1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh vov giao thông (khảo sát chương trình quà tặng âm nhạc và giờ cao điểm, từ tháng 1 đến tháng 62013)

103 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 737,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trước đến nay, đã có những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ phát thanh, về các yếu tố ngôn ngữ trên phát thanh, nhưng chưa có công trình nào khảo sát cụ thể về việc sử dụng ngôn ngữ

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐINH PHƯƠNG OANH

SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DẪN CHƯƠNG TRÌNH

TRÊN KÊNH VOV GIAO THÔNG (Khảo sát chương trình Quà tặng âm nhạc và Giờ cao điểm,

từ tháng 1 đến tháng 6/2013)

Ngành: Báo chí học

Mã số: 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Hoàng Anh

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi trên cơ sở tiếp cận vấn đề một cách hệ thống cả về lý luận và thực tiễn, có kế thừa thành tựu của những nhà lý luận báo chí đi trước và tham khảo tri thức của các ngành khoa học xã hội liền kề

Hà Nội, tháng 6 năm 2014

Tác giả

Đinh Phương Oanh

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS,TS Hoàng Anh - một người thầy đáng kính, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn Được làm việc với thầy và được học hỏi tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc của thầy là một vinh dự cho tôi

Xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Phát thanh - Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn

Xin được cảm ơn ban lãnh đạo Trường Cao đẳng Phát thanh – Truyền hình I, ban lãnh đạo và các phóng viên, phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát tư liệu để hoàn thành luận văn

Cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân, những người luôn bên tôi trong suốt quá trình học Sau đại học và nghiên cứu luận văn

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRÊN KÊNH VOV GIAO THÔNG 9

1.1 Những khái niệm cơ bản 9 1.2 Ngôn ngữ sử dụng trong dẫn chương trình 14 1.3 Những yêu cầu đối với việc sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trên kênh VOV giao thông 17 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trực tiếp trên phát thanh 26

Chương 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DẪN

CHƯƠNG TRÌNH “QUÀ TẶNG ÂM NHẠC” VÀ “GIỜ CAO ĐIỂM TRÊN KÊNH VOV GIAO THÔNG 36

2.1 Chương trình Quà tặng âm nhạc và chương trình Giờ cao điểm trên

kênh VOV Giao thông 36 2.2 Các yếu tố ngôn ngữ sử dụng trong dẫn chương trình “Quà tặng âm nhạc” và “Giờ cao điểm” 43 2.3 Kỹ năng xử lý tình huống của người dẫn chương trình 54 2.4 Một số hạn chế trong sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình 58 2.5 Nguyên nhân của những hạn chế 61

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRÊN KÊNH VOV GIAO THÔNG HIỆN NAY 65

3.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của yếu tố ngôn ngữ trong dẫn chương trình 65 3.2 Có những cơ chế, chính sách phù hợp để nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ cho người dẫn chương trình 70 3.3 Có những hình thức tiếp nhận, tìm hiểu nhu cầu của công chúng về việc

sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình 72 3.4 Quan tâm và đáp ứng điều kiện cần thiết để người dẫn chương trình được phát huy khả năng ngôn ngữ của họ 73 3.5 Xây dựng chiến lược phát triển kênh VOV Giao thông nhằm đáp ứng nhu cầu của công chúng 75

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

TNVN: Tiếng nói Việt Nam

VOV GT Hệ phát thanh giao thông

VOV TV Kênh truyền hình của VOV

Trang 6

Bảng 1.1: Mức độ quan tâm của thính giả đối với các chương trình trên kênh

VOV Giao thông 19 Bảng 1.2: Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ của

người dẫn chương trình……….31

Bảng 2.1: Mức độ yêu mến của thính giả đối với những người dẫn chương của kênh VOV Giao thông 53 Bảng 2.2: Những yếu tố trong ngôn ngữ người dẫn chương trình đem lại ấn tượng cho thính giả 58 Bảng 2.3: Những hạn chế trong sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình Quà tặng âm nhạc và Giờ cao điểm 61

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, cùng với các phương tiện truyền thông đại chúng, phát thanh đã và đang thể hiện vai trò quan trọng và thiết thực của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống Sự vận động không ngừng theo hướng đi lên của đời sống và sự thay đổi về nhu cầu, thị hiếu, thói quen của công chúng báo chí đã đặt ra những yêu cầu, điều kiện đòi hỏi báo chí phải vận động để thích ứng

Một trong những ưu thế của phát thanh hiện đại là có tính tương tác cao

Để tạo nên tính tương tác cho phát thanh, chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của các biên tập viên, phát thanh viên và đặc biệt là người dẫn chương trình phát thanh Người dẫn chương trình có thể được coi là linh hồn của mỗi chương trình phát thanh Một chương trình phát thanh, nhất là phát thanh trực tiếp có thành công hay không phụ thuộc phần rất lớn vào khâu dẫn chương trình Ở các nước có nền phát thanh hiện đại, tiên tiến trên thế giới, công việc dẫn chương trình được coi là một khâu quan trọng và tên tuổi của những người dẫn nổi tiếng đã trở thành một sự đảm bảo cho sức hấp dẫn và thương hiệu của mỗi chương trình

Để thành công trong công việc, người dẫn chương trình phát thanh ngoài những tố chất của một nhà báo như khả năng phát hiện nhanh nhạy, sự ứng đối linh hoạt, bản lĩnh vững vàng thì người dẫn còn phải có khả năng sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt một cách chính xác nhất những suy nghĩ, cảm xúc bằng lời, đồng thời cũng cần có cả sự hài hước để làm tăng thêm phần sinh động, thú vị cho chương trình

Qua khảo sát các chương trình trên kênh VOV Giao thông, tác giả luận văn thấy rằng việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình đã đem lại rất nhiều thành công và hiệu quả tích cực cho các chương trình Tuy nhiên, bên

Trang 8

cạnh đó vẫn còn có những điểm hạn chế cần khắc phục để chương trình được hoàn thiện và phong phú hơn

Từ trước đến nay, đã có những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ phát thanh, về các yếu tố ngôn ngữ trên phát thanh, nhưng chưa có công trình nào khảo sát cụ thể về việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông Trong khi đó, những công trình như vậy có ý nghĩa rất thiết thực cả về lý luận và thực tiễn, nhất là với người làm báo phát thanh trong điều kiện hiện nay

Chính từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Sử dụng ngôn

trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông (Khảo sát chương trình Quà tặng âm nhạc và Giờ cao điểm từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2013) làm

đề tài luận văn thạc sĩ với mong muốn khảo sát, đánh giá một cách toàn diện

về cách sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông, phát hiện những thế mạnh cũng như những hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình Từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả của các chương trình trên kênh VOV Giao thông

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, chưa có tài liệu nào trực tiếp nghiên cứu về vấn đề sử

dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông Tuy nhiên

cũng đã có nhiều tài liệu, luận văn, luận án nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến vấn đề này

Từ năm 2000 trở về trước có rất ít tài liệu và luận văn, luận án nghiên cứu về ngôn ngữ trên phát thanh Hầu hết các cuốn sách nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ phát thanh nói riêng đều được xuất bản sau năm 2000 Tuy nhiên cũng có một số luận văn bước đầu nghiên cứu về ngôn ngữ phát thanh như:

Trang 9

Luận văn cử nhân Báo chí của Nguyễn Bích Đào - Khoa Báo chí, Phân

viện Báo chí và Tuyên truyền, Khảo sát bước đầu một số vấn đề ngôn ngữ

của văn bản phát thanh, năm 1994

Luận văn tốt nghiệp cử nhân báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên

truyền Hà Nội, của tác giả Vũ Thúy Bình đã đề cập đến vấn đề Từ nói đến

nghe – bản chất quy trình sáng tạo Radio, năm 1995

Những năm gần đây, đã xuất hiện các cuốn sách nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ phát thanh nói riêng Bên cạnh đó cũng có nhiều báo cáo khoa học, luận văn, luận án nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ phát thanh như:

Luận văn Thạc sĩ của Phan Thanh Hằng 2002 nghiên cứu về Phát

thanh trực tiếp trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam

Khóa luận Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2004 của

Phùng Huy Hào tìm hiểu về Kỹ năng dẫn chương trình phát thanh thời sự

Và gần đây nhất là luận án tiến sĩ của Trương Thị Kiên, Học viện Báo

chí và Tuyên truyền (2010) nghiên cứu về Lời nói trong phát thanh Việt Nam

hiện đại

Ngoài ra còn có những báo cáo khoa học và những bài viết trên các tạp chí xoay quanh vấn đề ngôn ngữ và ngôn ngữ người dẫn chương trình như:

Bài viết Hoạt động ngôn ngữ phát thanh và truyền hình từ cách nhìn

của tâm lý ngôn ngữ học, của tác giả Nguyễn Đức Tồn, đăng trên Tạp chí

Ngôn ngữ, số 9/1999

Ngôn ngữ dạng nói trên phát thanh và truyền hình, của Đình Cao đăng

trên Tạp chí Người làm báo năm 2001

Ngôn ngữ dạng nói trên phát thanh và truyền hình, của Đình Cao, Tạp

chí Người làm báo 2002

Trang 10

Một thảo luận về song giọng hay đa giọng trong phát thanh hiện đại,

của tác giả Vũ Quang Hào đăng trên Tạp chí nghiệp vụ phát thanh, số 6/2005

Ngôn từ phát thanh, của Đào Bích đăng trên Tạp chí Nghiệp vụ phát

Năm 2007, PGS.TS Hoàng Anh đã bảo vệ thành công đề tài khoa học,

Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt trên Đài tiếng nói Việt Nam

Trong Hội thảo khoa học của Đài tiếng nói Việt Nam năm 2006, tác giả

Đình Cao có bài tham luận Đôi điều góp bàn về ngôn ngữ báo Phát thanh

Năm 2007, Phạm Văn Tình có bài tham luận Những vấn đề ngôn ngữ

trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam, Tham luận tại Đài TNVN

Có thể thấy rằng, trong những năm gần đây vấn đề ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ trên báo Phát thanh nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu Báo chí quan tâm và đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau Trên cơ sở tiếp thu những công trình của các nhà nghiên cứu trước đó, người

viết đã lựa chọn đề tài “Sử dụng ngôn trong dẫn chương trình trên kênh

VOV Giao thông (Khảo sát chương trình Quà tặng âm nhạc và Giờ cao điểm từ tháng 1/2013 đến tháng 6/2013) với mong muốn bổ sung những tìm

hiểu mới về vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong người dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát một cách toàn diện và hệ thống về việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của nó

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên phát thanh

- Khảo sát thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình Quà tặng âm nhạc và chương trình Giờ cao điểm trên kênh VOV Giao thông

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông hiện nay

4 Đối tượngnghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề sử dụng ngôn ngữ của

người dẫn chương trình trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn thực hiện khảo sát chương trình Giờ cao điểm và Quà tặng

âm nhạc trên kênh VOV Giao thông, Đài TNVN

Thời gian khảo sát được giới hạn từ tháng 1/2013 đến tháng 6/2013

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Báo chí Đồng thời, luận văn nghiên cứu trên cơ sở hệ thống lý

Trang 12

luận về báo chí Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng kế thừa một số quan điểm lý thuyết về ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ báo chí cũng như ngôn ngữ báo phát thanh nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu: nghiên cứu một số sách, báo, tài liệu

về ngôn ngữ học, ngôn ngữ báo chí, báo phát thanh, ngôn ngữ báo phát thanh

để tìm kiếm những kiến thức lý thuyết phục vụ cho mục đích nghiên cứu của

đề tài Ngoài ra, chúng tôi đọc văn bản dẫn để lấy thêm các cứ liệu cần thiết cho việc phân tích cách thức sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV giao thông

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tổng số chương trình được chúng

tôi chọn khảo sát là 360 chương trình phát sóng, khảo sát trong vòng 6 tháng

từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2013

Trên cơ sở các nguồn tư liệu đã có, chúng tôi phân tích, đánh giá cách thức sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong dẫn chương trình, từ đó, đi đến những kết luận mang tính khoa học

- Phương pháp thống kê: Thống kê các lớp từ, thống kê số lượng câu,

số lượng giọng nói, thống kê các dạng câu, tốc độ, trường độ các tiếng trong câu

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp một số nhà báo, người

dẫn chương trình để tìm hiểu cách thức sáng tạo, sử dụng ngôn ngữ của họ

- Phương pháp điều tra ý kiến của nhà báo và thính giả bằng phiếu

hỏi: Luận văn sử dụng phiếu thăm dò ý kiến các PTV, PV, BTV để biết ý

kiến của họ Ngoài ra, chúng tôi sẽ thực hiện phát phiếu tham khảo ý kiến thính giả để thu nhận những đánh giá cũng như nhu cầu của thính giả về sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình Quà tặng âm nhạc và chương trình Giờ cao điểm trên kênh VOV Giao thông

Trang 13

6 Cái mới của luận văn

Luận văn lần đầu tiên khảo sát một cách toàn diện và hệ thống về việc

sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông từ góc

độ báo chí học và góc độ ngôn ngữ học Đồng thời luận văn đề xuất một số giải pháp có căn cứ xác đáng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc

sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận:

Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trực tiếp trên sóng phát thanh Từ đó bước đầu tạo dựng cơ sở và phương pháp cho việc khảo sát, đánh giá việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình trực tiếp nói chung và ngôn ngữ của người dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông nói riêng

7.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Về mặt thực tiễn, luận văn hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo cho đội ngũ

PV, BTV, PTV, người dẫn chương trình, các nhà quản lý ở các Đài phát thanh, từ đó giúp các nhà làm phát thanh phát huy những thế mạnh và khắc phục những hạn chế để sáng tạo ra các chương trình phát thanh đạt hiệu quả cao nhất

Ngoài ra, qua việc nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình cũng giúp các nhà truyền thông có thêm những kinh nghiệm giao tiếp với công chúng

Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập báo phát thanh ở bậc Đại học và sau Đại học

Trang 14

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các

công trình của tác giả có liên quan đến đề tài và Phụ lục, các nội dung chủ

yếu của luận văn được thể hiện trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về việc sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương

trình trên kênh VOV Giao thông

Chương 2: Thực trạng sử dụng ngôn ngữ trong dẫn chương trình Quà

tặng âm nhạc và chương trình Giờ cao điểm trên kênh VOV Giao thông

Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ

trong dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông

Trang 15

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG DẪN CHƯƠNG

TRÌNH TRÊN KÊNH VOV GIAO THÔNG 1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Ngôn ngữ

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “Ngôn ngữ là hệ thống

những âm, những từ và những qui tắc kết hợp chung mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau” [31, tr.666]

Một số nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước cũng đưa ra những quan niệm khác nhau về ngôn ngữ

Trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương F.de Saussure – người

được giới ngôn ngữ học trên toàn thế giới công nhận là người đầu tiên đưa ra

quan niệm mang tính khoa học về ngôn ngữ cho rằng: “Ngôn ngữ là một hệ

thống dấu hiệu biểu hiện những ý niệm Nó vừa là một sản phẩm xã hội của năng lực ngôn ngữ, vừa là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này”

[52,tr.44]

Tiếp thu những quan điểm về ngôn ngữ của F.de Saussure, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đưa ra những cách hiểu cụ thể hơn về ngôn ngữ

Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn

Như Ý chủ biên, tác giả cho rằng: “Ngôn ngữ là một trong những hệ thống kí

hiệu độc đáo, là phương tiện cơ bản và quan trọng nhất của việc giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng người và cũng là phương tiện phát triển của tư duy, truyền đạt các truyền thống văn hóa- lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác” [47, tr.153]

Cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt định nghĩa: “Ngôn ngữ là một

hệ thống những đơn vị vật chất và những quy tắc hoạt động của chúng, dùng

Trang 16

làm công cụ giao tiếp của con người, được phản ánh trong ý thức của cộng đồng và trừu tượng hóa khỏi bất kì một tư tưởng, cảm xúc và ước muốn cụ thể nào” [11, tr.17]

Còn trong lời nói đầu cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, các tác giả khẳng

định: “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ

bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác” [23, tr.5]

Tổng hợp các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước

về ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về ngôn ngữ như sau:

Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt gồm những âm, những từ được kết hợp với nhau theo những quy tắc nhất định, được cộng đồng xã hội thừa nhận, dùng làm phương tiện thể hiện tư duy và giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng Ngoài ra, ngôn ngữ còn là phương tiện để truyền đạt các giá trị văn hóa – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác

1.1.2 Ngôn ngữ phát thanh

Trong bài “Nghệ thuật phát thanh bắt đầu từ đâu?” trên Tạp chí Phát

thanh truyền hình Liên Xô – 1963, Len-nac Me-ri viết “Nghiệp vụ báo phát thanh, đó trước hết là môn khoa học về nghệ thuật tác động đến con người bằng sinh ngữ” Đó là thứ ngôn ngữ của riêng phát thanh

Có thể nói rằng, ngôn ngữ phát thanh bên cạnh những chuẩn mực chung với các loại hình báo chí thì nó còn có những chuẩn mực riêng

Phần lớn các nhà nghiên cứu phát thanh đều khẳng định ngôn ngữ phát thanh là dạng ngôn ngữ nói Tuy nhiên, trong phát thanh, người nghe hoàn toàn không có được một hình ảnh nào của người nói Do đó có thể nói, ngôn ngữ phát thanh không phải là ngôn ngữ hội thoại mà là một thứ ngôn ngữ độc thoại đặc biệt Đó là sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Trang 17

