1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thông về giáo dục sức khỏe trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng bắc bộ hiện nay

136 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 23/2/2005 đã đưa ra 7 nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

BÙI THẾ THỰC

TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

BÙI THẾ THỰC

TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY

(Khảo sát Đài Phát thanh & Truyền hình Bắc Ninh, Đài Phát thanh & Truyền hình Hải Dương, Đài Phát thanh

& Truyền hình Nam Định năm 2012 – 2013)

NGÀNH : BÁO CHÍ HỌC

MÃ SỐ : 60.32.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN VĂN THƯ

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Văn Thư Các số liệu và kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất kì một công trình nào trước đây Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả

Bùi Thế Thực

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE 11

1.1 Truyền thông và truyền thông đại chúng 11

1.2 Giáo dục sức khỏe 28

1.3 Truyền hình và chương trình truyền hình 33

1.4 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về truyền thông giáo dục sức khỏe 36

1.5 Một số tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình truyền thông về giáo dục sức khỏe trên truyền hình 41

Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY 49

2.1 Vài nét về các Đài địa phương vùng đồng bằng Bắc bộ 49

2.2 Truyền thông về GDSK trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ 52

2.3 Thực trạng truyền thông về GDSK thông qua số liệu khảo sát 55

2.4 Những ưu điểm và hạn chế của các chương trình truyền thông 68

2.5 Nhận xét chung 75

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAOCHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG VỀ GIÁO DỤC TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY 82

3.1 Yêu cầu nâng cao chất lượng truyền thông về GDSK trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 82

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về GDSK trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 84

Trang 6

3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 90 KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định nghĩa: “Sức khoẻ là một tình

trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là một tình trạng không có bệnh tật hay thương tật” Theo định nghĩa

này thì sức khoẻ không phải chỉ là tình trạng không có bệnh tật mà còn là tình trạng thoải mái về tinh thần Chúng ta có thể hiểu rằng đây là định nghĩa nói đến sức khoẻ của những con người cụ thể, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể

Năm 1978, tại Alma - Ata (thủ đô nước cộng hoà Kazắcstan), Tổ chức

Y tế thế giới phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tổ chức Hội nghị quốc tế có đại biểu của 134 quốc gia và 67 tổ chức quốc tế tham dự bàn về

chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) Hội nghị đã đề ra chiến lược “Sức

khoẻ cho mọi người đến năm 2000” và để thực hiện các mục tiêu của chiến

lược, Hội nghị đã nêu lên 8 nội dung CSSKBĐ, gồm: Giáo dục sức khỏe; Cung cấp nước sạch và thanh khiết môi trường; Đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm; Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và KHHGĐ; Tiêm chủng mở rộng phòng 6 bệnh lây truyền ở trẻ em; Phòng chống một số bệnh

xã hội và bệnh dịch nguy hiểm; Sơ cứu và khám chữa bệnh thông thường;

Cung cấp thuốc thiết yếu và Giáo dục sức khoẻ là nội dung thứ nhất

Ở hội nghị này Việt Nam cũng đã cam kết thực hiện các mục tiêu của Tuyên ngôn Alma - Ata Năm 1980, Chính phủ chỉ đạo Ngành Y tế triển khai

thực hiện Chiến lược chăm sóc sức khoẻ ban đầu Từ kinh nghiệm thực tiễn

trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nước ta bổ sung thêm 2 nội dung CSSKBĐ, gồm: Quản lý sức khỏe và kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở Vì

vậy ở nước ta có 10 nội dung CSSKBĐ, trong đó Giáo dục sức khoẻ cũng

được xếp ở vị trí thứ nhất

Như vậy, công tác chăm sóc sức khoẻ là một trong những “Quốc sách hàng đầu” Điều này không chỉ được thừa nhận về mặt chủ trương, chính

Trang 8

sách của Đảng, Nhà nước mà đã biểu hiện cụ thể qua thái độ quan tâm sâu sắc của xã hội cũng như chính thực tiễn sôi động những năm gần đây, khi mà người dân ngày càng quan tâm đến sức khoẻ của chính mình Việc nâng cao nhận thức, giúp người dân có được cách hiểu đúng đắn về sức khoẻ, cung cấp những tri thức khoa học về chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ, cách phòng chữa bệnh

để đạt được các chỉ số sức khoẻ ở mức cần có luôn luôn là vấn đề nóng bỏng nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà môi trường đất, nước, không khí đều

bị ô nhiễm, khi mà các đại dịch lớn, những căn bệnh nguy hiểm, các bệnh dịch mới nổi…của nhân loại vẫn chưa được giải quyết được triệt để

Năm 2000, các nhà khoa học của Bộ Y tế và Học viện Quân y (Bộ

Quốc phòng) đã tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Đánh giá 20

năm thực hiện CSSKBĐ ở Việt Nam” Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng:

20 năm qua, nước ta đã triển khai thực hiện đầy đủ và có hiệu quả cả 10 nội dung CSSKBĐ, góp phần cải thiện tình trạng sức khoẻ của nhân dân ta ngang với một số nước trên thế giới và trong khu vực có mức thu nhập cao hơn nước

ta nhiều lần Về nội dung GDSK, bản báo cáo kết quả nghiên cứu nêu lên hai

nhận xét quan trọng:

Một là, công tác truyền thông GDSK ngày càng đóng vai trò quan trọng

trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân (CS&BVSKND)

Hai là, công tác truyền thông GDKS là sự nghiệp của cả cộng đồng,

trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt và các Trung tâm Truyền thông GDSK là hạt nhân

Bước vào Thập kỷ đầu tiên của Thế kỷ 21, Đảng, Chính phủ và Bộ Y tế

đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác y tế, trong đó có công tác truyền thông GDSK, cụ thể là: Ngày 19/3/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết

định số 35/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược CS&BVSKND giai đoạn 2001- 2010 Ngày 22/1/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số

06-CT/TW về việc Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở Chỉ thị nêu

Trang 9

rõ: Phải tăng cường công tác truyền thông, làm cho cấp uỷ và chính quyền các cấp hiểu đúng vai trò của y tế cơ sở trong công tác CS&BVSKND, để lãnh đạo và chỉ đạo việc kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở trên địa bàn Đồng thời phải đẩy mạnh công tác GDSK, góp phần nâng cao nhận thức cho người dân, để họ tự thay đổi các hành vi không có lợi cho sức khoẻ bằng hành vi có

lợi cho sức khoẻ, tích cực tham gia phong trào Toàn dân vì sức khoẻ Nghị

quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 23/2/2005 đã đưa ra 7 nhiệm vụ

và giải pháp thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó chỉ rõ: phải Nâng cao hiệu quả thông tin- giáo dục- truyền thông nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại đối với sức khỏe, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cộng đồng

Ngày nay, truyền hình là một trong những phương tiện truyền thông đại chúng cuốn hút sự chú ýcủa đông đảo công chúng bởi khả năng thông tin trực quan sinh động bằng hình ảnh và âm thanh Mặc dù ra đời khá muộn so với các loại hình báo chí khác, tuy nhiên đó lại là lợi thế của loại hình báo chí truyền hình Nó vừa mang tính nhanh nhạy, vừa găn sliền với sự phát triển khoa học kỹ thuật và tiếp thu được các đặc điểm của loại hình và nghệ thuật báo chí khác

Có thể nói chưa bao giờ những thông tin về giáo dục sức khoẻ lại chiếm nhiều diện tích, thời lượng trên các báo, đài như hiện nay Riêng lĩnh vực truyền hình, năm 2008 Bộ Y tế đã phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam cho ra đời một kênh truyền hình đầu tiên chuyên sâu về sức khoẻ, đó là kênh O2TV và chính thức lên sóng vào ngày 8/8/2008 Báo chí nói chung,

Trang 10

truyền hình địa phương nói riêng với tư cách là công cụ tuyên truyền đắc lực các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đã có những đóng góp đáng

kể trong việc thông tin, phản ánh thực trạng sức khoẻ của người dân, cung cấp những kiến thức về phòng, chữa bệnh, vệ sinh ăn uống, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, cải thiện không gian sống, những thành tựu y học trong công tác chăm sóc sức khoẻ, phòng chữa bệnh, cảnh báo những vấn đề ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân địa phương…Như vậy, báo chí nói chung, truyền hình địa phương nói riêng với chức năng, thế mạnh của mình đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ súc khoẻ nhân dân trong tình hình mới như Nghị quyết số 46 của Bộ Chính trị đề cập Tuy nhiên về tần suất, chất lượng của các tác phẩm truyền hình về giáo dục sức khoẻ ở các chương trình truyền hình địa phương đang đứng trước những đòi hỏi khá phong phú của đông đảo khán giả về nội dung và hình thức Việc khảo sát và tìm ra cách thức, định hướng thông tin về phạm trù giáo dục sức khoẻ đạt hiệu quả cao nhất có ý nghĩa lớn đối với xã hội và hoạt động tác nghiệp của nhà báo

