1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức giao lưu, đối thoại trực tuyến giữa lãnh đạo và nhân dân thông qua báo điện tử đảng cộng sản việt nam và cổng thông tin điện tử chính phủ

169 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2.1: Thống kê các chương trình, ngày tổ chức và khách mời tham gia GLTT trên BĐT ĐCSVN Bảng 2.2: Chủ đề GLTT do các ban chuyên môn thực hiện Bảng 2.3: Thống kê tên CT, lĩnh vực, số

Trang 1

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM QUÝ TRỌNG

TỔ CHỨC GIAO LƯU, ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN GIỮA LÃNH ĐẠO VÀ NHÂN DÂN THÔNG QUA BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

VÀ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

HÀ NộI, 2013

Trang 2

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM QUÝ TRỌNG

TỔ CHỨC GIAO LƯU, ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN GIỮA LÃNH ĐẠO VÀ NHÂN DÂN THÔNG QUA BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

VÀ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Báo chí, Khoa Phát thanh và Truyền hình (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã dày công giảng dạy, đào tạo em trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn TS Trần Doãn Tiến đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn một số toà soạn báo điện tử, đặc biệt là Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Báo điện tử Vietnamnet, Vnexpress đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tác giả hoàn thành luận văn

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng song luận văn vẫn còn đôi chỗ sai sót Tác giả mong muốn tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy, cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 11 năm 2013 Phạm Quý Trọng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo chính xác, trung thực, có độ tin cậy và dựa trên thực tế khảo sát Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Phạm Quý Trọng

Trang 5

BĐT Báo điện tử

BTV Biên tập viên

CTTĐT Cổng thông tin điện tử

CTTĐTCP Cổng Thông tin điện tử Chính phủ CTTT Chương trình trực tuyến

Trang 6

Biểu đồ 1: Mức độ theo dõi các chương trình 63 Biểu đồ 2: Đánh giá về chất lượng các chương trình giao lưu, đối thoại

trực tuyến trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP 65 Biểu đồ 3: Hiệu quả các chương trình giao lưu 66 Biểu đồ 4: Yếu tố thu hút sự chú ý quan tâm theo dõi các chương trình 67 Biểu đồ 5: Thời gian tổ chức quảng bá CT, tiếp nhận câu hỏi và thời

lượng của CT 71 Biểu đồ 6: Thời lượng chương trình 71 Biểu đồ 7: Tần suất tổ chức chương trình 72

Trang 7

Bảng 2.1: Thống kê các chương trình, ngày tổ chức và khách mời tham gia

GLTT trên BĐT ĐCSVN

Bảng 2.2: Chủ đề GLTT do các ban chuyên môn thực hiện

Bảng 2.3: Thống kê tên CT, lĩnh vực, số câu hỏi được trả lời, thời gian CT

GLTT trên BĐT ĐCSVN

Bảng 2.4: Thống kê CT, thời gian và khách mời CT ĐTTT trên CTTĐTTCP Bảng 2.5: Chủ đề và đơn vị phối hợp thực hiện CT

Bảng 2.6: Thống kê chủ đề, số lượng câu hỏi được trả lời và thời lượng

Bảng 2.7: Độ tuổi, nghề nghiệp và giới tính đối tượng được khảo sát

Bảng 2.8: Tỷ lệ các lĩnh vực từng theo dõi và cảm thấy thích hoặc tâm đắc

Bảng 2.9: Tỷ lệ các lĩnh vực đã từng theo dõi (Phân theo nghề nghiệp)

Bảng 2.10: Hiệu quả các chương trình giao lưu, đối thoại trực tuyến trên BĐT

ĐCSVN (Phân theo nghề nghiệp)

Bảng 2.11: Hiệu quả các chương trình giao lưu, đối thoại trực tuyến trên

CTTĐTCP (Phân theo nghề nghiệp)

Bảng 2.12: Về những yếu tố thu hút sự chú ý quan tâm theo dõi các chương

trình giao lưu, đối thoại trực tuyến trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP (Phân theo nghề nghiệp)

Bảng 2.13: Thói quen khi theo dõi chương trình giao lưu, đối thoại trực tuyến

trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP

Bảng 2.14: Hình thức gửi câu hỏi đến chương trình giao lưu, đối thoại trực tuyến

trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP

Bảng 2.15: Hình thức gửi câu hỏi đến chương trình giao lưu, đối thoại trực tuyến

trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP (Phân theo nghề nghiệp)

Bảng 2.16: Chương trình được xem là phù hợp với nhóm đối tượng

Bảng 2.17: Chương trình được xem là phù hợp với nhóm đối tượng (Phân theo

nghề nghiệp)

Bảng 2.18: Số lượng câu hỏi nên được trả lời trong chương trình giao lưu

trực tuyến

Trang 8

Bảng 2.20: Các chủ đề cần được tập trung đổi mới trong các CT GLTT trên

BĐT ĐCSVN

Bảng 2.21: Các chủ đề cần được tập trung đổi mới trong các chương trình

giao lưu trực tuyến (Phân theo nghề nghiệp)

Bảng 2.22: Các chủ đề cần được tập trung đổi mới trong các chương trình

ĐTTT của CTTĐTCP

Bảng 2.23: Các chủ đề cần được tập trung đổi mới trong các chương trình

giao lưu trực tuyến (Phân theo nghề nghiệp)

Bảng 2.24: Khách mời tham gia các chương trình giao lưu trực tuyến của

BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP

Bảng 2.25: Khách mời tham gia các chương trình giao lưu trực tuyến của BĐT

ĐCSVN và CTTĐTCP (Phân theo nghề nghiệp)

Trang 9

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU .1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC GIAO LƯU TRỰC TUYẾN, ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VÀ MẠNG INTERNET 11

1.1 Một số khái niệm 11

1.2 Đặc điểm của giao lưu, đối thoại trực tuyến 18

1.3 Xu hướng GL, ĐTTT hiện nay 28

1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức giao lưu, đối thoại trực tuyến 36

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH GIAO LƯU, ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ 41

2.1 Quá trình tổ chức GL, ĐTTT trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và Cổng Thông tin điện tử Chính phủ 41

2.2 Hiệu quả và một số vấn đề đặt ra trong GL, ĐTTT trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP 62

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH GIAO LƯU, ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN 83

3.1 Quan điểm về việc tổ chức GL, ĐTTT giữa lãnh đạo với nhân dân 83

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức CT GL, ĐTTT 87

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC BÀI BÁO KHOA HỌC 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giao lưu, đối thoại trực tuyến là phương thức thông tin hiệu quả nhằm tận dụng được tối đa lợi thế là tính tương tác, cập nhật nhanh, kịp thời và không giới hạn về nội dung, dung lượng của báo điện tử, mạng Internet Với

ưu thế, tiện ích đặc thù đó, nên phương thức GL, ĐTTT đã trở thành kênh thông tin hữu hiệu, được nhiều nước trên thế giới áp dụng từ nhiều năm nay

Ở nước ta, trong khoảng 10 năm trở lại đây, phương thức GL, ĐTTT đã bước đầu được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành, tỉnh, thành phố quan tâm Nhiều bộ, ngành, cơ quan báo chí đã chú trọng tổ chức phương thức này trên các CTTĐT, BĐT, trang tin điện tử Đến nay, GL, ĐTTT đã trở thành một hình thức truyền thông, tương tác xã hội phổ biến của BĐT và các website, CTTĐT của các bộ, ban, ngành

Sự phát triển của các chương trình GL, ĐTTT là sản phẩm tinh thần của xã hội, trong thời gian qua đã trở thành một nét tiêu biểu, nổi bật trong xã hội công nghệ thông tin, cuộc sống số So với báo viết, truyền hình, phát thanh, chương trình trực tuyến của BĐT có nhiều lợi thế hơn về cả âm thanh, hình ảnh, cường độ thông tin và kết cấu không gian Thông qua phương thức truyền thông độc đáo trên BĐT và mạng Internet, phương thức GL, ĐTTT với nhiều ưu thế đã không những góp phần tuyên truyền, định hướng dư luận, mà thông qua tính tương tác, phát huy được tính dân chủ xã hội, phát huy quyền được biết thông tin của nhân dân Nhờ tương tác, GL, ĐTTT mà các cơ quan Đảng, Nhà nước nhận được những phản biện, phản hồi, tâm tư, tình cảm, ý kiến, góp ý của nhân dân…để từ đó điều chỉnh chính sách, phương thức thực hiện nhằm đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sớm

đi vào thực tiễn cuộc sống

Trang 11

Mặc dù các cuộc GL, ĐTTT bước đầu mang lại hiệu quả xã hội nhất định, song hoạt động GL, ĐTTT vẫn bộc lộ không ít hạn chế, bất cập Nhìn chung các cuộc GL, ĐTTT trên BĐT, trên CTTĐT chưa thật sự phát huy tác dụng so với tiềm năng nó vốn có Tác động, sức lan tỏa, tính tương tác, nhất

là các ý kiến phản biện chưa nhiều Do đó các ý kiến góp ý với Đảng và Nhà nước thông qua các chương trình GL, ĐTTT còn nhiều hạn chế nên các cơ quan Đảng, Nhà nước chưa phát huy được tính tiện ích của GL, ĐTTT trong quá trình tiếp thu, hoàn thiện các chủ trương, chính sách

Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Tổ chức giao lưu, đối thoại trực

tuyến giữa lãnh đạo và nhân dân thông qua Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và Cổng thông tin điện tử Chính phủ” làm đề tài luận văn Thạc sĩ

truyền thông đại chúng, nhằm góp phần nâng cao chất lượng các CT GL, ĐTTT hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

* Những công trình nghiên cứu về báo chí, về truyền thông đại chúng ở

góc độ chung nhất

Tài liệu dẫn nhập quan trọng, cuốn sách Truyền thông đại chúng của

PGS,TS Tạ Ngọc Tấn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 đã chính thức đề cập đến hai mô hình truyền thông chính:

Mô hình truyền thông đại chúng một chiều áp đặt và mô hình truyền thông đại chúng hai chiều mềm dẻo Theo đó, sự phát triển và ngày càng dân chủ hóa của xã hội, sự nâng cao trình độ hiểu biết của con người, sự không ngừng hoàn thiện của các phương tiện kỹ thuật là điều kiện để chuyển hóa mô hình truyền thông đại chúng từ một chiều áp đặt sang hai chiều mềm dẻo, tạo nên mối tương tác hai chiều liên tục và trực tiếp giữa nhà truyền thông và công chúng [35, tr.21-25]

Trang 12

Trong cuốn sách này, PGS, TS Tạ Ngọc Tấn nhận định, Internet cho phép liên kết con người bằng thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích lũy của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông nhất quán; có khả năng cung cấp thông tin trực tiếp theo nhu cầu của từng cá nhân; cho phép con người tiếp cận trực tiếp với các nguồn thông tin Sự tương tác theo hướng dễ dàng hoán đổi vị trí giữa nhà truyền thông và công chúng đã góp phần thúc đẩy báo chí phải nâng cao và thay đổi phương thức làm báo.[32, tr.206-213]

Cuốn sách Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)

của PGS, TS Nguyễn Văn Dững, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011 đã nhận định:

Tương tác trong truyền thông là sự giao tiếp đồng thời, hai chiều và có thể hoán đổi vị trí giữa nhà truyền thông với công chúng Tần suất tương tác càng cao, tương tác càng bình đẳng thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng lớn Sự tương tác có được trên cơ sở tăng dần những tương đồng, giảm dần những khác biệt [4, tr.178 – 179]

Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội,

2012, PGS, TS Nguyễn Văn Dững cũng nêu rõ:

Tương tác xã hội vừa là đặc điểm, vừa là thế mạnh vượt trội của báo mạng điện tử, nhất là thông qua các forum trực tuyến tạo diễn dàn cho công chúng bàn thảo và chia sẻ về những sự kiện và vấn đề nóng hổi được dư luận quan tâm

* Những công trình nghiên cứu riêng về BĐT

Trong Đề cương chi tiết học phần “Nhập môn báo mạng điện tử”, Đề

tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2006, TS Nguyễn Thị Thoa cho rằng, tính tương tác của báo mạng điện

tử được hiểu ở 3 góc độ: Tương tác có định hướng, tương tác chức năng và tương tác tùy biến

Trang 13

Trong đó, Tương tác định hướng là sự định vị trên các văn bản như các

nút “xem tiếp”, “trở về đầu trang”

Tương tác chức năng là sự linh hoạt của các đường dẫn

cho phép người đọc khả năng tham chiếu tới các nội dung khác Các siêu liên kết (hyper link) tổ chức thông tin theo lớp, tạo mối quan hệ giữa thông tin mới nhất với thông tin tham chiếu, bổ

sung thông tin trong cùng một chủ đề Tương tác tùy biến thể

hiện ở tính thông minh của các công cụ cá nhân (hộp thư điện tử), ở các site có nội dung chia sẻ và thảo luận Tương tác tùy biến cho phép báo mạng điện tử tự thích ứng để đón tiếp công chúng truy cập vào tờ báo của mình, nhận sự phản hồi của họ về từng tin, bài, tác giả, về hình thức trình bày, ảnh…và nhanh chóng trả lời họ [37, tr.58-59]

Một cuốn sách chuyên khảo nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện về

BĐT của TS Nguyễn Thị Trường Giang – Báo mạng điện tử - Những vấn đề

cơ bản, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2011 đã đề cập nhiều

nội dung cơ bản về loại hình báo chí này như: quá trình ra đời và phát triển của BĐT nói chung, BĐT ở Việt Nam nói riêng; những đặc trưng cơ bản; mô hình tòa soạn và quy trình sản xuất BĐT; cách viết và trình bày nội dung BĐT…

Khi nói về những đặc trưng cơ bản của BĐT, bên cạnh tính đa phương tiện, tính tức thời và tính phi định kỳ, tác giả đã đặc biệt nhấn mạnh đến tính

tương tác, coi đó là “đặc điểm chính của công nghệ mới, đòi hỏi mô hình đa

chiều trong truyền thông” Người đọc có thể chủ động tìm kiếm và lựa chọn

thông tin chứ không đơn thuần chấp nhận thông tin từ tờ báo Ngoài ra họ còn tham gia vào quá trình cung cấp thông tin vì thế khoảng cách giữa nhà báo, tờ

báo và bạn đọc được rút ngắn [10,tr.134]

Trang 14

Cũng trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập sơ bộ về một số hình thức tương tác hiện nay đang được áp dụng trên các báo mạng điện tử như: phản hồi qua hệ thông thư điện tử; GLTT, bàn tròn trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến; thiết lập các diễn đàn; bình chọn chuyên mục, bài báo…

* Nhóm các luận văn, luận án liên quan đến đề tài

Bên cạnh các sách chuyên khảo trên, một số học viên cao học đã có các

luận văn nghiên cứu về báo điện tử Đó là các luận văn Thạc sỹ “Đặc điểm

công chúng độc giả báo chí Internet Việt Nam” của Hà Thu Hương; “Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị

Trường Giang; “Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử” của Trần Quang Huy (2006); “Tương tác giữa tòa soạn và công chúng báo mạng điện tử” của Nguyễn Hoàng Quỳnh Hương; “Bước đầu tiếp cận loại hình báo chí trực

tuyến” của Nguyễn Sĩ Hoàng; “Cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động của BĐT trên mạng Internet ở Việt Nam hiện nay” của Ngô Thị Hồng Minh;

“Ứng dụng truyền thông đa phương tiện trên báo trực tuyến” của Nguyễn Thuý Bình; “Ngôn ngữ báo chí Internet” của Phạm Thu An; Báo chí trực

tuyến ở Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Phan Văn Tú (2006)…

Trong đó, luận văn “Tương tác giữa tòa soạn và công chúng báo mạng

điện tử” của Nguyễn Hoàng Quỳnh Hương (2011) trình bày một cách hệ

thống các khái niệm về báo mạng điện tử và tính tương tác như là một đặc trưng của loại hình báo mạng điện tử Khảo sát, phân tích hiệu quả tương tác giữa các tờ báo mạng điện tử lớn của Việt Nam đối với công chúng và tổng kết những hình thức, công cụ tương tác hiện đang sử dụng Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy thế mạnh, đồng thời khắc phục những hạn chế khi vận dụng những hình thức và công cụ tương tác trong hoạt động của loại hình báo mạng điện tử Luận văn nhấn mạnh, hoạt động báo chí được xem là hoạt động chính trị, xã hội có tầm ảnh hưởng sâu rộng mà trong đó không thể thiếu

sự tham gia của công chúng Công chúng vừa là nguồn cung cấp thông tin, lại

Trang 15

vừa là đối tượng tiếp nhận thông tin Sự tương tác giữa báo chí và công chúng

là giúp phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân, là công cụ để “đo”

“thân nhiệt” của dư luận xã hội trước các quyết sách của những người điều hành đất nước [17, tr.1-3]

 Nhóm các khóa luận liên quan đến đề tài

Nguyễn Thu Trang (2007) Phỏng vấn trên báo mạng điện tử ở Việt

Nam (khảo sát các bài phỏng vấn báo Vietnamnet; Vnexpress, Vovnews quý I năm 2007 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Báo chí Tuyên truyền

Nguyễn Quỳnh Hoa (2007) "Bàn tròn trực tuyến trên báo mạng điện tử

Việt Nam hiện nay" (khảo sát chuyên mục "Bàn tròn trực tuyến" trên Vietnamnet từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2006 Khóa luận tốt nghiệp Học

viện Báo chí Tuyên truyền

Phạm Thị Thu Hà (2007) Giao lưu trực tuyến trên báo Tiền phong

online (Khảo sát từ tháng 4/2005 đến tháng 4/2007) Khóa luận tốt nghiệp

Học viện Báo chí Tuyên truyền

Nguyễn Diệp Chi (2008) Phỏng vấn trực tuyến trên báo mạng điện tử

tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Học viện Báo chí Tuyên truyền, Hà Nội

Tuy nhiên, như trên đã trình bày, hầu hết các tác giả trên mới dừng lại ở mức độ đề cập giải quyết một số khía cạnh của vấn đề Các CT GL, ĐTTT mới chỉ được nhắc tới sơ qua trong các cuốn sách, các khóa luận, luận văn; bước đầu được tiếp cận dưới góc độ là một yếu tố nhỏ lẻ thuộc tính tương tác của BĐT chứ chưa đi vào nghiên cứu, khảo sát sâu rộng Chưa có một công trình nghiên cứu sâu, đầy đủ, có trọng tâm, trọng điểm và toàn diện về vấn đề này với tư cách là một đề tài nghiên cứu khoa học