Thuộc tính cơ bản nhất của ngôn ngữ phát thanh là "tiếng", nghĩa là nó sinh ra là để "nghe" Hiệu quả đích thực được thẩm định qua thính giác Như thế không có nghĩa là nó chỉ phụ thuộc vào chất lượng âm thanh của con chữ Văn bản phát thanh trước khi trở thành "tiếng" để vào tai người nghe, bắt buộc nó phải có cấu trúc câu, trật tự từ ngữ theo qui luật tiếp nhận của thính giác Đối với báo in, người đọc có thể hoàn toàn chủ động khi tiếp nhận nội dung thông tin theo năng lực chủ quan, họ có thể đọc nhanh, đọc chậm, đọc lại… tùy theo năng lực và sở thích Đối với truyền hình, công chúng được tiếp cận với thông tin bằng cả thị giác và thính giác… Còn đối với phát thanh, công chúng tiếp nhận thông tin bằng âm thanh Chính vì thế, trong ngôn ngữ

phát thanh khi "nội dung đã được trải ra trên mặt giấy" thì đó mới chỉ là một nửa công đoạn sáng tạo ngôn từ Phần văn bản trên mặt giấy mới chỉ là cái

"xác chữ", nhiệm vụ của phát thanh là phải thổi hồn cho những con chữ kia bay lên khỏi trang viết để nó tung tẩy, biết khóc cười mà đi tới thính giả, biến đổi văn bản viết thành "tiếng" Phần "tiếng" ấy mới là phẩm chất đích thực của ngôn ngữ phát thanh Vì thế, bản chất của ngôn ngữ phát thanh là loại từ ngữ để "nghe", không chỉ để "xem"

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ phát thanh Nga Xô viết đã tổng kết năm đặc tính của ngôn ngữ phát thanh:

Tính âm thanh lọc: Phương thức tác động của phát thanh là sử dụng

âm thanh tổng hợp (bao gồm: lời nói, tiếng động, âm nhạc) Ngôn ngữ phát thanh muốn đến với thính giả thì không chỉ có lời nói mà còn có tiếng động

và âm nhạc Sự phối tác tinh tế các yếu tố: lời nói sinh động, âm nhạc chọn lọc và tiếng động phong phú đã giúp báo phát thanh dựng nên một thế giới sinh động, chân thực và gần gũi với cuộc sống đời thường

Tính giao tiếp đơn dạng: Ngôn ngữ phát thanh là một thứ ngôn ngữ

độc thoại đặc biệt, nó không phải thứ ngôn ngữ chung chung mà hướng tới

Trang 18

từng thính giả cụ thể Chính vì thế ngôn từ sử dụng trong đó phải thỏa mãn sự tiếp nhận của hàng triệu thính giả, nhưng mỗi người trong số họ vẫn nghĩ là phát thanh viên đang nói với một mình họ

Tính khoảng cách: Nếu như theo dõi truyền hình khán giả có thể nhìn

thấy các biên tập viên thì trong phát thanh thính giả không nhìn thấy phát thanh viên do đó các yếu tố phi ngôn ngữ vốn rất cần trong giao tiếp như cử

chỉ, nét mặt… đều không được sử dụng “Người chuẩn bị văn bản phát thanh

chỉ còn một con đường tối ưu là tìm kiếm những phương tiện đặc biệt vốn nằm ngay trong nguồn âm thanh tự nhiên của radio” [25, tr197]

Tính tức thời: Thính giả tiếp nhận ngôn ngữ phát thanh ngay trong thời

điểm phát sóng Chính vì vậy nó đòi hỏi phải có sự tiết kiệm phương tiện thể hiện, hay nói cách khác ngôn ngữ trong phát thanh phải ngắn gọn và hiệu quả

Tính phổ cập: ngôn ngữ phát thanh là ngôn ngữ dùng cho rất nhiều

thành phần cư dân khác nhau về lứa tuổi, trình độ, văn hóa, thẩm mĩ… Chính

vì thế nó phải là ngôn ngữ có tính phổ cập giúp cho người nghe có thể tiếp nhận và lưu giữ thông tin

1.1.3 Người dẫn chương trình

Người dẫn chương trình, hay chúng ta quen gọi là MC, là thuật ngữ

viết tắt của cụm từ Master of Ceremonies

Thuật ngữ Master of Ceremonies khởi nguồn từ Giáo hội Công giáo

Nó chỉ người điều hành các buổi lễ, người chủ tế của nhà thờ Đó là người rất quan trọng của buổi lễ tế, chịu trách nhiệm tiến hành chính xác và suôn sẻ các buổi lễ và xây dựng nghi thức liên quan Đây đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm điều phối an ninh trong khi buổi cầu nguyện diễn ra

Vào thập niên 70, 80 của thế kỉ XX, thuật ngữ MC có liên hệ với âm nhạc hip-hop, và là từ để chỉ người điều chỉnh nhịp điệu bài nhạc mà bây giờ thường được gọi là "rapper" Khi ấy, người ta còn coi MC là viết tắt của

Trang 19

những cụm từ như: microphone controller, mic checka, music commentator

và moves the crowd Và điều này đồng nghĩa với việc MC đảm nhiệm rất nhiều vai trò, họ vừa là người dẫn chương trình biểu diễn, vừa là người hướng dẫn một buổi lễ, một cuộc họp Ở một số quốc gia, MC còn có trách nhiệm biên tập chương trình và chính mình giới thiệu, dẫn dắt cho chương trình đó Thậm chí, trong quá khứ hoàng gia châu Âu, Masters of Ceremonies là người chịu trách nhiệm tiến hành các nghi thức trong các buổi lễ ngoại giao

Sau này, thuật ngữ MC được dùng để chỉ “người tổ chức sự kiện” Từ

điển Wikipedia – Bách khoa toàn thư mở định nghĩa: “Người dẫn chương

trình, hay còn gọi là em-xi (MC) do gọi tắt từ tiếng Anh: Master of Ceremonies, theo nghĩa thông thường được hiểu là người hướng dẫn quần chúng trong một sự kiện Còn hiểu theo đúng nghĩa của từ MC thì nó phải

là :"Bậc thầy của nghệ thuật giao tiếp" [53] Như vậy có nghĩa là, người dẫn

chương trình không chỉ là người hướng dẫn tổ chức một sự kiện hoặc một cuộc họp nào đó mà còn là một “nghệ sỹ” dẫn dắt, cổ vũ, truyền tải các thông điệp, thu hút công chúng quan tâm đến sự kiện đó

Ở Việt Nam, thuật ngữ MC là thuật ngữ du nhập, ban đầu được sử dụng nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, dùng để chỉ Người dẫn chương trình truyền hình Sau đó dưới ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng, thuật ngữ này đã được sử dụng rộng rãi, hiện nay, nó được hiểu

là chỉ: Người dẫn chương trình nói chung Chúng ta có thể thấy, trong bất kỳ

sự kiện nào, từ hôn sự cho tới các buổi trình diễn ca nhạc; từ cuộc giới thiệu sản phẩm mới đến cuộc trao giải…đều xuất hiện người dẫn chương trình và được giới thiệu là MC Thuật ngữ này ngày càng có xu hướng được mở rộng

ra và được xã hội chấp nhận Như vậy, sẽ xảy ra một thực tế là, thuật ngữ MC không còn nằm trong giới hạn của nghĩa ban đầu khi được đưa vào Việt Nam

Trang 20

nữa mà nó đã được dùng để định danh cho hầu hết những người dẫn chương trình, giới thiệu chương trình ở nhiều lĩnh vực

Một người dẫn chương trình lý tưởng là người vừa có khả năng tổ chức, dẫn dắt sự kiện, chương trình, vừa có khiếu hài hước, có khả năng suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo để có thể xử lý kịp những tình huống bất ngờ Sức hấp dẫn và thành công của chương trình phụ thuộc rất lớn vào vai trò của người dẫn chương trình

1.2 Ngôn ngữ sử dụng trong dẫn chương trình

1.2.1 Ngôn ngữ sử dụng trong dẫn chương trình là ngôn ngữ nói (khẩu ngữ)

Ngôn ngữ nói tồn tại dưới dạng thức âm thanh và ngữ điệu Tuy nhiên, ngôn ngữ nói ở đây không phải là ngôn ngữ hội thoại thông thường Ngôn

ngữ nói trong dẫn chương trình trên phát thanh thuộc phong cách khẩu ngữ

văn hóa Tức là nó có sự kết hợp giữa yếu tố tự nhiên, sống động, nhiều màu

sắc biểu cảm, chủ quan, cụ thể của khẩu ngữ đời thường với những yếu tố mang tính chuẩn mực, chọn lọc, gọt rũa của ngôn ngữ truyền thông

1.2.2 Ngôn ngữ trong dẫn chương trình là sự kết hợp giữa ngôn ngữ văn bản (chuẩn bị trước) và ngôn ngữ ứng khẩu

Khi thực hiện các chương trình, người dẫn chương trình luôn luôn phải

có sự chuẩn bị kĩ lưỡng về mặt nội dung bằng văn bản cụ thể Tuy nhiên trong quá trình dẫn, người dẫn phải làm sao để biến những ngôn ngữ đã được chuẩn

bị trước đó thành ngôn nói sinh động, tự nhiên Hay nói cách khác người dẫn

chương trình “phải biết chuẩn bị nội dung và cách thức giao tiếp với khán

giả, biết biến văn bản - cái đã chuẩn bị trước, dù ngắn dù dài, thành ngôn bản, thành lối nói tự nhiên, lôi cuốn người nghe” [32, tr.83] Chính vì thế

người dẫn chương trình phải biết lựa chọn, sắp đặt các phương tiện ngôn ngữ sao cho phù hợp với hình thức nói