Đối với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, trong những năm gần đây đã có bước chuyển mình trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Đối với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, công tác thông tin về giáo dục sức khỏe cho nhân dân trên báo chí nói chung, các chương trình truyền hình nói riêng đã và đang hàng ngày, hàng giờ tác động sâu sắc, toàn diện đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là yếu tố không thể thiếu trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước nói chung và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nói riêng Nhận thức rõ vai trò và thế mạnh của truyền hình trong việc cung cấp thông tin, kiến thức nhằm từng bước nâng cao nhận thức cho cộng đồng về chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, thời gian qua việc thông tin về giáo dục sức khoẻ trên các chương trình truyền hình địa phương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ đã có những đổi mới về cả nội dung và hình thức và có tầm ảnh hưởng rộng rãi, được đông đảo cán bộ và nhân dân hàng ngày, hàng giờ quan tâm quan tâm,

Trang 11

theo dõi Nhờ vậy kiến thức, nhận thức của người dân về công tác chăm sóc sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng được cải thiện nhiều Đáng chú

ý là dịch bệnh xuất hiện trên địa bàn được khống chế kịp thời, chất lượng công tác khám chữa bệnh được nâng cao, đội ngũ thầy thuốc tại các cơ sở y tế nâng cao nâng cao ý thức, trách nhiệm với người bệnh, yên tâm với nghề, thực hiện tốt tinh thần y đức, quy tắc ứng xử, giảm tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em, thực hiện tốt công tác Dân số - KHHGĐ, từng bước nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ trung bình cho người dân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ

Đây là lý do tác giả luận văn chọn đề tài: “Truyền thông về giáo dục

sức khỏe trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu sâu lĩnh vực truyền thông về giáo dục sức khoẻ trên các chương trình truyền hình địa phương không nhiều mà chỉ có một số công trình nghiên cứu mang tính chất khái quát những vấn đề liên quan đến lĩnh vực truyền thông sức khỏe

Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu hoặc đã có một số luận văn thạc sỹ báo chí nghiên cứu về lĩnh vực này Tuy nhiên chỉ nghiên cứu, khảo sát ở các tờ báo lớn, chương trình truyền hình thuộc các Đài Trung ương mà ít thấy ở các đài địa phương Bên cạnh đó,

đã có một số đề tài có đề cập đến công tác thông tin về giáo dục sức khoẻ đáng quan tâm như:

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của các nhà khoa học Bộ Y tế và Học viện

Quân y có tên “Đánh giá 20 năm thực hiện CSSK ban đầu ở Việt Nam” Qua

kết quả nghiên cứu có hai nhận xét quan trọng: Một là công tác truyền thông giáo dục sức khỏe ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; Hai là công tác truyền thông Giáo dục sức khỏe là sự nghiệp của cả cộng đồng

Trang 12

- Công trình “Những bài học từ KHHGĐ và sức khỏe sinh sản” của tác giả

Phyllis Tilson Piotrow và Trung tâm truyền thông GDSK, Bộ Y tế Đây là cuốn sách nghiên cứu chuyên ngành xuất bản nội bộ, dành riêng cho cán bộ y tế có nội dung đề cập tới những đánh giá, tổng kết về hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản trong đó có nói tới vấn đề tuyên truyền giáo dục sức khỏe sinh sản

- Báo chí với chủ đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản của Trần Xuân Thân (Khoá luận tốt nghiệp Khoa Báo chí và Truyền thông - Trường ĐHKHXH và

- Luận văn tốt nghiệp cao học “Truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng trên báo chí” của học viên Đỗ Võ Tuấn Dũng cũng đề cập đến

truyền thông giáo dục sức khoẻ cộng đồng trên báo chí Nhưng chủ yếu khảo sát ở các báo, đài Trung ương mà chưa có địa phương

- Báo Sức khoẻ và đời sống với công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân

của Bùi Thị Hạnh (Khoá luận tốt nghiệp Khoa báo chí và truyền thông - Trường ĐHKHXH và NV K42) Ngoài ra còn một số khóa luận tốt nghiệp của các tác giả khác cũng liên quan đến lĩnh vực truyền thông về giáo dục sức khoẻ, nhưng vì điều kiện nên tác giả không thể kể hết trong luận văn này

Chính vì vậy, đề tài: “Truyền thông về giáo dục sức khoẻ trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” vẫn

là một vấn đề hết sức hữu ích đối với nhà báo, đặc biệt là đối với những

Trang 13

phóng viên, biên tập viên các đài Phát thanh & truyền hình tỉnh và cơ quan truyền thông giáo dục sức khoẻ các địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Mô tả thực trạng truyền thông về giáo dục sức khỏe trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác truyền thông về giáo dục sức khỏe trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, tác giả đưa ra những nhiệm vụ sau:

- Trình bày, nghiên cứu khái niệm liên quan đến truyền thông, GDSK, các chương trình truyền hình

- Phân tích, đánh giá chất lượng của chương trình truyền thông về GDSK tại các đài địa phương vùngđồng bằng Bắc Bộ thông qua kết quả khảo sát

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Truyền thông về giáo dục sức khỏe trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Các chương trình truyền hình liên quan đến truyền thông về giáo dục sức khỏe trên sóng Đài phát thanh & truyền hình địa phương chủ yếu được thể hiện dưới dạng chuyên mục, tạp chí Do vậy tác giả xin được khảo sát đề tài nghiên cứu trong phạm vi các chuyên mục, tạp chí liên quan đến truyền thông về GDSK tại Đài phát thanh & truyền hình thuộc ba tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương và Nam Định từ năm 2012 – 2013

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 14

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí; Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân; dựa trên cơ sở lý luận báo chí nói chung, lý luận báo chí truyền hình nói riêng; sách giáo khoa, tài liệu liên quan làm cơ sở lý thuyết quan trọng cho luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận

Luận văn dựa trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của báo chí vô sản và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí Các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử sẽ được vận dụng trong suốt quá trình nghiên cứu và giải quyết vấn đề

- Các phương pháp cụ thể:

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp cụ thể như: + Thống kê, tổng hợp, điều tra xã hội học, phân tích các tác chương trình truyền hình liên quan liên quan đến giáo dục sức khoẻ để rút ra những kết luận khoa học cần thiết

+ Thu thập ý kiến của khán giả xem truyền hình, những nhà quản lí báo chí, các PV truyền hình về việc thực trạng, hướng sản xuất và phát sóng các chương trình GDSK trên sóng truyền hình

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với hoạt động báo chí truyền hình nói chung và truyền thông giáo dục sức khoẻ nói riêng

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Kết quả của luận văn một lần nữa khẳng định vai trò của báo chí nói chung, lĩnh vực truyền hình địa phương nói riêng đối với một lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, đó là lĩnh vực CSSK

Trang 15

- Làm rõ thêm về công tác truyền thông về giáo dục sức khỏe trên các đài truyền hình địa phương, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của Trung tâm truyền thông GDSK các tỉnh

- Nghiên cứu cũng làm thay đổi cách nhìn nhận của công chúng về vai trò của truyền hình địa phương trong công tác tuyên truyền chăm sóc sức khỏe nhân dân Từ đó thu hút thêm nhiều công chúng đối với việc quan tâm theo dõi các chương trình GDSK trên sóng truyền hình địa phương

- Luận văn là đề tài hết sức cần thiết nhằm bổ sung nguồn số liệu mà các nghiên cứu ở một số loại hình báo chí khác đã đề cập hoặc làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu các đề tài có liên quan Hơn nữa, đây là công trình nghiên cứu trên lĩnh vực truyền hình tại vùng đồng bằng Bắc Bộ về công tác truyền thông về giáo dục sức khỏe và làm nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn trong những năm tới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận văn sẽ cung cấp cho các Đài phát thanh & Truyền hình và ngành