Với sự chắt lọc kiến thức trong quá trình tham gia tổ chức các CT trực tuyến trên BĐT ĐCSVN, người nghiên cứu muốn đi sâu hơn về quá trình tổ chức CT trực tuyến, tìm ra những ưu điểm vượt trội của phương thức trực

Trang 16

tuyến nhằm khẳng định tầm quan trọng của nó – phương thức hiệu quả tương tác trên BĐT và mạng Internet

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của phương thức GL, ĐTTT, từ đó xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phương thức GL, ĐTTT trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước;

- Đề xuất khuyến nghị về các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức các CT GL, ĐTTT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nêu trên, trong phạm vi đề tài này, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận của phương thức GL, ĐTTT trên BĐT, mạng Internet, các khái niệm có liên quan;

- Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức các CT GL, ĐTTT trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP hiện nay qua một số phương diện: Công tác chuẩn bị, quá trình thực hiện, nguồn nhân lực, phương tiện kỹ thuật…

- Trên cơ sở chỉ ra nguyên nhân của những thành công, hạn chế, đề xuất các kiến nghị, nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức các CT

GL, ĐTTT tại hai đơn vị khảo sát nói trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổ chức GL, ĐTTT trên BĐT

ĐCSVN và CTTĐTCP

4.2 Đối tượng khảo sát

- Các chuyên mục GL, ĐTTT trên BĐT ĐCSVN, CTTĐTCP từ tháng 06/2012 đến tháng 06/2013;

Trang 17

- Những người tham gia tổ chức, sản xuất CT GL, ĐTTT; công chúng; lãnh đạo, khách mời tham gia các CTTT

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong các CT GL, ĐT trên BĐT ĐCSVN, CTTĐTCP từ tháng 06 năm 2012 đến tháng 06 năm 2013

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm của Đảng, Nhà nước về BĐT và mạng Internet

5.1 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

5.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phân tích các văn bản pháp quy, các công trình, ấn phẩm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, nhằm xác định tổng quan vấn đề nghiên cứu, cũng như xác định những khoảng trống về lý luận và thực tiễn có liên quan nhằm

xác định cụ thể hơn nhiệm vụ của đề tài

5.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Luận văn phỏng vấn sâu 08 trường hợp gồm các tổng biên tập, phó tổng biên tập, thư ký tòa soạn, BTV, PV các BĐT; đại diện các cơ quan, đơn

vị, công chúng có liên quan đến việc tham gia GL, ĐTTT

5.1.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Luận văn sử dụng bảng hỏi có cấu trúc Số lượng là 500 bảng hỏi với đối tượng tham gia là các nhà báo, PV, BTV BĐT ĐCSVN, CTTĐTCP; các nhà báo, BTV các cơ quan báo chí khác và công chúng, sinh viên đã từng tham gia tổ chức, theo dõi các CTTT

5.1.4 Phương pháp chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích, trong đó:

- Phỏng vấn các PV, BTV BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP: 200 phiếu;

Trang 18

- Phỏng vấn các nhà báo, PV, BTV các cơ quan báo chí khác từng tham gia tổ chức, theo dõi các CTTT: 100 phiếu;

- Phỏng vấn công chúng là những người tham gia gửi câu hỏi đến CT; sinh viên, cán bộ các cơ quan trung ương; bạn đọc nói chung: 200 phiếu

5.1.5 Phương pháp xử lý thông tin và viết kết quả nghiên cứu

Các thông tin thu được bằng phương pháp nghiên cứu định tính sẽ được

xử lý bằng phần mềm Nvivo 7.0, thông tin định lượng bằng bảng hỏi được xử

lý bởi chương trình SPSS 20.0 Quá trình xử lý và viết kết quả, kết hợp phân tích định tính và phân tích định lượng, phối hợp các nguồn thông tin, dữ liệu Vận dụng lồng ghép các khái niệm, lý thuyết và quy luật vào việc phân tích, tổng hợp, khái quát hoá trong mỗi nội dung để làm sáng tỏ mục tiêu và nhiệm

vụ nghiên cứu của luận văn

6 Đóng góp mới của luận văn

Làm rõ nội dung, hình thức của khái niệm, phương thức tổ chức GL, ĐTTT, việc tổ chức GL, ĐTTT ở nước ta Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hoàn thiện mô hình tổ chức GL, ĐTTT;

Là tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động của PV, BTV, lãnh đạo các cơ quan báo chí điện tử; là tài liệu để sinh viên nghiên cứu, tham khảo

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về phương diện lý luận: luận văn góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho các cơ quan quản lý báo chí các cấp có chủ trương, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan báo chí phát huy vai trò, thế mạnh của phương thức GL, ĐTTT trong hoạt động báo chí

Về mặt thực tiễn: luận văn sẽ cung cấp cho lãnh đạo các cơ quan báo chí những dữ liệu, cứ liệu để chỉ đạo việc tổ chức, nâng cao chất lượng các CTTT Đặc biệt, đối với những PV, BTV trực tiếp tham gia công tác tổ chức

GL, ĐTTT sẽ có thêm kinh nghiệm nhằm phát huy hiệu quả, tránh được

Trang 19

những sai sót trong quá trình tổ chức CTTT Hy vọng, luận văn có ý nghĩa nhất định đối với những người làm công tác quản lý báo chí trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện

8 Kết cấu

Ngoài phần Danh mục chữ cái viết tắt, Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục, Danh mục bài báo khoa học, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng biểu, nội dung Luận văn gồm 3 chương, 8 tiết bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức GL, ĐTTT trên BĐT và mạng Internet

Chương 2: Thực trạng tổ chức CT GL, ĐTTT trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP

Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức CT GL, ĐTTT

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC GIAO LƯU TRỰC TUYẾN, ĐỐI THOẠI TRỰC TUYẾN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

VÀ MẠNG INTERNET 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Báo điện tử

Báo điện tử: “Online Newspaper” được dịch là BĐT hay báo trực tuyến

Còn theo từ điển Wikipedia tiếng Việt, BĐT hay báo mạng là loại báo được xuất bản bởi tòa soạn điện tử mà người ta đọc nó trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng khi có kết nối Internet Khác với báo in, BĐT tin tức được cập nhật thường xuyên, tin ngắn và thông tin có được từ nhiều nguồn khác nhau Nó cũng khác so với trang thông tin điện tử về tần suất cập nhật

Ở Việt Nam, thuật ngữ “báo điện tử” đã được sử dụng trong Luật Báo chí năm 1992 Theo định nghĩa tại Luật này, “BĐT là loại hình báo chí được

thực hiện trên hệ thống máy tính” Thuật ngữ BĐT đang được sử dụng được

dịch từ các thuật ngữ “Online newspaper” (báo trực tuyến), “Internet Newspaper” (báo Internet) hoặc “Electronic Newspaper” (BĐT) Do quan niệm còn chưa hoàn toàn thống nhất, cả 3 thuật ngữ tiếng Anh này vẫn được dùng song song trên các BĐT

Báo điện tử là sự hội tụ báo giấy (text), báo tiếng (audio)

và báo hình (video) Với báo điện tử, người đọc (lướt web) không chỉ cập nhật tin tức dưới dạng chữ viết mà còn có thể nghe phát thanh và xem truyền hình ngay trên các website báo chí Sự phát triển mạnh của công nghệ kết nối giúp đẩy nhanh tốc độ truy tải, tăng số lượng mạnh mẽ của báo chí điện tử, tạo điều kiện cho độc giả tìm kiếm thông tin ngày càng dễ dàng hơn [23, tr.2]

Trang 21

BĐT cho phép mọi người trên thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian Sự phát triển của BĐT đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ít nhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển của các loại hình báo chí khác

Xét về mặt truyền tải, ưu điểm nổi bật nhất của BĐT so với các loại hình báo chí truyền thống là tính thời sự và khả năng GLTT với độc giả Khả năng GLTT với độc giả được các BĐT tận dụng khá tốt với các diễn đàn trực tuyến, hộp thư bạn đọc, những buổi GLTT với các nhân vật nổi tiếng như: chính khách, nhà khoa học, hoa hậu, diễn viên, vận động viên…

Ở Việt Nam hiện có 68 cơ quan báo chí điện tử, gần 200 trang tin của cơ quan báo chí và gần 300 trang thông tin điện tử tổng hợp Có tất cả 63/63 tỉnh, thành phố, 22/22 bộ, ngành đã có Cổng thông tin điện tử hoặc trang tin điện tử Có hơn 20 nhà đăng ký tên miền Việt Nam, trên 100 nhà đăng ký tên miền quốc

tế và hơn 25 doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ hosting tại Việt Nam Dự báo trong 3 năm tới, với sự phát triển mạnh mẽ của hạ tầng công nghệ thông tin cùng khả năng đáp ứng ngày một tốt hơn về thiết bị, số người sử dụng Internet ở nước ta sẽ đạt 40-45 triệu, chiếm gần 50% dân số [23, tr.4]