Trang 21

Trong dẫn chương trình, đặc biệt là dẫn chương trình trực tiếp, không phải lúc nào người dẫn cũng nói theo kịch bản đã được chuẩn bị trước mà họ còn phải xử lý nhiều tình huống phát sinh trong quá trình giao tiếp Ngôn ngữ ứng khẩu là ngôn ngữ phát sinh trong những tình huống ngoài kịch bản, không được dữ liệu trước Việc sử dụng ngôn ngữ ứng khẩu đòi hỏi người dẫn phải hết sức linh hoạt trong quá trình dẫn Người dẫn phải kết hợp được một cách khéo léo giữa kịch bản đã được chuẩn bị và những tình huống phát sinh

để đảm bảo các cuộc đối thoại vẫn đi đúng hướng của chương trình Dù là ngôn ngữ không được chuẩn bị trước nhưng người dẫn chương trình vẫn phải đảm bảo được tính chuẩn mực, đứng đắn, nghiêm túc, không được phép suồng sã, tùy tiện và thông tục

Sự xuất hiện của ngôn ngữ ứng khẩu trong dẫn chương trình sẽ góp phần làm cho chương trình thêm sinh động, tự nhiên và hấp dẫn Nó thể hiện phong cách, cũng như khả năng sáng tạo của người dẫn chương trình

1.2.3 Ngôn ngữ giàu các yếu tố biểu cảm

Ngôn ngữ sử dụng trong dẫn chương trình sử dụng rất nhiều ngôn ngữ

đối thoại Người dẫn chương trình luôn luôn phải chủ động dẫn dắt, khuyến khích những người tham gia bày tỏ ý kiến, quan điểm, suy nghĩ của mình Chính vì thế các yếu tố biểu cảm được sử dụng khá phổ biến

Trong dẫn chương trình người dẫn sử dụng nhiều tình thái từ với các

chức năng khác nhau Chẳng hạn như các tình thái từ thể hiện sự nghi vấn: à,

ư, nhỉ, nhé…, các tình thái từ hô đáp: ơi, ạ, vâng, dạ, ừ…, hoặc các tình thái từ

biểu thị cảm xúc như: a, ôi, ồ… Sự xuất hiện với tầm suất cao của các tình

thái từ làm tăng sắc thái biểu cảm cho ngôn ngữ trong dẫn chương trình

Ngoài ra người dẫn chương trình có thể vận dụng các phương tiện ngữ

âm để tạo nên ngữ điệu và âm sắc tạo tính biểu cảm cho giọng nói Ngữ điệu

là linh hồn của ngôn ngữ, là phần tinh tế nhất trong cách biểu hiện ngôn từ

Trang 22

Trong ngôn ngữ nói, sự thay đổi về ý nghĩa và về cảm xúc phụ thuộc nhiều vào ngữ điệu Lời nói phát ra cao hay thấp, nhanh hay chậm, liên tục hay ngắt quãng, nhấn mạnh hay lướt nhẹ… là những đường nét ngữ điệu khác nhau Ngữ điệu tạo ra sự diễn đạt tinh tế, đa dạng của tình cảm, những ý nghĩ và tâm trạng

1.2.4 Ngôn ngữ thân thiện và hài hước

Thân thiện là yếu tố không thể thiếu đối với ngôn ngữ trên phát thanh Đặc biệt trong những chương trình phát thanh có tính tương tác cao thì sự thân thiện là một yêu cầu quan trọng Chẳng hạn như trong chương trình Quà tặng âm nhạc, người dẫn chương trình có vai trò như một cầu nối cảm xúc của thính giả Thính giả đến với chương trình để chia sẻ những cảm xúc, tâm sự, những câu chuyện mang tính riêng tư… Ngôn ngữ thân thiện giúp người dẫn chương trình có thể dẫn dắt thính giả tham gia đễ dàng và tự tin khi bộc bạch những tâm sự của mình

Sự xuất hiện của các yếu tố hài hước cũng góp phần làm tăng sự thân thiện trong các cuộc trò chuyện giữa người dẫn chương trình và thính giả Đồng thời các yếu tố hài hước cũng góp phần làm cho chương trình bớt đi

sự tẻ nhạt, căng thẳng, giúp thính giả tự tin và chủ động hơn trong các cuộc trò chuyện

1.2.5 Có chỗ bị ngắt quãng, không liền mạch

Khi ứng khẩu, người dẫn chương trình không thể nói trôi chảy như trong hoàn cảnh được chuẩn bị trước Anh ta vừa nói, vừa tư duy, vì thế sự vấp váp, ngắt quãng là rất khó tránh khỏi Đặc biệt với những chương trình trực tiếp đòi hỏi người dẫn chương trình phải liên tục xử lý thông tin như

chương trình Giờ cao điểm, thì hiện tượng này càng phổ biến

Tuy nhiên, mọi thứ đều có giới hạn; nếu sự ngắt quãng diễn ra thường xuyên và với độ lớn vượt quá mức cho phép về thời gian, chắc

Trang 23

chắn nó sẽ làm gián đoạn quá trình tiếp nhận thông tin gây khó chịu cho người nghe Vì thế, người dẫn chương trình cần thường xuyên rèn luyện

kỹ năng nói để hạn chế tới mức thấp nhất những va vấp không đáng có trong mọi tình huống

1.3 Những yêu cầu đối với việc sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trên kênh VOV Giao thông

1.3.1 Đặc điểm của kênh VOV Giao thông

Ra đời vào tháng 5/2009, Kênh VOV Giao thông Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam được xem là kênh phát thanh giao thông đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam Đến nay, sau gần 5 năm đi vào hoạt động, kênh VOV Giao thông Fm 91Mhz đã trở thành một người bạn đồng hành thân thiết và đáng tin cậy của thính giả thủ đô khi tham gia giao thông cũng như có công trong việc đem đến một luồng gió mới cho làn sóng phát thanh quốc gia

Với thời lượng phát sóng trực tiếp mỗi ngày lên tới 20,5 tiếng cùng sự

hỗ trợ của hàng trăm camera, hàng trăm cộng tác viên, hàng nghìn thính giả tham gia đưa tin, kênh VOV Giao thông đã và đang đáp ứng được những nhu cầu thông tin về giao thông cho thính giả Toàn cảnh về vấn đề giao thông, những thông tin nhanh chóng, kịp thời về tình trạng giao thông trên các tuyến đường, những chỉ dẫn về giải pháp lưu thông tối ưu cho các phương tiện…được truyền trực tiếp từ hiện trường qua sóng phát thanh

Không những thế VOV Giao thông còn là địa chỉ tin cậy để thính giả cập nhật thông tin về thời tiết, tin tức chính trị, kinh tế, xã hội, thể thao, văn hoá và đặc biệt là mang đến những khoảng thời gian thư giãn với các chương trình giải trí như trò chơi, âm nhạc

Điều đặc biệt nhất của kênh VOV Giao thông là phát thanh trực tiếp với khung chương trình mở Chính vì thế bất cứ thời điểm nào trong ngày, các thông tin nóng về giao thông đều có thể chuyển đến thính giả ngay lập tức

Trang 24

Hầu hết các lái xe khi được hỏi về tiện ích khi có chương trình này đều cho biết: Với thời lượng phát sóng trực tiếp liên tục trong ngày, VOV Giao thông cập nhật nhanh và kịp thời nhất những thông tin về tình trạng giao thông và thời tiết trên các tuyến đường, những cảnh báo khả năng tai nạn, những chỉ dẫn về giải pháp lưu thông tối ưu cho các phương tiện… Điều này giúp người lái xe có những chuẩn bị trước cho tuyến đường mình sắp qua hoặc tránh được những rủi ro do ùn tắc và tai nạn

Không chỉ đồng tình ủng hộ, rất nhiều thính giả của chương trình đều

tỏ ý sẵn sàng trở thành cộng tác viên cho Kênh VOV Giao thông Qua một thời gian ngắn lên sóng, kênh phát thanh này đã chứng tỏ được tính mở và tương tác qua những con số thể hiện sự quan tâm cao độ của thính giả Tại thời điểm hiện tại, có khoảng 3000 cuộc gọi trong các khung giờ cao điểm mỗi ngày (trong đó 1600 ở Hà Nội và 1400 ở TP Hồ Chí Minh) và trên 10.000 tin nhắn, khoảng 15.000 phút điện thoại yêu cầu âm nhạc mỗi ngày đã thể hiện rõ mức độ quan tâm của bạn nghe VOV Giao thông Có kết quả đó là

sự tương tác thông tin nhiều chiều, nhờ lực lượng cộng tác viên, phóng viên, cảnh sát giao thông, đặc biệt là nhờ chính người tham gia giao thông trên các tuyến phố Bởi vậy mà các thông tin được chuyển tải liên tục trên VOV Giao thông và được chuyển đến thính giả thông qua hệ thống radio của Đài Tiếng nói Việt Nam