Y tế địa phương có cơ sở khoa học đáng tin cậy để đề ra định hướng công tác truyền thông về giáo dục sức khỏe trong những năm tới nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin, kiến thức CSSK cho cộng đồng

- Là cơ sở để xây dựng kế hoạch, nội dung cũng như hình thức phù hợp, chất lượng hơn các chương trình chăm sóc sức khỏe trên sóng truyền hình, góp phần làm cho chất lượng các sản phẩm báo chí truyền hình ngày càng được nâng cao, phục vụ tốt hơn nhu cầu của công chúng

- Với việc khảo sát đầy đủ, toàn diện, có hệ thống cách thức thông tin về phạm trù sức khoẻ trên sóng truyền hình, luận văn mô tả một bức tranh toàn cảnh về công tác truyền thông về giáo dục sức khoẻ trên truyền hình hiện nay,

từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin về giáo dục sức khoẻ trên sóng truyền hình địa phương, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân

Trang 16

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo chính xác,

có hệ thống, đầy đủ cho PV truyền hình đang hoạt động trên lĩnh vực thông tin nói chung và truyền thông về giáo dục sức khoẻ nói riêng thông qua các kênh truyền hình địa phương Đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo cho những nhà hoạch định chính sách của ngành Y tế có cơ sở để đánh giá công tác chất lượng công tác truyền thông giáo dục sức khỏe Từ đó xây dựng kế hoạch, định hướng công tác phối hợp giữa ngành và các đài truyền hình ngày càng chặt chẽ, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết số 46 của bộ Chính trị và mục tiêu của ngành Y tế đã đề ra đến năm 2020

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền thông và giáo dục sức khỏe

Chương 2: Thực trạng truyền thông về giáo dục sức khỏe trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc bộ hiện nay

Chương 3: Giải pháp và một số đề xuất, kiến nghị nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông về GDSK trên các chương trình truyền hình địa phương vùng đồng bằng Bắc bộ hiện nay

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRUYỀN THÔNG

VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE 1.1 Truyền thông và truyền thông đại chúng

1.1.1 Truyền thông

Tất cả các loài động vật đều có biểu hiện trao đổi thông tin Ví dụ như

hổ, báo, sư tử và một số loài động vật khác dùng mùi của nước tiểu để khoanh vùng lãnh thổ của mình Thông điệp mà loài động vật này muốn gửi đến các loài khác chính là sự đánh dấu lãnh thổ Xét về mặt sinh học, loài người cũng

là một loài động vật nhưng là loài động vật cao cấp nhất của quá trình tiến hóa, loài người cũng có nhu cầu thông tin mạnh mẽ nên biểu hiện trao đổi thông tin giữa người với người không đơn giản chỉ là biểu hiện của cử chỉ hay nét mặt và cũng không phải là biểu hiện của sự phồn thực như hổ, báo, sư tử

Từ xa xưa loài người đã biết đánh dấu trên thân cây làm dấu chỉ đường, biết đốt lửa trên đỉnh núi để báo hiệu có giặc xâm lăng, biết lập các trạm ngựa trên các tuyến đường dài để truyền tin… Từ đơn giản đến phức tạp, con người đã có

ý thức trao đổi thông điệp cá nhân với nhau Trao đổi tin tức hay trao đổi thông điệp trong cuộc sống là một nhu cầu tất yếu giữa con người với con người

Tác giả Tạ Ngọc Tấn đã đưa ra khái niệm truyền thông như sau: Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau [8; tr8]

Còn tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và tác giả Đỗ Thị Thu Hằng

trong cuốn “Truyền thông: lý thuyết và kỹ năng cơ bản” cho rằng: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ các kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng [5;tr13]

Trang 18

Nguyễn Văn Dững trong cuốn sách “Báo chí truyền thông hiện đại -

Từ hàn lâm đến đời thường” đã đưa ra quan niệm truyền thông như sau: Truyền thông ở bình diện tổng quát được hiểu là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm góp phần nâng cao (thay đổi) nhận thức, mở rộng hiểu biết, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi của công chúng - nhóm đối tượng phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững [1, tr.10]

Có một điểm cần chú ý sau trong nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Thúy

Hằng, theo tác giả: Truyền thông có gốc từ trong tiếng latinh là “communice” nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ truyền tải Truyền thông được hiểu đơn giản như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức

từ một người/một nhóm người sang một người người/một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu [5;tr12].

Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian trong đó bao gồm các yếu tố: nguồn, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận,

phản hồi/hiệu quả, nhiễu Nguồn: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông Thông điệp: là nội dung chính thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn đến đối tượng tiếp nhận Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông Phản hồi/Hiệu quả: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại truyền thông, Theo tính chủ đích trong truyền thông có: truyền thông kinh nghiệm, truyền thông không chủ đích và truyền thông có chủ đích Căn cứ vào các phương thức tiến hành truyền thông có: truyền thông trực tiếp và truyền thông

Trang 19

gián tiếp Căn cứ vào phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông có: truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng Như vậy có thể hiểu các phương tiện để truyền thông chính là lời nói, hình ảnh văn bản hoặc tín hiệu Đây chính là phương tiện truyền thông cơ bản

và quan trọng nhất hình thành nên các phương tiện truyền thông đại chúng mà chúng chúng tôi sẽ phân tích rõ ở phần sau

1.1.2 Truyền thông đại chúng

1.1.2.1 Khái niệm truyền thông đại chúng

Theo tác giả Lương Khắc Hiếu “Truyền thông là quá trình giao tiếp chia

sẻ, trao đổi thông tin giữa các cá nhân hay các nhóm người nhằm đạt được

sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, hình thành thái độ và thay đổi hành vi của con người”

Nếu hiểu theo nghĩa chiết tự như trên thì khái niệm thông tin đại chúng của tác giả Lê Thanh Bình trong cuốn Truyền thông đại chúng và phát triển

xã hội - NXB chính trị quốc gia năm 2008 cho rằng: “Truyền thông đại chúng

là quá trình, hoạt động trao đổi thông điệp có tính phổ biến giữa nguồn phát với công chúng rộng rãi trong xã hội [4; tr4]

Tạ Ngọc Tấn có đưa ra khái niệm rất ngắn gọn: “Truyền thông đại chúng

là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi thông qua các phương tiện thông tin đại chúng” [8; tr10] Theo tác giả, quan niệm này đúng nhưng bước đầu gây

ra sự mơ hồ đối với người đọc Bởi muốn hiểu được khái niệm truyền thông

đại chúng này thì phải hiểu “phương tiện thông tin đại chúng” là như thế nào Tác giả hiểu và đã làm sáng tỏ nội dung này như sau: Thực chất truyền thông đại chúng là một phương thức biểu hiện mới của hoạt động truyền thông trong xã hội (nhóm cộng đồng) được đáp ứng thỏa mãn nhu cầu giao tiếp mang tính phổ biến và tạo ra hiệu quả ở qui mô và phạm vi rộng lớn vì phạm

vi tác động của thông tin đại chúng có thể vượt qua khuôn khổ của các quốc

Trang 20

gia, dân tộc, ảnh hưởng toàn cầu nên truyền thông đại chúng ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại

Xã hội càng phát triển, ngày càng có nhiều người tham gia vào các giao tiếp xã hội, điều kiện đó đã làm cho truyền thông trực tiếp (truyền thống) giữa các cá nhân không thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và đòi hỏi của xã hội Vì vậy con người tìm đến những quá trình truyền thông ở qui mô lớn hơn nhờ các điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng nhu cầu, quy mô, tăng cường tính đa dạng và hiệu quả của hoạt động truyền thông Có lẽ nên hiểu khái niệm truyền thông đại chúng căn cứ vào phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền

thông một cách rộng lớn thì sẽ đầy đủ và chính xác hơn Như vậy theo tác giả thì truyền thông đại chúng là quá trình trao đổi, tương tác thông tin về mọi vấn đề xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; từ đó nâng cao vốn hiểu biết, hình thành hoặc định hướng, tác động làm thay đổi nhận thức, thái độ, dẫn đến thay đổi hành vi của xã hội

