉ văn chứ không chỉ võ như trước kia nữa Vậy Nho sĩ là tầng lớp trí thức lúc bấy giờ Học thuyết của Khổng Tử được tầng lớp này truyền bá nên cũng gọi là Nho gia hay Nho giáo Bóng cây cổ thụ Nho giáo đã bao trùm đời sống văn hóa Trung Quốc suốt hai nghìn năm lịch
sử Ông đem cái đạo của thánh hiền đời trước mới phát huy ra, lập thành cái học thuyết, lưu truyền về sau để làm kỷ cương cho các dân tộc ở Á Đông Mỗi lời nói, cử chỉ của ông đời đời người ta lấy làm khuôn phép mà theo Ông nói điều gì cũng ôn hòa và hàm súc, làm việc gì cũng ngay chính và vừa phải, tiến thoái phân minh, động tĩnh hợp thời Vậy nên đạo của ông ngày càng sáng thêm, đức của ông ngày càng được tôn trọng thêm lên Đánh giá về học thuyết của Khổng Tử, Nhan Hồi nói “Đạo của thầy trông lên, càng trông càng thấy cao, đục vào, càng đục càng thấy rắn” [40, tr.1] Người đời sau còn nói “Đạo của thầy truyền đi khắp bốn phương, truyền đến muôn đời không dứt” [20, tr.7] Cuộc đời của Khổng Tử chính là cuộc đời của bậc “Vạn thế sư biểu” mà các học giả và nhân loại tiến bộ tôn vinh
1.2.2 Nội dung tư tưởng khoan dung của Nho giáo
Xuất phát từ hoàn cảnh xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ tan rã của chế
độ chiếm hữu nô lệ chuyển sang chế độ phong kiến tập quyền – thời Xuân
Trang 27Thu Chiến Quốc Đây là thời kỳ biến động lớn và kéo dài nhất trong lịch sử Trung Quốc Từ những thay đổi về mặt kinh tế, chính trị, xã hội dẫn đến những mâu thuẫn cực kỳ sâu sắc: mâu thuẫn giữa tầng lớp địa chủ mới lên với giai cấp quý tộc cũ do giai cấp địa chủ mới chiếm hữu ruộng đất, có vị trí kinh
tế trong xã hội (hiển tộc) nhưng lại không có địa vị chính trị; mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với giai cấp địa chủ quý tộc nhà Chu; mâu thuẫn cục bộ trong nội bộ tầng lớp quý tộc nhà Chu đang bị phân hóa: một số muốn bảo lưu chế độ nhà Chu, một số không thỏa mãn với chế độ ấy, đòi cải cách trật tự xã hội Những mẫu thuẫn nói trên đòi hỏi phải giải quyết nhằm giải thể chế độ công xã thị tộc – quý tộc, xây dựng chế độ phong kiến; đặc biệt Nho gia muốn khôi phục xã hội cũ Đông Chu, mang nặng khát vọng cứu đời, xây dựng tình cảm người người tốt đẹp trong xã hội lề thói chật hẹp ấy Học thuyết Nhân -
Lễ - Chính danh là con đường cơ bản để hình thành tư tưởng cũng như văn hóa khoan dung của Nho giáo
1.2.2.1 Nhân
Trời có 4 đức: Nguyên – Hanh – Lợi – Trinh Người có 4 đức: Nhân – Lễ
- Nghĩa – Trí Nguyên là cái đứng đầu điều thiện, bồi dưỡng sự sinh của trời đất Ở người, nhân là điều đầu tiên, gốc của mọi đức
Thế nào là nhân? Khổng Tử nói “Nhân, thân dã, tùng nhân nhị” (nhân là gần gũi giữa người và người) hay “Khắc kỷ phục lễ vi nhân” [40, tr.178] (sửa mình trở lại theo lễ là nhân) Theo lễ là theo thiên lý, bỏ hết tư dục Nhân còn bao hàm cả chứ ái Vì có nhân mới có ái, có ái mới có lòng thương người, yêu người Bởi có lòng nhân nên người ta mới yêu tất cả mọi người, yêu nhân dân Nhân ấy xuất phát tự nhiên, không miễn cưỡng chút nào Nhân của Khổng tử phải đi liền với trung thứ - đạo đối với mình và đối với người Bởi vậy, Khổng Tử luôn giữ hai điều khi nói về Nhân – Trung thứ: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác), “Kỷ
Trang 28dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (mình muốn đứng vững thì làm