Con số thống kê nêu trên cho thấy, tốc độ ứng dụng công nghệ thông tin của Việt Nam là khá tốt và có kết quả rất đáng khích lệ, góp phần tích cực nâng cao dân trí, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, vì mục tiêu xây

dựng đất nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

1.1.2 Mạng Internet

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, hệ thống Internet (thuật ngữ được sử dụng từ năm 1974) là một hệ thống thông tin liên quốc gia

Trang 22

có thể được truy cập công cộng, gồm các máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo phương thức nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hoá (giao thức IP) qua mạng truyền dẫn như cáp, cáp quang, sóng radio

Theo “Thuật ngữ báo chí – Truyền thông”, mạng Internet

(từ nguyên gốc La tinh: inter = giao nối, qua lại) là hệ thống gắn kết mạng máy tính toàn cầu Internet là mạng của mạng, vì nó hoạt động trên cơ sở giao ước truyền thông TCP/IP (Transmission Coltrol Protocil/Internet Protocol về sự kết nối giữa các mạng máy tính Hiện tại, Internet đã là một hoạt động thương mại, có sự điều hành những không thuộc sở hữu của cá nhân hay một chính phủ nào duy nhất [18, tr.109]

Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích cho người sử dụng ở mọi lĩnh vực, thông dụng nhất là hệ thống thư điện tử (Email), trò chuyện trực tuyến (Chat) truy tìm dữ liệu (Seach engine) Nhờ hệ thống các trang Web liên kết với nhau (Wordl Wide Web - viết tắt là WWW) do Tim Berners Lee phát minh, Internet chứa và dịch chuyển một lượng thông tin khổng lồ, có thể nói không bị bất kỳ rào cản nào về không gian và thời gian trên trái đất

Vì lý do đó, trên thế giới hiện có hàng tỷ người sử dụng Internet hoặc các sản phẩm của Internet Tiện ích của Internet đã khiến nó nhanh chóng được sử dụng phổ biến khắp thế giới Một nhà nghiên cứu đã định nghĩa thời đại ngày nay là thời đại Internet và đề nghị dùng khái niệm này thay thế khái niệm toàn cầu hoá Internet ngày nay được sử dụng phổ biến qua đường điện thoại, băng rộng, không dây, điện thoại di động

Bàn về sự phát triển của mạng Internet đối với hoạt động truyền thông, PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ - Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh:

Trang 23

Trong lĩnh vực truyền thông, chỉ trong thời gian ngắn, Internet tạo ra bước đổi mới mạnh mẽ, làm thay đổi sâu sắc tư duy, loại hình; cách thức sản xuất, tiếp nhận, trao đổi; quy trình tác nghiệp; nội dung, phương thức chất lượng, số lượng; xu hướng, mô hình tổ chức…, tạo ra các loại hình truyền thông mới (mạng xã hội, trang tin điện tử), làm nên diện mạo mới, phong phú, đa dạng của đời sống báo chí, truyền thông nước ta [21, tr.3]

1.1.3 Cổng thông tin điện tử

CTTĐT được hiểu như là một trang web xuất phát mà từ đó người sử dụng có thể dễ dàng truy xuất các trang web và các dịch vụ thông tin khác trên mạng máy tính Portal (trong nhiều tài liệu tiếng Việt dịch là CTTĐT tích hợp) là một ứng dụng chạy trên nền web có khả năng tích hợp và cá nhân hoá các ứng dụng, thông tin và các dịch vụ cộng tác CTTĐT cung cấp cho người dùng một điểm truy cập tới các nguồn dữ liệu, nội dung và các dịch vụ đa dạng của một đơn vị nghiệp vụ hay các tài nguyên trên mạng Internet

Ta có thể hiểu CTTĐT như một hệ thống thông tin có 2 chức năng chính như sau:

Ở góc độ hệ thống mạng nội bộ thì CTTĐT đảm nhận nhiệm vụ đảm bảo thông tin cho công tác chuyên môn

Ở góc độ khách hàng hay đối tác kinh doanh thì CTTĐT chính là nơi doanh nghiệp tiếp xúc, trao đổi và thực hiện giao dịch với đối tác, khách hàng của mình Khi một doanh nghiệp sử dụng CTTĐT thì tất cả mọi giao dịch đều được thực hiện trên một giao diện duy nhất nhưng thông tin được thể hiện theo cá nhân người sử dụng CTTĐT cũng làm cho quá trình trao đổi thông tin giữa các nhân viên trong một doanh nghiệp với khách hàng hay đối tác được nhanh chóng, thuận tiện và ít tốn kém

Trang 24

Một số loại CTTĐT phổ biến: Cổng thông tin công cộng; Cổng thông tin doanh nghiệp; Cổng giao dịch điện tử; Cổng thông tin ứng dụng chuyên biệt…Tuy có nhiều loại CTTĐT, cung cấp nhiều loại dịch vụ và ứng dụng khác nhau, nhưng tất cả các loại Cổng Thông tin điện tử đều có chung một số tính năng Các tính năng này là được sử dụng như một tiêu chuẩn để phân biệt giữa Cổng Thông tin điện tử với một Website hoặc một ứng dụng chạy trên nền tảng Web [26, tr.17-19]

1.1.4 Giao lưu trực tuyến

GLTT, ĐTTT là hình thức khá mới mẻ và hấp dẫn, góp phần khẳng định thế mạnh của BĐT so với các loại hình báo chí khác Với GL, ĐTTT độc giả có thể tiếp nhận những thông tin về chủ đề mình quan tâm một cách trực tiếp, nhanh chóng thông qua theo dõi các câu hỏi, các câu trả lời trên BĐT Theo đó, độc giả cũng có thể đặt câu hỏi, gửi ý kiến tham gia không qua email, chat, box tạo sẵn dưới nội dung CT

Như vậy, về mặt thể loại, GL, ĐTTT nằm trong thể loại phỏng vấn

Trong cuốn Sáng tạo tác phẩm báo chí, tác giả Đức Dũng cho rằng:

Điểm khác biệt nổi bật của thể loại phỏng vấn so với các thể loại báo chí khác trước hết là hình thức hỏi – đáp giữa nhà báo với nhân chứng Những câu hỏi – đáp trong tác phẩm thuộc thể loại phỏng vấn phải gắn bó với nhau, bổ sung cho nhau trong một mối quan hệ chặt chẽ và phải đáp ứng một số yêu cầu như:

Có phạm vi xác định, có chủ đề rõ ràng, có khả năng đem lại thông tin chất lượng cao [2, tr.129]

Xét về yếu tố thể loại, GL, ĐTTT chính là hình thức phỏng vấn trực tuyến trên BĐT, điểm khác là hình thức hỏi đáp không phải giữa nhà báo với nhân chứng mà là cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi chính độc giả với

Trang 25

những vị khách mời được tòa soạn mời đến để cùng nhau thảo luận, trình bày một chủ đề mà dư luận xã hội đang quan tâm

Trong các hình thức phỏng vấn, các kiểu hỏi đáp trực tiếp trên BĐT có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy vào đối tượng, chủ đề, khách mời mỗi tòa soạn lại có một tên gọi cho CT khác nhau như: GLTT, ĐTTT, bàn tròn trực tuyến; tọa đàm trực truyến; hỏi đáp trực tuyến Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả chỉ đi sâu vào phân tích và làm rõ một số khái niệm có liên quan đến CT

GL, ĐTTT

Giao lưu:“Có sự tiếp xúc trao đổi qua lại Giao lưu văn hóa” [42,

tr.511]

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “Trực tuyến”: thường

được dùng cho một kết nối hoạt động với một mạng truyền thông, đặc biệt là trong mạng Internet hoặc chỉ liên kết trong mạng cục bộ Trong sử dụng

thông thường, “trực tuyến” thường đề cập đến Internet hoặc mạng toàn cầu

World Wide Web

Như vậy, GLTT trên BĐT được hiểu là sự trao đổi gián tiếp thông qua mạng Internet, việc cung cấp thông tin và nhận thông tin có thể diễn ra từ một nơi đến nhiều địa điểm hoặc nhiều hơn, xa hơn thông qua máy tính kết nối Internet dưới sự hỗ trợ của các phần mềm tương tác như Yahoo, Sky, Yoosk…

Từ những luận điểm trên, có thể quan niệm: GLTT là cuộc trao đổi,

hỏi đáp giữa độc giả và khách mời về một chủ đề cụ thể được tổ chức trên BĐT hoặc mạng Internet

Do đó, GLTT là dịp để những người cùng tham gia CT bày tỏ, trao đổi quan điểm, kỹ năng, hiểu biết của mình về những vấn đề cụ thể Thông qua hình thức GLTT, tính tương tác – đặc trưng của BĐT được phát huy Đó là khả năng thông tin qua lại và thông tin đa chiều nhanh chóng giữa nhiều chiều

Trang 26

với nhau Cùng một lúc, ở tất cả mọi nơi trên thế giới, độc giả có thể ngồi trước máy tính bày tỏ quan điểm, thái độ, kiến thức và hiểu biết của mình với mọi người

GLTT có thể có hình thức giao lưu bằng văn bản (text) hoặc bằng cả văn bản, hình ảnh, âm thanh, video Khi giao lưu bằng văn bản, nhân vật khách mời có thể trả lời một lúc nhiều câu hỏi của độc giả Sau khi được các biên tập viên gõ và biên tập nội dung, câu trả lời của khách mời sẽ hiện ra trên trang điện tử, lúc đó công chúng sẽ có thể theo dõi