Để thực hiện được hoạt động truyền thông đại chúng (truyền thông trên phạm vi và qui mô rộng lớn) thì cần phải có các phương tiện kỹ thuật thích ứng Ngày nay, công chúng biết đến nhiều loại hình truyền thông đại chúng là nhờ khoa học kỹ thuật phát triển càng tạo ra những phương tiện kỹ thuật hiện đại hơn, có sức mạnh xuyên quốc gia, xuyên lục địa Sự hình thành và phát triển truyền thông đại chúng không chỉ bị qui định bởi công chúng có nhu cầu

về thông tin đa dạng, cập nhập mà còn qui định khả năng đáp ứng thông tin Chính xã hội hiện địa với sự phát triển của khoa học, của các điều kiện vật chất kỹ thuật cho phép sáng tạo và đưa vào sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng Phải nhờ những phương tiện vật chất, kỹ thuật nhất định mới có thể thực hiện việc truyền bá thông tin một cách rộng rãi

“Không chỉ nhu cầu thông tin mà cả tiến bộ kỹ thuật đã tạo ra truyền thông đại chúng Mỗi một loại hình phương tiện vật chất kỹ thuật nhất định

đã tạo ra một loại hình truyền thông đại chúng nhất định” [3; tr13]

Trang 21

1.1.2.2 Vai trò của truyền thông đại chúng

Các phương tiện truyền thông đại chúng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội không chỉ là kênh chủ yếu cung cấp kiến thức và thông tin mà chúng còn là một công cụ hữu hiệu để quản lý, điều hành và cải cách xã hội Chúng đã trở thành một định chế trong xã hội với những qui tắc và chuẩn mực riêng Có thể nói rằng, các phương tiện truyền thông đại chúng đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của mỗi cá nhân và tòan xã hội

Ở nứơc ta, mặc dù vấn đề tiếp cận các tiến bộ của khoa học kỹ thuật về truyền thông đại chúng chậm hơn so với nhiều nứơc, nhưng hiện nay, các phương tiện truyền thông đại chúng cũng đã có một vị trí vô cùng quan trọng trong xã hội Nó là cầu nối giữa Đảng, Nhà nứơc với nhân dân, là vai trò trung gian tạo diễn đàn cho người dân bộc lộ những suy nghĩ, quan điểm của mình về các chủ trương, chính sách, đừơng lối của Đảng, Nhà nứơc

Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng mà trung tâm là hệ thống báo chí hiện nay phát triển rất mạnh mẽ, đã trở thành một thành tố rất quan trọng của xã hội Hệ thống này vừa là động lực, vừa là công cụ trong hoạt động tổ chức, quản lí và nâng cao dân trí trong xã hội.Trong hoạt động của mình, hệ thống truyền thông đại chúng đã thể hiện vai trò cũng như khả năng tạo sự tương tác xã hội, hướng dẫn, định hướng hành vi hoạt động trong công chúng Chính vì vậy, truyền thông đại chúng trở thành một thiết chế xã hội, nó được coi là tác nhân cơ bản làm hình thành các liên kết xã hội

* Vai trò chung của Truyền thông đại chúng đối với xã hội

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước nhiều lĩnh vực xã hội đã có sự phát triển rõ rệt Hoạt động truyền thông đại chúng đã phát triển mạnh mẽ cả

về số lượng và chất lượng, đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 22

Trong đường lối đổi mới toàn diện, nổi bật lên là vấn đề dân chủ hoá các mặt của đời sống xã hội; Thực tế này đã tạo nên những diến biến mới mẻ trong hoạt động thông tin báo chí ở nước ta Báo chí hiện nay đã cơ bản hạn chế được hình thức thông tin một chiều đơn điệu và ngày càng thể hiện được vai trò là cầu nối giữa Đảng và Dân Thông tin hai chiều được thực hiện trên báo chí: một mặt tuyên truyền, giải thích đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với công chúng mặt khác phản ánh những nguyện vọng, ý kiến phản hồi của công chúng trong quá trình thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Nói đến báo chí là nói đến các loại hình của nó như: Báo in, báo ảnh, phát thanh, truyền hình, internet …Đó là các bộ phận, các kênh thông tin cơ bản nhất, cốt lõi nhất, tiêu biểu cho sức mạnh, bản chất và xu hướng vận động của thông tin đại chúng Trong thực tế, mỗi loại hình báo chí có những thế mạnh và những hạn chế riêng, chẳng hạn như: báo in có khả năng lưu trữ lâu, đồng thời đi sâu phân tích chi tiết các sự kiện hiện tượng, công chúng của loại hình báo chí này có thể tiếp nhận thông tin ở mọi nơi, mọi lúc mọi thời điểm khác nhau Hạn chế cơ bản của loại hình báo chí này là khó có khả năng phát hành rộng rãi tới công chúng ở vùng sâu, vùng xa…Phát thanh, Truyền hình

có thế mạnh là nhanh,đồng thời, rộng khắp, hàng triệu triệu công chúng có thể tiếp nhận thông tin đồng thời với thời điểm diễn ra sự kiện Nhưng hạn chế của nó là tính thoảng qua, khả năng lưu trữ kém …đòi hỏi công chúng tiếp nhận thông tin từ loại hình báo chí này phải hết sức tập trung, quá trình thông tin bị phụ thuộc vào làn sóng

Ở nước ta các loại hình thông tin đại chúng đồng thời tồn tại và phát triển, chúng không những không loại trừ nhau, mà ngược lại còn bổ khuyết,

hỗ trợ cho nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Trang 23

Truyền thông đại chúng được coi là một tác nhân xã hội, cơ bản tạo nên các liên kết xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi khu vực và quốc tế

* Truyền thông đại chúng có vai trò to lớn trong việc định hướng dư luận xã hội

Truyền thông đại chúng là nơi khơi nguồn dư luận xã hội, nó đã phản ánh và truyền dẫn dư luận xã hội; định hướng dư luận, có nghĩ là định hướng nhận thức; điều hòa dư luận, điều hòa tậm trạng, tâm lý xã hội

Chính từ dư luận xã hội với tính chất “đánh giá” để xác định hành vi ứng xử của con người trứơc một sự kiện, hiện tựơng đó được xem như hiện tượng tâm lý xã hội, là cầu nối giữa ý thức xã hội và hành động xã hội

Tư tưởng của Mác về vai trò của ý thức trong đời sống xã hội và mối liên hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội được lấy làm cơ sở cho việc nghiên cứu sự tác động của truyền thông đại chúng và dư luận xã hội C Mác chỉ ra rằng lý luận có thể trở thành lực lượng vật chất khi nó thâm nhập

vào quần chúng Chính C.Mác cũng nói: sản phẩm của truyền thông đại

chúng là dư luận xã hội

Truyền thông đại chúng thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình bằng việc cung cấp thông tin cho xã hội, hình thành và định hướng dư luận xã hội theo mục đích nhất định của chế độ, của giai cấp Ở nước ta, đó là kênh thông tin đăng tải, phổ biến, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; góp phần vào xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Nói cách khác, Đảng ta coi các phương tiện truyền thông đại chúng là kênh giám sát cán bộ, đảng viên và tòan xã hội qua dư luận

xã hội Dư luận xã hội sẽ giúp Đảng, Nhà nước hiểu được “tâm trạng” của xã

hội, từ đó có những chính sách, hành động hợp lý, kịp thời

Dư luận xã hội được hình thành dưới tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng thông qua các kênh thuộc hệ thống này và bằng con

Trang 24

đường giao tiếp, bằng họat động thảo luận, trao đổi nội dung các thông tin mà công chúng tiếp thu được để hình thành nên dư luận xã hội Các phương tiện truyền thông đại chúng hướng đến việc hình thành dư luận xã hội về các vấn

đề trong đời sống xã hội Đồng thời hệ thống này cũng là những kênh để thể hiện dư luận xã hội Để làm được điều này, các phương tiện truềyn thông đại chúng đã nổ lực không ngừng để giúp cho việc hình thành và thể hiện dư luận hiệu quả nhất

Có thể hình dung các bước hình thành dư luận xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như sau: Điều trước tiên, các phương tiện truyền thông đại chúng phải đưa ra công luận các thông điệp Tuy nhiên, các thông điệp này đều phải có lợi ích xã hội, có tính cấp bách và phải tạo nên sự tranh luận Dưới tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng, thì dư luận xã hội hình thành như sau: Khi một thông điệp nào đó được đưa lên các phương tiện truyền thông đại chúng, thì công chúng sẽ làm quen với các vấn