cho người ta đứng vững, mình muốn công việc mình được thành đạt thì cũng làm cho công việc của người khác thành đạt) [57, tr.96] Và gốc của nhân chính là hiếu đễ Người có đạo nhân trước hết phải trọn phận làm con trong gia đình Biết yêu thương tôn kính người trong gia đình rồi mới tới người khác Khổng Tử cũng nhấn mạnh người có đạo nhân là có nghĩa, làm việc nghĩa, đối lập lại tư lợi tầm thường “Người quân tử lấy điều nghĩa làm cái chất căn bản rồi theo đó mà làm điều nghĩa, khiêm tốn để tỏ rõ ra ngoài, dùng thành tín làm nên công việc Người nào được như thế thật là quân tử” [60, tr.49]; phải có lòng trung, lo cho nước, cho dân, khuyên vua và bề tôi làm điều nhân, không trung với vua mù quáng “Trung với vua mà không khuyên ngăn vua như yêu con mà không dạy con”; phải có trí thông minh sáng suốt, biết giúp người không hại người “Người có trí biết người, cử người ngay thẳng, bỏ quan người quanh co, khiến người quanh co trở nên ngay thẳng, không tư tâm, yêu ghét chính đáng, yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét” [60, tr.75] Bên cạnh đó, còn có các đức tố khác khi nói về đạo nhân đó là: Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ (Cung kính thì không bị khinh nhờn, Khoan hòa thì được lòng mọi người, Tín thực thì được mọi người tín nhiệm, Cần mẫn thì thành công, Làm ân huệ thì sử dụng được người)
Người nhân suốt cuộc đời đầy tình cảm chân thực, cho nên đã nhân bao giờ cũng hiếu đễ và trung thứ, kẻ bất nhân thì đầy những trí thuật, rất khôn khéo, linh lợi mà tình cảm đơn bạc và không chân thực, cho nên thành ra gian
ác, tàn nhẫn
Nhân là cái gốc lớn của sự sinh hóa trong trời đất Thế gian nhờ đó mà đứng, vạn vật nhờ đó mà sinh, quốc gia nhờ đó mà còn, lễ nghĩa nhờ đó mà phát hiện ra Cho nên, Khổng giáo lấy Nhân làm cái tông chỉ duy nhất trong tông giáo, chính trị và học thuật của thiên hạ Nhân là điều trọng yếu như vậy
Trang 29nên Khổng giáo dạy con người chỉ cốt ở đạo nhân mà thôi Nhân chính là cái đích tu dưỡng của Nho học Ai đã tu đến bậc nhân thì làm việc gì cũng đúng,
có điều hòa và thích hợp với thiên lý
1.2.2.2 Lễ
Ngay từ nhỏ Khổng Tử đã ham lễ và khá công phu nghiên cứu lễ Cuộc đời ông là mẫu mực sống theo lễ Theo Nho gia, lễ khởi thủy nói việc thờ cúng, sau gồm quy củ phong tục tập quán, nghi thức chuẩn mực cho mọi hành
vi, đảm bảo cho gia đình, xã hội có tôn ti trật tự Lễ tùy nơi mà thay đổi cho hay hơn, không cố chấp để trở thành thói quen đạo đức Lễ gồm các quy định
về nhà cửa, quần áo, xe cộ, ma chay, cưới hỏi Khổng Tử suốt đời thực hành đúng lễ Đối với ông “Chiếu trải không ngay ngắn ta không ngồi, thịt thái không vuông miếng ta không ăn” [34, tr.20] Theo ông, con người phải ép mình theo lễ để làm điều nhân
Vậy, lễ theo Khổng Tử đại ý là để duy trì trật tự xã hội phải lấy lễ làm đầu Không có lễ thì không có cách nào phân chia làm rõ được các địa vị khác nhau như vua quan, già trẻ, cha con, trai gái, anh em Sống theo lễ có tình cảm đôn hậu, nhân dân an cư lạc nghiệp Nhà cầm quyền lấy lễ để giáo dục dân, đồng thời phải gương mẫu thực hiện lễ
Lễ có vai trò to lớn với xã hội và cá nhân Theo Khổng Tử “Lễ chi dụng hòa vi quý” [40, tr.55] (gia đình xã hội thực hiện theo lễ sẽ hòa, cũng như các nốt nhạc được sắp xếp theo một trật tự nhất định sẽ tạo nên bản nhạc hay) Nếu không có lễ, thiên hạ đại loạn như những nốt nhạc hỗn loạn vậy Lễ theo Khổng Tử có những vai trò nhất định:
Thứ nhất, lễ hình thành đức tính, tình cảm tốt đẹp, là hình thức thể hiện của người có nhân Khổng Tử cho rằng tế lễ giúp hình thành tình cảm đẹp, có hậu, thể hiện lòng thành kính với tổ tiên, trời đất Tế lễ có lễ vật, nhưng không
