1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc mông và ảnh hưởng của những yếu tố đó đến đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng người mông ở hà giang

113 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 835,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN VŨ THÙY LINH TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC MÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ THÙY LINH

TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC MÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ ĐÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÔNG Ở HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ THÙY LINH

TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC MÔNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ ĐÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÔNG Ở HÀ GIANG

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Đình Cấp

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Vũ Thùy Linh

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

BCH Ban chấp hành

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC TẬP QUÁN CỦA DÂN TỘC MÔNG 8

1.1 Truyền thống, phong tục tập quán 8

1.2 Dân tộc và những đặc điểm chung của dân tộc Mông 12

1.3 Cơ sở hình thành truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Mông 27

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC TẬP QUÁN ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÔNG Ở HÀ GIANG 46

2.1 Khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội tỉnh Hà Giang 46

2.2 Đặc điểm về truyền thống, phong tục tập quán của người Mông Hà Giang 50

2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố truyền thống, phong tục tập quán đến đời sống kinh tế - xã hội cộng đồng người Mông Hà Giang 63

2.4 Xu hướng biến đổi của truyền thống, phong tục tập quán của người Mông ở Hà Giang hiện nay 76

Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÔNG Ở HÀ GIANG 81

3.1 Giải pháp kinh tế - xã hội 81

3.2 Giải pháp văn hóa 91

3.3 Giải pháp tôn giáo, an ninh chính trị 98

3.4 Một số kiến nghị và đề xuất 100

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 104

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên những truyền thống phong tục tập quán tốt đẹp, làm nên sức sống trường tồn đưa đất nước vượt qua bao thăng trầm của lịch sử, bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước Trong quá trình đó, truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc thiểu số nói chung

và truyền thống, phong tục tập quán dân tộc Mông nói riêng có vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần, cố kết cộng đồng bền vững của 54 dân tộc, góp phần tạo nên nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng

Chúng ta đang xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong xu thế hội nhập và phát triển, truyền thống, phong tục tập quán có vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực để phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số được khẳng định là một trong mười nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng, hiện đại hoá nền văn hoá Việt Nam, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ V BCH Trung ương (khoá VIII) đã khẳng định: “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống, xây dựng và phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin, thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số ” Phát huy những truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp là bước đi ban đầu, nhằm phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện phát triển văn hoá gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Chính vì vậy mà việc phát huy vai trò của truyền thống, phong tục tập

Trang 7

quán người dân tộc thiểu số đối với sự phát triển của các tỉnh miền núi, biên giới và những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, được hết sức coi trọng, vì vấn

đề đó có ý nghĩa chiến lược cơ bản lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc XHCN Trong những năm gần đây kinh tế thị trường với những

ưu điểm và mặt trái của nó có ảnh hưởng không nhỏ đến những phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc trong đó có dân tộc Mông Chính điều đó

đã làm cho đời sống văn hoá vùng các dân tộc thiểu số tuy có điều kiện mới

để phát triển, nhưng vẫn tồn tại nguy cơ tụt hậu và mất dần bản sắc văn hoá của dân tộc mình

Hà Giang là tỉnh biên giới, nơi địa đầu của Tổ quốc, có 22 dân tộc anh

em cùng sinh sống Là một trong những tỉnh có nhiều thế mạnh về tự nhiên cũng như xã hội, đặc biệt là thế mạnh về đa dạng văn hoá Từ xa xưa, đây là địa bàn sinh sống của nhiều lớp cư dân cổ đại, với một hệ văn hoá tiền sử liên tục, nơi có bộ sưu tập trống đồng nhiều nhất trong cả nước, có hệ thống di sản văn hoá phong phú và đa dạng về cả di sản văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể Người Mông là dân tộc thiểu số đông nhất ở Hà Giang hiện nay, với số dân trên 200.000 người, chiếm 1/3 số người Mông của cả nước Người Mông

là dân tộc có truyền thống văn hoá lâu đời, độc đáo, đặc sắc Có thể nói hiện nay, so với các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam, người Mông là dân tộc ít bị đánh mất bản sắc nhất

Chính những truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Mông đã ảnh hưởng trực tiếp, cố kết trong ý thức của người Mông nói chung và người Mông ở Hà Giang nói riêng Những yếu tố đó có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng người Mông Trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống tinh thần của dân tộc Mông cũng có những biến đổi tích cực; giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá dân tộc Mông trong nền văn hoá thống nhất mà đa dạng của dân tộc Việt

Trang 8

Nam Tuy nhiên việc đầu tư bảo tồn, phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc Mông hiện nay còn nhiều vấn đề chưa thoả đáng

Chính vì thế mà nghiên cứu truyền thống phong tục tập quán của dân tộc Mông ở Hà Giang và đánh giá sự ảnh hưởng của những yếu tố đó đến đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng người Mông để kịp thời có những giải pháp định hướng phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những tiêu cực là vấn đề cấp thiết Điều đó không những có ý nghĩa đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị, bản sắc truyền thống của các dân tộc Mông, mà còn có ý nghĩa phát huy vai trò của đời sống tinh thần đối với đời sống vật chất ở tỉnh Hà

Giang hiện nay Với những lý do trên tôi chọn “Truyền thống, phong tục

tập quán của dân tộc Mông và ảnh hưởng của những yếu tố đó đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng người Mông ở Hà Giang” làm đề tài

nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Xung quanh vấn đề truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Mông

đã có khá nhiều công trình, đề tài nghiên cứu đề cập ở những góc độ, những hướng tiếp cận khác nhau

- Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa dân tộc có những tác phẩm tiêu biểu như: “ Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002

“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nguyễn Khoa Điềm “ Bản sắc văn hóa dân tộc” Hồ Bá Thâm Nxb Văn hóa Thông tin, 2003

- Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có: “Giữ gìn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số” Hoàng Nam, 2001 “Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số” Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa dân tộc, 1997 “ Vấn đề giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Luận văn thạc sỹ triết học của Phạm Việt Thắng, 2002

Trang 9

- Nghiên cứu văn hóa dân tộc Mông có các công trình: “Văn hóa dân tộc Mông Hà Giang” Trường Lưu, Hùng Đình Quý, 1996 “Dân tộc Mông ở Việt Nam”, Cư Hòa Vần - Hoàng Nam, 1994 “ Các dân tộc Hà Giang” Lê Đại Nghĩa - Triệu Đức Thanh, Nxb thế giới, 2004 “Văn hóa truyền thống đồng bào dân tộc H’Mông Hà Giang” tác giả Dương Thị Phương ( Sách: “Giữ gìn và phát huy tài sản văn hóa các dân tộc ở Tây Bắc và Tây Nguyên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998) “ Văn hóa người Mông Hà Giang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa” Tác giả Vũ Ngọc Kỳ ( Sách: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và các vấn đề đặt ra, NXB CTQG, Hà Nội, 2004)

- Một số luận văn, luận án có nghiên cứu về dân tộc Mông như: “Giải quyết vấn đề dân tộc qua việc thực hiện tự do tín ngưỡng tôn giáo ở vùng dân tộc H’Mông hiện nay”, luận án tiến sỹ của Nông Văn Lưu – Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin, 1994; “ Vấn đề đạo tin lành trong dân tộc Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, luận án tiến sỹ tác giả Phan Viết Phong, 2003, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003

Ngoài ra còn có khá nhiều bào viết về văn hóa của dân tộc Mông đăng trên báo, tạp chí, báo điện tử

Các công trình trên cho thấy một cái nhìn tổng quan về văn hóa các dân tộc Nhiều công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa dân tộc Mông ở nước ta Tuy nhiên những nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu giá trị văn hóa, phong tục tập quán nhằm giới thiệu về người Mông, những nét đặc sắc, cái hay cái đẹp của văn hóa dân tộc Mông Một số đề tài cũng đề tập đến việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhưng chưa có đề tài nào đề cập đến truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Mông và ảnh hưởng của những yếu tố đó đến đời sống của cộng đồng người Mông ở Hà Giang Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu trên đây là

Trang 10

nguồn tư liệu quan trọng, là cơ sở để học viên tiếp thu, nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Mông, luận văn chỉ ra được sự ảnh hưởng của những truyền thống, phong tục, tập quán đó đến đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng người Mông ở Hà Giang

và đưa ra được những giải pháp phát huy giá trị tích cực, hạn chế những tiêu cực của những truyền thống, phong tục, tập quán đó