GLTT không những giúp cho công chúng và khách mời có thể tương tác một cách gần như trực tiếp mà còn gây dựng được lòng tin giữa công chúng với khách mời

1.1.5 Đối thoại trực tuyến

Đối thoại: “1.Nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau 2 Bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp” [42, tr.442]

Đối thoại, tiếng Anh: dialogue; từ nguyên gốc Hy Lạp: dialogos, là sự trao đổi ngôn ngữ giữa hai hoặc một số người nhằm cung cấp tri thức hiểu biết cho nhau hoặc thể hiện, khẳng định một quan điểm, quan niệm nào đó [18, tr.85]

Như vậy, ĐTTT là sự giao tiếp giữa hai người hay một nhóm người thông qua mạng Internet ĐTTT là sự trao đổi qua lại giữa khách mời (của toà soạn) đối với công chúng ĐTTT là một cách thức GLTT mang tính dân chủ

xã hội rất cao Nhân vật đối thoại là những những người có thẩm quyền cao,

là những nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu các bộ, ngành đối thoại với nhân dân về những ý kiến, tâm tư, nguyện vọng, khúc mắc… Những vấn đề được đề cập nóng hổi, bức xúc, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội Người dân có quyền chất vấn nhà lãnh đạo về những chính sách, những chiến

Trang 27

lược phát triển mà họ đưa ra Hình thức này tập trung chủ yếu trên BĐT ĐCSVN và CTTĐTCP trong thời gian qua

Hình thức GL, ĐTTT thể hiện các nhà lãnh đạo ngày càng gần gũi và sâu sát với đời sống người dân, thể hiện quyền được tiếp cận thông tin của người dân Trên tinh thần lắng nghe người dân và quyền được biết của nhân dân, nhiều cuộc GL, ĐTTT của các nhà lãnh đạo các cấp khác nhau đã được

tổ chức

Ngoài hai khái niệm GLTT, ĐTTT, hiện nay còn xuất hiện một số thuật ngữ, khái niệm như: giao ban trực tuyến, bàn tròn trực tuyến, tọa đàm trực tuyến, họp trực tuyến, giáo dục trực tuyến, đào tạo trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến…Tuy nhiên, luận văn này chỉ đi sâu và tập trung làm rõ việc tổ chức các CT GL, ĐTTT trên hai đơn vị được khảo sát nói trên

Ngày nay, có thể dễ dàng bắt gặp một số khái niệm có liên quan đến trực tuyến như: Đào tạo trực tuyến; Giao ban trực tuyến; Hội nghị trực tuyến; bán hàng trực tuyến; Kê khai thuế trực tuyến; Hội thi trực tuyến; xuất khẩu trực tuyến; Trò chơi trực tuyến; Thanh toán trực tuyến; Đấu giá trực tuyến… Các cụm từ này được dùng nhiều trong lĩnh vực truyền thông, chỉ các khái niệm có cùng đặc tính

1.2 Đặc điểm của giao lưu, đối thoại trực tuyến

1.2.1 Tính tương tác của báo điện tử

Tương tác là sự tác động qua lại với nhau, là mối quan hệ hai chiều giữa các sự vật hiện tượng, có tương tác vật lý, hóa học giữa các sự vật, hiện tượng; có tương tác xã hội Tương tác xã hội là qua trình tác động qua lại giữa các cá nhân, nhóm xã hội với tư cách là chủ thể trong xã hội Tương tác xã

hội theo Từ điển Bách khoa là khái niệm xã hội học chỉ ra rằng mỗi hoạt động

có mục đích của con người trở thành hoạt động xã hội khi nó nằm trong một

số mối quan hệ giữa các chủ thể hoạt động và thông qua các mối quan hệ đó

Trang 28

Theo Từ điển Từ và ngữ tiếng Việt thì tương tác “là sự tác động qua

lại, có ảnh hưởng lẫn nhau giữa các đối tượng người hoặc vật” Tương tác có

vai trò rất quan trọng trong hoạt động truyền thông nói chung và trong hoạt động báo chí nói riêng

Trong truyền thông, tương tác có nghĩa là sự tác động gián tiếp giữa chủ thể và khách thể truyền thông, giữa nhà truyền thông và công chúng trong những điều kiện nào đó Một trong những nguyên lý quan trọng của truyền thông là sự tương tác càng nhiều - tần suất càng cao, tương tác càng bình đẳng bao nhiêu thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao bấy nhiêu Tương tác không phải là một dòng thông tin phản hồi chậm chạp, rời rạc mà là đồng thời diễn ra sự trao đổi qua lại giữa chủ thể và khách thể; mặt khác chủ thể và khách thể có sự chuyển đổi vị trí cho nhau Tương tác không phải là dòng thông tin một chiều áp đặt mà là tương tác bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau trên

cơ sở tăng dần những tương đồng giảm dần những khác biệt giữa chủ thể truyền thông và công chúng

Trong xã hội hiện đại, tương tác truyền thông là phương thức cơ bản trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm, tìm kiếm trao đổi và nâng cao năng lực sáng tạo giá trị mới cho mỗi cá nhân và nhóm

xã hội Do vậy, tương tác xã hội trong thông tin báo chí có trở thành đặc điểm nổi bật hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Tương tác là một trong những đặc trưng cơ bản của báo mạng điện tử Tương tác là đặc điểm chính của công nghệ mới, đòi hỏi mô hình đa chiều trong truyền thông, người đọc có thể chủ động tìm kiếm và lựa chọn thông tin chứ không đơn thuần nhận thông tin từ tờ báo Ngoài ra họ còn tham gia vào quá trình cung cấp thông tin vì thế khoảng cách giữa nhà báo, tờ báo và bạn đọc được rút ngắn Suy cho cùng sự tham gia của công

Trang 29

chúng chính là động lực thúc đẩy phát triển và góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông [10, tr1.34]

So với các loại hình báo chí khác, mặc dù BĐT ra đời muộn hơn nhưng phát triển rất nhanh so các loại hình truyền thông đại chúng khác BĐT là sự hội tụ của khoa học kỹ thuật, công nghệ và ưu thế của các loại hình báo chí truyền thông Do đó, nó có những ưu điểm nổi trội mà không loại hình báo chí nào trước đó có thể có được

Một trong những lợi thế cơ bản của BĐT chính là đa phương tiện BĐT

có khả năng kết hợp một cách tuyệt vời giữa ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh Nếu như trong báo in, độc giả chỉ có thể đọc chữ, xem ảnh; trong phát thanh, thính giả chỉ có thể nghe đọc để tưởng tượng ra sự kiện, hiện tượng; trong truyền hình, khán giả có thể chỉ nghe và xem một cách thụ động thì với BĐT, công chúng có thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu đọc, nghe, xem một cách chủ động nhất Bên cạnh đó, tính phi định kỳ của BĐT còn cho phép công chúng cập nhật tin tức nhanh chóng, thường xuyên và liên tục, bất kì lúc nào và ở bất

kì nơi đâu chỉ bằng một vài cú click chuột

Một trong những ưu điểm nổi trội nhất của BĐT, đó chính là tính tương tác cao BĐT chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc thiết lập các diễn đàn, các cuộc giao lưu, đối thoại, phỏng vấn trực tuyến… nhằm tăng cường mối quan

hệ giữa toà soạn với độc giả, giữa độc giả với độc giả, tạo cơ hội cho độc giả

có thể giao lưu, trao đổi với nhân vật mình quan tâm, yêu thích

1.2.2 Tính tiện ích của phương thức GL, ĐTTT

1.2.2.1 GL, ĐTTT đáp ứng nhu cầu thông tin và có tác động xã hội tính cực

Công chúng tìm đến BĐT và mạng Internet để thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm, chia sẻ thông tin của mình Qua các CT GL, ĐTTT có thể nhận thấy công chúng được thỏa mãn tối đa nhu cầu đối thoại với những nhân vật khách

Trang 30

mời mình quan tâm, được giải đáp tường tận và trực tiếp các thắc mắc trong câu hỏi của mình nêu ra

Ở các CT GL, ĐTTT công chúng sẽ không còn thụ động, họ được quyền tham gia, được nắm giữ vai trò nhất định, được chủ động tiếp nhận thông tin mà mình quan tâm, được quyền đánh giá, nhận xét và kết luận về những thông tin được cung cấp trong CT Ở các cuộc GL, ĐTTT, tính dân chủ càng thể hiện rõ vì công chúng được đóng vai trò là người hỏi, người phỏng vấn; chủ động đưa ra những câu hỏi, chủ động tạo lập luồng dư luận trên mạng Internet Công chúng ở đây cũng không bị phân biệt độ tuổi, cấp bậc, chức vụ, giới tính hay nghề nghiệp, địa phương cư trú, miễn câu hỏi của họ gửi đến tòa soạn hay, có tính vấn đề sẽ được tòa soạn lựa chọn chuyển tới khách mời