Trang 30cầu kỳ, cách ăn mặc khi tế lễ phải trang nghiêm gọn ghẽ, không xa xỉ khoe của Từ đây thể hiện cách cư xử đúng đắn, noi gương cha ông và các bậc tiền bối, làm điều tốt lành lúc nào không biết “Tế tự tổ tiên từ đời xưa theo lòng thành thì đức dân trở nên thuần hậu vậy” [40, tr.55] Và vua cũng phải biết lễ
Ở Trung Quốc, lễ thể hiện ở nhiều lĩnh vực: lễ của đạo làm vua, lễ của bề tôi,
lễ của thầy trò, lễ của thần dân, cưới xin, tang ma, đứng ngòi, ăn uống Theo
lễ thì tốt đẹp, hình thành văn hóa lễ
Thứ hai, lễ giữ tình cảm và hành vi hợp đạo nhân Lễ giúp chế ước hành vi
ở đạo trung dung không thái quá, không bất cập để giữ đạo nhân “Cung kính
mà không có lễ thì phiền và khó nhọc; Cẩn thận mà không có lễ thì sợ hãi và nhút nhát; Dũng mà không có lễ thì loạn động; Trực mà không có lễ thì vội vã nóng nảy” [40, tr.56] Mọi hành vi đều theo lễ, cái gì không phải lễ thì không nghe, không nhìn, không nói, không làm
Đạo đức nhân nghĩa mà không có lễ không thành
Dạy bảo sửa đổi phong tục không có lễ không đủ
Việc xử tranh chấp kiện tụng không có lễ không quyết
Vua tôi cha con anh em không có lễ không định
Học làm quan thờ thầy không có lễ không thân
Xếp đặt ngôi thứ trong triều đình, cai trị quân lính làm quan thi hành pháp luật không có lễ không uy nghiêm
Cầu khấn tế tự không có lễ là không thành kính [65, tr.12]
Người quân tử dung mạo phải cung kính giữ gìn pháp độ, tiến thoái sao cho sáng rõ lễ
Lễ định ra lẽ phải thân sơ trật tự trên dưới, phép tắc tổ chức luân lý gia đình và xã hội, phân biệt phân vị mỗi người Không có lễ sao biết thờ trời đất, đạo vua tôi, nghĩa vợ chồng, trai gái, anh em, bạn bè
Trang 31Thư ba, lễ chế ước cái thường tình của con người Cái thường tình của con người là ham ăn uống, trai gái, sợ nghèo hèn Thừa dễ sinh xa xỉ, thiếu dễ sinh bủn xỉn keo kiệt Phải dùng lễ chế ước mới không làm việc hư xấu Ẩm thực phải có hạn lượng, y phục phải có tiết chế, nhà cửa phải có pháp độ, xe cộ có ngữ hạn Trong Lễ Ký có đoạn ghi đại ý: Trai gái không được ngồi chung hỗn độn, quần áo không được treo chung một giá, đồ dùng không lẫn lộn, đưa đồ vật không được phép chính tay chuyển cho Nếu chưa có mai mối trung gian không được tự ý riêng tư trao đổi tên tuổi cho nhau, không được phép qua lại thân cận với nhau [67, tr.68]
Cái thường tình của con người là tình cảm vui vẻ, ham muốn, yêu thương, hờn giận, ghét bỏ, buồn bã Nếu không có lễ chế ước sẽ quá đáng, trái đạo nhân Theo Khổng Tử, một trong các nguyên nhân của tình trạng đời suy đạo hỏng là không có lễ Ông xây dựng phạm trù lễ mang đậm tính nhân văn mong cứu đời, giúp xã hội hòa mục
1.2.2.3 Chính danh
Khổng Tử cho rằng mỗi loài, mỗi vật, mỗi người đều có thuộc tính nhất định, giữa chúng có quan hệ nhất định, hình thành một địa vị, vai trò, bổn phận, ứng với nó là một danh (tên gọi) nhất định Mỗi danh có tiêu chuẩn để xác định và thực hiện nhiệm vụ chức năng của nó Những tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ xác định là cái thực Nếu thực không hợp với danh thì gọi tên
ra người ta không hiểu, chức năng cái danh đó không thể hiện ra Vua là người được trời giao phó cho nhiệm vụ lo cho dân đủ ăn đủ mặc, dạy dỗ dân sống yên ổn, làm gương cho dân noi theo Làm tròn chức năng nhiệm vụ đó thì danh xứng với thực Đã mang danh là vua nếu không làm tròn chức năng nhiệm vụ đó thì không hợp với danh, mất cái danh, mất luôn cả ngôi vua Theo Nho giáo, thiên hạ đại loạn vì các thế lực cầm quyền sa đọa, làm cho danh không hợp với thực nữa Thuyết chính danh ra đời là để chính danh tự,