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

Một là, luận văn nghiên cứu truyền thống, phong tục tập quán và cơ sở hình thành truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Mông

Hai là, luận văn chỉ ra được sự ảnh hưởng của những truyền thống, phong tục, tập quán đó đến đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng người Mông ở Hà Giang và xu hướng biến đổi của những yếu tố đó trong giai đoạn hiện nay

Ba là, luận văn đưa ra được những giải pháp định hướng cho việc hạn chế những tiêu cực, phát huy giá trị của những truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Mông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Mông ở Hà Giang và ảnh hưởng của những truyền thống, phong tục tập quán

đó đến đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng người Mông ở Hà Giang dưới góc độ triết học

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Truyền thống, phong tục tập quán là một vấn đề rộng Truyền thống, phong tục tập quán của các dân tộc cũng rất đa dạng Vì vậy, luận văn không trình bày toàn bộ truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Mông mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thống, ở khía cạnh triết học những vấn đề cơ bản nổi bật của truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Mông ở tỉnh Hà Giang và đánh giá sự ảnh hưởng của những yếu tố đó đến cộng đồng người Mông ở Tỉnh Hà Giang hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Thực hiện đề tài này, tác giả chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin nhất là mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội., tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước

về văn hóa, truyền thống, dân tộc Đồng thời có tham khảo những công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, sách, báo tài liệu có liên quan đến nội dung được đề cập đến trong luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và logic, thống kê, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, phỏng vấn nhanh nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ thêm những đặc điểm về truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Mông nói chung và dân tộc Mông ở Hà Giang nói riêng

Luận văn chỉ rõ sự ảnh hưởng, tác động của những truyền thống, phong tục, tập quán đến đời sống của cộng đồng người Mông ở Hà Giang dưới góc

độ triết học Qua đó đưa ra những giải pháp định hướng nhằm hạn chế những

Trang 12

tiêu cực, phát huy giá trị của những truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Mông

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần bổ sung một số vấn

đề về đặc thù của dân tộc Mông ở Hà Giang Khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội của dân tộc Mông qua thực tế khảo sát đời sống dân tộc Mông ở Hà Giang

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy Đồng thời còn làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý dân tộc ở tỉnh Hà Giang

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 10 tiết

Trang 13

Chương 1

TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRUYỀN THỐNG, PHONG TỤC TẬP QUÁN

CỦA DÂN TỘC MÔNG

1.1 Truyền thống, phong tục tập quán

1.1.1 Truyền thống

Truyền thống là một khái niệm cho đến nay còn nhiều cách diễn đạt khác nhau về nội hàm và ngoại diên của nó Tùy thuộc vào vào góc độ tiếp cận và đối tượng từng nghành khoa học mà các tác giả các nhà nghiên cứu có những cách hiểu cách trình bày khác nhau về truyền thống

Theo từ điển Hán - Việt: Truyền thống nghĩa là “ Truyền từ đời nọ đến đời kia” [1, tr.154]

Theo quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc:

Truyền thống là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ trong các xã hội trong một quá trình lâu dài Truyền thống được thể hiện trong chế độ xã hội, chuẩn mực hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục tập quán và lối sống…Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội [16, tr.11]

Bách khoa toàn thư Pháp định nghĩa:

Truyền thống, theo nghĩa tổng quát, là tất cả những gì người ta biết và thực hành bằng sự chuyển giao từ thế hệ này từ thế hệ khác, thường là truyền miệng hay bằng sự bảo tồn và noi theo những tập quán, những cách ứng xử, những mẫu hình và tấm gương [19,tr.10339 ]

Trang 14

Theo nghĩa thông thường, từ điển tiếng Việt phổ thông định nghĩa:

“Truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sông và nếp nghĩ được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”[43,tr.11]

Theo giáo sư Trần Văn Giàu (1911-2010) - nhà hoạt động cách mạng, nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, triết học và là nhà giáo Việt Nam:

Truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được gọi là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống”

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…” [45, tr.64]

Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt Nhà xuất bản Đà Nẵng

Truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, là văn hóa được lưu truyền qua các đời qua các dòng tộc, huyết thống và có giá trị về nhân văn nhân bản, có tính trường tồn Được mọi người bảo

tồn và giữ gìn một cách thiêng liêng [33, tr 1350]

Khi nói đến các yếu tố trở thành truyền thống là nói đến những yếu tố

đã được lịch sử đánh giá, khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đồng thời, khi xem xét đánh giá truyền thống và các giá trị văn hóa truyền thống cần phải có quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử cụ thể nghĩa là phải đặt chúng trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của cả quá khứ và hiện tại

Trang 15

Từ những định nghĩa trên, tác giả nêu ra những đặc trưng cơ bản của truyền thống là:

- Truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền Tuy

nhiên tính ổn định cũng có tính ổn định cũng có tính độc lập tương đối, khi những cơ sở, điều kiện hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm muộn những nội dung của truyền thống cũng dần dần biến đổi theo cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới hoặc những truyền thống mới được hình thành và phát triển Vì thế, truyền thống có tính hai mặt đối lập nhau, đó là truyền thống tốt (giá trị) và truyền thống xấu (phản giá trị) Truyền thống tốt có tác dụng hình thành nên những phẩm chất tốt ở con người, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển và ngược lại, truyền thống xấu sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội Hai mặt này của truyền thống luôn luôn tồn tại, mâu thuẫn biện chứng với nhau trong quá trình lịch sử

Truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc, dân tôc, dòng họ, gia đình, làng xã …)là bản sắc của các cộng đồng người

Truyền thống ảnh hưởng đến ý thức, quan điểm, hành vi của con người trong xã hội có truyền thống đó tồn tại

1.1.2 Phong tục, tập quán

Phong tục, tập quán là một khái niệm phức tạp, tuy nhiên có thể được

hiểu là: "Những thói quen đã được mọi người tuân thủ tại một địa phương trong một hoàn cảnh bắt buộc phải chấp nhận lề thói ấy như một phần luật pháp của địa phương”[30, tr.203]

Trong cuốn từ điển Hán Việt "Phong" là nền nếp đã lan truyền rộng rãi,

"Tục" là thói quen lâu đời Nội dung phong tục bao hàm mọi mặt sinh hoạt xã hội.[1, tr.127]

Trong từ điển Việt Nam phổ thông phong tục là "thói tục chung của nhiều người từ lâu đời" [43, tr.223]

Trang 16

Theo quan niệm dân gian "Phong tục tập quán" là những thói quen

được đưa vào nếp sống hằng ngày Mỗi dân tộc đều có những thói quen cá biệt lúc ban đầu; về sau, do sự tiếp xúc với nhau nên có những sự ảnh hưởng, bắt chước và có những cái giống nhau

Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu văn hóa:

Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Năng Nam - Văn hóa học Trường ĐHKHXH Thành phố Hồ Chí Minh “Kết hợp pháp luật và phong tục tập quán trong việc quản lý xã hội ở nước ra hiện nay” cho rằng:

Phong tục: “Là toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được

hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng” [30, tr.34]

Tập quán: "Là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen

thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng” [30, tr.34]

Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi Trong những tình huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính thói quen Tập quán xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt

Như vậy, phong tục, tập quán thực chất là những qui tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự quản (làng, xã, khu vực)

Phong tục tập quán của một dân tộc vô cùng phong phú, nhưng không phải tất cả các phong tục tập quán đều mang tính tính tích cực thúc dẩy sự phát triển của xã hội, còn tồn tại những phong tục tập quán tiêu cực kìm hãm

sự phát triển của xã hội Cụ thể:

Trang 17

Thứ nhất, phong tục, tập quán tích cực là những phong tục, tập quán có tác động thúc đấy sự phát triển kinh tế - xã hội, mang lại niềm vui và lợi ích cho đời sống của nhân dân tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, phong tục, tập quán tiêu cực là phong tục, tập quán gây cản trở cho đời sống của cộng đồng, có những phong tục, tập quán trở thành hủ tục,

có tác động kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội

Phong tục, tập quán được thực hiện không phải như thực hiện pháp luật, nhưng nó có thể có sức mạnh như một đạo luật Một số phong tục tập quán trở thành luật tục khi nó được thực hiện như một luật lệ ở địa phương,

dân tộc

1.2 Dân tộc và những đặc điểm chung của dân tộc Mông

1.2.1 Khái niệm Dân tộc

Thuật ngữ Dân tộc xuất hiện, bắt nguồn từ tiếng Latinh: Natio là cộng đồng người có chung một thể chế chính trị, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được điều khiển bởi một nhà nước (Nation - Etat) Cũng có thể hiểu đó là một cộng đồng nhân dân (people) ổn định được phát triển trong lịch

sử, với một lãnh thổ riêng, với một nền kinh tế thống nhất, với các đặc trưng văn hóa thống nhất, cùng có tiếng mẹ đẻ thống nhất và được chỉ đạo bởi một

nhà nước (Quan điểm này đã được đại đa số tán đồng, kể cả Liên hợp quốc)

Ở Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc, Cu Ba và Việt Nam, đã từng tồn tại trong thời gian khá dài, cách hiểu về Dân tộc tư bản chủ nghĩa của J.V Stalin: “Dân tộc là khối cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch

sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và

về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa”

Thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban đầu nó được dùng để chỉ các nhóm tộc người, hay đơn vị tộc người

Trang 18

Dân tộc - tộc người cũng được dùng để chỉ các cộng đồng tộc người cụ thể như dân tộc Chăm, dân tộc Tày, dân tộc Việt (Kinh), dân tộc Mảng, dân tộc Sán Dìu

Theo các nhà Mác - xít, dân tộc là một cộng đồng người hình thành từ các bộ lạc, mà liên minh bộ lạc là bước khởi đầu Dân tộc ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước Theo đó, rõ ràng có nhiều loại dân tộc: dân tộc Chiếm nô, dân tộc Phong kiến, dân tộc Tư bản, dân tộc Xã hội chủ nghĩa,…

Như vậy, dân tộc Việt Nam bao gồm nhiều tộc người khác nhau liên kết lại, hay nói cho đúng hơn, Dân tộc Việt Nam là khối cộng đồng quốc gia bao gồm nhiều dân tộc/tộc người hợp lại

Mặc dù các trường phái Dân tộc học có nhiều quan điểm khác nhau về dân tộc tộc người, xong tất cả đều thống nhất: Dân tộc tộc người chỉ các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, kể cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia, và các cộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến bộ, hay cộng đồng tộc người còn đang trong quá tình phát triển

Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch

sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc Những thành viên trong thị tộc gắn

bó với nhau bằng quan hệ huyết thống Bộ lạc bao gồm những người cùng họ

và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức) Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau như chúng ta thấy hiện nay

Trang 19

Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được Văn hoá của các dân tộc có những nét chung giống nhau (thí dụ như đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt

và ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi tiến tới trình độ cộng đồng dân tộc, loài người đã trải qua các hình thức cộng đồng khác nhau,

từ thấp đến cao: Thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng người

Theo cuốn chủ nghĩa xã hội khoa học NXB Chính trị hành chính năm 2010: “Dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng (Dân tộc - Quốc gia) chỉ một cộng đồng người được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử được sự chỉ đạo của một Nhà nước, trên cơ sở có một lãnh thổ chung ổn định, một nền kinh tế chung, có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiến và một nền văn hóa mang bản sắc dân tộc”[17, tr.94]

Theo cuốn chủ nghĩa xã hội khoa học NXB Chính trị hành chính năm 2010: Dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp (Dân tộc - tộc người), ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Thái chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ với ba đặc trưng chính: cộng đồng về ngôn ngữ (ngôn ngữ tộc người), cộng đồng về văn hóa, ý thức tự giác tộc người.[17, tr.95]

Trang 20

Như vậy trong thực tiễn Việt Nam, dân tộc có hai nội hàm: chỉ dân tộc

ở cấp độ quốc gia - Dân tộc Việt Nam; chỉ cộng đồng tộc người cụ thể - Dân tộc Chăm

1.2.2 Đặc điểm chung của dân tộc Mông

có truyền thống từ lâu đời Người dân tộc Mông tại Việt Nam còn có các tên

gọi khác là người Mẹo, người Mèo, người Miếu Hạ, người Mán Trắng Tên thường tự gọi là H’mông, Na Miẻo Dân tộc H’mông gồm các nhóm dân địa phương như Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen), Mông Súa (Mông Mán), Mông Xanh Dân tộc này thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao

Người Mông vào Việt Nam là do trong lịch sử các triều đại phong kiến Trung Hoa đã gây ra nhiều cuộc chiến tranh tàn bạo và đẫm máu, đàn áp nhiều tộc người (trong đó có dân tộc Hmông), để giành quyền cai trị đất nước, làm người Mông phải thiên di đi khắp nơi

Điểm đầu tiên, người Mông đặt chân đến là Mèo Vạc trên cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), nơi địa đầu Tổ quốc Việt Nam Vì thế, người Mông sinh sống ở Việt Nam đều coi cao nguyên Đồng Văn là quê hương đất tổ của mình Người Mông phân chia thành 4 nhóm: Hmông Hoa (Hmông Lềnh), Hmông Đen (Hmông Dú), Hmông Xanh (Hmông Chúa), Hmông Trắng (Hmông Đu) Tuy có 4 nhóm Mông khác nhau, nhưng về ngôn ngữ và văn hoá cơ bản giống nhau, sự khác nhau giữa các nhóm chủ yếu là dựa trên trang phục phụ nữ

Trang 21

Dân tộc Mông phân bố khắp trên các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An

và số ít ở Phú Thọ Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), một bộ phận Người Mông di cư vào sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên Người Mông ở Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ về nguồn gốc, ngôn ngữ, văn hoá với cộng đồng người Mẹo ở Lào, người Mông ở Thái Lan, người Miêu ở Trung Quốc

và Myanma

Tuy cư trú ở độ cao từ 700m đến 1.500m, rải rác khắp nơi trên miền núi phía Bắc Việt Nam và trên Tây Nguyên, nhưng tộc người Mông vẫn duy trì được bản sắc văn hoá độc đáo của mình trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam

Đặc điểm về tập quán canh tác, di dân của đồng bào Mông

Trong canh tác, người Mông biết xen canh gối vụ, khai thác nương rẫy kết hợp với phát triển chăn nuôi và các nghề phụ Làm bất cứ việc gì, người Mông đều có ý thức đạt nhiều mục đích Khi khai thác thế giới thực vật, người Mông thường chọn các loài cây vừa làm dược liệu chữa bệnh, vừa làm hàng hóa giúp tăng thêm thu nhập phục vụ đời sống như: thảo quả, sơn tra Sự khai thác khám phá đầy sáng tạo này cũng chính là yếu tố đảm bảo tiết kiệm, giữ gìn tính bền vững của tự nhiên Về hoạt động văn hóa nghệ thuật, lúc nào, ở đâu người Mông cũng kết hợp hài hòa nhiều loại hình hát, múa khèn, kể chuyện, động tác diễn tả tạo sự hấp dẫn tinh tế của từng chi tiết

Mô hình quản lý xã hội dựa trên cơ sở một hệ thống luật tục được xây dựng qua nhiều thế hệ bởi sự uy tín của gia đình, trưởng họ, già làng, trưởng bản mang tính tự chủ, tự quản rất cao này có nhiều điểm hợp lý Có thể đưa vào vận dụng trong công cuộc đổi mới Nhất là trên lĩnh vực bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước theo quy ước an ninh, xây dựng tình làng, nghĩa xóm, điều hành công việc của bản làng

Trang 22

Ông Vừ Chìa Sinh, 54 tuổi, thôn Lao Xa, xã Sủng Là, huyện Đồng Văn, kể: “Ngày xưa tổ tiên người Mông chúng tôi ở Quý Châu (Trung Quốc)

đã có tập quán canh tác lúa, khi di cư đến Hà Giang, đất đai khan hiếm, khí hậu khắc nghiệt nên phải tận dụng những hốc đá để trồng cây lương thực Đồng bào gùi đất đổ vào từng hốc đá, mỗi năm trồng được thêm vài cây ngô, nhiều lần như vậy là có vài chục m2 đất rồi, bây giờ nhà nào cũng đủ ngô ăn, không còn bị đói nữa”