đề được các phương tiện truyền thông đại chúng khơi gợi hay đề xuất Các cá nhân, các nhóm xã hội tiếp xúc, làm quen tạo nên cảm giác ban đầu và trao đổi thông tin về các hiện tượng, sự việc đó Tiếp theo, các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ kích thích lợi ích của xã hội của vấn đề đó, thường bằng cách đăng tải các bài viết, lời bình luận của các chuyên gia am tường vấn đề

đó hoặc những người có trách nhiệm, có liên quan trực tiếp đến vấn đề đó Các quan điểm khác nhau trong cách nhìn nhận vấn đề sẽ tạo nên cơ sở để tranh luận trên phạm vi đại chúng Tại đây ý kiến cá nhân chuyển từ ý thức cá nhân sang ý thức xã hội Sau đó, các ý kiến khác nhau được thống nhất lại trên những quan điểm cơ bản để hình thành sự đánh giá chung về sự kiện được nêu ra Những đánh giá này thỏa mãn được sự nhận định của đa số công chúng Từ đó rút ra những kết luận để đánh giá, phán xét về sự việc, hiện tượng và đưa ra những kiến nghị trong họat động thực tiễn

Trang 25

Vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay trong tạo lập dư lậun xã hội không thể phủ nhận được Với các thiết bị máy móc ngày càng tinh vi, hiện đại, sẽ là điều vô cùng thuận lợi cho các nhà báo tác nghiệp

để đưa ra những thông điệp khơi nguồn dư luận hiệu quả

* Vai trò của truyền thông đại chúng trong quá trình hội nhập WTO

Việt Nam mở cửa hội nhập và trở thành một mắt xích quan trọng trên thế giới về các lĩnh vực kinh tế, thương mại, giao lưu văn hóa, truyền thông đại chúng trở thành cầu nối quan trọng trong quá trình hoạt động, giao thương của công chúng Có thể nói truyền thông đại chúng và kinh doanh - thương mại là các lĩnh vực có những điểm giao thoa, tương tác mật thiết, liên hệ qua lại với nhau, nhất là trong thời kỳ đất nước hội nhập như hiện nay

Trong xã hội hiện đại, thật khó hình dung sự không có mặt của sách, báo, đài, Internet, điện ảnh, quảng cáo, quan hệ công chúng (PR) Nhờ có chúng, thông qua chúng các vấn đề cốt tủy của doanh nhân như quảng cáo sản phẩm, thông tin thị trường, tìm đối tác, ký hợp đồng thương vụ qua thư điện

tử, mua - bán hàng qua mạng được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả Đồng thời, các vấn đề thông dụng như quảng cáo có văn hóa - không vi phạm thuần phong mỹ tục dân tộc, nhân cách - bản lĩnh doanh nhân, vấn đề then chốt như

vai trò doanh nhân trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền

thông, được nhiều tầng lớp xã hội quan tâm và có tác động nhất định đến quá trình xây dựng, phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội quốc gia…v.v…

Mở rộng đường dư luận rộng rãi về việc kế thừa, tiếp nối những yếu tố tích cực, phát triển những điểm vượt trội của văn hóa dân tộc; loại bỏ những những yếu tố không còn hợp thời, cản trở sự phát triển của văn hóa và kinh tế

xã hội để từ đó thống nhất quan niệm, nhận thức toàn xã hội, kể cả nhận thức của giới kinh doanh

Trang 26

Sự phát triển truyền thông đại chúng và giao lưu quốc tế giúp công chúng Việt Nam (gồm cả doanh nghiệp) có nhiều dữ liệu; thông tin phong phú, nhiều chiều, dân chủ hóa trong quá trình gắn bó; phát triển văn hóa nước nhà - làm phông, nền, chỗ dựa tinh thần vững chắc cho doanh nhân dân tộc;Truyền thông đại chúng tạo dư luận rộng rãi, thúc đẩy nhiều đối tượng- không chỉ doanh nhân mà nhà nước, xã hội cùng có trách nhiệm vun đắp, phát triển văn hóa dân tộc đúng hướng, có bản sắc riêng, có tầm cao, trường tồn; Ngoài ra, truyền thông đại chúng góp ý, phê phán sự thờ ơ, tha hóa, vô trách nhiệm của một số doanh nghiệp đối với văn hóa nước nhà

Nhờ sự phát triển ngày một hiện đại hơn, mạnh và rộng rãi hơn của các phương tiện truyền thông đại chúng mà doanh nghiệp có thể quảng bá thương hiệu của mình đến với người tiêu dùng nhanh hơn, cũng như có thể tiếp cận với ngươi tiêu dùng dễ dàng hơn, và ngược lại người tiêu dùng cũng có thể đóng góp hoặc phản ánh những điều không hài lòng của họ đối với doanh nghiệp

* Truyền thông đại chúng trong thực tiễn cuộc sống

Thực tế cho thấy, mỗi ngày, trên các phương tiện truyền thông đại chúng hầu như đều xuất hiện những bài viết, những chương trình nói về tham nhũng Sự việc tham nhũng ở địa phương này chưa giải quyết xong thì sự việc

khác ở địa phương khác bị “lôi ra ánh sáng” Điều đáng nói hơn nữa, những

vị đảng viên, là quan chức nhà nước dính líu ngày càng nhiều vào tham nhũng Điều này đã gây cho không ít người dân hoang mang, làm giảm lòng tin, sức mạnh vào con đừơng đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta, đó là sự thật mà chúng ta phải nhìn thẳng vào

1.1.2.3 Biểu hiện của truyền thông đại chúng

Xã hội càng phát triển, càng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng nhu cầu, qui mô, tăng cường tính đa dạng và hiệu quả của hoạt động truyền thông Truyền thông đại chúng với tính chất của một quá trình, hoạt

Trang 27

động trao đổi thông điệp giữa nguồn phát với đông đảo công chúng trong xã hội thì biểu hiện của truyền thông đại chúng nằm ở tính đại chúng

- Đại chúng về nguồn phát: nguồn phát chính là người gửi hay nguồn gốc thông điệp Biểu hiện đại chúng về nguồn phát thể hiện ở nguồn phát đó có thể là nhà báo chuyên nghiệp, chuyên gia trong bất kì lĩnh vực nào của xã hội hay công chúng… Không phân biệt giàu sang, không phân biệt địa vị, bằng cấp… đều có thể được phát đi những thông điệp nhất định

- Đại chúng về thông điệp: thông điệp mang tính phổ biến, liên quan đến nhiều người trong xã hội, hình thức và nội dung thông điệp phải dễ hiểu, phổ cập và các thông điệp có mục tiêu đặt ra và mong muốn giải quyết những vấn

đề mang tính phổ biến của toàn xã hội Thông điệp này rất đa dạng về đối tượng, thể loại, cách thể hiện, nhất là khi người truyền thông chọn Internet làm phương tiện vì có thể tr uyền phát tức thời một hoặc nhiều thông điệp đến nhiều người tiếp nhận và ngược lại, có những người dung phần mềm mở blog đơn giản để chia sẻ, quảng bá thông tin với nhau

- Đại chúng về kênh phát: điều này liên quan đến trình độ phát triển và tiếp nhận khoa học kĩ thuật ở các quốc gia, khu vực, địa phương khác nhau Tùy từng điều kiện có thể phát bằng báo in phát trên sóng ngắn, dài (truyền thanh, truyền hình), bằng kỹ thuật số, Internet và các kênh truyền dẫn khác

- Đại chúng về công tác tiếp nhận: Với trình độ khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay thì mọi đối tượng đều dễ dàng tiếp nhận thông tin Người trong nước, ngoài nước, ở bất kỳ lứa tuổi nào, nghề nghiệp nào cũng đều có thể tiếp nhận được thông tin với điều kiện tối thiểu là biết chữ (để đọc báo in) hoặc có tivi, đài (để theo dõi chương trình truyền thanh, truyền hình Đó là còn chưa kể đến mạng Internet với tốc độ đường truyền cao đáp ứng mọi nhu cầu tìm kiếm thông tin của một bộ phận không nhỏ người dân

Thông qua những biểu hiện của truyền thông đại chúng trên, hiệu quả của truyền thông đại chúng sẽ được xem xét từ các hiệu ứng và hành vi xã hội

Trang 28

của số đông công chúng sau khi được tiếp nhận thông tin Với một nền truyền thông có quản lý chặt chẽ, định hướng rõ ràng thì hiệu quả của truyền thông đại chúng thấy rõ ràng ở sự tác động tới nhận thức của công chúng, từ đó dẫn tới việc thay đổi thái độ, hành vi của xã hội