Trang 32định danh phận Hơn nữa, chính danh là nguyên tắc của đức trị, là con đường thực hiện đạo nhân Danh bất chính, ngôn bất thuận, sự bất thành Lời nói, việc làm phải theo danh phận, làm trái danh phận là không đem lại bất cứ kết quả gì Khổng Tử cho rằng xã hội muốn ổn định thì phải hòa mục, trên dưới đồng lòng, mỗi cá nhân đều phải có nguyên tắc xử thế, lấy hòa làm trọng, không đấu tranh với nhau Khổng Tử nói bản nhạc là hòa âm của các âm thanh khác nhau Xã hội phải lấy hòa làm trọng mới tồn tại được Đây có lẽ là nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn đặc thù của Phương Đông nói chung và Trung Quốc nói riêng
Như vậy, chính danh là nguyên tắc nhất thiết được quán triệt trong thi hành chính sự Khổng Tử diễn giải lôgic vận động của chính danh, dẫn đến chính danh thì thành, không chính danh thì bại: “Người quân tử có điều gì không biết thì đừng nói bậy Nếu danh không chính thì lời nói không thuận Lời nói không thuận thì sự việc không thành Sự việc không thành thì lễ nhạc chế độ không kiến lập được Lễ nhạc chế độ không kiến lập được thì hình phạt không trúng Hình phạt không trúng thì dân không biết làm thế nào cho phải mà theo Cho nên, người quân tử danh đã định thì có thể nói ra được, nói được sẽ làm được Đối với lời nói, người quân tử không khi nào cẩu thả vậy” [26, tr.27]
1.2.2.4 Xã hội lý tưởng
Xã hội lý tưởng Nho giáo xây dựng là xã hội phong kiến theo điển chế nhà Chu Xã hội đó vua sáng tôi hiền, dân no đủ, trật tự xã hội ổn định, không có kẻ trộm, không có chiến tranh, mọi người đều yêu thương nhau “ Người ta không riêng thân cha mẹ mình, không riêng yêu con mình, người già được nuôi dưỡng trọn đời, trai tráng có chỗ dùng, trẻ con được săn sóc đến trưởng thành Người
ta thương kẻ góa, con côi, người già cô độc, người tàn tật được chu cấp, con trai có phận, con gái nương về Người ta ghét của cải bỏ phế trên đất mà lượm lên, chứ không chủ ý giấu giếm trong mình, ghét sự không dùng sức, nên làm
Trang 33việc chứ không chủ ý lo lợi cho riêng mình Vì vậy mà những ngón cơ mưu không thi thố được, kẻ trộm cắp, người làm loạn, làm giặc không nổ lên, cho nên cửa ngõ không cần đóng Đó là thời Đại đồng” [44, tr.85]
Trong xã hội lý tưởng, Khổng Tử chủ trương lấy đức để cai trị, khi nào thái quá mới dùng đến hình phạt Đó là đường lối đức trị, đối lập với đường lối pháp trị Đường lối đức trị là bớt hình phạt, nhẹ tô thuế, làm cho dân giàu, dân có học (tiên phú, hậu giáo) để giáo hóa, vì có làm cho dân túc thực túc trí thì họ mới theo lẽ phải, mới có đủ điều kiện để thực hành lễ Dân cường nước thịnh là nguyên tắc chính sự của Khổng Tử và Nho gia Khổng Tử mơ ước một xã hội người giàu có lụa mặc, trẻ con có thịt ăn, xã hội thái bình thịnh trị Đó là chủ nghĩa nhân đạo, là mơ ước, lý tưởng về một xã hội tốt đẹp
Khổng Tử chủ trương không dùng hình phạt để cai trị vì theo ông nó không có liêm sỉ Dùng đạo đức để dìu dắt, dùng lễ giáo để chỉnh đốn thì dân không những có liêm sỉ mà còn quy phục Trong điều hành chính sự, Khổng
Tử nhấn mạnh không phải chỉ bỏ kẻ xấu để chu toàn cho người tốt, mà điều quan trọng là làm cho nước hưng thịnh thì dân sẽ tốt lên Phong cách cầm quyền như gió, dân như cỏ, gió thổi ắt cỏ rạp, song không nên cậy vào quyền