Mặc dù sản xuất gặp nhiều gian nan nhưng đất chẳng phụ công người, những khóm ngô vẫn nhọc nhằn vươn mình trong sương núi để rồi từng ngày đem ấm no đến với bản xa Không ăn hết ngô, đồng bào dùng để làm bánh, nấu rượu rồi bán lấy tiền mua sắm các vật dụng khác

Phương thức thổ canh hốc đá là kỹ thuật canh tác truyền thống và khá độc đáo ở những nơi có diện tích đá nhiều hơn đất của người Mông Sản xuất nông nghiệp trên những vùng núi cao gặp rất nhiều khó khăn, một mặt vì đá thì nhiều, đất lại có hạn, mặt khác nguồn nước tưới khó bảo đảm, chủ yếu chờ vào nước trời, cộng thêm do ở trên cao, xa khu dân cư nên việc chăm bón, thu hoạch không dễ dàng

Bên cạnh tập quán canh tác truyền thống, tình hình di cư của người Mông cũng có rất nhiều vấn đề phức tạp

Quay trở lại lịch sử, theo sử sách có ghi lịch sử của người Mông là lịch

sử du canh du cư với các cuộc thiên di lớn xuyên quốc gia Quá trình thiên di

đó là quá trình phải đấu tranh chống lại các thế lực phong kiến thực dân, giành dật sự tồn tại và phát triển trong sự áp bức đè nén của giai cấp thống trị

Những nghiên cứu về lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học đều thống nhất khẳng định vùng Hồ Động Đình (Trung Quốc) là cái nôi của người Mông Bản thân các cộng đồng người Mông ở khắp miền nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, từ Mianma đến Lào, Việt Nam, Thái Lan… cũng đều coi

đó là nơi chôn rau cắt rốn của tổ tiên mình

Trang 23

Nguyên nhân dẫn đến các cuộc thiên di của người Mông xuống các vùng Đông Nam Á bắt nguồn từ chính sách áp bức hà khắc của các triều đại phong kiến Trung Hoa

Cuộc đấu tranh giành quyền sống của người Mông diễn ra rất khốc liệt trong suốt chiều dài lịch sử của chế độ phong kiến Trung Quốc Nhưng nỗi đau lớn nhất của người Mông trong lịch sử là càng khởi nghĩa càng thất bại, càng đấu tranh càng thua thiệt, mất mát

Hoàn cảnh lịch sử đó đã đặt người Mông trước sự lựa chọn: hoặc là chịu đồng hoá của người Hán, hoặc là chống lại sự đồng hoá đó Người Mông

đã chọn con đường không chịu khuất phục, chống lại sự đồng hoá để bảo tồn bản sắc văn hoá Do thất bại bằng đường đấu tranh vũ lực, họ đã phải di cư đến các vùng đất xa xôi, hẻo lánh, cách xa các thế lực phong kiến để bảo toàn nòi giống; và cung đường thiên di của họ đã diễn ra theo các phương nam và tây nam.Đến Xiêng Khoảng, Xâm Nưa

Ở Việt Nam, người Mông thiên di thành nhiều đợt, nhưng đông nhất có

3 đợt:

Đợt thứ nhất là vào đời nhà Minh

Đợt thứ hai là vào đời nhà Thanh

Đợt thứ ba là vào thời Triều Mãn Thanh (1855 - 1873)

Tình hình di dịch cư trong vùng đồng bào dân tộc Mông diễn ra khá phức tạp Đồng bào Mông ở các tỉnh phía Bắc của Việt Nam bị kích động vua Mèo “ Vàng Chứ” sắp xuất hiện, có thủ đô ở vùng biên giới Việt – Lào nên đồng bào đã di cư ra vùng biên giới Một số đồng bào bán đất, bán nhà chuẩn bị di cư, do kích động gốc là người Inđônêxia, vua Inđônêxia chuẩn bị đón về

Nguyên nhân của tình hình di dịch cư nói trên do đời sống của đồng bào quá khó khăn, do niềm tin sâu sắc theo đạo, do trình độ dân trí còn thấp,

Trang 24

dân số phát triển nhanh, điều kiện sống, điều kiện sản xuất không đảm bảo Những nơi này lại thường là vùng núi cao, vùng xa xôi hẻo lánh, giao thông

và cơ sở hạ tầng kinh tế còn thấp kém Tập quán canh tác của đồng bào chủ yếu là làm nương rẫy quảng canh sau một thời gian định cư, rừng bị phá, nguồn nước cạn kiệt, thiếu nước sinh hoạt, môi trường trở nên khắc nghiệt, lại thường xuyên bị thiên tai đe doạ làm cho sản xuất bếp bênh, năng suất cây trồng thấp Từ khi thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, thì sự phân cực giàu nghèo càng nhanh và càng làm giảm khả năng tái sản xuất của những hộ nghèo, có khó khăn từ trước Bên cạnh đó không loại trừ âm mưu thủ đoạn của những kẻ xấu ở vùng dân tộc, lợi dụng kích động các hoạt động dân chủ, tự do, tôn giáo, để gây chia rẽ dân tộc, kích động lợi dụng một bộ phận đồng bào trình độ thấp, dễ tin, muốn cầu mong có cuộc sống đỡ vất vả hơn Trong hoàn cảnh ấy buộc đồng bào phải tìm nơi để sinh sống

Đặc điểm về những nét văn hóa đặc trưng

Một đặc điểm nổi bật đối với dân tộc Mông là phong tục lâu đời với nhiều dáng vẻ độc đáo đang từng bước làm rạng rỡ đời sống tinh thần một cộng đồng, tuy trải qua những bước thăng trầm của lịch sử vẫn duy trì và phát triển trong xu thế chung của nền văn hóa Việt Nam thống nhất và đa dạng

* Lễ tết: Trong năm người Mông ăn hai tết lớn: tết năm mới vào đầu

tháng 12 âm lịch (lịch mỗi tháng có 30 ngày, hết 12 tháng là tết), tết ngày 5 tháng 5- tết Đoan ngọ Ở Việt Bắc, người Mông còn ăn tết vào ngày 13 tháng

3 và ngày 13 tháng 6 hàng năm Ở Lào Cai, Yên Bái người Mông ăn tết ngày

7 tháng 7 (tết đốt vàng mã cho tổ tiên) Tết Đoan ngọ (ngày 5 tháng 5) mới là ngày quan trọng nhất, ngày sum họp đại gia đình và gặp gỡ người cùng giao

trong bữa tiệc cỗ rượu linh đình

* Văn hóa chợ: Các vùng người Mông sinh sống thường có chợ phiên

Chợ phiên qui định họp 6 ngày một lần (có nơi 5 ngày một phiên) Quan hệ

Trang 25

trao đổi hàng hoá trên cơ sở vật đổi lấy vật, dùng tiền tệ trao đổi rất ít Chợ phiên vừa là nơi trao đổi hàng hoá, vừa là nơi gặp gỡ các tầng lớp trong xã hội Chợ tình được tổ chức mỗi năm một lần (chợ tình Sa Pa) là một nét văn

hoá đẹp đặc sắc của người Mông

* Trang phục: Trang phục cổ truyền của người phụ nữ Mông gồm:

váy, áo xẻ ngực, yếm lưng, có tấm vải che phía trước và vuông vải nhỏ che lưng phía sau, thắt lưng, khăn quấn đầu, chân vấn xà cạp Váy hình nón cụt, xếp nhiều nếp xoè rộng Phụ nữ Mông trắng mang trang phục váy trắng, áo xẻ ngực có thêu hoa văn ở cánh tay và yếm lưng Phụ nữ Mông trắng cạo tóc xung quanh và để chỏm lớn ở đỉnh đầu, quấn khăn vành rộng Phụ nữ Mông Hoa mang trang phục váy màu chàm, có thêu hoa ở gấu váy Mặc áo xẻ nách, trên vai và ngực có cạp thêm vải màu, thêu hình hoa văn con ốc Phụ nữ Mông Hoa để tóc dài quấn quanh đầu, sau đó còn quấn thêm tóc giả Phụ nữ Mông Đen mang trang phục váy màu chàm, có in hoa văn ở gấu, ngắn hơn váy Mông Hoa, mặc áo xẻ giữa ngực, thêu hoa văn ở cánh tay và hò áo Phụ

nữ Mông Xanh mang trang phục váy hình ống màu chàm, gấu váy thêu hoa văn hình chữ thập trong hình các ô vuông, áo mở chếch ngực xẻ thẳng về bên trái, cài một cúc, cánh tay áo đắp thêm những miếng vải màu đỏ và cổ tay áo

có thêu hoa văn Người Mông Xanh, con gái để tóc xoã ngang vai, khi lấy chồng mới quấn tóc lên đỉnh đầu và dùng lược móng ngựa cặp ngược tóc về

phía trước, trùm khăn trên đầu

Ngày nay, trang phục phụ nữ Mông có những thay đổi: phụ nữ Mông

Sa Pa mặc quần ống ngắn và hẹp, áo khoác ngoài kép xẻ ngực cổ cứng thiêu hoa văn Phụ nữ Mông Trắng Sơn La mặc quần ống dài, mặc áo cánh trắng bên trong, măc áo cổ truyền bên ngoài Phụ nữ Mông Hoa mặc áo hở nách