Bên cạnh đó, các CT GL, ĐTTT luôn tạo ra một không khí cởi mở, thân thiện Công chúng BĐT không chịu bất kỳ một sức ép nào khi đặt câu hỏi (họ có thể đặt câu hỏi bằng nhiều cách khác nhau, gửi thư điện tử đến tòa soạn, điện thoại, gửi thư tay trước CT, nếu cần thiết cũng có thể đề nghị tòa soạn ẩn danh) Với việc các chủ đề của các CT GL, ĐTTT được các tòa soạn điện tử thông tin trước, công chúng hoàn toàn có thời gian suy nghĩ để gửi những câu hỏi, thắc mắc của mình tới khách mời quan tâm Khi CT diễn ra, trong một không gian thoải mái, độc giả hoàn toàn có thể gửi liên tiếp các câu hỏi đến CT; cũng như vậy khách mời hoàn toàn có thể lựa chọn thứ tự các câu hỏi để ưu tiên trả lời trước hay sau

Tác động của các CT GL, ĐTTT có tính lan tỏa cao, thông qua đối thoại giữa lãnh đạo và nhân dân, người dân hiểu thêm về chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, luật pháp của Nhà nước, tạo nên những tác động tích cực trong xã hội

Trang 31

1.2.2.2 GL, ĐTTT là cầu nối gần gũi giữa nhân dân và lãnh đạo

Mỗi cuộc GL, ĐTTT giữa lãnh đạo với nhân dân luôn thu hút một

lượng câu hỏi rất lớn Bởi tính “mở” của Internet đã giúp cho công chúng có

thể đặt rất nhiều câu hỏi khác nhau đối với nhân vật khách mời mình yêu thích Trên thực tế cuộc sống, người dân khó có thể gặp được các vị lãnh đạo

để đối thoại, chất vấn về những vấn đề liên quan đến dân sinh, dân kế của mình Nhưng thông qua GL, ĐTTT việc câu hỏi của mình gửi đến CT có cơ hội được nhà lãnh đạo trả lời sẽ khả thi hơn nhiều, từ đó đã thôi thúc, cổ vũ, động viên công chúng gửi câu hỏi đến CT

Ví dụ, cuộc ĐTTT giữa Thủ tướng Chính phủ với nhân dân ngày

09/02/2007 với chủ đề: “Vì một Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; hội nhập thành công, phát triển bền vững” đã có hơn 20.000 câu hỏi được gửi đến trước và trong CT Những

con số thống kê nêu trên tự nó đã có ý nghĩa Cuộc ĐTTT của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với nhân dân đã trở thành một sự kiện thu hút sự chú ý của

dư luận cả trong và ngoài nước Việc người đứng đầu Chính phủ đối thoại trực tiếp với nhân dân ở cả trong và ngoài nước được xem là một biểu hiện của quá trình dân chủ hóa Lãnh đạo lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của người dân Còn người dân thực thi quyền làm chủ đóng góp với lãnh đạo những ý kiến tâm huyết góp phần xây dựng đất nước mạnh giàu

Nhờ có GL, ĐTTT người dân có cơ hội nói tiếng nói của mình trực tiếp với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ĐTTT là một cách tốt để tiếp xúc với dân trên bình diện rộng và tính quan trọng của cuộc ĐTTT thể hiện ở chỗ trách nhiệm của mỗi bên với nhau Như vậy có nghĩa là GL, ĐTTT giữa lãnh đạo và nhân dân là cuộc đối thoại cởi mở, thẳng thắn và đầy trách nhiệm của

cả hai phía, trên tinh thần bình đẳng vì trách nhiệm chung đối với đất nước Lãnh đạo lắng ý kiến của nhân dân, nhân dân phản ánh tâm tư tình cảm,

Trang 32

nguyện vọng cũng như phản hồi tới lãnh đạo về những chính sách hiện hành Hai bên có cơ hội để chia sẻ với nhau những khúc mắc Cũng nhờ tính chất này, các cuộc GL, ĐTTT trở thành cầu nối gần gũi giữa công chúng và lãnh đạo

1.2.2.3 GL, ĐTTT giúp duy trì và thu hút lượng độc giả

Các CT GL, ĐTTT đã xóa bỏ khoảng cách về địa lý, vùng miền và không giới hạn về số lượng người tham gia CT Chỉ cần một máy tính nối mạng, một điện thoại di động kết nối 3G, người tham gia có thể gửi câu hỏi đến CT Trong một thời gian ngắn, người gửi câu hỏi có thể nhận được câu trả lời mà không bị một sự hạn chế nào Tâm lý của người dân luôn muốn tham gia hoặc bày tỏ quan điểm của mình đối với một sự kiện, chính vì thế nhờ tổ chức các CTGL, ĐTTT mà tòa soạn thu hút một lượng đáng kể bạn đọc Bạn đọc thường xuyên truy cập tờ BĐT để tìm kiếm thông tin, khi đó bạn đọc dần dần trở thành độc giả trung thành của tờ BĐT Số lượng truy cập cao đồng nghĩa với sự hấp dẫn của tờ BĐT đó vì nhờ lượng truy cập cao, tòa soạn BĐT

sẽ có thêm nhiều nguồn thu nhập từ việc bán các banner quảng cáo

1.2.3 Phương thức tổ chức GL, ĐTTT

Hiện nay, mỗi một CT GL, ĐTTT được các tòa soạn BĐT tổ chức theo những cách khác nhau Mỗi một tòa soạn lại chọn thời điểm, chủ đề, nội dung, khách mời cũng như có những bước chuẩn bị cho buổi GLTT theo những điều kiện về hạ tầng công nghệ nhân lực, vật lực đặc thù của mình Qua khảo sát một số tòa soạn BĐT, mô típ của một CT GL, ĐTTT thường được thực hiện theo phương thức cơ bản sau đây

1.2.3.1 Khâu chuẩn bị

Khâu chuẩn bị là khâu quan trọng nhất và chiếm nhiều thời gian của nhóm tổ chức CT trực tuyến Để chuẩn bị cho một CT GL, ĐTTT, khâu chuẩn bị được tiến hành theo các bước sau:

* Phát hiện, lựa chọn đề tài, chủ đề CT GL, ĐTTT

Trang 33

GL, ĐTTT như đã phân tích ở trên, có vị thế và vai trò thu hút, nâng cao lượng độc giả cho tòa soạn bởi tính hấp dẫn của nó GL, ĐTTT cũng chính là “hàn thử biểu” đo sự quan tâm mà công chúng dành cho tờ BĐT Tuy nhiên, GLTT không phải là CT định kỳ, “đến hẹn lại lên” mà chỉ được tổ chức vào những thời điểm xã hội đang có dư luận xã hội về một vấn đề nào

đó, nóng và cấp thiết Trên cơ sở có sự quan tâm của xã hội về vấn đề đó, tòa soạn BĐT mới lựa chọn chủ đề, đề tài để tổ chức giao lưu

Ví dụ như, đối với việc tăng giá xăng liên tục trong thời gian ngắn, hay việc mở gói tín dụng 30.000 tỷ đồng giải cứu bất động sản, CTTĐTCP đã tổ chức các CT đối thoại trực tiếp để giải đáp những ý kiến bức xúc của người dân

* Lựa chọn và mời khách mời tham gia

Sau khi lựa chọn chủ đề giao lưu, nhiệm vụ hết sức quan trọng có tính chất quyết định sự thành bại của CT chính là khách mời tham gia Việc xác định

được khách mời và mời tham gia CT đã đảm bảo thắng lợi trên 50% CT

Thường thì lãnh đạo, chính khách rất bận, hoặc do một lý do tế nhị nào đó, lãnh đạo các bộ, ban, ngành rất khó để thu xếp và nhận lời tham gia CT trực tuyến

Ví dụ, để tổ chức cuộc ĐTTT về gói tín dụng 30.000 tỷ đồng - Giải pháp cho thị trường bất động sản, ban đầu CTTĐTCP mời bộ trưởng Bộ Xây dựng, nhưng vì những lý do khác nhau, Bộ trưởng đã ủy quyền cho Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam tham dự

* Thành lập nhóm tổ chức CT, phân công công việc

Mỗi CTTT sẽ có một ê kíp sản xuất CT Tùy theo chủ đề, nội dung cũng như tính chất CT, lãnh đạo Ban Biên tập tờ báo sẽ quyết định Ban chuyên môn nào phụ trách CT Ở BĐT ĐCSVN, nếu CT chủ đề văn hóa, sẽ

do Ban Văn hóa phụ trách, chủ đề kinh tế sẽ do Ban Kinh tế phụ trách, chủ đề liên quan đến chính trị sẽ do Ban Thời sự phụ trách… Trong trường hợp như GLTT giữa Thủ tướng, Chủ tịch nước với nhân dân, Ban Biên tập sẽ lựa chọn

Trang 34

ở mỗi ban chuyên môn những biên tập viên xuất sắc nhất để tham gia ê kíp sản xuất

Vì thế, mỗi khi quyết định được chủ đề CT, các tòa soạn báo thường thành lập các nhóm tổ chức CT, các thành viên tham gia CT đều được phân định rõ nhiệm vụ cụ thể Trong GL, ĐTTT, vai trò của phóng viên, biên tập viên rất quan trọng, là người biên tập, lựa chọn, sắp xếp và đánh máy các câu trả lời của khách mời Trong quá trình GL, ĐT, phóng viên, biên tập viên phải nhanh nhẹn, nhạy bén để biên tập câu trả lời một cách nhanh chóng, chặt chẽ, hấp dẫn, thu hút người đọc