uy, pháp luật
Ở xã hội lý tưởng mà Nho giáo xây dựng, cai trị nước phải thực hành ba chữ: thứ, phú, giáo (dân đông, dân giàu, dân có giáo dục) Phan Bội Châu cho rằng đó là phương châm đầy đủ của đường lối đức trị Người có quyền chính trị hết sức vì dân thì dân mới đông, mới giàu, hết sức vào việc dạy dân thì dân đông mà thương yêu nhau, dân giàu mà biết giữ lễ, có liêm sỉ Và đây chính là cái đích cao nhất mà Nho giáo hướng đến khi xây dựng ước vọng cứu đời từ nền móng mục nát của chế độ đương thời
Trang 34Tiểu kết chương 1
Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo hay chính học thuyết Tứ diệu đế của Phật giáo và học thuyết Nhân, Lễ, Chính danh của Nho giáo là hai dòng tư tưởng nổi trội làm nên văn hóa khoan dung Việc nghiên cứu và lược khảo hai học thuyết trên sẽ cho chúng ta thấy rõ sự hình thành và phát triển tư tưởng khoan dung Phương Đông; là cơ sở cho sự
so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai học phái ở Chương 2 và
là nền tảng cho sự kế thừa và phát triển văn hóa khoan dung ở Việt Nam hiện nay Từ đó, khoan dung không còn dừng lại ở góc độ tư tưởng mà đã được nâng lên thành văn hóa giữa các quốc gia với nhau trong cách hành xử và chung sống hòa bình
Trang 35để tìm giải thoát cho con người “Cũng như nước của đại dương hùng dũng chỉ
có một vị là vị mặn của muối Giáo pháp chỉ có một vị là vị giải thoát”[42,
Trang 36tr.2] Sở dĩ Phật giáo hướng đến cộng đồng tập thể là do người Ấn Độ bị kiềm tỏa trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, trong lễ giáo đẳng cấp ngặt nghèo, bởi vậy, họ hướng vào chính mình, nhìn vào chiều sâu tâm thức để tìm ra giá trị, giải thoát cho mình và cộng đồng người trong xã hội Bởi vậy, tư duy của Phật giáo hướng đến cộng đồng chúng sinh là xuất phát từ nỗi khổ của quảng đại quần chúng trong điều kiện hà khắc của thực tại Ấn Độ bấy giờ
Tư tưởng khoan dung của Nho giáo cũng hướng đến cộng đồng, tập thể như tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo Nho giáo cho rằng vì đại loạn, đời suy đạo hỏng nên xã hội suy vong Sở hữu tối cao của nhà vua đối với dân và đất đai bị một tầng lớp địa chủ mới lên phá vỡ Giai cấp quý tộc nhà Chu bị mất dân, mất đất, mất địa vị chính trị, nghi lễ pháp luật nhà Chu bị xâm phạm
“vương đạo suy vi”, thiên hạ đại loạn, muôn dân điêu linh khổ cực Kết quả của những biến động xã hội trên dẫn tới những mâu thuẫn xã hội cực kỳ sâu sắc, đòi hỏi phải giải quyết nhằm giải thể chế độ công xã thị tộc – quý tộc, quay trở về lễ nghi, lề thói nhà Chu Con người mà cụ thể là người dân phải chịu nhiều khổ cực nhất, bị giằng xé giữa nhiều mâu thuẫn của thời cuộc nhất Khổng Tử đưa ra tư tưởng bác ái, lối cư xử nhân văn, trân trọng con người, thực hiện Nhân - Lễ - Chính danh để giáo hóa, cai trị Lòng nhân ái cộng đồng trong tư tưởng khoan của Nho giáo là cho thiên hạ, không riêng nước nào, riêng người nào Bởi vậy, Khổng Tử chủ trương dùng đức trị, thái quá mới dùng đến hình phạt Mục đích cao nhất của Khổng giáo khi hướng đến tập thể là muốn xây dựng một thế giới đại đồng – vương quốc lý tưởng đạo đức Đó là một xã hội không có trộm cắp, nhà nhà không phải đóng cửa cài then, người ta không nghĩ đến làm điều ác Như vậy, xã hội cộng đồng mà Nho gia xây dựng đó là tất cả mọi người đều lấy tu dưỡng bản thân làm gốc,
cả xã hội trở thành “vương quốc của người quân tử”, thuận nhân tính mà điều hành chính sự nên tin dân yên dân [43, tr.40]