Nam giới mặc áo xẻ nách và xẻ ngực, thường có 4 túi, cài 4 khuy Quần ống bó cắt kiểu chân què Nam giới Mông Sa Pa mặc áo khoác ngoài kép, xẻ ngực không có tay, cổ đứng thiêu hoa văn

Trang 26

Người Mông có những đồ trang sức: khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, nhẫn đồng, nhẫn bạc, nhẫn vàng Nếu trên tay có 2 nhẫn là người đó đã có vợ hoặc có chồng Phụ nữ thích dùng chiếc ô màu sắc đẹp, vừa có tác dụng che mưa, che nắng và làm vật trang sức cho mình, tạo nên nét duyên dáng

Người Mông có một đời sống tinh thần đa dạng và phong phú về phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng và chữ viết, tiếng nói, văn hoá nghệ thuật

* Nhà cửa: Nhà ở của người Mông được xây dựng tương đối thống

nhất Nhà được xây dựng trên nền đất, gồm 3 gian 2 chái Gian giữa đặt bàn thờ, hai bên bố trí bếp và buồng ngủ Buồng ngủ không được bố trí ngang hàng với bàn thờ Nhà giàu có được xây dựng kiên cố, cột gỗ kê trên đá tảng đẽo hình đèn lồng hay như quả bí, mái lợp ngói, gác lát ván Nhà của người nghèo xây dựng đơn giản, cột ngoảm, vách nứa hay ván bổ, mái tranh Nhà được mở từ 2 đến 3 cửa, cửa chính đối diện với bàn thờ Các chuồng trại chăn nuôi làm tách riêng ra một khu vực

* Đồ dùng sinh hoạt: Đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của người Mông

nhìn chung tương đối đơn giản, trong đó đáng chú ý nhất là chiếc quẩy tấu - một trong những dụng cụ gia đình độc đáo Quấy tấu được đan bằng tre, trúc,

có quai đeo như balo rất thuận tiện cho việc mang vác đi lại ở vùng cao núi đá dốc và họ coi chiếc quẩy tấu là phương tiện duy nhất gùi cải, châu báu…của mọi gia đình Ngoài ra họ còn biết đan rổ, rá, thúng, nong, nia…để đựng

lương thực, thực phẩm

* Tín ngưỡng: Thờ cúng tổ tiên, đó là thờ cúng ông bà, cha mẹ và

những người đồng tộc đã chết Người ta tin rằng tổ tiên đã chết, che chở cho con cháu đang sống làm những nghi lễ cầu xin cho các thành viên thị tộc hay gia đình và tiến hành những nghi thức nhằm thờ phụng tổ tiên Bàn thờ tổ tiên thường đặt ở vị trí gian giữa, nhiều dòng họ Mông không lập bàn thờ tổ tiên riêng Nơi thờ cúng tổ tiên chỉ là một miếng giấy hình chữ nhật kích thước 20- 30cm Nơi đặt bàn thờ là linh thiêng, chỉ có chủ gia đình mới được làm

Trang 27

chủ lễ cúng mời tổ tiên, chỉ có con trai mới được đến gần bàn thờ Người Mông chỉ cúng tổ tiên vào dịp năm mới, lễ cơm mới hoặc khi cần cúng chữa

bệnh… đối với hồn cụ, ông, cha ở thế giới bên kia

Bên cạnh thờ cúng tổ tiên, người Mông còn tồn tại một hệ thống ma nhà với những lễ thức cúng bái riêng biệt

Ngoài những yếu tố tinh thần truyền thống, người Mông còn tiếp thu yếu tố văn hoá mới Kitô giáo (đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành) Từ năm

1888, thực dân Pháp chiếm đóng Sa Pa đã có ý định xây dựng các cơ sở truyền giáo Nhưng mãi tới năm 1921, mới có 5 gia đình Mông theo đạo và đến những năm 40 của thế kỷ XX, chỉ có 33 hộ gia đình người Mông ở 11 làng theo đạo [21,tr.35]

Người Mông ở Sa Pa theo đạo không chỉ do yêu cầu tín ngưỡng khao khát một niềm tin mà chủ yếu là do sự thúc đẩy của tâm lí thực dụng Họ cần

đi theo chúa không chỉ vì hạnh phúc trên thiên đàng mà vì những vấn đề thiết thân trong cuộc sống đang đặt ra (được cấp ruộng nương, có chỗ dựa mới, bỏ

lễ cúng ma đầy tốn kém… Người Mông coi tôn giáo chỉ là phương tiện nhằm giải quyết những nhu cầu bức xúc của đời sống chứ không quan tâm nhiều về triết lí, về hạnh phúc hư ảo ở thế giới bên kia

Như vậy, đời sống sinh hoạt tinh thần của người Mông đã được pha trộn giữa đạo lí Gia tô vào đạo lí người Mông, như một yếu tố văn hoá mới gá lắp vào đời sống sinh hoạt tinh thần của họ

Hôn nhân: Hôn nhân của người Mông thông qua mua bán và có phần

tin vào tín ngưỡng Trong lễ ăn hỏi, người Mông tin rằng đôi trai gái có hợp nhau hay không là do lễ cúng "xem chân gà" Người con gái được định giá thông qua giá trị vật chất thịt, rượu, bạc trắng, thuốc phiện Mỗi đám cưới thường nhà gái yêu cầu từ 60 đến 120 đồng bạc trắng, từ 60kg đến 120kg thịt lợn, từ 60kg đến 120kg rượu và một số thuốc phiện Giá trị vật chất nhà gái yêu

Trang 28

cầu càng nhiều đối với nhà trai thì người con gái đó càng hoàn hảo về tài sắc Trong quan hệ hôn nhân con dì, con già, con cô, con cậu được phép lấy nhau Điều đặc biệt là con trai cậu được phép lấy con gái cô, đó là một điều tốt đẹp trong gia đình (nước tốt không để chảy vào ruộng người) và (vì tôi đã để vật quý ở đây thì phải lấy lại nó) Người Hmông có phong tục em chồng được phép lấy chị dâu (nếu anh trai bị chết), ngược lại chị dâu có quyền lấy em chồng là

để giữ gìn tài sản và có trách nhiệm nuôi dưỡng các cháu của anh trai Nếu em chồng đã có vợ thì chị dâu chỉ được làm vợ lẽ Trong trường hợp gia đình không có em chồng thì chị dâu được phép lấy em họ

Tục cướp vợ rất phổ biến: một nhóm thanh niên từ 3 đến 5 người, tổ chức họp nhau đón đường bắt cóc người con gái mang về nhà mình (dù người con gái đó có bằng lòng hay không bằng lòng) Trong thời điểm người con gái

bị cướp mọi người trong họ hàng, gia đình, anh em không được phép tham gia giải cứu Sau hai hôm cướp vợ, nhà trai cử người sang nộp phạt tiền danh dự cướp vợ và báo cho gia đình nhà gái biết sự việc Sau đó, hai bên gia đình bàn bạc, ấn định ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ thành hôn cho đôi trai gái Trong quan hệ hôn nhân giữa những người trong cùng một dòng họ bị cấm triệt để, không được phép lấy nhau Những người không phải là anh em nhưng cùng mang tên dòng họ, hôn nhân diễn ra cũng rất dè dặt Người Mông tin rằng quan hệ hôn nhân với dòng họ khác thì làm ăn mới phát đạt, nòi

giống mới phát triển tốt

Ma chay: Ttrước kia, ma chay của người Mông thường được tổ chức

kéo dài từ 5 đến 7 ngày, ngày nay giảm xuống còn từ 2 đến 3 ngày Khi gia đình có người chết, họ đi mời người (thầy mo) đến làm thủ tục cúng hát mở đường, sau đó mới tiến hành khâm liệm (áo ngoài bằng lanh thì mới được đoàn tụ với tổ tiên) Cách hành xử mỗi nơi mỗi khác: có nơi để người chết trên "cáng" treo trước bàn thờ hoặc để trên ghế dài đặt ngang cửa ra vào Có