Hiện nay, kênh VOV giao thông có rất nhiều chương trình thực tế bổ ích, được đông đảo thính giả quan tâm, ủng hộ như: Giờ cao điểm, Quà tặng

âm nhạc…

Khảo sát ý về mức độ quan tâm của thính giả đối với các chương trình trên kênh VOV Giao thông chúng tôi thấy rất nhiều thính giả dành sự quan tâm cho hai chương trình Giờ cao điểm và Quà tặng âm nhạc

Trang 25

Bảng 1.1: Mức độ quan tâm của thính giả đối với các chương trình trên

kênh VOV Giao thông

6 Giao thông đô thị 34/346 9,8

7 Giờ cao điểm 164/346 47,4

13 Chương trình khác (Đường tin) 10/346 2,9

1.3.2 Những yêu cầu trong việc sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình phát thanh trực tiếp có tính tương tác cao

1.3.2.1 Sử dụng ngôn ngữ đời thường gần gũi với người nghe

Trang 26

VOV Giao thông là kênh chuyên biệt về giao thông với nội dung chủ đạo là những thông tin và chỉ dẫn giao thông Việc chuyển tải những thông tin giao thông đến với thính giả đòi hỏi người dẫn chương trình phải có những linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ như:

Người dẫn chương trình phải dùng từ dễ hiểu, dễ nghe, gần gũi với số đông, nhưng tuyệt đối không sử dụng những từ thông tục hay tiếng lóng Bởi

ngôn ngữ phát thanh “như đời sống nhưng phải cao hơn đời sống” Nhiều

chương trình trên kênh VOV Giao thông đã trở thành nơi sẻ chia những vui

buồn và gửi gắm những thông điệp cảm xúc của thính giả như Quà tặng âm

nhạc, 365 ngày hạnh phúc… Ngôn ngữ người dẫn chương trình sử dụng trong

các chương trình này hầu hết là ngôn ngữ thân mật, gần gũi, đời thường

Bên cạnh đó các thuật ngữ về giao thông cần được các MC nắm bắt và

sử dụng thống nhất Đối tượng nghe VOV Giao thông chủ yếu là công chúng thành thị Họ là những người có trình độ và có sự trải nghiệm Thêm vào đó, nội dung thông tin của các chương trình trên kênh VOV Giao thông phần lớn

là những thông tin chỉ dẫn về giao thông Do đó, người dẫn chương trình phải

có sự am hiểu về các thành phố, các tuyến đường, tuyến phố mới có thể cung cấp thông tin tới thính giả một cách khoa học và chính xác

Trong khi dẫn các chương trình có nội dung chỉ dẫn về giao thông, người dẫn chương trình cần tránh những sự mô tả cường điệu làm cho người nghe cảm thấy hoang mang về tình hình giao thông và nảy sinh tâm lý bi quan, chán nản hoặc gia tăng bức xúc Thay vào đó, cần lựa chọn những từ đủ

để người nghe nắm bắt được thông tin, tự chủ động lộ trình, đồng thời chia sẻ một cách chân thành với khó khăn của người tham gia giao thông, cho họ thấy rằng ùn tắc là điều không tránh khỏi do sự tác động của những yếu tố khách quan lẫn chủ quan, từ đó biết cách ứng xử phù hợp hơn trong những tình huống tương tự Khi giao thông yên ả, MC có thể đọc đầy đủ các thành phần

Trang 27

của tin như: người cung cấp (là phóng viên, cộng tác viên, số điện thoại thính giả), nội dung tin, có thể diễn đạt khoan thai và bình luận mở rộng Nhưng khi nhịp độ giao thông khẩn trương, nhiều điểm ùn tắc, nhiều sự cố thì người dẫn cần biết phân loại nhanh và tóm lược tin để tiết kiệm thời gian và giúp người nghe tiện theo dõi Nên thông báo ngắn gọn từng nhóm tin: những đường nào đang tắc, tắc từ đoạn nào tới đoạn nào; những đường nào có mật độ phương tiện đông, những đường nào thông thoáng, chỉ cần liệt kê danh sách tên đường và giới hạn đoạn đường, lược bỏ bớt thành phần người cung cấp thông tin, bỏ mô tả dài dòng, không bình luận

1.3.2.2 Sử dụng ngôn ngữ mang phong cách đối thoại

Phát thanh tương tác có thể hiểu là hình thức tiếp nhận và trao đổi thông tin tích cực, đa chiều Ở đó, thính giả và nguồn phát có thể trao đổi thông tin với nhau thường xuyên trong quá trình chương trình được thực hiện Thông tin không chỉ được chuyển đi từ nguồn phát tới người nghe mà còn được thực hiện với chiều ngược lại

VOV Giao thông là kênh phát thanh thực tế có tính mở và tính tương tác cao Hầu hết các chương trình trên kênh VOV Giao thông đều là các chương trình trực tiếp có sự tham gia của nhiều người tạo thành ê kíp Chính

vì thế ngôn ngữ sử dụng trong các chương trình trên kênh VOV Giao thông hầu hết là ngôn ngữ nói và đối thoại giữa những người tham gia trong chương trình: người dẫn, phóng viên hiện trường, thính giả… Trong các

chương trình như Quà tặng âm nhạc, 365 ngày hạnh phúc, Thức đêm cùng

bạn ngôn ngữ hội thoại được ưu tiên sử dụng Các dạng câu chào hỏi, câu

đưa đẩy, câu cảm thán, câu tỉnh lược, câu đơn được thường xuyên sử dụng, chiếm khoảng 70 – 80%

1.3.2.3 Sử dụng ngôn ngữ mang tính chuẩn quốc gia

Trang 28

Tính chuẩn trong ngôn ngữ của người dẫn chương trình trước hết là ngôn ngữ đó được nói đúng văn phạm tiếng Việt, chuẩn trong cách thể hiện: phát âm chuẩn, sử dụng ngữ điệu phù hợp với ngữ cảnh

- Phát âm chuẩn

Chuẩn phát âm tiếng Việt được thể hiện đồng thời cả ở 2 khía cạnh là vần và thanh điệu Nước ta có nhiều dân tộc sinh sống, phát âm theo vùng miền cũng rất khác nhau, hiện tượng phương ngữ là rất phổ biến Vì thế chuẩn

từ vựng là yêu cầu cần nhấn mạnh đối với văn bản của các chương trình đó Ngôn ngữ văn bản chuẩn mới tạo được cách thể hiện chuẩn

“d” của họ thực chất không phải là /z/ như ở miền Bắc mà là bán âm /j/), âm /-t/ như /-k/, và “-n” thành “-ng”, khiến “Việt Nam” biến thành “Diệc Nam” (chính xác là “/j/iệc Nam”), và “tiền” thì thành “tiềng” Nhược điểm “s-x”, “tr-ch”, và

“d-r-gi” do vậy chỉ là phần nhỏ so với lợi thế của tiếng Hà Nội Nên không phải

Trang 29

ngẫu nhiên mà cả đài phát thanh quốc gia (VOV), đài truyền hình quốc gia (VTV) và thông tấn xã quốc gia (VNA) đều lấy tiếng Hà Nội làm chuẩn ngôn ngữ và bổ sung thêm những phụ âm còn thiếu là “s”, “tr” và “r”

Hiện nay nhiều người dẫn chương trình có lỗi phát âm sai: "thanh hỏi" như "thanh huyền", "thanh ngã" nghe giống như "thanh sắc" Ngoài các lỗi phát âm sai do biến thể của phương ngữ, người dẫn chương trình nói quá nhanh dẫn đến nói nhịu, nói nuốt lời khiến người nghe khó có thể nắm bắt được Công chúng miền Bắc thường khó theo dõi một người dẫn chương trình phía Nam dẫn dắt và ngược lại, công chúng phía Nam thường cảm thấy khó khăn khi phải theo dõi chương trình do người dẫn chương trình ngoài Bắc đảm nhiệm Chính vì vậy, một cách đơn giản để hạn chế lỗi phát âm do dấu thanh điệu thì người dẫn chương trình cần phải làm chủ tốc độ nói của họ

- Ngữ điệu phù hợp

Trong tiếng Việt, nếu các yếu tố như âm chuẩn, thanh điệu, tốc độ nói hay cường độ nói chỉ là phần xác thì yếu tố ngữ điệu được coi là linh hồn của một ngôn ngữ Điều này càng đặc biệt quan trọng trong ngôn ngữ giao tiếp mang tính nghệ thuật, mà ở đây là giao tiếp trên phát thanh Vậy nên, yêu cầu đối với ngôn ngữ người dẫn chương trình phát thanh là phải sử dụng ngữ điệu

một cách chuẩn mực

Ngữ điệu là một hiện tượng ngôn điệu xảy ra ở bậc câu của ngôn ngữ, được tạo thành từ hoạt động của các đặc trưng vật lý cơ bản như cao độ, cường độ, trường độ…[46, tr.37]