Trang 372.1.2 Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo phát triển trên tư duy phi lý tính
Khác với tư duy của phương Tây là tư duy lý tính, thiên về nghiên cứu vật chất bên ngoài, tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo đều phát triển trên tư duy phi lý tính, hướng nội là trọng tâm
Tư duy phi lý tính chỉ năng lực nhận thức của tâm thức con người Nó miêu tả một sự nhìn thấy hay nhìn nhận về tư duy, đặc biệt là tư duy trừu tượng mà không cần dùng đến những tri thức khoa học tự nhiên để khái quát, mà nắm bắt trên cơ sở cảm tính, niềm tin, cảm xúc Đặc biệt là các nhà tư tưởng triết học phương Đông đều quen với những phương thức tư duy phi lý tính, Nho gia chủ trương “phản tỉnh cầu nội”, Đạo gia chăm chút “tọa vong”, Phật học
có phép “đốn ngộ” [50, tr.67]
Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo phát triển trên tư duy phi lý tính Đây
là đặc điểm của triết học Phật giáo nói riêng và triết học Ấn Độ cổ đại nói chung Các tri thức là kết quả của quá trình tiến hành chiêm nghiệm cá nhân
và coi nhẹ tư duy tư biện; tư duy chỉ thuần túy là triết luận về học thuật mà không gắn với thực tế cuộc sống, không gắn với cuộc đời, vươn tới nó để suy
tư chiêm nghiệm giác ngộ Con người rèn luyện tâm linh, sức mạnh tâm linh, sức mạnh tuệ giác để thoát khỏi ràng buộc thế giới xung quanh Phật giáo là
sự khai phá bản thân mình hơn là chiêm nghiệm cuộc đời, bởi tìm hiểu thế giới bên trong con người cũng vô tận như thế giới bên ngoài Phật giáo nhận thức trước hết ở chỗ tâm phải bình lặng, sự tư duy, tập trung lắng đọng Nhờ tâm bình lặng mà nhìn thấy sự vật như chúng tồn tại Nguyên nhân khiến tâm không bình lặng là vì ngoại trần (tác động của thế giới khách quan) và dục vọng; cho nên tâm bình lặng thì dục vọng, tham đắm do thế giới khách quan gây ra cũng không chi phối được tâm Kinh Tứ Niệm Xứ với tinh thần của Phật giáo Nguyên thuỷ cho rằng “Đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh
Trang 38tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn” [53, tr.16] Ở đây, Phật giáo không dùng tư duy nhận thức, trực quan khoa học để nhận thức thế giới quan, nhân sinh quan mà chỉ bằng con đường tu tập, chiêm nghiệm Không phải chỉ có Phật giáo nguyên thủy mới có tư duy như vậy, mà ngay cả Phật Hoàng Trần Nhân Tông – bậc thầy của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cũng trải nghiệm sự bừng sáng con đường nhận thức, đạt tới tính sáng của tâm Ở tác phẩm Phú Cư Trần Lạc Đạo, ông viết:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”
(Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền) [50, tr.56]
Hay:
“ Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt
Đến mới hay Bụt chính là ta” [50, tr.87]
Đạo ở đây là thực tại, là chân lý, lẽ thật, bao trùm Nhưng nếu con người không tập trung nhận biết thì sẽ mất thiền định vốn có, bị thế giới đời thực giằng xé Sống không suy tư, sầu muộn, sống bằng trực giác, con người sẽ
Trang 39thấy được cái quý báu nhất là tâm Phật nơi chính mình Đó là phi lý tính, bằng thiền định để chiêm nghiệm, nhận thức và hiểu cuộc sống là một bể khổ;
từ đó, giải thoát khổ đau, tìm đến hạnh phúc đích thực Thiền chính là phương thức đạt tâm trạng tập trung, lắng đọng, như là một hồ nước mà người ta chỉ