Trang 29

nơi người chết được đặt vào quan tài nhưng không đậy nắp để dễ dàng xem mặt người chết Trong lúc hát mở đường đến đoạn sự tích gà dẫn đường cho người chết về với tổ tiên, người ta mang một con gà đã chết để nguyên lông đặt trong âu bột ngô để phía dưới người chết Trong đám ma người Hmông dùng khèn và trống để thực hiện nghi lễ tiễn đưa người chết về với tổ tiên được êm đẹp Sau khi chôn cất xong, nếu là nam giới, người ta cắm 9 cành lá,

nữ giới cắm 7 cành để đánh lạc hồn người chết không quay về làm hại những người thân trong gia đình Lễ cúng đưa hồn người chết về với tổ tiên sau khi chôn cất hoặc kéo dài một hay vài năm

* Đặc điểm về quan hệ gia đình - dòng họ

Ở vùng đồng bào Mông, nét đặc trưng và nổi bật nhất trong gia phong là

sự chi phối bởi quan hệ của dân tộc, dòng họ Trong đó, tộc người này đặc biệt quan tâm đến ý thức đấu tranh bảo vệ bản sắc dân tộc và sự đoàn kết của cộng đồng, dòng họ Bởi vậy, khi cư trú, người Mông thường sống quần tụ theo dòng

họ, huyết thống để dựa vào nhau trong cuộc sống và lao động sản xuất

Người Mông có nhiều dòng họ: Giàng, Thào, Lù, Vù, Sùng, Mã, Lùng, Hầu, Ly, Vàng, Tẩu, Tráng, Hản, Thèn, Cù Tên của các dòng họ được đặt theo tên con vật, màu sắc, cây cối, đồ vật và một số họ có tính chất chung chung không xác định được nội hàm tên gọi Các họ lấy tên con vật; Sùng (gấu), Hầu (khỉ, Lồ (lừa), Má (ngựa), Giàng (dê), Lùng (rồng); họ lấy tên màu sắc; Hoàng (màu vàng), Lù (màu xanh), Hùng (màu đỏ); họ lấy tên cây: Thào (đào), Lý (mận); họ lấy tên đồ vật: Cư (trống), Thèn (thùng) và một số không xác định được tên họ: Mùa, Châu, Phàng, Tẩn, Tráng, Vàng, Lầu, Vừ… Mỗi

họ có những điều kiêng kị và những lễ nghi cúng bái riêng biệt: họ Giàng kiêng ăn quả tim con vật, họ Hờ kiêng ăn thịt khỉ, họ Lý kiêng ăn lá lách con vật, con dâu dòng họ Lầu kiêng quét dọn bếp Sự khác nhau giữa các dòng họ trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên, ma chay, cúng ma… là ở số lượng bát

Trang 30

cúng, cách bày bát, địa điểm cúng, bài cúng, cách thức ăn uống và chia thịt;

họ Sùng bày 13 bát và chia thịt từ trái sang phải, họ Giàng bày 33 bát theo đường vòng tròn từ phải qua trái, họ Má bày 19 bát theo đường thẳng

Những người trong cùng một họ là cùng tổ tiên sinh ra phải có nghĩa vụ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống như ma chay, cưới xin, làm nhà mới, ốm đau bệnh tật, sinh đẻ, theo đuổi các vụ kiện cáo Cho dù ở xa cách nhau bao nhiêu những người cùng họ có thể sinh đẻ và chết trong nhà của nhau mà không sợ tổ tiên trách cứ Đứng đầu mỗi dòng họ là trưởng tộc, người có đạo đức, uy tín và am hiểu sâu sắc phong tục tập quán của dòng họ, giàu kinh nghiệm tổ chức sản xuất, gánh vác hướng dẫn các gia đình khi có ma chay, cưới xin, giải quyết mâu thuẫn xích mích giữa các thành viên Người trưởng tộc là người đại diện cho dòng họ giao thiệp với chính quyền và các dòng họ khác, đồng thời còn là người tổ chức các vụ kiện, đi đòi nợ máu xưa kia Có người tộc trưởng do các thành viên dòng họ bầu ra nhưng cũng có nơi lại do người tộc trưởng cũ tìm chọn và bồi dưỡng

Như vậy, đặc trưng dòng họ người Mông là sự thống nhất về tư tưởng, thông qua tín ngưỡng với những điều kiêng kị lễ nghi riêng của dòng họ, đã tạo nên sự cố kết lâu bền trong quan hệ giữa các thành viên, còn về mặt xã hội

và nhất là kinh tế càng trở nên mờ nhạt

Tổ chức gia đình của người Mông là gia đình nhỏ phụ hệ (gồm hai thế

hệ bố mẹ và con cái sống với nhau) Đứng đầu gia đình là người đàn ông, người đó có nghĩa vụ gánh vác công việc gia đình: đi làm nương rẫy, khấn tổ tiên, đón thầy cúng, thay mặt gia đình tham gia công việc Giao, mà bất cứ phụ

nữ nào cũng không có quyền làm thay, làm hộ Trong gia đình người Hmông người ta quí trọng con trai hơn con gái, vì thế gia đình nào có nhiều con trai là niềm kiêu hãnh trong thôn xóm, bản làng Nếu trong gia đình có mối bất hoà giữa vợ và chồng, thì con dâu chỉ được lánh nạn sang hàng xóm, không được

Trang 31

phép trở về nhà bố mẹ đẻ Nếu con dâu muốn về thăm bố mẹ đẻ phải xin phép nhà chồng và được chồng đưa về tận nhà mới hợp lệ Khi vợ chồng li dị, người đàn bà không được trở về sống với bố mẹ đẻ mà đến ở nhờ nhà chức dịch cho tới khi tái giá Người đàn bà goá không muốn lấy em chồng mà lại lấy người khác thì toàn bộ tài sản phải để lại nhà chồng

Trong gia đình, người con gái tự cho mình là người khách, tự do đi lại

và ăn uống không phải kiêng khem như con dâu trong nhà Phân chia tài sản, con trai được chia đều nhau, bố mẹ giữ một phần tài sản bằng các con trai, con gái đi lấy chồng được bố mẹ đẻ chia cho của hồi môn Nhìn chung, cuộc sống gia đình người Mông tương đối hoà thuận, vợ chồng gắn bó với nhau như hình với bóng, khi đi chợ cũng như đi làm nương rẫy và thăm thân họ hàng bên nội, ngoại, chồng đi trước vợ đi sau Trong mối quan hệ gia đình, ông cậu và bà cô

có vai trò vô cùng quan trọng

Ngoài ra, người Mông còn có một nền văn hoá nghệ thuật phong phú, truyện cổ dân ca chiếm một vị trí quan trọng, gồm nhiều loại (cúng ma, tình yêu, cưới xin, làm dâu, mồ côi…) Các loại nhạc cụ như khèn, kèn lá, đàn môi

và các loại hình hoa văn trang trí trên trang phục phụ nữ là những tác phẩm nghệ thuật dân gian đẹp, cái đẹp tươi sáng tự nhiên của vùng cao

Dân tộc Mông sinh sống rải rác khắp mọi nơi trên miền núi rừng phía Bắc Việt Nam và Tây Nguyên, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá độc đáo của họ Văn hoá Mông là một thành tố văn hoá Việt Nam, bản sắc văn hoá độc đáo của họ đã đóng góp và làm phong phú cho niền văn hoá Việt Nam "thống nhất trong đa dạng, đa dang trong thống nhất"