Ngoài việc phân công biên tập viên viết bài đề dẫn giới thiệu CT, giới thiệu khách mời, thông báo thời gian diễn ra sự kiện, các biên tập viên còn lại còn có nhiệm vụ kiểm tra hộp thư điện tử, tiếp nhận câu hỏi của độc giả qua các nguồn khác nhau như thư tay gửi đến, điện thoại đến CT Người được phân công dẫn CT sẽ phải chuẩn bị nội dung giới thiệu CT, câu hỏi “mồi” Ngoài ra, nhóm tổ chức, sản xuất CT cũng lên sơ đồ, bố trí vị trí ngồi của khách mời và các phóng viên, biên tập viên hỗ trợ khách mời khi CT diễn ra

* Viết bài đề dẫn, thiết kế lô gô, banner quảng bá CT

Để một CT GL, ĐTTT đến với công chúng, không thể thiếu khâu quảng

bá CT Thường sau khi quyết định được chủ đề CT cũng như xác nhận sự tham gia của khách mời các tòa soạn sẽ chỉ đạo bộ phận thiết kế xây dựng lô gô, banner, trailer CT để phát mạng trước thời điểm giao lưu từ trước một tuần đến vài ngày để bạn đọc biết Đi kèm với banner CT, là maket, backdrop của CT đặt trong phòng tổ chức giao lưu Maket, backdrop CT thể hiện chủ đề, ngày giờ, địa điểm tổ chức buổi giao lưu, đối thoại

Thông thường banner CT và bài đề dẫn được đặt trên vị trí trang trọng trên trang chủ tờ báo, thu hút sự quan tâm của độc giả, bên cạnh thông tin về

Trang 35

chủ đề và khách mời, bài đề dẫn cũng kèm theo thông tin thời gian tổ chức sự kiện cũng như các hướng dẫn chi tiết gửi câu hỏi kèm theo

* Chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, phòng tổ chức

Yếu tố hạ tầng kỹ thuật có vai trò quyết định sự thành bại của CT, trước đây mỗi khi tổ chức các CT trực tuyến điều các tòa soạn điện tử lo lắng nhất chính là dung lượng đường truyền Khi lượng truy cập quá lớn, câu hỏi quá nhiều sẽ khiến việc tổ chức CT bị gián đoạn, chậm trễ Bên cạnh đó, tùy theo

số lượng khách mời, các kỹ thuật viên, biên tập viên cũng phải bố trí lượng máy tính xách tay, máy tính bàn cần thiết để đáp ứng việc đưa các câu trả lời lên mạng Internet trong thời gian nhanh nhất Chưa kể đến các CTTT lớn đều thu hút sự tham dự của rất nhiều phóng viên, biên tập viên báo khác đến tham gia, cũng cần phải bố trí sơ đồ, vị trí chỗ ngồi cho lượng phóng viên này để

CT đảm bảo hiệu quả Thực tế, đôi lúc chính các phóng viên báo khác đến tham dự CT trong quá trình tác nghiệp, chụp ảnh, đặt micro đã vô tình giẫm phải ổ cắm điện, đá vào đường truyền làm cho CT bị gián đoạn Vì thế, việc chuẩn bị hạ tầng mạng, hạ tầng kỹ thuật là việc hết sức cần thiết

Ngoài ra, khâu tiếp đón khách mời, phòng giao lưu cũng phải được chuẩn bị một cách chu đáo, cụ thể, thể hiện sự tôn trọng của tòa soạn đối với các vị khách mời và đối với độc giả Với các CT GL, ĐTTT sử dụng đa phương tiện, có cả truyền hình và phát thanh, cũng cần có sự thông báo cho khách mời về những nghi thức cần thiết trong quá trình giải đáp các câu hỏi của độc giả

1.2.3.2 Khâu tổ chức giao lưu, đối thoại

Trước khi vào buổi GLTT, người dẫn CT bao giờ cũng tuyên bố lý do, giới thiệu khách mời, tặng hoa đại biểu, chụp ảnh khách mời…Sau khi những nghi thức này được tiến hành, người dẫn CT sẽ nêu một số câu hỏi được gửi đến từ trước CT để khách mời bắt đầu trả lời

Trang 36

 Đối với hình thức của CT GLTT, sẽ là như sau:

Người dẫn CT chuyển câu hỏi của độc giả cho khách mời, khách mời bắt đầu trả lời, các biên tập viên đánh máy câu trả lời, phóng viên ảnh bắt đầu tác nghiệp

Trong quá trình này, các biên tập viên trực hộp thư điện tử sẽ biên tập, lựa chọn những câu hỏi hay, “đắt giá” mà độc giả gửi đến để chuyển cho người dẫn CT, người dẫn CT thông báo nội dung câu hỏi đến khách mời Còn các biên tập viên khác sẽ rà soát phần trả lời của khách mời trong phần mềm trình duyệt của CT, chuyển lên thư ký tòa soạn đợi duyệt xuất bản

Thư ký tòa soạn, lãnh đạo Ban biên tập duyệt xuất bản các câu trả lời của khách mời, bộ phận hậu kiểm kiểm tra lại những câu trả lời đã được xuất bản xem có lỗi morat không, nếu có lỗi thì sửa lại, trường hợp câu trả lời chưa chuẩn theo văn phong, ngữ pháp cũng sẽ được biên tập, sữa chữa sau khi xuất bản

Bộ phận biên tập và những khách được mời đến hỗ trợ khách mời trong lúc diễn ra CT cũng chuẩn bị các nội dung, con số cần thiết trong trường hợp khách mời cần số liệu để trả lời

Kết thúc CT, người dẫn CT sẽ nói lời cảm ơn, lãnh đạo Ban Biên tập sẽ tặng hoa khách mời, chụp ảnh lưu niệm

* Đối với hình thức ĐTTT

Người dẫn CT bắt đầu cuộc đối thoại bằng cách giới thiệu chủ đề, nội dung buổi đối thoại, giới thiệu khách mời tham gia

Các câu hỏi đã được chuẩn bị từ trước theo cụm vấn sẽ được người dẫn

CT đọc to để khách mời nghe Sau đó, khách mời lần lượt giải đáp các vấn đề, các câu hỏi, trong trường hợp có những câu hỏi không thuộc chuyên môn của mình, khách mời có thể chỉ định bộ phận giúp việc đi cùng trả lời thay hoặc cung cấp số liệu chính xác Xen lẫn các câu hỏi của độc giả, người dẫn CT có thể hỏi

Trang 37

thêm các câu hỏi cần thiết để làm rõ vấn đề hơn, cũng như đề nghị các bộ phận giúp việc đi cùng khách mời hiệu chỉnh số liệu, cung cấp thêm thông tin

Kết thúc CT, người dẫn sẽ tổng kết nội dung, cám ơn sự tham gia của khách; khách mời nói suy nghĩ cũng như có thể nói thêm mội số thông tin để nội dung được rõ ràng hơn

Cuối cùng, lãnh đạo Ban Biên tập trao hoa, chụp hình, tặng quà lưu niệm với khách mời

1.2.3.3.Phát mạng và hậu kiểm

Trong quá trình diễn ra GL, ĐTTT các bộ phận kỹ thuật, bộ phận biên tập đảm nhiệm việc phát mạng các câu hỏi và câu trả lời cũng như đảm bảo việc hậu kiểm để tránh những sai sót về morat, kỹ thuật…

Thường thì khi diễn ra CT, các câu hỏi được gửi lên ngay lập tức cho người dẫn chuyển tới khách mời Vì thế, có những nội dung câu hỏi ở phần trước liên quan đến một chủ đề, câu hỏi phần sau tiếp tục liên quan đến chủ

đề đã được trả lời phần trước đó Lúc này, các biên tập viên sẽ biên tập các câu hỏi và câu trả lời theo cụm nội dung nhất định, đảm bảo để bạn đọc có thể theo dõi một cách hệ thống về những chủ đề khác nhau Ngoài ra, các biên tập viên có thể giật tít phụ cho từng phân đoạn câu hỏi, câu trả lời để độc giả tiện theo dõi

Cũng ở khâu cuối này, phóng viên ảnh lựa chọn các góc ảnh, các hình ảnh tiêu biểu của khách mời, các hình ảnh miêu tả không khí buổi giao lưu để đưa lên cùng với nội dung viết (text) đã được đăng trước đó

Khâu hậu kiểm đảm bảo các nội dung nêu trên không bị lỗi morat

1.3 Xu hướng GL, ĐTTT hiện nay

1.3.1 Xu hướng phát triển GL, ĐTTT ở các nước trên thế giới

Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông mạng xã hội đã tạo ra những thay đổi lớn trong cách con người tiếp nhận và trao

Trang 38

đổi thông tin Việc tiêu thụ thông tin đã trở nên số hóa và thông tin truyền bá trên “mạng ảo” đã tạo ra thay đổi bước ngoặt đối với ngành công nghiệp truyền thông Điều này bắt buộc các cơ quan truyền thông phải thay đổi tư duy và phương thức sản xuất tin, bài Sự tái cơ cấu ngành báo chí thế giới trở nên sôi động trong năm 2011 và 2012, mạng Youtube đầu tư vào Reuters để sản xuất các chương trình truyền hình; mạng Yahoo thiết lập sự hợp tác với ABC News Trong khi đó mạng AOL mua tờ Huffington Post, Facebook mua tạp chí New Republic và khai trương trang Social Reader để mở dịch vụ đối tác với các tờ báo

có đông độc giả như The Washington Post, The Wall Street Journal, The Gardian Hãng thông tấn AP cung cấp nội dung cho hơn hai mươi công ty truyền thông và thu phí bản quyền bằng việc chia sẻ lợi nhuận quảng cáo Trong khi đó thương hiệu báo chí nổi tiếng như Financial Times hay The Boston Globe từ chối tham gia vào các kho ứng dụng (app) vốn đang bị Apple và Google thao túng để cung cấp trực tiếp vào các nội dung vào điện thoại di động của khách hàng thông qua phần mềm HTML5 Một lần nữa, các bước đi này đang nhanh chóng định hình lại nền báo chí và kỹ nghệ đưa tin toàn cầu [15, tr.32]