1.1.2.4 Mô hình truyền thông đại chúng

Tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng trong cuốn Truyền

thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản đều cho rằng “Mô hình truyền thông là những bản vẽ, các bảng, biểu đồ, lược đồ, sơ đồ, các hình tượng được sử dụng để qui những ý kiến phức tạp về các biểu đạt mang tính chất đồ họa, từ

đó, ghép cho chúng ta cách nhìn nhận sâu sắc hơn, ở nhiều góc độ khác nhau với một khái niệm rất phức tạp là truyền thông [5;tr28]

Trong lịch sử vận động và phát triển của truyền thông, người ta thấy lần lượt xuất hiện 2 loại mô hình chính Đó là mô hình truyền thông một chiều áp đặt và mô hình truyền thông hai chiều mềm dẻo

Mô hình truyền thông một chiều do Harold Leswell, nhà xã hội học Mỹ

đã đưa ra vào năm 1948 - mô hình được nhắc đến nhiều nhất [5;tr28]

nhận

Đây là mô hình truyền thông đơn giản, song rất thuận lợi khi cần chuyển những thông tin khẩn cấp Tuy nhiên trong mô hình này những thông tin phản hồi từ phía đối tượng tiếp nhận như là một yếu tố quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả của các hoạt động truyền thông lại chưa được đền cập đến

Từ mô hình này cho phép nghiên cứu, đánh giá được vai trò, ý nghĩa của từng yếu tố, từng mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố tham gia quá trình truyền thông Đó là điều kiện để không chỉ nhận thức mà còn tìm ra

Trang 29

phương pháp, cách thức truyền đạt hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông

Mô hình mà truyền thông được truyền đi theo một tuyến từ nguồn phát đến người nhận Nguồn phát giữ vai trò quyết định, áp đạt ý chí của mình đối với công chúng Người nắm giữ các phương tiện thông tin đại chúng chỉ quan tâm đến cái mình muốn và do đó đưa ra các thông điệp nhằm áp đạt ý muốn của mình cho công chúng Công chúng chỉ giữ vai trò là người tiếp nhận thông tin một cách thụ động, không có hoặc có rất ít sự đóng góp tích cực hay

sự lựa chọn các thông điệp mình muốn

Đánh giá: Mô hình này phù hợp với điều kiện lịch sử, khi mà các

phương tiện kỹ thuật truyền thông đại chúng không có khả năng thiết lập kênh phản hồi trực tiếp Sách, báo, phim, phát thanh - truyền hình chưa có tương tác chỉ có thể truyền thông tin đến công chúng theo một chiều Việc tìm hiểu nhu cầu thông tin của công chúng là một việc tách rời và độc lập, không diễn

ra đồng thời với quá trình phát hành sản phẩm truyền thông đại chúng Mặt khác, trình độ nhận thức và các tương quan xã hội trước đây quyết định sự tiếp nhận thông tin một cách thụ động của công chúng

Nguồn thông tin hạn chế, phương thức quản lý xã hội thiếu dân chủ cùng mặc cảm do thiết chế văn hóa khiến công chúng bằng lòng với thông tin được tiếp nhận

Xã hội phát triển, trình độ hiểu biết của con người cũng phát triển, đời sống xã hội ngày càng dân chủ hóa Từ đó, thông tin một chiều áp đặt khó tồn tại và buộc phải chuyển hóa theo hình thức mới Song song với đó, khoa học -

kỹ thuật phát triển, không ngừng hoàn thiện các phương tiện kỹ thuật cũ và đưa ra các loại phương tiện mới, cho phép thiết lập quan hệ hai chiều trực tiếp giữa nguồn phát và công chúng

 Mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo ra đời

Trang 30

Nhà nghiên cứu Claude Shannon đã đưa ra mô hình truyền thông hai chiều Mô hình mới ra đời đã khắc phục được nhược điểm của mô hình truyền thống một chiều [5;tr 30]

Các yếu tố trong mô hình truyền thông hai chiều của C Shannon bao gồm:

S (Source, Sender) : Nguồn phát, chủ thể truyền thông

M (Message) : Thông điệp, nội dung truyền thông

C (Channel) : Kênh truyền thông

R (Receiver) : Người nhận thông điệp (đối tượng)

E (Efect) : Hiệu quả truyền thông

N (Noise) : Nhiễu (yếu tố gây ra sai số cả trở thông điệp)

F (Feednack) : Phản hồi

Bằng cách nhấn mạnh vai trò thông tin phản hồi từ đối tượng tiếp nhận,

mô hình của C Shannon đã thể hiện rõ tính tương tác, bình đẳng cũng như sự chuyển đổi giữa chủ thể và khách thể truyền thông trong quá trình giáo tiếp Người tiếp nhận được công nghệ là nhân tố tích cực, chủ động trong quá trình truyền thông do trình độ nhận thức công chúng ngày càng cao, họ có điều kiện để lựa chọn, suy xét, tiếp nhận thông tin một cách chủ động, tích cực

N

P

Trang 31

Tính tích cực thể hiện ở sự lựa chọn thông tin tiếp nhận, bày tỏ mong muốn, yêu cầu về thông tin trực tiếp, trở thành một yếu tố quyết định trong quá trình vận hành của hoạt động truyền thông đại chúng Một biểu hiện dễ thấy nhất là hoạt động truyền thông đại chúng qua internet hầu như không bị hạn chế trong việc lựa chọn và tiếp nhận thông tin theo yêu cầu Bản thân họ cũng có thể trở thành nguồn phát thông điệp nếu muốn Những áp đặt chủ quan từ nguồn phát cố định sẽ chỉ có ý nghĩa rất hạn chế, thậm chí không có ý nghĩa gì đối với người tham gia vào mạng thông tin này

Các phản ứng của công chúng sau khi tiếp nhận thông điệp sẽ trở thành nhân tố tham gia việc qui định những hành vi truyền thông tiếp theo của nguồn phát Đồng thời, mô hình này cũng chú ý tới hiệu quả truyền thông tức

là hiệu ứng xã hội tạo ra phù hợp với mong đợi của bất kỳ nhà truyền thông nào khi chuẩn bị hoạt động của mình Một điểm đáng lưu ý là mô hình này không hề phủ nhận mô hình truyền thông một chiều đã vẽ mà bổ sung thêm chiều thứ 2 để nâng cao hiệu quả truyền thông

Đánh giá: Mô hình truyền thông 2 chiều mềm dẻo là sự phát triển logic của

mô hình 1 trong điều kiện lịch sử - xã hội mới tiến bộ hơn Là biểu hiện và phản ánh một trình độ phát triển cao của xã hộ loài người trên tất cả các bình diện của đời sống: kinh tế, khoa học - kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, xã hội

Để đạt hiệu quả của hoạt động thông tin trong điều kiện xã hội nhất định, cần có nhu cầu của công chúng Nhờ kết quả nhu cầu công chúng mà nhà thông tin biết được yêu cầu, đòi hỏi để hoàn thiện nội dung và phương pháp thích ứng để trao đổi các sản phẩm với công chúng xã hội Phản ứng của công chúng sau khi tiếp nhận sản phẩm thông tin sẽ qui đinh hoạt động thông tin tiếp theo

Mặt khác phải tính đến việc hạn chế, loại bỏ tối đa như ảnh hưởng của yếu tố “Nhiễu”, cụ thể là các tác động của môi trường khách quan, trình độ nhận thức, giáo lý, tín điều, tôn giáo, định hướng xã hội…)

Trang 32

-Báo in và ấn phẩm

-Phát thanh -Truyền hình -Báo mạng điện tử -Các dạng thức truyền thông trên Internet

và Đỗ Thị Thúy Hằng đưa ra trong cuốn chuyên khảo: Truyền thông lý thuyết

và kỹ năng cơ bản cũng là một mô hình được chú ý

Như khái niệm đưa ra ở trên tác giả rút ra:

Truyền thông đại chúng là quá trình trao đổi, tương tác thông tin về mọi vấn đề xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; từ đó nâng cao vốn hiểu biết, hình thành hoặc định hướng, tác động làm thay đổi nhận thức, thái độ, dẫn đến thay đổi hành vi của xã hội

Một hoạt động xã hội phức tạp như vậy thì cần phải làm sao để hình

dung một cách tổng quan nhất về nó Đó là nhờ mô hình truyền thông

Theo cuốn “Truyền thông - Lí thuyết và Kĩ năng cơ bản” do tác giả

Nguyễn Văn Dững chủ biên, tác giả đã đưa ra mô hình truyền thông dưới đây:

+ Mô hình về cách tiếp cận (truyền thông) đại chúng như sau:

Trang 33

1.1.2.5 Các loại hình truyền thông đại chúng

Trong phần cuối của mục 1.1 chúng tôi có đưa ra khái niệm truyền thông sau khi đã nghiên cứu, tổng hợp nhiều quan niệm kinh điển khác Đồng thời

có nhắc đến phương tiện để truyền thông chính là lời nói, hình ảnh văn bản hoặc tín hiệu Đây chính là phương tiện truyền thông cơ bản và quan trọng

nhất hình thành nên các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng

Thế kỷ 21 với vai trò của kinh tế tri thức ngày càng cao, internet thâm nhập vào mọi ngóc ngách của cuộc sống, thông tin đa phương tiện được cải tiến tăng tính khả dụng, hấp dẫn nên truyền thông ngày càng đa dạng, có tính sáng tạo cao với biên độ rộng, đem lại cùng một lúc các hiệu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội to lớn cùng cơ hội thăng tiến về tinh thần, vật chất cho nhiều công chúng, đặc biệt là người dân Theo tiến trình phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội, ngày nay tồn tại các phương tiện thông tin đại chúng sau đây

Sách: là ấn phẩm không định kỳ được chế tác bằng in ấn nhằm truyền tải

tri thức cho con người Bao gồm:

+ Sách chuyên biệt (văn kiện của Đảng, sách về truyền thống đơn vị) + Sách chuyên khảo (chương trình khoa học, tài liệu tham khảo chuyên môn)

+ Sách giáo khoa

+ Sách thương mại (tác phẩm văn học, sách khoa học…)

+ Sách tôn giáo

Báo: là sản phẩn văn hóa thông tin gắn với công nghệ in ấn hàng loạt, đó là

những ấn phẩm định kỳ, truyền tải nội dung thông tin thời sự và được phát hành rộng rãi cho công chúng trong xã hội Các sản phẩm báo chí bao gồm:

+ Nhật báo

+ Báo thưa kỳ

+ Tuần báo

Trang 34

+ Nguyệt san, Tạp chí…

Phát thanh: là loại hình báo chí của truyền thông đại chúng có nội dung

thông tin được truyền tải bằng âm thành truyền qua làn sóng điện hoặc qua hệ thống dây dẫn, nhờ hệ thống phát thanh qua làn sóng điện nên có thể truyền tải tin tức đến mọi nơi, mọi chỗ

Truyền hình: là một trong các media chuyển tải thông tin bằng hình ảnh

động và âm thanh Về kỹ thuật thì có truyền hình sóng và truyền hình cáp

Điện ảnh: là nghệ thuật của những hình ảnh động được ghi lại trên phim

nhựa (băng từ, đĩa CD, KTS) Sau đó chiếu lên màn ảnh hay màn hình đem lại cảm giác của đời thực cho người xem

Báo điện tử trực tuyến: thể hiện dưới dạng chữ, kèm theo các yếu tố

Multi media như hình ảnh động, ảnh, âm thanh, đường dẫn liên quan … cho phép người đọc phản hồi ngay lập tức với nhà báo, biên tập viên bằng hình thức gửi thư, chat … Các độc giả khác cũng có thể theo dõi vấn đề và phản hồi cách giải quyết của nhà báo

Quảng cáo: trong tiếng anh “quảng cáo nghĩa là advertising - bắt nguồn

từ tiếng la tinh Advertre – hướng ý nghĩ về”

Căn cứ vào mục đích và kết quả mong đợi, quảng cáo chia thành:

+ Quảng cáo bán hàng

+ Quảng cáo hướng nghiệp, kinh doanh (giới thiệu, hướng dẫn doanh nghiệp sử dụng thiết bị, công nghệ hay giới thiệu doanh nghiệp thương mại, dịch vụ)

+ Quảng cáo dịch vụ (giới thiệu, hướng dẫn sử dụng các loại hình dịch vụ) + Quảng cáo chính trị (bầu cử,…)

1.2 Giáo dục sức khỏe

1.2.1 Khái niệm sức khỏe

Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới (WHO): “sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái của con người về thể chất, tâm thần và xã hội

Trang 35

chứ không phải là không có bệnh hay có tật Như vậy, người có sức khỏe là phải hội tụ đủ 3 yếu tố: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội” [7; tr11]

Sức khỏe thể chất được hiểu là tình trạng bình thường về thể lực, các chỉ

số sinh lý của cơ thể luôn ở trong trạng thái ổn định, không có dấu hiệu bất thường (người trưởng thành thì huyết áp trung bình là 120/80 mmHg; nhịp tim trung bình 70 lần/phút, hồng cầu 3,7 triệu…) Các chỉ số sinh lý này được

đo, đếm thông qua các biện pháp thăm khám y tế như đo huyết áp, đếm nhịp tim, xét nghiệm hồng cầu

Sức khỏe tâm thần được hiểu một cách trừu tượng hơn, đó là tình trạng tinh thần luôn cảm thấy thoải mái, vui vẻ (cảm thấy sung mãn tràn đầy sức sống, làm việc không biết mệt mỏi, ăn ngon, ngủ tốt, không lo lắng) Trên thực tế, có những người không hề có biểu hiện của bệnh tật (các chỉ số sinh lý hoàn toàn bình thường khi thực hiện các biện pháp thăm khám y tế) thế nhưng

lạ có những bất an về thân thần như luôn có cảm giác mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ (stress tâm lý) hoặc nặng hơn thì bị các chứng hoang tưởng, trầm cảm thì vẫn là những người không có sức khỏe Sức khỏe tâm thần không thể đánh giá được bằng các biện pháp y tế thông thường (đo, đếm, xét nghiệm…) mà phải được đánh giá qua các phương pháp thăm hám chuyên ngành tâm lý học, tâm thần học

Sức khoẻ xã hội được đánh giá ở một phạm vi rộng hơn, không chỉ đơn thuần là tình trạng sức khỏe thể chất hay sức khỏe tâm thần mà còn có sự liên tưởng tới một không gian rộng lớn nằm trong một môi trường tự nhiên và xã hội mà người đó đang sống

Ví dụ: một người sẽ không được coi là khỏe mạnh nếu bị thất nghiệp, nghèo đói Một người cũng không được coi là khỏe mạnh nếu sống trong một môi trường xã hội thiếu lành mạnh (sống chung với các tệ nạn xã hội…) hoặc trong một môi trường thiên nhiên không đảm bảo (vệ sinh môi trường kém)

Trang 36

Một người cũng không được xe là khỏe mạnh khi sống trong điều kiện thiếu thốn tối thiểu (theo phân loại đói nghèo của chương trình phát triển liên hiệp quốc (UNDP) thì người không đảm bảo thu nhập để mua một cái bánh mì/24h nghĩa là không đảm bảo điều kiện sống tối thiểu Sức khỏe xã hội thường có

sự liên quan đến nhiều cá nhân trong xã hội

Dưới góc độ triết học: sức khỏe là một thuộc tính của sự sống Mọi sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển đều cần có quá trình trao đổi chất, quá trình đó chính là sức khỏe Sức khỏe gắn liên với sự sống Vì vậy, sức khỏe là thuộc tính của sự sống và sức khỏe con người là thuộc tính của sự sống loài người Trong quan niệm của triết học phương Đông thì sức khỏe là một thực thể bao gồm nhiều yếu tố tồn tại trong quá trình một trạng thái cân bằng động

(con người luôn hòa đồng cùng với vũ trụ và sức khỏe của con người là biểu hiện của sự cân bằng âm dương)

Còn theo quan niệm của triết học phương Tây thì cơ thể con người được cấu tạo bởi tế bào và mô Tế bào là đơn vị cấu trúc cơ bản nhỏ nhất của cơ thể

và cơ thể con người được điều hòa bởi hệ thần kinh và hệ nội tiết để đảm bỏ

ra trạng thái cân bằng Nhưng nhìn chung, cả triết học phương Đông và triết học phương Tây đều quan niệm sức khỏe là một trạng thái cân bằng vè bệnh tật là sự lệch ra khỏi trạng thái cân bằng đó