Như vậy, lịch sử của người Mông là lịch sử đấu tranh bảo vệ sự trường tồn của dân tộc Quá trình đó, người Mông không những phải đấu tranh với các thế lực áp bức bóc lột mà còn phải luôn luôn thích nghi với sự thay đổi môi trường và điều kiện sống từ đồng bằng trung du lên miền núi cao chót

Trang 32

vót, từ canh tác lúa nước sang canh tác nương rẫy, dựa vào thiên nhiên Cuộc sống của người Mông khép kín, cách biệt với xã hội bên ngoài Hoàn cảnh lịch sử đó làm cho người Mông chỉ tin vào những điều gì thiết thực, cụ thể, lối tư duy duy cảm hình thành và phát triển

Trên thế giới, không ít dân tộc khi bị xâm lược, áp bức thì bị mất tiếng nói, mất văn hoá truyền thống, bị đồng hoá, thậm chí bị diệt vong Dân tộc Mông trong quá khứ cũng đã từng đụng độ với các thế lực phong kiến, bị chúng tìm mọi cách tiêu diệt, đánh đuổi, phải di cư liên tục qua các miền núi non, hiểm trở, khắc nghiệt, phải thay đổi cả tập quán canh tác, sinh hoạt, ấy vậy mà họ vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của mình, không để pha lẫn

vào dân tộc khác

1.3 Cơ sở hình thành truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Mông

Phong tục, tập quán được hình thành qua quá trình sản xuất, trong quản

lý xã hội, trong đời sống hàng ngày của các cộng đồng xã hội

Phong tục, tập quán có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chỉ một dòng họ, gia tộc Phong tục, tập quán là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại Bản thân các phong tục, tập quán cũng nằm trong cuộc đấu tranh xã hội đã, đang và sẽ tiếp diễn mãi giữa cái cũ

và cái mới Để hình thành nên truyền thống, phong tục, tập quán của một dân tộc cần rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố đời sống vật chất cùng toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất, các quan hệ vật chất trong xã hội đóng vai trò quan trọng

Các yếu tố truyền thống, phong tục tập quán (là bộ phận của ý thức xã hội) được hình thành dựa trên cơ sở của tồn tại xã hội hay những yếu tố đời sống vật chất của xã hội Chủ nghĩa Mác đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất, rằng

Trang 33

không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa

là không thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật chất

Sự biến đổi của một thời đại nào đó cũng sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức của thời đại ấy

C.Mác viết “ không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn

cứ vào ý thức của thời đại đó Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội”[27,tr.15]

Mác - Ănghen cho rằng sự sản xuất ra những ý niệm, ý thức gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và sự giao tiếp của con người, tư duy, sự giao tiếp tinh thần của mỗi con người

Các ông khẳng định:

Chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý niệm của mình, song đây là những con người hiện thực, đang hành động, đúng như họ bị quy định bởi một sự phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất của họ và bởi sự giao tiếp phù hợp với sự phát triển ấy, kể cả những hình thức rộng rãi nhất của những sự giao tiếp đó, ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người[29, tr.37]

Cơ sở để hình thành nên truyền thống, phong tục tập quán của một dân tộc có thể kể đến các yếu tố căn bản như: Công cuộc di cư, bảo vệ bờ cõi, xây dựng đời sống của một nhóm người hay một cộng đồng người, yếu tố điều kiện hoàn cảnh sống về tự nhiên - kinh tế - xã hội, vấn đề tái sản xuất sức sản xuất xã hội, thế giới quan, sự tác động của các luồng văn hóa Mỗi một yếu tố

có sức ảnh hưởng khác nhau đối với việc hình thành nên truyền thống, phong tục tập quán của các dân tộc nói chung và dân tộc Mông nói riêng

Trang 34

1.3.1 Công cuộc di cư, bảo vệ bờ cõi của đồng bào dân tộc Mông

Người Mông là dân tộc thiểu số ở Việt Nam Dân tộc này có một truyền thống văn hóa độc đáo, có bề dày lịch sử hàng nghìn năm trước đây và trên 300 năm sau khi từ Trung Quốc sang định cư ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

Từ Nam Trung Quốc người Mông di cư đến Việt Nam bằng nhiều đợt, nhiều con đường khác nhau, đó là một cuộc hành trình gian khổ đi tìm cuộc sống tự do và công bằng Đó cũng chính là quá trình đấu tranh chống áp bức, bóc lột của người Mông từ thời xa xưa Đến với Việt Nam, đến với vùng đất mới, hầu như chưa có dấu chân người, người Mông đã tìm thấy nguồn sống ở nơi đây đầy hứa hẹn Người ta cho rằng nơi đây còn nhiều đất đai màu mỡ, là nơi có quả bí to như cái vạc mà lợn rừng có thể khoét lỗ chui vào đó đẻ con,

nó vừa là ổ, vừa là thức ăn cho lợn con, là nơi trồng cây mà gốc có củ, thân có bắp, ngọn trổ lúa Với tinh thần lao động và sáng tạo, người Mông đã biến nơi rừng rú hoang vu thành quê hương thân yêu của mình

Bởi vậy người Mông vẫn thường nói:

Ôi bầu trời, ngọn núi cao ơi!

Miền núi cao một tay vỗ không kêu

Nhưng ta biết nói và nhiều tay biết làm thì có ngày họ đến tìm và nhiều tay vỗ kêu

Một tay vỗ không kêu, nhiều tay vỗ sẽ kêu Đó là âm thanh của tình đoàn kết giữa người Mông bản trên, người Dao bản giữa, người Tày, Thái bản dưới với nhau

Đồng bào thường nói “muốn ăn thì hỏi 2 tay” hoặc để đấu tranh với thiên nhiên, đã có nhiều câu tục ngữ chứng minh cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết:

Một chân đứng không vững

Trang 35

Một tay vỗ không vang

Và đoàn kết đã trở thành một lẽ sống ăn sâu vào tiềm thức:

Có nước tất cả cùng đổ

Có tiền tất cả cùng tiêu

Ðó cũng là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự đoàn kết giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh và giữa đồng bào các dân tộc thiểu số với nhau Bác nói, đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau Chính vì tinh thần đoàn kết đó mà đã hình

thành nên truyền thống yêu nước, yêu quê hương, quyết tâm sinh sống, bám

đất “sống trên đá chết nằm trong đá” để trở hành những cột mốc sống giữ bờ cõi quê hương Chính cuộc sống giữa các dân tộc trong một vùng lãnh thổ đã khiến cho các nét phong tục tập quán có cơ hội giao thoa, kế thừa và phát triển dần từ đời này sang đời khác

Người Mông thường nói với nhau rằng:

" Dựng nước thì phải dựng đến tận cạnh trời

Ðất nước này muốn vững chắc thì cầu mong

Anh em người Mông ta ở trong vùng đất này đứng lên cùng các dân tộc, đội chung một bầu trời

Ðồng bào Mông vốn thật thà, chất phác lại sống ở những vùng đất là vị trí xung yếu của quốc gia nên rất hay bị các thế lực xấu dòm ngó, lôi kéo và xúi giục làm điều xấu để phá hoại tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em

Nên trong dân ca Mông có nói:

"Ôi anh em người Mông ta ơi!