Hiện nay, xu hướng hội tụ truyền thông đang được hiện thực hóa mạnh

mẽ trên thế giới, như một hệ quả của sự phát triển của ngành công nghệ truyền thông thông tin Khi các vấn đề về hạ tầng, kỹ thuật, mạng lưới trở nên gần gũi và thân thiện, người dùng dễ dàng đạt được các tiện ích mà không cần phải quá đầu tư về tài chính, tri thức, thời gian Có ý kiến cho rằng đây là xu hướng hội tụ 3 màn hình: Màn hình máy tính, màn hình ti vi và màn hình điện thoại di động Sự kết hợp hay đồng nhất một cách tương đối 3 màn hình này

Trang 39

tạo ra cơ hội thụ hưởng và tiếp cận thông tin đa dạng, phong phú chưa từng thấy

Với cuộc cách mạng công nghệ thông tin, thông tin nói chung cũng như những sản phẩm báo chí nói riêng đã được truyền đến tất cả những ngóc ngách nhỏ nhất của trái đất Sự lan tỏa của thông tin ở cấp độ toàn cầu đã thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ hơn Sự hình thành và phát triển của các tổ chức báo chí – truyền thông xuyên quốc gia và đa quốc gia

là những trung tâm xử lý và truyền bá thông tin ở phạm vi toàn

cầu Hiện nay các “đế chế” truyền thông như BBC, Reuter,

CNN… đang có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển báo chí - truyền thông toàn cầu [15, tr.91]

Tận dụng ưu thế của công nghệ và tính lan tỏa của báo chí, lãnh đạo nhiều quốc gia trên thế giới đã ứng dụng hoạt động của phương thức GL, ĐTTT trong việc tiếp xúc với cử tri, với nhân dân trong hoạt động chính trị của mình GL, ĐTTT là phương thức được nhiều nước trên thế giới áp dụng trong những năm gần đây

Có thể nhận thấy các nhà lãnh đạo của các quốc gia lớn trên thế giới đã tận dụng ưu thế của GL, ĐTTT trong tiếp xúc với nhân dân, đặc biệt các nước như Mỹ, Nga, Pháp, Đức, người đứng đầu chính quyền thường có những buổi trả lời công chúng qua các phương tiện truyền thông đại chúng

Ví dụ như: Ngày 25/4/2013, Tổng thống Liên bang Nga - Vladimir Putin đã trả lời trực tiếp các câu hỏi của mọi công dân Nga gửi đến Tổng thống qua điện thoại và mạng Internet, cũng như trực tiếp qua cầu truyền hình

và điện thoại vào thời điểm diễn ra cuộc đối thoại

Trang 40

Đây là lần GLTT thứ 11 của Tổng thống Vladimir Putin, những năm trước, ông Putin vẫn duy trì cuộc đối thoại trực tiếp như thế này, dù ông giữ chức vụ đứng đầu nội các

Kể từ khi trung tâm tiếp nhận câu hỏi bắt đầu hoạt động,

số lượng câu hỏi gửi đến cho đến giờ bắt đầu cuộc đối thoại trực tiếp lên tới con số 2 triệu Mở đầu cuộc đối thoại, trả lời câu hỏi

“Tổng thống đánh giá thế nào về năm đầu tiên trong nhiệm kỳ mới của mình”, ông Putin bày tỏ hài lòng về một năm đầu tiên ở

cương vị Tổng thống với những kế hoạch đưa ra đều được thực hiện, dù những nhiệm vụ đặt ra không phải là đơn giản đối với tất cả các cơ quan, địa phương Tổng thống cũng đưa ra những ý kiến đánh giá hoạt động của Chính phủ một cách tích cực khi trả lời câu hỏi về nội dung này

Những câu hỏi liên quan đến đời sống xã hội, những phúc lợi dành cho văn hóa, giáo dục, y tế rất được quan tâm và nêu nhiều câu hỏi Tổng thống Putin cũng trả lời các câu hỏi thuộc rất nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có cả việc ông từng nhận được thư của nhà tỷ phú Nga Berezovsky sống lưu vong tại Anh Mặc dù không muốn đề cập đề tài này vì vị tỷ phú đã qua đời nhưng Tổng thống Putin cũng rất thẳng thắn trả lời các câu hỏi liên quan [38, tr.1]

Cuộc trả lời đầu tiên vào năm 2001 chỉ diễn ra trong 2h20’ sau đó tăng dần lên và đến năm 2011 cuộc đối thoại kéo dài kỷ lục là 4h32’ và Tổng thống Putin đã trả lời trực tiếp 90 câu hỏi Tổng thống Putin cho rằng, việc phân tích những câu hỏi gửi đến CT giúp cho công tác thực tiễn, vì đây là sự phản ánh những điều quan tâm của người dân và trách nhiệm của họ Đây chính là cách thẳng thắng nhất mà các cơ quan cấp chính quyền trung ương và

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Diệp Chi (2008), Phỏng vấn trực tuyến trên báo mạng điện tử tại Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phỏng vấn trực tuyến trên báo mạng điện tử tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Diệp Chi
Năm: 2008
2. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
3. GS.TS Đinh Xuân Dũng (2012), Xử lý đúng mối quan hệ giữa đáp ứng nhu cầu thông tin và định hướng tư tưởng trong hoạt động báo chí hiện nay, Tạp chí Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật, số 6/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý đúng mối quan hệ giữa đáp ứng nhu cầu thông tin và định hướng tư tưởng trong hoạt động báo chí hiện nay
Tác giả: GS.TS Đinh Xuân Dũng
Năm: 2012
4. PGS.TS. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
5. PGS.TS. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
Năm: 2012
6. Ths. Hà Thị Thúy Dương (2012), Báo chí với việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông số tháng 5/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ths. Hà Thị Thúy Dương
Năm: 2012
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay, số 52-CT/TW, ngày 22/7/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
9. E.P.Prokhorop (2004), Cơ sở lý luận của báo chí; Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của báo chí
Tác giả: E.P.Prokhorop
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tấn
Năm: 2004
10. TS. Nguyễn Thị Trường Giang (2010), Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
11. Sơn Hà (2010), “Sự tương tác là tài sản vô giá”, http://tuoitre.vn/Thegioi/Thegioimuonmau/395270/%E2%80%9CSu-tuong-tac-la-tai-san-vo-gia%E2%80%9D.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự tương tác là tài sản vô giá”
Tác giả: Sơn Hà
Năm: 2010
12. TS. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới và xu hướng phát triển, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới và xu hướng phát triển
Tác giả: TS. Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tấn
Năm: 2008
13. Thu Hiền (2007), “Tận dụng tương tác thu hút độc giả”, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/tan-dung-tuong-tac-thu-hut-doc-gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tận dụng tương tác thu hút độc giả”
Tác giả: Thu Hiền
Năm: 2007
14. Vũ Đình Hoè - chủ biên (2000), Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo, quản lý, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo, quản lý
Tác giả: Vũ Đình Hoè - chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
15. Học viện Báo chí Tuyên truyền (2013), Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Báo chí trong quá trình toàn cầu hóa: Cơ hội, thách thức và triển vọng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Báo chí trong quá trình toàn cầu hóa: Cơ hội, thách thức và triển vọng”
Tác giả: Học viện Báo chí Tuyên truyền
Năm: 2013
16. Vũ Hồng Huy (2012), Một số giải pháp nhằm phát huy sức mạnh của thông tin đại chúng trong thực thi quyền lực chính trị của nhân dân ở nước ta hiện nay, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông số 5/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm phát huy sức mạnh của thông tin đại chúng trong thực thi quyền lực chính trị của nhân dân ở nước ta hiện nay
Tác giả: Vũ Hồng Huy
Năm: 2012
17. Nguyễn Hoàng Quỳnh Hương (2011), Tương tác giữa tòa soạn và công chúng báo mạng điện tử”, luận văn thạc sỹ báo chí, Học viên Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương tác giữa tòa soạn và công chúng báo mạng điện tử”
Tác giả: Nguyễn Hoàng Quỳnh Hương
Năm: 2011
18. Phạm Thành Hưng (2007) Thuật ngữ Báo chí - Truyền thông, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Báo chí - Truyền thông
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
19. Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và ngữ tiếng Việt, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
21. TS. Nguyễn Thế Kỷ (2011), Báo điện tử, trang tin điện tử và mạng xã hội: Định hướng phát triển và quản lý, Tạp chí Cộng sản số 12/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo điện tử, trang tin điện tử và mạng xã hội: Định hướng phát triển và quản lý
Tác giả: TS. Nguyễn Thế Kỷ
Năm: 2011

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w