Như vậy, nói đến sức khỏe là nói đến tất cả các yếu tố tác động đến toàn

bộ đời sống vật chất và tình thần của một con người, chứ không đơn giản là khám không có bệnh Người khỏe mạnh tất nhiên là người không có bện nhưng người có bệnh mà được chữa khỏi thì vẫn được coi là người có sức khỏe (Ví dụ như một người bị bệnh đau dạ dày, sau thời gian điều trị kết hợp với chế độ ăn uống hợp lý đã chữa khỏi chứng đau dạ dày thì người đó được coi là có sức khỏe)

Trang 37

1.2.2 Giáo dục sức khỏe

Một phần của chăm sóc sức khỏe, nó liên quan đến việc thúc đẩy hành vi lành mạnh Giáo dục sức khỏe không giống như những thông tin ý tế mà thông qua giáo dục sức khỏe chúng ta giúp mọi người hiểu rõ hành vi của học

và biết được những hành vi đó có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe của

họ Chúng ta động viên mọi người lựa chọn một cuộc sống lành mạnh

Theo quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới: Giáo dục sức khỏe là người làm việc với người để giải quyết các vấn đề và nâng cao chất lượng cuộc sống [10; tr190]

Còn tác giả Phạm Việt Tiến trong luận văn “Giáo dục sức khỏe trên sóng ĐTHVN” cho rằng: Giáo dục sức khỏe là một quá trình dạy và học, trong đó các kỹ thuật kinh điển và hiện đại của loài người được các giáo viên chọn lọc,

mã hóa, hệ thống và trình bày theo trình tự logic của tư duy, nhằm giúp cho các đối tượng tiếp nhận và từ đó có được những kiến thức, kỹ năng và trình

độ mới cho bản thân [7;tr16]

Ngoài ra còn tồn tại một số quan niệm về giáo dục sức khỏe khác như sau:

Giáo dục sức khỏe là nhằm đem lại những thay đổi hành vi của các cá nhân, các nhóm và cộng đồng, từ các hành vi có hại cho sức khỏe đến các hành vi có lợi cho dức khỏe hiện tại và tương lai [5;tr9] Giáo dục sức khỏe là

sự kết hợp kinh nghiệm, học tập tạo nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động đem lại sức khỏe [5; tr9] Có thể kết luận: Giáo dục sức khỏe là các hoạt động

nhằm tác động một các có hệ thống đến sự phát triển tinh thần của một đối tượng nào đó nhằm mục đích giúp cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực để tự bảo vệ sức khỏe cho bản thân, biết cách phòng chống bệnh tật và tham gia vào việc phòng chống bệnh tật cho những người xung quanh, cho cộng đồng và cho xã hội Như vậy, việc giáo dục sức khỏe không chỉ mang lại sức khỏe cho một cá nhân mà còn mang lại sự hưng thịnh cho một xã hội

Trang 38

1.2 3 Truyền thông về giáo dục sức khỏe

Truyền thông về giáo dục sức khỏe là quá trình tác động qua lại liên tục giữa hai hay nhiều người để cùng nhau chia sẻ thông tin, ý kiến, thái độ, tình cảm, kỹ năng, tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau về cùng một vấn đề được quan tâm và dẫn đến những thay đổi hành vi theo hướng có lợi của đối tượng Việc

truyền thông giúp trang bị cho mọi người những sự kiện, những tư tưởng và những thái độ mà họ cần có để đề ra những quyết định về tình trạng sức khỏe của mình Truyền thông được tiến hành khi giao và nhận một thông điệp trong giáo dục sức khỏe, thông điệp này là điều quan trọng để mọi người trong cộng đồng biết hoặc làm

Nguồn phát lúc này có thể là nhân viên y tế địa phương hoặc Chính phủ hoặc các thành viên trong cộng đồng tự mình nhận thấy có nhu cầu cần phải trao đổi Thông điệp có thể truyền đạt từ người này sang người khác trong khi trò chuyện riêng, hoặc trong các cuộc họp nhóm, hoặc trong buổi nói chuyện sức khỏe, hoặc gián tiếp qua truyền thanh hay báo chí

Điều quan trọng là xem điều gì xảy ra khi thông điệp tới người dân Nếu như mọi người nghe, hiểu và có chiều hướng tin tưởng vào nó thì việc truyền thông là tốt đẹp

Khi nghe đến thuật ngữ phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta thường nghĩ đến một cái gì đó to lớn, không liên quan đến riêng ai ví dụ như: một tờ báo có phạm vi toàn quốc, một đài phát thanh cho hàng triệu thính giả hay một chương trình truyền hình với kinh phí sản xuất khổng lồ Nhưng trong truyền thông giáo dục sức khỏe, các phương tiện truyền thông đại chúng

không nhất thiết phải thật “to lớn” Ở tất cả các địa phương hiện đều có có đài

phát thanh và cơ quan báo chí địa phương của mình Những phương tiện ấy được dùng trong một phần kế hoạch truyền thông giáo dực sức khỏe sẽ thu được những thuận lợi to lớn bởi các lý do sau đây:

Trang 39

Chúng ta có thể đến với mọi người nhanh chóng, mục đích của chúng ta

là “Sức khỏe cho mọi người” Một nhân viên y tế dù có gắng đến mức nào đi

nữa cũng không thể tiếp cận được với tất cả mọi người bằng cách truyền thông trực tiếp So với phương tiện thông tin đại chúng là các cơ quan báo chí Trung ương và từng địa phương thì rõ ràng cách truyền thông gián tiếp này có

ưu thế hơn hẳn

Truyền thông giáo dục sức khỏe qua các phương tiện thông tin đại chúng

sẽ đáng tin cậy hơn Nếu người dân đọc một điều gì đó trên báo hoặc xem được trên kênh truyền hình thì thường cho rằng không những điều đó đúng

mà còn rất quan trọng Và thực tế cũng đã chứng mình rằng nhứng thông tin được công khai trên phương tiên thông tin đại chúng theo hình thức như thế thường được kiểm duyệt chặt chẽ Đặc biệt, thông tin đó sẽ có sức nặng hơn khi đó là tiếng nó của một người được người dân rất kính trọng (ví dụ như một quan chức chính phủ hoặc một bác sỹ danh tiếng)

Như vậy truyền thông giáo dục sức khỏe là việc làm quan trọng, cần thiết trong quá trình xây dựng, nâng cao chất lượng đời sống xã hội Đó là một quá trình liên tục, có nghĩa là nó không chỉ diễn ra một chốc lát mà khéo dài về cả mặt thời gian Quá trình đó diễn ra giữa hai bên: bên truyền (nguồn truyền đạt) và bên nhận (người nhận) Cả hai bên cùng trao đổi, chia sẻ, tương tác thông tin với nhau

1.3 Truyền hình và chương trình truyền hình về GDSK

1.3.1 Truyền hình

Xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ

sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay truyền hình trở thành phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa, cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, anh ninh, quốc phòng

Trang 40

Thời sự là đặc điểm chung của báo chí Nhưng truyền hình với tư cách là phương tiện thông tin đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các phương tiện khác Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa diễn ra thậm chí đang diễn ra Người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện đang diễn ra, cập nhật những thông tin mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác

Trong xã hội ngày nay nhờ các phương tiện kỹ thuật hiện đại truyền hình nên có thể truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc Do vậy truyền hình trở thành phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức, hành vi của con người trước sự kiện

Có nhiều quan niệm về truyền hình Trong cuốn Thuật ngữ báo chí

truyền thông tác giả Phạm Thành Hưng, tác giả cho rằng: “truyền hình là hệ

thống kỹ thuật, chuyển hình ảnh, tiếng động đi xa qua tín hiệu truyền hình và được tiếp nhận trực tiếp qua màn hình huỳnh quang Chức năng truyền thông của đài truyền hình là sáng tạo và truyền phát các chương trình truyền hình”

[5,tr.220]

Còn theo giáo trình Báo chí truyền hình của tác giả Dương Xuân Sơn,

thuật ngữ truyền hình được hiểu như sau:

Thuật ngữ truyền hình (television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và

tiếng Hy lạp “tele” có nghĩa là “ở xa” và “ videre” là “thấy được” Còn tiếng Latinh nghĩa là xem được từ xa, ghép hai từ đó lại thành “televidere” có nghĩa

là xem được ở xa Tiếng Anh là “television”, tiếng Pháp là “télevesion”…Như

vậy, dù phát triển ở đâu, quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cùng có chung một nghĩa là nhìn được từ xa [39,tr.13]

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w