Muốn ăn ngon thì phải tự tay làm ra

Muốn ăn đủ thì phải tự bàn chân ta đi tới

Không tin và không nghe kẻ xấu xuyên tạc

Trang 36

Ðừng chờ đậu phụ của người ta để ăn Tết

Có ngày dễ bị lỗi lầm, hoạn nạn từ trong trái tim

Ở bản người Mông,” Mỗi gia đình là một chiến luỹ - Mỗi "Giao" (nhà)

là một pháo đài “, điều này lý giải cho chúng ta, tại sao một dân tộc suốt chiều dài 5.000 năm bị người Hán áp bức, luôn tìm cách tận diệt, vẫn có một sức sống dẻo dai, quật cường đến như vậy? Ngày nay với dân số một triệu dân, người Mông đã là dân tộc có số dân đông xếp hành thứ 8 trong đại gia đình

54 dân tộc anh em Việt Nam Cả vùng biên ải núi cao phía bắc, chủ yếu do người Mông trấn giữ, với tinh thần cảnh giác cao độ như vậy Bản của người Mông khổng những là nơi cư trú mà còn là những thành trì vững chắc, góp phần bảo vệ biên cương của tổ quốc, cũng như sự bình yên của bản làng

1.3.2 Điều kiện, hoàn cảnh sống của người Mông

Điều kiện tự nhiên

Theo ghi chép về văn hóa dân gian Hmông của Mã A Lềnh: Người Mông trên thế giới là 9 triệu (1998) Người Mông cư trú truyền thống ở vùng núi non trùng điệp Đông Nam Á như Trung Quốc, Việt Nam, Miến Điện, Thái Lan, Lào Ở Việt Nam nơi cư trú chủ yếu là dải biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc và dải biên giới phía Tây giáp Lào, CamPuChia [21, tr.33]

Người Mông thường truyền miệng trong dân gian câu nói:

Trang 37

khắc nghiệt Do đó, kinh tế trồng trọt trên nương rẫy là hoạt động kinh tế chính của họ Khu vực cư trú chủ yếu là đồi núi nên thiếu đất canh tác người Mông phải làm nương ruộng trên đá, gùi đất đổ lên hốc đá để trồng

Khí hậu khu vùng non cao mang tính chất ôn đới là điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho việc trồng các loại cây ăn quả như lê, mận, đào, táo …và các cây dược liệu quý như thảo quả, đỗ trọng, ý dĩ

Trong điều kiện môi trường cảnh quan đó, người Hmông đã cần cù lao động sáng tạo, thích ứng với các điều kiện tự nhiên tạo dựng cuộc sống với không ít những khó khăn quyết liệt Đúng như người Mông nhận xét, vùng núi cao là nơi con người: “sống trong đá, chết vùi trong đá” Điều này mang những đặc trưng chung cho toàn bộ các tỉnh vùng cao Việt Nam nơi mà người dân tộc Mông di cư đến và cư trú Môi trường cảnh quan, các hoạt động kinh

tế, văn hoá của người Mông ở khu vực vùng cao có nhiều điểm tương đồng trong cộng đồng người Mông nói chung

Khu vực mà người Mông sinh sống đều là những khu vực có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái Là những khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực

về tài nguyên rừng và đất rừng Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hoà khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định Từ xưa đến nay, các thế lực thù địch bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành luỹ vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật

đổ, bảo vệ sự nghiệp hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội Ở vùng biên giới,

Trang 38

một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới Bởi vậy, chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích các dân tộc ít người mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ về kinh tế -xã hội,

mà cả về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia

Điều kiện kinh tế - xã hội

Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên nên dân tộc Mông ở các vùng miền cư trú có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau Cư dân sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các cư dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao xa các trung tâm kinh tế - văn hóa

Dân tộc Mông cư trú chủ yếu ở vùng núi, xa các trung tâm văn hóa - kinh tế - xã hội Chính vì vậy nên dân trí và mức sống của đồng bào còn thấp Nhiều người Mông mù chữ và điều kiện sống khó khăn phần nào làm hạn chế việc tiếp xúc với các dịch vụ y tế tốt nhất nên đồng bào Mông ta rất tin vào việc cúng ma, cúng Giàng từ ngàn đời

Vì thiếu khoa học kỹ thuật, thiếu đất sản xuất nên khi đồng bào sinh sống và canh tác, khai thác ở một vùng đất nhất định đã hết màu mỡ sẽ du canh du cư, đốt nương làm rẫy ở một vùng đất mới Tuy nhiên hiện nay nhờ các chính sách mới, sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và Nhà nước người Mông không còn du canh du cư mà đã định cư, một số hộ dân còn xuống núi để tìm cuộc sống mới gần với những thị trấn

Cư trú ở vùng núi cao với đặc điểm là xa các trung tâm thông tin, văn hóa trung tâm nên vấn đề tiếp cận cái mới của người dân tộc Mông phần lớn còn hạn chế, mức độ sở hữu thông tin của các nhóm dân tộc thiểu số trong đó

có dân tộc Mông thường rất thấp Điều này trước hết xuất phát từ khu vực cư

Trang 39

trú Hầu hết các dân tộc thiểu số đều ở các vùng núi cao, thuộc miền sâu, miền xa, diện tích rộng nhưng giao thông khó đi lại Ở đó khó xây dựng các công trình, đặc biệt điện, đường, trường, trạm Thiếu những cơ sở hạ tầng cơ bản nên dân tộc Mông sống ở xa trung tâm dường như trở nên bị tách biệt

và thiếu thốn thông tin đủ mặt

Một số ví dụ rõ ràng là chính vì ít cập nhật thông tin về tín dụng và dịch vụ tài chính mà người dân tộc Mông thường không tham gia vay vốn chính thức từ ngân hàng mà vay các loại vốn phi chính thức với lãi suất cao (tín dụng); thường buôn bán các sản phẩm nông nghiệp giá rẻ (tiếp cận thị trường); vì không nhận thức được tầm quan trọng về chứng nhận đất đai dẫn tới bán đất đai, sang nhượng sổ đỏ dẫn tới mất đất (vấn đề đất đai, nông nghiệp)

Tuy nhiên cũng có những bộ phận đồng bào đã di cư xuống khu vực thấp, xây dựng đời sống mới tại các vùng miền Nếp ăn ở, sinh sống lâu đời của người Mông là chăn nuôi, sản xuất tự cung tự cấp là chính nên kinh tế trong gia đình người Mông còn khó khăn Nhiều địa bàn cư trú có điều kiện

tự nhiên hết sức khó khăn, khắc nghiệt Ðiều kiện canh tác nương rẫy không

ổn định nên đời sống của đồng bào thường bấp bênh Cuộc sống du canh, du

cư thường dẫn tới đói nghèo, bệnh tật

Dân tộc Mông là một trong những dân tộc thiếu hụt vốn con người Báo cáo Phân tích Xã hội Quốc gia cho thấy người dân tộc thiểu số là những người có khả năng tiếp cận giáo dục rất thấp Chính vì vậy, tỷ lệ mù chữ cao xuất hiện nhiều ở nhóm cộng đồng này Việc này cản trở to lớn đến khả năng tương tác của họ trong việc tiếp cận và chia sẻ thông tin, hạn chế tham gia buôn bán ở chợ vì không hiểu biết giá cả, chính sách Do người dân có dân trí thấp mà họ không hiểu rõ được vấn đề của việc tham gia các dự án, nên họ

ít quan tâm đến các quyền được biết, được bàn và quyết định, cũng như lồng ghép quyền lợi của mình vào các dự án

Trang 40

1.3.3 Vấn đề tái sản xuất xã hội

Cùng với việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của con người và sự xuất hiện những nhu cầu mới, theo C.Mác

và Ph.Ăngghen, còn có một "quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ

giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình".[27, tr.41]

Sự tái tạo ra bản thân con người thông qua việc "sinh con đẻ cái" cũng

là nhu cầu sống còn để duy trì nòi giống và đảm bảo sự tồn tại, phát triển bình thường của xã hội Bởi lẽ, mỗi một thế hệ không thể tồn tại vĩnh viễn trong lịch sử Sự tái tạo ra bản thân con người và sự kế tiếp nhau giữa các thế hệ là dòng chảy liên tục, từ quá khứ đến tương lai Thông qua sự phát triển kế tiếp nhau này, hoạt động của con người đã thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa

kế thừa và đổi mới và qua đó, con người tạo ra lịch sử - xã hội của mình:

"Lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của những thế hệ riêng rẽ trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất

do tất cả các thế hệ trước để lại" [27, tr.65]

Việc tái sản xuất ra bản thân con người không chỉ đơn thuần để duy trì nòi giống, tái sản xuất ra sức lao động nhằm tiếp tục quá trình sản xuất, mà điều quan trọng hơn là, thông qua việc tái sản sinh ra bản thân con người, các thế hệ có thể kế thừa những thành tựu của quá khứ để phát triển trong hiện tại

và tương lai

V.I.Lênin viết:

Việc anh sống, anh hoạt động kinh tế, anh sinh con đẻ cái và anh chế tạo ra các sản phẩm, anh trao đổi sản phẩm làm nảy sinh ra một chuỗi tất yếu khách quan gồm những biến cố, những sự phát triển không phụ thuộc vào ý thức xã hội của anh và ý thức này không bao

giờ bao quát được toàn vẹn cái chuỗi đó [25, tr.403]

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w