Ngữ điệu rất quan trọng đối với người nghe, cùng với thanh điệu trong Tiếng Việt, ngữ điệu có giá trị biểu cảm đặc biệt Với đặc thù là tính tương tác cao, các chương trình trên kênh VOV Giao thông đòi hỏi người dẫn chương trình phải hiểu và sử dụng ngữ điệu đúng cách Điều này tạo ra hiệu quả cảm xúc tốt trong quá trình giao tiếp với thính giả Cùng một câu nói, nhưng ngữ

Trang 30

điệu khác nhau sẽ tạo ra hiệu quả cảm xúc khác nhau Nếu người dẫn chương trình sử dụng ngữ điệu nói không phù hợp có thể dẫn đến hiểu lầm, hoặc tạo cảm giác khó chịu cho người nghe

Trong Tiếng Việt ngữ điệu thường được dùng đồng thời với các tình

thái từ à, ư, nhỉ, nhé… để bộc lộ những cung bậc khác nhau của cảm xúc và

những mức độ thân mật khác nhau trong giao tiếp Chính vì vậy ngữ điệu trong phong cách nói thật sự huyền diệu và tinh tế Người dẫn chương trình làm chủ được kĩ năng sử dụng ngữ điệu sẽ tạo được dấu ấn riêng, mang lại cảm xúc cho mỗi chương trình

1.3.2.3 Ngôn ngữ phải đáp ứng các chuẩn mực văn hóa

Tính văn hóa trong ngôn ngữ của người dẫn chương trình thể hiện rõ nhất là qua cách ứng xử của người dẫn chương trình Ứng xử của người dẫn chương trình phải đảm bảo sự lịch sự theo văn hóa của người Việt Sự ứng xử lịch sự phải đảm bảo theo các chuẩn mực: lễ phép - đúng mực, khéo léo - khiêm nhường

Điều này thể hiện rõ nhất là trong cách xưng hô: xưng hô với thính giả, xưng hô với khách mời… Chính việc xưng hô đã cho thấy người dẫn chương trình có sự hiểu biết về văn hóa giao tiếp hay không

Trong văn hóa giao tiếp của người Việt, xưng hô lịch sự trước hết phải lễ phép Xưng hô lễ phép thể hiện sự tôn kính với những người tuổi cao, những người có vị thế xã hội, những người có uy tín trong tương quan với người nói Người dẫn chương trình phải biết tính toán, lựa chọn những

từ ngữ xưng hô trang trọng, hợp chuẩn phù hợp với vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mối quan hệ thân - sơ giữa người nói và người đối thoại

để xưng hô cho thích hợp Tuy nhiên, làm ra vẻ lễ phép quá sẽ trở thành thái độ khúm núm, thiếu tự tin, xưng hô có nguy cơ khuôn sáo, xơ cứng

Trang 31

làm mất đi tính thân thiện, sự tự nhiên, gần gũi Xưng hô lễ phép có chừng mực sẽ tạo nên được tính lịch sự tôn trọng trong giao tiếp

Lịch sự trong xưng hô còn thể hiện ở tính đúng mực Xưng hô đúng mực thể hiện ở cách thức sử dụng từ xưng hô phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và khoảng cách xã hội giữa người nói với người nghe Xưng hô chuẩn mực là cách xưng hô hợp chuẩn, tuân theo những ước định hoặc chế định

và có tính khuôn mẫu trong tiếng Việt Xưng hô đúng chuẩn mực trong giao tiếp tạo nên tính lịch sự thân thiện

Trong văn hóa người Việt, tính lịch sự trong xưng hô luôn hướng tới

một phương châm “xưng phải khiêm, hô phải tôn”, tức là khiêm nhường

trong xưng hô Khiêm nhường là khiêm tốn đối với mình và tôn vinh, đề cao người trong giao tiếp

Đối với phát thanh, lời nói trên sóng phát thanh là nói cho hàng triệu người nghe cùng một thời điểm, nhưng một nguyên tắc giao tiếp qua radio là bạn phải nói với họ như nói với một người thứ hai đặc biệt Mặc dù chương trình phát thanh là ngôn luận của một tổ chức, và hướng sự tác động đến đông đảo công chúng nhằm đạt được mục đích nhất định, nhưng về tâm lý tiếp nhận, thì các nghiên cứu đã cho thấy người nghe đến với radio như một phương tiện giao tiếp cá nhân, nhiều người bật đài lên là để tìm người đồng hành về mặt tinh thần, họ sẽ chú ý lắng nghe và dễ dàng tiếp nhận thông tin khi người nói coi

họ như một người bạn Vì vậy, người làm báo phát thanh phải xem hàng triệu thính giả là sự kết hợp của những cá nhân, và việc phát triển mối quan hệ cá nhân giữa biên tập với người nghe là rất quan trọng

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà tiếp biến văn hóa nói chung và tiếp biến văn hóa trong ngôn ngữ nói riêng trở thành xu thế chung của mọi nền văn hóa thì việc sử dụng ngôn ngữ trong phát thanh cũng phải vận động theo xu thế tiếp nhận những yếu tố ngôn ngữ mới do giao lưu quốc tế đem lại Nhưng việc tiếp

Trang 32

thu yếu tố ngôn ngữ mới trong quá trình tiếp biến văn hóa ngôn ngữ cũng cần phải có sự chọn lọc cẩn thận, bởi sứ mệnh của người làm truyền thông nói chung

và người làm phát thanh nói riêng chính là giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình trực tiếp trên phát thanh

1.4.1 Năng lực cá nhân

1.4.1.1 Chất giọng của người dẫn chương trình

Giọng nói chính là công cụ đầu tiên để truyền đạt ý tưởng, thông điệp của người dẫn chương trình Mỗi người có một âm sắc khác nhau, có người giọng cao, có người giọng trầm, có người có giọng nói chân phương, có người nói nhanh, có người lại nhấn nhá, thong thả trong việc nhả từng câu chữ… Dẫn chương trình là nghệ thuật lôi kéo bạn nghe đài đến với chương trình của mình, vì vậy, người dẫn không thể chỉ tái hiện bề mặt con chữ, mà phải thể hiện được vai trò sáng tạo trong cách dẫn Đa số người dẫn chương trình đều

có chất giọng hay (chất giọng thiên phú) Tuy nhiên điều quan trọng nhất về giọng nói khi nói trước công chúng là "tròn vành, rõ tiếng" Nếu nói không rõ tiếng, rõ lời thì thông tin muốn truyền đạt đến công chúng không được rõ ràng, đôi khi bị hiểu lầm Hơn nữa nói không rõ chữ, rõ tiếng thì sẽ kém truyền cảm Một số người tuy không có chất giọng thiên phú, nhưng thông qua quá trình rèn luyện, tiếp xúc nhiều với nghiệp vụ, nhờ vào kinh nghiệm, khi làm việc vẫn có thể để lại ấn tượng tốt cho thính giả Chính vì thế người dẫn chương trình phải thường xuyên rèn luyện giọng nói, cách nói trên sóng

Mà trước hết là phải luyện cho mình một giọng nói chuẩn, phát âm rõ ràng, tròn vành, rõ tiếng Hiện tượng nói nhịu, nói ngọng là không thể chấp nhận được đối với phát thanh viên nói chung và người dẫn chương trình nói riêng

1.4.1.2 Khả năng biểu cảm

Trang 33

Giọng nói chính là công cụ đầu tiên để truyền đạt ý tưởng, thông điệp của cả người dẫn phát thanh Một giọng nói chuẩn tiếng phổ thông, phát âm tròn vành, rõ tiếng, không bị ngọng hoặc quá đậm đặc tiếng địa phương, khoẻ khoắn là vũ khí, là gia tài của người dẫn phát thanh, truyền hình nói chung Tuy nhiên để tạo được cá tính riêng thì ngoài yêu cầu về giọng chuẩn, rõ ràng, mạch lạc, người dẫn chương trình phát thanh còn phải có sức truyền cảm, có khả năng tạo được sự tin cậy đối với công chúng

Một yêu cầu quan trọng đối với người dẫn chương trình phát thanh là phải tạo nên được bức tranh bằng âm thanh Trong tất cả các tác phẩm phát thanh thì yêu cầu phối âm là rất quan trọng Với người dẫn chương trình phát thanh, khó khăn của kẻ “độc diễn” sẽ trở thành cản ngại không thể vượt qua nếu không rèn luyện để có thể phối âm chỉ bằng chính giọng nói của mình Nếu trong một chương trình, từ đầu đến cuối người dẫn không thay đổi âm sắc của giọng nói thì sẽ khiến cho người nghe cảm thấy nhàm chán Một giọng nói rất biểu cảm nhưng không thay đổi cung bậc, sắc thái thì dễ gây ra cảm giác giả tạo, chán chường, mệt mỏi đối với người nghe