có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nước không bị xao động Tuệ Trung Thượng Sỹ cũng dạy rằng “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, trong lò đỏ lửa một bông sen” [50, tr.9] Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu Thiền
là giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu Đây chính là con đường tư duy phi lý tính của Phật giáo
Tư tưởng khoan dung của Nho giáo cũng phát triển trên tư duy phi lý tính,
ít gắn với sự phát triển của khoa học tự nhiên, không hoàn toàn dưạ vào những tri thức khoa học tự nhiên để khái quát mà chủ yếu bằng trực giác, bằng cảm nhận thể nghiệm Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật ăn khớp, khơi dậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm bản thể trừu tượng Phương thức tư duy này đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức,
“lấy tâm để bao quát vật” [63, tr.12] Điều này được thể hiện rất cụ thể trong học thuyết Tâm của Mạnh Tử Ông cho rằng tâm là phần chủ thể trong người
ta Hiểu rõ cái tâm ta hiểu rõ trời đất và vạn vật “Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính
dã Tri kỳ tính tắc tri thiên hỹ Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã” [67, tr.95] (Biết hết cái tâm của mình là biết cái tính của mình vậy Biết cái tính của mình là biết trời vậy Giữ cho còn cái tâm của mình, nuôi cái tâm của mình, là để thờ Trời vậy) Tâm là cái thần minh có đủ mọi lý để ứng với vạn
sự Người ta có cái tâm ấy mà hiểu được toàn bộ vạn vật Tâm cũng là cái
Trang 40thần minh của Trời, Trời cho ta cái tâm ấy để làm tâm, thì tâm của ta với trời
là một thể Biết cái tâm của ta là Trời, giữ cái tâm cho ngay chính “Quân tử sở
dĩ dị ư nhân giả, dĩ kỳ tồn tâm dã Quân tử dĩ nhân tồn tâm, dĩ lễ tồn tâm” [67, tr.72] (Quân tử sở dĩ khác người ta là chỉ có sự giữa cho còn cái tâm mà thôi Quân tử lấy nhân mà giữ cho còn cái tâm, lấy lễ mà giữ cho còn cái tâm) Có tâm mới biết điều nhân điều nghĩa, lẽ phải trái Đặc biệt, sự học vấn cần nhất phải tìm lấy cái tâm Người hiền và kẻ ngu chỉ khác nhau có một điều là giữ được cái tâm hay không mà thôi Người ta sở dĩ không làm được điều nhân nghĩa như bậc thánh hiền là vì ta để vật dục làm hại mất cái tâm Bởi vạn sự hay dở đều ở cái tâm nên Mạnh Tử chú trọng tồn tâm, dưỡng khí Phương thức tư duy này mang màu sắc duy tâm chủ quan, dựa trên cảm tính Đây chính là tư duy phi lý tính, tư duy trực giác của Nho gia
2.1.3 Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo đều hướng đến con người là trung tâm
Phật giáo và Nho giáo cùng nằm trong dòng chảy chung của các trào lưu triết học phương Đông đó là tập trung vào nhân sinh quan và chú trọng vào con người Hai học thuyết này đều lấy con người làm trung tâm trong tư tưởng Phật giáo hướng tư duy vào con người với câu hỏi muôn thủa: con người
vì đâu mà khổ, nguyên nhân của nỗi khổ là gì, tiêu diệt nỗi khổ ra sao và chỉ
ra con đường lên cõi “hạnh phúc vô biên, Niết Bàn cực lạc” [14, tr.54] Con người khi sinh ra đã chịu nhiều nỗi khổ, song tiêu biểu nhất là “bát khổ” Khổ đau là vô tận và tuyệt đối Cuộc đời ngoài khổ đau không tồn tại điều gì khác Ngay cả cái chết cũng không thể chấm dứt sự khổ đau, mà là tiếp tục sự khổ mới Nguyên nhân dẫn tới “bể khổ trầm luân” có rất nhiều song tựu chung lại trong “thập nhị nhân duyên” mà cội rễ là “vô minh” [21, tr.49] Mọi nguyên nhân của cái khổ đều bắt nguồn từ con người, hiện diện trong mỗi hành vi của con người, và do tạo nghiệp mà con người phải chịu đau khổ không dứt trong