Muốn sử dụng tốt ngôn ngữ, trước hết, người dẫn chương trình phải

có vốn từ phong phú Vốn từ của người dẫn càng phong phú bao nhiêu, thì lời dẫn của họ càng linh hoạt, tự nhiên, và sinh động bấy nhiêu Khả năng

mở rộng vốn từ của người dẫn giúp họ dễ dàng hơn trong việc dẫn dắt và

xử lý tình huống bất ngờ, đồng thời tránh được sự trùng lặp trong lời dẫn

Trang 34

Khả năng sử dụng ngôn ngữ còn thể hiện ở khả năng vận dụng ngôn ngữ trong khi dẫn Người dẫn chương trình có vốn ngôn ngữ phong phú, nhưng họ vận dụng vốn ngôn ngữ của mình như thế nào thì lại phụ thuộc vào nghệ thuật sáng tạo ngôn từ của họ Chẳng hạn người dẫn chương trình có thể sử dụng các từ láy, các tình thái từ, thành ngữ, tục ngữ… để tạo nên sự sinh động cho lời dẫn

1.4.1.4 Khả năng giao tiếp

Khả năng giao tiếp là một yếu tố quan trọng trong năng lực cá nhân của người dẫn chương trình Giao tiếp tốt là chìa khóa dẫn đến thành công của người dẫn chương trình Người có khả năng giao tiếp tốt là người có thể diễn đạt được những điều mình đang suy nghĩ, cảm nhận hoặc mong muốn bằng những câu chữ ngắn gọn, dễ hiểu Đồng thời người có khả năng giao tiếp phải là người biết lắng nghe, cân nhắc và đặt những câu hỏi hợp lý Khả năng giao tiếp tốt sẽ là điều kiện quan trọng để người dẫn chương trình thành công với vai trò của mình

Một trong những xu hướng của phát thanh hiện đại là phát thanh có sự giao tiếp trực tiếp với người nghe, người dẫn chương trình phải tạo ra được những cuộc đối thoại lành mạnh, thẳng thắn, thân mật và bổ ích với người nghe Để làm được điều này cần phải có kỹ năng giao tiếp thật tốt, luôn cởi

mở, linh hoạt, uyển chuyển, xử lý tình huống thông minh Chẳng hạn như trong chương trình toạ đàm phát thanh trực tiếp, người đóng vai trò chủ toạ phải là người hiểu biết, bản lĩnh vững vàng, có sự nhạy cảm cao và khả năng ứng phó nhanh trước mọi tình huống Ngoài ra, khả năng ăn nói hoạt bát, lịch

sự, đôi khi pha chút hài hước, hóm hỉnh cũng rất cần thiết trong lúc làm chương trình

Trong giao tiếp với thính giả, người dẫn chương trình cần phải chú ý những điểm sau:

Trang 35

- Người dẫn phải thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối với người nghe, không được tỏ ra trịch thượng hay xúc phạm người nghe

- Thể hiện tình thân ái, coi thính giả như người bạn và giọng nói chứa đựng sự ấm áp và tự nhiên của tình bạn bè

- Thể hiện sự nhiệt tình muốn truyền đạt thông tin tới người nghe Sự nhiệt tình dễ lan toả và tự nó tạo ra sức lôi cuốn Khi người nói thể hiện nhiệt tình trong cách nói của mình sẽ thuyết phục được người nghe đây là những thông tin đáng nghe

1.4.1.5 Khả năng kiểm soát tâm lý

Yếu tố tự tin lại quyết định rất nhiều đến giọng nói, cách nói, ngôn ngữ lời dẫn… Có bản lĩnh, người dẫn sẽ tự tin ứng phó với mọi biến cố xảy ra, giúp họ giải quyết mọi khó khăn một cách thông minh, bình tĩnh Một phong cách dẫn cởi mở, cuốn hút, một người dẫn thông minh, hoạt khẩu, bản lĩnh sẽ gây được sự chú ý rất lớn, và chính họ sẽ là một phần thu hút thính giả Chính

sự tự tin sẽ tạo nên cá tính của người dẫn

1.4.1.6 Kiến thức xã hội và năng lực chuyên môn

Để có thể nói hay, người dẫn chương trình cần có những phương pháp nhất định trong nghệ thuật nói Để dẫn dắt tốt một chương trình, người dẫn chương trình cần có "kỹ năng dẫn chương trình" Đây chính là nền tảng của nghiệp vụ Không có kỹ năng dẫn chương trình, người dẫn chương trình sẽ bị

áp lực tâm lý đó là không tự tin, luôn có cảm giác mơ hồ tựa như đang đi trong sương mù vì không biết làm như thế đúng hay sai, không biết bắt đầu từ đâu, sáng tạo trên cơ sở nào và trong quá trình tác nghiệp vô tình phạm lỗi

Ngoài ra, người dẫn phải nắm vững hoàn cảnh dẫn, bởi vì mỗi chương trình có một cách dẫn riêng… Dẫn trong dạng chương trình trực tiếp ngoài hiện trường khác với dẫn trong chương trình trực tiếp tại Studio Dẫn trong chương trình dành cho người già khác với dẫn trong chương trình dành cho

Trang 36

phụ nữ, hay trẻ em Điều đó yêu cầu chính người dẫn chương trình phải có năng lực và sự tích luỹ tri thức, dựa vào kinh nghiệm của mình để sử lý những tình huống ngôn ngữ mang tính sáng tạo

Người dẫn chương trình cần phải đi sâu tìm hiểu đặc điểm của chương trình, nắm vững tôn chỉ của chương trình, nội dung, đặc điểm phong cách, hình thức của một chương trình, đặc biệt là chú ý tới sự khác nhau của chương trình này với chương trình khác Dẫn cho chương trình Thời sự đầu tiên phải có giọng nói chuẩn xác, phát âm đúng cường độ, tròn vành, rõ chữ Người dẫn chương trình Thời sự phải có giọng nói nghiêm túc, trang trọng, nhung phải tự nhiên, tươi tắn Ngược lại đối với các chương trình Tạp kỹ, Giải trí, người dẫn phải sử dụng cách dẫn tự nhiên, hài hước, khả năng hoạt náo, thông minh, dí dỏm sẽ tạo nên cá tính riêng của người dẫn Người dẫn phải giúp cho khán thính giả cảm nhận được không khí sôi động, tinh thần của chương trình, cho họ những giây phút thực sự thoải mái, thư giãn

Phông kiến thức xã hội cũng là yếu tố quan trọng quyết định thành công của người dẫn chương trình Người dẫn có cá tính bao giờ cũng là người

có phông kiến thức rộng nhưng lại hiểu rất sâu về những điều mình đang dẫn Người dẫn phải đọc nhiều, viết nhiều, nghe nhiều để tích luỹ cho mình vốn ngôn ngữ phong phú Việc đọc nhiều, viết nhiều, nghe nhiều cũng giúp người dẫn chương trình tích lũy cho mình một vốn ngôn ngữ phong phú và biết vận dụng chúng một cách linh hoạt trong các tình huống cụ thể

Người dẫn muốn khẳng định được cá tính riêng cũng cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng Người dẫn chương trình là người thay mặt toàn bộ êkíp để đem sản phẩm đến với công chúng Nếu người dẫn chương trình không nắm chắc mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

để có thể kiểm soát được nội dung thông tin theo đúng mục đích tuyên truyền

Trang 37

thì sẽ có thể sẽ rơi vào trạng thái lúng túng khi gặp những tình huống khó mà không biết ứng xử thế nào cho phù hợp

Bảng 1.2: Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn

ngữ của người dẫn chương trình

Thông minh, dí dỏm

Có kĩ năng

xử lý tình huống tốt

Chất giọng tốt

Có khả năng diễn đạt

Có kĩ năng giao tiếp

Có khiếu hài hước

Yếu tố khác

1.4.2 Các yếu tố của bối cảnh giao tiếp

1.4.2.1 Phương tiện kĩ thuật, cơ sở vật chất

Là những yếu tố thuộc điều kiện khách quan của môi trường tác động đến hoàn cảnh giao tiếp Phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất là những cơ sở hỗ trợ quan trọng trong công việc của người dẫn chương trình Phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất bao gồm các thiết bị máy móc như mic, ánh sáng, máy quay, hệ thống dây dẫn, máy tính bảng cầm tay…

cơ sở vật chất là sự tiện nghi trong điều kiện sản xuất chương trình Phương tiện máy móc tốt sẽ giúp cho người dẫn chương trình thoải mái, tự tin, hưng phấn với công việc Ngược lại, nếu phương tiện máy móc không tốt, hay bị trục trặc thì sẽ khiến người dẫn chương trình bị phân tán tư tưởng, giảm hưng phấn trong công việc

Trang 38

VOV Giao thông là kênh phát thanh được Đài TNVN đầu tư hệ thống công nghệ phát thanh hiện đại nhất hiện nay, gồm: 1 máy phát sóng FM tại

Hà Nội có bán kính phủ sóng 200 km, 2 máy phát sóng FM tại TP Hồ Chí Minh có bán kính phủ sóng trên 300 km Hệ thống camera không dây để quan sát giao thông gồm: 65 camera tại Hà Nội, 100 camera tại TP Hồ Chí Minh Tại mỗi thành phố đều có một trung tâm xử lý thông tin hiện đại gồm 1 studio trực tiếp và 2 studio tĩnh

Ở những nước tiên tiến thường sử dụng cáp quang còn đối với Kênh Giao thông, Đài TNVN sử dụng hệ thống camera giám sát cùng công nghệ wifi nhằm đảm bảo không bị lệ thuộc vào bất cứ các nhà cung cấp mạng nào

Nó sẽ giúp những phóng viên, biên tập viên và người dẫn chương trình có thể tương tác trực tiếp với người nghe và những người đang trực tiếp tham gia giao thông Việc ứng dụng hệ thống công nghệ truyền dẫn wifi, map, backhold và giải pháp truyền dẫn wifi cho hệ thống camera giám sát của VOV Giao thông sẽ khắc phục được những hạn chế của những mạng truyền dẫn hiện tại Hiện nay, giải pháp này ở Việt Nam được thực hiện duy nhất tại kênh VOV Giao thông FM 91MHz

1.4.2.2 Sự hỗ trợ của ê kíp thực hiện

Để sản xuất các chương trình phát thanh phát thẳng như VOV Giao thông, đòi hỏi một quy trình có nhiều thay đổi so với chương trình phát thanh thông thường, với một êkip thực hiện đông và ăn ý gồm: các phóng viên hiện trường, người dẫn chương trình trong phòng thu, bộ phận kỹ thuật…

Đối với các phóng viên hiện trường, họ luôn luôn phải có mặt tại những điểm nút giao thông “nóng” nhất của các thành phố VOV Giao thông có hai nhóm phóng viên gồm: phóng viên lưu động và phóng viên, cộng tác viên trực chốt Những phóng viên này được phân công phụ trách theo từng tuyến

Trang 39

đường, có tuyến đường dài cả chục cây số, phóng viên phải di chuyển liên tục trên đường để theo dõi tình hình giao thông

Đặc biệt, ngay sau khi tiếp nhận thông tin từ thính giả, phóng viên hiện trường phải kịp thời có mặt khi sự kiện diễn ra để đưa tin nhanh nhất, góp phần xử lý kịp thời mọi tình huống giao thông xảy ra

Ngoài phóng viên hiện trường, VOV Giao thông có tất cả 3 kíp dẫn chương trình phòng thu trực thường xuyên, mỗi kíp trực kéo dài 2h45 Người dẫn có nhiệm vụ vừa truyền tải thông tin giao thông của phóng viên hiện trường chuyển về, vừa truyền tải thông tin của hàng trăm thính giả gọi điện đến trong giờ cao điểm Vì thế, ngoài những yêu cầu về giọng nói, phát âm, người dẫn phải có kỹ năng lựa chọn, sắp xếp và xử lý thông tin thật nhanh và chuẩn xác

Hơn thế, người dẫn chương trình VOV Giao thông trở thành người chia

sẻ bức xúc, trăn trở với người đi đường, giúp họ tin tưởng vào những thông tin

họ được tiếp nhận Thông tin giao thông trong giờ cao điểm có tốc độ rất nhanh, những người dẫn chương trình phải xử lý cùng một lúc rất nhiều nguồn khác nhau, trong trạng thái trực tiếp, vừa quan sát hình ảnh thu được từ camera, vừa quan sát màn hình biên tập, rồi văn bản, kết nối điện thoại nhưng vẫn phải đảm bảo việc phối hợp với kỹ thuật viên âm thanh sao cho ăn ý

1.4.2.3 Thái độ của công chúng

Theo nhà nghiên cứu Đức Dũng trong cuốn Báo phát thanh:

“Trước đây thính giả phát thanh chỉ ở vị trí thụ động, là người tiếp nhận thông tin đơn thuần Thính giả phát thanh ngày nay không thích chỉ

là người thụ động tiếp nhận thông tin mà họ cũng có khả năng cung cấp thông tin hoặc trực tiếp tham gia vào các chương trình phát thanh Có thể nói đây là một nhu cầu tích cực, hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển

và năng lực của báo phát thanh hiện đại” [13]

Trang 40

Rõ ràng, sự tham gia của thính giả vào chương trình ngay tại thời điểm phát sóng được coi là một trong những đặc điểm nổi bật tạo nên ưu thế của phát thanh trực tiếp so với phát thanh truyền thống Nhờ vào tính tương tác cao, thính giả có thể tham gia vào chương trình với nhiều hình thức khác nhau

Thính giả có thể tham gia bình luận, trao đổi, nêu yêu cầu trong một chương trình phát thanh trực tiếp và được đáp ứng ngay tại thời điểm chương trình phát sóng Họ góp phần tạo nên một chương trình hấp dẫn, cuốn hút người nghe Như vậy, nhờ vào tính tương tác, thính giả không chỉ được lắng nghe, được trả lời mà còn được trực tiếp tham gia vào chương trình

Với các chương trình phát thanh trực tiếp được thực hiện tại studio, sự tham gia của thính giả sẽ tạo nên bầu không khí giao lưu, cởi mở, giúp chương trình sống động hơn Từ đó, chương trình như một bức tranh âm thanh với nhiều giai điệu sẽ thu hút nhiều người cùng lắng nghe, suy ngẫm và đồng cảm nên có thể tạo ra những hiệu ứng lan tỏa lớn hơn Đây là ưu thế hơn hẳn của phát thanh trực tiếp mang tính tương tác so với chương trình phát thanh chỉ có sự xuất hiện của biên tập viên và phát thanh viên

Thính giả phát thanh hiện nay chủ động hơn trong quá trình tương tác với đài Họ cũng chính là những người góp phần làm nên sự sinh động, hấp dẫn của các chương trình phát thanh trực tiếp Tuy nhiên, đây cũng là một thách thức đang đặt ra cho phát thanh hiện đại Nhiều chương trình trình phát thanh trực tiếp có đặc điểm mở, do đó, nỗi lo lớn nhất của êkíp thực hiện là làm sao

“kiểm soát” thính giả để giữ được sự an toàn trên sóng Để thực hiện được điều này, đòi hỏi người dẫn chương trình phải hết sức tinh tế, khéo léo và nhanh nhạy trong xử lý các tình huống giao tiếp cụ thể Sự tinh tế trong xử lý các tình huống giao tiếp của người dẫn chương trình sẽ góp phần giữ an toàn trên sóng

và khuyến khích thính giả tham gia vào các chương trình phát thanh

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (2003), Bước đầu tìm hiểu về lời giới thiệu và lời dẫn trong chương trình phát thanh, Khóa luận báo chí, Học viên Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu về lời giới thiệu và lời dẫn trong chương trình phát thanh
Tác giả: Nguyễn Văn An
Năm: 2003
2. Hoàng Anh (2003), Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2003
3. Hoàng Anh (Chủ biên), Phạm Văn Thấu (2005), Tiếng Việt thực hành, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Hoàng Anh (Chủ biên), Phạm Văn Thấu
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
4. Hoàng Anh Chủ biên (2006), Sổ tay chính tả, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chính tả
Tác giả: Hoàng Anh Chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
5. Hoàng Anh (2007), Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đề tài Khoa học cấp Bộ, Đài Tiếng nói Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên Đài Tiếng nói Việt Nam
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2007
6. Hoàng Anh (2008), Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
7. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
8. Đào Bích (2008), Ngôn từ phát thanh, Tạp chí Nghiệp vụ phát thanh, số 18/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn từ phát thanh, "Tạp chí "Nghiệp vụ phát thanh
Tác giả: Đào Bích
Năm: 2008
9. Vũ Thuý Bình (1995), Từ nói đến nghe- bản chất quy trình sáng tạo Rađiô, Luận văn tốt nghiệp cử nhân báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nói đến nghe- bản chất quy trình sáng tạo Rađiô
Tác giả: Vũ Thuý Bình
Năm: 1995
10. Đình Cao (2002), “Ứng xử lích sự trong phỏng vấn và dẫn chương trình”, Người làm báo, số tháng 5 – 2002, tr.29 – 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ứng xử lích sự trong phỏng vấn và dẫn chương trình”
Tác giả: Đình Cao
Năm: 2002
11. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. GS.TS Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chí, những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí, những vấn đề cơ bản
Tác giả: GS.TS Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
13. Đức Dũng (2003), Lý luận báo phát thanh, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận báo phát thanh
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2003
14. TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2000), Báo chí-Những điểm nhìn từ thực tiễn, tập 1, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí-Những điểm nhìn từ thực tiễn
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2000
15. TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2001), Báo chí-Những điểm nhìn từ thực tiễn, tập 2, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí-Những điểm nhìn từ thực tiễn
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
16. PGS,TS Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2006), Tác phẩm báo chí, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí
Tác giả: PGS,TS Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2006
19. Nguyễn Bích Đào (1994), Khảo sát bước đầu một số vấn đề ngôn ngữ của văn bản phát thanh, Luận văn cử nhân, Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát bước đầu một số vấn đề ngôn ngữ của văn bản phát thanh
Tác giả: Nguyễn Bích Đào
Năm: 1994
21. Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp Tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
22. Nguyễn Thiện Giáp (2004), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
23. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Dẫn luận ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w